View Full Version : Mùa Chay và Phục Sinh A - Fiches Dominicales
admin
20-02-2011, 11:44 AM
T4LETRO
THỨ TƯ LỄ TRO
SUNG SƯỚNG ÐƯỢC SỐNG DƯỚI CÁI NHÌN
CỦA NGƯỜI CHA
(Mt 6, 1-18)
I. VÀI ÐIỂM CHÚ GIẢI
Ðức Giêsu vùa nêu lên sự công chính mới đối lại với "Lẽ công chính của các kí lục và biệt phái" trong năm phản đề liên tiếp. Trong đoạn Tin Mừng dành cho lễ tro, Ðức Giêsu đề cập đến ba cột trì cấu thành nền đạo đức do thủ giáo mà ta cũng gặp thấy trong mọi tôn giáo khác: bố thí ngày nay ta gọi là chia sẻ (1-4) cầu nguyện (5-6); và chay tịnh (16,18).
Thay vì hạ giá chúng, ở đâu, trước khi nói riêng từng điều một Ngài chỉ cho ta biết phải thực thi chúng với tinh thần: "Nếu các ngươi muốn nên công chính, hãy tránh làm những việc này trước mặt người đời để phô trương công chính đích thực hệ tại việc khuôn mình" theo thánh ý Thiên Chúa là Ðấng duy nhất biết rõ tận đáy lòng người
1.Chia sẻ dưới ánh mắt Chúa Cha.
Claude Tassin giải thích: Là một trong những yếu tố nền tảng của Do thái giáo, bố thí giữ vai trò của những cơ quan tương trợ trong xã hội văn minh ngày nay, và diễn tả tình huynh đệ mà Giao ước đòi buộc giúp đỡ người nghèo sẽ xoá tội (Tob. 12, 9) và có giá trị như một lễ hi sinh (Sir.4, 6,7,10)". (Tin Mừng theo thánh Matthêu, Centunon, 1991, tr. 72) Ðức Giêsu không hề chối bỏ giá trị thiêng liêng này, nhưng ngài tố giác lối thực hành phô trương của nó. Bố thí phải được thực thi "không phải để được người ta ngợi khen không phải để quảng cáo chính mình (đúng nghĩa của giả hình là như vậy) nhưng "trong âm thầm", phó thác trọn vẹn cho Thiên Chúa, Ðấng đuy nhất có thể đánh giá cử chỉ: "Cha ngươi nhìn thấy điều ngươi làm âm thầm, và Ngài sẽ thưởng công cho ngươi".
Ðức cha Daloz nhìn nhận: "Nguy cơ mà Ðức Giêsu đòi ta cảnh giác...nặng về bề ngoài cho người ta thấy...không phải là mối nguy hiểm hão huyền, ngay cả trong thời đại của chúng ta, dưới những hình thức tân thời... sự vô vị lợi, sự kín đáo, âm thầm trong những cộng đoàn Giáo Hội cũng chẳng dễ hơn trong các hiệp hội trần thế. các thành viên, các người hữu trách hay những nhà tôn chức, chúng ta chẳng thường bị cám dỗ giữ riêng cho mình những việc phục vụ hay những công trình mà ta đã đổ vào đó lòng quảng đại, để làm nổi bật trước mặt mọi người quyền hành và công đức của chúng ta đó sao... " Ðức Giêsu phán: "Thật, Ta bảo thật các ngươi, họ đã được thưởng công rồi"!.
Những gì ta không tìm cách giữ lại cho mình, Thiên Chúa có thể thu nhận, lòng quảng đại không mắc nợ...cử chỉ chia sẻ chỉ có ý nghĩa trọn vẹn trong tình yêu nhưng không, chỉ nình Thiên Chúa mới có thể tính được tình yêu và thước đo tình yêu là vô biên!"
2. Cầu nguyện dưới ánh mắt của Chúa Cha.
Cầu nguyện càng không thể được thực thi "cho người ta ngắm" "để khoe khoang trước mặt người đời" nhưng để nói với "Cha trong nơi kín ẩn": "Cha ngươi thấu suốt việc ngươi làm trong nơi kín ẩn và Người sẻ thưởng công cho ngươi".
Ðức cha Daloz viết tiếp: "Ðức Gíêsu không ngừng mời mọi ta có sự chính thực của tấm lòng, có sự sống nội tâm đích thực. Phải tích cực sử dụng những phương tiện để khi gặp gỡ riêng tư, cá nhân với Chúa Cha, ta không buồn chán... khi có một cuộc gặp gỡ quan trọng với Thiên Chúa, Ðức Giêsu bảo ta lánh vào nơi kín đáo để tránh nguy cơ tìm kiếm ánh mắt con người thay vì ánh mắt Thiên Chúa. Cầu nguyện để được "người ta nhìn ngắm" thay vì cầu nguyện với Cha "Ðấng thấu suốt tận đáy lòng", là phá hỏng, là làm sai lạc mục đích của kinh nguyện; đó là một hình thức sùng bái ngẫu tượng, chuyển hướng lời kinh lên Ðấng chí tôn thành sự thủ lợi cho riêng mình " (Sách đã dẫn, tr.66).
3. Chay tịnh dưới ánh mắt Chúa Cha.
Cl.Tassin chú giải tiếp: "Chay tịnh, tự cơ bản là dấu chỉ sự tang chế, chẳng hạn, hằng năm, người ta kỉ niệm việc đền thờ bị phá hủy bằng một ngày ăn chay nhưng người Do thái đạo đức nhận biết còn có một lý do chay tịnh khác, nghiêm trọng hơn những tai họa của quốc gia, đó là tội lỗi, cái chết thực sự của mối tương giao sống động với Thiên Chúa. Những nhórn hội tôn giáo giữ nhiều ngày chay tịnh thống hối, như người biệt phái giữ chay hai lần một tuần; người ta thêm vào đó những dấu hiệu tang tóc đặc biệt: không tắm rửa, không xức dầu thơm. ".(Sách đã dẫn, tr. 77)
Ðức Giêsu không hề chối bỏ giá trị của chay tịnh. Nhưng Ngài cảnh giác các tông đồ chống lại việc giữ chay để khoe khoang. Phải giữ chay, không phải để thu hút những cái nhìn thán phục của người khác, và để tỏ ra mình là người tốt", nhưng người ta phải phó thác hoàn toàn dưới cái nhìn của Chúa Cha: "Cha ngươi biết điều ngươi làm trong nơi kín đáo: Ngài sẽ thưởng công cho ngươi". Hơn một lần, khi tường thuật lại những lời của Ðức Giêsu, thánh Mátthêu muốn thuyết phục các tín hữu, còn trung tín với tập tục này rằng người không chấp nhận việc tìm cách xây dựng danh tiếng cho mình thay vì phó thác theo thánh ý Chúa Cha.
