PDA

View Full Version : Phước Cho Ai Có Tâm Hồn Khó Nghèo, Vì Nước Trời Là Của Họ


admin
25-01-2011, 04:58 AM
PHƯỚC CHO AI CÓ TÂM HỒN KHÓ NGHÈO, VÌ NƯỚC TRỜI LÀ CỦA HỌ

SUY NIỆM PHÚC ÂM (IV A 14); (30.01.2011); (Mt 5, 1-12).
CHÚA NHẬT IV, PHỤNG VỤ THƯỜNG NIÊN, NĂM A
NGUYỄN HỌC TẬP

Đoạn Phúc Âm đơn sơ và long trọng về các mối phước thật là một trong những sứ điệp có ý nghĩa nhứt của Chúa Giêsu xác định rõ căn tính của ai là môn đệ Người.
Thánh Matthêu đã ghi lại và diễn giải một cách hữu hiệu không thể quên được chân dung những ai mà Chúa Giêsu cho biết
- đâu là mẫu gương cho những kẻ đi tìm ý nghĩa của cuộc sống
- và cách hành xử khác đi là thái độ của những ai liều lĩnh trách xa khỏi Phúc Âm Người và khỏi Thiên Chúa.
Trước khi tìm hiểu ý nghĩa của “Tám mối phước thật”, chúng ta thử xác định địa danh, để hiểu biết thêm thành phần của nhóm người Galilei hôm đó được Chúa Giêsu phán cho sứ điệp là ai.
Hôm đó có một nhóm người Galilei theo Chúa Giêsu lên một địa điểm ở cao độ:
- "Thấy đám đông, Chúa Giêsu lên núi. Người ngồi xuống, các môn đệ đến bên cạnh” (Mt 5, 1).
Địa điểm nơi “Chúa Giêsu lên núi, Người ngồi xuống” đó là một địa điểm ở phía trên các thánh điện Kitô giáo ngày nay ở Tabga và Capharnaum.
Có lẽ chúng ta không còn biết được chính xác nơi Chúa Giêsu ngồi xuống hôm đó để rao giảng sứ điệp cho “các môn đệ” và “đám đông dân chúng".
Nhưng theo truyền thống hành hương hàng bao thế kỷ, có lẽ đó là trên một ngọn núi, nhìn xuống Biển Hồ Tiberiade và vết tích hý trường lộng lẫy, bao la bao gồm chung quanh bên dưới.
Trong tình trạng xã hội, chính trị nào lúc đó dân chúng đang sống, khiến cho họ khi nghe được có Chúa Giêsu, vị ngôn sứ Nazareth đến rao giảng trên miền đất của họ, “đám đông” đoàn lũ dân chúng liền nức lòng chạy đến để nghe Người. Hiểu biết được bối cảnh lịch sử lịch đó, chúng ta có thể biết được lời giảng dạy của Chúa Giêsu không phải là lý thuyết trên mây trên gió, mà có liên hệ đến cuộc sống thực tế của những ai đang quây quần bên Người để lắng nghe.
Và đây là bối cảnh lúc đó:
1) Không xa lắm, bên bờ phía tây của Biển Hồ, lúc đó và ngay cả hiện thời vẫn còn có thị trấn Tiberiade, thị trấn được xây cất dưới thời Erode Antipa, để tôn vinh hoàng đế Roma là Tiberio, là người đỡ đầu và là ông chủ của Erode. Cả người đỡ đầu cũng như kẻ được tín nhiệm là biểu tượng cho quyền lực con người, đàn áp và bóc lột những ai không có khả năng để tự vệ, và tất cả những ai muốn có được phẩm giá và tự do con người.
2) Đối diện với thị xã Tiberiade, phía bên kia bờ hồ, là pháo đài vững chắc Gamla, bất lay chuyển trước những cuộc tất công (hiện nay là di tích khảo cổ), trên một ngọn đồi của Golan. Đó là sào huyệt của bọn người cuồng tín (trong cách suy nghĩ của quân xâm nhập Roma cho là vậy) hay “bọn trộm cướp”, luôn luôn tìm cách kháng chiến, chống lại quân ngoại xâm Roma. Và hai người trong số “bọn đó” là hai kẻ cùng bị đóng đính với Chúa Giêsu.
