PDA

View Full Version : Mùa Vọng và Giáng Sinh A - Fiches Dominicales


admin
20-02-2011, 11:36 AM
CNMV1
CHÚA NHẬT I MÙA VỌNG

SỐNG TỈNH THỨC
(Mt 24, 37-44)



I. VÀI ÐIỂM CHÚ GIẢI.

1. Những câu hỏi "Khi nào" và "thế nào" không có giải đáp:

Chúng ta mở đầu bài Phúc Âm bằng đoạn cuối cùng, hay gần như cuối cùng của Tin Mừng thánh Mátthêu. Như thế, Phụng vụ muốn khẳng định ngay rằng Ðấng mà chúng ta đang chờ đón đến với chúng ta dịp lễ Giáng Sinh, chính là Ðấng sẽ trở lại vào ngày tận thế, và cũng là Ðấng luôn luôn đến với chúng ta.

Ðáp lại lời các môn đệ đang trầm trồ trước vẻ huy hoàng của đền thờ Giêrusalem, Ðức Giêsu khiến mọi người sửng sờ khi báo trước rằng, dấu chỉ tuyệt vời của sự hiện diện Thiên Chúa đối với dân Ngài ấy chắc chắn sẽ bị huỷ diệt. Ngài khẳng định: Tất cả những gì các con xem thấy, sẽ chẳng còn hòn đá nào trên hòn đá nào; tất cả sẽ bị huỷ diệt (24,2).

Trở lại núi Cây Dầu, nơi ta có thể nhìn thấy toàn cảnh Thành Thánh và Ðền Thờ, Ðức Giêsu ngồi xuống lập tức các môn đệ tới tấp đặt câu hỏi: Xin Thầy hãy nói cho chúng con biết khi nào điều đó xảy đến. Xin hãy nói cho chúng con đâu sẽ là dấu chỉ cho biết Thầy đến, và đâu là dấu chỉ cho biết ngày tận thế (24,3).

Ðức Giêsu bỏ qua không trả lời những câu hỏi này, bởi vì theo Ngài, đó là điều bí mật của Chúa Cha (24,36).

2. Một huấn lệnh cần phải được tuân giữ ngay lập tức.

Nếu Ðức Giêsu từ chối không tham dự vào những cuộc tranh luận của các môn đệ - xưa cũng như nay - về việc Con Người sẽ trở lại "Khi nào" và "thế nào", thì Ngài lại mạnh mẽ khẳng định rằng đó là điều không thể tránh né. Vì thế, Ngài khuyến khích các tín hữu đang sống trong dòng lịch sử, hãy luôn luôn sẵn sàng: "Vậy hãy tỉnh thức, bởi vì các con không biết khi nào Chúa sẽ đến. Vậy các con hãy sẵn sàng: chính vào giờ các con không ngờ mà Con Người đến. Trong Phúc âm thánh Matthêu, có bốn dụ ngôn minh hoạ lời Ngài dạy. Sau đây là những dụ ngôn được chọn cho Chúa nhật thứ I Mùa Vọng:

-Dụ ngôn về lụt đại hồng thuỷ:

Vào thời Noe, chỉ một mình tổ phụ được "chừa lại", khi ngài vào trong tàu; chỉ một mình ngài được cứu thoát, bởi vì ngài biết nhìn thấy trước biến cố lụt lội phủ lấp trái đất, ngài đã đọc được những dấu chỉ loan báo việc sắp xảy đến. Những người khác cứ tiếp tục cuộc sống thường ngày, không chút mảy may nghi ngờ, nên đã bị "nuốt trửng", không phải vì hạnh kiểm họ xấu, mà vì không biết phòng xa. Cũng vậy, khi Con Người đến, Ngài sẽ quyết định dứt khoát mối liên hệ đời thường nhất giữa những người đang sát cánh bê nhau miệt mài trong cùng một công việc "đang làm ruộng" hay "đang xay bột". Một số người biết chuẩn bị tích cực sẽ "được đem đi", nghĩa là "được cứu thoát". Những người khác, cứ sống mà không biết thấy trước ngày sắp đến, sẽ bị "bỏ lại".

-Dụ ngôn kẻ trộm ban đêm:

Con Người đến như lụt đại hồng thuỷ không ai biết trước, như việc tên trộm lẻn đến ban đêm, âm thầm chọc thủng những tấm vách mỏng mang của những mái nhà rách nát xứ Palestine. Vì thế, thái độ duy nhất phải có là luôn luôn "tỉnh thức", "sẵn sàng". Không phải trong sợ hãi, mà là trong thanh thản; không phải co rúm tê liệt đi, mà là trong niềm khao khát và năng động mong chờ ngày Chúa đến. Bằng cách lãnh nhận trách nhiệm của chúng ta. Bằng cách chu toàn sứ mạng được trao phó (24,45-51): Bằng cách đến cứu giúp những anh em nghèo túng.

"Vậy người Kitô hữu dấn thân sống như là ngày tháng xét đã đến. Hiện tại của thế giới bị chất vấn bởi tương lai. ước mong rằng người tín hữu luôn trung thành với ơn gọi và sứ mạng đã lãnh thận" ("Célébrer", n. 224, trang 18).



II. BÀI ÐỌC THÊM:

1."Ðức Giêsu đến gặp chúng ta một cách bất ngờ, nhưng không phải là không báo trước" (Mgr L.Daloz trong "Le règne aes cieux s'est approchè", Desclèe de Brouwer 1994, trang 334... 336).

Ngày và giờ là bí mật của Chúa Cha. Ðó không phải là cơn thịnh nộ và sự trừng phạt vào ngày đã định. Nói rằng chỉ một mình Chúa Cha biết ngày tận thế và việc con Người trở lại, có nghĩa là đặt thế giới và nhân loại trong tay của Ngài, trong đôi tay nhân từ của Ngài. Ðó là đặt chúng ta trong sự thanh thản, an toàn: ai có thể rứt chúng ta ra khỏi đôi tay của Chúa Cha? Chúng ta còn sợ gì nếu chúng ta được ấp ủ trong tình yêu của Ngài?

Ðức Giêsu không mời gọi ta sợ hãi, nhưng mời gọi ta tỉnh thức. Ngài so sánh lụt đại hồng thuỷ và ông Noe: Người ta không nghi ngờ gì hết cho đến khi lụt đại hồng thuỷ đến cuốn trôi hết tất cả mọi sự. Tất cả mọi người mãi lo lắng sự đời: người ta mãi lo ăn uống, cưới vợ gã chồng. Chúng ta cũng vậy, chúng ta mãi lo lắng sự đời, và đó là điều cần thiết! Chính lúc đó, Chúa đến gặp chúng ta. Nhưng để khỏi bị bất ngờ khi Ngài đến, chúng ta phải chuẩn bị như ông Noe. Cũng giống như ông, chúng ta có lời Chúa cảnh báo và nhắc nhở chúng ta; Ðức Giêsu nói: Ðó, Thầy đã báo trước cho các con. Ngài đến gặp chúng ta một cách bất ngờ, nhưng không phải là không báo trước. Cuộc gặp gỡ này không chỉ diễn ra vào lúc tận thế. Cái chết của mỗi người cũng sẽ bất ngờ. Phải chăng cái chết không là ngày tận thế, ngày tận thế riêng của mỗi người, lúc mà Ðức Giêsu đến gặp riêng mỗi người? Ít nhất điều đó đã cảnh báo chúng ta qua ví dụ của Phúc âm: Bấy giờ hai người đàn ông trên cánh đồng: một người sẽ được đem đi, người kia bị bỏ lại; hai người đàn bà đang xay bột ở cối xay: một người được đem đi, một người bị bỏ lại... Quan trọng nhất vẫn là tỉnh thức. Không lo lắng, nhưng chú ý, chú ý vào Chúa Cha, chú ý vào Ðức Giêsu Kitô. Nếu chúng ta không biết ngày và giờ, thì điều quan trọng là phải biết Ngài, và phải nhận ra Ngài khi Ngài đến với chúng ta. Ðức Giêsu nhắc đi nhắc lại hai lần rằng vì ta không biết nên ta phải tỉnh thức: Vậy hãy tỉnh thức, bởi vì các con không biết ngày nào Chúa sẽ đến... Ðể kết thúc, Ngài dùng một ví dụ chỉ cho thấy sự nghiêm trọng của tình thế, và sự gấp rút phải tỉnh thức. Ví dụ hơi mâu thuẫn, vì nói về một ông chủ nhà tỉnh thức, bởi lẽ ông ta biết giờ kẻ trộm lẻn đến ban đêm. Khi biết, thì dễ chờ đợi hơn còn chúng ta, chúng ta thấy thời gian dài, mà chẳng hay biết gì. Không biết là một lý do khiến chúng ta đừng ngủ say. Ðược hay thua thì điều quan trọng là đừng để tường nhà mình bị chọc thủng. Con Người đến gặp chúng ta. Ðừng có ngủ say trong thời gian đó: "Ðó là lý do tại sao các con phải tỉnh thức, bởi vì vào giờ mà các con không ngờ Con Người sẽ đến".

2. "Vì không biết Ngài các con hãy tỉnh thức" (P.Geoitrain, trong "Assemblèes du.Seigneur", n.5, trang 28).

"Lời khẳng định của Ðức Giêsu về việc chúng ta không biết Ngài, giờ tránh cho chúng ta khỏi mọi tính toán về ngày Chúa đến, niềm hy vọng Ngài trở lại luôn luôn còn đó, không phải là một chờ đợi bồn chồn, mà là một chắc chắn về Ðấng đã đến, đang đến sống giữa những người thân yêu của Ngài, sẽ đen lại ý nghĩa đích thực cho cuộc sống và cho vũ trụ của chúng ta, Thiên Chúa nên mọi sự trong mọi người" (1Cr 15,24-28).

Ðược giải thoát khỏi những vấn nạn "khi nào và thế nào" rồi, người Kitô hữu chỉ còn lo chú ý vào việc phải sống như là ngày đó đã đến thực sự. Trong ý nghĩa đó những câu chúng ta vừa đọc mời chúng ta hướng về trời ít hơn là gọi chúng ta quan tâm đến những bổn phận hằng ngày mà Thầy chúng ta đòi hỏi. Sự tỉnh thức càng quyết liệt hơn khi giờ kết thúc vẫn còn chưa điểm. Tiếng kêu của Phúc âm: "Hãy sẵn sàng, hãy tỉnh thức phải vang dội trong tâm hồn của người đang chờ đợi cuộc hội ngộ lớn lao, không phải như một nỗi árn ảnh liên hệ đến ơn cứu độ riêng tư của mình, mà như một đòi hỏi trung thành với những sứ mạng Thầy trao phó".

3. "Hãy có một con tim tỉnh thức" (G.Boucher, "La terre parle au ciel", trang 5 (tại nhà tác giả: Résidence de Kerampir, 19820 Bohars).

"Thiên Chúa cứu chuộc dân Ngài. Thiên Chúa cứu chuộc nhân loại. thiên Chúa thức tỉnh ta. Thiên Chua mời gọi ta. Tới phiên ta trả lời Ngài.

Nếu ta ngủ mê, quá bận rộn với những công việc vật chất, ta sẽ ở bên lề biến cố Thiên Chúa tỏ mình ra là Ðấng Cứu độ. Chẳng lẽ mối lo mua bánh hay thu hoạch rau quả không thể nối tiếp những phút suy nghĩ về ý nghĩa cuộc đời. Những phút ta dừng 1ại để kiểm điểm mối tương giao với Thiên Chúa. Một tinh thần nhắc nhở chúng ta đừng quá đầu tư vào cuộc sống vật chất đến nỗi không nhìn ra ơn cứu độ mà Thiên Chúa thực hiện nơi ta, "ngày tốt đẹp" mà Ngài đã nói với ta hay sao. Nếu muốn chụp lấy tấm ván cứu độ, ta hãy mở rộng đôi mắt. Tinh thần minh mẫn. Con tim tỉnh thức, tâm hồn đợi chờ. Và ta sẽ đi chuyến tàu đang tới".

admin
20-02-2011, 11:37 AM
CNMV2
CHÚA NHẬT II MÙA VỌNG

HÃY DỌN ÐƯỜNG CHO CHÚA
(Mt 3, 1-12)



I.VÀI ÐIỂM CHÚ GIẢI.

1.Nước trời đã gần đến.

Chính dưới ánh sáng của Ðấng Phục Sinh sẽ đến trong ngày quang lâm mà ta khai mạc mùa Vọng này. Cũng chính dưới ánh sáng ấy, với thánh Matthêu, ta cùng đến vào thời đầu sứ vụ của Gioan Tẩy Giả. Một câu nói đủ gợi lên sự nhập vai của Gioan: "Vào những ngày ấy, Gioan xuất hiện, loan báo trong hoang địa rằng: Hãy sám hối, vì Nước Trời đã gần.... "Vào lúc ấy một công thức báo trước một giai đoạn mới. Một bắt đầu mới.

"... Gioan xuất hiện... "

+ Sự bắt đầu mới này loan báo việc nhập vai của Gioan, giới thiệu sự xuất hiện của Ðức Giêsu, trong câu 3,13: "Bấy giờ, Ðức Giêsu đến từ Galilêa, xuất hiện bên bờ sông Giôđan".

+ Ở đây, Gioan nhận lấy biệt danh: Tẩy Giả (người làm phép rửa), danh hiệu xếp ông vào vòng ảnh hưởng những nhóm tu sĩ thực hành nghi thức làm phép rửa, vào thời Ðức Giêsu; một nghi thức mà các Kitô hữu sẽ du nhập. Và có thể đó là dấu vết của sự căng thẳng liên lỉ, mãi cho tới thời thánh Matthêu, giữa một số môn đồ của Gioan Tẩy Giả và cộng đoàn các môn đệ Ðức Gìêsu?

