admin
25-01-2011, 04:58 AM
PHƯỚC CHO AI CÓ TÂM HỒN KHÓ NGHÈO, VÌ NƯỚC TRỜI LÀ CỦA HỌ
SUY NIỆM PHÚC ÂM (IV A 14); (30.01.2011); (Mt 5, 1-12).
CHÚA NHẬT IV, PHỤNG VỤ THƯỜNG NIÊN, NĂM A
NGUYỄN HỌC TẬP
Đoạn Phúc Âm đơn sơ và long trọng về các mối phước thật là một trong những sứ điệp có ý nghĩa nhứt của Chúa Giêsu xác định rõ căn tính của ai là môn đệ Người.
Thánh Matthêu đã ghi lại và diễn giải một cách hữu hiệu không thể quên được chân dung những ai mà Chúa Giêsu cho biết
- đâu là mẫu gương cho những kẻ đi tìm ý nghĩa của cuộc sống
- và cách hành xử khác đi là thái độ của những ai liều lĩnh trách xa khỏi Phúc Âm Người và khỏi Thiên Chúa.
Trước khi tìm hiểu ý nghĩa của “Tám mối phước thật”, chúng ta thử xác định địa danh, để hiểu biết thêm thành phần của nhóm người Galilei hôm đó được Chúa Giêsu phán cho sứ điệp là ai.
Hôm đó có một nhóm người Galilei theo Chúa Giêsu lên một địa điểm ở cao độ:
- "Thấy đám đông, Chúa Giêsu lên núi. Người ngồi xuống, các môn đệ đến bên cạnh” (Mt 5, 1).
Địa điểm nơi “Chúa Giêsu lên núi, Người ngồi xuống” đó là một địa điểm ở phía trên các thánh điện Kitô giáo ngày nay ở Tabga và Capharnaum.
Có lẽ chúng ta không còn biết được chính xác nơi Chúa Giêsu ngồi xuống hôm đó để rao giảng sứ điệp cho “các môn đệ” và “đám đông dân chúng".
Nhưng theo truyền thống hành hương hàng bao thế kỷ, có lẽ đó là trên một ngọn núi, nhìn xuống Biển Hồ Tiberiade và vết tích hý trường lộng lẫy, bao la bao gồm chung quanh bên dưới.
Trong tình trạng xã hội, chính trị nào lúc đó dân chúng đang sống, khiến cho họ khi nghe được có Chúa Giêsu, vị ngôn sứ Nazareth đến rao giảng trên miền đất của họ, “đám đông” đoàn lũ dân chúng liền nức lòng chạy đến để nghe Người. Hiểu biết được bối cảnh lịch sử lịch đó, chúng ta có thể biết được lời giảng dạy của Chúa Giêsu không phải là lý thuyết trên mây trên gió, mà có liên hệ đến cuộc sống thực tế của những ai đang quây quần bên Người để lắng nghe.
Và đây là bối cảnh lúc đó:
1) Không xa lắm, bên bờ phía tây của Biển Hồ, lúc đó và ngay cả hiện thời vẫn còn có thị trấn Tiberiade, thị trấn được xây cất dưới thời Erode Antipa, để tôn vinh hoàng đế Roma là Tiberio, là người đỡ đầu và là ông chủ của Erode. Cả người đỡ đầu cũng như kẻ được tín nhiệm là biểu tượng cho quyền lực con người, đàn áp và bóc lột những ai không có khả năng để tự vệ, và tất cả những ai muốn có được phẩm giá và tự do con người.
2) Đối diện với thị xã Tiberiade, phía bên kia bờ hồ, là pháo đài vững chắc Gamla, bất lay chuyển trước những cuộc tất công (hiện nay là di tích khảo cổ), trên một ngọn đồi của Golan. Đó là sào huyệt của bọn người cuồng tín (trong cách suy nghĩ của quân xâm nhập Roma cho là vậy) hay “bọn trộm cướp”, luôn luôn tìm cách kháng chiến, chống lại quân ngoại xâm Roma. Và hai người trong số “bọn đó” là hai kẻ cùng bị đóng đính với Chúa Giêsu.
