View Full Version : “Nhân” trong luận ngữ của Khổng Tử
admin
09-11-2006, 07:30 AM
“Nhân” trong luận ngữ của Khổng Tử
Nho giáo ra đời vào thế kỷ VI trước công nguyên do Khổng Tử (551 - 479 TCN) là người sáng lập. Tại quê hương của Nho giáo đã từng có lúc rộ lên "Trăm hoa đua nở, trăm nhà đua tiếng", nhưng thực tế đã chứng minh, cuối cùng thì Nho giáo vẫn là học thuyết có sức sống lâu bền nhất.
Lịch sử hình thành, phát triển của Nho giáo với nội dung, tính chất và vai trò lịch sử của nó luôn là đề tài hấp dẫn đối với giới nghiên cứu lý luận. Dường như mỗi một bước tiến mới của lịch sử thì từng vấn đề trong nội dung của Nho giáo lại được đề cập, xem xét lại và được đánh giá một cách đầy đủ hơn, đúng đắn hơn. Có thể nói, một học thuyết ra đời cách đây hơn 2.500 năm đã được sự kiểm chứng của thời gian thì giá trị của nó về mặt lý luận và thực tiễn là điều chúng ta không dễ bỏ qua. Trong khuôn khổ bài viết này chúng tôi chỉ muốn góp thêm tiếng nói về một khía cạnh mà, theo chúng tôi, mang tính tích cực và có ý nghĩa đối với chúng ta trong thời đại ngày nay. Đó là tư tưởng "Nhân" trong học thuyết của Khổng Tử.
Khái niệm "Nhân" trong học thuyết của Khổng Tử được đề cập ở rất nhiều tác phẩm, nhưng trong bài viết này, chúng tôi chỉ đề cập tới nội đung của khái niệm này trong Luận ngữ. Luận ngữ là tác phẩm ghi lại lời bàn luận giữa Khổng Tử và các học trò của ông. Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Hiến Lê, tác phẩm này do nhiều người ghi và ra đời sớm nhất cũng là sau khi Khổng Tử đã mất chừng bảy mươi hoặc tám mươi năm. Chính vì vậy mà nhiều điều do Khổng Tử nói ra đã không được các học trò của ông ghi lại đầy đủ. Điều đó khiến chúng ta gặp không ít khó khăn khi nghiên cứu tư tưởng của Khổng Tử. Trong Luận ngữ có nhiều khái niệm được lặp lại nhiều lần. Chẳng hạn như khái niệm "Nhân"- 109 lần, khái niệm "Người quân tử"- 107 lần, khái niệm "Lễ" - 74 lần, khái niệm "Đạo, 60 lần. Do đó, trong giới nghiên cứu đã có nhiều ý kiến đánh giá khác nhau về nội đung của các khái niệm này.
"Nhân" trong Luận ngữ của Khổng Tử là một trong những khái niệm nhận được nhiều ý kiến đánh giá khác nhau nhất. Có người cho "Nhân" là nội dung cơ bản của Luận ngừ và là tư tưởng chủ đạo của Khổng Tử. Có người lại cho rằng "Lễ" mới là nội đung cơ bản của tác phẩm và có người còn coi cả "Nhân" và "Lễ" đều là nội dung cơ bản của tác phẩm. Theo chúng tôi, quan niệm coi "Nhân" là nội đung cơ bản của Luận ngữ, là tư tưởng chủ đạo của Khổng Tử - đó là quan niệm chính xác, đúng đắn. Chúng tôi đồng ý với quan niệm này không phải là đồng ý với nghĩa là khái niệm "Nhân" được nhắc tới nhiều lần trong tác phẩm, mà chính là vì xuất phát từ hiện thực lịch sử của Trung Quốc lúc bấy giờ. Trung Quốc khi đó là thời kỳ mà "Chiến tranh là phương thức phổ biến để giải quyết mâu thuẫn và quyền lợi, địa vị đương thời". Trong thời đại của Khổng Tử, các tầng lớp thống trị, một mặt, dùng chiến tranh để tranh giành quyền lợi, mặt khác, sử dụng chiến tranh để lôi kéo kẻ sĩ, sai khiến họ bầy mưu tính kế nhằm thu phục thiên hạ và giành quyền bá chủ cho mình. Đứng trước tình hình xã hội như vậy, các kẻ sĩ muốn đùng đạo của mình để cải tạo xã hội và Khổng Tử cũng không phải là trường hợp ngoại lệ. Suất cuộc đời mình, Khổng Tử luôn quan tâm tới vấn đề này. Ong nói: "Ta 15 năm tuổi để chí vào việc học (đạo), 30 tuổi biết tự lập (tức khắc kỷ phục lễ, cứ theo điều lễ mà làm), 40 tuổi không nghi hoặc nữa (tức có trí đức nên hiểu rõ ba đức nhân, nghĩa, lễ), 50 tuổi biết mệnh trời (biết được việc nào sức người làm được, việc nào không làm được), 60 tuổi đã biết theo mệnh trời, 70 tuổi theo lòng muốn của mình mà không vượt ra ngoài khuôn khổ đạo lý". Với một con người suốt đời "học không chán, dạy người không mỏi", lúc nào cũng chỉ muốn đem cái đạo của mình ra giúp đời và giúp cho đời ổn định thì đó phải là người có lòng nhân rộng lớn biết bao.
