PDA

View Full Version : Mẹ Maria, Đấng duy nhất được lãnh nhận ơn Tiền Cứu Rỗi


admin
16-12-2010, 04:51 AM
Mẹ Maria, Đấng duy nhất được lãnh nhận ơn Tiền Cứu Rỗi (1)

Lời giới thiệu: Trong những ngày này, khi toàn thể nhân loại đang sửa soạn cử hành mầu nhiệm Giáng Sinh, vai trò quan trọng mang tính cách quyết định của Mẹ Maria trong kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa luôn được nhắc tới và đề cao. Thật vậy, nhờ hai tiếng „xin vâng“ hoàn toàn tự nguyện của Mẹ trước lời loan báo của Thiên sứ Gabriel, Ngôi Hai Thiên Chúa mới có thể xuống thế và nhập thể trong cung lòng Mẹ để cứu chuộc nhân loại. Tuy nhiên, sự tuyển chọn Mẹ Maria làm Mẹ Chúa Cứu Thế đã từ đời đời nằm trong kế hoạch của Thiên Chúa. Và cũng vì thế, Mẹ Maria đã tuyệt đối được gìn giữ trước vết nhơ tội Nguyên tổ cũng như các tội riêng, và dĩ mhiên nhờ vào cuộc khổ nạn thập giá của Đức Kitô. Nói cách khác, Mẹ Maria đã được hưởng ơn tiền cứu độ của Đức Kitô. Sau đây chúng tôi xin mời quý bạn đọc cùng suy gẫm ơn cao trọng này của Mẹ Maria:

Tuy Mẹ Maria là một thành viên thực sự của Giáo Hội, nhưng vì do sự tiền định từ đời đời của Thiên Chúa muốn kén chọn Mẹ làm Mẹ Con Một Người khi xuống thế làm người, Mẹ Maria đã được hưởng ơn tiền cứu rỗi, nói cách khác, Mẹ đã được hưởng trước ơn cứu rỗi mà Đức Kitô sẽ mang tới cho nhân loại qua cuộc khổ nạn thập giá của Người, và chỉ một mình được hưởng ơn ấy mà thôi. Điều đó muốn nói rằng, ngay từ giây phút đầu tiên khi Mẹ Maria được cưu mang trong lòng mẹ mình, thì Mẹ đã được gìn giữ khỏi bị vướng mắc tội Tổ tông và tất cả mọi tội lỗi khác, vì: trước hết, đó là thánh ý của Chúa Cha và tình thương bao la khôn tả của Người dành cho Mẹ; và tiếp đến, nếu Đức Kitô là Thiên Chúa, là Đấng Thánh tuyệt đối, thì Đấng cưu mang Người là Mẹ Maria cũng phải hoàn toàn tinh tuyền thánh thiện, không thể vướng mắc vào bất cứ tì ố tội lỗi nào, dù là Nguyên tội hay tội riêng mình. Thật vậy, nếu Đức Kitô là Đấng Thánh và nắm trọn mọi quyền lực trong tay để tiêu diệt tội lỗi và giải thoát nhân loại khỏi ách tội lỗi, thì tất nhiên Mẹ Người cũng không thể nằm dưới ách thống trị của tội lỗi được. Trái lại, chính Mẹ là Người Nữ đạp nát đầu con mãng xà xảo quyệt, tức ma quỷ (x. St 3,16).

Hơn nữa, Mẹ Maria không chỉ một mình được hưởng ơn tiền cứu rỗi như thế, nhưng Mẹ cũng được hưởng trọn vẹn ơn cứu rỗi do cuộc khổ nạn thập giá của Đức Kitô mang lại, ơn cứu rỗi mà mỗi Kitô hữu được lãnh nhận khi chịu Phép Rửa Tội.

1. Những ghi nhận về sự cứu rỗi của Mẹ Maria

Trong cuốn tiểu thuyết của bà với tựa đề „Gottesdiener“ – (Người tôi tớ của Thiên Chúa), bà Petra Morsbach kể lại tiểu sử của Linh mục Isidor Rattenhuber một cách hết sức cảm động. Trong tác phẩm, nữ tác giả đã diễn tả một cách rất ranh mãnh và tinh quái, nhưng đồng thời cũng rất đậm tình người. Bà viết: „Cái luận lý mơ hồ và luộm thuộm mà Linh mục Isidor đã phải sử dụng để bênh vực các giáo lý của Giáo Hội, những giáo lý mà chính ông lại không xác tín, chẳng hạn như sự vô nhiễm thai của Đức Trinh Nữ Maria.“(1) Phải chăng hiện tượng Lm Isidor Rattenhuber không còn xác tín vào những giáo huấn trọng yếu của Giáo Hội về Đức tin, chỉ là một trường hợp ngoại trừ? Hay ông là một đại diện cho nhiều người khác cùng quan điểm như thế trong Giáo Hội? Phải chăng điều đó thực sự có quan hệ đến các tín điều của Giáo Hội, nhất là những tín điều về Mẹ Maria, mà người ta có thể bênh vực bằng những „luận lý mơ hồ và luộm thuộm“? Nếu quả thực sự thật là như thế, thì các nhà thần học cũng như tất cả các tín hữu phải được báo động một cách hết sức khẩn cấp. Tuy nhiên, cả khi hoàn cảnh không đến nỗi trầm trọng như bà Petra Morsbach thêu dệt lên, thì người ta cũng cần thiết phải luôn nỗ lực tìm hiểu và đào sâu thêm các tín điều của Giáo Hội về Mẹ Maria.

Đức Hồng Y Lê-ô Scheffczyk đã hoàn toàn có lý khi cho rằng những giáo huấn về Mẹ Maria trước hết là nhằm mục đích làm phát huy và thắp sáng các chân lý về Đức Kitô. Đấy cũng là điều mà nhà thần học Karl Barth (1886-1968)(2) đã đề cập tới, nhưng dĩ nhiên bằng thái độ phê bình và phủ nhận. Nhà thần học Tin Lành này nhận thức được rằng „Môn thần học Công Giáo về Thánh Mẫu học được gắn liền với tổng thể nền thần học Công Giáo một cách bất khả phân ly“(3). Khi sự tương quan giữa Mẹ Thiên Chúa và mầu nhiệm Đức Kitô được xác định bởi ân sủng và ý chí tự do của con người, thì các mầu nhiệm khác cũng rực sáng lên nơi con người Mẹ Maria, đó là: Mầu nhiệm đồng trách nhiệm của con người trong công trình cứu chuộc, mầu nhiệm Giáo Hội được cưu mang trong tâm tình người Mẹ đồng trinh, mầu nhiệm cứu độ và ân sủng, mầu nhiệm sự cầu thay nguyện giúp của cộng đồng các Thánh hay cũng được gọi là mầu nhiệm các Thánh thông công, mầu nhiệm sự hoàn thiện, bao gồm cả thể xác nữa. Tất cả những chân lý đức tin này đều quy tụ lại trong con người Mẹ Maria „như trong một chóp đỉnh sống động“(4).

Qua mối quan hệ gắn bó chặt chẽ đặc biệt với Đức Kitô, Mẹ Maria đóng một vai trò vô cùng quan trọng và đặc thù trong lịch sử cứu độ. Bởi vậy, người ta không thể so sánh sứ mệnh của các Tông Đồ hay của bất cứ vị Thánh nào với sứ mệnh mang tính cách hoàn toàn riêng biệt của Mẹ Maria được. Với lý do là không một Thánh nhân nào đã nắm giữ một vai trò đầy thách đố và mang tính cách quyết định trong lịch sử cứu độ của Thiên Chúa như Mẹ Maria.

Bởi vậy, chiều kích Giáo Hội học về tất cả các mầu nhiệm về Mẹ Maria cũng đều nhấn mạnh một cách rõ ràng: Sự „Vô nhiễm thai“ của Mẹ Thiên Chúa là một hình ảnh thực tiễn nói lên sự thánh thiện chân chính của Giáo Hội, một sự thánh thiện mà cả tình trạng tội lỗi hay sự bất toàn của các thành phần của Giáo Hội cũng không thể ảnh hưởng hay liên hệ tới được. Giáo sư Joseph Ratzinger – hiện là ĐGH Bênêđíctô XVI – cũng đã tham chiếu trong thần học của ngài về các Giáo Phụ hình ảnh „Ecclesia Immaculata“ – Giáo Hội tinh tuyền (Ep 5,27) đã viết: „Giáo huấn về sự „Vô Nhiễm Thai“ của Mẹ Maria là … một phát biểu muốn nói lên một cách đầy tin tưởng chắc chắn rằng quả thực có một Giáo Hội thánh thiện – vì sự tinh tuyền thánh thiện của Mẹ Maria với tư cách Mẹ là một cá thể riêng, nhưng đồng thời Mẹ cũng là đại diện cho Giáo Hội. Vậy, trong nghĩa này, giáo huấn „Vô Nhiễm Thai“ của Mẹ Maria là một phát biểu hoàn toàn chắc chắn về sự thánh thiện của Giáo Hội“(5). Và giáo sư Ratzinger còn thêm. „Theo phạm vi sự hiểu biết của chúng tôi, thì sự tinh tuyền thánh thiện ấy được hiểu nơi Mẹ Maria và chỉ nơi Mẹ Maria mà thôi, một cách hoàn toàn và trọn vẹn, bởi vì Mẹ đại diện cho Giáo Hội, đối với Mẹ ơn được cứu độ sau cùng không còn chỉ là một lời hứa nữa, nhưng là một thực tại.“(6)

admin
16-12-2010, 04:52 AM
2. Chiều kích đại kết trong việc tôn sùng Mẹ Maria

Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II nhìn thấy trong tinh thần đại kết của các Thánh chiều kích đại kết đầy thuyết phục nhất. Bởi vì, theo ngài, chính cộng đoàn hoàn toàn hiệp nhất của các Thánh, hay mầu nhiệm các Thánh thông công, là cả một tiếng nói còn hùng hồn và đầy xác quyết về sự hiệp nhất cần thiết giữa các Kitô hữu hơn những kẻ đã gây nên những cuộc ly khai và chia rẽ(7). Trong Thông điệp về đại kết của ngài „Ut unum sint“ - Để chúng nên một (1995), Đức Gioan Phaolô II đã khẩn cấp cho thấy rằng cộng đồng chưa trọn vẹn của các Giáo Hội và của các cộng đoàn các tín hữu được đặt nền tảng chắc chắn một cách vô hình „trên cộng đồng trọn vẹn của các Thánh, nghĩa là của những người đã luôn sống một cuộc sống trung thành với ân sủng trong sự kết hiệp mật thiết với Đức Kitô hiển vinh“(8).

Cả các Giám Mục và các nhà thần học thuộc các Giáo Hội và các cộng đoàn Kitô giáo khác cũng đã nhận thức được tầm quan trọng to lớn của các Thánh và của việc tôn sùng các Thánh trong những bước tiến của công cuộc đại kết. Cuộc đối thoại chân thành và cởi mở song phương giữa các đại diện Hội Đồng các Giám Mục Đức và các đại diện của Giáo Hội Tin Lành Luther Thống Nhất ở Đức vào năm 2000 đã mang đến một kết quả quan trọng ngoài sự mong đợi của mọi người, đó là tập tài liệu: „Communio Sanctorum – Die Kirche als Gemeinschaft der Heiligen: Các Thánh Thông Công – Giáo Hội là cộng đoàn của các Thánh“ (9). Một phần trong tập tài liệu quan trọng này (số: 253-268) được dành để đề cập tới sự tôn sùng Mẹ Maria với tựa đề: „Die Verehrung Maria, der Mutter des Herrn“ - Sự tôn sùng Đức Maria, Mẹ Thiên Chúa.

Dĩ nhiên, tập tài liệu nói trên của hai Giáo Hội Công Giáo và Tin Lành Lu-the-rô ở Đức cũng không quên cho rằng, đối với các tín hữu Tin Lành, không chỉ sự tôn sùng Đức Maria, nhưng kể cả sự phát triển các giáo huấn về Đức Maria của Giáo Hội Công Giáo „đã và đang đặt thành nghi vấn“ (số 257). Nhưng nhất là việc công bố tín điều về Đức Maria: „Sự Vô Nhiễm Thai“ (1854) và tín điều „Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời“ (1950) đã gây nên những thách đố đối với phía Tin Lành. Theo quan điểm của phía anh em Tin Lành thì hai tín điều ấy không hề được đề cập tới một cách rõ ràng trong Kinh Thánh. Mãi cho tới quá khứ gần đây nhất, người ta vẫn luôn cho rằng hai tín điều Vô Niễm Thai và Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời đã gây nên một sự mâu thuẫn bất khả vượt qua được giữa Giáo Hội Công Giáo và Giáo Hội Tin Lành, đến nỗi mãi tới nay khoa Thánh Mẫu học và sự tôn sùng Mẹ Maria ít khi trở thành đối tượng của những cuộc đối thoại đại kết. Thế nhưng trong những năm vừa qua cục diện của vấn đề đã hoàn toàn thay đổi.