3) Ở xa, về phía nam chân trời, trên các ngôn núi của miền Transgiordania, chúng ta cò thể trông thấy được thị xã Gadara, một trong mười thị xã liên kết Hy Lạp - Roma (Decapoli). Gadara nơi mà từ đó Chúa Giêsu và các môn đệ ra đi, để lên núi, nơi Người nói lên sứ điệp "Tám mối phước thật” hôm nay. Loạt các thị xã đó là những thị trấn sầm uất với đền đài, hý trường, khu thương mại, nói lên nhãn quan cuộc sống tự lập, huy hoàng, tự do tôn giáo và luân lý, đầy hấp dẫn và cám dỗ ai cũng muôn đến để sống tự do, thay vì quan niệm cổ truyền có tính cách ràng buộc của truyền thống Do Thái.
4) Sau cùng, không xa lắm nơi các môn đệ và “đám đông” dân chúng nghe lời giảng “Tám mối phước thật” là thị xã Korazim, Capharnaum và Betsaida. Chúa Giêsu và các môn đệ ra khỏi đó, để tỏ thái độ đối với các hình thức thực hành tôn giáo và đạo đức giả, mà nhóm Pharisêu và các kinh sư áp đạt lên dân chúng
Chúa Giêsu phán quyết rằng các cách “sống đạo” như vậy là “sống đạo” tách rời khỏi đường lối công chính để thờ phượng Chúa, hay nói đúng hơn, đó không phải là cử chỉ chính đáng và khiêm nhường trong mối tương giao với Chúa.

Sau những tìm hiểu về địa danh lịch sử có liên quan đến sứ điệp “Tám mối phước thật”, chúng ta thử tìm hiểu nội dung, mà Chúa Giêsu muốn nói với các môn đệ và đám đông hôm đó, cũng như với chúng ta.
Để tránh cho bài viết quá dài, chúng ta chỉ suy niệm hai mối “đầu" và mối "cuối”, vì có liên hệ với nhau.
1 - Phúc thay ai có tâm hồn khó nghèo, vì Nước Trời là của họ.
Trong bối cảnh địa thế và tâm thức được tìm hiểu ở trên, chúng ta có thể mường tượng được đây là sứ điệp tạo ra chấn động "choc" giữa những người nghe Chúa Giêsu hôm đó.
Để cho sứ điệp được hiểu biết một cách chính đáng, chúng ta nên để ý đến thành ngữ được dùng như trạng từ để xác định cho tỉnh tử khó nghèo, đó là thành ngữ “trong tâm hồn”:
- “Phúc thay ai có tâm hồn khó nghèo” (khó nghèo trong tâm hồn); vì Nước Trời là của họ” (Mt 5, 3).
Đây là “trạng từ” (chúng ta tạm gọi như vậy) chỉ có trong Phúc Âm Thánh Matthêu, so với Phúc Âm Thánh Luca.
Trạng từ vừa kể xác định rõ hơn là đừng nên hiểu tỉnh từ “khó nghèo” đồng nhứt rập khuôn với tình trạng “thiếu phương tiện", "thiếu thốn, túng thiếu".
Bởi lẽ sự khó nghèo kinh tế “thiếu các phương tiện”, để thoả mãn nhu cầu, có nhiều lý do, trong đó có cả lý do vì “thói hư, tật xấu, chễnh mãng, lơ là, uể oải, bất động, ăn không ngồi rồi, thiếu trách nhiệm".
Bởi đó cần phải xác định "khó nghèo” của Phúc Âm không phải đồng nhứt với “khả năng kinh tế hạn hẹp”.
Người nghèo khó, trong ý nghĩa Thánh Kinh, là người trút bỏ đi chính mình, chinh cá nhân mình, bỏ đi tính cách tự cao tự đại cho rằng mình có khả năng tự kiến tạo đời sóng của mình, để dành chỗ rộng lớn cho Chúa trong đời mình, dành lợi thú của mình quy về Thiên Chúa.
Hiểu như vậy, người khó nghèo “trong tâm hồn” của sứ điệp Chúa Giêsu là con người khiêm nhường. Đó cũng là những gì chúng ta đọc được ở bài đọc I :
- “Hỡi tất cả những ai nghèo hèn trong xứ sở, những kẻ thi hành mệnh lệnh của Chúa, anh em hãy tìm kiếm Người; hãy tìm sự công chính, hãy tìm đức khiêm nhường, thì may ra anh em sẽ được che chở trong ngày thinh nộ của Thiên Chúa” (Soph 2, 3).
