PDA

View Full Version : Các Kitô hữu nơi tuyến đầu sứ vụ truyền giáo


admin
10-11-2006, 11:29 AM
CÁC KITÔ HỮU NƠI TUYẾN ĐẦU SỨ VỤ TRUYỀN GIÁO.

Ấn-Độ là quốc gia sớm nhất ở Châu Á được rao giảng Tin Mừng Kitô-giáo. Ấn Độ cũng là quốc gia có những nét tôn giáo huyền bí và đa dạng, nơi phát xuất của Phật-giáo của Thiền (Yoga) và tất nhiên là Ấn-Độ-giáo. Vì thế, khi Công Đồng Vatican II công bố HIẾN CHẾ PHỤNG VỤ, mà như chúng ta đã biết, sự phấn khích đã dẫn đến không ít hiểu lầm, làm sai ở rất nhiều nơi, như một phản ứng chống lại những gì đã quá cũ kỹ, công thức trong phụng vụ, thì Giáo Hội Ấn Độ cũng không là một ngoại lệ. Nay đã qua 40 năm, nhưng ảnh hưởng của cuộc “cải tổ” vội vàng, ít nhiều ấu trĩ nầy, vẫn còn. Tác giả là một linh mục thuộc Hội Thừa Sai Balê đã nhìn lại và cho chúng ta thấy “biên giới” của sứ vụ truyền giáo, qua những suy nghĩ của Ngài về những thay đổi trong Giáo Hội Công giáo Ấn Độ, cũng là một quốc gia Á Châu, có nghĩa là CÁC VẤN ĐỀ ĐƯA RA KHÔNG XA LẠ VỚI GIÁO HỘI VIỆT-NAM, nhất là những ngày nầy, Toà Thánh đề cầp đến những lạm dụng tronh phụng vụ và cả tin tức Đức Thánh Cha có thể cho phép sử dụng rộng rãi Thánh Lễ bằng tiếng La-tinh.

Lm Raymond Rossignol, M.E.P

Câu truyện sau đây vừa được kể trong các chủng viện ở Ấn Độ: một viên phi công lọt vào giữa một cơn bão dữ dội, do máy móc bị hư, vì thế anh ta buộc phải nhảy dù.Anh ta rơi an toàn trên chóp một cái cây, nhưng không có chút ý niệm nào về nơi mình đang ở.Không xa dưới gốc cây, một người đang quan sát anh ta. ”Xin bác vui lòng cho tôi biết tôi đang ở chỗ nào không ạ?”, viên phi công nhảy dù hỏI ông ta. Ông ta đáp lại:” anh đang ở trên một cái cây”. Viên phi công nhảy dù tiếp tục hỏi: “Xin bác thứ lỗi, nhưng bác không phải là một nhà thần học đấy chứ?”. “Có đấy! Nhưng sao anh lại đoán ra được vậy?”. Viên phi công nhảy dù trả lời: “Dễ thôi: các nhà thần học có thói quen nói những điều đúng sự thật nhưng hoàn toàn vô ích”.

Là bởi vì muốn làm công trình lợi ích, mà rất đông các nhà thần học Ấn Độ nói đến một “thần học theo văn cảnh”, nghĩa là về một thần học có liên quan mật thiết với các thực tại hết sức cụ thể của đất nước, với toàn cảnh văn hoá và tôn giáo, kinh tế-xã hội và chính-trị trong đó người Kitô-hữu Ân Độ được kêu gọi sống và làm chứng cho đức tin của mình.

BỐI CẢNH VĂN HOÁ.

Mặc dù Kitô-giáo đến Ấn-Độ ngay từ thế kỷ đầu, nhưng ngày nay Kitô-giáo chung chung vẫn bị xem là một tôn giáo “ngoại lai”, không chỉ vì khác với Ân-giáo, Phật-giáo, Đạo Jain và Đạo Sikh, cũng không phải vì Kitô-giáo đến từ nơi khác, mà còn vì các cộng-đoàn Kitô-giáo dường như thành lập những “đảo nhỏ văn hoá” hoà nhịp một cách khó khăn chật vật với môi trường văn hoá chung quanh.

