View Full Version : Linh Mục – Con Người Phụng Vụ
admin
13-12-2010, 02:17 PM
LINH MỤC – CON NGƯỜI PHỤNG VỤ
Dẫn nhập:
Xin được phép khởi đi từ bản chất và tầm quan trọng của Phụng vụ trong đời sống Giáo Hội. Chúng ta không thể hiểu, nhất là hiểu một cách sâu sắc về LINH MỤC – CON NGƯỜI PHỤNG VỤ, nếu chúng ta không tìm hiểu bản chất Phụng vụ là gì và Phụng vụ mang tầm mức quan trọng nào trong tầm mức của Hội Thánh.
Trong chiều hướng hoàn toàn mới mẻ, công đồng Vatican II đã nhờ Phụng vụ để nhận thức về bản chất của Hội Thánh (PV 2): Phụng vụ là cao điểm của mọi hoạt động và là nguồn mạch phát sinh mọi năng lực của Hội Thánh (PV 10). Như vậy, từ quan niệm hướng ngoại và vị luật, từ giá trị tĩnh và pháp lý, Phụng vụ được đặt đồng dạng với Đức Kitô, để cũng như Đức Kitô trở nên Alpha và Omega, khởi nguyên và cùng tận (Kh 1,8; 22,13) của tất cả đời sống Hội Thánh. Do đó, không thể tìm hiểu Phụng vụ nguyên trên bình diện khoa học như nghiên cứu về lịch sử, xuất xứ và biến hoá của các nghi lễ, mà phải tìm hiểu theo đường hướng Kitô học. Đây là điều cần thiết: đưa Phụng vụ vào sứ mạng của Hội Thánh, tháp nhập Phụng vụ vào chiều kích thần học về mầu nhiệm Đức Kitô. Nói khác đi chúng ta không thể hiều gì về Phụng vụ nếu không đặt Phụng vụ vào tương quan của Hội Thánh, cũng như chúng ta không thể hiểu vì về Hội Thánh nếu không đặt Hội Thánh và tương quan với Đức Kitô, và chúng ta cũng không thể hiều gì về Đức Kitô nếu không đặt Đức Kitô vào tương quan với kế hoạch cứu rỗi của Thiên Chúa trong lịch sử cứu độ.
Đàng khác, chúng ta phải nhận rằng công đồng Vatican II chú ý nhiều đến Phụng vụ và quan tâm hình thành thần học Phụng vụ, để trên cơ sở này, công đồng công bố việc canh tân toàn bộ, và đưa ra những chỉ thị mục vụ thích ứng với con người thời đại hôm nay, ngõ hầu dân Kitô giáo đạt đến việc cử hành đích thật.
Tuy nhiên, việc cử hành đích thật đã phải hội đủ hai điều kiện sau đây:
* Trung thành với truyền thống sinh động của Hội Thánh, để được tiếp xúc thẳng với Đức Kitô trong Hội Thánh;
** Tôn trọng bình diện chữ đỏ, để các nghi thức được thành sự và thích pháp, nhưng phải biết phân biệt quy luật chữ đỏ với thái độ tĩnh và pháp lý.
Công đồng đồng đặt Phụng vụ trong lịch sử cứu độ; và như thế Phụng vụ trở nên thời gian của lịch sử ấy và lặp lại chỗ Đức qua truyền thống đích thật, chuyển thông mầu nhiệm Đức Kitô qua một nghi lễ.
Công đồng đã đặt Phụng vụ trong nhãn quan ‘thần học sinh động’, nghĩa là làm nổi bật sự hiện diện của Chúa Kitô tác động trong nghi lễ và với nghi lễ. Vì thế, Phụng vụ trở nên hoạt động của Chúa Kitô trong thân thể của người là Hội Thánh. Hoạt động này càng ngày phát triển cuộc đối thoại và trao đổi sống động giữa Thiên Chúa và loài người, qua mầu nhiệm Chúa Kitô luôn luôn hiện diện và tác động trong nghi lễ Phụng vụ. Nhờ đó, Phụng vụ trở lại con đường truyền thống – con đường Bí tích nguyên thủy – tiếp tục ‘mầu nhiệm Đức Kitô’ dưới hình thức ‘mầu nhiệm Phụng vụ’ mà Linh mục phải hiểu để sống (I. Bản chất và tầm quan trọng của Phụng vụ) và cử hành (II. Đức Kitô, con người Phụng vụ độc nhất và một Phụng vụ duy nhất), dự phần và chuyển thông (III. Linh mục, con người Phụng vụ) để ân sủng của Đầu là Đức Kitô tràn lan tới toàn thể nhân loại.
I. BẢN CHẤT VÀ TẦM QUAN TRỌNG CỦA PHỤNG VỤ TRONG ĐỜI SỐNG GIÁO HỘI
1. Công trình cứu rỗi được thực hiện nhờ Đức Kitô.
Phụng vụ, trong đó các Bí tích là yếu tố chính, thuộc lãnh vực dấu chỉ và khí cụ. Tiên thiên người ta không thể định nghĩa được Phụng vụ là gì trước khi tìm hiểu kế hoạch cứu độ mà Phụng vụ có trọng trách phải biểu thị và chuyển thông. Chính vì thế, hiến chế về PHỤNG VỤ THÁNH trình bày mạc khải như là lịch sử cứu độ nhờ khoa thần học Kinh Thánh. Thiên Chúa ‘muốn mọi người được cứu rỗi và nhận biết chân lý’ (1 Tm 2,4); như vậy, ý định cứu độ được gắn liền với ý muốn mặc khải. Do đó, chúng ta biết ngay rằng khía cạnh huấn giáo và rao giảng không còn là thứ yếu hoặc phụ thuộc, nhưng là tiên quyết và chính yếu trong Kitô giáo, một tôn giáo của Lời. Chương trình cứu độ được khai mở nhờ những lần loan báo bằng nhiều cách khác nhau qua các tiên tri; nhưng những lần loan báo này chỉ có tính chất nhất thời và khiếm khuyết. Phải đợi đến thời gian viên mãn chương trình đó mới được thực hiện một cách hữu hiệu nhờ việc nhập thể của Ngôi Lời. Các tiên tri chỉ là những ngôn sứ của Thiên Chúa, Con Một Ngài mới chính là Lời Ngài. Vì thế, Ngôi Lời có sứ mạng trước tiên là rao giảng Tin mừng cho người nghèo khó, Phúc âm hoá các dân tộc. Tuy nhiên, Người không chỉ trình bày chân lý, Người còn thông ban sự sống. Người là ‘thầy thuốc chữa lành thể xác và tinh thần’, là ‘trung gian giữa Thiên Chúa và nhân loại’. Nhịp cầu trung gian này chính là mối dây thắt chặt bản tính nhân loại mà Người chiếm hữu khi nhập thể, và bản tính Thiên Chúa Người lãnh nhận từ nơi Cha. Ngôi Lời nhập thể không nguyên là dấu chỉ mà còn là ‘khí cụ phần rỗi’. Và bản văn công đồng lại hé mở cho chúng ta thêm khía cạnh nhị diện của sứ mạng Chúa Kitô mà chúng ta sẽ thấy xuất hiện trong tất cả Phụng vụ: khía cạnh nhân học và thần học. Nói cách khác, Người là trung gian theo hai chiều chuyển động: Đấng mạc khải, vị thầy thuốc, giá chuộc, khí cụ phần rỗi chúng ta, nghĩa là Người đã trở nên Đấng được sai đến với chúng ta từ Chúa cha; đồng thời, với Người chúng ta có khả thể dâng lên Chúa cha ‘việc tôn thờ hoàn bị’. Và do đó, kế hoạch cứu độ cũng bao gồm hai ý nghĩa: vừa là công trình cứu rỗi nhân loại, vừa là công việc tôn vinh Thiên Chúa cách hoàn hảo. Chính trong ý nghĩa nhị diện này mà Ngôi Lời nhập thể đã trở nên Linh mục thượng phẩm của chúng ta. Công trình của Người vừa là công việc thờ phượng, vừa là công cuộc cứu rỗi, Người cứu sống chúng ta vì Người nhân danh chúng ta dâng lên Chúa Cha việc tôn thờ đẹp lòng Ngài; và dâng lên việc tôn thờ xứng đáng, Người làm cho nhân loại được cứu chuộc trở nên của lễ tinh tuyền trong Người. Những nguyên tắc vừa được nhắc nhở trên đây về công trình của Chúa Kitô, hẳn không cho phép chúng ta tách rời Phụng vụ và Bí tích, cứu rỗi và tôn thờ, thánh hoá con người và tôn vinh quyền năng Thiên Chúa, đúng như lời của thánh Irênê: ‘vinh quang của Thiên Chúa chinh là con người được sống’.
Công trình cứu độ đi tới cao điểm là mầu nhiệm phục sinh, mầu nhiệm Phục sinh tự nó đã xác định được kế hoạch cứu độ. Thật thế, trước tiên hiến chế nhắc nhở đến những hình bóng biến cố phục sinh qua những việc kỳ diệu Thiên Chúa làm trong thời Cựu ước – những việc kỳ diệu ấy là lời hứa với Apraham, cuộc xuất hành ra khỏi ai cập và giao ước Xi-nai, thứ đến, hiến chế tỏ ra biến cố phục sinh bằng chứng từ Kinh Tưởng Niệm: ba sự kiện tạo thành mầu nhiệm duy nhất và vĩnh cửu cho toàn thế giới: cuộc khổ nạn hồng phúc, việc sống lại từ cõi chết và lên trời vinh hiển; sau cùng, hiến chế xác định những đặc tính của hiệu quả phục sinh với lời trích dẫn kinh tiền tụng lễ phục sinh: người đã chết để tiêu diệt sự chết cho chúng ta và sống lại để tái lập sự sống.