Ðức cha Daloz còn xác quyết: "Nguy cơ giả hình, nhưng thực chất, không hề đe dọa chúng ta, cần có một nhận thức khác để giữ cho việc chay tịnh Kitô giáo ý nghĩa đích thực của nó. Trong một thế giới lẫn lộn giữa tôn giáo và trần tục, thái độ của niềm tin đích thực đòi ta hiểu rõ ý nghĩa ấy của chay tịnh. Chỉ cần trở về với giáo huấn của Ðức Giêsu là đủ. Chay tịnh mà Ngài nói ở đây trước tiên không phải là một sự thanh tẩy hay giải phóng cá nhân, một nỗ lực, một sự khổ hạnh để dược tự chủ hơn, nó cũng không chỉ là sự giải phóng của tinh thần nhờ sự thiếu thốn của thân xác, để ta có thể chiêm ngắm tốt hơn những thực trại thiêng liêng. Ðức Giêsu cũng không hề coi nó là một phương cách để liên đới với những người đói hay là một sự thiếu thốn để dễ bề chia sẻ. Tất cả những điều đó điều tốt và hữu ích và Hội Thánh, phụng vụ, và các tác giả tu đức...căn dặn chúng ta như vậy. Chay tịnh đích thực giúp ta hết tự quí, giúp ta lột trần mình trước mặt Thiên Chúa. Ðây không phải một thành tích thiêng liêng.... Ðây là phương thế giúp ta nên hèn mọn trước măﴠChúa một của lễ là chính con người của ta khi cố gắng sống khổ hạnh, nhưng theo ơn thiêng mà chính Thiên-Chúa ban cho kẻ, trong đêm tăm tối và trần trụi, tin yêu và tâm tưởng, phô mình dưới ánh mắt Ngài, không kiếm tìm kết quả nào... như kinh nguyện, như bố thí, sự chay tịnh đích thực mà Ðức Giêsu mời gọi các môn đệ của mình diễn ra trong cảnh kín đáo của mối tương giao với Chúa Cha, trong cảnh kín đáo của niềm tin" (Sách đã dẫn, tr.82)
II. BÀI ÐỌC THÊM:
"Dưới ánh mắt Chúa Cha": J'guillet, "Ðức Giêsu trong niềm tin của các môn đệ tiên khởi" (Desclĩe de Brouwer,1995,p. 119-120.)
Nếu các môn đệ đã học được cách gọi Thiên-Chúa là Cha một cách đơn sơ, thì chính là do Ðức Giêsu đã biết cách giúp họ chia sẻ kinh nghiệm phụ tử của nình. Và bài giảng trên núi còn vọng lại trong ta sự chia sẻ này. Với sự xác quyết độc nhất vô nhị của Ðức Giêsu khi nói về Cha anh em như một thực tại mà họ đã từng biết, theo kiểu gặp gỡ song phương giữa Thiên-Chúa và con cái người, thân thiết như một người Cha chú tâm đến con người với tất cả những nhu cầu của họ. Mối thân thiết song phương này bừng lên trong điệp khúc được lập đi lập lại ba lần trong bài giảng: Cha ngươi nhìn thấy ngươi, đây là ba loại việc lành, không được ghi trong Lề luật, lưng là cách mà những người Do thái đạo đức nhất tìm được dịp chứng tỏ lòng quảng đại của nình, và "vượt lên trên" sự công chính theo lề luật: cầu nguyện, bố thí và chay tịnh Ðức Giêsu không hề kết án lòng quảng đại mà Ngài sẽ đề nghị các môn đệ mình làm thêm ấy. Nhưng Ngài cảnh giác họ chống lại sự khoe khoang của những kẻ "giả hình" chỉ tìm cách thu hút sự thán phục của quần chúng. Và cả ba lần, Ngài đối chọi cái nhìn hời hợt của con người với cái nhìn xác đáng của Ðấng mà Ngài gọi bằng một tên mới: Cha của anh.
Còn ánh, khi bố thí đừng cho tay trái biết việc tay phải làm, để việc anh bố thí được kín đáo: Và Cha của anh, Ðấng thấu suốt những gì kín đáo, sẽ trả công cho anh.
Còn anh khi cầu nguyện hãy vào phòng, đóng cửa lại, và cầu nguyện cùng Cha của anh, Ðấng hiện diện nơi kín đáo. Và Cha của anh, Ðấng thấu suốt những gì kín đáo sẽ trả công cho anh. Còn anh, khi ăn chay, nên rửa măﴠcho sạch, chải đầu cho thơm, để không ai thấy là anh ăn chay ngoại trừ Cha của anh, Ðấng hiện diện nơi kín đáo và Cha của anh Ðấng thấu suốt những gì kín đáo sẽ trả công cho anh. (Mt 6,4.6.18).
Ðiều mà Cha có thể trả công cho con cái mình, không phải là một sự tương xứng mà ta có thế cân đong đo đếm, một phần thưởng trả cho những nỗ lực của chúng mà có thể nói, đây là lời đáp trả cho những cử chỉ của chúng: chúng dâng cho Thiên Chúa món quà bé nhỏ của chúng, để đổi lấy nụ cười của người như những trẻ thơ vẫn làm, và Cha đáp trả chúng bằng nụ cười mênh mang như tình yêu của một vị Thiên-Chúa".
admin
20-02-2011, 11:45 AM
CNMC1
CHÚA NHẬT I MÙA CHAY
Chịu ma quỷ cám dỗ, Ðức Giêsu đã có lựa chọn của một Người Con, phó thác trọn vẹn thân phận Trong tay Cha. Câu chuyện được xem như điển hình Cho tất cả những thử thách Người phải chịu cho đến hơi thở sau.
(Mt 4, 1-11)
I.VÀI ÐIỂM CHÚ GIẢI:
1.Trung thành với phép rửa đã nhận, một chọn lựa trước sau như một của Ðức Kitô:
Cả ba Tin Mừng Nhất lãm đều thuật lại câu chuyện Ðức Giêsu chịu ma quỷ cám dỗ trong hoang địa, và cả ba đều nối kết chặt chẽ câu chuyện này với phép Rửa Người đã nhận trong dòng sông Giođan. Thánh sử Máccô viết: "Thần Khí liền đẩy Người vào hoang địa. Người ở đó bốn mươi ngày, chịu Satan cám dỗ" (Mc l,12). Thánh Luca kể: "Ðức Giêsu được đầy Thánh Thần, từ sông Giođan trở về, và được Thánh Thần dẫn đi trong hoang địa bốn mươi ngày, chịu quỷ cám dỗ"(Lc 4, 1). Còn thánh sử Matthêu cũng nhấn mạnh rằng nếu "Chúa Giêsu, sau khi đã chịu phép rửa..chịu quỷ cám dỗ, là vì người "được Thần Khí đưa dẫn. Cũng chính Thần Khí ấy đá đáp xuống và ngự trên Người, bên bờ sông Giođan, trong lúc có tiếng từ trời phán rằng "Ðây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Ngươi".
Câu chuyện Ðức Giêsu chịu cám dỗ J.Guillet nhận định theo cả ba Tin Mừng Nhất lãm, gắn liền với câu chuyện Chúa chịu phép rửa. Matthêu viết rõ: "Ngay sau khi ngự trên Ðức Giêsu, Thần Khí dẫn người vào hoang địa chịu quỷ cám dỗ (Mt 4,1). Bài tường thuật về cơn cám dỗ và phép rửa của Chúa làm thành một tập hợp riêng, liên can đến quảng thời gian Ðúc Giêsu chưa thực sự bắt đầu sứ vụ công khai của Người. Không hoàn toàn lặng lẽ ẩn mình như trong thời thơ ấu, nhưng Chúa có vẻ như để mình bị động từ bên ngoài: Từ Thiên Chúa là Ðấng đã lên tiếng phán, từ Thần Khí dẫn Người vào hoang địa, và điều lạ lùng là ngay cả từ ma quỉ, cho nó lân la lại ngần, dụ dỗ Người, và hình như có thể khiển được cả thân xác Người. Người ta có thể xem lúc này chỉ giai đoạn chuẩn bị. Thực ra đây là một luồng sáng chiếu rọi trước vào suốt lịch sử đang đến: lịch sử cửa Con Thiên Chúa và lịch sử của cả nhân loại. Toàn thể cuộc đời của Ðức Giêsu, diễn ra trong ánh sáng của tiếng Chúa Cha xác nhận: đây là Con yêu Dấu của Ta, dù bên cám đỗ cứ tha hồ rên rỉ: "Nếu ông là Con Thiên Chúa" ("Jésus aans la hoi des premiers disciples" Desclée de Brouwer, trang 44).