Đối với quan điểm người Công Giáo, những tín điều về Đức Mẹ được công bố vào các thế kỷ XIX và XX là kết quả của những tìm hiểu và suy tư trong suốt hằng bao thế kỷ của Giáo Hội. Những tín điều ấy đã giải đáp cho vấn nạn: Thiên Chúa đã tác động thế nào trong cuộc sống Mẹ Maria, Đấng mà Người đã kén chọn một cách hoàn toàn đặc biệt để làm Mẹ Con Một Người? Tín điều „Vô Nhiễm Thai“ của Đức Trinh Nữ Maria, Mẹ Thiên Chúa, được đặt cơ sở trên sự nhận thức đầy tin tưởng về sự trung tín tuyệt đối của Thiên Chúa, Đấng đã làm cho tất cả mọi sự trở nên thiện hảo nơi những người, mà theo sự an bài từ đời đời của Người, Người đã kêu gọi (Rm 8,28). Tín điều khẳng định rằng ngay từ giây phút đầu tiên được thụ thai trong lòng mẹ, Mẹ Maria đã được gìn giữ khỏi vết nhơ của tội Nguyên tổ, một tội mà tất cả mọi con cái loài người đều bị lây nhiễm.

Dĩ nhiên, việc Mẹ Maria được gìn giữ khỏi tội Nguyên tổ như thế ngay từ giây phút đầu tiên khi Mẹ được thụ thai trong lòng mẹ mình, nói cách khác, việc Mẹ Maria được hưởng ơn tiền cứu độ mà Chúa Cứu Thế, Con Mẹ, sẽ mang đến cho nhân loại bằng cuộc khổ nạn thập giá của Người sau này, thì hoàn toàn là do ân sủng và tình thương vô biên của Thiên Chúa Cha ban cho Mẹ, chứ không phải là do công trạng riêng của Mẹ. Thật vậy, cũng như tất cả mọi con cái loài người khác, Mẹ Maria cũng chỉ là một thụ tạo, và vì thế Mẹ cũng cần đến ân sủng của Chúa qua sự trung gian của Đức Kitô, Đấng là nhịp cầu duy nhất nối kết giữa trời và đất, giữa Thiên Chúa Cha và con cái loài người. Do đó, „ngoài Đức Kitô không có sự cứu rỗi“ (thánh I-rê-nê), hay như chính Đức Giê-su đã khẳng định: „không có Thầy, các con không thể làm được gì cả“ (Ga 15,5).

Vậy, Mẹ Maria được cứu rỗi là nhờ ơn công chính hóa của Thiên Chúa ban cho Mẹ qua Đức Kitô. Mẹ Maria „được đầy ơn phúc“ (Lc 1,28) và hoàn toàn được gìn giữ khỏi mọi tội lỗi, tội nguyên tổ cũng như các tội riêng, là do Mẹ được kết hiệp mật thiết với Đức Giê-su Kitô một cách đặc biệt, một sự kết hiệp mà không một ai trong con cái loài người có được. Bởi vì:

• Mẹ là Mẹ Đức Kitô,

• Mẹ đã cưu mang Đức Kitô, Con Một Thiên Chúa trong cung lòng đồng trinh của Mẹ,

• Mẹ đã yêu mến và tin tưởng Con Mẹ hơn bất cứ ai khác,

• Mẹ là Đấng cộng tác hoàn toàn vào chương trình cứu độ của Chúa Cứu Thế hơn bất cứ ai khác,

• Vâng, Mẹ là Đấng Đồng Công đúng nghĩa và trọn vẹn trong cuộc khổ nạn của Đức Kitô.

Tất cả những điều ấy cũng muốn nói lên chân lý đức tin này: Mẹ Maria được ơn Vô Nhiễm Nguyên tội ngay từ giây phút đầu tiên khi được thụ thai trong lòng mẹ, là duy nhất nhờ vào công trình cứu chuộc của Đức Kitô qua cuộc khổ nạn và cái chết của Người trên thập giá, trong khi các Kitô hữu khác chỉ được khỏi tội Nguyên tổ qua Bí tích Rửa tội.

Nhưng mục đích tiên quyết mà tín điều „Vô Nhiễm Thai“ của Mẹ Maria là nhằm đề cao và làm nổi bật quyền năng vô biên của ân sủng Thiên Chúa, Đấng hoàn toàn tự do muốn kêu gọi ai và kêu gọi bằng cách thức nào là tùy thánh ý của Người quyết định.

Và tín điều „Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời“ cũng được bắt nguồn từ trong lời Thư thánh Phaolô gửi tín hữu Roma, như sau: „Những ai Thiên Chúa đã tiền định, thì Người cũng kêu gọi; những ai Người đã kêu gọi, thì Người cũng làm cho nên công chính; những ai Người đã làm cho nên công chính, thì Người cũng cho hưởng phúc vinh quang.“ (Rm 8,30). Nói cách khác, nếu một khi Thiên Chúa muốn tuyển chọn và ban ân sủng cho một ai đó, và nếu người ấy biết đầy lòng tin tưởng phó thác đón nhận ân sủng của Người cũng như nỗ lực sống theo ân sủng ấy, thì Thiên Chúa sẽ ban tặng cho toàn diện thực thể của người ấy, tức cả hồn lẫn xác, ơn được diễm phúc thông hiệp trọn vẹn với Người. Điều mà chúng ta hằng tuyên tín trong câu cuối cùng của Kinh Tin Kính: „Tôi trông đợi kẻ chết sống lại, và sự sống đời sau“, là niềm hy vọng của tất cả mọi tín hữu và đồng thời đó cũng là điều mà tín điều „Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời“, được tuyên bố năm 1950, muốn minh chứng một cách hùng hồn và cụ thể. Nhưng điều mà Mẹ Maria đã đạt tới được, còn tất cả chúng ta thì đang trên đường tìm kiếm và mong đợi, đó là: Sự sống lại từ cõi chết và cuộc sống vĩnh cửu, hoa quả thực tiễn của ơn thánh hóa của Thiên Chúa.

Nói tóm lại, hai tín điều về Mẹ Maria là „Vô Nhiễm Thai“ hay „Vô Nhiễm Nguyên Tội“ và „Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời“, được công bố trong các thế kỷ XIX và XX, mà các nhà thần học Tin Lành vốn coi như là những cản trở khó vượt qua trên con đường đại kết, thì trên thực tế chỉ nhằm phụng sự vinh quang Thiên Chúa như là mục đích tối hậu mà thôi. Các tín điều ấy chứa đựng một chiều kích hết sức sâu xa trong việc tán tụng và ca ngợi Thiên Chúa, nghĩa là các tín điều ấy nhằm ca tụng và cảm tạ các ơn lành của Thiên Chúa như là mục đích tối hậu. Nếu các anh em Tin Lành biết khám phá và hiểu rõ được nội dung chính yếu của các tín điều về Mẹ Maria một cách đúng đắn như thế, chắc chắn họ sẽ nhận thức được rằng trên nguyên tắc, hai tín điều này thực sự được bắt nguồn trong mặc khải(10).

Sự tôn sùng Mẹ Maria luôn cần phải được định hướng theo Đức Kitô, hay nói cách khác, sự tôn sùng Mẹ Maria luôn luôn phải nhằm tôn vinh Đức Kitô như là mục đích tối hậu. Dựa theo những hướng dẫn của ĐTC Phaolô VI trong Tông thư thời danh của ngài về sự tôn sùng Mẹ Maria „Marialis cultus“ (11), thì sự tôn sùng Mẹ Maria phải được đặt nền tảng trên Kinh Thánh, phải được thể hiện trong Phụng Vụ, một cách phù hợp với khoa nhân chủng học và tinh thần đại kết ngày nay. Để củng cố sự hiệp nhất trong đức tin, các anh em Tin Lành Lu-the-rô cần đánh giá cao sự nỗ lực của các tín hữu Công Giáo trong việc thiết đặt vai trò Mẹ Maria trong Kitô học và Giáo Hội học. Đối với quan điểm Công Giáo, Mẹ Maria là hiện thân cho sự kiện được thánh hóa nhờ vào ân sủng và qua đức tin. Cả hai tín điều cuối cùng về Mẹ Maria như vừa đề cập ở trên, đều muốn làm nổi bật chân lý này là: nếu Thiên Chúa tuyển chọn một người nào đó theo sự an bài của Người, tương tự như trường hợp Mẹ Maria, thì quan điểm Kitô giáo luôn cho rằng sự kêu gọi đó liên hệ đến con người toàn diện của người ấy. Và sự kêu gọi đó bắt đầu trong giây phút đầu tiên của cuộc đời người ấy và luôn đồng hành với người ấy mãi, chứ không bao giờ từ bỏ người ấy nữa.

________________

1. B. Schwens-Harrant, Rez. Von: P. Morsbach, Gottesdiener, Frankfurt a. M. 2004, in: Die Presse (Wien) vom 21.8.2004, S. VI.- H.B. Wuermeling (trong: Die Tagespost Nr. 106/04.09.2004, 13) gọi cuốn Tiểu thuyết này một „áng văn chương hay“ (literarische Wohltat) và cho rằng việc đọc cuốn Tiểu thuyết „có thể tránh cho Giáo Hội được nhiều tường thuật thiếu thuật lợi của công ty McKinsey“. McKinsey là một công ty tư vấn và chuyên nghiên cứu dư luận, v.v…

2. Karl Barth là một nhà thần học Tin Lành nổi tiếng, người Thụy Sĩ. Ông sinh ra và lớn lên trong gia đình một giáo sư thần học ở tỉnh Basel, nằm trên biên giới Thụy Sĩ-Đức. Cho đến năm 1909, ông theo học thần học lần lượt tại các đại học Bern, Berlin, Tübingen và Marburg. Năm 1911 ông thừa hành chức Mục sư tại một Xứ đạo ở Thụy Sĩ. Sau trận thế chiến I, ông đề xướng một khuynh hướng thần học quan trọng và mới mẽ trong nội bộ Giáo Hội Tin Lành: Thần học biện chứng.

3. Karl Barth, Kirchliche Dogmatik I, 2, 157.

4. L. Scheffczyk, Katholische Glaubenswelt. Wahrheit und Gestalt, Aschaffenburg 2. Aufl. 1978, trang 270-277, câu này ở trang 272; xin xem tiếp: Die Mariengestalt im Gefüge der Theologie. Mariologische Beiträge, Regensburg 2000; W. Beinert, Die mariologischen Dogmen und ihre Entfaltung, in: ders./H. Petri (Hg.), Handbuch der Marienkunde, Regensburg 2. Aufl. 1996, trang 267-363.

5. Joseph Ratzinger, Die Tochter Sion. Betrachtungen über den Marienglauben der Kirche. (Kriterien 44) Einsiedeln 1977, trang 61-83, câu này ở trang 70.

6. như trên, trang 80. Xin xem thêm HY Joseph Ratzinger/Hans-Urs von Balthasar, Maria – Kirche im Ursprung, Einsiedeln 4. Erw. Aufl. 1997; H.U. von Balthasar, Maria für heute. (Kriterien, 98), Einsiedeln, Neuausgabe 1997, trang 36-49.

7. xem Tông thư „Tertio millennio adveniente“, số 37.

8. Thông điệp „Ut unum sint“, số 84.

9. xem Bilaterale Arbeitsgruppe der Deutschen Bischofskonferenz und der Kirchenleitung der Vereinigten Evangelisch-Lutherischen Kirche Deutschlands: „Communio Sanctorum – Die Kirche als Gemeinschaft der heiligen“, Paderborn-Frankfurt a.M. 2000.