+ Ông loan báo trong hoang địa xứ Giuđê.."

Trong ký ức tập thể của dân Israel, hoang địa là nơi thử thách, nhưng cũng là nơi tình nghĩa cha con của Thiên Chúa, và là nơi của mọi khởi đầu. Chỉ cần gợi lại bốn mươi năm vượt qua sa mạc, bốn mươi ngày bốn mươi đêm của tiên tri cha trên đường về nơi Heorb, bốn mươi ngày bốn mươi đêm của Ðức Giêsu nơi hoang địa, bắt đầu sứ vụ của Ngài.

+ ông loan báo điều gì? "hãy ăn năn thống hối, vì Nước Thiên Chúa đã gần đến. Trọng tâm của lời giảng của Gioan Tẩy Giả, trong Phúc âm Matthêu, cũng sẽ là trọng tâm của lời công bố của Chúa Giêsu (Mt 4,l7), cũng như sẽ là trọng tâm lời rao giảng của Giáo Hội, theo Tông đồ Công vụ 10,7. Ðiều Gioan loan báo đã là Phúc âm rồi: Phúc âm của Ðức Kitô, Phúc âm của Giáo Hội Ngài. Từ nay, theo sự hướng dẫn của Matthêu, chúng ta có thể hiểu con người của hoang địa này hơn, ngài vừa nhập vai mở màn cho một đoạn mới của lịch sử ơn cứu độ

+ Vấn đề một tiên tri mà sứ mạng làm trọn lời tiên báo của Isaia 40: trong sa mạc có tiếng kêu: Hãy dọn đường Chúa, hãy săn phẳng lối Ngài".

Cl Tassin chú giải: "Ngày xưa, Isracl sinh ra từ hoang địa trong cuộc xuất Hành, rồi từ chuyến trở về từ nơi lưu đày. Ngày nay, phải tái sinh nhờ lắng nghe lời tiên tri, và phải dọn đường Chúa đến. Chính Ðức Giêsu sẽ làm gương qua việc Ngài chịu phép rửa và thời gian ở trong hoang địa" ("L'evangile de Matthieu, Centurion, trang 39).

+ "Y phục ngài bằng lông lạc đà, nghệ thuật làm tượng thường trình bày như thế, có thể là rất lạ lùng đối với chứng ta ngày nay. Vào thời đó, nó có giá trị biểu tượng rất lớn, bởi vì nó gợi nhớ y phục của Elia (xem sách Các Vua, quyển thứ hai 1,8), mà theo truyền thống Do Thái, sự trở lại phải mở đầu cho chính Ðấng Cứu Thế đến (xem Mt 11,4).

+ Còn sự toả lan ra của lời giảng của ngài, thì cũng giống như của Ðức Giêsu trong câu 4,23-25, "Giêrusalem, tất cả xứ Giuđêa và khắp miền sông Giođan". Theo lời kêu gọi của tiên tri trong sa mạc, một dân tộc tội lỗi sẽ đến dìm mình trong dòng nước mà ngày xưa họ đã vượt qua để vào Ðất Hứa: "Họ để ông làm phép rửa trong sông Giôđan khi nhìn nhận tội lỗi họ. Ðó là một khởi đầu mới, một sự sinh thành mới được chuẩn bị kỹ lưỡng.Jean Perron kết luận trong "Lire la Bible", số 52, trang 14-15: "Thu tóm trong chính mình tất cả những tiên tri từ thời Elia, Ðấng tiền hô rõ ràng lời tiên tri sau cùng đồng thời cũng là người thứ nhất trong các tông đồ Kitô giáo; kết thúc tiên tri và mở đầu Phúc âm, ngài là bản lề nối kết Cựu ước và Tân ước".

2.Sự cấp bách trở về:

Sau khi đưa ra một cái nhìn tổng quát về những đám đông tuốn đến sông Giođan, tác giả Phúc âm kể ra những loại người đặc biệt: "Những người biệt phái và những người Sađuceo" đến "chịu phép rửa rất đông?

+ Xuất thân từ giới bình dân, danh xưng biệt phái (Pharisêu) chỉ "những người tách biệt", "những người tinh sạch", họ rất lo lắng đến sự tinh sạch và tuân theo lề luật đó cũng là một khuynh hướng nệ luật triệt để và nẹ hình thức tôn giáo.

+ Xuất thân từ giới thượng lưu và tư tế, những người thuộc phái Saduceo, đồng minh với trật tự đã được thiết lập, chấp nhận sự có mặt của người Roma, khác với những người biệt phái, nỗi tiếng bảo thủ trong vấn đề tôn giáo. Tuy hoàn toàn đối lập họ với nhau, hai nhóm tôn giáo này cùng có mặt ở đây, cùng đi về sông Giođan theo lời kêu gọi của Gioan, cũng như chẳng bao lâu sau, họ sẽ cùng liên kết với nhau để bắt bẻ Ðức Giêsu Nagiarét. Vị tiên tri của sa mạc không nể nang họ. Vừa nhìn thấy họ, ông đã mạt sát: "Hỡi loài rắn độc" nghĩa là: "những môi miệng chỉ tuôn ra những lời độc địa", ai đã chỉ dạy cho các ngươi tránh khỏi cơn thịnh nộ sắp tới?". Liệu những con người độc địa, túi tiết ra nọc độc có thể thoát khỏi sự phán xét sắp tới của Thiên Chúa không? Lời nói nghiêm khắc nhắm vào họ tựu trung ở hai điểm, bằng một lời đe doạ tương tự như nhau: ở câu 10, "cái rìu đã ở kề gốc cây", và ở câu 12, "tay Người cầm nia".

+ Ðiểm thứ nhất là một lời khuyến khích "sinh hoa kết quả", một hoa trái diễn tả sự trở về của các anh". Kêu nài đến Abraham cũng không ích lợi gì cả. "Con cái đích thực của Abraham" không phải là những người nói hay nghĩ những điều đúng đắn về Thiên Chúa, mà là những người sống theo ý Thiên Chúa. Cl. Tassin chú giải: "Như thế, trái ngược với một phép rửa cứu thoát một cách tự động, Gioan đòi phải có một sự trở lại thục sự (O C. trang 40).

+ Sau cùng, trong điểm thứ hai, Gioan trình bày phép rửa "trong nước dẫn đến sự trở lại" như để chuẩn bị cho một phép rửa khác, một phép rửa "trong Thánh Thần và lửa". Bởi vì kẻ "đến sau ông (một từ ngữ chỉ môn đệ), thực ra lại "mạnh mẽ" hơn ông. Ðến độ Gioan nhìn nhận rằng mình "không xứng đáng cởi dây giày cho Ngài", là nhiệm vụ dành riêng cho người nô lệ. Gioan Tẩy Giả đã khiêm nhường tự xoá mình đi trước Ðấng mà ông đâ nhận nhiệm vụ dọn đường.



II. BÀI ÐỌC THÊM:

1."Không thể có Phúc Âm hóa mà không có sự trở lại". (Ðức Cha L.Daloz, trong "Nước Thiên Chúa đã gần", Desclée de Brouwer, trang 23-24).

"Gioan chất vấn bằng lời nói, nhưng cũng bằng cách sống của ông: hoang địa, y phục, lương thực... Chính cuộc sống của ông đặt vấn đề và lôi cuốn. Sau này, Ðức Giêsu nhắc lại điều đó: "Các ông nhìn thấy gì nơi hoang địa. Một cây sậy phất phơ trước gió ư? Vậy thì các ông thấy gì? Một người ăn mặc lịch sự sang trọng ư? Nhưng những người ăn mặc lịch sự sang trọng thì ở trong cung điện nhà vua" (11,7-8). Tiên tri là người đầu tiên phải trở lại. Trước khi loan báo Nước Trời cho người khác, chính ông phải sẵn sàng đón tiếp Nước ấy. Không thể nào loan báo cho người khác nếu chính mình không hồi tâm trở lại, bởi vì đó không phải chỉ đơn thuần là chuyển giao một kiến thức. Thông tin về Nước Trời chỉ có thể được tiếp nhận bởi người nào chấp nhận biến đổi đời mình: Hãy ăn năn thống hối Nước Trời đã gần đến. Không ăn năn trở lại, thì Nước Trời vẫn ở ngoài cửa mà thôi. Chúng ta cần nghe lại sứ điệp của Gioan Tẩy Giả. Trong một thế giới mà việc loan báo Tin Mừng về Nước Thiên Chúa là nước không được nhận biết, không được chấp nhận, thì không được quên rằng, sẽ không được Phúc âm hoá nếu không có sự ăn năn trở lại của người loan báo, cũng như của người lắng nghe Phúc âm. Chúng ta luôn luôn phải chạm trán với sự không tin hay với sự thờ ơ? dửng dưng. Chúng thách thức ta phải kiểm điểm lại sự trung thành với Phúc âm, trình bày Phúc âm không phai là một giáo huấn đơn thuần cho trí hiểu nhưng là một lời mời gọi biến đổi đời mình. Bởi vì Phúc âm là sức mạnh đổi mới, hướng dẫn đời sống một cách khác. Phúc âm khơi gợi một sự ý thức về tội lỗi một ý chí muốn thay đổi cuộc sống. Ðó là ý nghĩa của phép rửa của Gioan: trong khi xưng thú tội lỗi, họ để ông làm phép rửa trong sông Giođan". 2."Với Thiên Chúa, chúng ta không thể gian lận" (G.Boucher, trong "Ðất nói với trời" xuất bản tại nhà tác giả "Résidence de kerampir, 29820 Bohars).

"Gioan không rào trước đón sau, mắng nhiếc thậm tệ những người đến với ông. Chúng ta có thể nghĩ rằng những người đến với ông đều tỏ ra thiện chí. Bởi vì họ đã bước xuống nước sông Giođan. Bởi vì họ đã dầm mình xuống dòng sông thanh tẩy. Nhưng không đúng thế.

Nghi thức tự nó không đủ. Chính con tim và cách sống mới can hệ. Và khi Thiên Chúa đến thì sẽ là phép rửa bằng lửa: một ngọn lửa tinh luyện và đức rèn. Một ngọn lửa thiêu đốt thế giới. Một ngọn lửa cháy lên huy hoàng vinh quang. Chúng ta thấy đó: không phải là vấn đề giả bộ. Với Thiên Chúa, chúng ta không thể gian lận. Và nhất là, nếu chúng ta để Thiên Chúa hành động thì Ngài sẽ cho thực hiện các phép lạ. Các bạn sẽ sản xuất ra nhiều hoa trái một cách dồi dào phong phú, các kho lẫm trên trời se đầy tràn chan chứa. Nhưng trước tiên, các bạn hãy ăn năn trở lại! Hãy từ bỏ sự tự mãn! Hãy để Thiên Chúa tràn ngập các bạn và đốt lửa lên trong lòng các bạn! Các bạn hãy thành thật đi! Ðừng tìm cách đánh lừa, Thiên Chúa, hãy từ bỏ sự bảo đảm dựa trên các tập quán để mở rộng con tim các bạn đón nhận những cái mới căn bản của Nước Trời!

admin
20-02-2011, 11:38 AM
CNMV3
CHÚA NHẬT III MÙA VỌNG

HÃY THUẬT LẠI NHỮNG GÌ ÐÃ THẤY VÀ ÐÃ NGHE
(Mt 11, 2-11)



I. VÀI ÐIỂM CHÚ GIẢI:

1.Vào một khúc quanh quyết định, một cuộc đối thoại kỳ lạ:

Phúc âm Chúa nhặt vừa qua trích dẫn thời gian đầu của sứ vụ của Gioan Tiền Hô, chương thứ bốn Phúc âm thánh Matthêu. Ông loan báo: "Anh em hãy sám hối, vì Nước Trời đã đến gần. Ðấng đến sau tôi thì quyển thế hơn tôi. Ðốt giai đoạn, sách bài đọc hôm nay đưa chúng ta đến chương thứ 11 của thánh Matthêu, nơi diễn ra cuộc đối thoại kỳ lạ giữa vị tiên tri vùng hoang địa và Ðức Giêsu. -Thực ra Gioan đang ở trong tù (xem 4,12). Trong khi chờ đợi trả giá sự can đảm bằng chính mạng sống mình, ông đành mất tự do vì đã tố cáo phẩm hạnh xấu của Hêrôđê Antipas, con của Hêrôđê Cả (ông ta sống với nàng Hêrôđiađê, là vợ của Philipphe, anh ông ta: 14,4-5). Về phương diện thể xác, ông từ từ tự xoá mình đi trước Ðấng mà ông đã nhận lãnh sứ mạng loan báo đang đến. Còn Ðức Giêsu, sau nhiệt tình ban đầu của cuộc đời công khai, Ngài đã có kinh nghiệm đau đớn về tính hay thay đổi của những đám đông xứ Galilê. Lời giảng dạy của Ngài, thôi thúc thính giả phải chọn lựa, phải quyết định, đã gây chia rẽ về con người của Ngài. "những công trình" của Ngài không phải là những việc mà cách chung người ta chờ đợi nơi Ðấng Cứu Thế! Và sự đối lập căng thẳng sẽ buộc Ngài phải khôn ngoan rút lui. Chính ở khúc ngoặt quyết định này, đối với Ðức Giêsu, cũng như với Gioan Tiền Hô, mà tác giả Phúc âm đã đặt cuộc đối thoại kỳ lạ, qua trung gian những người được sai đến.