3) Ở xa, về phía nam chân trời, trên các ngôn núi của miền Transgiordania, chúng ta cò thể trông thấy được thị xã Gadara, một trong mười thị xã liên kết Hy Lạp - Roma (Decapoli). Gadara nơi mà từ đó Chúa Giêsu và các môn đệ ra đi, để lên núi, nơi Người nói lên sứ điệp "Tám mối phước thật” hôm nay. Loạt các thị xã đó là những thị trấn sầm uất với đền đài, hý trường, khu thương mại, nói lên nhãn quan cuộc sống tự lập, huy hoàng, tự do tôn giáo và luân lý, đầy hấp dẫn và cám dỗ ai cũng muôn đến để sống tự do, thay vì quan niệm cổ truyền có tính cách ràng buộc của truyền thống Do Thái.
4) Sau cùng, không xa lắm nơi các môn đệ và “đám đông” dân chúng nghe lời giảng “Tám mối phước thật” là thị xã Korazim, Capharnaum và Betsaida. Chúa Giêsu và các môn đệ ra khỏi đó, để tỏ thái độ đối với các hình thức thực hành tôn giáo và đạo đức giả, mà nhóm Pharisêu và các kinh sư áp đạt lên dân chúng
Chúa Giêsu phán quyết rằng các cách “sống đạo” như vậy là “sống đạo” tách rời khỏi đường lối công chính để thờ phượng Chúa, hay nói đúng hơn, đó không phải là cử chỉ chính đáng và khiêm nhường trong mối tương giao với Chúa.
Sau những tìm hiểu về địa danh lịch sử có liên quan đến sứ điệp “Tám mối phước thật”, chúng ta thử tìm hiểu nội dung, mà Chúa Giêsu muốn nói với các môn đệ và đám đông hôm đó, cũng như với chúng ta.
Để tránh cho bài viết quá dài, chúng ta chỉ suy niệm hai mối “đầu" và mối "cuối”, vì có liên hệ với nhau.
1 - Phúc thay ai có tâm hồn khó nghèo, vì Nước Trời là của họ.
Trong bối cảnh địa thế và tâm thức được tìm hiểu ở trên, chúng ta có thể mường tượng được đây là sứ điệp tạo ra chấn động "choc" giữa những người nghe Chúa Giêsu hôm đó.
Để cho sứ điệp được hiểu biết một cách chính đáng, chúng ta nên để ý đến thành ngữ được dùng như trạng từ để xác định cho tỉnh tử khó nghèo, đó là thành ngữ “trong tâm hồn”:
- “Phúc thay ai có tâm hồn khó nghèo” (khó nghèo trong tâm hồn); vì Nước Trời là của họ” (Mt 5, 3).
Đây là “trạng từ” (chúng ta tạm gọi như vậy) chỉ có trong Phúc Âm Thánh Matthêu, so với Phúc Âm Thánh Luca.
Trạng từ vừa kể xác định rõ hơn là đừng nên hiểu tỉnh từ “khó nghèo” đồng nhứt rập khuôn với tình trạng “thiếu phương tiện", "thiếu thốn, túng thiếu".
Bởi lẽ sự khó nghèo kinh tế “thiếu các phương tiện”, để thoả mãn nhu cầu, có nhiều lý do, trong đó có cả lý do vì “thói hư, tật xấu, chễnh mãng, lơ là, uể oải, bất động, ăn không ngồi rồi, thiếu trách nhiệm".
Bởi đó cần phải xác định "khó nghèo” của Phúc Âm không phải đồng nhứt với “khả năng kinh tế hạn hẹp”.
Người nghèo khó, trong ý nghĩa Thánh Kinh, là người trút bỏ đi chính mình, chinh cá nhân mình, bỏ đi tính cách tự cao tự đại cho rằng mình có khả năng tự kiến tạo đời sóng của mình, để dành chỗ rộng lớn cho Chúa trong đời mình, dành lợi thú của mình quy về Thiên Chúa.
Hiểu như vậy, người khó nghèo “trong tâm hồn” của sứ điệp Chúa Giêsu là con người khiêm nhường. Đó cũng là những gì chúng ta đọc được ở bài đọc I :
- “Hỡi tất cả những ai nghèo hèn trong xứ sở, những kẻ thi hành mệnh lệnh của Chúa, anh em hãy tìm kiếm Người; hãy tìm sự công chính, hãy tìm đức khiêm nhường, thì may ra anh em sẽ được che chở trong ngày thinh nộ của Thiên Chúa” (Soph 2, 3).
Như vậy "người nghèo” trong Phúc Âm được hiểu đồng nghĩa với ngưòi khiêm nhường, khiêm nhường nhưng không phải là kẻ ngồi cú rủ, thất vọng như kẻ bị phá sản, mà là người mở rộng mình ra với Chúa và với anh em.