10. H. Schmoll (Đúng như Luther đã mong muốn. Sự đánh giá của phân khoa thuộc đại học Erlagen và Tübingen về tập tài liệu „Communio Sanctorumg“, trích trong nhật báo „Frankfurt allgemeine Zeitung“, số 86, ra ngày 13.4.2002, trang 12) trái lại cho rằng công trình nghiên cứu song phương giữa đại diện Công Giáo và Tin Lành chỉ muốn „làm cho người Tin Lành cảm nhận được sự thú vị trong việc tôn sùng các Thánh của người Công Giáo, không hơn không kém.“ Các giáo sư thuộc phân khoa thần học Tin Lành của đại học Tübingen đã xác định sự đánh giá của họ về tập tài liệu „Communio Sanctorum“ như sau: việc cho rằng, dựa theo nguyên tắc, hai tín điều về Đức Maria trong thời tân đại hoàn toàn phù hợp với mặc khải, là một điều không thể chấp nhận được.

11. Paul VI, Marialis cultus, 1974, Nr. 29-39.

(Còn tiếp) Lm Nguyễn Hữu Thy
http://vietcatholic.org/News/Html/86088.htm (http://vietcatholic.org/News/Html/86088.htm)

admin
23-12-2010, 06:03 AM
3. Những tín điều về Mẹ Maria trong các năm 1854 và 1950

Trong cục diện Mẹ Maria được Thiên Chúa tuyển chọn từ đời đời để làm Mẹ Con Một Người và vì thế Người đã gìn giữ Mẹ khỏi vướng mắc tội Nguyên tổ cũng như các tội khác ngay từ giây phút đầu tiên sự hiện hữu của Mẹ, một vấn nạn thần học đã được đặt ra, đó là mỗi con người đã được tiền định từ đời đời về các ân sủng mà Thiên Chúa sẽ ban cho người ấy, cũng như về sứ mệnh đặc biệt mà Người sẽ trao phó cho người ấy (x. Ep 1,4; 2Tm 1,9tt).

Dĩ nhiên, nếu Thiên Chúa an bài cho ai một số phận hay trao phó cho một sứ mệnh nào đó, cũng như kêu gọi và ban ân sủng cho người ấy, thì trước hết, Người chỉ muốn điều thiện hảo và ích lợi cho người ấy mà thôi; nếu không, Thiên Chúa đã tự mâu thuẫn với chính mình, – vì Người là chân thiện mỹ tuyệt đối – một điều không thể xảy ra được; và tiếp đến, sự an bài hay sự tiền định đó hoàn toàn không chút mảy may có tương quan với chủ trương của những đồ đệ thuyết định mệnh (Determinismus) cứng nhắc, thụ động và mù quáng.

Thật vậy, mặc dù Thiên Chúa đã tiền định, hay đã an bài cho con người một con đường sống thế này hay thế kia, hoặc Người muốn trao phó cho con người một sứ mệnh nào đó, cũng như việc Người ban phát ân sủng cho người ấy, nhưng không nhất thiết luôn luôn phải xảy ra như vậy. Bởi vì, con người còn có ý chí tự do, một khả năng cao quý và đồng thời là một quyền lợi bất khả xâm phạm, nên con người có thể chấp nhận và cộng tác vào chương trình đã được Thiên Chúa an bài và hoạch định hay chối từ và chọn lựa cho mình một cuộc sống theo ý mình muốn. Và tất nhiên, trong trường hợp này, con người phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về sự quyết định tự do của mình. Để hiểu được điều đó, chúng ta có thể đưa ra một ví dụ tượng trưng như sau: Thiên Chúa cũng tương tự như một người cha đầy nhân từ, khi đứa con của ông cất tiếng khóc chào đời, thì vì thương con và muốn cho con sau này có được một cuộc sống hạnh phúc, nên ông có những dự định hay những chương trình trong tương lai cho con thế này thế kia. Nhưng một khi đứa con khôn lớn và trưởng thành, thì rất có thể nó sẽ làm theo ý nguyện của ông hay nó sẽ chọn cho mình một con đường đi, một lối sống riêng. Tất cả đều tùy thuộc vào sự lựa chọn tự do của người con.

Dĩ nhiên, trong ví dụ trên chúng ta cũng cần phân biệt sự tương đồng và sự khác biệt giữa Thiên Chúa và người cha nhân hậu kia. Sự tương đồng là tình yêu thương: Cả hai đều dự định thế này thế kia cho con mình, vì các ngài chỉ muốn tốt, muốn điều thiện hảo và sự hạnh phúc chân thật cho con cái mình; Còn sự khác biệt cũng rất rõ rệt, đó là: nơi người cha trần thế, ông chỉ suy nghĩ và dự đoán được thế này thế kia là tốt cho con mình và ông ước muốn mọi sự được xảy ra như vậy; trong khi đó Thiên Chúa thì không cần phải suy nghĩ, dự đoán hay ước muốn nữa. Những gì Người ước muốn hay thực hiện cho ta đều là điều thiện hảo và mang lại hạnh phúc chân thật cho ta một cách chắc chắn, vì người là Tạo Hóa toàn năng, Người nhìn thấy được tất cả mọi sự trong chính bản chất của chúng. Vì thế, nơi Thiên Chúa, con người có thể „nhắm mắt“ tin tưởng và phó thác hoàn toàn, mà không sợ phải sai lầm và ân hận.

Nhưng thiết tưởng, ở đây chúng ta cũng cần phải khẳng định lại chân lý đức tin này, đó là khi một người hoàn toàn sống trong mầu nhiệm ơn thánh, nghĩa là sống kết hiệp mật thiết, hay nói theo ngôn ngữ tân thời ngày nay là có tương quan tốt, với Thiên Chúa và ra sức thực hiện thánh ý của Người trong cuộc sống của mình, thì một khi cuộc đời trần thế người ấy kết thúc, người ấy sẽ được sống lại và trở nên giống Chúa Kitô phục sinh vinh hiển (x. 1Ga 3,2; Pl 3,21)). Đây là chân lý mà những giáo huấn đức tin về Mẹ Maria, hay nói rõ hơn, tín điều Mẹ Maria được gìn giữ khỏi tội Nguyên tổ ngay từ giây phút đầu tiên khi vừa được thụ thai trong lòng mẹ mình – „Maria Immaculata“ – và tín điều Mẹ Maria hoàn tất cuộc sống dương thế của Mẹ trong sự sung mãn của ơn thánh cả hồn lẫn xác ở trên Quê Trời – „Maria Assumpta“ – đã chứng minh một cách hùng hồn và cụ thể. Đây là những giáo huấn đức tin đã được hình thành từ sự suy diễn của đức tin dựa theo lời giáo huấn của thánh Phaolô: „Chúng ta có những đặc sủng khác nhau, tùy theo ân sủng Thiên Chúa ban cho mỗi người“ (Rm 12,6) và từ kết quả của những suy tư thần học trong khuôn khổ đức tin chắc chắn của Giáo Hội, vốn luôn được Chúa Thánh Thần hướng dẫn, đúng như Chân phước Hồng Y John Henry Newman vẫn quan niệm.

Nhưng ở đây không có ý đề cập đến sự phát triển về số lượng của các nội dung đức tin riêng rẽ, nhưng là nói đến một sự thấu hiểu rõ ràng và chắc chắn về những điều kiện nội tại của chân lý Mẹ Thiên Chúa trọn đời đồng trinh (1).

Mẹ Maria đã đáp lại lời đề nghị của Thiên Chúa trong kế hoạch cứu độ nhân loại của Người bằng hai tiếng „xin vâng“ trong bối cảnh Mẹ được chính Thiên thần cung kính chào là „Đấng đầy ơn phúc“ (x. Lc 1,28.41tt), nghĩa là Mẹ Maria đã chấp nhận kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa trong tình trạng hoàn toàn an bình, thanh thản, sáng suốt, tự do và nhất là rất xứng đáng với ơn Chúa, mặc dù vào lúc bấy giờ Mẹ chưa hiểu được một cách đầy đủ mọi tình tiết của kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa. Mẹ chấp nhận và thưa tiếng „xin vâng“, vì Mẹ biết được đó là ý định của Thiên Chúa, Đấng mà Mẹ luôn hết lòng yêu mến và hoàn toàn tín thác.

Vâng, ngay từ giây phút đầu tiên cuộc sống trần thế của Mẹ, Mẹ Maria đã được tràn đầy ân sủng của Chúa Kitô – ân sủng mà tội Nguyên tổ đã đánh mất đi – đến nỗi Mẹ không cần phải được giải thoát khỏi tội Nguyên tổ qua Bí tích Rửa Tội như tất cả mọi con cái loài người nữa, bởi vì Mẹ đã hoàn toàn được hưởng trước ơn cứu chuộc của Chúa Cứu Thế, hay nói cách khác, Mẹ đã được gìn giữ khỏi bị vướng mắc vào vết nhơ đó ngay từ giây phút đầu tiên khi được dựng thai trong lòng mẹ. Và cũng vì thế, một hiệu quả tất yếu của tình trạng „đầy ân sủng“ Chúa Kitô và không chút vương vấn vết nhơ của tội Nguyên tổ nơi Mẹ Maria, là trong khi thực hiện ý chí tự do của mình, Mẹ được ơn thánh gìn giữ trước những dục vọng vô độ do Nguyên tội gây ra và trước tất cả mọi tội trọng và tội nhẹ.

Dĩ nhiên, ơn Mẹ Maria được gìn giữ không bị vướng mắc vào tội Nguyên tổ và các tội riêng, là nhờ vào công nghiệp cứu chuộc của Chúa Kitô, mà Mẹ là người duy nhất được hưởng trước, ngay từ giây phút đầu tiên khi Mẹ được dựng thai trong lòng mẹ.

Nhưng như đã nói trên, ơn tinh tuyền và hoàn toàn vô tội mà Thiên Chúa ban cho Mẹ Maria, không phải là tình trạng ân sủng nguyên thủy mà Nguyên tổ loài người có được trước khi các ngài phạm tội, nhưng là chính ơn cứu chuộc của Chúa Kitô. Nói cách khác, nhờ vào công nghiệp cuộc tử nạn thập giá của Chúa Kitô, mà mọi tư tưởng, mọi ước muốn cũng như mọi hành động của Mẹ Maria đều đã được gìn giữ trước tất cả mọi sai lầm và tội lỗi. Tuy nhiên, điều đó không có ý nói rằng Mẹ Maria đã hoàn toàn tránh được mọi hậu quả của tội Nguyên tổ; nói rõ hơn, ngoài các hậu quả luân lý độc hại, như: sự vô luân, các dục vọng vô độ và sự hướng chiều về tội lỗi, v.v…, của Nguyên tội, Mẹ Maria cũng phải gánh chịu các hậu quả khác mà Nguyên tội đã gây ra cho toàn thể con cái loài người, như sự đau đớn, sự khổ cực và sự chết.

Hơn nữa, đó cũng là điều phù hợp với sứ mệnh mà Thiên Chúa Cha đã giao phó cho Mẹ, tức làm Mẹ Chúa Cứu Thế, Con Một Người và làm Đấng Đồng Công Cứu Chuộc:

1) Là Mẹ Con Một Thiên Chúa, Đấng Cực Thánh, nên Mẹ Maria cũng phải hoàn toàn tinh tuyền thánh thiện và không vấn vương bất cứ vết nhơ tội lỗi nào.

2) Là Đấng Đồng Công Cứu Chuộc với Chúa Kitô, nên Mẹ Maria cũng phải chịu mọi đau đớn, buồn sầu và sau cùng cũng phải chết. Chỉ khác biệt với con cái loài người ở chỗ, là sau khi chết, Mẹ Maria đã được rước lên trời cả hồn lẫn xác, chứ xác thánh Mẹ không phải chịu cảnh hư nát trong mồ như những người khác. Và đó là một chân lý đức tin.

Chính chân lý đức này về sự chấm tận đầy vinh hiển của cuộc sống trần thế của Mẹ Maria, đã khẳng định một cách chắc chắn về tương lai tươi đẹp của loài người trong ngày thế mạt: xác mọi người đã chết từ thuở tạo thiên lập địa cho tới lúc bấy giờ, sẽ được sống lại và đoàn tụ với linh hồn. Như vậy, thực tại Mẹ Maria được lên trời cả hồn lẫn xác là một báo hiệu về sự hoàn tất vinh quang của con người trong thân xác sáng láng của mình.