Ngay trước Công Đồng Vatican II, rất nhiều tiếng nói cất lên để tố giác sự bất bình thường nầy.Các tài liệu đa dạng của Công Đồng và nhất là Hiến Chế Phụng Vụ cho phép các nghiên cứu và thử nghiệm được làm để cho các cộng đoàn Kitô-giáo hội nhập tốt hơn trong các nền văn hoá địa phương, rất mau chóng, một số nhà thần học Ấn Độ bắt tay vào việc, đặc biệt trong lãnh vực phụng vụ. Và như thế, ngay từ cuối thập niên 60, họ đã hoàn thành cái mà ngườI ta gọi là “nghi thức Ấn Độ” được Roma phê chuẩn. Vị linh mục có thể ngồi để chủ toạ Thánh Thể, các ngọn nến được thay bằng đèn dầu, bái gối được thay bằng qùy phủ phục, bình hương được thay thế bằng một cái mâm trên đó người ta đặt cùng lúc các cây hương, hoa và đèn nến, v..v.. Tất cả, ”12 điểm”và 12 sự xếp đặt. Ngoài cử hành Thánh Thể, người ta cũng bắt đầu sử dụng các nghi thức đa dạng hoặc biểu tượng vay mượn từ nền văn hoá địa phương.

Phản ứng của các Kitô-hữu Ấn Độ đối với các sáng kiến nầy được làm nhẹ đi. Trong một số môi trường người ta hài lòng khi nhìn thấy ở Ấn Độ Giáo Hội đã mau chóng nắm bắt điều mà sau nầy người ta gọi là vấn đề hội nhập văn hoá. Nhưng một số lại có cảm tưởng như người ta đòi họ trở về với các hình thức thờ phượng mà cha ông họ đã phải chối từ để có thể trở thành Kitô-hữu; những kẻ khác yêu thích một cách rất đơn giản các biểu tượng “được nhập khẩu” mà họ đã quen thuộc và không mấy hào hứng với những thay đổi nầy.

Với việc lùi về dĩ vãng, người ta không ý thức được rằng họ rõ ràng là đã đánh giá thấp sự phức tạp của vấn đề.Trước hết, những thay đổi phụng vụ nầy đã được các nhà thần học đề xuất và được các giám mục phê chuẩn.Nhưng, như Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II viết mấy năm sau đó về vấn đề nầy, rằng “sự hội nhập văn hoá phải là việc của toàn dân Chúa chứ không phải là việc của một số chuyên gia”. Mà “Dân Chúa” ở Ấn Độ còn lâu mới thuần nhất, đặc biệt là ở khía cạnh nguồn gốc xã hội của các cộng đoàn Kitô-giáo. Các “chuyên gia” Ấn Độ rất mau chóng nhận thức khả năng đưa vào trong phụng tự Kitô-giáo một số những biểu tượng, những công thức và nghi lễ Ấn-giáo được những đẳng cấp cao nhất sử dụng. Làm như thế, họ đã mặc nhiên đồng hoá văn hoá Ấn-Độ với các tầng lớp trên của xã hội, không quan tâm đến những bực bội khó chịu sâu xa của những người Ấn Độ thuộc tầng lớp tiện dân đối với những kẻ đã thống trị họ lâu đời. Ngay trong Ấn-Độ-giáo, hiện hữu rất nhiều nhóm văn hoá. Hơn thế nữa, cho dù Ấn-Giáo chiếm đa số, thì cũng còn ở Ấn Độ 11% nguời Hồi giáo, Sikhs, Jains… Cũng có khá đông bộ lạc, kể cả khi họ được coi là thuộc về Ấn-Giáo, thì cũng có cách rất riêng của họ để tham gia vào tôn giáo nầy.Tóm lại, ở Ấn Độ có nhiều nền văn hoá.

Trong một văn cảnh như thế, tiến trình hội nhập văn hoá hẳn nhiên là khá phức tạp, nhất là khi Phụng Vụ chỉ là một trong các lãnh vực mà Giáo Hội phải cố gắng để nối lại văn hoá địa phương. Còn có lãnh vực tâm linh, thần học, chưa kể đến lãnh vực các cơ cấu Giáo Hội và cũng không được quên phong cách sống. Một cuộc gặp gỡ có nhiều kết quả giữa Phúc Âm với những bản sắc đậm đà văn hoá Ấn Độ phải cần nhiều thời gian. Đó là một trong các thách đố mà các Kitô-hữu ở Ấn Độ phải xử lý cho thích đáng.

admin
10-11-2006, 11:32 AM
BỐI CẢNH KINH TẾ XÃ HỘI và CHÍNH TRỊ.

Cho dù kém ngoạn mục hơn so với các nước khác ở Á Châu, sự phát triển kinh tế của Ấn Độ là điều không thể chối cải.Trong các thập niên sau cùng nầy, điều kiện sống của đa số người Ấn Độ đã được cải thiện.Các tầng lớp trung lưu nhiều khi cho thấy một sự thịnh vượng đáng ngạc nhiên.Nhưng rất nhiều người dân Ấn Độ tiếp tục sống “dưới mức nghèo khó”.Giáo Hội ở Ấn Độ đã đầu tư rất nhiều vào việc trợ giúp những kẻ thiếu thốn nhất.Giáo Hội ở Ấn Độ đã mở rất nhiều trường học, bệnh viện, cô nhi viện, v..v.. Đã đưa ra rất nhiều dự án phát triển và cũng đã suy nghĩ rất nhiều về những phương thế tốt nhất chống lại các bất công và nhổ tận gốc sự nghèo đói, nhất là trong khuôn khổ các “Học Viện Khoa Học Xã Hội”.