Mầu nhiệm phục sinh này lần nữa được trình bày cách cụ thể bằng hình ảnh truyền thống về Hội Thánh được khai sinh: như một E-và từ cạnh sườn A-đam mới chịu treo trên thập giá, nước và máu biểu trưng sự sống của Hội Thánh vọt ra từ thủ lãnh tử nạn của mình. Máu và nước hàm chứa ý nghĩa của chính các Bí tích lễ Phục sinh: phép Rửa và phép Thánh Thể. Hai Bí tích này tạo nên Bí tích kỳ diệu của toàn thể Hội Thánh (Totius Ecclesiae mirabile sacramentum). Bí tích kỳ diệu này không phải là một Bí tích nào thuộc về Hội Thánh, nhưng chính bản chất Hội Thánh trong ý nghĩa toàn vẹn: đã thông ban cho chúng ta tất cả công trình cứu rỗi theo cách thức Bí tích. Trong ý nghĩa này, hiến chế bảo Phụng vụ xây dựng Hội Thánh (PV 59); và cha H. DE LUBAC đưa ra công thức: Thánh Thể làm nên Hội Thánh, đồng thời Hội Thánh làm ra Thánh Thể. Quả thật, trưng dẫn lời nguyện sau Đêm Vọng Phục sinh trước đây, hiến chế chứng tỏ cho chúng ta cầu vồng là dấu biểu trưng Hội Thánh, nơi công trình cứu rỗi được tiếp tục và hoàn tất.
Nói tóm lại, biến cố phục sinh hoàn tất công trình cứu rỗi và trở nên trọng tâm của lịch sử cứu độ. Canh tân Phụng vụ đã không những đặt mầu nhiệm phục sinh như là nguyên lý thống nhất và chóp đỉnh của tất cả Phụng vụ (sacrement des sacrements), mà còn là nguyên lý hướng dẫn: nội dung chính yếu của việc rao giảng cũng như cử hành Phụng vụ (PV 6) nguồn suối ân huệ trong Bí tích Thánh Thể (PV 10 và 47; GH 11), trong các Bí tích (PV 6)1, trong chu kỳ Phụng vụ (PV 102).
2. công trình cứu rỗi được Hội Thánh tiếp tục thực hiện và hoàn tất trong Phụng vụ.
Thực là sai lầm nếu nghĩ rằng: kế hoạch cứu độ chỉ tạo nên một thứ thực tại có tính cách lịch sử và loan báo, hiện hữu một lần thay cho tất cả; và kho tàng Bí tích như là từ bên ngoài thêm vào kế hoạch này, để trình bày và truyền thống mà thôi. Kế hoạch cứu độ từ nội khởi đã mang tính cách Bí tích và duy nhất ngay từ giây phút khởi sự thực hiện. Cha DE MONTCHEUIL đã minh chứng quan điểm này trong một bài mang tựa đề L’Unité du sacrifice et du sacrament dans L’Eucharistie, và cha nhấn mạnh ‘Hy lễ của Đức Kitô trên thập giá đã là Bí tích’.
Hình ảnh Hội Thánh phát sinh từ cạnh sườn bị đâm thâu của Đấng Cứu Thế giúp chúng ta di chuyển từ kế hoạch cứu độ sang kế hoạch Hội Thánh và Phụng vụ. Có một sự liên tục tuyệt diệu giữa hai kế hoạch này. Đúng hơn chúng chỉ là một: như Đức Kitô được Chúa Cha sai đi thế nào, thì chính Người cũng sai các tông đồ như vậy. Sứ mạng của các tông đồ cũng là sứ mạng của Người, mang hai yếu tố: trước hết loan báo Tin mừng cứu độ, thứ đến thực thi Tin mừng cứu độ của Người, đã được loan báo nhờ Hiến Tế Tạ Ơn và các Bí tích, trung tâm điểm của tất cả đời sống Phụng vụ (PV 6). Hiến tế và Bí tích là hai trục chính của Phụng vụ. Chúng ta có thể quả quyết chúng chính là Phụng vụ vậy, vì Phụng vụ đáng được xem là việc thực thi chức vụ Linh mục của chính Chúa Giêsu Kitô.
Tóm lại, thời gian Đức Kitô làm này sinh thời gian của Hội Thánh, để ơn cứu độ thực hiện nơi Đức Kitô sẽ đạt đến hết mọi người của mọi thời đại. Như thế, thời gian Hội Thánh tiếp tục thời gian Đức Kitô, không phải bằng một sự nối tiếp đơn thuần thời gian: đến sau Đức Kitô, nhưng bằng một ‘sự nối tiếp như không nối tiếp’: Phụng vụ là thời điểm tổng hợp của lịch sử cứu độ vì nó bao hàm thời gian loan báo của cựu ước lẫn thời gian thực hiện trong Tân Ước. đồng thời, nó cũng là thời điểm cuối cùng của chính lịch sử ấy, vì trong khi kéo dài thực tại là chính Đức Kitô, nó có bổn phận hoàn tất dần dần nơi từng người qua mọi không gian và thời gian hình ảnh sung mãn của Đức Kitô.
Trọn vẹn công trình cứu rỗi này đã được J. DANIELOU thâu tóm trong một câu tuyệt diệu: ‘Kế hoạch cứu độ được ẩn giấu trong trí Đức Chúa Cha từ đời đời, được loan báo trong thời Cựu Ước, được thực hiện trong thời Đức Giêsu, được sống cách công khai trong Hội Thánh, được hiện tại hoá trong Phụng vụ, và được hoàn tất trong ngày cánh chung’ (histoire du salut et formation liturgique).
admin
13-12-2010, 02:56 PM
II. ĐỨC KITÔ – CON NGƯỜI PHỤNG VỤ DUY NHẤT VÀ MỘT PHỤNG VỤ DUY NHẤT
Khi trình bày Phụng vụ là sự hiện thực của mầu nhiệm cứu chuộc, hiến chế về Phụng vụ thánh tìm thấy lý do cuối cùng của sự hiện thực này trong ‘sự hiện diện của Đức Kitô’ (PV 7). Nhờ việc thực hiện công cuộc cứu chuộc, Đức Kitô luôn luôn hiện diện trong Hội Thánh, nhất là trong khi cử hành Phụng vụ.
Lời nói sau cùng của Đức Kitô: ‘Thầy ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế’ (Mt 28,20) kết luận những lời sai các tông đồ đi vào thế gian để làm cho hết mọi người trở nên môn đệ của Người: nhờ loan báo (‘dạy dỗ’) và các Bí tích (‘rửa tội’), nghĩa là nhờ Lời và các Bí tích, người tiếp tục hiện diện giữa và trong mọi con người.
Sự hiện diện của Đức Kitô là thành phần chính yếu tạo nên Phụng vụ. Quả quyết này dựa trên thuyết ‘mầu nhiệm’ của Dom CASEL được áp dụng trong Phụng vụ: mầu nhiệm là một nghi lễ được hiểu như là cách thế tạo nên sự hiện diện của Đức Kitô nơi các tín hữu, để thông ban ơn cứu rỗi của người cho họ. Tư tưởng này được Đức Piô XII dùng và công đồng Vatican II bổ túc để định nghĩa bản chất của Phụng vụ là ‘thực thi chức Linh mục của Chúa Giêsu Kitô; và theo nhị diện tính thường được nhắc tới ở trên, chức vụ Linh mục của Chúa Giêsu Kitô bao gồm hai việc: thánh hoá loài người được biểu trưng bằng những dấu chỉ hữu hình, và tôn thờ Thiên Chúa cách công bằng và trọn vẹn...được thực thi nhờ thân thể mầu nhiệm của Chúa Giêsu Kitô, nghĩa là đầu và chi thể người’ (PV 7).
Từ đó, chúng ta đi đến kết luận này: chỉ có một con người Phụng vụ độc nhất là Đức Kitô và một Phụng vụ duy nhất của người.
1. Đức Kitô, một con người Phụng vụ tối cao và duy nhất.
Tác giả thư gửi tín hữu Hipri muốn trình bày ý nghĩa của lịch sử thánh và đời sống Kitô giáo. Để làm công việc này, thánh Phao-lô cũng như các tác giả Tân Ước không những đã tìm hiểu trong viễn tượng quy Kitô và Ba Ngôi, mà còn tìm hiểu dưới góc cạnh ơn thánh hoá vào việc tôn thờ. Thật vậy, đối với thánh Phaolô, lịch sử thánh và đời sống Kitô giáo xuất hiện như một Phụng vụ bao la.
Thư gửi tín hữu Hipri là một lời khuyên nhóm tư tế Do thái trở lại Kitô giáo. Nhóm này sau khi bị loại khỏi Giê-ru-sa-lem, vẫn còn hối tiếc vẻ đẹp huy hoàng của phượng tự do thái giáo. Vì thế, bằng mọi cách Tác giả minh chứng kế hoạch cứu độ của Kitô giáo vượt hẳn Phụng vụ do thái giáo về ơn thánh hoá và phượng tự. Ngài chứng tỏ tất cả đời sống dương thế của các tín hữu là một cuộc hành hương liên tục tiến về thánh điện, nơi Thiên Chúa ngự trị và nơi họ hy vọng được nhận vào để chiêm ngưỡng, ca ngợi và dâng lên người những lễ vật.
