admin
09-11-2006, 07:22 AM
Mối quan hệ giữa tình cảm và lý trí trong ý thức đạo đức
Chúng ta đều biết, mỗi hành động đạo đức đều xuất phát từ những cơ sở nhất định của một ý thức đạo đức. Trên cơ sở ý thức đạo đức, chủ thể hành động đưa ra những phán quyết cho một sự kiện cần phải có sự đánh giá về mặt đạo đức. Do vậy, việc hiểu rõ cơ sở ý thức đó là gì và bản chất của nó là như thế nào đó là điều có ý nghĩa quan trọng trong việc định hướng xây dựng, bồi dưỡng ý thức đạo đức cho con người, đồng thời cũng giúp cho chúng ta có được những lý giải về rất nhiều vấn đề đạo đức phức tạp trong thực tiễn, nhất là trong bối cảnh phức tạp của một giai đoạn đang có sự chuyển đổi những giá trị đạo đức ở nước ta khi bước vào cơ chế thị trường, toàn cầu hoá và kinh tế tri thức. Với suy nghĩ đó, trong bài viết này, chúng tôi chỉ bàn riêng về cơ sở ý thức của hành động đạo đức, chứ không có ý định bàn đến cơ sở hình thành quan điểm đạo đức.
Trong lịch sử tư tưởng đạo đức đã có nhiều quan điểm khác nhau về cơ sở ý thức của đạo đức. Trong số những quan điểm khác nhau đó, nổi lên hai khuynh hướng đối lập nhau giữa một bên đề cao những tình cảm, xúc cảm và bên kia là lý trí trong ý thức đạo đức. Ngả theo khuynh hướng thứ nhất, Gi.Rútxô cho rằng, khởi nguyên của ý thức đạo đức là tình thương. Đối với ông, tình thương là loại tình cảm nguyên thuỷ của "con người tự nhiên", và chính sự mở rộng tình thương nguyên thuỷ này sẽ tạo nên cơ sở đạo đức của xã hội. Coi tình thương là hiện tượng thứ nhất của đạo đức, là đầu nguồn của những nghĩa vụ pháp lý nghiêm ngặt và nghĩa vụ đạo đức, là ngọn nguồn của cả chính nghĩa lẫn lòng nhân, ông cho rằng, nhờ có tình cảm nguyên thuỷ này mà con người mở rộng lòng độ lượng, khoan dung nhân ái với những kẻ yếu, những người phạm tội và cả loài người nói chung. Với quan niệm này, ông đã phát hiện ra động lực quan trọng nhất khích lệ con người hành động có đạo đức. Nhưng tình thương của ông bắt đầu từ đâu? Gi.Rútxô cho rằng, trước hết chúng ta hãy đặt mình vào địa vị của kẻ đau khổ và khi đó, chúng ta sẽ thấy, để có được tình cảm này, con người luôn cần đến sự trung giới của trí tưởng tượng và do vậy, tình thương có nguy cơ biến mất khi trí tưởng tượng của ta không còn bay bổng, bới phàm những gì ta thấy quá nhiều thì ta không còn tưởng tượng về nó nữa. Như vậy, tình thương mà ông nói đến hình như không phải là thứ tình cảm bền chặt, mà chỉ là những rung cảm tự nhiên, phụ thuộc vào trạng thái tâm hồn của con người, nó giống như một thứ để ta nhấm nháp, thưởng thức khi tâm hồn có được những tưởng tượng bay bổng. Vậy, phải chăng đạo đức không tồn tại với tư cách một phẩm chất, mà tồn tại với tư cách một trạng thái? Nhờ có sự tưởng tượng, Gi.Rútxô khẳng định, ta nhìn thấy nỗi khổ mà mình có thể giúp phải qua nỗi khổ mà người khác đang phải chịu đựng và do vậy, ở ta xuất hiện sự thương cảm. Điều này có nghĩa là: Tôi không muốn người khác đau khổ cất là để tôi không đau khổ, tôi quan tâm đến nỗi khổ của người khác là vì tôi yêu tôi Và như vậy, hoá ra cái "tình thương" của ông cũng chỉ là cái tình thương chính mình - một thứ tình thương "ích kỷ sạch sẽ", hợp logic, thứ tình thương không cần có sự hiến dâng cho người khác một cách tương xứng với một tình cảm đạo đức đích thực. Chính vì vậy mà Gi.Rútxô đã không lý giải được cội nguồn thật sự của tình thương, ông chỉ phát hiện ra con người nhạy cảm, hay con người chỉ biết hưởng thụ sự nhạy cảm của mình một cách ích kỷ.