4. Mẹ Maria được gìn giữ khỏi Nguyên tội

Điểm xuất phát cho cảm nghiệm đức tin về Mẹ Maria, về vai trò của Mẹ trong lịch sử cứu độ và địa vị của Mẹ trong cộng đồng các Thánh, một cảm nghiệm cuối cùng đã dẫn tới sự diễn giải thần học trong tín điều „Vô Nhiễm Thai“ của Mẹ, được long trọng công bố năm 1854, là tình trạng đối lập giữa bà E-và và Mẹ Maria(2).

4.1. Nền tảng Kinh Thánh

Thực ra, về nền tảng Kinh Thánh của tín điều Mẹ Maria „Vô Nhiễm Thai“, người ta không thể đưa ra được những dẫn chứng trực tiếp. Nhưng điều quan trọng ở đây là các chứng từ đều nhìn nhận tất cả những gì xảy ra trên thế giới đều bắt nguồn trong sự quan phòng của Thiên Chúa, chẳng hạn như ơn gọi của các Ngôn sứ đã được thực hiện ngay khi các ngài còn trong lòng mẹ (x. Gr 1,5; Is 49,1). Theo quan điểm của Tân Ước, thì điều tương tự như thế được hiểu về Giáo Hội. Từ muôn thuở trước, Giáo Hội đã được xác định sống công chính và thánh thiện trong kế hoạch cứu độ của Chúa Kitô (x. Ep 1,3-14). Nói cách khác, cuộc sống Kitô hữu chân chính hoàn toàn nằm trong sự an bài của thánh ý Thiên Chúa, được Người chúc phúc và vì thế, tự trong bản chất đặc thù của nó, cuộc sống ấy phát triển và tràn đầy ân sủng theo mức độ Thiên Chúa ban cho. Trong Thư Roma, thánh Phaolô đã gọi điều đó là „lượng đức tin“, ngài viết: „Dựa vào ân sủng Thiên Chúa đã ban cho tôi, tôi xin nói với từng người trong anh em: đừng đi quá mức khi đánh giá mình, nhưng hãy đánh giá mình cho đúng mức, mỗi người theo lượng đức tin Thiên Chúa đã phân phát cho“ (Rm 12,3).

Còn Tân Ước đã khẳng định Mẹ Thiên Chúa là Đấng „đầy ân sủng“. Thánh sử Luca đã ghi chính lời phát ra từ miệng Thiên sứ Gabriel trong ngày truyền tin: „Thiên sứ vào nhà Trinh Nữ và nói: Kính chào Bà, Bà đầy ân sủng, Đức Chúa ở cùng Bà“ (Lc 1,28).

Mẹ Maria đã được Thiên Chúa kêu gọi và kén chọn làm Mẹ Chúa Cứu Thế, Con Một Người. Nhưng không chỉ sự kêu gọi này từ phía Thiên Chúa, nhưng chính cả sự hoàn toàn tự nguyện đón nhận lời kêu gọi ấy với tất cả lòng tín thác từ phía Mẹ Maria, đều là ân sủng của Thiên Chúa, hay nói cách khác, đều do sự tác động của Chúa Thánh Thần (x. Lc 1,35). Dĩ nhiên, Đức Trinh Nữ cũng cần sự chuẩn bị nội tâm để có thể chấp nhận sứ mệnh làm Mẹ Đấng Thiên Sai với tất cà lòng tín thác và chu toàn sứ mệnh đầy thách đố ấy đúng với thánh ý Thiên Chúa. Còn chính Thiên Chúa, Người luôn nâng đỡ và tạo mọi điều kiện để Mẹ Maria chu toàn được sứ mệnh của mình, vì thế Người luôn ở cùng Mẹ.

admin
23-12-2010, 06:05 AM
4.2. Những phát triển trong phương diện lịch sử thần học

Lý do chính của sự phát triển tín điều là các luận cứ thần học về mầu nhiệm Nhập Thể của Ngôi Hai Thiên Chúa. Căn cứ vào biến cố xuống thế làm người của Chúa Kitô, một quan niệm đã được thành hình từ rất sớm, cho rằng Mẹ Đấng Thiên Sai phải được thánh hóa để làm đền thờ Thiên Chúa và phải được thanh tẩy khỏi mọi tội lỗi. Mẹ của Ngôi Lời Vĩnh Cửu phải hoàn toàn tinh tuyền và thánh thiện. Tư tưởng này hoàn toàn phù hợp với quan điểm của thánh I-rê-nê thành Lyon (135-202), người đã cho rằng cứu rỗi có nghĩa là thần thánh hóa. Thiên Chúa đã trở thành phàm nhân, hầu phàm nhân được trở nên thần thánh: „Gott wurde Mensch, damit der Mensch vergöttlicht werde“(3). Như thế, nơi thánh I-rê-nê người ta đã gặp được ý kiến cho rằng Mẹ Maria đã được thanh tẩy mọi tội lỗi trong biến cố truyền tin. Và thánh Giáo phụ Gregor von Nazianz (330-390) cũng quan niệm rằng, vì do mầu nhiệm xuống thế làm người của Chúa Kitô, Mẹ Maria đã được ban cho những phẩm giá của trời cao, và tất nhiên những phẩm giá ấy phải được gắn liền với sự thanh tẩy khỏi mọi tội lỗi và với sự thánh hóa. Thánh nhân đã phát biểu: Chúa Kitô „trở nên người thật, ngoại trừ tội lỗi (x. Dt 4,15): được cưu mang bởi Đức Trinh Nữ, Đấng mà linh hồn cũng như thể xác được Chúa Thánh Thần thanh tẩy trước đó; bởi vì, sự sinh hạ Con Một Thiên Chúa phải được tôn kính và sự đồng trinh của Mẹ Người phải được tán tụng“ (4). Quan điểm này cũng được Đức Thương Phụ Giê-ru-sa-lem Sophronius von Jerusalem ủng hộ (560-638). Kể từ năm 634 ở Đông Phương, Đức Thượng Phụ là một trong những nhân chứng quan trọng nhất của sự phát triển giáo huấn về sự „Vô Nhiễm Thai“ của Mẹ Thiên Chúa. Vì thế, trong cuộc đối thoại đại kết với các Giáo Hội Đông phương hiện nay, những lời phát biểu của Đức Thượng Phụ Sophronius mang một ý nghĩa rất quan trọng.

Còn ở Tây phương, nhà thần học thời danh đã từng bênh vực cho quan điểm cho rằng Mẹ Maria phải được gìn giữ khỏi mọi tội lỗi, là thánh Augustinô (354-430), Giám Mục thành Hippo. Chống lại Pelagius (360-420) (5), người đã cho rằng nhiều chứng nhân đức tin trong Cựu Ước là những người vô tội, tức những người tinh tuyền thánh thiện và không vướng mắc các tội lỗi, thánh Augustinô khẳng định rằng ơn được gìn giữ trước mọi tội lỗi chỉ dành cho một mình Mẹ Maria mà thôi. Theo thánh nhân, sự thánh thiện của Chúa Kitô đòi hỏi sự thánh thiện của Mẹ Người. Thánh Augustinô cũng quả quyết rằng vì sự vinh hiển tuyệt đối cao cả của Chúa Kitô, Mẹ Người cũng không thể bị sa chân vào những chốn do tội lỗi thống trị. Dĩ nhiên, dựa theo lý thuyết đặc biệt của thánh nhân về sự di truyền của Nguyên tội qua sự truyền sinh nòi giống, thánh Augustinô chưa xác tín được sự gìn Giữ (praeservatio) Mẹ Maria trước Nguyên tội. Và có lẽ vì thế, sau này, thánh Thomas Aquinô, người môn sinh ưu tú của ngài và là nhà thần học thời danh của Giáo Hội, cũng đã cho rằng, vì Mẹ Maria được hưởng trọn vẹn ơn cứu độ của Chúa Kitô, nên Mẹ cũng phải vướng mắc Nguyên tội trong một khoảnh khắc hết sức ngắn ngủi nào đó.

Rõ ràng hơn quan điểm của thánh Augustinô, thánh Anselm von Canterbury đã coi trọng tâm của di sản A-dong để lại, tức Nguyên tội, là sự làm mất đi ân sủng của tình trạng nguyên thủy, lúc hai ông bà nguyên Tổ còn sống trong vườn địa đàng, trước khi phạm tội. Về điểm này, thánh Thomas Aquinô cũng quan niệm tương tự. Thánh Anselm không coi sự ham muốn vô độ là yếu tính, nhưng là hậu quả của Nguyên tội. Với quan điểm đối lập với tư tưởng của Giám Mục thành Hippo như thế, thánh Anselm muốn nói rằng sự thánh hóa của Mẹ Thiên Chúa được hiểu như là một sự ân thưởng nguyên thủy (ursprüngliche Begnadung).

Ngược lại với lối suy tư này của thánh Anselm von Canterbury, còn có ý kiến cho rằng, do tính cách phổ quát của công trình cứu chuộc của Chúa Kitô, người ta cũng cần phải nói đến những yêu đuối của Mẹ Maria(6). Nhưng vấn nạn: sự ân thưởng và sự thánh hóa của Mẹ Maria tương quan thế nào với nhu cầu khẩn thiết cơ bản được cứu rỗi của Mẹ, từng là một vấn nạn đầy tranh cãi của phái Kinh Viện. Các nhà thần học Dòng Đa Minh đã nhấn mạnh một cách đặc biệt đến nhu cầu khẩn thiết được cứu rỗi của Mẹ Maria, trong khi đó, các nhà thần học Dòng Phan-xi-cô lại tranh luận để làm sáng tỏ được về sự thánh hóa nguyên thủy của Mẹ Maria.

Trong cuộc tranh cãi thần học này, thánh Thomas Aquinô đã dựa theo quan niệm truyền thống cho rằng Mẹ Maria đã được thánh hóa ngay trong lòng mẹ trước khi được sinh ra. Luận cứ này của thánh nhân được dựa trên nền tảng lời Chúa phán trong sách Tiên tri Giê-rê-mi-a: „Trước khi cho ngươi thành hình trong dạ mẹ, Ta đã biết ngươi; trước khi ngươi lọt lòng mẹ, Ta đã thánh hóa ngươi, Ta đặt ngươi làm ngôn sứ cho chư dân“ (Gr 1,5), và lời Thiên thần nói về Tiền hô Gio-an Tẩy Giả: „Ngay khi còn trong lòng mẹ, em (Gio-an Tẩy Giả) đã đầy Thánh Thần“ (Lc 1,15b). Nói cách khác, theo thánh Thomas Aquinô thì thánh Gio-an Tẩy Giả và Tiên tri Giê-rê-mi-a đã được thánh hóa ngay trong lòng mẹ trước khi được sinh ra là do sứ mệnh mà Thiên Chúa sẽ giao phó cho các ngài. Nếu vậy, tất nhiên người ta cũng phải chấp nhận thực tại cho rằng Người Nữ sinh hạ Đấng Cứu Thế, một sứ mệnh quan trọng và cao cả, vượt trên mọi sứ mệnh khác, đương nhiên cũng phải được thánh hóa trước khi sinh ra như thế.

Dĩ nhiên, chúng ta cũng đừng quên rằng, nếu thánh Thomas Aquinô chủ trương rằng Mẹ Maria cần phải được thánh hóa ngay trong lòng mẹ, trước khi được sinh ra, thì không có nghĩa là Mẹ Maria đã được thánh hóa hay đã được gìn giữ khỏi tội Nguyên tổ ngay từ giây phút đầu tiên khi Mẹ được dựng thai trong lòng mẹ. Thật vậy, như đã đề cập đến ở trên, thánh Thomas Aquinô, và sau này các nhà thần học Dòng Đa Minh cũng dựa theo thế giá của ngài, chủ trương rằng giữa sự thụ thai và sự thánh hóa của Mẹ Maria có một khoảng cách thời gian. Nói cách khác, theo ý kiến thánh nhân, trước khi được thánh hóa, Mẹ Maria cũng đã vướng mắc vào tội Nguyên tổ trong một thoáng thời gian ngắn ngủi nào đó.