Trong Luận ngừ, khái niệm "Nhân" được Khổng Tử nhắc tới nhiều lần và tùy từng đối tượng, từng hoàn cảnh mà "Nhân" được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau. Theo nghĩa sâu rộng nhất "nhân" là một nguyên tắc đạo đức trong triết học Khổng Tử. “Nhân" được ông coi là cái quy định bản tính con người thông qua "lễ", "nghĩa", quy định quan hệ giữa người và người từ trong gia tộc đến ngoài xã hội. "Nhân" có quan hệ chặt chẽ với các phạm trù đạo đức khác trong triết học Khổng Tử để làm nên một hệ thống triết lý nhất quán, chặt chẽ và do vậy, đã có người cho rằng, nếu coi các phạm trù đạo đức trong triết học Khổng Tử như những vòng tròn đồng tâm thì "Nhân" là tâm điểm, bởi nó đã chỉ ra cái bản chất nhất trong bản tính con người. "Nhân" cũng có thể hiểu là "trung thứ", tức là đạo đối với người, nhưng cũng là đạo đối với mình nữa. Trong một cuộc nói chuyện với các học trò Khổng Tử đã nói: Đạo của ta chỉ có một lẽ mà thông suất cả. Về điều này, Tăng Tử - một học trò của Khổng Tử cho rằng, Đạo của Khổng Tử là "trung thứ". "Trung" ở đây là làm hết sức mình, còn "thứ" là suy từ lòng mình ra mà biết lòng người, mình không muốn điều gì thì người cũng không muốn điều đó "Trung thứ" là sống đúng với mình và mang cái đó ứng xử tốt với người.
Dù trong Luận ngữ có nhiều sự giải thích khác nhau về "Nhân", song sự giải thích trong thiên "Nhan Uyên" là có tính chất bao quát hơn cả. Có thể nói, ở đây "Nhân" trong quan niệm của Khổng Tử là "yêu người" (Luận ngữ, Nhan Uyên, 21). Nếu nhìn toàn bộ tư tưởng của ông, phải xem nội dung trên là tiêu biểu cho điều "Nhân". "Nhân" là "yêu người", nhưng người nhân cũng còn phải biết "ghét người". Với Khổng Tử thì chỉ có người có đức nhân mới biết "yêu người" và "ghét người". Khổng Tử nói: "Duy có bậc nhân môi thương người và ghét người một cách chính đáng mà thôi" (Luận ngữ, Lý nhân, 3).
Có người cho rằng, "Nhân" (người) trong "ái nhân" (yêu người) là chỉ con người trong giai cấp thống trị và yêu người trong tư tưởng Khổng Tử chỉ là yêu người trong giai cấp phong kiến. Thực ra, khái niệm "Nhân" (người) mà Khổng Tử dùng ở đây là để đối với "cầm thứ'. Do đó, đi liền với "Nhân" (người) là các khái niệm "thiện nhân", "đại nhân", "thành nhân", "nhân nhân", "thánh nhân", "tiểu nhân"... Các khái niệm này nhằm chỉ những con người có tính cách khác nhau, trình độ đạo đức khác nhau. "Thánh nhân" là người có đạo đức cao siêu, "tiểu nhân" là người có tính cách thấp hèn… "Nhân" ở đây là chỉ con người nói chung và "ái nhân" là yêu người, yêu bất cứ người nào, không phân biệt giai cấp, địa vị xã hội của họ.
admin
09-11-2006, 07:30 AM
Trong Luận ngữ, có chỗ Khổng Tử không dùng khái niệm "Nhân" (yêu người), nhưng nội dung thể hiện ở đó lại thấm đượm tình yêu thương cao cả. Qua những trường hợp sau có thể thấy rõ. Có lần một học trò của Khổng Tử là Tử Du hỏi về “hiếu”, Khổng Tử trả lời: "Điều hiếu ngày nay chỉ có nghĩa là cớ thể nuôi cha mẹ. Nhưng đến loài chó ngựa cũng đều được nuôi, nếu không có lòng kính thì làm thế nào phân biệt được". "Hiếu” ở đây vừa có ý nghĩa là nuôi nấng, chăm sóc cha mẹ, vừa phải có lòng kính yêu cha mẹ, yêu thương rất mực đối với cha mẹ. Lại một lần khác, Khổng Tử xong việc ở triều đình về, nghe nói chuồng ngựa cháy, câu đầu tiên ông hỏi là: có ai bị thương không và không nói gì tới ngựa cả. Điều đó cho thấy, ông quan tâm đến sinh mệnh con người (dù đó là những người hầu hạ) hơn là sự sống còn của ngựa (tức là của cải). Tư tưởng "Nhân" là "yêu người" của ông thực sự đã được thể hiện ra mọi nơi, mọi lúc.