Phản đối quan điểm của Gi.Rútxô, Cantơ cho rằng, những tình thương nồng nàn dù có đẹp đến mấy thì nó vẫn chỉ là "sức mạnh lôi cuốn mù quáng" và ở nó, thiếu tính phổ biến của những nguyên lý. Theo I.Cantơ, kinh nghiệm không cho phép ta vươn tới tính phổ biến của những nguyên tắc. Tình thương cũng như mọi thiên hướng khác của con người luôn có nguy cơ lệ thuộc vào cái Tôi chủ quan, nhạy cảm và do vậy, nó có thể tách khỏi những đòi hỏi khách quan và phổ biến của đạo đức. Cantơ cho rằng, người ta có thể rất buồn khi phải chứng kiến một đứa trẻ khốn khổ, nhưng người ta cũng có thể bình thản đón nhận tin tức về một trận đánh lớn mà trong đó, rất nhiều người vô tội phải chết. Người đức hạnh không phải là ở chỗ chỉ biết than khóc trước sự bất hạnh của người khác, ngay cả khi tình cảm này đưa họ đến với ý thức về việc thực hiện nghĩa vụ của mình cũng chưa thể chứng tỏ rằng, việc hành động theo nghĩa vụ và những hành vi khác của họ đều có giá trị đạo đức đích thực. Để vươn lên cái phổ biến, cần phải gạt bỏ tất cả những dấu ấn của kinh nghiệm chủ quan để đến với cái "phải là" của luật. Cantơ lập luận, nếu các quy luật tự nhiên không phụ thuộc vào con người thì ngược lại, các quy luật đạo đức lại phụ thuộc vào ý chí con người. Vì vậy, nó chỉ có thể tồn tại được sự cưỡng chế của ý thức thông qua những "mệnh lệnh vô điều kiện (hay mệnh lệnh tuyệt đối)". Mỗi cá nhân đều phải xử thế sao cho quy tắc xử thế đó phù hợp với quy tắc của tất cả. Cantơ tuyên bố: "Hãy để cho lý lẽ phải được thực hiện, cho dù thiên đường có sụp đổ". Từ những quan niệm đó, Cantơ cho rằng, đạo đức là một hiện tượng thuộc lý trí, chứ không phải là sự kiện kinh nghiệm, tình cảm "Các nguyên lý cảm tính nói chung, theo ông, không thích hợp để dựa vào đó mà xây dựng các quy luật đạo đức". Rằng, chỉ có hành động nào của con người xuất phát từ "mệnh lệnh vô điều kiện" mới là hành động có đạo đức. Như vậy, xét về mặt lý trí, đạo đức đã được xác lập, nhưng về phía nhân tính, người ta chẳng còn thấy cái gì thúc đẩy họ hành động một cách có đạo đức. Vậy, phải chăng, khi "được dựng lên” trên bệ của chính nó, cứng đờ trong sự cố chấp, được nâng lên địa vị của người giải phóng, cái ý thức đạo đức lạnh lùng này... là thần tượng mới, dù nó là thần tượng của lý trí?". Trong quan niệm của Cantơ, chúng ta thấy vắng bóng những động cơ đạo đức của con người hiện thực.
Chúng ta đều biết, mỗi hành động đạo đức đều xuất phát từ những cơ sở nhất định của một ý thức đạo đức. Trên cơ sở ý thức đạo đức, chủ thể hành động đưa ra những phán quyết cho một sự kiện cần phải có sự đánh giá về mặt đạo đức. Do vậy, việc hiểu rõ cơ sở ý thức đó là gì và bản chất của nó là như thế nào đó là điều có ý nghĩa quan trọng trong việc định hướng xây dựng, bồi dưỡng ý thức đạo đức cho con người, đồng thời cũng giúp cho chúng ta có được những lý giải về rất nhiều vấn đề đạo đức phức tạp trong thực tiễn, nhất là trong bối cảnh phức tạp của một giai đoạn đang có sự chuyển đổi những giá trị đạo đức ở nước ta khi bước vào cơ chế thị trường, toàn cầu hoá và kinh tế tri thức. Với suy nghĩ đó, trong bài viết này, chúng tôi chỉ bàn riêng về cơ sở ý thức của hành động đạo đức, chứ không có ý định bàn đến cơ sở hình thành quan điểm đạo đức.