Bởi vì, thánh nhân lý luận rằng, là thành phần của nhân loại, nên Mẹ Maria cũng được hưởng trọn vẹn ơn cứu độ do cuộc khổ nạn của Chúa Kitô mang lại, nếu vậy, Mẹ cũng phải vướng mắc Nguyên tội, ít là trong một thoáng ngắn ngủi. Với một quan niệm như thế, thánh Thomas cũng muốn liên tưởng đến và giải thích đại lễ „Đức Mẹ Được Cưu Mang“ trong lòng bà thánh Anna, mà Giáo Hội Đông phương đã cử hành từ thế kỷ VII. Theo thánh nhân, nội dung thần học đặc biệt của đại lễ này là khoảng cách giữa sự kiện Mẹ Maria được thụ thai và sự kiện Mẹ được thánh hóa. Và cũng theo ý kiến thánh nhân, vì thời điểm Mẹ Maria được thánh hóa hay được thanh tẩy trước khi được sinh ra không rõ ràng, nên người ta mới cử hành đại lễ „Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội“ vào ngày 8 tháng 12 hằng năm. Trong tác phẩm „Tổng Luận Thần Học“, thánh nhân gián tiếp khẳng định điều ấy khi viết: „Trước Lễ được Thánh Hóa của Mẹ là Lễ Mẹ được Cưu Mang“(7).

Trong khi đó, Chân phước Duns Scotus, nhà thần học nổi danh thuộc Dòng Phan-xi-cô đã đạt được một bước nhảy vọt trong nhận thức thần học về vấn nạn tương quan nội tại giữa nhu cầu cần thiết được cứu rỗi và sự thánh hóa nơi trường hợp Mẹ Maria. Cũng như quan điểm của thánh Thomas Aquinô, Chân phước Duns Scotus cũng cho rằng yếu tính của nguyên tội là làm cho con người mất sự công chính của tình trạng nguyên thủy. Nhà thần học Dòng Phan-xi-cô thời danh này chủ trưởng quan điểm về „Nhập thể tuyệt đối“ (Incarnatio absoluta). Nghĩa là đối với sự nhập thể làm người của Ngôi Lời hoàn toàn không chịu bất cứ ảnh hưởng nào của trần thế. Tội lỗi cũng không chút vấn vương trong biến cố Ngôi Lời nhập thể. Duns Scotus khám phá ra được sự tương quan hết sức chặt chẽ giữa Chúa Kitô và Mẹ Maria và sự tương quan chặt chẽ ấy đã có ngay từ khởi đầu lịch sử cứu độ trong sự an bài đời đời của Thiên Chúa về mầu nhiệm nhập thể của Con Một Người. Từ suy diễn ấy, Duns Scotus, vị „tiến sĩ của Mẹ Maria“ (Doctor marianus) cho rằng tất cả mọi tạo vật đều phải quy phục Mẹ Maria. Bởi vì, sau Chúa Kitô, Mẹ Maria là Đấng giữ vai trò quan trọng thứ hai trong kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa. Dựa theo quan điểm của ngài về Thánh Mẫu học trong toàn văn về „Incarnatio absoluta“, Duns Scotus đã thành công trong quan điểm của ngài về sự cứu độ và sự thánh hóa của Mẹ Maria, vốn đã được Thiên Chúa ban cho Mẹ ngay từ giây phút đầu tiên khi Mẹ được dựng thai trong lòng mẹ, nhờ vào cuộc khổ nạn của Chúa Kitô. Và đây cũng chính là giáo huấn của Giáo Hội Công Giáo.

Thật vậy, luận đề của nhà thần học thời danh Dòng Phan-xi-cô này là ơn cứu độ của Mẹ Maria không thể được hiểu rằng Mẹ đã được „hậu thánh hóa“, nghĩa là Mẹ đã được thanh tẩy khỏi Nguyên tội sau khi đã được dựng thai trong lòng mẹ. Trái lại, trong trường hợp Mẹ Thiên Chúa, Mẹ đã nhận được ơn cứu rỗi do cuộc khổ nạn thập giá của Chúa Kitô mang lại ngay trong giây phút đầu tiên khi được cưu mang trong lòng mẹ, nghĩ là Mẹ Maria được gìn giữ không bị vướng mắc Nguyên tội ngay từ giây phút đầu tiên sự hiện hữu của Mẹ.

Theo Duns Scotus, với tư cách là thành viên của gia đình nhận loại, nên Mẹ Maria cũng cần đến ơn cứu rỗi, nhưng nhờ vào công nghiệp cứu chuộc nhân loại của Đức Kitô, Con Mẹ, cũng như sự vinh quang cao cả của Người, Mẹ Maria đã được ơn thánh gìn giữ trước Nguyên tội và trước những ảnh hưởng tai hại của nó gây nên và được sống kết hiệp với Thiên Chúa trong tình trạng ân sủng nguyên thủy, tức tình trạng trước khi Nguyên tổ phạm tội.

Đây là một quan điểm mới mẻ, đúng đắn và có tính cách thuyết phục, nhưng phải chờ mãi về sau này, Chân phước Duns Scotus mới nhận được sự ủng hộ rộng rãi trong toàn Giáo Hội. Đặc biệt và chủ yếu nhất là quan điểm của ngài đã nhận được sự ủng hộ triệt để và đem ra phổ biến của hai nhà chú giải và bình luận thời danh nền thần học thánh Thomas Aquinô thuộc Dòng Tên, đó là: Giáo sư Robert Bellarmin (1542-1621) và giáo sư Francisco Suarez (1548-1617).

________________

1. xin xem G.L. Müller, Katholische Dogmatik. Für Studium und Praxis der Theologie, Freiburg 5. Aufl. 2003, trang 502-508; và F. Courth, Mariologie – Maria, die Mutter des Christus, trong: W. Beinert (Hg.), Glaubenszugänge. Lehrbuch der Katholischen Dogmatik. Bd. 2, Paderborn 1995, trang 357-388; A. Ziegenaus, Maria in der Heilsgeschichte. Mariologie, (Katholische Dogmatik. Bd. 5), Aachen 1998, trang 287-331; A. Müller/D. Sattler, Mariologie, trong: Th. Schneider (Hg.), Handbuch der Dogmatik. Bd. 2, Düsseldorf 2000, trang 155-187, vấn đề được đề cập tới ở đây, xin xem trang 183-186; M. Wagner, Auf sich berufen lassen oder Widerspruch? Zur Problematik und Bedeutung der beiden jüngsten Mariendogmen, trong: Trierer Theologische Zeitschrift 112 (2003), trang 197-207; dies., Die himmlische Frau. Marienbild und Frauenbild in dogmatischen Handbüchern des 19. und 20. Jahrhunderts, Regensburg 1999 und F. Courth, Mariologie. (Texte zur Theologie. Dogmatik. Bd. 6), Graz 1991.
2. Sự đối lập này thường được hiểu trong nghĩa cứu độ: đứng đối lập với Tổ mẫu E-và, người đã sa phạm tội bất phục tùng mệnh lệnh Thiên Chúa, là Mẹ Maria, Mẹ chí thánh của Chúa Cứu Thế, luôn tín thác và tùng phục mọi kế hoạch của Thiên Chúa. Về tín điều „Vô Nhiễm Thai“ xin xem G.L. Müller, Maria, Die Frau im Heilsplan Gottes. (Mariologische Studien. Bd. 15), Regensburg 2. Aufl. 2003, trang 226-230; xin xem tiếp: Gottes makelloses Konzept vom Menschen. Warum die Kirche 1854 das Dogma von der Unbefleckten Empfängnis Mariens verkündete – Ein Gespräch mit dem Dogmatiker Michael Schulz, trong: Die Tagespost Nr. 97/14.8.2004, trang 11tt; K. Rahner, Die Unbefleckte Empfängnis, trong: ders., Schritten zur Theologie. Bd. 1, Einsiedeln 6. Aufl. 1962, trang 223-237; ders., Das Dogma von der Unbefleckten Empfängnis Marias und unsere Frömmigkeit, trong: ders., Schritten zur Theologie. Bd. 3, Einsiedeln 7. Aufl. 1967, trang 155-167; M Seybold, Art. Unbefleckte Empfängnis, trong: R. Bäumer/L. Scheffczyk (Hg.), Marienlexikon. Bd. 6, St. Ottilien 1994, trang 519-525 và Chr. Schaller, Papst Pius IX. begegnen. (Zeugen des Glaubens), Augsburg 2003, trang 72-79), tức đức tin về Mẹ Thiên Chúa trọn đời đồng trinh.
3. x. Adv. Haer. III, 19,1.
4. Rede 38,12; xem Courth, Texte, số 54.
5. Pelagius, một Thầy Dòng người Anh, chủ trương một học thuyết về ân sủng hoàn toàn ngược lại với học thuyết của thánh Augustinô, vị Giáo Phụ thời danh. Pelagius truyền bá sự tự do luân lý (lieberum arbirtrium) đối với sự ác hay sự thiện, và vì thế, ông cho rằng con người được tự do và tự mình có đủ khả năng để làm điều thiện. Đối với ông, ân sủng Thiên Chúa chính yếu chỉ hiện diện trong sự nhắc bảo dạy dỗ về luân lý, mà Thiên Chúa đã ban cho qua luật lệ cũng như trong gương mẫu Chúa Kitô, một điều mà mỗi người Kitô hữu đều phải và có thể bắt chước theo. Còn trường hợp sa ngã của ông A-dong đã gây tổn hại cho nhân loại, nhưng dĩ nhiên chỉ được hiểu là ông A-dong đã làm một gương xấu mà thôi. Vì thế, cái chết của ông A-dong không phải là hình phạt do tội ông gây nên, nhưng là một điều tự nhiên. Còn các trẻ em chết mà chưa được rửa tội, đều đạt tới được cuộc sống vĩnh cửu. Nếu trường hợp chúng đã được rửa tội rồi, thì dĩ nhiên chúng sẽ được sự hạnh phúc ở một cấp độ cao hơn. Nhất là Pelagius đã cho rằng con người có thể sống mà không phạm tội. Trong khi đó ngược lại, thánh Augustinô, Giám Mục thành Hippo ở Bắc Phi, lại dạy rằng ân sủng là sức mạnh của tình yêu Thiên Chúa đã được tuôn đổ xuống trên tâm hồn con người và biến đổi ý chí con người. Bởi vì, sau khi phạm tội (Nguyên tội), ý chí con người bị trói buộc, chứ không còn được tự do để yêu thương nữa. Bởi vậy, Thiên Chúa phải ban cho con người điều, mà chính Người đòi hỏi trong luật lệ, trước khi con người có thể thực hiện được điều được đòi hỏi trong Luật. Khi con người phạm tội, con người hoàn toàn mất hết khả năng để có thể lãnh nhận được ân sủng. Thiên Chúa ban ân sủng cho con người (hay từ chối), hoàn toàn là một ơn nhưng không của tình yêu thương và của sự tiền định của Người, chứ không do công trạng hay sự sửa soạn của phía con người. Và ngay cả sự bền đỗ của con người trong tình trạng ơn thánh cũng là nhờ sự tác động của Chúa Thánh Thần, nghĩa là một ơn của Thiên Chúa. Sau cùng, lạc thuyết Pelagianismus coi vai trò của Đức Giêsu Kitô như là một gương lành cho con người, đối ngược lại với gương xấu của ông A-dong. Bởi vậy, mỗi người nhận được trọn vẹn sự ảnh hưởng ấy và qua đó cũng hoàn toàn có trách nhiệm đối với phần rỗi của linh hồn hay đối với các tội lỗi của mình. Điều đó muốn nói rằng, đối với thuyết Pelagianismus, người thuận cũng như người chống đều đứng chung trên mức độ như nhau.
6. x. Origenes, Comm. in luc. 17.
7. S. Th. III, q. 27, a. 2 ad 2.3; xem Courth, Texte, Nr. 95.

(Còn tiếp) Lm Nguyễn Hữu Thy
http://vietcatholic.org/News/Clients/ReadArticle.aspx?ID=86149

admin
23-12-2010, 06:06 AM
4.3. Những phát biểu của Tòa Thánh

Cuộc tranh luận giằng co kéo dài hàng thế kỷ giữa hai học phái Scotisten (môn sinh của Duns Scotus) thuộc Dòng Phan-xi-cô và Thomisten (môn sinh Thomas Aquinô) thuộc Dòng Đa Minh, về sự „Vô Nhiễm Thai“ của Mẹ Maria, hay nói đúng hơn giữa hai quan điểm đối lập nhau: một bên khẳng định Mẹ Maria hoàn toàn vô nhiễm Nguyên tội; còn bên kia lại quả quyết Mẹ Maria không vô nhiễm nguyên tội, ít là trong một thoáng thời gian nào đó.