Coi "Nhân" là "yêu người", trong Luận ngữ, Khổng Tử đã dành không ít lời để nói về đạo làm người. Khi Nhan Uyên hỏi Khổng Tử về "Nhân", Khổng Tử đã nói: “Sửa mình theo lễ là nhân. Ngày nào cũng khắc kỷ phục lễ, ngày đó mọi người trong thiên hạ tự nhiên cảm hoá mà theo về đức nhân. Vậy nhân là do mình, chớ há do người sao?" (Luận ngữ, Nhan Uyên, l). Trọng Cung - một học trò khác của Khổng Tử hỏi về "Nhân", Khổng Tử cho rằng, thững cái gì mà mình không muốn thì đừng đem thi hành cho người khác - đó là đức hạnh của người nhân (Xem: Luận ngữ, Nhan Uyên, 2). Còn khi Phàn Trì hỏi về Nhân", Khổng Tử giảng giải rằng, “khi ở thà thì giữ điện mạo cho khiêm cung, khi tìm việc thì thi hành một cách kính cẩn, khi giao thiệp với người thì giữ đã trung thành. Dẫu có đi đến các nước rợ Di, Địch cũng chẳng bỏ ba cái đó, như vậy là người có đức nhân" (Luận ngữ, Tử Lộ, 19). Người nhân trong quan niệm của Khổng Tử còn là người phải làm cho năm điều đức hạnh được phổ cập trong thiên hạ. Năm điều đức hạnh đó là: cung, khoan, tín, mẫn, huệ. Ông nói: "Nếu mình nghiêm trang cung kính thì chẳng ai dám khinh mình. Nếu mình có lòng rộng lượng thì thu phục được lòng người. Nếu mình có đức tín thật thì người ta tin cậy mình. Nếu mình cần mẫn, siêng năng thì làm được công việc hữu ích. Nếu mình thi ân, bố đức, gia huệ thì mình sai khiến được người" (Luận ngữ, Dương Hoá, 6). Không chỉ thế, người nhân, theo Khổng Tử, còn là người mà "trước hết phải làm điều khéo, rồi sau mới đến thu hoạch kết quả" (Luận ngữ, Ung dã, 20), và "người cứng cỏi, can đảm, kiên tâm, quyết chí, chất phác, thật thà, ít nói thì gần với nhân" (Luận ngữ, Tử Lộ, 27). Với Khổng Tử, chỉ có người nhân mới có thể có được cuộc sống an vui lâu dài với lòng nhân của mình và dẫu có ở vào hoàn cảnh nào, cũng có thể yên ổn, thanh thản. Do vậy, theo ông, người nhân "bậc quân tử không bao giờ lìa bỏ điều nhân, dẫu chỉ trong một bữa ăn. Người quân tử không bao giờ ở sai điều nhân, dẫu trong lúc vội vàng, khi ngả nghiêng cũng vẫn theo điều nhân" (Luận ngữ, Lý nhân, 5).
Như vậy, có thể nói, trong quan niệm của Khổng Tử, "Nhân" không chỉ là "yêu người", "thương người", mà còn là đức hoàn thiện của con người, và do vậy, "nhân chính" là đạo làm người - sống với mình vả sống với người, đức nhân là cái bền vững như núi sông. Với ông, nếu thịnh đức của trời - đất là sinh thành, bắt nguồn từ đạo trung hoà, trung dung thì cái gốc của đạo lý con người là "trung thứ" và đạo đức, luân lý con người là "Nhân", người có đạo nhân là bậc quân tử, nước có đạo nhân thì bền vững như núi sông. Tuy nhiên, trong thời kỳ Xuân Thu - Chiến Quốc đã có nhiều học thuyết phê phán chữ "Nhân" (yêu người) của Khổng Tử. Có người cho đó là giả đối, có người cho đó là nói suông, có người lại cho đó là nguồn gốc của bất nhân, bất nghĩa... Thế nhưng không phải vì thế mà tư tưởng "Nhân" của Khổng Tử không đi vào lòng của nhiều người đương thời, gây cho họ biết bao sự xúc động và làm cơ sở cho hành động nhân đạo của họ. Thực tế cho chúng ta thấy, "từ đời Hán trở đi, suất trên hai nghìn năm đạo Khổng được độc tôn, Vua Chúa đời nào cũng ráng áp dụng nó, mặc đầu không đúng. Nó thực tế hơn đạo Mặc, đạo Lão, nhân bản hơn thuyết của Pháp gia". Cũng cần phải nói thêm rằng, trong Luận ngữ, tư tưởng "Nhân" của Khổng Tử còn bao gồm nhiều đức khác, như: Trực (ngay thẳng, không giả dối), Kính (nghiêm trang, cẩn trọng, cẩn thận trong công việc), Nghĩa, Lễ...