Ai giải thoát mình khỏi chính cái tôi, cái nhìn hạn hẹp và lối sống ích kỷ, tự tại huênh hoang, tự tại, ta đây, để mở rộng tâm hồn mình ra cho đồ án Thiên Chúa, sẽ gặp được sự hoàn hảo, giàu có sung mãn, sẽ gặp được Nước Trời, chiếm được Nước Trời làm của mình:
- “Phúc thay ai có tâm hồn khó nghèo, vì Nước Trời là của họ” (Mt 5, 3).
Thánh ngữ "Nước Trời” là thành ngữ cá biệt của Phúc Âm Thánh Matthêu, để nói lên ý nghĩa sự hiện diện của Chúa trong lịch sử con người, trong lịch sử của mỗi người.
Như vậy “người có tâm hồn khó nghèo” không phải là kẻ bần cùn, khổ hạnh, khốn nạn, cũng không phải là người khước từ mọi của cải và hạnh phúc trần gian để “thoát tục”, xem “trần gian là nơi khổ ải", "là chốn lưu đày, đoàn con như khách lữ hành”, mà là người biết tin cậy vào Chúa, phó thác mình vào cánh tay yêu thương Cha con của Chúa.
Như vậy, Chúa trở thành gia sản của mình, “..., vì Nước Trời là của họ”.
Nói một cách nào đó, chúng ta có thể dịch câu Phúc Âm về kẻ khó nghèo trong tâm hồn của Thánh Matthêu như sau:
- "Phước cho ai giàu có Thiên Chúa, bởi vì họ có được tất cả ".
Nhưng muốn được “giàu có Thiên Chúa”, chúng ta phải để khoảng trống và thời gian cho Người.
Hiểu như vậy, chúng ta hiểu được ý nghĩa khó nghèo đích thực.
Đặc tính được chúc phúc vừa kể, đặc tính đầu tiên, không phải đầu tiên vì là đặc tính thứ nhứt của chuỗi các chúc phúc kể tiếp, mà đúng hơn là vì đó là đặc tính hàm chứa các đặc tính khác, là những cách giải thích chi tiếc hơn cho điều" khó nghèo” vừa được Chúa Giêsu tuyên bố.
Những gì vừa kể cho lời chúc phúc thứ nhứt đối với những kẻ “khó nghèo”, cũng có một ý nghĩa tương tợ đối với điều răn thứ nhứt, điều răn dạy phải yêu mến Thiên Chúa, bởi vì đó cũng chính là điều răn hàm chứa tất cả các điều răn khác.
Điều răn thứ hai, “chớ kêu tên Chúa vô cớ”, cũng giống như vậy, trong ý nghĩa là kết hợp chặt chẽ và bất khả phân với điều răn thứ nhứt.
Và chính trong hai điều răn vừa kể được gồm tóm “tất cả các lề luật và lời các tiên tri”.
Cũng vậy trong lời chúc phúc đối với những kẻ “khó nghèo” được quy tựu và hàm chứa ý nghĩa tất cả các lời chúc phúc khác.
Cuộc sống con người của chúng ta, do việc khó quy tựu được tất cả trên thực tế vào một mình Thiên Chúa, khiến cho chúng ta quơ quét, thu tóm cho đời sống mình bằng các của cải và thú vui vật chất.
Thói quen tham lam quơ quét, quy tóm gom góp bao nhiêu cũng không đủ đó là động lực điên khùng ràng buộc, quay xoáy con người với ảo tưởng phải có được mọi sự dư thừa mới thoả mãn hưởng thụ hạnh phúc. Bị trói buộc và quay xoáy bởi lòng ham muốn như thuốc phiện đó, con người chúng ta quên đi giá trị con người của mình và giá trị của Thiên Chúa.
Hiểu như vậy sự “nghèo khó” mà mối phước thật thứ nhứt đòi buộc, đó là phải tìm lại được giá trị tối thượng của Thiên Chúa trong cuộc sống mình, nguồn mạch khôn ngoan đích thực cho con người:
"Phần anh em, chính nhờ Thiên Chúa mà anh em đươc hiện hữu trong Chúa Giêsu Kitô, Đấng đã trở nên sự khôn ngoan của chúng ta, sư khôn ngoan phát xuất từ Thiên Chúa, Đấng đã làm cho anh em trở nên công chính, đã thánh hoá và cứu chuộc anh em" (1 Cor 1, 30).
