admin
09-11-2006, 09:53 AM
S. Freud đã phác hoạ nên một bức tranh về nhân cách năng động hơn
(...) Thực ra, cách tiếp cận của S. Freud với “cái tự nhiên” và “cái văn hoá” trong con người, chỉ là sự bi kịch hoá thế giới bên trong của con người, chỉ là sự chia cắt con người thành những phần tách biệt hẳn nhau và đối lập nhau. Cần phải thấy rằng, do thường xuyên làm việc với các bệnh nhân tâm thần mà cuộc sống bên trong của họ đã tách biệt thực sự với những hoàn cảnh bên ngoài và thường được thể hiện trong các hành vi, cử chỉ không tương ứng, nên S. Freud đã đi đến kết luận về tính nhị diện của tâm lý con người; “căn hầm vô thức” với những ham muốn, đam mê khởi nguyên đang sôi sục và “cái ý thức” mong muốn dung hoà áp lực của những dục vọng với các đòi hỏi của văn hoá. S. Freud đã quan tâm tới xung đột, tính căng thẳng ở đời sống bên trong của con người, tới vai trò của tình cảm và xúc động trong các động cơ hành động. Chẳng thế mà ông đã tuyên bố rằng, cảm xúc là cái giá trị nhất trong đời sống tâm lý thực sự có giá trị chỉ khi chúng thức tỉnh những cảm xúc. Nói chung, S. Freud đã phác hoạ nên một bức tranh về nhân cách năng động hơn, phức tạp hơn, đây là những mâu thuẫn và xung đột hơn so với tâm lý học cổ điển.
http://www.chungta.com/Image.aspx/image=pjpeg/7cc18f71c22247e9963c2419d594eeb0-anna_sigmund_freud_1928.jpg/anna_sigmund_freud_1928.jpgTrong mô hình về nhân cách của S. Freud, thoạt tiên ta thấy ông lựa ra hai hệ thống: “cái ấy” và “cái tôi” để sau này, bổ sung thêm “cái siêu tôi”. “Cái ấy” là hàm chứa những ham muốn vô thức hay những đam mê đã bị chèn ra khỏi ý thức. Nó là tầng cổ xưa của tâm lý luôn cực kỳ khoa khát được mãn nguyện. Còn “cái tôi” được ý thức đó chính là cái trung gian giữa “cái ấy” và thế giới bên ngoài, được hình thành trong quá trình xã hội hoá cá thể. “cái tôi” phục vụ những ham muốn của “cái ấy”, mưu toan dẫn dắt những kích thích động phi lý của “cái ấy” để tương hợp với những đòi hỏi của hiện thực, với những luận cứ của lý tính nhằm hạn chế chúng với sự trợ giúp của hàng loạt những cơ chế chúng với sự trợ giúp của hàng loạt những cơ chế phòng vệ khác nhau. Quan trọng nhất trong chúng là cơ chế để chèn ép những ham muốn không cần thiết ra khỏi giới hạn của ý thức từ góc độ văn hoá. Với sự giúp đỡ của việc lý tính hoá ý thức lý giải những hành động bị dấy lên bởi những khao khát không được phép từ quan điểm xã hội và những động cơ được xã hội chấp nhận. Với sự giúp đỡ của việc “phóng chiếu”, những khát khao và những kích động vốn có được gán cho đối tượng bên ngoài, gán cho người khác. Với sự trợ giúp của việc “thăng hoa”, những năng lượng của sư kích động đã bị cấm đoán được giải toả bằng những phương thức khác nhau mà cả xã hội và cá nhân đều chấp nhận. Ngoài ra, còn tồn tại nhiều cơ chế bảo vệ khác cho phép kiểm soát sức ép của các ham muốn.
“Cái siêu tôi là kết quả của việc nội quan hoá những đòi hỏi và những mệnh lệnh của đời sống xã hội. Quá trình chuyển hoá những đòi hỏi và những mệnh lệnh bên ngoài thành các nhân tố của thế giới bên trong được thực hiện dưới ảnh hưởng của các quan hệ cảm xúc với cha mẹ, với những người giáo dục, với “các thủ lĩnh” theo nghĩa rộng của từ này, bao gồm cả các thủ lĩnh chính trị. Thông thường, “cái siêu tôi” này hành động một cách vô thức, nhưng nó cũng có “những đại diện” của mình trong ý thức - lương tâm, quan niệm về những con người lý tưởng mà cá thể này tôn kính hoặc ngưỡng mộ. Nếu như “cái tôi” có dấu hiệu giải quyết các sự việc hay thực hiện những hành động một cách vô thức, không cân nhắc đến những ngăn cấm của xã hội, thì dưới sự tác động của “cái siêu tôi”, trong đó sẽ nảy sinh cảm giác hối hận, sự quở trách của lương tâm, nỗi sợ hãi.