(http://www.chungta.com/Desktop.aspx/ChungTa-SuyNgam/Suy-ngam/Nhan_trong_luan_ngu_cua_Khong_Tu/)
admin
09-11-2006, 07:31 AM
Để hiểu rõ hơn về tư tưởng "Nhân" của Khổng Tử cần so sánh nó với tư tưởng Kiêm ái của Mặc Tử, tư tưởng Từ bi của đạo Phật. Nếu tư tưởng Kiêm ái của Mặc Tử coi ai cũng như mình, người thân của người cũng là người thân của mình, không phân biệt riêng tư thì "Nhân" phân biệt mình và người, lấy mình làm khởi điểm để phân biệt từ thân đến sơ, từ gần tới xa, phân biệt người tốt, kẻ xấu. Người Nhân trong quan niệm của Khổng Tử coi trọng đạo đức, chú ý phần thiện trong bản tính con người thì người Kiêm ái chỉ chú trọng đến sự cứu giúp vật chất, chú ý đến"giao tương lợi". Tư tưởng "Nhân" của Khổng Tử cũng khác xa tư tưởng Từ bi của đạo Phật. Phật thương người và thương cả vạn vật. Lòng thương của Phật có một nỗi buồn vô hạn, buồn cho sự mê muội của sinh linh, tìm cách giải thoát mọi sinh linh ra khỏi vòng sinh, lão, bệnh, tử. Còn đạo Khổng tìm mọi cách giúp cho con người sống một cuộc sống vui vẻ hơn, có nghĩa lý hơn và tìm kiếm hạnh phúc ngay trên cõi trần chứ không phải ở trên cõi niết bàn. Chính vì vậy, ngay cả khi tư tưởng từ bi, cứu khổ, cứu nạn của Phật giáo du nhập và có chỗ đứng trong đời sống tinh thần của con người Đông Á thì nó cũng không thể thay thế được vai trò của đạo Khổng. Có thể nói "Nhân" của Khổng Tử là tư tưởng nhân đạo chủ nghĩa tiêu biểu nhất trong lịch sử các nước ở phía đông của Châu Á này.
Có thể nói, chế độ phong kiến Đông Á kéo dài được mấy nghìn năm một phần là nhờ tư tưởng "Nhân" của Khổng Tử. Nhờ có đường lối "nhân nghĩa" của Khổng - Mạnh mà xã hội đó được ổn định, con người với con người có quan hệ hòa hợp, còn xã hội trở thành một khối bền vững. Sự trì trệ của xã hội phong kiến đó ở giai đoạn sau là do nguyên nhân khác, chứ không phải do nguyên nhân ở tư tưởng "Nhân" của Khổng Tử.
Ngày nay, chế độ xã hội đã khác trước. Con người ngày nay cần một thứ nhân đạo chủ nghĩa phù hợp với thời đại mình. Nhưng không phải vì vậy mà tư tưởng "Nhân" của Khổng Tử không còn có ý nghĩa. Xã hội ngày nay vẫn còn những người nghèo khó, đói rét, cô đơn, bất hạnh, những con người này rất cần đến sự quan tâm, thông cảm, giúp đỡ của người khác và của cả cộng đồng. Do vậy, tư tưởng "Nhân" là yêu người của Khổng Tử vẫn còn có thể phát huy tác dụng.
Xã hội là một cộng đồng của những con người, giữa họ có nhiều mối quan hệ. Nếu mỗi người chỉ biết xuất phát từ lợi ích của mình để đối xử với người khác, nếu chỉ nghĩ đến lợi ích của mình mà không thấy được quyền lợi của người khác thì xã hội sẽ có biết bao thảm kịch xảy ra. Một khi mỗi con người đều biết quan tâm, nhường nhịn và hỗ trợ người khác thì không những họ thấy cuộc sống của bản thân yên ấm, hạnh phúc, mà cả cộng đồng của họ cũng có sự gắn bó, bền vững và có nhiều điều kiện để khắc phục những tai nạn do khách quan đưa lại. Điều này không những đúng với xã hội ngày xưa, mà còn đúng với cả xã hội ngày nay. Khi xã hội loài người đang trong quá trình toàn cầu hoá, phấn đấu để thế giới trở thành "ngôi nhà chung", không còn có cộng đồng lớn hay nhỏ đứng ngoài "ngôi nhà chung" ấy, thì chúng ta càng cần phải xích lại gần nhau, tạo ra những tiền đề cơ bản để có thể xây dựng một ngôi nhà chung mang một sắc thái mới, đó là: đa sắc tộc, đa tín ngưỡng, đa văn hoá và trên hết là có một tinh thần bao dung.
Có thể nói, phạm trù "Nhân" của Khổng Tử đã ra đời trong thời đại phong kiến, mang sắc thái của xã hội phong kiến, có những điều không còn phù hợp với ngày nay, nhưng việc tìm hiểu và rút ra được “hạt nhân hợp lý" của nó vẫn là việc chúng ta nên làm, cần làm.
Lê Ngọc Anh
Tạp Chí Triết Học
Nguồn: Chungta (http://www.chungta.com/Desktop.aspx/ChungTa-SuyNgam/Suy-ngam/Nhan_trong_luan_ngu_cua_Khong_Tu/)
admin
10-11-2006, 06:47 AM
ĐẠO LÀM NGƯỜI
Hoành Sơn
Ý thức luân lý
Con vật chỉ phản ứng theo bản năng, nghĩa là cái bản năng “trời ơi” ấy làm thay cho nó hết. Duy chỉ con người mới hành động thật, nghĩa là làm tự mình, do lý trí soi lối và ý chí quyết định. Nên khởi động là ở việc cân nhắc và quyết định này, chứ không phải ở hoạt động cơ bắp và thần kinh. Chính vì thế, đắn đo và quyết muốn đã được gọi là hành vi (act) rồi, để khi tòa án luận tội thì phải dựa vào đó mà xét. Vâng, dù anh quyết giết người mà chưa giết được, thì anh đã phạm tội trước lương tâm anh, còn tòa án thì kết tội anh cố ý mưu sát.