SUY NIỆM PHÚC ÂM (IV A 14); (30.01.2011); (Mt 5, 1-12).
CHÚA NHẬT IV, PHỤNG VỤ THƯỜNG NIÊN, NĂM A
NGUYỄN HỌC TẬP
Đoạn Phúc Âm đơn sơ và long trọng về các mối phước thật là một trong những sứ điệp có ý nghĩa nhứt của Chúa Giêsu xác định rõ căn tính của ai là môn đệ Người.
Thánh Matthêu đã ghi lại và diễn giải một cách hữu hiệu không thể quên được chân dung những ai mà Chúa Giêsu cho biết
- đâu là mẫu gương cho những kẻ đi tìm ý nghĩa của cuộc sống
- và cách hành xử khác đi là thái độ của những ai liều lĩnh trách xa khỏi Phúc Âm Người và khỏi Thiên Chúa.
Trước khi tìm hiểu ý nghĩa của “Tám mối phước thật”, chúng ta thử xác định địa danh, để hiểu biết thêm thành phần của nhóm người Galilei hôm đó được Chúa Giêsu phán cho sứ điệp là ai.
Hôm đó có một nhóm người Galilei theo Chúa Giêsu lên một địa điểm ở cao độ:
- "Thấy đám đông, Chúa Giêsu lên núi. Người ngồi xuống, các môn đệ đến bên cạnh” (Mt 5, 1).
Địa điểm nơi “Chúa Giêsu lên núi, Người ngồi xuống” đó là một địa điểm ở phía trên các thánh điện Kitô giáo ngày nay ở Tabga và Capharnaum.
Có lẽ chúng ta không còn biết được chính xác nơi Chúa Giêsu ngồi xuống hôm đó để rao giảng sứ điệp cho “các môn đệ” và “đám đông dân chúng".
Nhưng theo truyền thống hành hương hàng bao thế kỷ, có lẽ đó là trên một ngọn núi, nhìn xuống Biển Hồ Tiberiade và vết tích hý trường lộng lẫy, bao la bao gồm chung quanh bên dưới.
Trong tình trạng xã hội, chính trị nào lúc đó dân chúng đang sống, khiến cho họ khi nghe được có Chúa Giêsu, vị ngôn sứ Nazareth đến rao giảng trên miền đất của họ, “đám đông” đoàn lũ dân chúng liền nức lòng chạy đến để nghe Người. Hiểu biết được bối cảnh lịch sử lịch đó, chúng ta có thể biết được lời giảng dạy của Chúa Giêsu không phải là lý thuyết trên mây trên gió, mà có liên hệ đến cuộc sống thực tế của những ai đang quây quần bên Người để lắng nghe.
Và đây là bối cảnh lúc đó:
1) Không xa lắm, bên bờ phía tây của Biển Hồ, lúc đó và ngay cả hiện thời vẫn còn có thị trấn Tiberiade, thị trấn được xây cất dưới thời Erode Antipa, để tôn vinh hoàng đế Roma là Tiberio, là người đỡ đầu và là ông chủ của Erode. Cả người đỡ đầu cũng như kẻ được tín nhiệm là biểu tượng cho quyền lực con người, đàn áp và bóc lột những ai không có khả năng để tự vệ, và tất cả những ai muốn có được phẩm giá và tự do con người.
2) Đối diện với thị xã Tiberiade, phía bên kia bờ hồ, là pháo đài vững chắc Gamla, bất lay chuyển trước những cuộc tất công (hiện nay là di tích khảo cổ), trên một ngọn đồi của Golan. Đó là sào huyệt của bọn người cuồng tín (trong cách suy nghĩ của quân xâm nhập Roma cho là vậy) hay “bọn trộm cướp”, luôn luôn tìm cách kháng chiến, chống lại quân ngoại xâm Roma. Và hai người trong số “bọn đó” là hai kẻ cùng bị đóng đính với Chúa Giêsu.