Trọng tâm của cái nhìn này, chính là chức LINH MỤC CỦA ĐỨC KITÔ: chức Linh mục tuyệt hảo mà tất cả chức Linh mục khác chỉ là hình bóng, được thể hiện trong suốt đời sống trần thế của Người, nhất là trên Núi Sọ; và trở nên viên mãn và hoàn toàn hữu hiệu khi Ngươi được vinh thăng; giờ đây tiếp tục gây hiệu quả cho mọi tín hữu. Chủ để của giáo huấn này, chính là: ‘Ta có một Thượng tế như thế, Ngài đã lên ngự bên hữu ngai Đấng oai nghi trên các tầng trời. Chủ tế trong một thánh điện, một nhà tạm chân thật, chính Chúa đã dựng lên, chứ không phải một người phàm’ (Hr 8,1-2). Và vị Thượng tế này ‘vì tồn tại đời đời nên Ngài giữ một tế vụ vĩnh cửu. Do đó, Ngài có thể chung tất cứu những kẻ nhờ Ngài lại gần Thiên Chúa, sống luôn mãi để chuyển cầu cho họ. Đã hẳn, đó là vị thượng tế thích hợp cho ta, thánh Đức, vô tội, vô tì, tách hẳn khỏi lũ người tội lỗi và cao siêu vượt các tầng trời. Đấng mỗi ngày không có nhu cầu như các thượng tế khác, trước tiên phải hiến dâng lễ tế vì tội mình, rồi vì tội của dân, vì chưng, đó là điều Ngài phải làm – duy chỉ một lần – Ngài đã tự hiến chính mình Ngài’ (Hr 7,24-27).
Việc thực hành đời sống Kitô giáo này mang ý nghĩa gì? Tác giả bức thư trả lời trong một bản văn cô đọng, mà những lời lẽ mượn từ ngôn ngữ Phụng vụ: ‘Anh em đã tiến lại gần núi Sion; thành của Thiên Chúa hằng sống; Giê-ru-sa-lem thiên đài; vạn vạn thiên thần trong ngày đại hội; cộng đoàn (ecclesia) những trưởng tử đã đăng sổ bộ trên trời; Thiên Chúa Đấng phán xét mọi người; linh hồn những người công chính đã được thành toàn, Đấng trung gian giao ước mới, Đức Giêsu; máu rảy lên tiếng át của Abel’ (Hr 12,22-24).
Tư tưởng trên được lặp đi lặp lại trong Truyền thống Giáo phụ và Phụng vụ. Điều này chứng tỏ mối bận tâm của Hội Thánh muốn xác quyết rằng, trong Phụng vụ, chính Đức Kitô luôn hiện diện và hoạt động dưới bức màn nghi lễ nhờ các thừa tác viên. Người là thừa tác viên chính của những hoạt động Phụng vụ: thánh lễ, Bí tích, phụ Bí tích và Phụng vụ giờ kinh. Do đó, trong các hoạt động Phụng vụ này, các Kitô hữu: thừa tác viên và tín hữu đứng sau Người như bóng với hình. Người mang tất cả họ trong Người. Người đồng hoá họ với Người. Cha Người nhìn thấy họ như ‘chút gì’ của Đức Kitô. Và Cha Người chỉ muốn nhìn họ, nghe họ, yêu mến họ như thể: ‘Chúa yêu thương nơi chúng con điều Chúa quý mến nơi Con Chúa’ (kinh tiền tụng Chúa nhật VII quanh năm). Trong Phụng vụ, Thiên Chúa không xem thấy hành vi của con người nhưng chỉ thấy hoạt động của Chúa Kitô mà họ tháp nhập vào.
Trọn vẹn ý tưởng nòng cốt này mà Hội Thánh đã sống một cách mãnh liệt, được TERTULLIEN diễn tả rất khéo, khi ông gọi Đức Kitô là ‘catholicus Patris sacerdos’, Linh mục duy nhất và phổ quát của Chúa Cha.
2. Phụng vụ duy nhất.
Tác giả thư gửi tín hữu Hipri quá bận tâm về Phụng vụ thiên quốc, nên không nói nhiều về Phụng vụ trần gian, tuy nhiên, ngài đã đưa ra những nguyên tắc cho phép chúng ta xác định những tương quan giữa Phụng vụ thiên quốc và Phụng vụ trần gian. Thật thế, Truyền thống Giáo phụ và Phụng vụ đều nhất trí như vậy. Nguyên tắc cơ bản chúng ta đã biết, chính là chỉ có một con người Phụng vụ độc nhất, Đức Giêsu Kitô; và một Phụng vụ duy nhất, Phụng vụ của Chúa Kitô phục sinh vinh hiển. Nguyên tắc thứ hai: thế giới mới chính là thế giới thiên đài mà công đồng Vatican II tuyên xưng. Phụng vụ trần gian đang tham phần và nếm trước (PV 8).
Tuy vậy, có nhiều người tự hỏi phượng tự Kitô giáo tương quan với phượng tự trên trời và phượng tự Cựu ước làm sao? Chúng ta tìm thấy câu trả lời từ những nguyên tắc của bức thư: nếu Phụng vụ Do thái là hình ảnh loan báo Phụng vụ thiên quốc của Đức Kitô, thì Phụng vụ Kitô giáo cũng chỉ là hình ảnh của Phụng vụ thiên quốc, với khác biệt này: ý niệm về hình ảnh trong trường hợp thứ hai mang một thực tại sâu xa hơn nhiều. Thật vậy: công trình thánh hoá các tín hữu là công trình của chính Đức Kitô không ngừng hoạt động nơi họ; và phượng tự của họ là chính phượng tự mà Đức Kitô luôn cử hành nhờ họ và với họ. Nói cách khác, Đức Kitô vẫn là con người Phụng vụ độc nhất chung cho Phụng vụ thiên quốc và Phụng vụ trần gian; Phụng vụ trần gian dưới hai khía cạnh thánh hoá và tôn thờ, phản ảnh và thực hiện theo cách thức của mình, những điều kỳ diệu mà Đức Kitô vinh hiển thực hiện trên trời. Qua dấu chỉ và biểu tượng, Phụng vụ trần gian ‘hiển linh’ Phụng vụ thiên quốc. hai Phụng vụ này chỉ là một thực tại; và nếu có khác biệt, chỉ khác biệt về yếu tố sung mãn và khả giác mà thôi.
Chúng ta trở lại chủ đề chính của bức thư. Đời sống Kitô giáo là một cuộc rước Phụng vụ của những người hành hương hướng đến toàn thiện, tìm về thánh điện, để trình diện trước Thiên Chúa. Thánh điện này, chính là Nước Trời nơi nghìn vạn thiên thần và người công chính được tề tựu chung quanh ngai của Thiên Chúa như ngày mở hội. Nhờ Đức tin và đời sống mới, những Kitô hữu đạt tới mục tiêu của cuộc hành trình Phụng vụ: họ tiến đến gần Giê-ru-sa-lem trên trời.
Từ đâu họ có khả năng đó? Chính là nhờ Chúa Giêsu-Kitô Linh mục Thượng phẩm và Trung gian của Giao ước mới. Quả thật, nhờ máu đã đổ ra thanh tẩy tội lỗi và thánh hoá họ, giờ đây Chúa Giêsu dẫn họ vào thánh điện Sion. Người quy tụ họ trong cộng đoàn Phụng vụ gồm muôn binh thiên thần và các thánh. Người là Linh mục Thượng phẩm của cộng đoàn này. Người ngồi bên hữu Đức Chúa Cha. Người trở nên con người Phụng vụ hằng sống để bầu cử cho họ. Việc tôn thờ, thanh tẩy, trọn vẹn Phụng vụ và tất cả chức linh mục của cựu ước chỉ là bóng mờ (Hr 8,5;10,1) của chức Linh mục, việc tôn thờ và thánh hoá này – mà Đức Kitô là chủ tế (le liturge) và các Kitô hữu thật sự được tham dự. Do đó, Phụng vụ Do thái đã bị bãi bỏ, và nhường chỗ cho Phụng vụ duy nhất của Đức Kitô. Phụng vụ ấy, Người đã cử hành trong suốt cuộc đời trần gian; giờ đây, Người còn tiếp tục cử hành trên trời, để lôi kéo và dẫn đưa các tín hữu về đó (x.GH 50).
3. Phụng vụ, phượng tự của Hội Thánh.
Từ những mối tương quan này, chúng ta phát hiện rõ một số hệ luận có thể giúp chúng ta khám phá ra ý nghĩa Phụng vụ, phượng tự của Hội Thánh.
Trước hết, phượng tự Hội Thánh tôn vinh Thiên Chúa, chỉ là phượng tự Đức Kitô tôn vinh Cha Người. Nói khác đi, phượng tự của Hội Thánh chính là phượng tự Đức Kitô tôn vinh Chúa Cha trong Hội Thánh: Người dùng Hội Thánh như dụng cụ và tháp nhập phượng tự của Hội Thánh vào phượng tự của Người. Đối với Đức Kitô, Phụng vụ của chúng ta luôn luôn ‘biểu dương và hiển linh’ chức Linh mục của Người. Đối với chúng ta, đó là việc Hội Thánh tham dự thật sự vào chức Linh mục mà Đức Kitô không ngừng thực hiện bên cạnh Cha Người, sau khi Người đã thực hiện trong cuộc đời trần gian.
Tất cả những hệ luận này giả thiết một sự hiện diện đích thực của Đức Kitô trong hoạt động Phụng vụ. Sự hiện diện vượt quá bình diện tâm lý, trí hiểu và ý muốn, và dứt khoát phải đặt nền tảng trên việc Ngôi hiệp, trên thực tại Thân thể mầu nhiệm và ân sủng làm đầu. (gratia capitis).
Đi xa hơn những quả quyết của thánh Augustino, công đồng Trentô, hai Thông điệp Nhiệm thể và Trung gian, Công đồng Vatican II đưa ra những nét mới về sự hiện diện này:
a) Đức Kitô hiện diện trong Hội Thánh, nhất là trong các hoạt động Phụng vụ ;
b)trong Hy tế Thánh Thể, Người hiện diện trong con người thừa tác viên trước khi hiện diện dưới hai hình: mặc dù quan trọng hơn, nhưng sự hiên diện sau là kết quả của sự hiện diện trước ;
c) trong các Bí tích, Người hiện diện nhờ quyền năng thánh hoá của Người: điều này đánh dấu sự hiện diện thấp hơn sự hiện diện trong phép Thánh Thể (substantielle và stable), nhưng hơn sự hiện diện năng thường (virtuelle), để có thể nói: ai rửa tội, chính là Đức Kitô rửa tội;
d) Người hiện diện trong lời được công bố cho cộng đồng Hội Thánh;
đ) sau cùng, người hiện diện trong cộng đoàn Phụng vụ (PV 7).