Sở dĩ con người có trách nhiệm, không về động tác bên ngoài cho bằng về hành vi nội tâm (cũng là nội tại, immanent), vì chỉ nội tâm mới là giang san riêng của tôi, chỉ ở nội tâm tôi mới thực là chủ, là tổng tư lệnh. Ở nội tâm đó, tôi vừa là nhà lập pháp, vừa là quan tòa và kẻ thi hành án luôn. Và đây là lương tri, hay tiếng nói lương tâm.
Do đâu mà có cái lương tâm lạ lùng ấy? Freud giải thích nó bằng then máy của Siêu ngã. Đây là uy quyền người cha cùng với những cấm đoán bị “đồng hóa” (identification) hay hội nhập vào đứa bé, thành một thứ Tôi trên tôi nó kiềm chế và kiểm soát tôi. Có điều Freud không cho biết vì sao có cái hương vị luân lý đi kèm, khiến “quyết lệnh luân lý” (impératif moraux) phân biệt với những loại cấm cản, ức chế (inhibition) khác. Lại nữa, cưỡng bách luân lý luôn giả thiết tự do, đến nỗi khi không còn tự do, dù do hoàn cảnh bên ngoài, dù do bệnh tâm thần bên trong, thì cưỡng bách luân lý cũng tiêu tan.
Chúng tôi không nghĩ như Nho giáo và các triết gia Cổ Trung Hoa, rằng con người khi sinh ra, nhất là người nguyên thuỷ, đã có ngay những đức như nhân nghĩa trong mình. Mà thực ra, họ chỉ có một thứ nhạy cảm luân lý hay cảm thức thiện ác, để rồi từ thứ nhạy cảm này, với sự trợ giúp của lý trí và kinh nghiệm, sẽ khám phá ra dần dần cái gì là hợp với tính người, tức thiện, và cái gì nghịch lại, tức ác. Chứ hồi đầu, loài người chỉ có một cảm nhận chung chung, nó là một thứ nguyên tắc tối ư tổng quát:
- Điều thiện thì nên làm, điều ác thì phải lánh!
Chứ còn cái gì là lành hay ác thì lại khác, khiến cho về lâu về dài và từ vùng trời này đến vùng trời kia, có thể có những quy tắc luân lý cụ thể trái ngược nhau, ít là ở bề nổi và về mặt thực hành.
admin
10-11-2006, 06:49 AM
Đạo làm người
Nếu Tây Trúc chỉ trọng có tôn giáo, và coi luân lý chỉ có ích trong giai đoạn vô minh, luân hồi thôi; và nếu Tây phương tuy đề cao luân lý đấy, nhưng coi nó là vấn đề riêng của loài người; thì Á Đông chẳng những để luân lý bao trùm luôn tôn giáo – hay nói cho đúng hơn, đặt bổn phận đối với Trời và thần thánh, tức tôn giáo, lồng cả trong Đạo làm người, tức luân lý – mà còn đặt luân lý vào trong cái Đạo tối thượng nó bao trùm cả Thiên Địa Nhân. Vâng, luân lý chỉ là một trong những hiển thể của Đạo, và gốc của nó nằm ở Mệnh Trời.
Theo Lão tử, Đạo ở gốc của nó thì không gọi được tên, không định được dạng, không hiển ra bằng đức và quy luật rõ ràng. Và đây mới là Thường đạo. Ngay Trời được coi là gốc của tất cả, thì nơi Trời, Đạo cũng có hai mặt Vô danh và Hữu danh như thế:
Vô danh vạn vật chi thuỷ,
Hữu danh vạn vật chi mẫu.
Còn con người, nếu sống đạo sâu xa, đến như thành một với đạo: “đồng ư đạo (1), thì người ta cũng không cần nghĩ đến Đức, huống nữa đức này hay đức kia (2):
“Mất đạo rồi mới có đức,
Mất đức rồi mới có nhân…”(3)
Có thuyết cho rằng Nhân đạo là do Trời định, có thuyết lại cho rằng do tự nhiên thôi, không cần Trời phải muốn thế mới thành như thế.
Theo tôi nghĩ, nên dung hòa giữa hai ý kiến, bằng cách vượt trên cả luật tự nhiên lẫn thiên ý. Như thế cũng phù hợp với cách hiểu của khoa học hôm nay về đạo của đất, tức quy luật của tự nhiên.
Vâng, theo ý tôi, Trời chỉ cần đặt giữa hư không một Thiên mệnh hay ý hướng, để giữa hư không ấy nổ lớn một Bigbang, rồi từ cái bắt đầu nó như có như không, giữa năng lượng và hạt này, mà vật chất sinh ra, vật chất ấy tự tìm lối cho mình hướng về cái mới chỉ là ý Trời hằn in trên nó. Tìm đường, nó phải dò dẫm, mày mò, để rồi mỗi khi tiến được một bước, nó liền để vết cho tất cả sau đó lặp lại (répétition): vết ấy chính là quy luật, chứ quy luật không có sẵn trước đâu. Nên quy luật đúng là tự nhiên, mà cũng đúng là ý Trời. Nếu hướng nhắm của Trời là sự sống, và giữa sự sống là con người, thì nơi con người ấy cũng có một Thiên mệnh chiếu in thành Tính, để với cái Tính lý tưởng và cái Đạo “thường đạo” chung chung này, con người cũng sẽ dò dẫm tìm đường, tự khai phá lấy cho mình một hệ thống các đức và quy luật luân lý chúng hướng dẫn hắn trên đường thành thánh, thành nhân.