Như vậy, trong mô hình của S. Freud, chúng ta thấy có những cách tiếp cận mới với cấu trúc của tâm lý. Khi khẳng định rằng, “bản chất nhân cách của chúng ta được tạo thành bởi cái tôi thầm kín mà không có mảy may một mối quan hệ trực tiếp nào với thế giới bên ngoài”, thì rõ ràng, S. Freud đã đánh giá quá mức vai trò của cái vô thức, đã phổ quát hoá sự cách biệt giữa những người bị bệnh tâm thần với môi trường xã hội. Nhưng, mặt khác, ông đã quan tâm một cách đúng đắn đến sự đa phương diện trong động cơ hoạt động của con người, đến sự tồn tại ở trong nó một sự liên kết chặt chẽ và phức hợp những nhân tố sinh học, cá tính và xã hội. Hơn nữa, S. Freud đã đưa ra quan niệm về chức năng của “cái tôi”, của cái ý thức một cách hoàn toàn mới mẻ. Phân tâm học đã bác bỏ sự đồng nhất tâm lý với ý thức, một sự đồng nhất vẫn thống trị trong tâm lý học bấy lâu nay, bởi tâm lý còn bao hàm trong mình cả cái vô thức kia. Đồng thời, ông cũng không bằng lòng với cái nhìn hẹp hòi vào ý thức chỉ như một luồng những tư tưởng và những quan niệm. Với S. Freud, ý thức được hình dung như một hệ thống phức hợp và đa cấp độ nhằm đảm bảo cho việc gìn giữ tính chỉnh thể của nhân cách. Dù cho “cái tôi” quả là hãy còn yếu ớt để xông vào cuộc chiến trực tiếp với “cái ấy”, còn những lý lẽ của lý tính không đủ khả năng làm giảm áp lực của các ham muốn thì rốt cuộc, sức mạnh của cái vô thức cũng vẫn không phải là tuyệt đối. Để kiểm soát cái vô thức, ý thức có thể sử dụng sức mạnh của “cái Siêu tôi” để chống lại những hàm muốn phá hoại xã hội, sử dụng những quy luật của chính cái vô thức - nguyên lý tối thượng của sự mãn nguyện để chứng minh rằng, việc thực thi những ham muốn vô thức như thế chăng đem lại sự mãn nguyện đâu. Đồng thời, những cách tiếp cận mới này còn bị giảm giá trị thực sự bởi sự thấu hiển những khía cạnh vô thức của tâm lý một cách phiếm diện và hẹp hòi chỉ nhăm nhe quy chúng vào những ham muốn tình dục hay hiếu chiến và bởi việc bóp méo mối quan hệ của chúng với ý thức. Cái vô thức và cái ý thức trong tâm lý không nhất thiết phải nằm trong trạng thái mâu thuẫn đối kháng, trong những tình huống nhất định, chúng có thể thống nhất với nhau để tạo thành một chỉnh thể hoà hợp cả nhân tố vô thức và ý thức.
(...) Thực ra, cách tiếp cận của S. Freud với “cái tự nhiên” và “cái văn hoá” trong con người, chỉ là sự bi kịch hoá thế giới bên trong của con người, chỉ là sự chia cắt con người thành những phần tách biệt hẳn nhau và đối lập nhau. Cần phải thấy rằng, do thường xuyên làm việc với các bệnh nhân tâm thần mà cuộc sống bên trong của họ đã tách biệt thực sự với những hoàn cảnh bên ngoài và thường được thể hiện trong các hành vi, cử chỉ không tương ứng, nên S. Freud đã đi đến kết luận về tính nhị diện của tâm lý con người; “căn hầm vô thức” với những ham muốn, đam mê khởi nguyên đang sôi sục và “cái ý thức” mong muốn dung hoà áp lực của những dục vọng với các đòi hỏi của văn hoá. S. Freud đã quan tâm tới xung đột, tính căng thẳng ở đời sống bên trong của con người, tới vai trò của tình cảm và xúc động trong các động cơ hành động. Chẳng thế mà ông đã tuyên bố rằng, cảm xúc là cái giá trị nhất trong đời sống tâm lý thực sự có giá trị chỉ khi chúng thức tỉnh những cảm xúc. Nói chung, S. Freud đã phác hoạ nên một bức tranh về nhân cách năng động hơn, phức tạp hơn, đây là những mâu thuẫn và xung đột hơn so với tâm lý học cổ điển.