Chúng ta không thể hiểu được cũng như không thể cử hành một cách linh động và hữu hiệu, bao lâu chúng ta còn chưa xác tín rằng : Đức Kitô hiện diện trong Phụng vụ không như một ý niệm trừu tượng, nhưng như một con người sống động: và như một quyền năng linh hoạt phát xuất từ một con người sống động: và ‘nếu Người có thể chung tất cứu những kẻ nhờ Người lại gần Thiên Chúa, chính là vì Người sống luôn mãi, để chuyển cầu cho họ’, để hoạt động nhờ họ và với họ.
Hơn nữa trong Phụng vụ, hành động thuộc chức Linh mục của Đức Kitô cũng hiện thực thật sự. Thời gian hình như ngưng lại, để Đức Kitô, và hiến lễ của Người, quyền năng thánh hoá và và lời kinh của Người trở nên hiện thực dưới bức màn dấu chỉ. Qua mọi thời đại, những ai tham dự Phụng vụ cũng trở nên những kẻ đương thời của Người; không phải vì họ vượt qua thời gian và không gian, để trở lại thời điểm của Người (khía cạnh khác với ý niệm thái quá của Dom CASEL), nhưng Người luôn sống mãi, hiện diện và lôi kéo họ vào hành động của những quỹ đạo của những hành động thuộc chức Linh mục của Người.
Phụng vụ của Hội Thánh là phượng tự công cộng mà Chúa Cứu Thế như là thủ lãnh Hội Thánh tôn vinh Chúa Cha; và cũng chính là phượng tự mà cộng đồng tín hữu tôn vinh thủ lãnh của mình, và nhờ Người, tôn vinh Thiên Chúa Cha hằng sống. Tắt lại, chính ‘việc phượng tự công cộng và trọn vẹn của Thân thể mầu nhiệm Chúa Giêsu Kitô là Đầu (chức tư tế thừa tác) và chi thể(chức tư tế vương giả) Người’ (PV7). Cha ROGUET chú thích một cách rất chí lý: ‘Hội Thánh không thừa kế Đức Kitô và không thay thế Người. Phượng tự mà Hội Thánh tôn vinh Thiên Chúa, các Bí tích mà Hội Thánh cử hành không chỉ Đức Kitô thiết lâp xong rồi thôi. Trái lại, Người luôn luôn hiện diện để trợ giúp Hội Thánh, có mặt trong cộng đoàn, mang lại ơn thánh hoá hữu hiệu. Chính vì thế, Phụng vụ của Hội Thánh thật cao cả: vừa là công trình của Hội Thánh vừa là công trình của Đức Kitô. Phụng vụ hẵn phải khác với một nghi lễ hoặc một tưởng niệm đơn thuần’.
Sau hết, những điều trên chỉ làm sáng tỏ thực tại, được chứa đựng trong 4 chữ : PER CHRISTUM DOMINUM NOSTRUM. Chỉ có một Linh mục, một Trung gian, một Con người Phụng vụ độc nhất, và chỉ có một Phụng vụ duy nhất theo như những dự tính mà Thiên Chúa muốn và thực hiện. Phụng vụ duy nhất này bao trùm tất cả những tương quan đầy ơn thánh hoá và phượng tự. Cụ thể ra, những tương quan chan chứa ân tình giữa Thiên Chúa và loài người. Per ipsum et oum ipso et in ipso.
admin
13-12-2010, 03:26 PM
III. Linh mục, con người Phụng vụ.
1. Lời dẫn.
Chính nhờ người với người và trong người. Thật vậy, chúng ta đã quả quyết: Phụng vụ là thực thi chức Linh mục của Chúa Giêsu Kitô. Điều này nói lên ‘sứ mạng hôm nay của Đức Kitô là truyền thông ân sủng của đầu cho toàn thể nhân loại. Việc truyền thông được thực hiện nhờ lời rao giảng và các Bí tích. Đó là chính công việc của Chúa Thánh Thần nhờ trung gian các tông đồ’ (J. DANIELOU, Histoire du salut dans la catéchèse).
a) 3 nhệm vụ mục vụ của Hội Thánh.
“Như Chúa Cha đã sai Người thế nào,Chúa Con cũng sai các tông đồ như vậy khi người phán: ‘vậy các con hãy đi dạy dỗ muôn dân (giảng dạy), thanh tẩy họ nhân danh Cha và Con và Thánh Thần (thánh hoá), hãy dạy dỗ họ tuân giữ những điều răn Thầy đã truyền cho các con (cai trị). Và đây Thầy ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế’ (Mt 28, 18-20). Lệnh ấy, lệnh mà Đức Kitô long trọng truyền rao giảng chân lý cứu rỗi, Hội Thánh đã lãnh nhận từ các tông đồ để chu toàn khắp trái đất” (GH 17).
Đáp ứng với mệnh lệnh của Chúa, Hội Thánh thi hành 3 nhiệm vụ giảng dạy, thánh hoá và cai trị (x. GH 17; GM 2; LM 4-6). Cai trị là ‘chăn dắt đoàn chiên’, nuôi sống bằng sự sống của Thiên Chúa. Về phương diện này, mục vụ của Hội Thánh là hướng dẫn dân Chúa, và không ngừng phát huy Đức ái trong Hội Thánh. Tuy nhiên, đời sống của đoàn chiên lại cần được thánh hoá nhờ các dấu chỉ đặc biệt của ân sủng là các Bí tích và các mầu nhiệm Phụng vụ.
b) Vị trí của mục vụ Phụng vụ.
Theo định nghĩa của công đồng Vatican II, Phụng vụ hoàn toàn mang bản sắc ‘mục vụ’, vì thể hiện vai trò mục tử của Đức Kitô trong Hội Thánh là quy tụ, nuôi dưỡng và chăn dắt. Do đó, mục vụ Phụng vụ của Hội Thánh là làm cho các dấu chỉ Phụng vụ đạt được kết quả hữu hiệu. Theo nguyên ngữ, Phụng vụ là việc ‘phục vụ công cộng’. Thực là đúng, nếu cho rằng Thiên Chúa đã dùng Phụng vụ để phục vụ Dân Ngài trong Người Con là Tôi tớ tuyệt hảo, hầu Dân Ngài cũng trở nên tôi tớ và phục vụ Ngài bằng việc phượng tự thiêng liêng. Như thế, mục vụ Phụng vụ tuy chỉ là một phần trong số các hoạt động của Hội Thánh (PV 9), nhưng lại là phần chủ yếu.
Lời Chúa có thực hiện điều nói ra thì mới đạt được mục đích. Điều này có nghĩa là lời loan báo Phúc âm đòi phải có lời bí tích để biến đổi, thánh hoá và thánh hiến tạo vật mới. Tất cả ngành mục vụ giảng dạy như quy chiếu về Phụng vụ, đặc biệt quy chiếu về Đức tin trong Bí tích Rửa tội và sự hiệp thông trong Bí tích Thánh Thể. Thế rồi các dấu chỉ Bí tích của Phụng vụ lại đòi người Kitô hữu phải sống kết hợp với Thiên Chúa bằng một hy tế thiêng liêng trong Đức ái để thánh hiến thế gian. Như vậy, tất cả lại phát xuất từ Phụng vụ. Xác quyết này nói lên ‘các Bí tích làm nên Hội Thánh’. Đời sống Hội Thánh hình thành nhờ Đức Kitô là Bí tích chính yếu và phổ quát. Vì thế, Phụng vụ là nguồn mạch trước cả các nghi thức ; hơn nữa là tột đỉnh vì luôn luôn đề ra đích điểm của lịch sử cứu độ trong viễn tượng cánh chung. Đích điểm ấy là được thông hiệp hoàn toàn với Thiên Chúa, Đấng sẽ là vạn sự cho mọi người.
c) Chức tư tế thừa tác của Linh mục.
Để chu toàn mục vụ Phụng vụ của Hội Thánh như vừa nói, Linh mục lãnh chức vụ tư tế thừa tác. Chức tư tế thừa tác của Linh mục, chính yếu là việc tham dự vào sự thánh hiến và sứ vụ cứu thế của Chúa Kitô qua trung gian các tông đồ, từ các tông đồ đến các Giám mục và các Giám mục đến Linh mục nhờ Bí tích Truyền Chức. Như vậy trong Bí tích Truyền Chức, Linh mục được ghi ấn tín đời đời, đã lãnh nhận Chúa Thánh Thần một cách đặc biệt, để tham dự - như là cộng sự viên của Giám mục – vào sứ vụ cứu thế của Đức Kitô, Linh mục tối cao và duy nhất.
2. Linh mục, con người Phụng vụ
Tuy nhiên, Bí tích Truyền Chức trước hết liên quan đến nhiệm vụ phượng tự và đặc biệt quyền cử hành Bí tích Thánh Thể (x. GH 28; LM 13). Điều này có nghĩa là: Khi thi hành nhiệm vụ phượng tự và nhất là cử hành hiến lễ tạ ơn, Linh mục đóng vai trò vừa có tính cách chức năng vừa có tính cách mầu nhiệm, ngài hành động vừa mang ý nghĩa Giáo Hội vừa mang ý nghĩa Bí tích; và để thực hiện vai trò đa dạng này, ngài lãnh quyền năng Chúa Thánh Thần nhờ việc đặt tay
a) Có tính cách chức năng, vì người hướng dẫn việc cử hành, nghĩa là giúp cộng đoàn hiện diện nhận thức đầy đủ các hoạt động Phụng vụ ở mức độ tối đa;
b) Có tính cách mầu nhiệm, vì ngài là hình ảnh hữu hình của Đức Kitô, Đầu của Hội Thánh và người phục vụ anh em mình, đang hiện diện và hoạt động giữa Dân Người.
c) Mang ý nghĩa Giáo Hội, vì người biến buổi cử hành nên việc phượng tự của tất cả Thân Thể mầu nhiệm của Đức Kitô là Hội Thánh tôn vinh Thiên Chúa;
d) Mang ý nghĩa Bí tích, vì ngài làm cho công trình cứu rỗi của Đầu hữu hiệu nơi các chi thể.