Ấn Độ là một nước dân chủ, ”nền dân chủ lớn nhất thế giới”. Một nền dân chủ “hoạt động”, ít ra là theo nghĩa tiếng nói quyết định của các thùng phiếu còn được tôn trọng. Nhưng đó là một quốc gia dân chủ bị thao túng bởi đủ thứ tệ nạn: tham nhũng, bất bình đẳng, …Một số các bất bình đẳng nầy vừa xót xa vừa mang tính cơ cấu, như trong trường hợp các “dalit”, mà ngày xưa ngườI ta gọi là những người “bần cùng” (tiện dân). Trong bọn họ có những Kitô-hữu rất thường là nạn nhân của những kỳ thị ngay trong lòng các cộng đoàn Kitô-giáo.Ngày nay các “dalit’ nầy đã ý thức được sự cần thiết phải tổ chức với nhau để đấu tranh đòi hỏi quyền lợi của mình. Do quan tâm đồng hành với họ trong cuộc đấu tranh, các nhà thần học Ân-Độ đã lấy cảm hứng từ thần học giải phóng.Nhưng Ấn-Độ không phải là Nam Mỹ.Các Kitô-hữu Ấn Độ rất thiểu số trong đất nước họ và văn cảnh văn hoá Ấn Độ khác xa với văn cảnh văn hóa Brésil hoặc Argentine. Và vì thế mà phát sinh “thần học Dalit”, một thần học tự đặt mục tiêu cho mình là đi theo sát các nạn nhân Ấn Độ của cuộc áp bức thiên niên kỷ trong cuộc đấu tranh của họ.

Các nhà thần học Ấn Độ biết rõ học thuyết xã hội của Giáo Hội, nhưng họ xác tín rằng văn cảnh chính trị xã hội của Ấn Độ kêu gọi những suy tư mới.Như các Giám Mục Châu Á đã tuyên bố cho toàn thể lục địa, về việc đưa chính trị xã hội vào việc rao giảng Phúc Âm: ” phải chọn lựa nghiên cứu bất thường một giòng chỉ đạo nào đó chứ không phải là những phương pháp thần học và xã hội học dọn sẵn như những phương pháp được triển khai nhất là ở Phương Tây, nhưng là chọn lựa một sự nhận thức sâu sát của tiến trình lịch sử phát xuất từ chính môi trường của dân tộc chúng ta”. Soạn thảo kỹ càng một thần học có liên quan tới các vấn nạn kinh tế xã hội và chính trị của Ấn Độ, chính là một thách đố khác mà Giáo Hội ở Ấn Độ đang cố gắng nêu ra.

BỐI CẢNH TÔN GIÁO.

Ngay dù, theo Pháp Chế, Ấn Độ là một quốc-gia “không có đạo nào là quốc giáo”, thì tôn giáo vẫn giữa vị trí rất lớn trong xã hội và ảnh hưởng sâu xa đời sống các công dân. Việc thụôc về một tôn giáo cũng là một phần lý lịch của họ. Mỗi người “được”xếp lọai như là thuộc về đạo nầy hoặc đạo kia. Từ đó chủ nghĩa cộng đồng tôn giáo và những việc xấu xa của nó. Các Kitô hữu tạo thành một thiểu số tôn giáo được chịu đựng vớI ít nhiều lòng tốt hoặc hiềm thù là tùy theo ácc tôin giáo và môi trường. Nhưng những năm vừa qua nầy đã bị đánh dấu bởI sự cầm quyền của một đảng phái được ủng hộ bởI các phong trào dân tộc chủ nghĩa Ấn-giáo mong muốn làm cho Ấn Độ trở thành một quốc gia theo Ấn-giáo. Họ khó chấp nhận sự hiện diện của các Kitô-hữu ở Ấn Độ và đặc biệt trách cứ các Kitô-hữu vê việc tìm cách “ cải đạo”. Đã từ lâu Giáo Hội chống lại mọi sự nhập đạo vội vàng không tôn trọng các truyền thống tôn giáo khác;nhưng tất nhiên Giáo HộI không thể từ bỏ việc rao giảng sứ điệp Phúc Âm cho những ai sẵn sàng lắng nghe.