2. Câu hỏi của một tiên tri bị hoang mang:

Như chúng ta thấy trong Chúa nhật vừa qua, Gioan Tiền Hô không ngừng loan báo việc Ðấng Cứu Thế sẽ đến, "sức mạnh của Ngài giáng xuống" như sấm sét. Nhưng thái độ của Ðức Giêsu rất không phù hợp với những lời khuyên bảo nghiêm khắc của ông. Không hề có ý định tiêu diệt những người tội lỗi, Ngài đi từ làng này sang làng khác, mở rộng đôi tay đón nhận tất cả những cảnh khốn khổ cùng quẫn của con người, chữa lành bệnh nhân (8 và 9), tha thứ tội lỗi (9,l-8), kêu gọi một người thu thuế bước theo Ngài (9,9), đồng bàn với những người tội lỗi (9,10). Khác xa với vị quan toà đáng sợ mà Gioan đã loan báo, Ðức Giêsu xuất hiện như người tôi tớ kín đáo, người ta không nghe tiếng Ngài trên quảng trường, Ngài không bẻ gãy cây sậy bị giập nát và không làm tắt tim đèn còn bốc khói (12,19-20). Ở đây Gioan đối đầu với cớ vấp phạm (scadale), nghĩa là đối đầu với một chướng ngại có nguy cơ làm ông sụp ngả. Một Ðấng Cứu Thế Tôi Tớ, khiêm nhường và đau khổ, khác xa với Ðấng mà ông đã loan báo. Ðó là thử thách đức tin của ông: đang chờ đợi một sự biểu lộ công bình, thì ông lại gặp lòng thương xót của Thiên Chúa. Vì thế, từ trong tù ngục Machéronte, từ đáy sâu suy tư mà hoàn cảnh đã nhận chìm ông vào, Gioan, vị tiên tri bị hoang mang, đã sai các môn đệ đến đặt cho Ðức Giêsu câu hỏi từ lâu thiêu đốt tâm hồn và môi miệng ông: ông có phải là Ðấng phải đến (một sự chỉ định Kitô-giáo về Ðấng Cứu Thế, lấy từ thánh vịnh 118,26), hay chúng tôi còn phải chờ đợi "một Ðấng khác?"

3. Câu trả lời của một Ðấng Cứu Thế gây hoang mang.

Ðức Giêsu trả lời trong hai hồi. Trước hết là nói với chính Gioan. Sau đó, là nói về Gioan. Trong hồi thứ nhất, Ðức Giêsu gởi gắm một sứ điệp cho những người được Gioan phái đến: "Các anh cứ về thuật lại cho Gioan những điều mắt thấy tai nghe: người mù xem thấy, kẻ què được đi, người cùi được sạch, kẻ điếc được nghe, người chết sống lại, kẻ nghèo được loan báo Tin mừng. Một sứ điệp diễn tả những hoạt động từ thiện của Ðức Giêsu ưu ái dành cho đám đông. Một sứ điệp thực sự đưa Gioan Tiền Hô về lại với những lời loan báo tiên tri của sách Isaia; đặc biệt là Is.35 của bài đọc thứ nhất Chúa nhật hôm nay: "Bấy giờ "mắt người mù sẽ mở ra và tai người điếc..., và Is.61: "Thánh Thần Chúa ngự trên tôi Ngài sai tôi đem Tin Mừng cho người nghèo khó. Như A.Marchadour giải thích điều đó rõ ràng trong một tác phẩm mới xuất bản: "Trong kinh nghiệm của dân Israel, phép lạ được định vị chủ yếu trong thời gian cuộc Xuất Hành... Dân Israel hy vọng rằng, những dấu lạ này sẽ lại đến trong thời gian sau hết, khi Thiên Chúa còn gần gũi với dân Ngài và sẽ bày tỏ điều đó ra bằng những dấu chỉ: "Bấy giờ mắt người mù sẽ mở ra, và tai người điếc sẽ nghe được. Bấy giờ người què sẽ nhảy lên như nai, và lưỡi người câm sẽ kêu lên vui mừng! Bởi vì, nước sẽ chảy vọt ra trong hoang địa và thác sẽ trào dâng trong thảo nguyên (Is 35,5-6). Ðó là điều mà Ðức Giêsu và Giáo Hội kế tiếp Ngài sẽ hiểu (xem 7,18,23). Chỗ đứng quan trọng của các phép lạ thời Ðức Giêsu (và cũng một phần trong thời Giáo Hội sơ khai) là sự hoàn thành của thời gian sau hết (Les Evangiles au feu de la critique", Bayard Editions, Centurion 1995, trang 120-121).

Như vậy thời gian viên mãn đã đến; Ðấng Cứu Thế được mong đợi đã đến. Nhưng còn phải phân định những dấu chỉ của sự hiện diện của vương quốc, và, như vậy là, như J.Radermarkers dã viết: chấp nhận được kể vào số những người mù được nhìn thấy, người câm điếc được nghe, người nghèo được Phúc âm hoá" ("Au fil de lévagile se lon saint Mathieu" trang 154). Sau cùng, Ðức Giêsu nói với Gioan: "Phúc cho ai không vấp phạm vì Ta. Nói khác đi, phúc cho ai sẽ vượt qua chướng ngại, sẽ phá vỡ cạm bẫy được giương ra, sẽ không vấp ngã? Ngoài Gioan, một thứ phúc thật có thể được áp dụng cho tất cả các tín hữu, cho mỗi người chúng ta.

-Sau khi các sứ giả trở về trại giam (pháo đài) Machéronte, sang hồi thứ hai, Ðức Giêsu, đối chiếu sứ vụ của Gioan với sự vụ của mình, đã khen ngợi Gioan Tẩy giả. Nếu những nhân chứng tuốn về phía con người của sa mạc.

+ Không phải là đến để xem "cây sậy phất phơ trước gió" trên bờ sông Giođan, một con người nhu nhược ngả nghiêng trước gió: can đảm trong việc giảng thuyết, Gioan đã tỏ ra không nao núng trong nghịch cảnh và cơn bách hại.

+ Cũng không phải là để đi xem. "một người mặc y phục sang trọng", một nhân vật trần thế: nhà khổ hạnh của sa mạc mặc y phục của tiên tri Êlia, vị tiên tri được mong đợi trong thời sau hết, kẻ phải đến trước Ðấng Cứu Thế;

+ Chính là để đi đến với "một vị tiên tri", và Ðức Giêsu khẳng định: "còn hơn một vị tiên tri nữa": ông là "vị sứ giả" cuối cùng, được tiên tri Malachia loan báo (3,1), "kẻ dọn đường", Ðấng tiền hô. Theo nghĩa đó, ông là vi tiên tri lớn nhất trong các tiên tri, bởi vì ở nơi ông, tất cả sự trông đợi được diễn tả qua truyền thống các tiên tri đã đạt đến đích điểm: Ðức Giêsu long trọng tuyên bố: "Giữa con cái loài người, không ai lớn hơn Gioan Tẩy Giả. Tuy nhiên, ngay lập tức Ngài nói thêm một cách ngược đời: "người nhỏ nhất trong Nước Trời còn lớn hơn ông ta". Cl. Tassin diễn giải: "Theo lịch sử nhân loại, không có ai lớn hơn ông. Thế nhưng, người bé nhỏ nhất, trong các Kitô hữu lại vượt qua ông trong phẩm cách, với tư cách là thành viên của một vương quốc đảo ngược những tiêu chuẩn nhân loại và ưu đãi những người bé mọn" ("L'evangile de Matthieu, Centurion, trang l22).



II. BÀI ÐỌC THÊM
1."Những dấu chỉ của sự hiện diện nước Thiên Chúa không có ly kỳ" (F.Deleclos, trong "Prends ét mang la Parole", Centurion-doculot, trang 10). Người ta chờ đợi một người làm sáng tỏ công lý không biết thương xót và ở đây lại là một vị chuyên chữa thân xác, một lương y của các tâm hồn. Người ta đã loan báo sự báo oán của Thiên Chúa, thế mà ở đây lại là lòng thương xót được trao ban với sự dịu hiền và khiêm nhường. Một nhà giải phóng kỳ lạ và rất khác biệt với dung mạo được tiên báo!... "ông có phải là Ðấng phải đến hay là chúng tôi còn phải đợi một người khác. Ðấng tiền hô sẽ thoả mãn với những dấu chỉ và bằng chứng. Thế nhưng ở đây, không phải là vinh quang rực rỡ, cũng không phải là sự báo oán thẳng tay. Cũng không là một lời giải đáp cho những hy vọng chính trị, tôn giáo, ái quốc của một số đông. Ðấng Cứu Thế đang ở đó sự giải phóng đã bắt đầu. Nước Thiên Chúa đã khai mào. Một cách khác. Bất thình lình. Không ngờ. Ðức Kitô thực sự không đáp ứng dễ dàng những tiêu chuẩn tự nhiên, những cái nhìn quá chật hẹp và quá khô cứng bởi những lợi lộc vật chất trần tục của chúng ta. Nếu Gioan đã có thể hồ nghi, điều này cũng dễ hiểu, thì những người khác đã hiểu ngay tức khắc, dù Thiên Chúa thinh lặng: những người được chữa lành, những người được thanh tẩy, những người được biến đổi và đám đông những người nghèo hèn này sau cùng được nhìn với sự yêu thương, được xem như là những con người được hoàn toàn ưu ái, con cái của vương quốc, những người thừa kế thực sự. Có thể là họ không biết tất cả những sắc thái của các lời tiên tri, không biết đến cả ngàn thứ quy định của Lề Luật, dù là thuộc về giáo thuyết phụng vụ hay luân lý. Họ không có kiến thức khoa học, không quyền bính, không tiền bạc và không cả sự kính trọng. Phúc cho "những con người bé nhỏ này", nghèo túng rất nhiều thứ, nhưng lại giàu sự hiểu biết của con tim. Họ hiểu biết mà không xét nét, và đã trở nên bằng chứng sống động của sự thâm nhập của một thế giới khác. Những nhân chứng đầu tiên còn lớn hơn cả Ðấng tiền hô nữa.

Những dấu chỉ sự hiện diện của Nước Thiên Chúa và của Ðấng Cứu Tinh không cố gì là ly kỳ cả. Trái lại, kín đáo và ẩn giấu trong khối bột của đời sống thường ngày, chúng dễ dàng lướt qua, không ai để ý. Những bằng chứng về tính đích thực không bị đông cứng lại trong những tuyên bố những nguyên tắc, những đe doạ và những vạ tuyệt thông ầm ĩ, cũng không có trong sự rõ ràng của những tín điều được công bố. Chính Ðức Giêsu từ chối trả lời cho đấng tiền hô qua việc giới thiệu những danh hiệu của Ngài, cho những thái độ khiêu khích gây kinh ngạc, đụng chạm và chia rẽ của Ngài. Những bằng chứng ư? Những cử chỉ yêu thương và tha thứ, bằng chứng của một tinh thần rộng mở và luôn luôn niềm nở, một trái tim không biên giới, một sự hoàn toàn kính trọng tất cả mọi người, một sự say mê chân lý và công bình, một sự trung thành không ngừng bênh vực quyền lợi của Thiên Chúa và của con người. Thiên Chúa và con người không thể tách rời nhau.

2. "Mở mắt mở tai.tâm hồn"(Mgr. L.Daloz, trong "Le Règne de Diei s'est approché", Desclée debrouwer, 1994, trang 160).

"Tìm kiếm sự phi thường, kỳ diệu luôn luôn là một cám dỗ; còn tế nhị hơn nữa, tìm kiếm sự thành công, sự kính trọng, lòng khao khát lôi cuốn sự chú ý, thủ đắc uy tín xã hội cho chúng ta hay cho Giáo Hội. Chúng ta muốn gây một ấn tượng tốt, nếu có thể gây nên cảm giác, muốn giới thiệu nhưng dấu chỉ như là những thư giới thiệu. Thế nhưng, những dấu chỉ đích thực của Ðấng Thiên Sai lại chiếu cố đến những người bé mọn, những người bệnh tật, nhưng người nghèo. Vì thế, dấu chỉ của ơn cứu độ thường được giấu kín, không hiểu thấu được. Ðể có thể thấy được, phải tìm kiếm, phải chú ý, lắng nghe và nhìn xem: "Hãy đi báo cho Gioan những gì các ông nghe và thấy". Ðang ở trong tù, Gioan vẫn theo dõi những gì người ta nói về Ðức Giêsu: ông sai các môn đệ đến với Ðức Giêsu để phỏng vấn Ngài: Cũng phải mở rộng con tim để hiểu: "Phúc cho ai không vấp ngã vì Ta". Chính những dấu chỉ phải đương đầu với sự mâu thuẫn. Quả thật người ta có thể bỏ qua, quả thật người ta có thể thấy chúng "không có gì đáng kể", hay người ta có thể lầm lạc khi tìm kiếm những việc phi thường. Ðể nhận ra Ðức Kitô, phải mở mắt, mở tai... và mở con tim nữa".

3. "Phép lạ, dấu chỉ ơn cứu độ của Thiên Chúa cho con người" (A.Marchadour, "Les Evangiles au feu de la critique", Bayard.Editions, Centurion, trang 121-122).