Như thế, nhờ quyền năng Chúa Thánh Thần và qua dấu chỉ Phụng vụ (a), Linh mục thực thi vai trò của Đức Kitô, con người Phụng vụ độc nhất(b) để khi phục vụ cộng đoàn hiện diện cử hành việc phượng tự của tất cả Hội Thánh, Phụng vụ duy nhất của Đức Kitô (c) sẽ hoàn tất công trình thánh hoá nhân loại (d). Đây là ý nghĩa của ‘Linh mục, con người phụng vụ’.
Sau khi trình bày về bản chất và tầm quan trọng của Phụng vụ trong đời sống Giáo Hội, công đồng Vatican II đã khẳng định: ‘Nhưng muốn thâu đạt hiệu năng toàn vẹn ấy, tín hữu cần tham dự Phụng vụ thánh với tâm hồn được chuẩn bị sẵn sàng, ngay thẳng, hoà hợp tâm trí với ngôn ngữ, và cộng tác với ân sủng trên trời, để đừng lãnh nhận ân sủng đó một cách vô ích. Vì vậy, các mục tử không những chỉ chú tâm tuân giữ các lề luật trong các hoạt động Phụng vụ, để cử hành thành sự và thích phép mà thôi (đây là điều kiện thứ hai của việc cử hành đích thật, x. Dẫn nhập; đây cũng là lý do tại sao phải cử hành Phụng vụ dưới quyền của Giám mục), nhưng còn lo cho các tín hữu tham dự Phụng vụ một cách ý thức, linh động và hữu hiệu’ (PV 11).
‘Tất nhiên sẽ không có hy vọng đạt được kết quả mong muốn, nếu trước tiên các mục tử không thấm nhuần tinh thần và sức mạnh của Phụng vụ’ (PV 14);
2.1. Tinh thần và sức mạnh của Phụng vụ.
“Những kẻ thờ phượng đích thật sẽ thờ phượng Cha trong tinh thần và chân lý” (Ga 4,23)
Đây là quan điểm Kitô học của thánh Gioan. Thánh sử muốn trình bày một khía cạnh của chủ để cơ bản: Chúa Giêsu là ai để nhân loại tin vào Người? Chủ để này trước hết được khai triển qua hai dấu chỉ: dấu chỉ RƯỢU ở tiệc cưới Cana (Ga 2,1-12) và dấu chỉ ĐỀN THỜ GIÊ-RU-SA-LEM (Ga 2,13-22). Hai dấu chỉ này loan báo Chúa Giêsu là Đấng Thiên Sai. Sau bức màn của Đền thờ bị xé làm đôi và qua Thân thể đầy vết thương của Chúa Giêsu hấp hối, Thiên Chúa xuất hiện để làm thỏa mãn giấc mơ của cựu ước: Thiên Chúa ở cùng chúng ta nghĩa là Thiên Chúa thiết lập Giao ước mới và vĩnh viễn với Israel mới là Hội Thánh. Vậy Chúa Giêsu là ai?
Người là hồng ân của Thiên Chúa. Đoạn văn Tin mừng theo thánh Gioan 4,5-42 mạc khải việc khám phá lần lần ra mầu nhiệm Chúa Giêsu, sự hiểu biết sâu xa của Người là Hồng ân của Thiên Chúa, là công trình của Chúa Thánh Thần. Nói khác đi, con người, lời nói và sứ mạng (qua dấu chỉ nước uống) của Đức Giêsu Kitô là Chân lý. Chân lý này sở dĩ hiện thực và hoạt động nơi trái tim của tín hữu, chính là nhờ tác động của Chúa Thánh Thần. Quả thật, chỉ có Chúa Thánh Thần mới làm cho con người Đức Giêsu Kitô mang sứ mạng cứu thế, được tin nhận nơi các tín hữu để sinh ơn thánh hóa. Do đó, thánh hóa trước tiên là nhằm thực hiện kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa. Và con người được cứu độ nhờ tin nhận, đấy là vinh quang của Thiên Chúa, và đấy cũng là tôn thờ Cha trong tinh thần và chân lý. Nhưng tin nhận, theo ý nghĩa của Lịch sử cứu độ mà thánh Gioan làm sáng tỏ ở đây, chính là dấn thân với đức Giêsu Kitô xuyên suốt cuộc đời cứu thế của người trong đức mến là sức mạnh của Chúa Thánh Thần; cuộc đời ấy giờ đây hiện thực một cách bí tích trong phụng vụ. Tinh thần này, thái độ này là tất cả giáo lý của HIẾN CHẾ VỀ PHỤNG VỤ THÁNH; chúng phải thay thế hẳn trạng thái thụ động và máy móc; chúng phải xuất hiện trong hết mọi hoạt động Phụng vụ của Hội Thánh.
Công đồng Vatican II ý thức được vai trò của Chúa Thánh Thần trong phụng vụ đông phương (A.M. ROGUET) và đã làm nổi bật trong Phụng vụ của Hội Thánh hôm nay – vai trò đó, theo hầu hết các nhà phụng vụ, đã một thời không được nhấn mạnh đủ; căn cứ vào Kinh Nguyện Thánh Thể Rôma (I) – đến độ Công đồng cho rằng: ‘việc canh tân Phụng vụ là hồng ân của Chúa Thánh Thần’ (PV 43). Điều này có nghĩa là Chúa Thánh Thần gây ảnh hưởng mãnh liệt và đem lại sức mạnh vô song cho mọi hoạt động phụng vụ, trên đủ các khía cạnh: ý thức, linh động và hữu hiệu.
Vì thế, trước hết linh mục cần thấm nhuần tinh thần phụng vụ và thái độ tôn giáo: dấn thân và đồng hành, tháp nhập và đồng hóa với Đức Kitô trong các mầu nhiệm phụng vụ, đặc biệt Giao ước của mầu nhiệm Phục sinh. Trên kia chúng ta đã nói: Phụng vụ là thâu tóm và hiện tại hóa lịch sử cứ độ. Vậy thấm nhuần tinh thần phụng vụ có nghĩa là ngụp lặn trong dòng sông lịch sử, trở thành nhân tố của lịch sử ấy, chứ không là khách bàng quan đứng trên bờ để ngắm nhìn. Và thấm nhuần tinh thần tôn giáo có nghĩa là tận dụng mọi khả năng: thân xác, linh hồn và tâm trí; hiểu biết, tình cảm và ý chí, để nắm phần chủ động khi cử hành phụng vụ. sau đó, linh mục tin vào sức mạnh của Phụng vụ là chính quyền năng Chúa Thánh Thần. nếu Đức Kitô đã được ban Thánh Thần để thể hiện mầu nhiệm của Người, thì linh mục cũng được lãnh nhận Thánh Thần ấy qua các tông đồ, để giờ đây hoàn tất mầu nhiệm của người trong Phụng vụ.
Với tinh thần ấy và sức mạnh ấy, linh mục xác tín: phụng vụ không phải là ‘công việc làm chiếu lệ’ nhưng là sự sống của ngài và của đoàn chiên.
2.2. Qua dấu chỉ Phụng vụ
Công trình cứu rỗi của Đức Giêsu Kitô, Linh mục Thượng phẩm được hoàn tất trong Phụng vụ, nhờ những dấu chỉ khả giác (PV 7 và 59). Thật vậy, tất cả việc truyền thông giữa Thiên Chúa và loài người đều được thực hiện trong thế giới hữu hình; và nhờ đức tin, chúng ta nhận ra nó là dấu chỉ thế giới vô hình. Trong các dấu chỉ này, những dấu chỉ phụng vụ mang một ý nghĩa đặc biệt; chúng là những dấu chỉ của Hội Thánh.
Hội Thánh ý thức mình hoàn toàn dấn thân vào những dấu chỉ bí tích của Phụng vụ, vì Hội Thánh tin tưởng vào hành động hữu hiệu của Đức Kitô cứu thế. Không phải người nọ, người kia rửa tội, bẻ bánh, nhưng chính Đức Kitô nhờ người đó. Cũng không phải chỉ cộng đoàn này, cộng đoàn nọ cầu nguyện, tạ ơn, nhưng tất cả Hội Thánh được sinh động nhờ Thánh Thần của Đức Kitô cầu nguyện và tạ ơn nơi họ. Trong những dấu chỉ của Phụng vụ, Hội Thánh nhận biết quyền năng của Chúa Thánh Thần tác động trên chúng ta (GH 50).
Về những dấu chỉ phụng vụ, chúng ta phải hiểu Phụng vụ vừa là dấu chỉ vừa là biểu tượng. Là dấu chỉ (signe), vì những hành động có ý nghĩa (lời, cử điệu được thực hiện nhờ sự vật) hướng về một ‘cái gì’ thụ nghĩa (signifié): Thiên Chúa. Nhưng ở trần gian này, Phụng vụ luôn luôn là biểu tượng (symbole), vì tất cả những hành động luôn có ý nghĩa này trực tiếp hay gián tiếp hướng về Đức Kitô là ‘hình ảnh của Thiên Chúa vô hình’ trước đã. Nói cách khác, từ hành động dấu chỉ (action-signe) đi đến mục tiêu tối hậu của nó là Thiên Chúa phải có một trung gian: Đức Giêsu Kitô. Như vậy, Thiên Chúa hiện diện với con người trong sự vắng mặt.