Trong lúc bải tường thuật của Máccô rất ngắn gọn vỏn vẹn chỉ có một câu, thì Matthêu và Luca không ngần ngại dàn dựng cả một câu chuyện đầy tính biểu tượng. Ðây là một hình thức văn chương khá quen thuộc đối với những độc giả của các ông, là những người đã thấm nhuần văn hóa Do Thái. Xung quanh ba cơn cám dỗ con số tượng trưng cho sự viên màn đầy đủ, câu chuyện muốn tổng hợp tất cả cơn cám dỗ liên lỉ mà Chúa Gìêsu phải chịu cho đến giây phút cuối cuộc đời.
Và để cho thấy rõ rằng, Ðức Giêsu với tư cách là Môsê mới, đang thực hiện lại cuộc hành trình của Dân Thiên Chúa tiến về Ðất hứa, Matthêu và Luca đã cố ý lựa chọn mặc dù khác nhau đôi chút về thứ tự "ba nơi chốn có tính cách biểu tượng của lịch sử Israel, đó là: Hoang địa, là nơi Dân Chúa chịu thử thách đầu tiên; Ðền Thờ, là chỗ Dân Chúa tụ họp để tôn thờ sự hiện diện của Thiên Chúa, Núi Cao là nơi Môsê sẽ nhận lệnh Lề luật của Chúa, và núi Nê-bô là địa điểm từ có ông đã nhìn về Ðất Hứa" (J.Potin, jésus, l'histoire vraie", Centurion, 1994 trang 114).
2. Giữa hoang địa... Niềm cậy trông tuyệt đối vào Thiên Chúa:
Cơn cám dỗ đầu tiên có khung cảnh là "hoang địa". Ðối với dân tộc Do Thái, đây là nơi chốn tượng trưng cho sự gần gũi Thiên Chúa, đồng thời cho sự thử thách làm sáng tỏ đáy lòng con người (chay tịnh, nhịn đói là nhằm thử lòng mình đối với Thiên Chúa); Hoang địa còn là nơi cố tính cách biểu tượng cho mọi khởi đầu: Ðức Giêsu ăn chay ở đây suốt bốn mươi đêm ngày, cũng như Môsê ngày xưa trên núi Sinai, trước khi đón nhận luật Giao ước. J.Guillet viết: đối với cư dân miền Palestine, hoang địa vừa là một phong cảnh cụ thể, nhìn thấy được từ đỉnh của dãy núi chính, vừa là một kỷ vật gợi nhớ lại thời các tổ phụ, đồng thời cũng là hình ảnh đầy ý nghĩa về những cách Thiên Chúa đã xử sự với dân Người Cỏ l~hi là những tai họa khổ đau Người đề ~ Dân phải chịu, có khi là niềm an ủi, vỗ về Người dành cho họ. Trong ký ức của người Do thái, hành trình đi qua hoang địa vừa là quãng thời gian thiêng liêng của biến cố núi Sinai, cũng như của việc ban bố Lề luật, vừa là giai đoạn đen tối của thói kêu ca lẩm bẩm và những hành động chống đối của dân chúng, thời gian của Thiên Chúa và cũng là thời gian của ma quỉ, chính Ðức Giêsu đã tự ý bước vào đó" (sđd, trang 44-45).
-Trong hoang địa, khi chịu cái đói thử thách "để cho biết lòng dạ chúng ra sao" (Nhị Luật 8,2), con cái Israel đã nghi ngờ Thiên Chúa. Họ đã tỏ ra không dám cậy dựa vào một mình Lời Chúa, không dám tin tưởng vào các lời hứa của Người. Họ lẩm bẩm kêu ca: "Thà rằng chúng ta chết bởi tay Thiên Chúa ở đất Ai Cập thời ấy được ăn uống no nê" (Xh 16,3): Và Người đã ban mana xuống cho họ.
-Trong hoang địa, Ðức Giêsu cũng phải trải qua cơn cám dỗ như thế: cơn cám dỗ về sự dễ dãi tiện nghi, muốn "có tất cả, có liền "Hãy truyền cho những hòn đá những hòn đá này hóa bánh ít, tên cám dỗ đã dụ Người.
-J.Radermakers giải thích: "Tiếng nói đã mời mọc Ðức Giêsu biến đá sỏi sa mạc thành mâm ngon đồ ăn, thanh la tiếng nói của bản năng và xác thịt loài người luôn có xu hướng bóp nghẹt sự sống của Thiên Chúa" (au fil de l'Evangile se lon saint Matthieu", trang 67). Nhưng Ðức Giêsu đã có lựa chọn của "Người Con"; Người đáp lại bằng cách trích dẫn sách Ðệ Nhị Luật, chương 8 câu 3, liên hệ đến câu chuyện về bánh manna; "người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh, nhưng còn nhờ mọi lời miệng Thiên Chúa phán ra". Trái với dân Israel trong hoang địa xưa, Ðức Giêsu hoàn toàn phó thác nơi Chúa Cha, Người chỉ cậy dựa vào một mình Lời của Thiên Chúa. Rồi đây trong suốt cuộc đời hoạt động của Người, Ðức Giêsu sẽ trở thành mục tiêu công kích của những, đối thủ. Họ đòi Chúa phải cho họ thấy những dấu chỉ tỏ tường, để minh chứng điều Người tự xưng về mình. "Bấy giờ, có những người thuộc phái Pharisêu là phái Xa-đốc lại gần Ðức Giêsu, Matthêu dùng lại từ ngữ của bài tường thuật Cám Dỗ, và để thử Người, thì xin Người cho thấy một dấu lạ từ trời" (Mt 16,1). Nhưng cho đến giây phút cuối, Ðức Giêsu vẫn muốn là một Ðấng Cứu Thế nghèo, nhận lãnh tất cả từ Chúa Cha.
3.Trên nóc Ðền Thờ.Chấp nhận con đường đau khổ:
Cơn cám dỗ thứ hai có khung cảnh là nóc "Ðền Thờ", nơi là dấu chỉ Thiên Chúa hiện diện và che chở Dân của Người.
-Trong hoang địa, khi chịu cái khát thử thách, con cái Israel đã phải trải qua đêm tối của đức tin, khiến họ nghi ngờ và chống đối. Thiên Chúa đã dẫn họ vào hoang địa phải chăng để bỏ rơi họ trong cảnh tuyệt vọng "Có thực Thiên Chúa ở với chúng ta hay không chức (Xh 17), họ lẩm bẩm với nhau như thế. Họ đã đi đến chỗ "thách thức" Thiên Chúa xem Người: có thể cung cấp nước uống cho họ trong hoang địa, họ "thử thách Người".
-Ðức Giêsu cũng phải trải qua cơn cám dỗ như thế: cơn cám dỗ về quyền lực. "(gieo mình xuống đi!", tên cám dỗ xúi Người bằng cách xuyên tạc một câu của thánh vịnh 90: "Thiên Chúa sẽ truyền cho thiên sứ lo cho ban, và thiên sứ sẽ tay đỡ tay nâng, cho bạn khỏi vấp chân trào đá".