Vào năm 1477, Đức Giáo Hoàng Sixtus IV (1414-1484), xuất thân là một Thầy Dòng Phan-xi-cô, đã cho cử hành Đại Lễ „Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội“ vào ngày 8 tháng 12 hằng năm với những lời nguyện và bài đọc riêng (x. DH 1400)(1). Trong Tông hiến „Grave Nimis“ của ngài ban hành năm 1483, ĐGH Sixtus IV đã kết án tất cả những ai cho rằng quan điểm của những người ủng hộ ơn Vô Nhiễm Thai của Mẹ Maria là lạc đạo và khẳng định rằng Giáo Hội Roma chỉ chấp nhận sự thánh hóa của Mẹ Maria trong dạ mẹ trước khi được sinh ra mà thôi (x DH 1425tt).

Trong quy tắc 6 của Sắc Lệnh về tội Nguyên tổ ban hành năm 1546, công đồng Tridentinum đã dựa theo Tông Hiến „Grave Nimis“ và giải thích: „Nhất trí với giáo huấn này (Tông hiến Grave Nimis), Công đồng không có ý nói bao hàm cả Mẹ Maria, Rất Thánh Trinh Nữ vô nhiễm nguyên tội và là Mẹ Thiên Chúa, khi đề cập tới tội Nguyên tổ“ (DH 1516).

Và từ từ khuynh hướng các ý kiến trong Giáo Hội đã nghiêng hẳn về quan điểm quả quyết „Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội“, đến nỗi năm 1617 Đức Giáo Hoàng Phaolô V đã ra lệnh cấm không ai được phép công khai đưa ra ý kiến ngược lại với giáo huấn về sự „Vô Nhiễm Nguyên Tội“ của Mẹ Maria. Tuy nhiên, Đức Phaolô V vẫn không chống lại quan điểm ngược lại. Sau đó, vào năm 1622 Đức Giáo Hoàng Grê-gô-ri-ô XI áp dụng lệnh cấm của Đức Phaolô V một cách nghiêm ngặt hơn nữa. Ngài chỉ cho phép các nhà thần học thuộc Dòng Đa Minh chỉ được tiếp tục tranh luận về vấn đề trong nội bộ Dòng mà thôi.

Và với phong trào sùng kính Mẹ Maria được bành trướng sâu rộng và mạnh mẽ trong Giáo Hội vào thế kỷ XIX, Đức Giáo Hoàng Piô IX đã đích thân can thiệp vào vấn đề. Năm 1849, ngài đã viết thư thỉnh ý tất cả các Giám Mục trên khắp thế giới về vấn đề „Vô Nhiễm Thai“ của Mẹ Maria. Trong số 606 Giám Mục trên khắp thế giới trả lời thư của Đức Thánh Cha, có tới 546 vị đồng ý việc tuyên bố giáo huấn „Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội“ thành tín điều. Một điều đáng chú ý là hầu hết các Giám Mục còn tỏ ra do dự, đều thuộc vùng lãnh thổ nói tiếng Đức. Thái độ do dự của các vị Giám Mục này đã nói lên tình trạng nội bộ của Giáo Hội tại Đức quốc vào lúc bấy giờ, những điều kiện bên ngoài đáng lo ngại của đời sống Giáo Hội và cả những vấn đề thần học.

Thật vậy, quan điểm của đa số các đại học thần học ở Đức đều không tán thành việc tuyên bố thành tín điều. Nhưng không chỉ các nhà thần học Đức, mà ngay cả một số các nhà thần học ở Roma cũng tỏ thái độ dè dặt và thật trọng. Lý do chính thường được đưa ra là giáo huấn đức tin về ơn „Vô Nhiễm Thai“ của Mẹ Maria thiếu nền tảng Kinhn Thánh. Tuy nhiên, đại đa số các nhà thần học này hoàn toàn sẵn sàng ủng hộ, nếu Đức Giáo Hoàng tuyên bố thành tín điều.

Vì thế, sau khi được các Ủy ban thần học, nhất là hai nhà thần học nổi danh thuộc Dòng Tên là các giáo sư Giovanni Perrone và Carlo Passaglia, nghiên cứu, phân tích, tìm hiểu và sửa soạn một cách khách quan, đầy đủ và khoa học, Đức Giáo Hoàng Piô IX đã tuyên bố trong Sắc chỉ „Ineffabilis Deus“ vào ngày 8.12.1854: „Giáo huấn dạy rằng Đức Trinh Nữ Rất Thánh Maria, do một ân sủng đặc biệt đã được Thiên Chúa toàn năng ban cho, nhờ vào công nghiệp Đức Giêsu Kitô, Đấng Cứu Chuộc nhân loại (intuitu meritorum Christi Jesu Salvatoris humani generis), đã được gìn giữ khỏi mọi vết nhơ của Nguyên tội (ab omni originalis culpae labe praeservatum immunem) ngay từ giây phút đầu tiên khi Mẹ được cưu mang (in primo instanti suae conceptionis), đã được Thiên Chúa mặc khải và vì thế phải được tất cả các tín hữu tin tưởng một cách chắc chắn và bất lay chuyển“(2).

Như vậy, với sự hưởng ứng rộng rãi của các tín hữu và của các Giám Mục trong toàn Giáo Hội, Đức Giáo Hoàng Piô IX đã kết thúc sự phát triển của giáo huấn đức tin về sự „Vô Nhiễm Nguyên Tội“ của Mẹ Maria và long trọng tuyên bố thành tín điều, nghĩa là một sự thật đã được mặc khải từ trời cao và vì thế, mọi tín hữu Công Giáo đều bó buộc phải tin nhận.

Đứng về phương diện nhân chủng học thì tín điều „Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội“ mang một ý nghĩa rất quan trọng, giúp ta hiểu được việc Thiên Chúa kén chọn và ban ân sủng cho mỗi người theo sự an bài đầy khôn ngoan và yêu thương của Người (như nơi Mẹ Maria), cũng như sự hiện thực sự tự do của con người. Nói cách khác, sự tự do bất khả xâm phạm của con người mà Thiên Chúa đã ban cho mỗi người khi Người dựng nên họ, không chút mảy may bị hạn chế hay giảm thiểu bởi sự an bài hay tiền định của ân sủng trong việc cứu rỗi con người, nhưng trái lại càng giúp con người một cách tích cực hơn trong việc hiện thực sự dự do của mình một cách đúng đắn.

Trong Sắc chỉ về sự định nghĩa tín điều „Đức Mẹ Vô Nhiễm Thai“ của ngài, ĐGH Piô IX đã trưng dẫn chính những hình thức tôn sùng Mẹ Maria khác nhau trong Giáo Hội. Vì không chỉ các nhà thần học ở Đông phương, nhưng cả các nhà thần học ở Tây phương cũng đều cho rằng việc ca tụng Mẹ Maria bằng những ngôn từ hay đẹp, bóng bảy và chải chuốt là điều cần thiết, nhưng chưa đủ để làm nổi bật được phẩm giá cao cả và vai trò quan trọng của Mẹ Maria một cách thực tiễn. Chỉ khi các tín hữu cử hành một cách sốt sắng lòng tôn sùng Mẹ Maria với tất cả tình yêu mến và sự biết ơn qua các kinh nguyện và thánh ca Phụng Vụ của Giáo Hội.

Đây cũng là quan điểm của thánh Anselm thành Canterbury, tổ phụ của phái Kinh Viện. Thánh nhân lồng ghép những luận cứ của mình về Thánh Mẫu học vào trong thái độ sùng kính Mẹ Thiên Chúa và tâm tình cảm tạ Chúa vì Mẹ. Theo thánh Anselm, nếu giả thử Con Thiên Chúa được sinh ra bởi một người nữ có tội, thì vẫn không có gì là vô lý khi khẳng định rằng Người „được cưu mang bởi một người Mẹ hoàn toàn tinh tuyền cả. Nói đúng hơn, người trinh nữ ấy cần phải tỏa sáng ra trong một sự tinh tuyền như thế, bởi vì người ta không thể tưởng tượng được là sự cao cả của nàng lại không đến từ Thiên Chúa“(3).

Lối suy tư nhằm „tuyệt hảo hóa“ phẩm giá Mẹ Maria một cách vượt mực như thế, đã được nhà thần học Wilhelm von Ware(4), và rõ ràng nhất là nhà thần học Chân phước Duns Scotus, đã nâng lên thành nguyên tắc. Bởi vì, trong Thánh Mẫu học, người ta luôn luôn có những lý do chính đáng và đầy thuyết phục, để khẳng định được rằng không ai có thể có được tư tưởng nào khác ngoài tư tưởng đầy tích cực và tuyệt hảo, vì Mẹ Maria là Đấng tuyệt hảo, hoàn toàn tinh tuyền và thánh thiện. Nơi Mẹ không vấn vương bất cứ tì vết tội lỗi nào, dù Nguyên tội hay tội riêng và dù nhỏ mọn đến đâu.

Do đó, mỗi khi phát biểu điều gì về Mẹ Thiên Chúa, thì điều đó tất nhiên phải là sự vinh quang lớn lao nhất của Mẹ. Và cũng do đó, mặc dù trong các suy tư thần học người ta luôn cần phải giữ thái độ dè dặt và thận trọng, nhưng không phải vì thế mà trong Thánh Mẫu học người ta được phép thiếu đi thái độ yêu mến, kính phục và cảm xúc được. Bởi vì, sự tranh luận về Thánh Mẫu học nhằm hướng tới một người.

Khi đề cập tới chủ đề về „Mẹ Maria“, Công đồng Vatican II cũng đã khẳng định lại tín điều „Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội“ và trình bày một cách tích cực, nhưng đồng thời cũng rất ngắn gọn. Trong Hiến chế tín lý về Giáo Hội „Ánh Sáng Muôn Dân“ (Lumen Gentium), Công đồng Vatican II đã viết: Mẹ Maria „tràn đầy thánh thiện, có một không hai, ngay từ giây phút đầu tiên lúc mới được thụ thai“ (LG, số 56). Cũng như sự tương quan với Nguyên tổ A-dong theo dòng giống, các Nghị Phụ cũng nhấn mạnh đến sự tham chiếu mang tính cách Kitô học của tín điều và tầm quan trọng mang tính cách Giáo Hội học của nó: Vì Mẹ Maria „thuộc dòng dõi A-dong, nên Mẹ cũng liên kết với tất cả mọi người cần được cứu rỗi“. Nhưng Mẹ Maria „đã được cứu rỗi một cách kỳ diệu nhờ công nghiệp của Con Ngài và hiệp nhất mật thiết và bền chặt với Con“. Và vì „Mẹ Maria đã lãnh nhận nhiệm vụ và vinh dự cao cả là được làm Mẹ Con Thiên Chúa, do đó làm ái nữ của Chúa Cha và cung thánh của Chúa Thánh Thần“ (LG, số 53).

________________

1. DH là viết tắt của chữ Denzinger-Hünermann, một công trình tổng hợp tất cả những quyết định về các giáo lý của Giáo Hội Công Giáo, do hai nhà thần học Heinrich Denzinger và Peter Hünermann thu thập và xuất bản.

2. DH 2803; xem Courth, Texte, Nr. 106.

3. De conceptu virginali et originali peccato 18; xem Courth, Texte, Nr. 87.

4. Wilhelm, một nhà thần học thuộc Dòng Phan-xi-cô, cất tiếng chào đời tại Ware (Hertfordshire) vào khoảng năm 1255 và qua đời vào năm 1300. Năm 1283 Wilhelm học tại đại học Oxford và sau đó ông là người đầu tiên dạy tại Học Viện của Dòng Anh Em Hèn Mọn cũng tại Oxford và rồi ông cũng dạy tại Paris. Một trong số những người học trò ưu tú của ông là Chân phước Johannes Duns Scotus, nhà thần học thời danh thuộc Dòng Phan-xi-cô. Qua cách suy tư và nhận thức thần học của ông, Wilhelm von Ware đã quan tâm đặc biệt tới những kết quả của nền thần học và triết học thế kỷ XIII. Đặc biệt nhất là ông đã mạnh mẽ bênh vực luận đề „Vô Nhiễm Nguyên Tội“ của Mẹ Maria, và chắc chắn rằng quan điểm này của ông về Mẹ Maria đã có một ảnh hưởng quyết định trên tư tưởng của Duns Scotus sau này về chính luận đề „Vô Nhiễm Nguyên Tội“ của Mẹ Maria. Còn về tổng thể triết học, ông có khuynh hướng thiên về học thuyết Aristote, nhưng trong các chi tiết ông lại trung thành với quan điểm của thánh Augustinô. Ý niệm khoa học của ông hoàn toàn đặt cơ sở trên toán học. Trong khi đó, khoa thần học đối với ông là quy tắc chiêm niệm theo tư tưởng Thánh Augustinô, chứ hoàn toàn không phải là một khoa học. Đối tượng chính của khoa thần học là Thiên Chúa dưới góc nhìn sự thiện. Ông ca ngợi giáo huấn của thánh Augustinô về Thiên Chúa Ba Ngôi.