admin
10-11-2006, 06:50 AM
Hướng nhắm là Đạo, nhưng vững Đạo là ở Đức
Tính là cái đích phải vươn tới, Đạo là đường đi nói chung, nhưng thể hiện Đạo ra trong cuộc sống lại là Đức, và cụ thể hơn, là các đức như nhân, nghĩa, v.v… Cho nên để đạt đạo trong điều kiện hiện sinh của loài người, không thể không trui rèn các đức tính, chúng hiển lộ Đạo và làm cho Đạo vững lên:
- Chí vu Đạo, cứ vu Đức
Nếu Lão tử chỉ nói về Đạo, thì thực tế hơn Khổng tử chỉ bàn về các đức. Về đức Khổng Khâu kể ra, nào là Cung khoan tín mẫn huệ, nào là Nhân nghĩa lễ trí tín, nào là Kiệm khiêm tiết trực và Trung thứ hiếu đễ. Nhưng đức mà Khổng tử năng nhắc đến và nhấn vào nhiều là Nhân Trí Dũng, là Thành và Trung Dung. Có thể nói đây là những đức trụ (cột) của tòa nhà đạo đức Khổng giáo.
Luân lý Hy-La cũng có những đức trụ (vertus cardinales) mà Cicero ghi rõ trong tác phẩm De officiis (Về các bổn phận) của ông, và đây là: Tiết độ, khôn ngoan, công bình và can đảm. Trong bốn đức ấy, có đến ba thuộc cương, còn khôn ngoan thuộc phán đoán hơn nên không kể. Trái lại, trong năm đức trụ Nho giáo, rõ ràng thuộc cương chỉ có Dũng và Thành, và chúng được lòng Nhân nhuần thấm khiến cho ôn dịu lại. Hơn thế, trong tâm ý của đức Khổng, ngũ đức nói trên mang một ý nghĩa rất sâu xa.
Cao sâu nhất có lẽ là Thành và Trung Dung, mà Đức Khổng dành cho cả một cuốn sách: sách Trung Dung.
Dẫn nhập cho Trung Dung, Trình tử định nghĩa Trung như sau: “Bất thiên chi vị Trung”, không thiên lệch, đó là Trung. Câu nói ấy khiến có thể hỉêu là Đừng đi quá, hay Tránh thái quá và bất cập. Quả đúng là có “tránh thái quá và bất cập” đấy, nhưng đây chỉ là kết quả hay cái ngọn thôi. Để hiểu đúng Trung là gì ở gốc của nó, thì cứ việc đọc tiếp liền sau đó, nơi lời diễn giải đầu tiên của Đức Khổng.
Hỉ nộ ai lạc chi vị phát, vị chi Trung;
Phát nhi giai trùng tiết, vị chi Hòa!
(Mừng giận buồn vui khi chưa phát sinh, thì đó là Trung;
Phát sinh mà đúng hợp [với cảnh, việc], thì đó là Hòa)
Nói cách khác, Trung có gì giống như trạng thái nội tâm lúc chưa xảy ra biến cố: không ghét, ham, mừng, giận, nghĩa là không nghiêng lệch bên này hay bên kia; để khi biến cố xảy ra rồi, thì phản ứng nếu phù hợp và đúng mức cần, thì đó là hòa hợp với đạo. Vừa đúng mức, chứ không để cho thành kiến, đố kỵ hay quan hệ thân, thù chi phối mảy may, thì đúng là Khách quan rồi. Cũng đúng là Bất thiên (indifferentia) của tu đức học Kitô giáo, tình trạng không thiên lệch giống như khi chưa xảy ra sự việc, để khi xảy ra thì phản ứng đúng mức theo bổn phận và đạo làm người đòi hỏi, chứ không do thiên lệch mà làm quá, cũng không do sợ nể mà bất cập.
Thật ra, nếu chỉ Trung thôi thì chưa có gì nói lên tình cảm gắn bó với lẽ phải và sự thật, nên sánh đôi với Trung, cần phải thêm đức Thành nữa. Thành không phải chỉ là nghĩ sao nói thế. Thành trước hết phải là có sao nghĩ vậy, đánh giá đúng như vậy, nghĩa là Thành với tâm và lương tri, và như thế cũng là khách quan, là Trung luôn.
Nếu luôn thành và trung với lương tri như thế, thì lương tri không còn chi che khuất, sẽ khiến Đạo ngày càng hiện rõ, thành như trong suốt, và đây là Trí, là Minh: Trí hướng về hiểu biết thuyết lý, còn Minh hướng về cụ thể và thực hành. Vậy Minh là phân định (discernement) nó giúp người ta đánh giá một ý nghĩ là đúng hay sai, cũng như giúp ứng phó thế nào cho hợp đạo trong một trường hợp cụ thể. Một đánh giá có tính thực hành thôi, chứ hiểu tại sao lại thế, thì cần phải Trí nữa.