Một lần nữa, Ðức Giêsu đã có chọn lựa của "Người Con."; Người đáp lại bằng cách trích dẫn sách Nhị Luật, chương 6, câu 16, liên hệ đến chuyện dân Do Thái kêu ca, và Thiên Chúa đã ban cho họ mạch nước tràn trề từ tảng đã: "người chớ thử thách Ðức Chúa là Thiên Chúa của ngươi. Khác với Israel trong hoang địa xưa, Ðức Giêsu không bao giờ tìm cách thử xem Thiên Chúa có hiện diện trọn cuộc đời mình hay không người bước đi mà không cho dấu chỉ nào, không yêu cầu bằng chứng nào, trong suất sứ vụ, và nhất là trên thánh giá, vào giờ phút đen tối nhất, khi chính Chúa Cha cũng lặng thinh, Ðức Giêsu đã chịu cơn cám dỗ: "Nếu ông là Con Thiên Chúa, hãy tự cứu lấy mình và xuống khỏi thập giá đi", những đối thủ của Chúa đã buông lời thách thức, lập lại lời của tên cám dỗ trước kia. Nhưng Ðức Giêsu, cho đến cùng vẫn trung thành với chọn lựa là một vị Cứu Thế khiêm cung, hoàn toàn phó thác mình cho Chúa Cha.
4. Trên núi cao.chọn lựa một đường lối cứu thế, bằng phục vụ: Cơn cám dỗ thứ ba, theo Tin Mừng Matthêu, có khung cảnh "một ngọn núi rất cao". Nghe nói đến địa điểm này, người Do Thái chắc chắn sẽ liên tưởng đến ngọn núi Nê-bô ông Môsê đã lên để nhìn từ biệt Ðất Hứa. Trên đó, Thiên Chúa đã chỉ cho ông xem thấy toàn bộ miền đất (nhị luật- 34,1), và thêm: "Miền đất này, ngươi sẽ chẳng được vào" (Nhị Luật 34,4). Ở đây, Ðức Giêsu là Môsê mới, đang chuẩn bị dẫn dắt đoàn dân của Người đến Ðất Hứa Nước Trời, Người được tên cám dỗ chỉ cho thấy tất cả các nước thế giới và vinh hoa lợi lộc của con nước ấy.
-Trong hoang địa, con cái Israel bị hoang mang trước tương lai bất định, đã chịu thua cơn cám dỗ. Họ đã bỏ quên Thiên Chúa độc nhất, Ðấng đã cứu họ khỏi đất AiCập, để chạy theo các thần ngoại khác dễ dãi, dễ sai khiến, dễ chiều theo ý muốn của họ, sẵn sàng bảo đảm cho họ giấc mơ quyền lực và mộng bá chủ: "Hãy làm cho chúng tôi những vị thần để đi trước chúng tôi", họ yêu cầu ông Aaron (Xh 32,33)... và Aaron đã làm cho họ một con bò vàng. Chính Ðức Giêsu cũng đã phải trải qua cơn cám dỗ như thế: cơn cám dỗ về sức mạnh trần thế, dụ dỗ Người theo đuổi một đường lối cứu thế kiểu trần gian, chiều theo những mong đợi và tham vọng loài người. "Tôi sẽ cho ông tất cả những thứ đó, nếu ông sấp mình bái lạy tôi", tên cám dỗ hứa hẹn với Chúa như thế. Lần thứ ba, Ðức Giêsu lại có chọn lựa của "Người Con". Người đáp lại bằng cách trích dẫn Sách Nhị Luật, chương 8, câu 17-18, hiển nhiên có liên can với câu chuyện bò vàng: "Satan kia, xéo đi! Vì có lời chép rằng: ngươi phải bái lạy Ðức Giêsu là Thiên Chúa của ngươi, và phải thờ phượng một mình Người mà thôi, khác xa dân Israel xưa trong hoang địa, Ðức Giêsu khước từ mọi thỏa hiệp: Người dứt khoát đi theo con đường cứu thế bằng phục vụ chứ không phải bằng sức mạnh thống trị.
-Trong suốt sứ vụ, Ðức Giêsu phải thường xuyên đương đầu với cơn cám dỗ ấy. Cơn cám dỗ đến không chỉ từ phía những đối thủ hay đám đông dân chúng đi theo mà thôi, nhưng còn ngay từ những bạn hữu của Người, những kẻ Người sẽ giao trách nhiệm kế tục sứ mạng của Người. "Xin Thiên Chúa thương đừng để Thầy gặp phải chuyện ấy", Phêrô đã lên tiếng can ngăn, thay mặt cho cả nhóm không muốn thấy Ðức Giêsu, "Ðấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống, mà phải rơi vào số phận bi đát như thế, Ðức Giêsu Kitô bắt đầu tỏ cho các môn đệ biết Người phải đi Giêrusalem, phải chịu nhiễu đau khổ các kỳ mục, các thượng tế và kinh sư gây ra, rồi bị giết chết, và ngày thứ ba sẽ sống lại". Và Ðức Giêsu đã nghiêm khắc đáp lại, tương tự lời người đã nói với tên dỗ: "Satan, lui lại đằng sau Thầy! Anh cản lối Thầy vì tư tưởng của anh không phải là tư tưởng của Thiên Chúa, mà là của loài người (Mt 16,16-23). Cho đến cùng, Ðức Giêsu vẫn chọn làm một vị Cứu Thế Tôi tớ đau khổ mà các ngôn sứ đã loan báo.
J.Potin kết luận: "Nếu Ðấng được Thiên Chúa chọn đã vẻ vang vượt qua được cơn cám dỗ lần này, thì thử thách thực sự vẫn còn trước mắt. Như thánh sử Luca kết ở cuối câu chuyện: "Sau khi đã xoay hết cách để cám Người, quỷ bỏ đi, chờ đợi thời cơ (Lc 4,13). Ðâu là khuôn mặt cứu thế mà Ðức Giêsu phải đảm nhận. Phải chăng là khuôn mặt của Ðavit, người của Thiên Chúa, và cũng là người của những cuộc chinh chiến chống lại quân thù phải chăng là khuôn mặt của người Tôi Tớ Thiên Chúa mà chúng ta sẽ thấy được khắc họa ngày càng rõ nét Matthêu và Luca có ý cho thấy ngay trước bắt đầu sứ vụ, vừa lãnh phép rửa xong, Ðức Giêsu đã chọn lựa của Người. Ðấng được Thiên Chúa chọn, là Con Thiên Chúa, đã dứt khoát chọn lấy sự vâng phục trọn vẹn Lời của Thiên Chúa" (Sđd, trang 117).
II. BÀI ÐỌC THÊM:
1.Mối liên lạc thâm sâu giữa Phép Rửa là cám dỗ: ("J.Guillet, "Jésus la foi des premiers disciples" Desclée de Brouwer, 1995, trang 46-47).