http://www.chungta.com/Image.aspx/image=pjpeg/7cc18f71c22247e9963c2419d594eeb0-anna_sigmund_freud_1928.jpg/anna_sigmund_freud_1928.jpgTrong mô hình về nhân cách của S. Freud, thoạt tiên ta thấy ông lựa ra hai hệ thống: “cái ấy” và “cái tôi” để sau này, bổ sung thêm “cái siêu tôi”. “Cái ấy” là hàm chứa những ham muốn vô thức hay những đam mê đã bị chèn ra khỏi ý thức. Nó là tầng cổ xưa của tâm lý luôn cực kỳ khoa khát được mãn nguyện. Còn “cái tôi” được ý thức đó chính là cái trung gian giữa “cái ấy” và thế giới bên ngoài, được hình thành trong quá trình xã hội hoá cá thể. “cái tôi” phục vụ những ham muốn của “cái ấy”, mưu toan dẫn dắt những kích thích động phi lý của “cái ấy” để tương hợp với những đòi hỏi của hiện thực, với những luận cứ của lý tính nhằm hạn chế chúng với sự trợ giúp của hàng loạt những cơ chế chúng với sự trợ giúp của hàng loạt những cơ chế phòng vệ khác nhau. Quan trọng nhất trong chúng là cơ chế để chèn ép những ham muốn không cần thiết ra khỏi giới hạn của ý thức từ góc độ văn hoá. Với sự giúp đỡ của việc lý tính hoá ý thức lý giải những hành động bị dấy lên bởi những khao khát không được phép từ quan điểm xã hội và những động cơ được xã hội chấp nhận. Với sự giúp đỡ của việc “phóng chiếu”, những khát khao và những kích động vốn có được gán cho đối tượng bên ngoài, gán cho người khác. Với sự trợ giúp của việc “thăng hoa”, những năng lượng của sư kích động đã bị cấm đoán được giải toả bằng những phương thức khác nhau mà cả xã hội và cá nhân đều chấp nhận. Ngoài ra, còn tồn tại nhiều cơ chế bảo vệ khác cho phép kiểm soát sức ép của các ham muốn.
“Cái siêu tôi là kết quả của việc nội quan hoá những đòi hỏi và những mệnh lệnh của đời sống xã hội. Quá trình chuyển hoá những đòi hỏi và những mệnh lệnh bên ngoài thành các nhân tố của thế giới bên trong được thực hiện dưới ảnh hưởng của các quan hệ cảm xúc với cha mẹ, với những người giáo dục, với “các thủ lĩnh” theo nghĩa rộng của từ này, bao gồm cả các thủ lĩnh chính trị. Thông thường, “cái siêu tôi” này hành động một cách vô thức, nhưng nó cũng có “những đại diện” của mình trong ý thức - lương tâm, quan niệm về những con người lý tưởng mà cá thể này tôn kính hoặc ngưỡng mộ. Nếu như “cái tôi” có dấu hiệu giải quyết các sự việc hay thực hiện những hành động một cách vô thức, không cân nhắc đến những ngăn cấm của xã hội, thì dưới sự tác động của “cái siêu tôi”, trong đó sẽ nảy sinh cảm giác hối hận, sự quở trách của lương tâm, nỗi sợ hãi.
Như vậy, trong mô hình của S. Freud, chúng ta thấy có những cách tiếp cận mới với cấu trúc của tâm lý. Khi khẳng định rằng, “bản chất nhân cách của chúng ta được tạo thành bởi cái tôi thầm kín mà không có mảy may một mối quan hệ trực tiếp nào với thế giới bên ngoài”, thì rõ ràng, S. Freud đã đánh giá quá mức vai trò của cái vô thức, đã phổ quát hoá sự cách biệt giữa những người bị bệnh tâm thần với môi trường xã hội. Nhưng, mặt khác, ông đã quan tâm một cách đúng đắn đến sự đa phương diện trong động cơ hoạt động của con người, đến sự tồn tại ở trong nó một sự liên kết chặt chẽ và phức hợp những nhân tố sinh học, cá tính và xã hội. Hơn nữa, S. Freud đã đưa ra quan niệm về chức năng của “cái tôi”, của cái ý thức một cách hoàn toàn mới mẻ. Phân tâm học đã bác bỏ sự đồng nhất tâm lý với ý thức, một sự đồng nhất vẫn thống trị trong tâm lý học bấy lâu nay, bởi tâm lý còn bao hàm trong mình cả cái vô thức kia. Đồng thời, ông cũng không bằng lòng với cái nhìn hẹp hòi vào ý thức chỉ như một luồng những tư tưởng và những quan niệm. Với S. Freud, ý thức được hình dung như một hệ thống phức hợp và đa cấp độ nhằm đảm bảo cho việc gìn giữ tính chỉnh thể của nhân cách. Dù cho “cái tôi” quả là hãy còn yếu ớt để xông vào cuộc chiến trực tiếp với “cái ấy”, còn những lý lẽ của lý tính không đủ khả năng làm giảm áp lực của các ham muốn thì rốt cuộc, sức mạnh của cái vô thức cũng vẫn không phải là tuyệt đối. Để kiểm soát cái vô thức, ý thức có thể sử dụng sức mạnh của “cái Siêu tôi” để chống lại những hàm muốn phá hoại xã hội, sử dụng những quy luật của chính cái vô thức - nguyên lý tối thượng của sự mãn nguyện để chứng minh rằng, việc thực thi những ham muốn vô thức như thế chăng đem lại sự mãn nguyện đâu. Đồng thời, những cách tiếp cận mới này còn bị giảm giá trị thực sự bởi sự thấu hiển những khía cạnh vô thức của tâm lý một cách phiếm diện và hẹp hòi chỉ nhăm nhe quy chúng vào những ham muốn tình dục hay hiếu chiến và bởi việc bóp méo mối quan hệ của chúng với ý thức. Cái vô thức và cái ý thức trong tâm lý không nhất thiết phải nằm trong trạng thái mâu thuẫn đối kháng, trong những tình huống nhất định, chúng có thể thống nhất với nhau để tạo thành một chỉnh thể hoà hợp cả nhân tố vô thức và ý thức.