Việc truyền thông những dấu chỉ là một việc rất phức tạp liên hệ đến trí hiểu, tình cảm và tưởng tượng; ý muốn, tâm hồn, tự do. Chúng ta có thể phân biệt chúng qua 4 tác dụng chính:
a) Chỉ bảo: dấu chỉ phải cho biết ‘một điều gì khác’ ví dụ: bữa ăn của Chúa không chỉ là bữa ăn giữa những người bạn hữu; nhưng là bữa ăn Giao ước nhờ đức tin. Đây là giá trị tiền huấn giáo của Phụng vụ.
b) Thông tin: dấu chỉ phải thông tin về một sự kiện, ví dụ: dấu chỉ làm nên bí tích khi thông tin việc đổ nước hữu hình liên quan đến dầu nhiệm cứu chuộc của Đức Kitô. Thật vậy, nhờ lời thông tin, tất cả những hành động dấu chỉ đều hướng về biểu tượng Đức Kitô vì chỉ một mình người làm cho việc truyền thông nghi thức trở nên có ý nghĩa. Đây là giá trị huấn giáo của Phụng vụ.
c) Bắt buộc: Ai đã được thông tin, thường thường phải thay đổi thái độ, ví dụ: một tiếng kêu cứu mời gọi tôi phải giúp đỡ, mạc khải giao ước hàm chứa việc thúc bách thực hiện lời cam kết. Đây là giá trị luân lý của Phụng vụ.
d) Kết hợp: Nếu một người nào đã làm dấu chỉ cho tôi, không những tôi nhận ra ý muốn của người ấy, mà còn nhận diện con người ấy qua dấu chỉ. Ví dụ: khi đọc lá thư của một người bạn, tôi nhận ra người bạn và kết hợp với người bạn trong tình nghĩa bạn bè. Cũng vậy, trong hành động bí tích, tôi nhận ra và kết hợp gắn bó với Đức Kitô Cứu Thế, Đấng đã chết và sống lại cho tôi. Đây là giá trị đặc biệt và sâu xa nhất của nghi thức Phụng vụ, giá trị mầu nhiệm của Phụng vụ.
Linh mục là người phân phát các mầu nhiệm của Thiên Chúa (I C 4,1), có bổn phận chuyển thông mầu nhiệm cứu độ cho mọi người bằng lời và các bí tích. Người cử hành đúng các nghi thức không đủ để được gọi là trung thành phân phát các mầu nhiệm.
Ý nghĩa của các nghi thức Kitô giáo phải được nhận ra dưới ánh sáng của mạc khải nơi Đức Giêsu Kitô. Một dấu chỉ chỉ có nghĩa trong toàn thể. Do đó, những dấu chỉ phụng vụ luôn luôn phải gắn liền với toàn thể Mạc khải Kinh Thánh và Truyền thống tín lý. Điều này có nghĩa là việc mục vụ phụng vụ tốt phải dựa vào một giáo lý chắc chắn và nền thần học quân bình. Bỏ qua hay nhấn mạnh thái quá một khía cạnh của mầu nhiệm Kitô giáo, chắc chắn sẽ làm lệch lạc đi ý nghĩa của dấu chỉ. Là mục tử, linh mục cần đào sâu và làm giàu ý nghĩa của các dấu chỉ nhờ việc dạy giáo lý và cắt nghĩa thường xuyên. Và ngài là mục tử cả khi cử hành: gương sáng và cách cử hành của ngài cũng giữ một vai trò quan trọng. Sau nữa, ngài cần thích nghi với những nhu cầu của cộng đoàn cử hành về văn hóa, tuổi tác…
admin
13-12-2010, 03:49 PM
2.3. Khi phục vụ cộng đoàn hiện diện, cử hành việc phượng tự của tất cả Hội Thánh.
Trên kia chúng ta đã nói: chỉ có một Phụng vụ duy nhất của Đức Kitô. Bởi vậy, linh mục cử hành là cử hành Phụng vụ của Đức Kitô. Phụng vụ ấy, chính là việc phượng tự công cộng và trọn vẹn của thân thể Mầu nhiệm của Giêsu Kitô là Đầu và chi thể Người. Công đồng Vatican II nhấn mạnh trục thứ nhất: Phụng vụ của Đức Kitô chính là việc thực thi mầu nhiệm của Người. mầu nhiệm ấy, Người còn tiếp tục thực hiện trong Hội Thánh dưới bức màn dấu chi. Đây là ý nghĩa nguyên thủy của bí tích.
Từ ngữ mầu nhiệm được dùng ở đây không có nghĩa ‘một điều gì bí ẩn và khó hiểu’, nhưng được dùng theo nghĩa truyền thống của Kitô giáo. Đối với thánh Phaolô (Rm 16,25-36; I C 2,7-10; Ep 3,3-13) mầu nhiệm là kế hoạch cứu độ được ẩn giấu nơi Thiên Chúa từ đời đời, đã được bảy tỏ và thực hiện nơi Đức Kitô. Thế nên mầu nhiệm là truyền thông Thiên Chúa vô hình, trước hết nơi nhân tính hữu hình của Đức Kitô, rồi - khi Người lên trời ngự bên hữu Chúa Cha - nơi các bí tích là những dấu chỉ hữu hình của ơn cứu độ trong Hội Thánh. Thánh Giáo hoàng Lêo nói: 'Điều gì hữu hình nơi Đức Kitô, bây giờ trở nên hiện thực trong các mầu nhiệm hay các bí tích của Hội Thánh. Đối với các Giáo phụ mầu nhiệm hay các bí tích thường có ý nghĩa là những dấu chỉ bày tỏ và thực thi ơn cứu độ nơi Đức Giêsu Kitô trong Hội Thánh.
Vì thế đối với Đức Kitô, Phụng vụ của chúng ta là thực thi chức Linh mục của Người: đối với chúng ta, đó là việc Hội Thánh tham dự vào chức Linh mục mà Đức Kitô không ngừng thực hiện bên cạnh Cha Người. Từ đây, Hội Thánh suy nghĩ về chức Linh mục thừa tác và nhất là làm sống lại chức linh mục vương giả của giáo dân. Làm như vậy, Công đồng có dụng ý gì? Phải chăng Công đồng muốn thay đổi thái độ tôn giáo của tất cả thành phần Dân Chúa khi cử hành Phụng vụ? Nói khác đi, những người cử hành Phụng vụ Kitô giáo không chỉ là những thừa tác viên của phượng tự mà tất cả những ai đã được rửa tội trở nên Dân Thiên Chúa (PV 14). Là đầu, linh mục phục vụ giáo dân để tất cả chỉ cử hành một phụng vụ, Phụng vụ của Chúa Kitô; và để tất cả không chỉ tưởng niệm cách đơn thuần nhưng hiện tại hóa mầu nhiệm Đức Kitô.
Hiện tại hóa mầu nhiệm Đức Kitô có nghĩa vừa tưởng niệm sự kiện quá khứ của mầu nhiệm, vừa thực hiện ân sủng trong mầu nhiệm và vừa hưởng trước việc hoàn tất mầu nhiệm trong ngày Người trở lại. Điều này giả thiết tất cả Dân Chúa đến cử hành Phụng vụ, phải có đức tin. Vì thế chỉ đào sâu và làm giàu ý nghĩa của các dấu chỉ phụng vụ trên bình diện tự nhiên thì chưa đủ. Linh mục phục vụ cộng đoàn cử hành Phụng vụ của Đức Kitô còn chú tâm xây dựng đức tin của họ.
Không có đức tin là hồng ân của Chúa Thánh Thần, họ không thể trở nên chi thể của Thân thể Đức Kitô. Không có đức tin vào Đức Kitô Cứu Thế, họ không nhận ra ý nghĩa đích thật của các hành động dấu chỉ. Khi ấy, đối với họ, hành động dấu chỉ trở nên một thái độ tôn giáo mơ hồ, và có thể một hành động ‘ma thuật’. Thái độ này dưt khoát không thể là thái độ của Dân Giao ước.
Quả thật, tất cả dấu chỉ phụng vụ là những dấu chỉ cho đức tin; các bí tích là những bí tích của đức tin (PV 59). Bởi thế, đối với mọi thành phần của cộng đoàn phụng vụ, đức tin là điều kiện để hòa mình vào mầu nhiệm của Đức Kitô hiện diện và hoạt động nhờ Thánh Thần. Và tất cả Dân Chúa hòa mình vào mầu nhiệm của Đức Kitô trong đức tin, đó là cử hành thật sự phụng vụ của Đức Kitô, phượng tự của toàn thể Hội Thánh. Nhờ linh mục, thái độ tôn giáo này còn được tiếp tục phát triển không ngừng trong phụng vụ.
2.4. Linh mục thực thi vai trò của Đức Kitô.
Những người đến cử hành phượng tự giao ước thấy những dấu chỉ đầu tiên của sự hiện diện Đức Kitô nơi cộng đoàn: Linh mục chủ sự và cộng đoàn nhóm họp. Trong các thừa tác vụ của buổi cử hành, vai trò chủ sự của Linh mục quan trọng và có ý nghĩa nhất. Nhờ tác động Chúa Thánh Thần, Ngài bảo đảm sự hiện diện đích thực của Đức Kitô giữa Dân người. Chính nhờ tác vụ của Ngài là chủ sự, hiện thân của Đức Kitô là Đầu, mà các chi thể trở nên sống động và linh hoạt. Như thế vai trò của chủ sự là thống nhất cộng đoàn cử hành: đầu và chi thể làm nên Thân Thể của Đức Kitô.
Như Hội Thánh, ‘cộng đoàn Phụng vụ’ trong Đức Kitô trở nên bí tích: vừa là dấu chỉ vừa là dụng cụ của sự kết hợp mật thiết với Thiên Chúa và hiệp nhất toàn thể nhân loại (GH1). Như thế, Phụng vụ không thể nào tách rời ra khỏi hành động của Đức Kitô và hành động của Hội Thánh mà linh mục là đại diện. Từ Đức Kitô-Linh mục chủ sự, Phụng vụ bảo đảm sự hoàn tất công trình cứu rỗi.