"Mối liên lạc thâm sâu giữa Phép Rửa và Cám dỗ chính là mối liên lạc của đức tin, nơi Ðức Giêsu và nơi chúng ta. Cơn cám dỗ rõ ràng là một trong những chỗ mà người ta không thể nào hiểu được Ðức Giêsu nếu không nói đến niềm tin của Người. Sống nhờ những gì Thiên Chúa ban cho, hoàn toàn vâng phục Thiên Chúa, một mình đối diện trước hư không, trước một tương lai vô định, dưới nhiều dạng khác nhau, đó chính là kinh nghiệm của đức tin. Và nếu, theo các sách Tin Mừng, kinh nghiệm ấy đi liền với biến cố Phép Rửa, là bởi vì trong biến cố ấy, nó đóng một trai trò rất quan trọng. Và bằng chứng đây là vấn đề của đức tin, đó là những cám dỗ của Ðức Giêsu cũng chính là những cám dỗ của Dân Chúa trong hoang địa. Khi thắng những cám dỗ ấy, Chúa muốn đồng thời chỉ cho họ thấy họ đang thiếu cái gì và hôm nay Người mang đến cho họ cái gì. Bây giờ nếu trung thành với những chỉ dẫn của các sách Tin Mừng, đối chiếu hai biến cố phép rửa và cám dỗ của Ðức Giêsu, người ta sẽ có thể nhận ra được chỗ đứng đặc biệt của đức tin nơi cả hai đoạn. Kết quả đối chiếu bề ngoài có vẻ mâu thuẫn: phép Rửa là nơi tràn ngập sự hiện diện của Thiên Chúa, là nơi vang rền tiếng phán từ trời cao, trái lại, cám dỗ là chỗ của sự xa vắng, của đói khát, của trống trải hư không. Phải nói rằng Ðức Giêsu đã lần lượt nếm qua cả hai kinh nghiệm chính yếu trên.
Ðối lại với lối giải thích nông cạn đó, chúng ta phải để ý đến cách suy luận rất rõ của các Tin Mừng, đến sự nhấn ạmnh của các sách ấy vào mối liên lạc thâm sâu giữa hai khoảng khắc. Không phải chỉ đơn giản là sự tương phản ở hiện tượng bên ngoài, nhưng là một sợi dây nối hết sâu bên trong. Trong câu chuyện này hay câu chuyện kia, nội dung vẫn là Chúa Con trong tương quan với Thiên Chúa. Là Con Thiên Chúa, điều đó mang đến một lúc hai ý nghĩa không thể tách rời nhau: là lắng nghe tiếng nói yêu thương của Chúa Cha, và trọn vẹn vâng phục thánh ý Người. Cả hai làm thành đức tin, đức tin của Con Thiên Chúa.
Ðúng là người tín hữu thường phải sống đức tin trong tâm trạng xa vắng và đêm tối tâm hồn. Không có sự xa vắng đó, đức tin sẽ biến chất và tiêu tan thành một thứ thị kiến ảo ảnh. Nhưng ngay trong tâm trạng xa vắng đó người tín hữu kinh nghiệm một sự gặp gỡ, một sự hiện diện. Thánh Gioan thánh giá đã xây dựng toàn bộ học thuyết của mình trên lời dạy này: nhận biết Thiên Chúa qua đức tin chính là đã đạt được Người trong chân lý của Người, ngay từ cuộc đời này. Cuộc gặp gỡ trong đêm tối này, niềm xác tín thường chỉ là vô thức này, chính là trung tâm, cốt lõi của đức tin chân thực, chỉ với một đức tin như vậy chúng ta mới nhận biết một vị Thiên Chúa thật. Ðức tin một trật vừa là ánh sáng rực rỡ, Vừa là bóng tối thẳm sâu. Cũng thế, một cách bất khá phân ly, ánh sáng của Phép Rửa cùng với đêm tối của Cám Dỗ, làm nên đức tin của Ðức Giêsu Kitô, mầm mống của đức tin chúng ta.
2. "Những cám dỗ của Ðức Giêsu cũng là của chúng ta hôm nay" (Mgr L.Daloz, trong "Le Règlle des cieux s'est approehé", desclée de Brouwer, 1994, trang 34-35).
"Chúng ta thấy: những cám dỗ của Ðức Giêsu cũng là của chúng ta hôm nay. Chẳng có gì phải ngạc nhiên. Chúng ta biết rằng nơi Ðấng là Ðầu, toàn Thân Mình đã chiến thắng cám dỗ. Chính nhờ cậy dựa vào Người mà đến lượt mình chúng ta có thể thoát được cạnh bẫy của tên cám dỗ. Ðức Giêsu dạy chúng ta phải đương đầu như thế nào: bằng cách chạy đến với Lời Chúa. Lời Chúa soi đường chỉ lối cho chúng ta đi. Lời Chúa chở che, bảo đảm cho chúng khỏi bị lầm lạc. Thật là nguy hiểm nếu chúng ta để mình buông theo xu hướng tự nhiên của loài người? ma quỉ cũng không mong gì hơn chúng ta đồng lõa với chúng như thế. Khi ấy Lời Chúa sẽ là thành lũy bảo vệ chúng ta.
admin
20-02-2011, 11:46 AM
CNMC2
CHÚA NHẬT II MÙA CHAY
ÐỨC GIÊSU BIẾN HÌNH TRÊN NÚI MẠC KHẢI VỀ MẦU NHIỆM "NGƯỜI CON YÊU DẤU" VÀ BÁO TRƯỚC VINH QUANG PHỤC SINH
(Mt 17,1-9)
I. VÀI ÐIỂM CHÚ GIẢI:
l. Mối liên lạc chặt chẽ với lời báo trước khổ nạn:
Bị đám đông lòng dạ thất thường ở Galilê trở mặt và thường xuyên bị những kẻ thù kiếm chuyện gây rối, Ðức Giêsu phải liên tục di chuyển. Người lên tận miền Césarée Philipphe, nơi đầu nguồn sông Giođan, và ở lại đó tập trung vào việc huấn luyện các môn đệ của mình.
"Người ta nói Con Người là ai?" Ðức Giêsu thăm dò trước. Sau đó Người mới hỏi ngay họ: "Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai. Phêrô lên tiếng thay cho nhóm anh em: "Thầy là Ðấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống". Ðức Giêsu đáp lại bằng một lời chúc phúc: "Này anh Simon, con ông Giona, anh thật là người có phúc. và đồng thời một uỷ thác sứ mạng: "Anh là Phêrô, nghĩa là tảng đá, trên tảng đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy ". Rồi "từ lúc đó", thánh sử Matthêu ghi rõ, Ðức Giêsu bất đầu báo cho các ông biết trước điều khiến Phêrô phải lấy làm xúc phạm, và phải lãnh nguyên lời quở trách của Chúa: "Satan, lui lại đằng sau Thầy. Ðó là con đường đau khổ mà Con Người sẽ phải đi: "Người phải đi Giêrusalem, phải chịu nhiều đau khổ do các kỳ mục, các thượng tế và các kinh sư gây ra, rồi bị giết chết, và ngày thứ ba sẽ sống lại" (16,21). Và Chúa tiếp tục cho biết con đường của các môn đệ cũng không thể là gì khác: "Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo" (16,24).
Ðúng vào thời điểm quan trọng này, thánh Matthêu cho biết rõ: "sáu ngày sau" - chúng ta liên tưởng đến chuyện ông Môsê dẫn theo ba người bạn lên núi Sinai (Xh 24,9), để nhận lãnh mạc khải của Thiên Chúa "sáu ngày sau." đó (Xh 24,16), và cuối cùng diện mạo ông biến đổi khác thường (Xh 34,29) - Theo các tác giả Tin Mừng đó là lúc xảy ra biến cố biến hình trên núi. Jean Potin viết: đây là một câu chuyện "chắc chắn dựa vào sự kiện xác thực", và được ba thánh sử nhất lãm ghi chép lại "bằng một thứ ngôn ngữ biểu tượng, vay mượn một số những yếu tố chính từ cuộc thần hiện (Thiên Chúa tỏ bày thần tính) trên núi Sinai" ("Giêsu, lịch sự thật", Centunon, trang 330).