"Không được cô lập phép lạ ra khỏi toàn bộ Phúc âm. Ðó là phần chính yếu của sứ mạng Ðức Giêsu. Có nghĩa là, ơn cứu độ do Ðức Giêsu đem đến không phải chỉ là Tin Mừng suông, một sự hiểu biết giúp thoát khỏi sự tối tăm ngu dốt, và chuyền thông một kiến thức mới về Thiên Chúa; nhưng đó cũng là một sự giải phóng thân xác, một sự khôi phục toàn diện cho những người què quặt cho những người sống bên lề, cho những người bị đánh mất chính mình (bị ám ảnh bởi một người khác), cho những ngườibị loại trừ ra khỏi xã hội. Phép lạ tượng trưng cho một chương trình cứu độ, chịu trách nhiệm về những thực tại thân xác, vật lý, thiêng liêng và xã hội của con người. Phép lạ luôn luôn xuất hiện như một sự phản kháng, chống lại một trạng thái nào đó của những sự vật một sự từ chối chống lại tai ương, dù là sinh vật học, thiên nhiên hay xã hội. Người có ơn đoàn sủng là người vượt qua những ranh giới và giúp cho người khác vượt qua những ranh giới đó. Có thể chúng ta chạm ngón tay vào một nét lớn của phép lạ, là phải nắm giừ lại khi chúng ta tự hỏi về tính thời sự của phép lạ. Ngày nay, chúng ta ít thấy những phép lạ thuộc loại sinh vật học; tuy nhiên, phải tự hỏi về những vươn lên, những vượt qua các giới hạn mà chúng ta được mời gọi. Phép lạ giả thuyết hai người nghèo túng: người thứ nhất là Ðức Giêsu, "Ngài là Ðấng vốn giàu có đã tự trở nên nghèo hèn vì anh em" (2Cr 8,9). Người thứ hai là người đón nhận dấu chỉ của Ðức Giêsu, là người khốn quẩn đến nỗi đã để cho sức mạnh của Ðức Giêsu hành động trên chính mình và qua chính mình".

admin
20-02-2011, 11:39 AM
CNMV4
CHÚA NHẬT IV MÙA VỌNG

BÁO TIN CHO GIUSE
(Mt 1,18 -24)



I.VÀI ÐIỂM CHÚ GIẢI:

1.Một gia phả kỳ thị:

Chúa nhật thứ IV này, bài đọc năm A tích trong đoạn mở đầu Phúc âm thánh Matthêu (1,1-4,16). Claude Tassin giải thích: Một đoạn mở đầu như một cái sàng, cho phép đi từ Cựu ước đến Tân ước. Bởi vì, đối với Matthêu, Ðức Giêsu không đến cắt đứt những quỹ đạo lịch sử Kinh Thánh thời trước, nhưng nối kết chúng lại trong một chiều hướng bất ngờ (L'evangile de Matthieu", Centurion, 1991, trang 19). Ðó rõ ràng là điều nỗi bật của đoạn văn dùng cho ngày 24 tháng 12 này.

Khác với thánh Luca đã gom lại các mẩu chuyện về thời ấu của Ðức Giêsu, nhưng tập trung vào Ðức Maria, thánh sử Matthêu đưa Giuse ra trước; như thế, ngài cống hiến cho các độc giả của ngài một con đường đi đến mầu nhiệm Ðức Giêsu. Gia phả của ông: "Ðây là gốc gác Ðức Giêsu Kitô... " (1, 1- 17) trước hết muốn tỏ cho biết Ðức Giêsu Kitô là Ai: "Ðức Kitô, con vua David, con của Abraham". Tuy nhiên, việc giới thiệu ấy bất ngờ chuyển hướng; một khâu cuối cùng bị trục trặc, sự liên tục của các thế hệ bị đứt đoạn, bởi vì, ông nói rõ ràng là, Giuse không phải là cha ruột của Ðức Giêsu: "Giacob sinh Giuse, chồng của Maria, từ nơi bà Ðức Giêsu sinh ra, cũng gọi là Ðức Kitô" (câu 16). Mặc dầu vậy, Matthêu sẽ chỉ cho biết, làm thế nào Ðức Giêsu là con của David được các tiên tri báo trước, và làm thế nào, Giuse, không hề cắt đứt sự liên tục, lại là người nối kết lại. Ông nhấn mạnh ở câu 18: "Ðây là gốc tích (nguồn gốc) của Ðức Giêsu.

"Maria, mẹ của Ðức Giêsu, đã đính hôn với Giuse...". Vào thời đó, đôi vợ chồng đính hôn khi còn là thanh niên, sau một thời gian mới đi đến hôn nhân và vợ về nhà chồng. Chính trong khoảng thời gian này, "trước khi hai ông bà về chung sống với nhau Maria "có thai. "Do tác động của Chúa Thánh Thần, Matthêu thêm vào ngay lập tức nhìn nhận đây là sự khởi đầu thánh thiêng, thay thế một hành động tạo dựng, cho tiến trình sinh vật học.

"Giuse, người công chính... ". Chúng ta đừng tìm cách đi vào tâm lý của Giuse, đang phải đương đầu với một hoàn cảnh tế nhị. Tuyệt nhiên, bản văn không nói với chúng ta điều gì cả. Chúng ta chỉ có thể đọc được ở đây quan điểm của thánh sử. C.Tassin chú giải: "đối với ông Giuse là người công chính, bởi vì ngài đã từ chối đảm nhận tư cách làm cha không phải là của ngài, và bởi vì ngài đã vâng lời Thiên Chúa mà chịu nhận vai trò làm cha này" (O.C. trang 26).

"Thiên thần Chúa hiện ra với ông trong giấc mơ... ". Rõ ràng là chúng ta đang gặp thể loại văn chương chuyên loan báo việc hạ sinh trong Kinh Thánh mà Matthêu đi theo sơ đồ truyền thống: 1- một hoàn cảnh bế tắc. 2- Thiên thần hiện ra và uỷ thác sứ mạng. 3- Việc thực hiện sứ mạng này. Giữa hoàn cảnh bế tắc, Giuse được uỷ nhiệm một sứ mạng: với tư cách là "Con vua David", ngài được giao phó sứ mạng "đặt tên cho con trẻ", dành riêng cho ngài. Mà, theo H.Vulliez giải thích: "Theo luật Do Thái lúc bấy giờ, đứa bé hiện hữu hợp pháp bằng tên mà người ta gọi nó, và nó thuộc dòng dõi người cha, dù đó là người cha. (sinh vật học) ruột thịt hay không" ("Diêu si proche", Desclée de Brouwer, trang 16). Như vậy, tư cách con vua Daviđ thực sự của hài nhi và sự thực hiện trọn vẹn các lời tiên tri cứu thế tuỳ thuộc ở sự vâng lời của Giuse. Chẳng những ngài không phải mờ nhạt đi, mà Thiên Chúa muốn cần đến ngài để thực hiện ý định cứu độ của Thiên Chúa.

"Khi thức dậy, Giuse đã thực hiện điều Thiên Chúa truyền... Với sự mau mắn của người công chính, hoàn toàn sẵn sàng trước sự mới lạ của Thiên Chúa, Giuse đón nhận về nhà mình mầu nhiệm của Giao ước mới: "ông rước vợ về nhà mình, như thế, cho phép các lời tiên tri được thực hiện trọn vẹn: "Này đây, một trinh nữ sẽ thụ thai và sinh hạ "Một con trai, người ta sẽ đặt tên là Emmanuel, có nghĩa là "Thiên Chúa ở cùng chúng tôi" (xem Is. 7). Nhờ Giuse, Ðấng Cứu Thế, thụ thai trong lòng Ðức Maria, bởi Thánh Thần của sự sáng tạo mới, được đưa nhập vào dòng dõi David. Với đoạn các Nhà Ðạo kế tiếp Ngài sẽ tỏ mình ra cho Israel và dân ngoại.

2.Một tên gọi khai mào và kết thúc Phúc Âm:

Thế nhưng, hơn cả vai trò của Giuse trong ý định cứu độ chính sứ mạng của Ðức Giêsu mới làm cho Matthêu quan tâm. Một sứ mạng mà hai tên gọi loan báo được trao phó cho Ngài: Tên mà Giuse được uỷ thác trao phó cho Ngài:."Giêsu", và có nghĩa là: "Thiên Chúa cứu chuộc", "bởi vì, chính Ngài sẽ cứu dân Ngài khỏi tội lỗi". - Tên gọi mà sau này sẽ dùng để chỉ định Ngài, khi mà, trong ánh sáng phục sinh, các môn đệ sẽ hiểu là đã thực hiện lời sấm của Isaia: "Người ta gọi tên Ngài là Emmanuel, nghĩa là: "Thiên Chúa ờ cùng chúng tôi. Thực ra, vào cuối Phúc âm, khi gặp nhau tại điểm hẹn, đấng Phục Sinh sẽ sai họ ra di với sứ mạng không biên giới, Ngài tuyên bố với họ: Và Ta, Ta ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế, thì họ sẽ hiểu rõ tầm mức quan trọng cuối cùng của lời tiên tri về Emmanuel, "lời loan báo cho Giuse đã vẽ lên quĩ đạo sứ mạng của Ðức Kitô" (C.Tassin, O.C. trang 28).



II. BÀI ÐỌC THÊM:

1."Nguồn gốc khác" (Mgr L.Daloz, trong "Le Règne des cieux s"est approché", Desclée de Brouwer, trang 16-17).

"Ðây là gốc tích của Ðức Giêsu... ". Sau quyển sách gốc tích của Ðức Giêsu Kitô, thì đây là một nguồn gốc khác được trình bày cho chúng ta. Ðức Giêsu, bám rễ sâu vào một lịch sử, trong một dân tộc, cũng là Ðấng đến từ nơi khác. Giacob sinh Giuse, chồng của Maria, từ nơi bà, Ðức Giêsu sinh ra... Giuse đã đưa đứa trẻ sắp sinh nhập vào trong dòng dõi tổ tiên mình một cách hợp pháp; nhưng hài nhi này lại đến từ một Ðấng khác: đứa con bà sinh ra là bởi Chúa Thánh Thần. Giuse, người công chính, sẽ đặt tên cho hài nhi: bà sẽ sinh một con trai mà ông sẽ đặt tên là Giêsu. Tên gọi có ý nghĩa, cho biết hài nhi không phải là hậu duệ như những người khác, đóng kín trong những giới hạn của khả năng loài người: Bởi chính Ngài sẽ cứu dân Ngài khỏi tội lỗi. Ai có thể giải thoát khỏi tội lỗi, nếu không phải là Thiên Chúa? Lời tiên tri nhận lấy đầy đủ tất cả ý nghĩa: người ta sẽ gọi tên Ngài là Emmanuel, nghĩa là Thiên Chúa ở cùng chúng tôi. Ðức Giêsu ghi tên vào một gia phả, nhưng Ngài làm nổ tung gia phả đó. Chính Thiên Chúa bước vào trong thế giới loài người chúng ta. Tuy nhiên, vai trò của Giuse không phải là tầm thường. Khoa tâm lý hiện đại đã tỏ cho chúng ta biết tầm quan trọng của hình ảnh người cha đối với việc tạo thành nhân cách của hài nhi. Chính nhờ gần gũi với Giuse mà Ðức Giêsu sẽ học biết người cha là gì. Chính nơi ông, mà Ngài sẽ nhìn thấy phản ánh nhân loại tình phụ tử của Thiên Chúa. Biết nói với chúng ta rõ ràng về Cha của Ngài, phải chăng khi đã nhìn thấy Giuse mà Ngài đã có kinh nghiệm về sự âu yếm của cha: "Ai trong các anh, nếu đứa con xin bánh mà lại cho một hòn đá ư? Hay, nếu nó xin một con cá, mà lại cho nó một con rắn (7,9- 10). Ngài đã học biết rằng, các người cha dưới đất biết cho con cái mình những sự tốt lành. Ngài đã học biết điều đó nơi thánh Giuse. chúng ta đừng quên rằng, những đoạn văn đến "sau"..sau một sự khám phá lâu dài về con người Gìêsu, con của bác thợ mộc, sau những lời nói và những dấu chỉ đã làm nảy sinh đức tin trong tâm hồn các môn đệ, sau những hồ nghi và sau cùng, sau một sự chắc chắn về sự phục sinh: phải nhìn nhâ뮠rằng, Ðức Giêsu đã là một Ðấng khác, để chúng ta có thể hiểu rằng ngài đã từ nơi khác mà đến: Trong lịch sử nhân loại, nguồn gốc thần thiêng của Ðức Giêsu là một sự kiện không ai để ý đến, không ngừng được tranh cãi và chối bỏ: Ðó không phải là con bác thợ mộc sao? Nhờ Thánh Thần Thiên Chúa dẫn nhập cái mới vào trong thế giới chúng ta. Ngài đã trở thành Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-tôi. Cả nguyên việc đón nhận cái mới là chính Ðức Giêsu, cái mới mà Ngài đem đến cho cuộc đời chúng ta, có thể dẫn ta đến chấp nhận điều bất ngờ trong việc Ngài sinh ra. Chính kết quả của việc khám phá này mà Matthêu muốn gởi gấm cho chúng ta. Chúng ta không thể chấp nhận nguồn gốc của Ðức Giêsu bởi tác động của Chúa Thánh Thần mà không nhìn nhận là Ngài đến từ Thiên Chúa. Chính khi đã nhìn biết Ngài, chính khi đã hiểu rằng, Ngài là Ðấng khác, thì chúng ta mới có thể đón nhận mầu nhiệm giáng sinh của Ngài".

2.Tính cách làm cha của Giuse đối với Ðức Giêsu chắc chắn quan trọng hơn như người ta vẫn thường nghĩ". (Jeannoel Bezancon, trong "Jésus Christ ("Petit encyclopédie moderne du christiani8me~ Desclée de Brouwer, trang 43-45).