Như vậy "người nghèo” trong Phúc Âm được hiểu đồng nghĩa với ngưòi khiêm nhường, khiêm nhường nhưng không phải là kẻ ngồi cú rủ, thất vọng như kẻ bị phá sản, mà là người mở rộng mình ra với Chúa và với anh em.
Ai giải thoát mình khỏi chính cái tôi, cái nhìn hạn hẹp và lối sống ích kỷ, tự tại huênh hoang, tự tại, ta đây, để mở rộng tâm hồn mình ra cho đồ án Thiên Chúa, sẽ gặp được sự hoàn hảo, giàu có sung mãn, sẽ gặp được Nước Trời, chiếm được Nước Trời làm của mình:
- “Phúc thay ai có tâm hồn khó nghèo, vì Nước Trời là của họ” (Mt 5, 3).
Thánh ngữ "Nước Trời” là thành ngữ cá biệt của Phúc Âm Thánh Matthêu, để nói lên ý nghĩa sự hiện diện của Chúa trong lịch sử con người, trong lịch sử của mỗi người.
Như vậy “người có tâm hồn khó nghèo” không phải là kẻ bần cùn, khổ hạnh, khốn nạn, cũng không phải là người khước từ mọi của cải và hạnh phúc trần gian để “thoát tục”, xem “trần gian là nơi khổ ải", "là chốn lưu đày, đoàn con như khách lữ hành”, mà là người biết tin cậy vào Chúa, phó thác mình vào cánh tay yêu thương Cha con của Chúa.
Như vậy, Chúa trở thành gia sản của mình, “..., vì Nước Trời là của họ”.
Nói một cách nào đó, chúng ta có thể dịch câu Phúc Âm về kẻ khó nghèo trong tâm hồn của Thánh Matthêu như sau:
- "Phước cho ai giàu có Thiên Chúa, bởi vì họ có được tất cả ".
Nhưng muốn được “giàu có Thiên Chúa”, chúng ta phải để khoảng trống và thời gian cho Người.
Hiểu như vậy, chúng ta hiểu được ý nghĩa khó nghèo đích thực.
Đặc tính được chúc phúc vừa kể, đặc tính đầu tiên, không phải đầu tiên vì là đặc tính thứ nhứt của chuỗi các chúc phúc kể tiếp, mà đúng hơn là vì đó là đặc tính hàm chứa các đặc tính khác, là những cách giải thích chi tiếc hơn cho điều" khó nghèo” vừa được Chúa Giêsu tuyên bố.
Những gì vừa kể cho lời chúc phúc thứ nhứt đối với những kẻ “khó nghèo”, cũng có một ý nghĩa tương tợ đối với điều răn thứ nhứt, điều răn dạy phải yêu mến Thiên Chúa, bởi vì đó cũng chính là điều răn hàm chứa tất cả các điều răn khác.
Điều răn thứ hai, “chớ kêu tên Chúa vô cớ”, cũng giống như vậy, trong ý nghĩa là kết hợp chặt chẽ và bất khả phân với điều răn thứ nhứt.
Và chính trong hai điều răn vừa kể được gồm tóm “tất cả các lề luật và lời các tiên tri”.
Cũng vậy trong lời chúc phúc đối với những kẻ “khó nghèo” được quy tựu và hàm chứa ý nghĩa tất cả các lời chúc phúc khác.
Cuộc sống con người của chúng ta, do việc khó quy tựu được tất cả trên thực tế vào một mình Thiên Chúa, khiến cho chúng ta quơ quét, thu tóm cho đời sống mình bằng các của cải và thú vui vật chất.
Thói quen tham lam quơ quét, quy tóm gom góp bao nhiêu cũng không đủ đó là động lực điên khùng ràng buộc, quay xoáy con người với ảo tưởng phải có được mọi sự dư thừa mới thoả mãn hưởng thụ hạnh phúc. Bị trói buộc và quay xoáy bởi lòng ham muốn như thuốc phiện đó, con người chúng ta quên đi giá trị con người của mình và giá trị của Thiên Chúa.
Hiểu như vậy sự “nghèo khó” mà mối phước thật thứ nhứt đòi buộc, đó là phải tìm lại được giá trị tối thượng của Thiên Chúa trong cuộc sống mình, nguồn mạch khôn ngoan đích thực cho con người:
"Phần anh em, chính nhờ Thiên Chúa mà anh em đươc hiện hữu trong Chúa Giêsu Kitô, Đấng đã trở nên sự khôn ngoan của chúng ta, sư khôn ngoan phát xuất từ Thiên Chúa, Đấng đã làm cho anh em trở nên công chính, đã thánh hoá và cứu chuộc anh em" (1 Cor 1, 30).