Đến đây chúng ta tự hỏi: nhấn mạnh Phụng vụ duy nhất và sự hiện diện của Đức Kitô, Công đồng muốn gì? Công đồng muốn tất cả Dân Chúa (linh mục và giáo dân) tham dự Phụng vụ cách linh hoạt, để đạt được mầu nhiệm của Phụng vụ.
Tham dự linh động không chỉ hệ tại kết hợp với hoạt động trao phó cho một số người, nhưng phải nắm vai chủ động đối với trọn vẹn mầu nhiệm được cử hành bằng tất cả con người mình. Mỗi người phải đồng hóa với những dấu chỉ phụng vụ vừa biểu tượng vừa thực hiện Đức Kitô hiện diện giữa anh em nhờ Thánh Thần của Người. Một đàng mỗi tín hữu gặp gỡ, đối thoại với Người như một cuộc trao đổi liên vị giữa hai con người sống động: tin yêu, gắn bó và đồng hành với nhau trong mầu nhiệm được cử hành. Đàng khác mỗi phần tử của cộng đoàn xây dựng Thân Thể của Người, vì nhận biết Người đưa đến sự nhận biết anh em. Để đạt được điều này, Phụng vụ đòi hỏi thái độ thân xác, cử điệu và lời nói, đặc biệt những câu tung hô, những lời đáp trả linh mục và các thừa tác viên, hát chung và thinh lặng thánh, sau cùng việc rước lễ trong Hiến lễ tạ ơn.
Linh động không có nghĩa nhộn nhịp và huyên náo. Trái lại, để trở nên linh động, tham dự phải ý thức, thánh thiện và nội tâm…(PV 11;14;19;21;48;50). Đây là quyền lợi và nghĩa vụ của những tín hữu tin vào sự hiện diện của Đức Kitô và cử hành Phụng vụ của người.
Tuy nhiên, linh mục có bổn phận trước hết (PV 26). Nếu sự hữu hiệu của dấu chỉ phụng vụ tùy vào ơn nhưng không của Thiên Chúa và tâm hồn, thái độ, sự tự do lãnh nhận của con người, thì những mục tử có bổn phận điều hành làm sao cho những dấu chỉ này trở nên dụng cụ truyền thông hữu hiệu ở mức cao nhất. Trước hết, ngài biểu lộ rõ ràng chân tính của Đức Kitô qua cách ngài cử hành: thái độ, lời nói, việc làm. Sau đó, ngài hướng dẫn việc cử hành làm sao - đặc biệt nhờ hát - để tùy những lúc nào khác nhau của buổi cử hành, tất cả cộng đoàn khi thì được mời gọi, hướng dẫn, khi thì được thúc bách tung hô, lắng nghe, đáp trả, hồi tâm, suy niệm, tuyên xưng đức tin, cầu nguyện, ca ngợi, và tạ ơn.
Tóm lại, phục vụ cộng đoàn hic et nunc (đa diện và phức tạp) cử hành việc phượng tự Hội Thánh, linh mục chuẩn bị cho mọi người thấm thấm nhuần tinh thần của mầu nhiệm phượng tự dấn thấn theo Đức Kitô, trở nên môn đệ dễ dạy đối với Lời Người, đồng hành với Người qua các hành động cứu thế, để cuối cùng chấp nhận chết và sống lại với Người trong mầu nhiệm Phục sinh. Tinh thần và thái độ này là hành trang đi vào thế giới của các dấu chỉ phụng vụ.
Tuy nhiên các dấu chỉ này không hữu hiệu một cách máy móc. Vì thế linh mục xây dựng họ trở nên cộng đoàn đức tin, vì chỉ có những người nghe Lời Chúa triệu tập và tin vào Lời của Ngời mới làm nên Cộng đoàn Phụng vụ. Cộng đoàn Phụng vụ là nơi họp mừng của những người tin vào Đức Kitô Cứu Thế. Qua linh mục chủ sự, cộng đoàn ấy liên kết với Đức Kitô Cứu Thế hiện diện và hoạt động theo hàng dọc, để lại liên kết với anh em theo hàng ngang. Chính trong cộng đoàn này là Hội Thánh được sinh động nhờ quyền năng Thánh Thần, linh mục làm cho các dấu chỉ của buổi cử hành có khả năng chỉ bảo, thông tin, bắt buộc và kết hợp họ với Đức Kitô và mầu nhiệm của Người. Nói cách khác, ngài phân phối các tác vụ và điều hành những hành động dấu chỉ phụng vụ thế nào, để Đức Kitô và công trình cứu thế của Người hiện ra rõ nét, và có sức lôi cuốn những người cử hành thêm đức tin, đức cậy và đức mến.
Do đó, nếu Phụng vụ thánh hóa những ai nhờ các bí tích dấn thân vào Giao Ước của Người, thì linh mục, con người phụng vụ nhờ các dấu chỉ biểu trưng và thể hiện, giúp cộng đoàn được chỉ định lãnh hồng ân và ký Giao ước, thật sự tưởng niệm Chúa chết và sống lại trong đức tin, kết hợp với Chúa hiện diện thân tình trong đức mến, và mong đợi Chúa lại đến trong đức cậy. Đấy là ý nghĩa tham dự hữu hiệu: con người được Thiên Chúa thánh hóa nhờ Đức Kitô trong Chúa Thánh Thần, dâng lên Ngài lòng tôn thờ xứng đáng nhờ Đức Kitô trong Thánh Thần.
2.5. Sẽ hoàn tất công trình thánh hóa nhân loại
Phụng vụ là toàn thể những dấu chỉ hữu hiệu thánh hóa và tôn thờ Thiên Chúa. Vì thế, tùy khả năng sáng kiến và kỹ thuật, linh mục con người phụng vụ với ơn Chúa Thánh Thần, cố gắng hết sức để tổ chức và điều hành những hoạt động dấu chỉ của buổi cử hành. Tuy nhiên, những cố gắng đó có bảo đảm được sự hữu hiệu không?
Không! Trước hết dầu không hoàn toàn phủ nhận sự hữu hiệu ‘ex opere operato’ và ‘ex opere operantis’, Hội thánh thâm tín rằng việc tín hữu lãnh nhận ân sủng nhiều hay ít tùy vào tâm hồn và thái độ của họ (PV 11). Người ta có thể chỉ lo cử hành Phụng vụ cho đúng chữ đỏ và không chú tâm gì khác ngoài việc giáo dân tham dự bề ngoài. Một buổi cử hành như vậy có thể có giá trị đối với những người được chuẩn bị sẵn sàng và khá nội tâm, nhưng lại có thể chỉ là những nghi thức chết và vô hiệu năng.
Thứ đến, con người thời đại hôm nay mất nhạy cảm về dấu chỉ. Với đà tiến của khoa học, vũ trụ không còn là thần thiêng và huyền nhiệm nữa (J. DANIELOU, Mystère de la Liturgie). Thế nên, Hội Thánh thích nghi hoạt động dấu chỉ với thực tại con người và hoàn cảnh cụ thể của họ: giải phóng, tù đày, nghi nan, hiệp thông…tuy vậy, những nỗ lực thích nghi cũng vẫn chỉ có giá trị tương đối.
Công đồng Vatican II tuyên tín: cách thế hiện diện khác nhau của Đức Kitô là công trình của Chúa Thánh Thần (những ám chỉ từ PV 1-6). Nhờ quyền năng Chúa Thánh Thần, linh mục in persona Christi đọc 'Này là Mình Ta...Này là Máu Ta…', bánh và rượu trở nên Mình Máu Đức Kitô. Nhờ Ngài, các tín hữu trở thành ‘những Kitô khác’. Nhờ đó, phụng vụ của Hội Thánh (Đầu và chi thể) trở nên Phụng vụ của Đức Kitô.
a) Chúa Thánh Thần và Phụng vụ.
Thật vậy, quyền năng Chúa Thánh Thần tác động trên chúng ta nhờ những dấu chỉ phụng vụ (GH 50); và Ngài thánh hóa Dân Chúa nhờ các bí tích (GH 12).
Không có hoạt động của Chúa Thánh Thần, lời của Đức Kitô sẽ trở nên vô hiệu, không tác dụng được trên bánh rượu và Hội Thánh. Ngài làm cho chúng ta sống trọn vẹn mầu nhiệm của Đức Kitô: nghĩa là làm cho Lời Kinh Tưởng Niệm hiện tại hóa trong Hội Thánh, hy tế duy nhất trên thập giá, và làm cho việc tưởng niệm hữu hiệu hóa những lời chuyển cầu của Hội thánh. Đây là ý nghĩa của hai kinh khấn nguyện Chúa Thánh Thần trong 3 Kinh Nguyện Thánh Thể mới.
Quả thật, nhờ việc khấn nguyện thứ nhất, Thân thể Bí tích của Đức Kitô được thể hiện: Đức Kitô tử nạn – phục sinh hiện diện một cách thể lý và với Người, Nước Thiên Chúa cũng hiện diện mặc dầu chưa tỏ hiện. Nhờ việc khấn nguyện thứ hai: xin Thiên Chúa sai Thánh Thần đến để làm cho sự hiệp thông giữa Thân Thể Bí tích và Thân Thể Hội Thánh của Đức Kitô mang những hiệu quả hiệp nhất, thánh thiện, công giáo và tông truyền. nói khác đi, Ngài làm cho những lời chuyển cầu (về những nhu cầu của Hội Thánh và nhân loại) đạt được kết quả: Thân thể Hội Thánh tháp nhập nên một với Thân thể Bí tích của Đức Kitô. Như vậy, nhờ Chúa Thánh Thần mà Thánh Thể làm nên Hội Thánh, và do đấy, toàn thể nhân loại được thánh hóa.
Nhờ Chúa Thánh Thần, những thực tại hữu hình trong Phụng vụ vượt ra khỏi ý nghĩa tự nhiên, để mang một ý nghĩa cao cả hơn. Nhờ Chúa Thánh Thần, công trình của Đức Kitô tiếp tục trong lịch sử; Đức Kitô không phải là một hiện tượng trong quá khứ cũng không phải là một giấc mơ tương lại, nhưng hiện thực với con người qua Phụng vụ.