(Còn tiếp) Lm Nguyễn Hữu Thy

http://vietcatholic.org/News/Clients/ReadArticle.aspx?ID=86340 (http://vietcatholic.org/News/Clients/ReadArticle.aspx?ID=86340)

admin
01-01-2011, 06:45 PM
5. Cuộc sống Mẹ Maria được hoàn tất trong ơn phục sinh

Về phương diện lịch sử, người ta không thể có được những chứng cứ chắc chắn về nơi chốn, về thời gian và về cách thức Mẹ Thiên Chúa đã qua đời như thế nào. Nhưng về phương diện thần học thì chỗ đề cập cuối cùng về Mẹ Maria trong Tân Ước mang một ý nghĩa quan trọng, vì đã nói cho chúng ta biết được Mẹ Thiên Chúa đã cùng với các Môn Đệ, Giáo Hội tiên khởi bé nhỏ của Chúa, chờ đợi Chúa Thánh Thần ngự xuống như thế nào. Sách Tông Đồ Công Vụ viết: „Tất cả các ông đều đồng tâm nhất trí, chuyên cần cầu nguyện với mấy người phụ nữ, với bà Maria, thân mẫu Đức Giêsu và các anh em của Đức Giêsu“ (Cv 1,14).

Sự xác tín cho rằng cái chết của Mẹ Thiên Chúa mang một ý nghĩa mặc khải về đức tin, chắc chắn được xuất phát từ nội dung những phát biểu tổng quát của Kinh Thánh về số phận những người đã quá cố, chẳng hạn: „Vì nếu chúng ta tin rằng Đức Giêsu đã chết và đã sống lại, thì chúng ta cũng tin rằng những người đã an giấc trong Đức Giêsu, sẽ được Thiên Chúa đưa về cùng Đức Giêsu“ (1Tx 4,14).

Ơn được trở nên giống Đức Giêsu, được trở nên đồng hình đồng dạng với Người qua cái chết và sự sống lại (x. Pl 3,11tt; Ep 2,5; Cl 3,3) và được chiêm ngắm Thiên Chúa nhãn tiền, – nghĩa là „Người thế nào chúng ta sẽ thấy người như vậy“ (x. 1Cr 13,12; 1Ga 3,2) –, được gói ghém trọn vẹn trong tín điều về sự đồng trinh sạch sẽ và thiên chức làm Mẹ Thiên Chúa của Mẹ Maria, cũng như với sự nhận thức được rằng Mẹ Maria được liên kết chặt chẽ một cách đặc biệt với công cuộc cứu chuộc của Chúa Kitô, đã dẫn tới sự nhận thức thần học này, đó là:

• Mẹ Maria, với tư cách là một con người, một thành phần thực sự của gia đình nhân loại, đã hoàn tất cuộc lữ hành dương thế của mình một cách trọn vẹn và toàn diện trong vinh quang Thiên Chúa, tức Mẹ Maria đã được lên trời cả hồn lẫn xác.

• Những gì Thiên Chúa đã cho xảy ra và ghi dấu trên cuộc đời Mẹ Maria, vì Mẹ đã tự nguyện chấp nhận sự an bài của Người, thì Thiên Chúa cũng sẽ thực hiện như thế trên cuộc sống của những ai tin tưởng và tín thác vào sự an bài đầy yêu thương của Người(1).

Ngay từ đầu, sự xác tín đức tin về biến cố Mẹ Maria được lên trời cả hồn lẫn xác đã được gắn liền với lòng trông cậy vào sự bầu cử của Mẹ trước tòa Chúa Giêsu, Con Mẹ, vì Mẹ là Đấng Trung Gian giữa Chúa Giêsu và con cái loài người và Mẹ hằng nâng đỡ và trợ giúp Giáo Hội đang trên đường lữ thứ trần gian được đạt tới sự kết hiệp muôn đời với Chúa Kitô trong vinh quang Nước Trời.

Ở Tây phương, qua phái Kinh Viện(2), sự xác tín cho rằng thân xác Mẹ Thiên Chúa, Đấng đã cưu mang Logos, đã cưu mang Ngôi Lời Thiên Chúa, thì nói chung, dù phải trải qua sự chết, cũng không thể chịu cảnh hư nát do Nguyên tội gây nên được (Thomas Aquinô). Trong khi bác bỏ những lý thuyết cho rằng trước khi chết, Mẹ Maria đã được cất về trời, đa số các nhà thần học xác tín rằng Mẹ Maria đã chết một cách tự nhiên. Nhưng cái chết của Mẹ Maria cũng tương tự như một giấc ngủ ngắn trong giây lát, vì ngay liền sau khi chết, Mẹ lại sống lại và được rước về Thiên đàng cả hồn lẫn xác. Bởi vì, sự chết không chỉ là hậu quả của Nguyên tội, nhưng còn là một thực tại nhân chủng học đã được gắn liền với bản tính tự nhiên của con người. Chính thực tại ấy, tức sự chết, chuyển đổi sự tự do sau cùng của con người vào trong hình thức hoàn hảo nhất của nó, đó là sự chiêm ngưỡng đời đời thánh nhan Thiên Chúa.

Trong phạm vi triết học nghi vấn về linh hồn-thể xác được đặt ra là làm thế nào với những phương tiện thực nghiệm người ta lại có thể hiểu và nắm bắt được một thực tại vượt khỏi các phạm trù hiểu biết của trí năng tự nhiên của con người, tức sự hoàn tất cuộc sống trong vinh quang bất diệt một cách toàn diện và trọn vẹn. Đồng thời người ta cũng nêu lên nghi vấn về số phận của thi thể Mẹ Maria trong bối cảnh ngày thế mạt một cách tổng quát. Trong khi đó, tính cách đồng nhất giữa thân xác trần thế của Chúa Giêsu (khi còn sống) và thân xác đã được biến đổi nên sáng láng của Người (sau khi sống lại) đã quá rõ ràng và không cần phải đặt thành nghi vấn nữa, bởi vì qua dữ kiện mặc khải về sự Phục Sinh của Chúa Giêsu, Chúa Cha đã biểu lộ sự đồng nhất giữa Chúa Giêsu phục sinh và Chúa Giêsu khi còn tại thế, khi Người hiện ra với các Môn đệ sau khi Người đã sống lại từ cõi chết với chính thân xác của Người.

Còn tính cách đặc biệt về sự hoàn tất trọn vẹn và toàn diện – gồm cả hồn lẫn xác – của cuộc sống Mẹ Maria trong vinh quang chân thật và vĩnh cửu của Nước Trời, tất nhiên không thể được hiểu là do tự sức riêng của Mẹ, nhưng là do sự liên kết chặt chẽ có một không hai giữa cuộc sống của Mẹ và Chúa Cứu Thế và công trình cứu độ phổ quát của Con Mẹ.

Sự tuyên tín bày tỏ đức tin mang tính cách quyết định của „Assumpa-Dogma“, của tín điều „Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời“, được diễn tiến như sau: Bởi vì, Mẹ Maria liên kết và gắn bó với công cuộc cứu chuộc của Chúa Giêsu một cách chặt chẽ hoàn toàn ngoại thường, nên Mẹ cũng được tham phần vào sự phục sinh vinh hiển của Con Mẹ như một người được tiền cứu rỗi và được cứu rỗi một cách trọn vẹn. Vì thế, Mẹ Maria là kiểu mẫu về sự quy phục toàn diện của con người đối với Thiên Chúa, Đấng Tạo Hóa và là Đấng hoàn tất mọi sự. Sự khác biệt giữa Mẹ Maria và các Thánh khác là ở chỗ:

• với sự tương quan sâu nhiệm và chặt chẽ với công cuộc cứu độ của chính Con Mẹ, Mẹ Maria là người được cứu rỗi mang tính cách gương mẫu hay tượng trưng cho nhân loại, nghĩa là mọi con cái loài người cũng sẽ được cứu rỗi như Mẹ;

• về sự hoàn tất trong vinh quang của tất cả các tín hữu trong ngày quang lâm của Chúa Giêsu, thì lời bầu cử của Mẹ Maria mang một ý nghĩa vô cùng quan trọng.

Mẹ Maria là hình ảnh nguyên thủy của Giáo Hội và, do thiên chức làm Mẹ Thiên Chúa, Mẹ Maria là một chi thể quan trọng nhất trong Thân Mình Mầu Nhiệm Chúa Kitô. Do đó, thánh công đồng Vatican II đã phát biểu: Mẹ Maria được „Thiên Chúa tôn vinh làm Nữ Vương Trời Đất để nên giống Con Một Người một cách trọn vẹn hơn, là Chúa của các Chúa, Đấng đã chiến thắng tội lỗi và sự chết“ (LG, số 59).

5.1. Nền tảng Kinh Thánh

Đức tin vào sự hoàn tất mang tính cách cánh chung của Mẹ Maria trong vinh quang của Thiên Chúa có thể không trực tiếp dựa trên những lời của Kinh Thánh. Nhưng lại được chứng thực bởi những bằng cứ hàm chứa định tín về đức tin ấy, như trong trường hợp vô nhiễm thai của Mẹ Maria. Trước hết, ở đây cần nêu đích danh sự xác tín về đức tin, đó là Thiên Chúa „không phải là Thiên Chúa của kẻ chết, nhưng là của người sống“ (Mc 12,27). Ngoài ra còn những bản văn quan trọng nói lên sự tương quan nội tại giữa sự kén chọn, sự ân thưởng và sự vinh quang của con người trong sự an bài của ân sủng Thiên Chúa. Trong Thư Roma, thánh Phaolô đã đề cập đến điều đó một cách rõ ràng: „Những ai Thiên Chúa đã tiền định…, thì Người cũng làm cho nên công chính, những ai Người đã làm cho nên công chính, thì Người cũng cho hưởng phúc vinh quang“ (Rm 8,30; x. Ep 1,3-6). Sự liên kết với Đức Kitô của những người tín hữu đạo hạnh thì sẽ tìm gặp được sự viên mãn trong hạnh phúc được chiêm ngưỡng Thiên Chúa nhãn tiền (x. Cl 3,3-4; Ep 2,5). Những đoạn Kinh Thánh đề cập đến sự liên kết chặt chẽ của Mẹ Maria với Con Mẹ và với sứ vụ cứu độ của Người, đã đóng một vai trò quyết định trong việc định hướng được rằng đức tin vào ơn được tuyển chọn và được sống lại của Kitô giáo trong thời Giáo Hội tiên khởi, được cụ thể hóa trong con người của Mẹ Maria (x. Lc 1,45.48). Và trong lời cầu nguyện của Chúa Cứu Thế cho các Môn đệ trước khi Người bước vào cuộc khổ nạn thập giá, tất nhiên Mẹ Maria cũng được bao hàm trong đó: „Lạy Cha, con muốn rằng con ở đâu, thì những người Cha đã ban cho con cũng ở đó với con, để họ chiêm ngưỡng vinh quang của con, vinh quang mà Cha đã ban cho con“ (Ga 17,24).

Qua những lời Kinh Thánh trên đây, người ta có thể khẳng định được rằng sự hoàn tất cuộc đời dương thế của Mẹ Maria trong vinh quang Nước Trời một cách trọn vẹn và toàn diện, tức cả xác lẫn hồn, là một chân lý đức tin.

admin
01-01-2011, 06:48 PM
5.2. Những phát triển trong lịch sử thần học

Những bằng chứng đầu tiên, vốn được coi là chứng tích chắc chắn cho thấy rằng Giáo Hội trong những thế kỷ đầu đã phát triển đức tin phục sinh của mình bằng sự tham chiếu đặc biệt nơi nhân thân Mẹ Maria, thì người ta đã khám phá ra được ở những nơi các tín hữu xưng tụng Mẹ Maria là Đấng luôn hiện diện sống động trong Cộng đoàn Đức Kitô và kêu cầu Mẹ trong khi cầu nguyện. Cũng như các chứng nhân tử đạo, Mẹ Thiên Chúa vinh hiển được tin kính và xưng tụng là Mẹ của Giáo Hội. Những chứng tích này bắt đầu xuất hiện từ thế kỷ III, ví dụ trong lời nguyện ở Alexandria có viết: „dưới sự che chở phù trì của Mẹ“(3). Còn ở Tây phương, thánh Augustinô lần đầu tiên đã trực tiếp kêu cầu sự bầu cử của Mẹ Maria trong khi cầu nguyện(4). Và tiếp đến, vào thế kỷ IV thì hai thánh Êphräm người Syrie và Gregor thành Nazianz cũng đã nêu danh Mẹ Maria trong các kinh nguyện như là Đấng trung gian chuyển cầu trước tòa Chúa Giêsu.