2.Cuộc biến hình trên núi cao:
1.Ba nhân chứng được tách riêng trên núi:
"Chỉ có "các ông Phêrô, Giacôbê và Gioan là em ông Giacôbê" được Ðức Giêsu gọi riêng đi theo Người. Là chứng nhân mục kích cuộc biến hình của Chúa hôm nay, rồi đây, cũng chính họ sẽ được chứng kiến cảnh khuôn mặt Chúa bị "biến dạng" tàn tạ trong vườn Cây Dầu (26,37). Chi tiết "ngọn núi cao", nơi sẽ xảy ra cuộc biến hình, mang ý nghĩa thần học hơn là tính chất địa lý. Trong Kinh Thánh, núi thường là cho cho những cuộc mạc khải của Thiên Chúa. Ở đây nó khiến nhớ lại núi Sinai, ngọn núi lẫy lừng nhất trên trái đất, vì là nơi xưa kia Thiên Chúa đã hiện ra và phán truyền cho con người. J.Potin nhắc nhớ lại: "Chính trên ngọn núi này Môsê đã được đám mây bao phủ, khiến dung mạo ông ngời sáng. Ðây cũng là núi mà vị ngôn sứ vĩ đại Êlia đã đặt chân tới để dưỡng sức, lấy lại can đảm trong cuộc chiến đấu chống lại tội thờ ngẫu tượng của dân chúng. Ðến lượt chính Ðức Giêsu cũng lên núi này" (Sđd trang 330).
2. Ðức Giêsu biến hình, đứng giữa Môsê và Êlia:
"Như ông Môsê khi xuống núi Sinai, sau khi đã có cuộc gặp gỡ với Thiên Chúa của Giao ước, "dung mạo Ðức Giêsu bỗng rực rỡ như mặt trời, và y phục Người trắng tinh thư ánh sáng". Trong trường hợp của Môsê, thì đó chỉ là sự phản chiếu trong chốc lát ánh hào quang của Thiên Chúa; còn đối với Ðức Giêsu, thì lại là sự lan toả của chính hữu thể của Người, là sự chiếu giãi của "vinh quang" Người (xem Lc 9,32). Cả 3 Phúc âm nhất lãm đã ghi nhận có hai nhân vật cùng hiện ra đàm đạo với Ðức Giêsu. Ðây là hai con người đầy uy lực là hiện thân cho cả Cựu ước Môsê là biểu tượng của Lề Luật; Êlia đại diện cho hàng ngũ các ngôn sứ. Người ta tin rằng ông này sẽ trở lại vào thời sau hết, để di trước dọn đường,cho Ðấng Messia ngự đến..Hai nhân chứng hiện ra rồi chợt biến mất, muốn chỉ rằng giáo ước cũ nay đang được hoàn thành nơi Ðức Giêsu Kitô. (Vào khoảnh khắc tái diễn lại cảnh thần hiện Xuất Hành, J.Potill giải thích, có sự tham dự của hai nhân vật lớn của lịch sử Israel, cả hai đều đã từng đặt chân trên ngọn Sinai. Họ chính là hiện thân cho Lề Luật và các ngôn sứ, và từ bao thế kỷ, đã loan báo và chuẩn bị cho Con Người đến. Hai vị đã trò chuyện với Ðức Giêsu và qua đó nhìn nhận Người là Ðấng phải đến (Sđd trang 330-331).
Cũng với ý chống lại cuộc khổ nạn của Ðấng rnà ông xưng là "Messia", Phêrô chỉ muốn giây phút này trở thành vĩnh cửu: "Nếu Ngài muốn, con xin dựng tại đây ba cái lều, Ngài một cái, ông Môsê một cái, và ông Êlia một cái.
3. Từ đám mây có tiếng phán:
Người môn đệ còn đang nói thì bản thân ông và hài môn đệ kia bị bao phủ trong một "đám mây sáng ngời". Trong Cựu ước đó chính là dấu chỉ sự hiện diện của Thiên Chúa ở giữa Dân Người qua sa mạc (Xh 13,21). Từ nay, Ðức Giêsu sẽ là sự hiện diện đích thực ấy của Thiên Chúa giữa loài người. Từ đám mây, vang lên một "tiếng phán". Ở dây chúng ta thấy lặp lại từng chữ trong tiếng phán với một mình Ðức Giêsu khi người chịu phép rửa tại sông Giođan: "Ðây là Con Yêu Dấu của Ta, Ta hài lòng về Người, nhưng thêm: "Hãy vâng nghe lời Người. Ðiều này gợi nhớ lại lời kêu gọi của Thiên Chúa đối với dân chúng khi loan báo vị Môsê mới sẽ ngự đến (Ðnl 18,15). J.Potin giải thích: "Ðức Giêsu không chỉ là vị ban lề luật không chỉ là ngôn sứ, Người chính là Con Yêu Dấu của Thiên Chúa, là Con Người đứng ở bên ngai Thiên Chúa. Từ nay, phải vâng nghe lời Người. Ðiều Người nối làm ứng nghiện những gì, Lề Luật và các ngôn sứ đã tiên báo xưa" (Sđd trang 331).
4. Xuống núi:
Biết mình đang chứng kiến một cuộc hiển linh của Thiên Chúa, các môn đệ "sấp mặt xuống đất". Ðức Giêsu "lại gần", "chạm vào các ông", và trong một cử chỉ như để cứu chữa, Người thúc giục các ông hãy "chỗi dậy (động từ mà những thế hệ Kitô hữu đầu tiên dùng dể chỉ sự phục sinh): sức mạnh phục sinh của Chúa đã khởi đầu trong cuộc sống và đức tin của các môn đệ.
Bây giờ chỉ còn lại "một mình Ðức Giêsu". Khi xuống núi, Chúa truyền cho các ông phải giữ kín những điều vừa xảy ra, "cho đến khi Con Người từ cõi chết chỗi dậy. Cuộc tiếp xúc của các ông với Thiên Chúa chỉ diễn ra trong khoảnh khấc, J.Potiu kết luận liền sau đó, họ thấy Ðức Giêsu đã trở lại với trạng thái bình thường của Phận làm người phải chết. Tuy nhiên, cốt lõi của sứ điệp đã được công bố, phải vâng nghe lời của Người Con yêu Dấu, cho dù đôi khi lời ấy xem ra rất nghịch thường. Bóng đen u ám của cuộc khổ nạn đã đè nặng ngay trên ánh quang của cuộc Biến hình. Thánh sử Luca đã cho: thấy rõ điều đó khi thêm chi tiết là Môsê và Êlia hiện ra đàm đạo với Ðức Giêsu về "cuộc xuất Hành". Người sấp hoàn thành tại Giêrusalem" (Lc 9,31), nghĩa là về cái chết của Người. Máccô (và Matthêu) cũng hướng sự chú ý của các nhân chứng tới cuộc hy sinh sắp tới của Ðức Giêsu khi đề cập đến lệnh Người truyền cho các ông "đừng nói cho ai hay những gì mình thấy, cho đến khi Con Người từ cõi chết chỗi dậy. Mặc dù cuộc biến hình dường như loại trừ khả năng phải chết của Ðức Giêsu, bởi nó mặc khải Người là Con Người đến từ trời, nhưng các môn đệ chỉ nắm bắt được ý nghĩa của nó sau khi Chúa đã sống lại (Sđd trang 331).