admin
25-01-2011, 04:59 AM
2 - Phúc thay cho ai sầu khổ, vì họ sẽ được ủi an.
Buồn phiền, đau khổ là nỗi đau đớn gặm nhấm trong nội tâm con người, bởi đó chúng ta cũng có thể dịch là
- "phúc thay cho những kẻ khóc lóc".
Từ ngữ “sầu khổ” nói lên tình trạng nặng nề thê thảm của con người đang chịu đựng, mặc dầu không có thêm từ ngữ nào khác để cho biết chi tiếc của nguyên do.
Từ ngữ trên làm cho chúng ta liên tưỏng đến những kẻ thất vọng trên núi Sion, bởi lẽ họ chờ đợi mãi mà không thấy được sự giải thoát:
- “Người sai tôi đi yên ủi mọi kẻ khóc than, tặng cho những kẻ khóc than ở Sion tấm khăn đại lễ thay tro bụi, dầu thơm hoan lạc thay tang chế, áo ngày hội thay tâm thần sầu não” (Is 61, 2s).
Dân chúng trên núi Sion khóc than trước cảnh tàn phế của Giêrusalem và cảnh tan thương của cả dân chúng bị quân thù tàn sát.
Ngoài ra những liên tưởng quan hệ có thể nghĩ đến được đối với Thánh Matthêu, khi viết lên lời chúc phúc cho “những kẻ khóc lóc” chúng ta đang suy niệm.
Chúng ta có thể nghĩ đến được Thánh Matthêu có ý đề cập đến trong hình ảnh của nhóm người vừa kể là những môn đệ đích thực của Chúa Kitô, đang mang trong tâm tư những vấn đề của Nước Trời mà họ đang sống và đau khổ cho cộng đồng Giáo Hội địa phương liên hệ của mình, đang có những phần tử không thánh thiện xứng đáng, chia rẽ và làm cho cộng đồng gần như băng hoại lúc đó.
Nhưng những môn đệ đó khóc lóc và đau khổ nhứt là vì tội lỗi của mình đang làm chậm lại hay cản trở việc canh tân sâu đậm cộng đồng.
Trong tình trạng vừa kể, chỉ có Thiên Chúa mới có thể đem lại những gì mới mẻ cho những ai đang sầu khổ.
Thiên Chúa không được đề cặp đến một cách minh nhiên trong câu văn của Phúc Âm, những chúng ta có thể hiểu được dễ dàng, nếu chúng ta nhận thức được “thể thụ động thần học” (passif théologique), được các nhà chú giải Thánh Kinh học thường đề cập đến, khi dùng cách diễn tả theo tinh thần Do Thái giáo.
Tất cả chúng ta điều biết rằng người Do Thái rất kính trọng Thiên Chúa, ngay cả khi họ dùng từ ngữ để nói về Người, mà không phải hài danh Người ra. Bởi đó một trong những phương cách để diễn giải đó là biến đổi câu nói trong đó có Thiên Chúa là chủ từ, thành câu nói dưới hình thức thể thụ động. Ví dụ như thay vì nói : “Thiên Chúa đã làm...", câu nói được biến đổi thành “sự việc đã được làm...".
Hiểu được ý nghĩa đó, lời chúc phúc dưới thể thụ đông đối với kẻ sầu khổ có thể được dịch thành câu dưới dạng thức tác động (actif):
- "Phước thay cho ai sầu khổ, vì Thiên Chúa sẽ an ủi họ".
Thiên Chúa là Đấng an ủi. Người an ủi dân Người qua lời các tiên tri, nhứt là trong Chúa Kitô và trong Chúa Thánh Thần, được gọi là Đấng An Ủi (Consolator ).

Thì của động từ được dùng trong câu là thì tương lai (temps futur), "...vì họ sẽ được ủi an”. bởi vì trong muôn đời, người sầu khổ sẽ được hạnh phúc và sự an ủi của họ sẽ được tràn đầy và vĩnh viễn.
Tron tạm thời, Thiên Chúa kêu gọi con người hãy dấn thân là dấu chứng hiện thực sự an ủi của Người ngày nay.