"Tính cách làm cha của Giuse đón với Ðức Giêsu quan trọng hơn ta vẫn thường nghĩ. Ðể gọi tên Ðấng mà tất cả mọi người xưng là Thiên Chúa, để chỉ định sự hiện diện rất gần gũi mà từ đó Ngài lãnh nhận tất cả mọi sự, hữu thể mà Ngài luôn luôn ý thức chỉ là một với Ngài, Ðức Giêsu tự động dùng lại danh xưng mà ngài âu yếm gọi Giuse; "Cha, Ba, Bố. Và khi phải giải thích sự thật gây kinh ngạc này với Thiên Chúa của Israel, Thiên Chúa mà Ngài đòi tiếp tục công trình sáng tạo, Ðức Giêsu lại dùng những từ ngữ đơn giản nhất khi còn tập tành ở Nagiarét, trong xưởng của bác thợ mộc Giuse: "Cho đến bấy giờ vẫn làm việc, và Ta cung vậy, Ta cũng làm việc. Ðiều mà Cha làm, thì Con cũng làm giống như vậy. Chính Cha yêu mến Con, và Cha cho Con tất cả những gì Ngài làm (Jn 5,17-20). Chính nơi những từ ngữ thường ngày, những từ ngữ mà Ngài dùng để diễn tả cuộc đời Ngài, những mối liên hệ của Ngài, những tình cảm của Ngài, mà Ðức Giêsu muốn nói đối với Ngài, Thiên Chúa là ai. Làm sao không tình thấy trong tình cảm của cha mẹ Ngài những từ ngữ đúng đắn nhất để nói cho chúng ta biết mối liên hệ tuyệt đối duy nhất vốn vẫn hiện diện trong con tim Ngài: "Cha và Ta, Chúng Ta là một" (Jn 10,30).

admin
20-02-2011, 11:40 AM
NOEL
ÐÊM NOEL

ÐỨC GIÊSU GIÁNG SINH
(Lc 2, 1-14)



I.VÀI ÐIỂM CHÚ GIẢI:

1.Một sự sinh ra âm thầm giữa lòng lịch sử chúng ta:

Nếu thánh Luca, trong lời dẫn nhập, rất muốn làm công việc của nhà viết sử, thì điều đó không theo ý nghĩa hiện đại của từ ngữ, nhưng chỉ như một nhà thần học nhạy cảm đặc biệt với lịch sử ơn cứu độ mà thôi.

Ðể đăng ký việc Ðức Giêsu sinh ra trong lịch sử tổng quát ông nối kết điều đó với "một sắc dụ của hoàng đế Augústô ra lệnh kiểm tra dân số trong tất cả thiên hạ". Một cuộc kiểm tra dân số không phải là không đặt thành vấn đề lịch sử cho một số nhà chuyên môn).

Ðể giải thích sự liên tục của lịch sử cứu độ và sự hoàn thành của nó trong Ðức Kitô, thánh Luca thích nhấn mạnh mối quan hệ dòng dõi vua David của Ðức Giêsu".

+ Chính là đi về Bêlem, "thành quả của vua Daviđ", mà Giuse, rời bỏ Nagiarét xứ Galilêa, để được đăng ký trong nguyên quán, bởi vì ông thuộc về nhà và con cháu vua David".

+ Chính ở tại Bêlem mà "Maria, vợ ông, đang có thai", sẽ cho ra đời hài nhi mà bà cưu mang. Biến cố đã được kể lại với một sự điều độ đáng kể. Giữ một vai trò quyết định trong việc lên Giêrusalem, giờ đây, Giuse phải mờ đi để nhường cho Maria nhiệm vụ chủ động: vì sinh con trai đầu lòng, lấy tả bọc con, rồi đặt nằm trong máng cỏ" điều này không thể không gợi lên cảnh đặt trong mộ, trong Lc 23, 53: "Ông quấn Ngài trong một khăn liệm và đặt Ngài nằm trong huyệt, bởi lẽ không có chỗ cho họ trong phòng chung ("phòng chung" sắp tới mà chúng ta sẽ thấy nơi Luca sẽ là phòng chung cho bữa tiệc ly: Lc 22,11). Trái ngược với sự thinh lặng, âm thầm và nghèo nàn của việc sinh ra, thì đây, "trong vùng chung quanh", đêm được soi sáng và vang lên lời giải thích ý nghĩa của

biến cố vừa mới được thực hiện trọn vẹn: trời đất đều có liên quan. Những người đầu tiên đón nhận mạc khải lại là những người cùng đinh thời đó? "những người chăn chiên", một trong những hạng người bị xã hội khinh khi nhất, bị liệt kê ngang hàng với những tội lỗi công khai và những người thu thuế. H. Cousin giải thích: "những người chăn chiên có tiếng xấu trong xứ Palestine, là nơi mà người ta thường coi họ thư là không lương thiện là trộm cắp. Kinh Talmud của Babylone xếp họ vào một bọn có ý nghĩa: "những người chăn chiên, thu thuế và publicanô thật khó lòng là sám hối ăn năn". Những người bị khinh khi, hạ cấp trong bậc thang xã hội là những người đầu tiên liên hệ trong việc sinh ra của Ðấng có một người mẹ là "người hèn hạ" (1,48), người đem Tin Mừng cho những người nghèo khổ (4,18). Hài nhi mới sinh ra đã là Ðấng gần gũi với những người tội lỗi và sẽ ăn uống cùng bàn với họ" (15,2) ("Levangile de Luc", Centurion, trang 38-39).

Sứ điệp mà "thiên thần Chúa" nói với họ là "Một Tin Mừng" (một Phúc âm), một niềm vui lớn lao. Sứ điệp được gởi "đến cho toàn dân". Nó liên quan đến việc sinh hạ của một hài nhi mà tất cả những danh hiệu như "Ðấng Cứu Thế", "Ðấng Thiên Sai" "Chúa" chỉ có đầy đủ ý nghĩa khi được trao ban cho em bé đó mà thôi, bởi vì em bé chính là sự mạc khải sống động của lòng thương xót Thiên Chúa. "Ðấng Cứu Thế", "Ðấng Thiên Sai" ("Ðức Kitô), "Chúa", là ba danh hiệu phát xuất từ lời tuyên xưng đức tin phục sinh của Giáo Hội, mà chúng ta sẽ thấy trên môi miệng của Phêrô (Cv 2,36) và của Phaolô (Cv 13,33).

-"Dấu chỉ" dược cung cấp cho những người chăn chiên vùng phụ câﮠBêlem là: "Một hài nhi mới sinh, quấn trong tả và đặt nằm trong máng cỏ. Chính là để nói cho những người biết đón nhận dấu chỉ này là, Thiên Chúa muốn thực hiện việc cứu độ đã hứa bằng một cách hoang mang, bất ngờ như thế nào.

R.Meynet diễn giải: đấng trước hết đã trở thành sau hết. Ngài là Ðấng Cứu Thế, là Vua, đấng Thiên Sai, đấng sẽ được trao ban ngôi báu David, đã được đặt vào trong máng ăn của súc vật, được quấn bằng những tấm tả và nằm trong một cái lôi của vận mệnh, cũng như là Ngài sẽ kết thúc khi nằm trong ngôi mộ mượn tạm, quấn trong một chiếc khăn liệm. Và, một cách mâu thuẫn, chính điều đó lại được coi là dấu chỉ cho những người chăn chiên và những người tín hữu của mọi thời đại. Dấu chứng của sự vĩ đại của Thiên Chúa là sự bé nhỏ của Ngài dấu chứng của quyền lực của ngài lại chính là sự yếu đuối của Ngài" ("L'evangile se lon saint Luc, Analyse rhétorique", Cerf, trang 36).

2. Việc tạ ơn Thiên Chúa thình lình" xuất hiện.

Về phía trời cao, biến cố được phối hợp với một tầm quan trọng, một sự trọng thể đi đôi với việc kiểm tra dân số tổng quát của Augusto: "Cùng với thiên thần, có muôn vàn thiên binh cất tiếng ngợi khen Thiên Chúa: "Vinh danh Thiên Chúa trên các tầng trời, và bình an dưới thế cho người Chúa yêu. Trời và đất đều vui mừng: kỷ nguyên cứu độ đã bắt đầu. Thiên Chúa, Ðấng đặt vinh quang qua việc tha thứ sẽ đổ tràn đầy trên những người thân của Ngài sự bình an" mà Ngài đã hứa trong những ngày cứu độ: không phải là sự an toàn vật chất của "hoà bình Roma" mà lúc bấy giờ thế giới đang chờ đợi từ hoàng đế Augusto, nhưng là sự sống sung mãn mà chỉ mình Ngài mới có thể bảo đảm được mà thôi.

Trong đêm, trở lại yên tĩnh của đồng quê Bêlem, những người chăn thiên đã lên đường "theo lời loan báo". "Họ khám phá ra Maria và Giuse, với hài nhi mới sinh nằm trong máng ăn súc vật". Rồi, như là kiểu mẫu của những nhà truyền giáo Kitô mà Luca sẽ trình bày trong cuốn sách thứ hai, sách Tông Ðồ Công Vụ, họ ra về, vừa đi vừa tạ ơn Thiên Chúa "vì tất cả những điều họ đã thấy và đã nghe".

II. BÀI ÐỌC THÊM:

1."Một tình yêu diễn tả qua sự yếu đuối của một hài nhi mới sinh" (J.Potel, trong Jesus, Iihistoire vraie", Centurlon, 1994, trang 94). "Bà sinh con trai đầu lòng. Bà lấy tả bọc con và đặt nằm trong máng ăn súc vật, vì không có chỗ cho họ trong nhà trọ. Khó mà nói một cách đơn giản hơn điều mà người ta xem như là một trong những mầu nhiệm lớn lao nhất: Việc sinh ra của Con Thiên Chúa ở giữa loài người! Thông tin này trước hết sẽ liên quan đến những người chăn chiên, một nghề bị các người cầm quyền tôn giáo Israel khinh khi. Tuy nhiên, thiên thần đã thông tin cho họ. Tin Mừng Ðấng Cứu Thế đến với những người nghèo, những người mà Ðức Giêsu sẽ tuyên bố là những người có phúc. Họ sẽ không tìm thấy Ðấng Cứu thế trong một dinh thự. Ngài chỉ là một hài nhi nằm trong máng ăn của súc vật.

"Ðây là dấu chỉ cho anh em: anh em sẽ gặp một trẻ sơ sinh bọc tả, nằm trong máng cỏ? Ðức tin cũng đòi hỏi những người nghèo trút bỏ những khát vọng thầm kín nhất: sư can thiệp mạnh mẽ của Thiên Chúa không được tỏ lộ ra bằng những hành động hiếu chiến, như là Israel mong đợi trong suốt lịch sử của mình. Nó loan báo tình yêu của Chúa qua sự yếu đuối của một trẻ sơ sinh. Các thiên thần mộng hát: "Vinh danh Thiên Chúa trên trời cao, và bình an dưới thế cho người Chúa yêu. Thiên Chúa yêu thương loài người và muốn trao ban bình an cho họ. Người sẽ không thiết lập bình an bằng sức mạnh của vũ khí mà bằng em bé nghèo hèn này".

2. "Sự khiêm nhường của Thiên Chúa" (Mgr. L.Daloz, trong "Diêu a visiti son peuple", Desclée, de Brouwer, trang 20).

"Chúng ta thuộc lòng câu chuyện Ðức Giêsu sinh ra. Nó vừa quen thuộc, vừa mầu nhiệm. Cũng như toàn bộ hai chương đầu của thánh Luca, nó liên kết những hoàn cảnh cụ thể, rõ ràng, với sự thâm nhập của sự can thiệp từ nơi khác. Những nơi chốn, những thời điểm, những người được xác định rõ ràng: Ðó là Bêlem lúc kiểm tra dân số, phòng trọ, máng ăn súc vật. Ðó là Maria và Giuse, thuộc dòng dõi vua David, đến đăng ký tên họ trong thành của tổ tiên mình; những người chăn chiên canh giữ đoàn vật ban đêm. Ðó không phải là những con người vĩ đại, cũng không phải là những biến cố được lưu giữ lại trong lịch sử các quốc gia. Trong những hoàn cảnh tầm thường này, một thế giới huyền bí tỏ hiện: các thiên thần, vinh quang Chúa, một lời loan báo kỳ lạ, một sự chứng nhận, một mạc khải: hài nhi mới sinh, Ðấng Cứu thế, là Ðức Kitô, là Chúa, và việc Ngài đến là một niềm vui lớn lao cho toàn dân. Dấu chỉ đã nhận ra không có gì là đặc biệt "anh en sẽ trông thấy một trẻ sơ sinh, bọc trong tã lót nằm trong "máng ăn súc vật" Vừa mới sinh ra, Ðức Giêsu đã được chỉ định, và những nhân chứng đầu tiên là những người chăn chiên, cho thế giới của những người khiêm nhường. Thiên Chúa luôn xuất hiện như thế trong sự khiêm nhường, giữa những biến cố hằng ngày, và sự tỏ hiện của Ngài không có ồn ào, nhưng kín đáo. Ðể nhận ra sự xuất hiện của Ngài, phải biết lắng nghe lời của các nhân chứng, phải biết đón nhận sứ điệp hướng về một nơi khác. Nếu chúng ta biết chú ý, những hoàn cảnh bình thường nhất cung được soi rõ hằng một thứ ánh sáng mới, ánh sáng của "vinh quang Thiên Chúa", nó không làm loà mắt, nó nói cho những người khiêm hạ. Bấy giờ Thiên Chúa có thể đến ở giữa chúng ta. Ðức Giêsu đã đến như thế đó!".

admin
20-02-2011, 11:41 AM
GIANG-SINH
NGÀY LỄ GIÁNG SINH

VÀ NGÔI LỜI ÐÃ MẶC LẤY XÁC PHÀM
(Ga 1,1-18)



I.VÀI ÐIỂM CHÚ GIẢI:

+ Bài ca thay lời mở đầu.