II. BÀI ÐỌC THÊM
1."Trên đường đời ta đi, Thiên Chúa vẫn ở bên" (L.Daloz, trong le Règne des c~eux s!est approché", Desclée ae Brouwer, 1994, trang 246-247)
"Cuộc biến hình của Chúa dạy cho chúng ta nhiều bài học: Thứ nhất, chúng ta đừng thích mơ tưởng đến những mặc khải lạ lùng của Thiên Chúa. Người dành cho ai Người muốn: ở đây Ðức Giêsu chỉ đem theo ba môn đệ, và dặn họ không được tiết lộ cho ai về thị kiến cho đến khi Người sống lại. Vậy mà đến giờ phút khổ nạn, các ông này vẫn là những môn đệ bỏ Thầy, thậm chí chối Thầy như thường! Thứ đến, đó là con đường bình thường người môn đệ của Chúa phải đi, luôn ngang qua bóng tối Ðức Tin của đời thường. Phêrô cảm thấy quá sung sướng được ở trên núi. Ông đề nghị dựng ngay ba lều và định cư ở đây chúng ta cũng thường thích ở lại nơi đâu mọi sự xảy ra cỏ vẻ như ý, nơi đâu đức tin và đời sống đạo của mình xem ra an toàn, vô sự, và chúng ta cảm thấy như Thiên Chúa rất gần. Chúng ta nghĩ rằng chính khi đó chúng ta mới thực sự là Kitô hữu... Thực ra Thiên Chúa không kém gần gũi với chúng ta trong giờ phút khó khăn của sa mạc hơn là trong những lúc dịu êm dưới bóng mát của ốc đảo! Hơn nữa, sự ham muốn tìm kiếm một sự hiện diện khả giác của Thiên Chúa thực ra rất hàm hồ và chính Ðức Giêsu cũng chẳng muốn ba môn đệ mình kể lể về thị kiến họ được hưởng. Nhưng lần hiện ra của Chúa sau khi Người phục sinh, cũng giống như cuộc biến hình này, đều chỉ là chút ánh sáng vụt tắt. Chúng ta cần phải bước đi trên con đường mà Ðức Giêsu dã đi qua để đạt tới hoàn toàn và vĩnh tiễn sự mạc khải của Thiên Chúa, chúng ta hãy đối diện với cuộc sống và cái chết của mình. Môsê và Êlia là những kẻ đi tìm thiên Chúa và đã từng được "thấy hôm nay họ là nhân chứng của Ðức Giêsu biến hình, chính họ đã chẳng từng phải vất vả lê bước trong sa mạc? Sứ điệp của Biến hình chính là trên đường đời ta đi Thiên Chúa vẫn ở bên.
admin
20-02-2011, 11:47 AM
CNMC3
CHÚA NHẬT III MÙA CHAY
TIẾN TRÌNH NHẬN RA ÐỨC KITÔ
(Ga, 4, 5-42)
I. VÀI ÐIỂM CHÚ GIẢI:
1.Cuộc gặp gỡ bên bờ giếng Samria:
Câu chuyện về cuộc gặp gỡ giữa Ðức Giêsu và người phụ nữ Saman, một trong những trang đẹp đẽ nhất của Phúc âm thánh Gioan, thuộc trong số những bài đọc quan trọng của vị thánh sử thường được Hội Thánh, ngay từ những thế kỷ đầu, dùng trong nghi thức khai tâm các dự tòng.
+ Sự việc xảy ra tại Samari. Miền đất này ngày xưa đã từng là đất thánh của các tổ phụ nhưng kể từ cuộc phân ly của người Samari, đã biếrl nên vùng đất bị thù ghét, tránh lai vãng.
Ðức Giêsu "bỏ miền Giuđê mà trờ lại miền Galilê. Người có hai lối dể đi: một "nên đi", khó khăn vất vả hơn vì nắng nóng; một "không nên đi", không tốt cho những người Do Thái phải thường xuyên giữ mình sạch sẽ theo luật tế tự, thì lại qua ngã Samari.
Ðức Giêsu cố tình chọn lối đi thứ hai này: "Người phải băng qua Samaria. Theo X. lon Dufour, có lẽ để chứng tỏ Người đến "để hoà giải các dân tộc, nối kết những anh em đã phân ly" (xem "Bài đọc Phúc âm theo thánh Gioan, tập I, trang 342).
+ Sự việc diễn ra bên bờ giếng Giacob. Trong tất cả các nền văn minh Sêmít, giữa một thiên nhiên khắc nghiệt do hạn hán và sa mạc nóng cháy, giếng là chỗ duy nhất cung cấp nước, đã trở thành nơi có tính chất biểu tượng: nơi của sự sống, nơi để gặp gỡ, đối với những ai thông thạo Kinh Thánh, thì giếng nước còn là khung cảnh cho nhiều cuộc Giao ước, và là cái gợi nhớ lại ơn Thiên Chúa đã ban cho Dân Người trong thời xuất hành qua sa mạc.
2. Tiến trình nhận ra Ðức Kitô.
Qua bài tường thuật Phúc âm, thánh sử Gioan muốn đưa chúng ta vào hành trình nhặn biết Ðức Kitô.
+ Những xê dịch đi lại trong không gian là hình ảnh biểu trưng cho những chuyến trở về nội tâm.
+ Những thay đổi trong danh xưng Ðức Giêsu đánh dấu từng bước của sự nhận biết: lúc đầu chỉ là "người Do Thái", rồi được tuyên bố là "lớn hơn tổ phụ Giacob là người đã cho chúng tôi giếng này, sau đó được gọi là "vị Tiên tri" trước khi xưng mình là "Ðấng Messia" và được những người Samaria nhận là "Ðấng cứu độ trần gian".
+ Những ngộ nhận giữa đôi bên đối thoại chỉ cho chúng ta thấy những chặng đường phải vượt qua: Từ nước giếng đến nước Hằng Sống.
Từ nơi chân thờ phụng đến việc tôn thờ Thiên Chúa trong tình thần và chân lý.
Từ của ăn nuôi thân xác đến lương thực là thi hành ý Cha.
Từ chuyện mùa màng đến sứ mạng trên cánh đồng truyền giáo. Từ nước giếng đến Nước Hằng sống:
"Có một người phụ nữ Samaria đến lấy nước. "Chị cho tôi xin chút nước uống, Ðức Giêsu xin với người phụ nữ ấy, như ngày xưa dân Israel cũng đã xin cho có nước uống trong sa mạc (Bài đọc I). Người phụ nữ bỡ ngỡ trước lời đề nghi khó hiểu của người đàn ông Do Thái qua đường này, bởi trải qua nhiều thế ky đã có quá nhiều hiểu lầm và thù ghét giữa người Do Thái và người Samari. Chị không ngại chấp nhận cuộc trao đổi: "ông là người Do Thái mà lại xin tôi, một phụ nữ Samari, cho ông nước uống sao. Vô tình chị đang từng bước đi vào một cuộc mặc khải nhiệm mầu chưa từng có.
Ðức Giêsu "xin người phụ nữ nước uống". Vẫn theo X lon Dufour, "Người ta có cảm tưởng là điều mà Người thực sự đang khát chính là cái khát, là nỗi ước ao của người phụ nữ làm sao có được thứ Nước Hằng Sống mà chỉ một mình Người có thể ban cho" (Sđd trang 354). Và quả thực, sau đó Ðức Giêsu đã trả lời: "Nếu chị nhận ra ân huệ thiên Chúa ban là ai là người nói với chị: cho tôi chút nước uống, thì hẳn chị đã xin, và người ấy ban cho chị Nước Hang sống? Là kẻ "không có thùng để múc nước", giờ đây Người lại xưng mình sẽ ban Nước Hàng Sống, thứ nước sẽ làm thoả mọi cơn khát, thứ nước "sẽ trở thành nơi người uống "một mạch nước vọt lên, đen lại sự sống đời đời.