Đó cũng chính là những gì Thánh Phaolồ viết cho các tín hữu Corinto của mình:
- “Chúc tụng Thiên Chúa là Thân phụ Chúa Giêsu Kitô, Chúa chúng ta. Người là Cha giàu lòng từ bi lân ái, và là Thiên Chúa hằng sẵn sàng nâng đỡ ủi an. Người luôn nâng đỡ ủi an chúng ta trong mọi cơn gian nan thử thách, để sau khi đã được Thiên Chúa nâng đỡ, chính chúng ta cũng biết nâng đỡ những ai lâm cảnh gian nan khốn cùng" (2 Cor 1, 3-4).
3 - Phúc thay cho ai bị bách hại vì công chính, vì Nước Trời là của họ.
Mối phúc thật thứ tám và cũng là mối cuối cùng có hình thức tuyên bố giống như những mối được tuyên bố trước đó:
- "Phúc thay cho ai bị bách hại vì công chính, vì Nước Trời là của họ” (Mt 5, 10).
Kế đến lời tuyên bố được khai triển thêm, để nói rõ ý nghĩa:
- “Phúc thay cho anh em khi vì Thầy mà bị người ta sỉ vả, bách hại và vu không đủ điều xấu xa. Anh em hãy vui mừng hớn hở, vì phần thưởng dành cho anh em trên trời thật lớn lao” (Mt 5, 11-12).
Đây là phần chú giải thêm của mối phước thật thứ tám, chớ không phải là mối phước thật thứ chín.
Đọc qua, ai trong chúng ta cũng thấy được, bởi lẽ nội dung cũng đồng nhứt như câu tuyên bố trước, mặc dầu tuyên bố khác hơn, vì được dùng đại danh từ "anh em”, dùng để nói trực tiếp.
Chủ thể đối tượng của mối phước thật thứ tám mới nầy là “những ai bị bách hại vì công chính”.
Đức công chính đã được đề cập đến trong mối phước thật thứ tư, khi đề cập đến những kẻ khao khát đức công chính, hay ý muốn của Thiên Chúa:
- “Phúc thay ai khát khao nền công chính, vì họ sẽ được Thiên Chúa cho thoả lòng” (Mt 5, 6).
Nhưng ở mối phước thật thứ tám, chúng ta đang đề cập, một đoạn văn tiếp nối để nói lên có ý nghĩa khác biệt.
Nếu trước kia, người được chúc phúc là người đi tìm thánh ý Chúa, giờ đây được cho biết thêm là lòng kiên trì gìn giữ và bước theo thánh ý Chúa, khi hoàn cảnh trở nên khó khăn và đối với con người có lúc vượt quá sức chịu đựng của mình, “bị người ta sỉ vả, bách hại và vu không mọi điều xấu xa".
Điều vừa kể cho thấy có kẻ hay những kẻ nào đó, nhận thấy có lợi thú để phá vỡ đi mối liên hệ của chúng ta với Chúa, bằng cách xoá bỏ đi hay tiêu diệt đi, hoặc làm cho trở thành vô ích mối tương quan đó, như những gì họ đã đối xử với các tín hữu Chúa Kitô trong thời kỳ bách hại, mà Việt Nam chúng ta cũng đã có đến 117 Thánh Tử Đạo.
Chúa Giêsu không để cho những ai nghe Người hôm đó sống trong ảo tưởng, bằng cách không đề cập gì đến những khó khăn mà cuộc lựa chọn sống như người tín hữu Chúa Kitô có thể gặp phải, “sỉ vả, bách hại và vu khống mọi điều xấu xa".
Làm môn đệ Chúa Giêsu, khắn khít với Phúc Âm Người đòi buộc phải có can đảm và nhiều khi cả thái độ anh hùng như 117 Thánh Tử Đạo và còn bao nhiêu vị tử đạo khác chưa được phong thánh của chúng ta đã chứng minh.
Đó là thái độ làm cho chúng ta được chúc phúc:
- "Phúc cho anh em, khi vì Thầy mà bị người ta sỉ vả, bách hại và vu khống mọi điều xấu xa".
Nhưng bị “sỉ vả, bách hại, vu khống..." vì công lý là gì ?
Ý nghĩa đó đã được Chúa Giêsu trả lời trong lời giải thích, " vì Thầy”.
Như vậy, sống như người tín hữu Chúa Kitô, sống khắn khít với Chúa Kitô là sống khắn khít với chân lý.