Trong lịch sử tư tưởng đạo đức đã có nhiều quan điểm khác nhau về cơ sở ý thức của đạo đức. Trong số những quan điểm khác nhau đó, nổi lên hai khuynh hướng đối lập nhau giữa một bên đề cao những tình cảm, xúc cảm và bên kia là lý trí trong ý thức đạo đức. Ngả theo khuynh hướng thứ nhất, Gi.Rútxô cho rằng, khởi nguyên của ý thức đạo đức là tình thương. Đối với ông, tình thương là loại tình cảm nguyên thuỷ của "con người tự nhiên", và chính sự mở rộng tình thương nguyên thuỷ này sẽ tạo nên cơ sở đạo đức của xã hội. Coi tình thương là hiện tượng thứ nhất của đạo đức, là đầu nguồn của những nghĩa vụ pháp lý nghiêm ngặt và nghĩa vụ đạo đức, là ngọn nguồn của cả chính nghĩa lẫn lòng nhân, ông cho rằng, nhờ có tình cảm nguyên thuỷ này mà con người mở rộng lòng độ lượng, khoan dung nhân ái với những kẻ yếu, những người phạm tội và cả loài người nói chung. Với quan niệm này, ông đã phát hiện ra động lực quan trọng nhất khích lệ con người hành động có đạo đức. Nhưng tình thương của ông bắt đầu từ đâu? Gi.Rútxô cho rằng, trước hết chúng ta hãy đặt mình vào địa vị của kẻ đau khổ và khi đó, chúng ta sẽ thấy, để có được tình cảm này, con người luôn cần đến sự trung giới của trí tưởng tượng và do vậy, tình thương có nguy cơ biến mất khi trí tưởng tượng của ta không còn bay bổng, bới phàm những gì ta thấy quá nhiều thì ta không còn tưởng tượng về nó nữa. Như vậy, tình thương mà ông nói đến hình như không phải là thứ tình cảm bền chặt, mà chỉ là những rung cảm tự nhiên, phụ thuộc vào trạng thái tâm hồn của con người, nó giống như một thứ để ta nhấm nháp, thưởng thức khi tâm hồn có được những tưởng tượng bay bổng. Vậy, phải chăng đạo đức không tồn tại với tư cách một phẩm chất, mà tồn tại với tư cách một trạng thái? Nhờ có sự tưởng tượng, Gi.Rútxô khẳng định, ta nhìn thấy nỗi khổ mà mình có thể giúp phải qua nỗi khổ mà người khác đang phải chịu đựng và do vậy, ở ta xuất hiện sự thương cảm. Điều này có nghĩa là: Tôi không muốn người khác đau khổ cất là để tôi không đau khổ, tôi quan tâm đến nỗi khổ của người khác là vì tôi yêu tôi Và như vậy, hoá ra cái "tình thương" của ông cũng chỉ là cái tình thương chính mình - một thứ tình thương "ích kỷ sạch sẽ", hợp logic, thứ tình thương không cần có sự hiến dâng cho người khác một cách tương xứng với một tình cảm đạo đức đích thực. Chính vì vậy mà Gi.Rútxô đã không lý giải được cội nguồn thật sự của tình thương, ông chỉ phát hiện ra con người nhạy cảm, hay con người chỉ biết hưởng thụ sự nhạy cảm của mình một cách ích kỷ.
Phản đối quan điểm của Gi.Rútxô, Cantơ cho rằng, những tình thương nồng nàn dù có đẹp đến mấy thì nó vẫn chỉ là "sức mạnh lôi cuốn mù quáng" và ở nó, thiếu tính phổ biến của những nguyên lý. Theo I.Cantơ, kinh nghiệm không cho phép ta vươn tới tính phổ biến của những nguyên tắc. Tình thương cũng như mọi thiên hướng khác của con người luôn có nguy cơ lệ thuộc vào cái Tôi chủ quan, nhạy cảm và do vậy, nó có thể tách khỏi những đòi hỏi khách quan và phổ biến của đạo đức. Cantơ cho rằng, người ta có thể rất buồn khi phải chứng kiến một đứa trẻ khốn khổ, nhưng người ta cũng có thể bình thản đón nhận tin tức về một trận đánh lớn mà trong đó, rất nhiều người vô tội phải chết. Người đức hạnh không phải là ở chỗ chỉ biết than khóc trước sự bất hạnh của người khác, ngay cả khi tình cảm này đưa họ đến với ý thức về việc thực hiện nghĩa vụ của mình cũng chưa thể chứng tỏ rằng, việc hành động theo nghĩa vụ và những hành vi khác của họ đều có giá trị đạo đức đích thực. Để vươn lên cái phổ biến, cần phải gạt bỏ tất cả những dấu ấn của kinh nghiệm chủ quan để đến với cái "phải là" của luật. Cantơ lập luận, nếu các quy luật tự nhiên không phụ thuộc vào con người thì ngược lại, các quy luật đạo đức lại phụ thuộc vào ý chí con người. Vì vậy, nó chỉ có thể tồn tại được sự cưỡng chế của ý thức thông qua những "mệnh lệnh vô điều kiện (hay mệnh lệnh tuyệt đối)". Mỗi cá nhân đều phải xử thế sao cho quy tắc xử thế đó phù hợp với quy tắc của tất cả. Cantơ tuyên bố: "Hãy để cho lý lẽ phải được thực hiện, cho dù thiên đường có sụp đổ". Từ những quan niệm đó, Cantơ cho rằng, đạo đức là một hiện tượng thuộc lý trí, chứ không phải là sự kiện kinh nghiệm, tình cảm "Các nguyên lý cảm tính nói chung, theo ông, không thích hợp để dựa vào đó mà xây dựng các quy luật đạo đức". Rằng, chỉ có hành động nào của con người xuất phát từ "mệnh lệnh vô điều kiện" mới là hành động có đạo đức. Như vậy, xét về mặt lý trí, đạo đức đã được xác lập, nhưng về phía nhân tính, người ta chẳng còn thấy cái gì thúc đẩy họ hành động một cách có đạo đức. Vậy, phải chăng, khi "được dựng lên” trên bệ của chính nó, cứng đờ trong sự cố chấp, được nâng lên địa vị của người giải phóng, cái ý thức đạo đức lạnh lùng này... là thần tượng mới, dù nó là thần tượng của lý trí?". Trong quan niệm của Cantơ, chúng ta thấy vắng bóng những động cơ đạo đức của con người hiện thực.