Trong việc phát triển này người cũng phải kể đến vai trò quan trọng của những lễ Đức Mẹ trong niên lịch Phụng Vụ của Giáo Hội. Ở Giê-ru-sa-lem ngay từ thế kỷ V các tín hữu đã cử hành Lễ An Nghỉ (Dormitio) và Lễ An Táng hay Lễ Táng Trong Mồ (Depositio) của Mẹ Maria. Đặc biệt vào thế kỷ VI, Lễ Dormitio đã được cử hành ở khắp cả Đông phương. Còn ở Tây phương, mãi đến thế kỷ VIII Lễ Dormitio hay Lễ An Nghỉ của Mẹ Maria mới cử hành một cách rộng rãi với tên gọi mới là Lễ „Lên Trời của Đức Trinh Nữ Maria“. Trong các bài giảng khi cử hành Lễ này, trước hết người ta chỉ nhắc đến cái chết của Mẹ Thiên Chúa; từ từ về sau người ta càng ngày càng đề cập tới đến sự hoàn tất cuộc sống đầy vinh quang của Mẹ cũng như vai trò trung gian của Mẹ trên Thiên đàng.

Riêng thánh Giám Mục Epiphanius Salamis (khoảng 315-403) đã công phu nghiên cứu và tìm kiếm một truyền thống có tính cách Kinh Thánh về sự hoàn tất cuộc sống trần thế của Mẹ Maria trong kho tàng thiêng liêng của Giáo Hội. Nhưng tiếc thay, ngài đã không tìm thấy. Nhưng qua những nghiện cứu của thánh Epiphanius(5), người ta đã khám phá ra rằng hoàn toàn không có bất cứ một bằng cứ chắc chắn nào về cái chết của Mẹ Maria cả. Tuy nhiên, công trình nghiên cứu và tìm hiểu của nhà thần học này đồng thời cũng cho thấy rằng trong thời đại của ngài người ta đã suy tư về sự vinh hiển của Mẹ Maria rồi. Từ thế kỷ V cho tới thế kỷ VII đã xuất hiện nhiều huyền thoại về Mẹ Maria – như một loại văn chương đặc biệt – trình bày hiện tượng Mẹ Maria đã vượt qua khỏi cái chết và được rước lên Thiên đàng trong vinh quang vĩnh cửu.

Trong các thời đại tiếp theo sau đó, các suy tư thần học đã phát triển mạnh và đã đạt được nhiều tiến bộ hơn. Vì thế những thêu dệt mang tính cách huyền thoại về cái chết và sự vinh hiển của Mẹ Maria bị đẩy lùi vào quá khứ. Thánh Isidor Tổng Giám Mục Sevilla (560-636) đã nói rằng ngài không biết gì về các điều kiện và hoàn cảnh có liên quan đến cái chết của Mẹ Thiên Chúa và ngài còn nêu ra cả nghi vấn là liệu Mẹ Maria có thực sự chết hay không(6). Còn thánh Tiến sĩ Giáo Hội Beda Venerabilis (672-735), một Thầy Dòng Biển Đức, thì tuyên bố rằng ngài hoàn toàn không biết gì về vấn đề này(7).

Vào tiền bán thế kỷ XI xuất hiện một khảo lược mạo danh thánh Augustinô với tựa đề „De Assumptione Beatae Mariae Virginis“ – (Về vấn đề lên trời của Đức Trinh Nữ Maria)(8) được coi như là tài liệu thần học đầu tiên ở Tây phương về sự kiện „Đức Mẹ Lên Trời“. Vì lý do thiếu những chứng tích trực tiếp và rõ ràng trong các văn bản chính thức và đồng thời không muốn tham chiếu các ngụy thư cũng như các huyền thoại, một số tác giả không rõ danh tính(9) đã cố gắng xác định một cách có hệ thống theo phương diện thần học sự vinh hiển của Mẹ Maria dựa vào công cuộc cứu độ của Chúa Giêsu. Theo lược khảo này, thì do thiên chức làm Mẹ Thiên Chúa của ngài, Mẹ Maria luôn liên kết chặt chẽ với Chúa Giêsu, Con Mẹ. Và chứng cứ được nêu lên là chính lời Chúa Cứu Thế đã phán trong Phúc Âm thánh Gioan: „Thầy ở đâu thì kẻ phục vụ Thầy cũng sẽ ở đó“ (Ga 12,26). Ngoài ra, tác giả còn cho rằng qua việc Mẹ Maria được lên trời trong vinh quang cả hồn lẫn xác, Chúa Giêsu đã chu toàn Điều Răn Thứ Bốn trong Mười Điều Răn Thiên Chúa, tức bổn phận làm con của Người đối với Mẹ Maria. Sau cùng, những lý do trên đây cũng như những lý do khác đã chứng minh sự chắc chắn của đức tin được phản ảnh từ đời sống của Giáo Hội, đó là: trong sự thông hiệp vĩnh cửu với Chúa Giêsu trên Thiên quốc, Mẹ Maria luôn bầu cử cho Giáo Hội.

Cũng như ở Tây phương, ở Đông phương người ta cũng nỗ lực phát triển mỗi ngày một rộng rãi hơn quan điểm thần học về sự hoàn tất cuộc sống của Mẹ Maria trong vinh quang Nước Trời. Hai nhà thần học nổi danh được nêu tên trong phong trào phát huy thần học này ở Đông phương là thánh Gioan thành Đa-mát (650-754) và Đức Thượng Phụ Germanus von Konstantinopel (645-740). Đối với hai nhà thần học thời danh này, thiên chức làm Mẹ Thiên Chúa là lý do cơ bản cho sự sống lại và được lên trời của Mẹ Maria. Vì thế, người ta có thể nói được rằng công trạng của hai Giáo phụ tài danh này là đã nối kết được những chân lý đức tin liên quan đến Mẹ Maria lại với nhau một cách chặt chẽ, hợp lý và đúng đắn. Các ngài đã nhìn thấy được sự tham phần của Mẹ Maria trong công cuộc cứu độ cúa Chúa Kitô ở dương thế và sự trung gian hay sự bầu cử của Mẹ trên trời cho sự cứu rỗi của nhân loại, được đồng nhất thành một. Như thế, „lý do thần học sâu xa nhất và đồng thời là nền tảng chắc chắn trong mặc khải“(10) của tín điều đã được nêu lên.

Đối với những triển khai khác của giáo huấn „Vô Nhiễm Thai“ của Mẹ Maria, thì những ý niệm siêu hình học được sử dụng trong khoa nhân chủng học của Kinh Viện đóng một vai trò rất quan trọng. Đúng vậy, ý niệm về „thân xác“ và „linh hồn“ là tiêu biểu cho một con người duy nhất và toàn diện, một thực thể hiện hữu vừa về phần thể xác hữu hình và vừa phần linh hồn thiêng liêng vô hình. Bởi vì, trong các tạo vật Thiên Chúa đã dựng nên, thì con người là một thực thể duy nhất gồm có linh hồn và thân xác. Trong khi đó, các Thiên thần chỉ có linh hồn thiêng liêng vô hình và ngược lại, các loài vật lại chỉ có thể xác hữu hình mà thôi.

Do đó, khi mục đích cuối cùng cuộc lữ hành trần thế của con người được hoàn tất trong vinh quang bất diệt một cách trọng vẹn và toàn diện theo nghĩa nhân chủng học, thì tất nhiên phải hiểu là con người toàn diện gồm linh hồn và thể xác. Và cụ thể, đó chính là trường hợp Mẹ Maria, Đấng đã được lên trời cả hồn lẫn xác ngay sau khi Mẹ đã hoàn tất cuộc lữ hành trần thế của mình. Còn tất cả các con cái loài người khác còn phải chờ đợi cho đến ngày tận thế, ngày mọi xác phàm sẽ được sống lại và đoàn tụ lại với linh hồn để chịu phán xét chung.

Thánh Bonaventura, vốn chịu ảnh hưởng ít nhiều tư tưởng truyền thống của phái triết học Platon, khi bàn về sự hoàn tất vinh hiển của Mẹ Maria, đã lý luận rằng: Bởi vì, một khi người ta chết, thì linh hồn hồn lìa ra khỏi xác, và như vậy không còn là con người trọn vẹn và thật sự nữa. Nếu thế, thì sự hoàn tất trong vinh quang của Mẹ Maria cũng chưa thể được hiểu là trong một chiều kích trọn vẹn và hoàn toàn được. Nói cách khác, Mẹ Maria chỉ mới được hưởng vinh quang phần linh hồn mà thôi, nếu như thân xác Mẹ chưa được sống lại(11). Và Thánh Thomas Aquinô cũng có suy tư tương tự(12). Theo các nhà thần học phái Kinh Viện – Bonavventura, Thomas Aquinô, v.v…, – thì Mẹ Maria đã được rước về Thiên dàng „cả linh hồn lẫn thể xác“, nghĩa là Mẹ Maria đã được trở về bên Chúa Giêsu, Con Cực Thánh của Mẹ, một cách trọn vẹn và toàn diện, chứ hồn-xác Mẹ không bị phân tách. Điều đó muốn khẳng định rằng thân xác Mẹ Maria đã được sống lại ngay sau khi cuộc lữ hành dương thế của Mẹ chấm dứt và cùng với linh hồn được rước về Thiên đàng hưởng hạnh phúc bất diệt bên Chúa Giêsu, Con Mẹ, chứ thân xác Mẹ không phải chịu cảnh hư nát trong mộ và không phải chờ đến ngày tận thế mới được sống lại như tất cả các người khác

_______________________

1. x. A. Ziegenaus, Die leibliche Aufnahme Mariens in den Himmel im Spannungsfeld heutiger theologischer Strömungen, trong: Forum Katholische Theologie 1 (1986, 1-19; K. Rahner, Zum Sinn des Assumpta-Dogmas, trong: ders., Schriften zur Theologie. Bd. 1, Einsiedeln 6. Aufl. 1962, trang 239-252.
2. Phái Kinh Viện kéo dài từ 1200 đến 1340, gồm các triết gia và thần học gia thời danh, như: Albertus Magnus, Thomas von Aquin, Bonaventura, Duns Scotus, William of Ockham, Raimundus Lullus, Roger Bacon, Siger von Branbant, Meister Eckhart, v.v… Đây là một trường phái tư tưởng dựa theo khuynh hướng triết học thực tiển (Realismus) của đại triết gia Aristote và đồng thời cũng chịu ảnh hưởng không ít tư tưởng Ả-rập qua các triết gia Averroes và Avicenne, và tư tưởng Do-thái qua triết gia Maimonides. Kinh Viện là trường phái tư tưởng có một ảnh hưởng sâu rộng trong Giáo Hội, nếu không nói là đồng nhất với quan điểm của Giáo Hội trong hầu hết các vấn đề thuộc triết học và thần học.
3. x. Courth, Texte, số 30.
4. x. Augustinus, Serm. 291,6.
5. Panarion 78, 11; x. Courth, Texte, số 45.
6. x. De ortu et obitu Patrum 67; PL 83, 148tt.
7. x. Retr.in Act. Ap. 8; PL. 92, 1014 D.
8. PL. 40, 1141-1148: x. Courth, Texte, số 85.
9. Theo sự tìm hiểu thì người ta đã phỏng đoán là Ambrosius Autpertus, Ratramnus von Corbie và Alkui.
10. x. Georg. Söll, Mariologie (HDG III/4, Freiburg 1978, trang 129.
11. x. De Assumptatione Beatae Mariae Virginis, Serm. 2.
12. x. Summa Th. I, q. 29, a. 1, ad 5.

(Còn tiếp)
Lm Nguyễn Hữu Thy

http://vietcatholic.org/News/Html/86676.htm (http://vietcatholic.org/News/Html/86676.htm)