Điều đó lịch sử Giáo Hội trên 2000 năm nay đã từng chứng minh. Những khó khăn đó, tùy nơi chốn, hoàn cảnh và thời đại có thể có cường độ và màu sắc khác nhau. Có thể là những cuộc bách hại, chống đối mãnh liệt như đối với các Kitô hữu thời tiên khởi.
Cũng có thể là thái độ dững dưng của những ai không tha thiết, bất cần gì đến Chúa Kitô, đến Cộng Đồng Giáo Hội Người, coi những giá trị Phúc Âm bằng không.
Nói tóm lại có nhiều trường hợp và nhiều cách thức người môn đệ Chúa Kitô có kinh nghiệm được ý nghĩa của mối phước thật, “phúc cho kẻ bị bách hại vì công chính”, chúng ta đang suy niệm, khi họ được mời gọi hãy minh chứng lòng trung thành và tình yêu thương của mình đối với Người, “vì Thầy".
Chính Chúa Giêsu là người tiên khởi đã sống mối phước thật nầy, chứng tỏ và dạy bảo cho chúng ta lòng trung tín trước mọi cơn thử thách.
Vì tình yêu thương Chúa Cha và yêu thương nhân loại, Người đã đi đến tận cùng, uống chén đắng mà Chúa cha trao cho:
- “Các anh không biết các anh xin gì! Các anh có uống nỗi chén đắng Thầy sắp uống không?...Chén của Thầy, các anh sẽ uống; còn việc ngồi bên hữu hay bên tả Thầy, thì Thầy không có quyền cho, nhưng Cha Thầy đã chuẩn bị cho ai, thì kẻ ấy mới được” (Mt 20, 22-23).
Người tín hữu Chúa Kitô sẽ được chúc phúc, nếu họ biết bắt chước vị Thầy Chí Thánh của mình, vẫn sống khắn khít và hoàn toàn hy sinh cho Người, “vì Thầy”, khi các cơn thử thách xảy đến và bắt buộc phải chạm trán và thập giá nặng nề phải vác lấy.
Chúa Giêsu cũng đã tiên liệu những điều đó, khi Người chuẩn bị cho các môn đệ sắp ra đi thi hành sứ mạng:
- “Nầy, Thầy sai anh em đi như chiên vào giữa bầy sói. Vậy anh em phải ngôn ngoan như rắn và đơn sơ như chim bồ câu. Hãy coi chừng người đời. Họ sẽ nộp anh em cho các hội đồng, và sẽ đánh đập anh em trong các hội đường của họ. Và anh em sẽ bị điệu ra trước mặt vua chúa quan quyền vì Thầy, để làm chứng cho họ và cho dân ngoại được biết. Nhưng khi người ta nộp anh em, thì anh em đừng lo phải nói làm sao hay phải nói gì, vì trong giờ đó, Thiên Chúa sẽ cho anh em biết phải nói gì. Thật vậy, không phải chính anh em nói, mà là Thánh Thần của Cha anh em nói trong anh em" (Mt 10, 16-20).
Chân lý của những lời nói vừa kể của Chúa Giêsu đã được minh chứng nhiều lần trong lịch sử Giáo Hội.
Kinh nghiệm được Thiên Chúa là tình yêu đang hiện diện và là sức mạnh để vượt thắng, đã làm cho người tín hữu Chúa Kitô đối đầu với cả những cuộc đàn áp, tra tấn tàn ác, vô nhân đạo, 117 Thánh Tử Đạo Việt Nam là những lý chứng.
Trong câu (Mt 5, 12), lần đầu tiên trong Phúc Âm Thánh Matthêu được phát hiện từ ngữ “phần thưởng”.
"Phần thưởng dành cho anh em thật lớn lao", chúng ta có thể nói là “lớn lao nhứt” tối đa, bởi vì đó là phần thưởng “trên trời”.
Hiểu được như vậy, chúng ta biết được giá trị của niềm hạnh phúc được đề cập đến trong các mối phước thật ở đây, bởi vì là tất cả các mối phước thật đều được quy hướng về Thiên Chúa, luôn luôn hiện diện trong thời gian và trong lịch sử.
Thiên Chúa là cùng đích vĩnh viễn của mọi con người.
Chính Người, Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần là phần thưởng, cùng đích và nguyên cội của mọi niềm hạnh phúc con người.