Matthêu mở đầu tác phẩm bằng gia phả Ðức Giêsu, con vua David, con Abraham. Luca mở đầu "câu chuyện về những biến cố đã được thực hiện giữa chúng ta"(1,1) bằng một trình bày tỉ mỉ về thời thơ ấu của Chúa Giêsu: cuộc đời Ðức Kitô vừa được dẫn nhập, vừa được báo trước. Còn Marco thì, như chúng ta đã thấy trong Chúa nhật thứ II Mùa Vọng, bằng lòng đặt cho cuốn sách của ông một đề tựa rất có ý nghĩa: "Khởi đầu Tin Mừng Ðức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa".

Còn Gioan khai mào Phúc Âm bằng một bài ca, mà nhiều nhà chú giải nghĩ đã được hát trong cộng đoàn Kitô giáo của Gioan trước khi được đặt vào đầu sách Phúc Âm thứ tư. Theo kiểu "mở đầu" của một bản nhạc giao hưởng hơn nữa, theo kiểu một chương cuối, bài ca ngợi khen phối hợp các chủ đề bằng một lối nói ngắn gọn về hiệu quả.

Alain Marchadour giải thích: "Ði tìm cho Phúc Âm của mình một dẫn nhập, Gioan đã chọn bài ca ngợi khen một đoạn mở đầu rất du dương, tuần tự kể ra những chủ đề lớn của Phúc âm: Ðức Giêsu mà Phúc Âm sắp kể lại lịch sử giữa loài người, được giới thiệu ở đây với nguồn gốc và khởi đầu của Ngài. Ngài là "Ngôi Lời có trước từ khởi thuỷ, thân mật với Thiên Chúa (Ngài hướng về Thiên Chúa) đến nỗi thi sĩ khẳng định Ngài là Thiên Chúa. Vai trò của Ngài đối với loài người vượt khỏi dân Israel, bởi vì Ngài là Ðấng tạo hoá, là Sự Sống và Ánh Sáng cho tất cả những ai sinh ra trong trần gian? Nhập thể đánh dấu sự khởi đầu của lịch sử Ngôi Lời, cuộc gặp gỡ quyết định với loài người, và dân Do Thái: Kẻ thì ruồng bỏ, người thì đón nhận: đó là cộng đoàn Kitô hữu. Bài ca ngợi khen này long trọng kể lại hành trình của Ngôi lời từ khi còn ở nơi Thiên Chúa (1,2), đến giữa loài người (3-5), chọn Israel (9-11), rồi việc Nhập thể (14) cho đến việc Ngài lại đến, "Ngài là Ðấng ở trong Thiên Chúa Cha" (L'evangile de Jean, Centurion, 1992, trang 31). Chúng ta hãy triển khai bài ca ngợi, từng đoạn một.

Gốc tích huyền nhiệm của Ðức Giêsu, Ngôi Lời Tác Tạo:

+ Hai chữ đầu tiên: "khởi đầu" liên kết việc Ðức Giêsu đến với những chương đầu của sách Sáng Thế. Như vậy, Ðức Giêsu được đọc lại từ lúc khởi đầu của mạc khải: trong suốt cuốn Phúc âm, Ngài được giới thiệu như là kết quả của tất cả những mạc khải, là Ðấng mạc khải tối cao, tặng vật cuối cùng của Thiên Chúa, con đường duy nhất có thể đạt tới ơn cứu độ, khuôn mặt Thiên Chúa ở giữa loài người" (A. Marchadour, O.C. trang 34).

+ "Ngôi Lời Thiên Chúa" (thuật ngữ riêng của Gioan trong Tân ước) trước hết được giới thiệu trong việc Ngài đã có từ trước muôn thuở, tính thân mật vĩnh cửu với Thiên Chúa Cha, sự phân biệt của Ngài với Cha Ngài, thiên tính của Ngài: "Ngôi lời ở cùng Thiên Chúa, Ngôi Lời là Thiên Chúa. Tiếp đến, bài ca ngợi khen loan báo tính cách phổ quát của công trình sáng tạo của Ðấng là Ngôi Lời vĩnh cửu của Thiên Chúa: "Nhờ Ngài, tất cả được tạo thành, và không có Ngài thì chẳng có gì được tạo thành đồng thời, Ngài ban sự sống cho thế giới, Ngài đưa thế giới đến sự hiện hữu.

-Ngôi Lời Thiên Chúa, ánh sáng và sự sống cho nhân loại.

Gần với Thiên Chúa, và là chính Thiên Chúa, từ khởi thuỷ Ngôi Lời sống mối liên lạc duy nhất với con người. Ngài không chỉ là tạo hoá; Ngài là "Sự Sống" và "Ánh Sáng". Ngài không chỉ là nguồn mạch của tất cả sự sống; kết quả của sự hiện diện Ngài giữa loài người là sự biểu lộ và hiệp thông của đời sống siêu nhiên. Ngài cũng là Ánh Sáng: không phải là ánh sáng vũ trụ, mà là Ánh Sáng: thần thiêng và siêu nhiên, ánh sáng đưa dẫn loài người:

Lời chứng của Gioan Tẩy Giả.

Trái ngược một cách đặc biệt với sự trang trọng của những câu đầu của Phần Mở đầu, đây là cảnh Gioan Tẩy giả xuất hiện: "Có một người".

Có một nhân chứng đi trước, báo cho biết ánh sáng đã trong thế gian: Gioan, con ông Giacaria. Nhân vật này quan trọng vì đã được Thiên Chúa sai đến và đã lãnh nhận sứ mạng làm chứng cho Ánh Sáng. Với tư cách là tiền hô, ông đưa dẫn về niềm tin vào Ðấng là Ánh Sáng và là Ðấng phải chiếm lấy tất cả vị trí: "Người này không phải là Ánh Sáng, nhưng ông đến để làm chứng cho ánh sáng.

-Ánh Sáng đã đến trong thế gian.

+ Nhưng khi đến trong thế gian, Ánh Sáng đã đụng phải sự từ chối và loại bỏ của loài người. Thế gian được Ngôi Lời tạo thành đã từ chối ánh Sáng, đó là một sự vấp phạm lớn lao (scandale): "Ngài đến trong thế gian, nhờ Ngài mà thế gian được tạo thành, nhưng thế gian đã không nhìn nhận Ngài. Còn một vấp phạm lớn hơn nữa: đó là "những gia nhân Ngài", dân của lời Hứa, dân của Lời giao ước, "đã không đón nhận Ngài".

+ Ngược lại, "những ai đón nhận Ngài", là người Do Thái hay không, "thì Ngài ban cho quyền trở thành Con Thiên Chúa".

Ngôi Lời đã mặc lấy xác phàm.

+ "Ngôi Lời đã trở thành nhục thể: "Gioan không viết là Ngài đã làm người; ông công bố là, Ngài đã trở thành "nhục thể": không phải là một từ ngữ chỉ định thân xác đối chọi với linh hồn, nhưng chỉ định con người với khía cạnh mỏng dòn và dễ bị huỷ diệt.

+ "Ngài đã ở giữa chúng tôi" (nói theo văn chương: "Ngài đã cắm lều ở giữa chúng tôi"): đối với các độc giả cửa Ngài, từ ngữ gợi lên ngay "chỗ ở của Thiên Chúa" ở giữa dân Ngài. Sự hiện diện này của Chúa ở giữa các gia nhân Ngài được tượng trưng ngày xưa bởi Lều Tạm trong sa mạc, trong thời Xuất Hành, rồi bằng Ðền Thờ Giêrusalem, giờ đây đã được thực hiện một cách tuyệt hảo và cuối cùng, nơi Ðức Giêsu, Thiên Chúa làm người (Ga 2,19-22:"...Ngài nói về Ðền thờ thân thể Ngài").

+ "Và chúng tôi đã thấy vinh quang của Ngài": trong con người Ðức Giêsu, cộng đoàn của Gioan khẳng định là đã biết nhìn thấy Vinh Quang của Thiên Chúa, một đặc tính, một sự toả sáng mạc khải Thiên Chúa. Ðức Giêsu Kitô đã mạc khải Thiên Chúa vô hình.

"Không ai đã thấy Thiên Chúa bao giờ: Con một Ngài là Ðấng ở nơi cung lòng Thiên Chúa Cha, chính Ngài đã tỏ cho chúng ta biết "? Jean Pierre nhận xét: "Khởi đi từ Ngôi Lời nơi Chúa, bài ca ngợi khen kết thúc bằng việc nêu lên "Người Con duy nhất nơi cung lòng Thiên Chúa Cha": đó chính là diễn biến cuộc đời của Ðức Giêsu, như sẽ được tóm tắt lại vào lúc cuối: "biết rằng Ngài bởi Cha là ra và Ngài trở về với Thiên Chúa" (13,3). Nhưng ngay trong việc lên tới Ðấng mà chỉ mình Ngài biết ("Không có ai đã trông thấy Thiên Chúa, cả Môsen cũng thế!"),

Ngài muốn đưa chúng ta đi theo Ngài: Ta ở đâu, các ngươi cũng ở đó" (14,3). Hơn thế nữa, Ngài đã đưa dẫn chúng ta vào tình thân mật này: "Nếu ai yêu mến Thầy, sẽ giữ lời Thầy, và Cha Thầy sẽ yêu mến người ấy, và chúng ta sẽ đến và ở trong người ấy" (14,23) ("Lire la Bible n. 52, trang 34-35).



II. BÀI ÐỌC THÊM:

1."Ngôi lời đã hoá thành nhục thể" (Jean-noel Bezancon, "Jesus le Christ" "Petite encyclopédie du christianisme", Descloé de Brouwer, 1988, trang 98-100).

"Truyền thống Do Thái đã suy ngẫm tỉ mĩ về Ngôi lời Thiên Chúa. Sách Sáng Thế đã làm chứng điều đó: lúc khởi nguyên, Thiên Chúa nói, Thiên Chúa phán, và tất cả những gì Thiên Chúa phán, trời và đất, ánh sáng, rồi sự sống, tất cả đều hiện hữu chỉ bởi sức mạnh lời này. Và dân Israel đã có kinh nghiệm này trong suốt lịch sử của họ chỉ bởi lời Ngài, Thiên Chúa giải thoát dân Ngài khỏi Ai Cập, hay khỏi Babylon, Ngài dẫn dắt họ, Ngài nuôi dưỡng họ, Ngài hướng dẫn họ. Ngài tỏ mình ra cho họ biết Ngài như là người đồng minh, một đối tác, một người bạn, và cả một người chồng rất mực yêu thương. Lời Chúa như thế chính là sự gần gũi, trung tín, âu yếm, sự chắc chắn của sự hiện diện của của giao ước.

Các môn đệ đã nhận thấy lởi sáng tạo, giải thoát, yêu thương này nơi Ðức Giêsu. Ngài chính là lời vĩnh cửu và duy nhất của Chúa Cha, nhờ đó Ngài đã tạo hình thế giới (Dt 1,2), và dẫn đưa dân Ngài. Nơi Ðức Giêsu, lời này đã nhập thể. Nó không còn là những ngôn từ luôn luôn cách xa. Nó đã trở thành một cuộc sống con người, gần gũi, đụng chạm được và có thể bị thương tổn. Gioan loan báo: "Ngôi Lời đã mặc lấy xác phàm" (l.14).

Và từ sự kiện đó, một cuộc sống con người đã trở thành lời Thiên Chúa. Nếu cuộc đời Ðức Giêsu, trong những cử chỉ bình thường nhất và cho đến cả cái chết của Ngài như thế, có thể tỏ lộ cho biết Thiên Chúa, thì từ nay, tất cả đời người, khi lặp lại cũng những cử chỉ đó, khi phỏng theo cũng cách xử sự đó, được thúc đẩy bởi cũng mỗi Thánh Thần, cũng có thể phản ánh cái gì đó của Thiên Chúa, trong khát vọng được chia sẻ và hiệp thông".

2. "Sự khởi đầu đích thực mạc khải mầu nhiệm con người Ðức Giêsu (Alain Marchadour, "Les Evangiles au feu de la critique" Bayard Editions Centurion, 1995).

"Chúng ta có thể nói rằng, Phúc âm của Gioan, có khác với các Phúc âm khác đến thế nào đi nữa, cũng có cái hay là đã đưa dẫn đến nơi đến chốn vấn đề căn bản đã làm bối rối cho ba tác giả kia. Tất cả các Phúc âm chỉ có lý do tồn tại là giới thiệu khuôn mặt của Ðức Giêsu và bày tỏ mầu nhiệm đó. Mỗi người một cách, nhưng hơn những người khác, Gioan tập trung tình tiết vào mầu nhiệm Ðức Giêsu. Ðề tựa tác phẩm của ông bằng một đoạn mở đầu, ông đã thành công nối kết sự khởi đầu đích thực, bày tỏ mầu nhiệm con người của Ðức Giêsu: "Lúc khởi đầu đã có Ngôi Lời. Như thế, khi thời gian bất động của vĩnh cửu mở ra về hướng lịch sử và thời gian, thì lịch sử nhân loại của Ngôi Lời bắt đầu... "Và ngôi Lời đã trở thành nhục thể. Ðiều thần thiêng của "Ngôi Lời" chứa đựng đã không còn có thể nhìn thấy được. Chỉ còn cho thấy nhục thể. Nghĩa là con người trong chiều kích mỏng dòn, phù du và đau khổ. Từ nay chỉ còn con người tồn tại, và cái đúc thua của tất cả các Phúc âm nằm ở chỗ nhận ra, trong con người này, Thiên Chúa hiện ra rõ ràng cho con người. Tin hay không tin: đó là việc phải chọn lựa một trong hai mà mỗi người Do Thái (và qua họ, tất cả mọi người) phải đương đầu".

admin
20-02-2011, 11:42 AM
THANH-GIA
LỄ THÁNH GIA

CON ÐƯỜNG CỦA KITÔ HỮU

THEO CHÂN ÐỨC GIÊSU

(Mt 2, 12-15. 19-23)



I.VÀI ÐIỂM CHÚ GIẢI:

1. Một truyện kể tỉ mỉ về thời thơ ấu.

Việc báo tin cho Giuse mà ta đọc Chúa nhật trước vẫn còn rõ như in trong trí nhớ, nên ta dễ liên hệ đến bài Phúc âm Chúa nhật này: cũng thiên thần hiện ra trong giấc ngủ truyền cho Giuse một mệnh lệnh liên hệ đến Maria và trẻ thơ sắp sinh ra; cũng trích dẫn những lời tiên tri được thực hiện; cũng thái độ im lặng đón nhận và mau mắn thi hành của Giuse. Hơn nữa, bài Phúc âm hôm nay sử dụng 2 lần cùng một lược đồ: ta có thể xếp thành 2 cột song song như sau:



1. Bối cảnh

Sau khi các đạo sĩ đi rồi.