Có điều, để từ phân định mà chuyển thành hành động, thì phải có thêm Dũng, không phải cái “dũng của người phương Bắc” để xông pha giữa rừng gươm lửa đạn, mà cái “dũng của người phương Nam” để chiến đấu với chính mình.
Lại nữa, để hành động thẳng ngay mà vẫn còn tính, tình người, thì lại phải có thêm lòng Nhân. Với lòng nhân, người ta dễ cảm thông nỗi khổ của người khác và tôn kính sự sống nói chung, như Trần Trọng Kim nhận xét:
- “Nhân là đầu các điều thiện, chủ bồi dưỡng sự sinh của trời đất” (4).
Vì là đầu các điều thiện, Nhân thành đỉnh cao của cả tòa nhà đạo đức, mà ở đấy mọi đức tỏa sáng Nhân và dung hợp với nhan đề làm nên một nhân cách hoàn mỹ, một con người hoàn bị:
- “Quân tử thể Nhân, tức dĩ trưởng nhân” (5).
Trong lúc chưa đạt tới đỉnh cao ấy, thì các đức cương nhu đối nghịch phải sánh đôi để mài giũa và bổ túc cho nhau, nhờ đó tránh thái quá hay bất cập. Vâng, trực quá sẽ tàn nhẫn, khoan dung và từ bi quá sẽ nhu nhược và khuyến khích sự ác.
admin
10-11-2006, 06:50 AM
Từ đức hạnh bên trong đến thuần phong bên ngoài
Đức hạnh là của tâm hồn, nên có vẻ như gói gọn bên trong mỗi cá nhân. Bởi lẽ các gốc của một việc làm tốt không phải là những cử chỉ nhìn thấy bên ngoài, cho bằng tâm tình cùng với động cơ và ý hướng vốn ẩn khuất sâu trong nội tâm chúng ta. Quả thật đức tính không do sự lặp lại của những vận động cơ bắp, mà của những tâm tình và ý muốn, mà những vận động kia chỉ là biểu hiện bên ngoài thôi. Vâng, nếu chỉ có bên ngoài, thì về lâu về dài, cử chỉ (đóng kịch) kia chỉ ngày càng làm thui chột tình cảm đi. Trái lại, tình cảm thương người nếu lặp đi lặp lại sẽ ngày càng vững, càng sâu thêm mãi mãi, khiến cho từ đây, chỉ cần thấy một trẻ em khóc, một con chó rên la, là anh sẽ nhói đau ngay trong lòng, để rồi chính cảm xúc này sẽ đẩy đưa tay chân và miệng lưỡi của anh.
Tuy đức hạnh là của tâm hồn đấy, nhưng hễ lòng đầy sẽ ngứa ngáy tay chân, khiến cho một đạo đức chân chính luôn được biểu hiện trong lời nói, việc làm và đời sống. Do đó mà nó thành lây lan, và khi có nhiều người tốt, nhiều hành động tốt diễn ra như vậy, thì tất cả sẽ tạo nên một bầu khí, một môi trường, cùng với cách làm, cách nghĩ tưởng và đánh giá chung của một xã hội. Và đây là thuần phong, mỹ tục. Để rồi sinh ra giữa một môi trường như thế và được giáo hóa theo cung cách sống ấy, đứa trẻ sẽ tốt lên. Vâng, một phong hóa tốt và một giáo dục tốt luôn là cần thiết để tạo nên những xã hội tốt và những nhân cách hoàn mỹ.
Các xã hội xưa, như xã hội Kitô giáo phương Tây trước thế kỷ XIX và xã hội Nho giáo phương Đông trước thế kỷ XX, đều có một phong hóa khá cao nó rèn đúc nên những mẫu người tuyệt vời trong suốt nhiều thế kỷ. Có điều, một phong hóa không thể không có những khuôn, những luật lệ cùng với dư luận chúng gò ép con người, mà khi gò ép quá nhiều và quá mạnh, thì tự do mất đi sẽ khiến khó sống đạo đức sâu bởi khó sống tự mình. Bầu khí sẽ trở nên khó thở khi con người hiểu biết nhiều hơn, khiến cách mạng bùng nổ thành dây chuyền, mà người ta muốn phá đổ hết những gì là truyền thống cùng với những ràng buộc. Trong cuộc lật đổ lan rộng ấy, chẳng những cái xấu mất đi, mà những cái tốt cũng tan theo luôn, trong đó có truyền thống đạo đức.
Ngày nay, vì xã hội sa đọa quá rồi, nhiều người bên phương Đông muốn trở về với Nho giáo. Có điều nên nhớ, không thể trở về với truyền thống mà không biến đổi nó để nó phù hợp hơn với cuộc sống của chúng ta hôm nay. Vâng, phải chắt lấy và giữ lại cái gì là tinh tuý hay tinh thần, như Nhân Trí Dũng, như Thành và Trung Dung, cùng với Hiếu, Nghĩa, Tiết. Còn Tam cương, Ngũ thường, thì phải sàng lọc kỹ thôi, không thể giữ đủ hết.