Các nhà thần học Ấn Độ đã suy nghĩ rất nhiều về tình huống nầy. Họ nhận thấy rằng đối thọai liên tôn thường bị liên kết chăt chẽ với các vấn đề chính trị và họ xem như đặc biệt quan trọng rằng các Kitô-hữu hãy học cách làm sao để sống tốt trong một xã hội đa tôn giáo. Đó là một trong các lý do, mà từ một số năm qua, các Giám Mục Á Châu công bố việc sọan thảo công phu một nền thần học của sự hòa hợp. Sự hài hòa quả thật là một trong các giá trị của di sản văn hóa vốn chung nhất cho đa số rộng rãi ngườI Châu Á. Nó nhắm tới không chỉ tránh các sự đối đầu, mà còn đón nhận sự đa dạng như là một sự phong phú dồI dào. Do vậy nó đáng được các Kitô-hữu chú ý.

Các nhà thần học Ấn-Độ hẳn đã tự hào nhận thấy rằng từ một thời gian qua giáo huấn chính thức của Giáo Hội khuyến khích mạnh mẽ đối thọai liên tôn. Hơn thế họ cho rằng một số hình thức đốI thọai là gần như không thể tránh được đối với những ai đang sống trong các xã hội đa tôn giáo, như là các Kitô-hữu đang làm ở Ấn Độ. Một Kitô-hữu không thể sống và làm việc ngày lại ngày ngay sát cạnh những người Ấn-giáo và Hồi giáo, mà lại không thực hành dưới hình thức nầy hay hình thức khác một cuộc đối thọai liên tôn. Nhưng người Kitô-hữu cũng thường trải nghiệm những khó khăn xuất hiện ngay khi họ muốn trình bày vớI những người khác các yếu tố căn bản nhất của đức tin mình. Các người Ân-giáo, Hồi giáo, Phật-giáo, Sikhs và những kẻ khác không mấy thích thú nghe kể rằng Chúa Giêsu Kitô là Đấng cứu độ duy nhất , trong khi họ đoan chắc vớI tôn giáo riêng của mình, họ cũng đã có trong tầm tay tất cả mọi phương tiện cần thiết để “được cứu rỗi” theo như họ hình dung. Do vậy mà chung chung các nhà thần học Ấn Độ tán thành hòan tòan với các đề xuất của các Giám mục Châu Á:” Thách đố với chúng ta ở Châu Á, là công bố Chúa Giêsu Kitô làm sao để điều đó không tạo thành một sự lọai trừ những kinh nghiệm tôn giáo mà những người anh em chúng ta đã sống trong các niềm tin truyền thống của họ”.

PHỤ LỤC

1. THẦN HỌC HÒA HỢP.

“Hành động chung của chúng ta ở tại tinh thần hòa hợp vốn là một lý tưởng rất được yêu chuộng ở Á Châu. Một cách cụ thể, Viện các Giám Mục về Đối Thọai liên tôn (BIRA) đã tòan tâm tòan lực để đào sâu tìm hiểu về kái niệm HÒA HỢP;và Văn Phòng Nghiên Cứu các vấn đề thần học đã phát hành một tài liệu dài về đề tài nầy. Ở Á Châu, sự HÁI HÒA trong một ý nghĩa nào đó, hình như dùng để chỉ tâm hồn trí thức và tình cảm, tôn giáo và nghê thuật, cá nhân và xã hội ở tầm mức của con người cũng như của các định chế. Từ đó, cần thiết phải nghiên cứu sâu xa thần học hòa hợp trong bối cảnh Á Châu, sự hòa hợp dẫn đến đối thọai liên tôn như nó hiện tỏ cách rõ ràng cho chúng ta. Chủ đề hòa hợp, ngòai việc cung cấp cho chúng ta một cấu trúc chung việc tham gia để biến đổi các nền văn hóa Á Châu, ngày nay nó còn trở nên một khái niệm chủ chốt trong cuộc đối thọai và hợp tác giữa các tôn giáo” (Liên Hội Đồng GM Châu Á FABC, Tài liệu Công-giáo No 2217, ngày 2 tháng Giêng năm 2000).

2. THẦN HỌC “DALIT” (tiện dân).

Có một sự khác biệt nỗi bật giữa Thần Học Giải Phóng như nó được trình bày ở Nam Mỹ và kinh nghiệm Ân Độ. Ở Ấn Độ, chương trình giải phóng không giới hạn ở trong bối cảnh Kitô-giáo muốn đọc lại và đem ra một giải thích mới về các nguồn và các truyền thống Kitô-giáo. Ở Ấn Độ, sự giải phóng phải nhất quyết là một chương trình liên tôn. Trong xã hội đa chiều của Ấn Độ, những người nghèo thuộc về nhiều tôn giáo khác biệt” (Felix Wilfred : Hai bờ sông Hằng , Delhi 2002)
(chuyển ngữ từ Fides.org)