2.Thiên thần hiện ra với Giuse và truyền lệnh Giuse.

3.Giuse mau mắn thi hành.

4. Trích dẫn Kinh Thánh
1. Bối cảnh

Sau khi Hêrôđê băng hà.

2.Thiên thần hiện ra với Giuse và truyền lệnh Giuse.

3. Giuse mau mắn thi hành

4. Trích dẫn Kinh Thánh




"Thế là ứng nghiệm."

Dưới hình thức ngây thơ, Phúc âm Thời thơ ấu theo thánh Matthêu thực ra đã được chuẩn bị rất trí thức và giàu ý nghĩa.

Ðừng quên rằng Matthêu nói với các Kitô hữu gốc Do Thái, tâm hồn thấm đẫm Kinh Thánh và được nuôi dưỡng bằng những bài chủ giải Kinh Thánh trong các hội đường. Không lạ gì khi thấy thánh sử, vì muốn minh chứng rằng Ðức Giêsu qui tụ tất cả niềm hy vọng của Israel và đã làm ưng nghiệm các lời Kinh Thánh, thường xuyên trích dẫn các bản văn Kinh Thánh và các lời chú giải. Về vấn đề này, ta có thể đọc những trang sách rất khúc chiết của Charles Perrot trong "Cahiers - Evangile số 18" trang 11 và kế tiếp. Không như Luca, Matthêu không tìm kích thích trí tưởng tượng hoặc thoả mãn óc tò mò của ta bằng một vài chi tiết lịch sử kỳ thú. Ông chỉ muốn cho ta hiệp thông với các Kitô hữu tiên khởi trong cuộc truy tìm, say sưa niềm tin vào Ðức Giêsu, Con Thiên Chúa". ánh sáng Phục Sinh soi rọi tới tận ngọn nguồn làm ta khám phá và cùng với cộng đoàn sơ khai tuyên xưng Con Thiên Chúa và Ðấng Cứu độ gian trần trong con trẻ sinh bởi lòng đức Maria. Những biến cố thời thơ ấu đã cho thấy trước những điều mà cái chết và sự Phục Sinh khai mở về Ðức Giêsu: vị tiên tri người "Galilê" (người Nadarét", Giêsu (Thiên Chúa cứu) là Emmanuel (Thiên Chúa ở cùng ta). Người là "Con", con David sinh tại Bêlem và Con Thiên Chúa; Người là Môsê mới khai mạc cuộc Xuất hành mới.

2. Môsê mới xuất hành mới.

Nếu chú ý, ta sẽ thấy bản văn này song song một sách kỳ lạ với truyện về Môsê.

Ngày xưa Pharaô đôi lúc đã truyền tiêu diệt trẻ nam sơ sinh của dân Do Thái. Chúa Giêsu vừa sinh ra thì Hêrôđê độc dữ cũng truyền "tàn sát mọi trẻ nam từ 2 tuổi trở xuống tại Bêlem và các vùng phụ cận.

-Ngày xưa, Môsê đã được cứu thoát cách kỳ diệu và đã chạy trốn ra nước ngoài trước khi đương đầu công khai và sau khi được tấn phong làm tiên tri tại "bụi gai cháy đó" (Ex 3,l-12).

Ðức Giêsu cũng đã trốn thoát khỏi tay bạo chúa, đã chạy trốn sang Ai Cập, trở lại quê nhà rao giảng Tin Mừng sau khi được tấn phong làm Messia lúc chịu phép rửa tại sông Giođan.

Ngày xưa, Môsê quay trở lại Ai Cập khi cơn nguy hiểm đã qua "vì những kẻ muốn hại ông đều đã qua đời (Ex 4,19-20). Cái chết của Pharaô tạo cơ hội cho việc giải phóng dân Thiên Chúa. Chúa Giêsu cũng trở lại quê hương khi nguy hiểm đã hết, "vì Hêrôđê đã băng hà. Cái chết của Hêrôđê tạo cơ hội cho Chúa Giêsu trở về và công cuộc giải phóng dân mới bắt đầu.

Ngày xưa, Môsê vâng lời Thiên Chúa: "Vậy, Môsê đem vợ con cỡi lừa (việc Chúa Giêsu cỡi lừa trốn sang Ai Cập phát xuất từ truyện Môsê) và trở lại Ai Cập (Ex 4,19-20).

Trong Phúc âm thời thơ ấu của Chúa Giêsu, Giuse lúc nào cũng nêu gương vâng lời. Sự im lặng mà Matthêu ghi nhận làm nổi bật đức tin trong hành động của Ngài "Giuse chỗi dậy, đem con trẻ và mẹ Ngài trốn sang Ai cập Giuse chỗi dậy, đem con trẻ và Mẹ Ngài trở lại Israel.

Câu kết của phần I đoạn Phúc âm rấtt đậm đà ý nghĩa "Từ AiCập, Ta đã gọi con Ta về". Câu này mượn trong Osê(11,1) để ca tụng tình thương Thiên Chúa Người đã đưa Israel "đứa con đầu lòng" (Ex14,23) ra khỏi Ai Cập. Khi làm ứng nghiệm lời Kinh Thánh, Ðức Giêsu tái tạo lịch sử dân người. Là Môsê mới, ngài đến khai mở một cuộc Xuất hành mới và vĩnh viễn cho một dân tộc mới.

"Ai Cập tượng trưng cho sự áp bức, Cl. Tassin chú giải. Ðó là khởi điển của cuộc xuất hành, từ con đường giải phóng tiến về miền Ðất Hứa. Qua đoạn tường thuật vốn tắt này, Ðtíc Giêsu trở nên liên đới với dân người khi đảm nhận lịch sử đầy thử thách của dân, như lời dẫn tiên tri Osê đã chú thích... Tuy nhiên, phải làm quen với kiểu người Do Thái trích dẫn Kinh Thánh ở đây. Nếu có ai nói: "Lũ chuột nhảy múa", ta sẽ tự nhiên nghĩ đến vế đối thứ 1: "Khi mèo ra đi". Cũng vậy, các độc giả người Do Thái của Mattheu sẽ dùng trí thớ bổ túc đoạn văn của Osê: "Khi Israel còn thơ, Ta đã yêu quí nó và từ AiCập, Ta đã gọi con Ta về. Như thế ý nghĩa mới trọn vẹn: trẻ thơ Giêsu chính là trẻ thơ Israel: Ngài thâu tóm nơi bản thân ơn gọi và vận mệnh của dân nước tuyển chọn, trước khi đoạn Phúc Âm kế tiếp mạc khải Ngài là Con, hơn hẳn dân bị áp bức mà Thiên Chúa nói với Pharaô "Con đầu lòng của tôi, đó là Israel..". Hãy để con ta ra đi!" (Ex 4,22-23) (Mt, Centusion, 1991, trang, 33-34).

3. Một dân tộc sẽ có tầm cỡ hoàn vũ.

Tuy vậy, cuộc Xuất hành này không hướng về Giuđêa, nơi không bị đa thần giáo xâm phạm, trái lại hướng tới "Galilê, nơi giao lưu các dân ngoại" (Mt 4,15), xứ sở dân cư pha tạp, đất vãng lai, bị khinh miệt: Dân mới mà Ðức Giêsu vừa thiết lập, là một dân liên kết các dân ngoại ngoan ngoãn lắng nghe Phúc âm vào với dân Do Thái.

Chính tại Galilê mà Ðức Giêsu sẽ bắt đầu sứ vụ công khai (4,15-18) và cũng chính tại đây, Ðấng phục Sinh đã hẹn gặp các tông đồ để trao phó cho họ sứ mệnh có tầm cỡ hoàn vũ: "hãy đi, hãy làm cho mọi dân tộc thành môn đệ Ta..." (28,18). Ðối với Matthêu và các độc giả của Ngài, việc trở về Galilê đã tiên báo việc mở cửa Giáo Hội cho dân ngoại. Dân mới không còn bị giới hạn vào biên cương Israel, nhưng sẽ có tầm vóc hoàn vũ. (Vậy, Ðức Giêsu đã chuẩn bị cho sứ mệnh hoàn vũ của mình" (Cl. Tassin p.36).



II. BÀI ÐỌC THÊM:

1.Không ai có thể cản trở ý định của Thiên Chúa (J.Potel, "Giêsu, lịch sử đích thực, Cantenioll, 494, trang 99-100).

Không ai có thể cản trở ý định của Thiên Chúa. Pharaô đã tính trừ khử mọi trẻ em Do Thái. Chương trình thất bại vì Mosê được công chúa con Pharaô cứu. Thiên Chúa đã giải phóng dân Ngài và đã dẫn đưa dân về miền Ðất Hứa. Hôm nay, lại một nghịch lý nữa, Ðấng Cứu Thế tị nạn sang Ai Cập! Ðiều đó chứng tỏ rằng Thiên Chúa vẫn tự mình hướng dẫn các biến cố như không lời Kinh Thánh được Matthêu trưng dẫn đã chứng tỏ Ðấng Cứu Thế xuất hiện như một Môsê mới, như sự nhập thể của Israel mới khi vượt qua sa mạc Sinai, cũng như xưa, dân được tuyển chọn đã đi dưới sự hướng dẫn của Môsê. Cuộc lưu đày này chỉ là tạm bợ. Thiên Chúa gọi Ngài trở lại Israel. Người ta tưởng Ðấng Cứu Thế sẽ định cư ở Giuđê, nơi Ngài sinh ra, hoặc ở Giêrusalem. Nhưng con trai Hêrôđê, vua Archélaos, cũng tàn ác như cha. Nên Thiên Chúa sai Giuse đem gia đình đến định cư tại Nadarét trong miền Galilê. Matthêu nhìn thấy trong sự kiện này ứng nghiệm một lời tiên tri: "Người sẽ được gọi là Nazorées": từ ngữ có nghĩa là "người tuân giữ, như những đứa trần gian Baotixita chẳng hạn, được cung hiến cho Thiên Chúa ngay từ trong lòng mẹ. Nhưng từ ngữ chỉ giản đơn nói Ngài là cư dân Nadarét. Matthêu đua tranh với các rabbi Do Thái về sự tinh tế trong việc sử dụng các bản văn Kinh Thánh. Dù sao, điều chính yếu là Ðức Giêsu Ðấng Cứu Thế sẽ tỏ mình ra trước hết tại Galilê của các dân tộc, trong thành phố mà dân Do Thái và dân ngoại chung sống, cũng như trong các cộng đoàn Kitô hữu vào lúc Ngài soạn thảo sách Phúc âm, có lẽ khoảng năm 80.

2.Những truyện kể dạy ta đọc lại lịch sử (Mgr. L. Daloz, "Le règne des cieu s 'est approché, DDB, 1994, trang 21).