Cuộc chiến vì phong hóa không phải là một với cuộc chiến vì sự thiện, bởi lẽ sự thiện thuộc tinh thần, còn phong hóa chỉ là biểu hiện bên ngoài, dù môi trường phong hóa rất cần cho giáo dục và sự phát triển của đạo đức. Có điều con người không thể sống và phát triển mà tách khỏi xã hội và văn hóa được, dù xã hội với cái vỏ bề ngoài và những khuôn cứng nhắc đôi khi cũng cản lối tinh thần nữa. Cho nên vấn đề là phải chọn giữa những hình thức và khuôn, vừa phải tạo bầu khí thanh thoáng của tự do, vừa phải giới hạn một phần tự do ấy để bảo vệ thuần phong mỹ tục. Trong thời đại của thông tin nghe-nhìn (audio-vision) hôm nay, một đằng phải hạn chế những phim ảnh và âm nhạc khiêu dâm hay kích động bạo lực, đằng kia phải đầu tư người và của cho những tiểu thuyết và phim ảnh đề cao tình đồng loại và quan hệ sư đệ, gia đình. Có điều xưa kia gần như chỉ người dưới mới có bổn phận đối với người trên, chứ ngày nay thì để người dưới dễ tuân phục người trên, chính người trên cũng phải làm gương cho người dưới và tìm hiểu tâm tư và nguyện vọng của giới trẻ chúng là con em, đệ tử của họ.
admin
10-11-2006, 06:51 AM
Đạo đức và nhân phẩm
Con người sinh ra đã đáng tôn quý rồi. Sự đáng tôn quý hay nhân phẩm ấy được Khổng giáo gọi là Lương quí và Thiên tước, tức cái Quí và Tước tự nhiên Trời ban (Mạnh tử 6A, 16-17). Tại sao sinh ra đã đáng tôn đáng quý như thế, thì theo Mạnh tử giải thích, con người luôn chứa sẵn trong mình những đức như nhân và nghĩa.
Thật ra, không phải đứa bé hay người nguyên thuỷ đã sẵn có những đức ấy, mà bằng chứng là đứa bé sinh ra rất ích kỷ (6), còn người nguyên thuỷ thì suốt một thời gian dài sống không khác cầm thú bao nhiêu. Vâng, cũng như qua kinh nghiệm và giáo dục, người ta tạo dần khoa học và văn hóa, thì đứa bé cũng cần được dạy dỗ và người nguyên thuỷ phải mò mẫm nhiều thế hệ mới biết đạo làm người.
Có điều, sở dĩ chỉ con người mới có tri thức lý tính, là vì khi sinh ra nó đã sẵn lý trí rồi. thì cũng thế, sở dĩ chỉ con người mới khám phá ra đạo làm người, vì sinh ra nó đã mang sẵn một hướng thiện nó đi kèm nhạy cảm thiện ác, để rồi nhờ lý trí và bằng kinh nghiệm, nó khám phá dần cái gì là thiện, là ác. Việc khám phá ấy vừa là của những thánh hiền sống nhiều với nội tâm và tiến xa trên đạo làm người, vừa là của chung một xã hội tốt đã thành môi trường sống và sự nâng đỡ cho bao thế hệ thánh hiền như thế.
Một khi đã cố gắng rất nhiều để thành nhân, thành thánh, thì không những người ta chỉ đáng tôn quí bằng cái nền tảng lương quí và thiên tước tự nhiên kia, mà còn bằngphẩm hạnh đạt được của một con người đã bao năm trung thành với tiếng gọi làm người của mình. Bằng như ngược lại, thì “cái tốt mà hư đi thì càng tệ thêm” (corruptio optimi, pessima), khiến cho sinh ra, thì lương quí như nhau đấy, nhưng càng sống, người ta càng xa biệt nhau về nhân phẩm:
- “Cố phân đồng loại giả, cử lương tri dã” (Mạnh tử 6A,7)
- “Tính tương cận…, tập tương viễn” (Luận ngữ, 17.2)
Thật ra, thì sự lương quí hay đáng tôn quí tự nhiên không phải do nhân nghĩa tiềm tàng cho bằng do một cái gì cơ bản hơn, và đây là bản vị, mà ngày nay triết học quen gọi là cái vị-thân (le pour-soi). Vâng, cỏ có mặt là vì con bò, con trâu; trong khi bò và trâu hiện hữu là vì chủng loại chúng và vì con người, chứ con người thì sống vì chính mình, nên không thể bị hy sinh cho cái gì khác, thậm chí không thể bị hy sinh dù cho cả một xã hội. Và đây là lý do tại sao nó phải được tôn kính vì chính nó, cũng như tại sao nó phải sống xứng với nhân phẩm của mình, và đấy là Tính, là Đạo, là Nhân nghĩa.
----
Chú thích
(1) Đạo Đức kinh, ch.XXIII.
(2) “Thượng đức bất đức” (ch.XXXVIII)
(3) Ch.XXXVIII.
(4) Nho giáo, quyển thượng, Trung tâm Học liệu xuất bản, tr.44
(5) Kinh Dịch: văn ngôn truyện
(6) Về sự ích kỷ của con nít, xin xem St.Augustin, Les confessions, ch.VII-VIII.
Nguồn: Dunglac.net (http://dunglac.net/bai/hsquy-03.htm)
vBulletin v3.5.2, Copyright ©2000-2012, Jelsoft Enterprises Ltd.