3) Ở xa, về phía nam chân trời, trên các ngôn núi của miền Transgiordania, chúng ta cò thể trông thấy được thị xã Gadara, một trong mười thị xã liên kết Hy Lạp - Roma (Decapoli). Gadara nơi mà từ đó Chúa Giêsu và các môn đệ ra đi, để lên núi, nơi Người nói lên sứ điệp "Tám mối phước thật” hôm nay. Loạt các thị xã đó là những thị trấn sầm uất với đền đài, hý trường, khu thương mại, nói lên nhãn quan cuộc sống tự lập, huy hoàng, tự do tôn giáo và luân lý, đầy hấp dẫn và cám dỗ ai cũng muôn đến để sống tự do, thay vì quan niệm cổ truyền có tính cách ràng buộc của truyền thống Do Thái.
4) Sau cùng, không xa lắm nơi các môn đệ và “đám đông” dân chúng nghe lời giảng “Tám mối phước thật” là thị xã Korazim, Capharnaum và Betsaida. Chúa Giêsu và các môn đệ ra khỏi đó, để tỏ thái độ đối với các hình thức thực hành tôn giáo và đạo đức giả, mà nhóm Pharisêu và các kinh sư áp đạt lên dân chúng
Chúa Giêsu phán quyết rằng các cách “sống đạo” như vậy là “sống đạo” tách rời khỏi đường lối công chính để thờ phượng Chúa, hay nói đúng hơn, đó không phải là cử chỉ chính đáng và khiêm nhường trong mối tương giao với Chúa.
Sau những tìm hiểu về địa danh lịch sử có liên quan đến sứ điệp “Tám mối phước thật”, chúng ta thử tìm hiểu nội dung, mà Chúa Giêsu muốn nói với các môn đệ và đám đông hôm đó, cũng như với chúng ta.
Để tránh cho bài viết quá dài, chúng ta chỉ suy niệm hai mối “đầu" và mối "cuối”, vì có liên hệ với nhau.
1 - Phúc thay ai có tâm hồn khó nghèo, vì Nước Trời là của họ.
Trong bối cảnh địa thế và tâm thức được tìm hiểu ở trên, chúng ta có thể mường tượng được đây là sứ điệp tạo ra chấn động "choc" giữa những người nghe Chúa Giêsu hôm đó.
Để cho sứ điệp được hiểu biết một cách chính đáng, chúng ta nên để ý đến thành ngữ được dùng như trạng từ để xác định cho tỉnh tử khó nghèo, đó là thành ngữ “trong tâm hồn”:
- “Phúc thay ai có tâm hồn khó nghèo” (khó nghèo trong tâm hồn); vì Nước Trời là của họ” (Mt 5, 3).
Đây là “trạng từ” (chúng ta tạm gọi như vậy) chỉ có trong Phúc Âm Thánh Matthêu, so với Phúc Âm Thánh Luca.
Trạng từ vừa kể xác định rõ hơn là đừng nên hiểu tỉnh từ “khó nghèo” đồng nhứt rập khuôn với tình trạng “thiếu phương tiện", "thiếu thốn, túng thiếu".
Bởi lẽ sự khó nghèo kinh tế “thiếu các phương tiện”, để thoả mãn nhu cầu, có nhiều lý do, trong đó có cả lý do vì “thói hư, tật xấu, chễnh mãng, lơ là, uể oải, bất động, ăn không ngồi rồi, thiếu trách nhiệm".
Bởi đó cần phải xác định "khó nghèo” của Phúc Âm không phải đồng nhứt với “khả năng kinh tế hạn hẹp”.
Người nghèo khó, trong ý nghĩa Thánh Kinh, là người trút bỏ đi chính mình, chinh cá nhân mình, bỏ đi tính cách tự cao tự đại cho rằng mình có khả năng tự kiến tạo đời sóng của mình, để dành chỗ rộng lớn cho Chúa trong đời mình, dành lợi thú của mình quy về Thiên Chúa.
Hiểu như vậy, người khó nghèo “trong tâm hồn” của sứ điệp Chúa Giêsu là con người khiêm nhường. Đó cũng là những gì chúng ta đọc được ở bài đọc I :
- “Hỡi tất cả những ai nghèo hèn trong xứ sở, những kẻ thi hành mệnh lệnh của Chúa, anh em hãy tìm kiếm Người; hãy tìm sự công chính, hãy tìm đức khiêm nhường, thì may ra anh em sẽ được che chở trong ngày thinh nộ của Thiên Chúa” (Soph 2, 3).
Như vậy "người nghèo” trong Phúc Âm được hiểu đồng nghĩa với ngưòi khiêm nhường, khiêm nhường nhưng không phải là kẻ ngồi cú rủ, thất vọng như kẻ bị phá sản, mà là người mở rộng mình ra với Chúa và với anh em.