Chính trong ý nghĩa này, chúng ta đã nói: hiệu quả của Chúa Thánh Thần là tinh thần và sức mạnh của Phụng vụ. Thật vậy, Ngài làm cho chúng ta tin cậy mến Đức Kitô và sẵn sàng lãnh nhận công trình thánh hóa của Người được hoàn tất trong Phụng vụ. Vì thế, linh mục con người phụng vụ không thể không tin vào quyền năng của Chúa Thánh Thần. Quyền năng ấy, linh mục lãnh nhận cách đặc biệt trong ngày thụ phong, để trước nhất chu toàn công tác mục vụ Phụng vụ. Hơn nữa, linh mục còn đặt niềm tin vào ơn Chúa Thánh Thần mà tín hữu lãnh nhận khi họ chịu Bí tích rửa tội và Thêm sức, để thi hành nhiệm vụ khi cử hành Phụng vụ, phượng tự của Hội Thánh, chính là niềm xác tín này.
b) Cầu nguyện trong Thánh Thần
Tuy nhiên đức tin không có việc làm là đức tin chết. Tin Chúa Thánh Thần và quyền năng của Ngài là một việc. Đừng dập tắt Chúa Thánh Thần, trái lại cộng tác với ơn Ngài là một việc khác.
Cầu nguyện là linh hồn của Phụng vụ, vì phụng vụ là Hội Thánh cầu nguyện. Hội thánh cầu nguyện phải được hiểu là Hội Thánh cầu nguyện trong Thánh Thần, vì ‘chúng ta đâu biết phải cầu xin thế nào, chính Thánh Thần nâng đỡ sự yếu hèn của chúng ta’ (Rm 8,26). Do đó, hoạt động phụng vụ là hoạt động của Chúa Thánh Thần, ‘Đấng cầu nguyện nơi các tín hữu’ (GH 14), để hữu hiệu hóa chức linh mục của Đức Kitô. Và Công đồng Vatican II dạy các linh mục: ‘Phải tập cho các tín hữu tham dự những buổi cử hành Phụng vụ bằng cách cầu nguyện thành thật’. (LM 5).
Trong buổi Triều yết chung ngày 22.4.1970 (DC 1564 trang 508), Đức Thánh Cha Phaolô VI đã tỏ ý hân hoan về việc giáo dân ngày nay tham gia Phụng vụ cách linh động và ý thức hơn, nhưng tiếp đó Ngài cũng tỏ ra lo ngại, Ngài nói: ‘Mặt khác chúng ta phải xót xa khi thấy việc cầu nguyện riêng tư đang suy giảm. Đó là một nguy cơ cho Phụng vụ, đó là điều có thể làm cho Phụng vụ nghèo nàn từ bên trong, trở thành nghi thức suông bên ngoài, trở nên việc giữ đạo hoàn toàn hình thức. Chính ý thức tôn giáo cũng có thể suy yếu, nếu sự cầu nguyện thiếu tính cách nội tâm và riêng tư cần thiết. ‘cần có sự cầu nguyện chung’ nhưng cũng cần mỗi người tập cho biết cầu nguyện trong lòng mình và tự lòng mình’. Vì thế, không nên vội vã cho rằng giáo dân đã biết tham dự Phụng vụ khi nghe họ hát và đọc kinh, đối đáp một cách rập ràng và dõng dạc. Cần giúp giáo dân hiểu – hòa hợp tâm trí mình với ngôn ngữ (PV 11) – những lời họ hát hoặc đọc một cách thành thực.
Với những ý nghĩ trên, Công đồng Vatican II đã thay thế nhạc bình ca bằng 'nhạc nghi thức', nhấn mạnh việc hát Thánh vịnh. Thánh vịnh là sách cầu nguyện của Hội Thánh và canh tân Phụng vụ đã hồi sinh, Thánh vịnh Đáp ca, Lời nguyện giáo dân, lập nghi thức Thánh thi sau Hiệp lễ, đề cao những lúc thinh lặng. Xin trưng vài thí dụ :
- Về sức năng động của Thánh vịnh Đáp ca, AUGUSTINO viết : “Nếu mầu nhiệm trao đổi giữa Thiên Chúa và con người nhờ Lời Chúa mà không có thể thực hiện được toàn vẹn thì tất cả những suy nghĩ về vai trò và ý nghĩa của Thánh vịnh đáp ca đều sụp đổ. Thánh vịnh đáp ca sở dĩ được tái lập là do kinh nghiệm đức tin, của việc hiệp thông với Chúa Thánh Thần, là muốn làm nảy sinh 'một bài ca mới', không phải là kết quả của sự tìm kiếm nhân loại mà là của Thánh Thần”. Thật vậy, nếu cử hành đúng Thánh vịnh đáp ca, chúng ta sẽ được Chúa Thánh Thần đổ lòng mến của các tác giả Thánh vịnh vào hồn, để lòng mến trở nên động cơ thúc đẩy chúng ta lắng nghe và thay đổi nếp sống cho phù hợp với Lời Chúa. Lịch sử Phụng vụ cho hay: chính vì chú tâm tìm kiếm hình thức nhạc, người ta đã khai tử nó từ hơn một nghìn năm. Như vậy, nó đã bị làm 'mồi cho nghệ thuật', theo kiểu nói của JUNGMANN. Cái thẩm mỹ không dựa trên văn bản nữa nhưng trên âm nhạc. Cộng đoàn không lắng nghe Thánh vịnh nữa, nhạy cảm về âm nhạc hơn là bản văn. Nhạc đã giết chết Thánh vịnh. Phụng vụ đã mất một nguồn năng lực trên 10 thế kỷ.
- Sự kết hợp nội tâm trong đức tin và đức mến sẽ đi đến cao điểm của nó, khi người ta giữ thinh lặng thánh vào đúng lúc. Nó không phải là 'thinh lặng bất động', nhưng 'thinh lặng tròn đầy', 'thinh lặng tập thể' được nuôi dưỡng và chuẩn bị nhờ hát và giáo lý. Khi ấy thinh lặng trở nên chóp đỉnh của cầu nguyện (QCTQ 23; huấn thị Musicam Sacram, 1967 số 17).
Linh mục con người phụng vụ vừa là cổ động viên cầu nguyện chung, vừa là mẫu gương cầu nguyện riêng. Vào những lúc khác nhau của buổi cử hành, cộng đoàn thấy cách biểu lộ đức tin chung và sức lôi cuốn của việc cầu nguyện nội tâm riêng tư qua lời cầu nguyện của ngài. Được vậy, linh mục sẽ hoàn tất vai trò con người phụng vụ: cộng đoàn tìm thấy lòng mến của Chúa Thánh Thần là sức mạnh, để dấn thân vào những hoạt động phụng vụ, hầu kiện toàn hình ảnh sung mãn của Đức Kitô : nhân loại được thánh hóa và Thiên Chúa được tôn vinh.
Kết luận :
Phụng vụ là nơi tuyêt hảo, để chúng ta lãnh nhận sự sống mầu nhiệm. Đức tin thúc đẩy người tín hữu dấn thân vào mầu nhiệm của Đức Kitô. Trong lịch sử của nhân loại, mầu nhiệm này bày tỏ và chuyển thông kế hoạch tình yêu nhưng không, được ẩn giấu nơi Thiên Chúa từ đời đời. Qua kế hoạch này, Thiên Chúa muốn cứu rỗi nhân loại và ban cho họ ơn nghĩa tử (Ep 1,3-14). Mầu nhiệm này được mạc khải một cách sung mãn và thực hiện nơi Đức Giêsu, Bí tích duy nhất của tình yêu Thiên Chúa; giờ đây được biểu thị và chuyển thông trong các bí tích của Hội Thánh.
Nhờ Bí tích Rửa tội và Thánh Thể cũng như tất cả các dấu chỉ của phượng tự, chúng ta hiệp thông với các 'mầu nhiệm' của Chúa: Nhập thể, rao giảng Tin mừng, chết, sống lại, lên trời vinh hiển và thống trị muôn vật. Tất cả còn đó trong thế giới này; vì thế sự sống mầu nhiệm còn bị che dấu với Đức Kitô trong Thiên Chúa (Co 3,2). Cho tới ngày tỏ hiện trong vinh quang, Đức Kitô, Sự Sống của chúng ta được ẩn tàng dưới bức màn dấu chỉ của phượng tự: sự sống ấy thật mầu nhiệm.
Đối với đức tin, tất cả có thể trở nên dấu chỉ mầu nhiệm, nhưng không dấu chỉ nào làm cho chúng ta đi vào mầu nhiệm chia sẻ địa vị làm con Thiên Chúa hữu hiệu bằng những dấu chỉ Phụng vụ. Do đó, các bí tích là tiêu chuẩn, mẫu mực, nơi chốn và địa điểm biểu trưng cách đặc biệt sự sống mầu nhiệm, nhờ Thánh Thần của Đức Giêsu.
Mầu nhiệm ấy được ban cho linh mục để sống; những bí tích được trao cho con người phụng vụ, để làm phương tiện chuyển thông. Linh mục, con người phụng vụ luôn luôn tìm hiểu để xác tín, và không ngừng phát huy ý nghĩa các dấu chỉ bí tích, để khi dự phần vào vai trò của Đức Kitô cử hành Phụng vụ, ngài chuyển thông sự sống mầu nhiệm cho đoàn chiên và toàn thể nhân loại một cách hữu hiệu. Thật vậy, linh mục con người phụng vụ cưu mang, sinh nở và phát triển việc thần linh hóa nhân loại, là chính sự kết hợp mầu nhiệm với Chúa Cha, nhờ Chúa Con, trong Chúa Thánh Thần.
Sưu tầm
vBulletin v3.5.2, Copyright ©2000-2012, Jelsoft Enterprises Ltd.