Những truyện kể ấy dạy ta đọc lại lịch sử. Ánh mắt ta thường dừng lại nơi những biến cố dễ thấy nhất; những biến cố ấy thường mờ đục và có khi nghiền nát ta... Ðể đọc được niềm hy vọng trong lịch sử đời ta, lịch sử thế giới, lịch sử đời sống, cần phải nghe lời Thiên Chúa nói với ta như Giuse. Nếu ta chăm chú lắng nghe và trung tín với lời Ngài, thì Ngài sẽ trở thành ánh sáng xuyên thủng lớp mờ đục của các biến cố. Lời Chúa sẽ cho ta thấy đâu là ý định với thánh ý của Người đối với thế giới và với ta. Lời Chúa giúp ta nhận định điều quan trọng: Lời Chúa cho thấy những dấu chỉ hy -vọng trong hoàn cảnh vô vọng đối với loài người. Lời Chúa dạy ta biết sống như Giuse với sự mau mắn và thấu hiểu xuyên qua tấm màn các biến cố. Chỉ đọc thoáng qua, ánh sáng Lời Chúa giống như "Một giấc mơ", một không tưởng.Tuy nhiên, đó chính là khải thị lớn nhất, khải thị của con mắt đức tin. Lúc đó bóng tối đức tin biến thành ánh sáng rực rỡ, sự vâng lời của đức tin trở thành con đường tự do. Không hẳn là ngay sau đó ta nhận ra sự hiện diện của Thiên Chúa trong các biến cố đời mình đâu. Mỗi biến cố không mang trong mình trọn vẹn ý nghĩa: nó chỉ thúc đẩy ta hành động, truy tìm, đức tin đâu miễn cho ta khỏi do dự, nghi nan, tăm tối. Ðức tin chỉ khơi dậy dự do, và trách nhiệm. Ta đâu thể bước đi là không lầm lạc, không yếu đuối, không tội lỗi. Chỉ đến chung cuộc, khi ta thấy Thiên Chúa diện đối diện, ý nghĩa trọn vẹn của đời ta mới được giải mã. Chỉ đến chung cuộc của thời gian mục đích mà thế giới hướng tới mới biểu lộ. Từ nay tới lúc ấy, ta phải luôn kiên nhẫn và trung thành: chúng ta bước tới trong đức tin.

admin
20-02-2011, 11:43 AM
HIEN-LINH
LỄ HIỂN LINH
DÂN NGOẠI NHẬN BIẾT ÐỨC GIÊSU LÀ MESSIA
(Mt 2,1-12)



I.VÀI ÐIỂM CHÚ GIẢI:

Ðừng để cho những hình thức ngây thơ bên ngoài của truyện kể lạm dụng ta, vì chúng được cấu tạo với một nghệ thuật siêu đẳng. Trong cả hai chương nói về thời thơ ấu của Ðức Giêsu, mục đích của thánh sử Matthêu không nhằm thoả mãn óc tò mò của ta khi thu thập vài kỷ niệm sâu sắc. Dự kiến của Ngài thuộc bình diện thần học: Dưới ánh sáng Phục Sinh, hãy ngược lên tận nguồn gốc Ðức Giêsu để tìm ra mầm mống nào đã làm ứng nghiệm lời Kinh Thánh và sau này triển nở trong đời sống và Phục Sinh của Ngài. A. Marchadour đã nói: "Tác giả Kinh Thánh không truy tìm sự chính xác lịch sử như chúng ta, những người bị ảnh hưởng thuyết thực nghiệm, cần ghi nhớ rằng mọi truyện kể về thời thơ ấu đều được hình thành từ những biến cố đời sau, rồi mới được thêm thắt vào. Hiện tượng đọc lại quá khứ dưới ánh sáng hiện tại, tầm quan trọng của Kinh Thánh như những "lời sấm, sự huy hoàng của Lễ Phục Sinh khai mở căn tính của Ðức Giêsu; tất cả những điều đó cho phép hiểu rằng những truyện kể về thời thơ ấu đều được viết lại và sự chính xác trong lịch sử không phải là mối bận tâm hàng đầu của người viết" (Les dossrers de la Bible, n.44. j.5).

2.Một truyện kể đặc biệt giàu biểu tượng.

Truyện kể dễ dàng chia ra làm 2 phần

1.Ở Giêrusalem: cung đình Hêrôđê.

Các đạo sĩ có lẽ là các nhà chiêm tinh người Babylon chuyên tìm chân lý nơi các vì sao đã lên đường đi Giêrusalem để thờ lạy "vua người Do thái" mà 1 ngôi sao đã loan báo.

Nhưng để tìm thấy người muốn tìm, ngôi sao không đủ. Các đạo sĩ cần đến dân Do Thái và Kinh Thánh của họ.

Nghe họ hỏi, Hêrôđê và các cấp giáo quyền ở Giêrusalem mới khảo sát các lời sấm liên quan đến Ðấng Messia.

Các cấp thẩm quyền Do Thái đã giải nghĩa chính xác lời các tiên tri, nhưng họ vẫn không rời Giêrusalem.

2. Tại Bêlem, vua Giêsu.

Nhờ ngôi sao (văn hoá của họ) và Kinh Thánh (lời Chúa nói cho Israel) các đạo sĩ đã tới Bêlem.

Họ thấy Ðức Giêsu và thờ lạy Ngài.

Biết toan tính sát nhân của vua Hêrôđê, các đạo sĩ "theo đường khác" mà về.

Ba mâu thuẫn báo trước khổ nạn kết thành khung truyện kể rất công phu này.

1. Giêrusalem. Thủ đô chính trị và tôn giáo từ chối thiếp nhận-Ðấng đến hoàn thành lời hứa, mâu thuẫn với Bêlem nơi con vua David giáng sinh như lời các tiên tri đã loan báo.

2. Các thủ lĩnh tôn giáo Israel, những người nhờ Kinh Thánh mà hiểu biết nhưng lại chẳng chú ý tới Kinh Thánh, mâu thuẫn với các đạo sĩ nước ngoài, những người ngoại đạo lo truy tìm, lên đường và đã thấy!

3. Hêrôđê được gọi là "vua", lo sợ mất ngai vàng, mâu thuẫn với trẻ thơ ở Bêlem là vua đích thực. Nơi Ngài ứng nghiệm lời sấm trong Isaia 60 loan báo ngày vô số dân ngoại sẽ tuốn về Giêrusalem mang theo lễ vật và sự phú túc của họ. Nơi Ngài ứng nghiệm lời sấm trong Mikê 5,1 nói về Bêlem, nơi Ðắng Cứu Thế Giáng sinh: còn ngươi, hỡi Bêlem xứ Giuđêa, ngươi đâu phải là thành phố nhỏ bé nhất trong xứ Giuđêa. vì nơi ngươi xuất phát vị thủ lãnh, Ngài sẽ là mục tử nhà Israel.

Nơi Ngài ứng nghiệm lời sấm của Balaam kẻ ngoại đạo, trong sách Dân số 24 đã loan báo một ngày kia ngôi sao Jacob" sẽ mọc lên. Như thế, qua cấu trúc và lời văn rất tinh tế, truyện kể đã công bố căn tính kỳ diệu của Ðức Giêsu, báo trước tác vụ của Ngài, việc các thủ lãnh dân Ngài chối bỏ và cũng báo trước việc dân ngoại gia nhập Giáo Hội. Tóm lại theo Claude Tassin, ta có ở đây dạng một "Phúc âm thu nhỏ". Francois Broossiet tóm tắt: Lồng vào toàn thể Phúc âm Matthêu, ý nghĩa đoạn Phúc Âm này thật rõ ràng: Những người lẽ ra phải đón tiếp Ðấng Cứu Thế do Thiên Chúa sai đến lại không nhận biết Ngài, kiến thức của họ thật vô bổ; Trái lại, dân ngoại đến nhìn nhận và thờ lại Ngài. Bị đa số dân Israel chối từ, được dân ngoại đón nhận, đề tài sẽ được nhắc lại nhiều lần trong suốt Phúc âm đã được loan báo ngay ở đây".

II. BÀI ÐỌC THÊM:

1.Cả nhận loại được mời gọi (Gérard Bessière, Diêu siproche, ÐDB 1992).

Matthêu viết một truyện kể tưởng tượng, uyên bác và giàu biểu tượng ám chỉ đến cả quá khứ lẫn tương lai. Ngài đã dệt nên những đề tài mà Phúc âm của Ngài đã khai triển. Ðây là 2 ông vua: bạo chúa khát máu ở Giêrusalem và trẻ thơ mới sinh ở Bêlem. Hêrôđê đã lầm khi lo sợ. Giêsu đâu đến để tranh cướp quyền hành chính trị. Danh hiệu vương đế chỉ đến với Ngài trong cuộc khổ nạn. Ðức Giêsu là Vua thực thự, nhưng vượt xa những vương triều trần gian, trong thẳm sâu nơi người ta đón nhận hay chối từ Thiên Chúa. Truyện kể giúp ta hiểu điều đó Vị vua bé bỏng ở Bêlem sẽ bị bắt bớ, là những con người quyền lực, Ngài sẽ bị loại trừ. Matthêu cũng muốn cho thấy Ðức Giêsu làm ứng nghiệm các lời Kinh Thánh và những lời sấm xa xưa. Chính Ngài là Ðấng Israel mong đợi. Chính Ngài làm cho các thế kỷ chín mùi. Các đại giáo trưởng, các luật sỉ đã có mặt, nhưng họ không đi Bêlem. Sau này ta sẽ thấy họ đối mặt với Ðức Giêsu. Rồi nhiều người trong bọn họ sẽ trở thành thù địch của Ngài. Chỉ có những người nước ngoài xa lạ đến phủ phục như ta làm trước mặt vua chúa hoặc trước mặt Thiên Chúa. Như thế Ðức Giêsu được dân ngoại nhìn nhận, trái lại các vị đại diện dân Ngài không nhìn nhận mà còn tìm cách diệt trừ Ngài. Thế là ứng nghiệm lời sấm của Isaia 60,3-6 mà các hình ảnh được sử dụng lại sau này: "Các dân sẽ tiến về ánh sáng của ngươi và các vua chúa hướng về ánh bình minh của người... từng đoàn lạc đà tràn ngập ngươi... mọi người từ Saba sẽ đến đông đàng, hương và ca ngợi Ðức Chúa". Số mệnh phổ quát của Giêrusalem, sẽ được Ðức Giêsu thực hiện. Các thủ lãnh dân Người sẽ ra sức tiêu diệt Người, nhưng vương quốc của Thiên Chúa sẽ được ban cho cả nhân loại. Còn những dân tộc, những thủ đô đang từ trên cao hướng về những Bêlem nhỏ bé của các quốc gia khác. Lễ Hiển Linh cho thấy toàn thể nhân loại được Thiên Chúa mời gọi, và đối với Thiên Chúa, tất cả nhân loại chỉ là một gia đình. Cách nhìn này nằm trong ký ức Kitô giáo như một nấm mem để xây dựng tương lai. Ta không thể đến gần Thiên Chúa mà không gặp gỡ các mục đồng và các đạo sĩ nghĩa là, những con người xa lạ vì khiêm tốn. Họ là nhân loại của Thiên Chúa.

2. Lên đường (Mgr. Lucien Daloz, Le Règne des cieux s'est approché, DDB 1994).

Họ từ dâu tới, các đạo sĩ đã khiến cả Giêrusalem xôn xao lên ấy? Họ lướt qua như ánh sao, những nhân vật kỳ bí mà người ta chỉ cho ta biết rằng họ đến từ phương Ðông và họ theo đường khác mà trở về quê quán. Họ loan báo những người mà Ðức Giêsu tiên báo: Nhiều người sẽ từ phương Ðông, phương Tây đến ngồi vào bàn tiệc với Abraham, Isaac và Jacob trong Nước Thiên Chúa...(8,11). Hêrôđê dò hỏi các thượng tế, các luật sĩ nhưng không phải để đi đến thờ lạy trẻ sơ sinh. Ông chỉ nhìn thấy nơi con trẻ một địch thủ, một ông vua như mình, và ông tìm cách tiêu diệt Ngài. Có những người tìm kiếm như các đạo sĩ, lên đường như Abraham. Cũng có những người ngồi một chỗ như Hêrôđê. Muốn biết ư ông đã có các chuyên viên. Muốn tiêu diệt đối phương ư ông có cả ngàn quân lính dưới quyền. Thiên Chúa hướng dẫn những ai muốn tìm Người cách lạ lùng. Người trốn thoát khỏi những kẻ muốn tìm bắt Người không hung hãn chống lại những kẻ muốn huỷ" diệt Người. Người tự xoá mình đi và biến mất... Người ở đâu, Ðức Giêsu ẩn dấu của thời đại. Trong làng quê heo hút nào, trong gia đình nghèo khó nào có ánh sáng Thiên Chúa mời ta nhận ra Người? "Ta đói các ngươi đã cho ra ăn... Thực, Ta bảo các ngươi: mỗi lần các ngươi làm cho một trong những người bé nhỏ nhất là anh em Ta đây, và các người làm cho chính Ta" (25,35- 40). Cả chúng ta nữa chúng ta cũng có lời Kinh Thánh: Ta đây không bị cám dỗ dùng lời Kinh Thánh để át giọng kẻ quấy rầy ư Ðức Giêsu đâu để cho ta đền bù. Nếu ta muốn nắm láy Người để được an tâm, Người sẽ thoát khỏi tầm tay ta. Nếu ta chấp nhận lên đường kiếm tìm Người, ta sẽ như các nhà đạo sĩ, được đầy tràn niềm vui và tìm ''thấy Người truy tìm, thờ lạy, chiêm ngưỡng... với họ, lời sấm của Mikê không là những con chữ nằm chết.

Ðọc kỹ Kinh Thánh thôi chưa đủ: còn phải để Kinh Thánh gợi hứng cho đời ta, để ta đem ra thực hành, để ta đặt mình dưới sự điều khiển của Kinh Thánh. Các luật sĩ và các thầy thượng tế biết lời sấm lầm chứ. Nhưng họ chỉ biết trưng dẫn mà thôi... Hêrôđê thì dùng Kinh Thánh để tìm cách giết hài nhi... Còn các đạo sĩ, bản thân chẳng biết Kinh Thánh, chỉ được Hêrôđê chỉ dẫn, đã lên đường tìm kiếm Ðức Giêsu và họ đã gặp Người. Suốt dọc dài Tân ước, ta thấy biểu lộ mầu nhiệm này: dân ngoại quay về với Ðức Kitô, trong khi các bậc thầy thông luật chối từ Người...Ta cũng vậy, cũng có nguy cơ lập lại lời Chúa mà chẳng lên đường. Trong khi đó, biết bao người khác đã đến gặp Ðức Giêsu dù chẳng biết lời Người! Ta tự hào là những người hiểu biết, các thầy thông luật: vấn đề quan trọng là ta biết trở nên tôi tớ của lời Chúa. Nếu ta để Lời Chúa hướng dẫn, hoạt động trong trái tim và cuộc đời ta, Lời Chúa sẽ dẫn đưa ta đến nơi bí mật ấy, nới Ðức Giêsu đang chờ đợi ta.