Ai giải thoát mình khỏi chính cái tôi, cái nhìn hạn hẹp và lối sống ích kỷ, tự tại huênh hoang, tự tại, ta đây, để mở rộng tâm hồn mình ra cho đồ án Thiên Chúa, sẽ gặp được sự hoàn hảo, giàu có sung mãn, sẽ gặp được Nước Trời, chiếm được Nước Trời làm của mình:
- “Phúc thay ai có tâm hồn khó nghèo, vì Nước Trời là của họ” (Mt 5, 3).
Thánh ngữ "Nước Trời” là thành ngữ cá biệt của Phúc Âm Thánh Matthêu, để nói lên ý nghĩa sự hiện diện của Chúa trong lịch sử con người, trong lịch sử của mỗi người.
Như vậy “người có tâm hồn khó nghèo” không phải là kẻ bần cùn, khổ hạnh, khốn nạn, cũng không phải là người khước từ mọi của cải và hạnh phúc trần gian để “thoát tục”, xem “trần gian là nơi khổ ải", "là chốn lưu đày, đoàn con như khách lữ hành”, mà là người biết tin cậy vào Chúa, phó thác mình vào cánh tay yêu thương Cha con của Chúa.
Như vậy, Chúa trở thành gia sản của mình, “..., vì Nước Trời là của họ”.
Nói một cách nào đó, chúng ta có thể dịch câu Phúc Âm về kẻ khó nghèo trong tâm hồn của Thánh Matthêu như sau:
- "Phước cho ai giàu có Thiên Chúa, bởi vì họ có được tất cả ".
Nhưng muốn được “giàu có Thiên Chúa”, chúng ta phải để khoảng trống và thời gian cho Người.
Hiểu như vậy, chúng ta hiểu được ý nghĩa khó nghèo đích thực.
Đặc tính được chúc phúc vừa kể, đặc tính đầu tiên, không phải đầu tiên vì là đặc tính thứ nhứt của chuỗi các chúc phúc kể tiếp, mà đúng hơn là vì đó là đặc tính hàm chứa các đặc tính khác, là những cách giải thích chi tiếc hơn cho điều" khó nghèo” vừa được Chúa Giêsu tuyên bố.
Những gì vừa kể cho lời chúc phúc thứ nhứt đối với những kẻ “khó nghèo”, cũng có một ý nghĩa tương tợ đối với điều răn thứ nhứt, điều răn dạy phải yêu mến Thiên Chúa, bởi vì đó cũng chính là điều răn hàm chứa tất cả các điều răn khác.
Điều răn thứ hai, “chớ kêu tên Chúa vô cớ”, cũng giống như vậy, trong ý nghĩa là kết hợp chặt chẽ và bất khả phân với điều răn thứ nhứt.
Và chính trong hai điều răn vừa kể được gồm tóm “tất cả các lề luật và lời các tiên tri”.
Cũng vậy trong lời chúc phúc đối với những kẻ “khó nghèo” được quy tựu và hàm chứa ý nghĩa tất cả các lời chúc phúc khác.
Cuộc sống con người của chúng ta, do việc khó quy tựu được tất cả trên thực tế vào một mình Thiên Chúa, khiến cho chúng ta quơ quét, thu tóm cho đời sống mình bằng các của cải và thú vui vật chất.
Thói quen tham lam quơ quét, quy tóm gom góp bao nhiêu cũng không đủ đó là động lực điên khùng ràng buộc, quay xoáy con người với ảo tưởng phải có được mọi sự dư thừa mới thoả mãn hưởng thụ hạnh phúc. Bị trói buộc và quay xoáy bởi lòng ham muốn như thuốc phiện đó, con người chúng ta quên đi giá trị con người của mình và giá trị của Thiên Chúa.
Hiểu như vậy sự “nghèo khó” mà mối phước thật thứ nhứt đòi buộc, đó là phải tìm lại được giá trị tối thượng của Thiên Chúa trong cuộc sống mình, nguồn mạch khôn ngoan đích thực cho con người:
"Phần anh em, chính nhờ Thiên Chúa mà anh em đươc hiện hữu trong Chúa Giêsu Kitô, Đấng đã trở nên sự khôn ngoan của chúng ta, sư khôn ngoan phát xuất từ Thiên Chúa, Đấng đã làm cho anh em trở nên công chính, đã thánh hoá và cứu chuộc anh em" (1 Cor 1, 30).