"Câu chuyện chuyển dần theo nhận định của Alain Marchadour - từ cái giếng nước vật chất sang người đàn ông, một người Do Thái đã mệt lả và đói khát. Con người ấy, ngay trong tình thế thiếu thốn của mình, lại tự giới thiệu như một Ðấng có quyền ban phát. Mà ân ban ở đây lại không có liên can gì tới thứ nước trong giếng cả, vòi từ nơi con người ấy, nó trở thành một nguồn suối mới ngàn trùng vuợt xa cái giếng nước ban đầu Ðức Giêsu đã đưa vào trong cuộc đối thoại một chiều kích mầu nhiệm từ chuyện một cái giếng nước vật chất mà Người ghé vào để xin nước uống, người đã huớng đến chính bản thân Người, là ân ban của Thiên Chúa, Ðấng có quyền năng ban cho loài người Nước Hằng Sống" ("Phúc âm thánh Gioan, Centurion, 1992, trang 76-77).
Từ nơi chốn thờ phương đến việc tôn thờ Thiên Chúa trong tinh thần và chân lý:
Ðức Giêsu lúc này đặt người phụ nữ trở về đối diện trước chuyện đời tư của mình: một cuộc sống thiếu chung thuỷ chẳng khác gì biểu tượng về sự bất trung tôn giáo nơi những người dân Samari. Chúa nói với người phụ-nừ: "Chị hãy gọi chồng chị rồi trở lại đây. "Tôi không có chồng, chị ta đáp. Chúa không nhượng bộ: "Chị nói tôi không có chồng là phải, vì chị đã năm đời chồng rồi (con số có thể khiến liên tưởng tới năm vị thần mà người Samari thờ), và hiện người đang sống với chị không phải là chồng chị. Chị đã nói đúng. "Thưa ông tôi thấy ông thật là một ngôn sứ, người phụ nữ nói tiếp, thêrn một bước khám phá về chân tính của người khách lạ. Sau đó chị lái câu chuyện sang một vấn đề đã từng là nguyên cớ gây chia rẽ giữa người Do Thái và người Samari: "nơi phải thờ phượng Thiên Chúa. "Trên núi này (núi Garizim)?" hay "ở Giêrusalem?". Ðức Giêsu báo cho chị ta hay rằng từ nay, với người "một thời cũ đã qua, một thời mới bắt đầu: không còn chỗ cho thứ thờ phượng gắn liền với một ngọn núi đã hết thời cho những cái đã và đền thờ này hay đền thờ (D..Mollat). Kể từ bây giờ sự: hiện diện của Thiên Chúa không còn lệ thuộc vào một nơi, chốn hay một đền đài nào nữa, nhưng vào một con người: Ðức Giêsu Kitô. Người loan báo: "Những người thờ phượng đích thực sẽ thờ phượng Chúa Cha trong thần khí và sự thật". Họ sẽ thờ phượng Chúa Cha trong Người, Ðức Giêsu, Ðấng là đền thờ mới (Ga 2,19-22), và nhờ Chúa Thánh Thần, Ðấng được ban cho họ "để trở nên con cái Thiên Chúa trong Người Con.
Và khi người phụ nữ đề cập tới việc "Ðấng Messia mà người ta gọi là Kitô sẽ đến, Ðức Giêsu trả lời: "Ðấng ấy chính là tôi, người đang nói với chị đây".
Ðể vò nước lại, bởi nó chẳng còn dùng vào việc gì nữa, người phụ nữ chạy đi chia sẻ với bà con của mình niềm vui của cuộc gặp gỡ: người phụ nữ từng thèm khát được uống, được tồn tại, nay đã tìm ra được con người đã làm vọt lên trong chị một nguồn sống mới: "Ông ấy không phải là Ðấng Kitô sao?"
3. Dẫn tới việc tuyên xưng đức tin:
Ðang lúc đó thì các môn đệ trở về, mang theo đồ ăn thức uống. Người phụ nữ đã đi khỏi, các ông mời Chúa: "Rabbi, xin mời Thầy dùng bữa". Lại một ngộ nhận nữa liền xảy ra về chuyện "lương thực". Ðiều Ðức Glêsu hằng tìm kiếm, cái là lương thực là sự sống của người chính là "thi hành ý muốn của Ðấng đã sai Thầy, và họàn tất công trình của Người".
Rồi từ-đề tài lương thực và sứ mạng dẫn tới đề tài "mùa gặt". Thêm một ngộ nhận mới: các môn đệ chỉ nhìn thấy cánh đồng còn phải chờ bốn tháng nữa mới tới mùa gặt, còn Ðức Giêsu lại mời gọi các ông "hãy ngước mắt lên mà xem" thấy những người Samari đang lại gần kia, họ chính là những hoa trái đầu tiên của mùa gặt truyền giáo. Bài tường thuật đạt tới đĩnh cao với lời tuyên xưng đức tin của những người Samari: chính chúng tôi đã nghe và biết rằng người thật là Ðấng cứu độ trần gian. Lời tuyên xưng không trực tiếp nói với Ðức Giêsu, nhưng với người phụ nữ. X. lon Dufour nhận xét: Ngay những kẻ đã được nghe Tin Mừng người phụ nữ loan báo, nay lại loan báo cho chị ta biết Ðức Giêsu kia thực sự là ai: đúng là một trao đổi lạ lùng!", và kết luận: Qua phong cách và lời nói của người đàn ông Do Thái tên Giêsu đã đến ở giữa họ này, những người Samari đã được mở ra tới một chân trời mới vượt xa ranh giới mảnh đất của họ. Họ đã nhận ra con người này không chỉ là Ðấng Messia cho một dân tộc mà họ mong đợi, nhưng "thật Ðấng Cứu độ trần gian (Sđđ, trang 39S và 395).
Ðức Giêsu đã sẵn lòng ở lại với họ hai ngày, điều này làm sáng tỏ rằng đối với Người, không còn đâu là "miền đất được ưu tiên", không còn đây là "miến đất bị ghét bỏ" nữa, nhưng tất cả mọi người không phân biệt đều được mời gọi đến với ơn cứu độ.
II. BÀI ÐỌC THÊM:
1. "Theo kiểu của họ, các anh chị tân tòng nói với chúng ta về tính chất muôn đời mới mẻ của Ðức tin". (H.Denis, trong "100 mots jour dire la soi", Desclée de Brouwer, trang l99-120).
"Người phụ nữ Samari". Ðối với nhiều người đó là tên một cửa tiệm lớn ở Paris mà người ta đôi lúc còn nhắc đến thời còn bán đồ cũ. Nếu từ này còn có thể khiến ai đó chú ý đến chương IV của Phúc âm thánh Gioan này, thì chúng ta tin chắc rằng phải có một cái gì đó đặc biệt có sức thu hút, "nói là thu hút", nhưng trong câu chuyện Phúc âm không hề có vấn đề thu hút gì cả. Ðúng hơn đây là một sự tiếp cận. Một sự khám phá và là một lời mời gọi không thể chối từ. Người phụ nữ Samari ở đây đúng là mẫu mực, là điển hình của người tân tòng đang dấn thân tìm gặp Ðức Giêsu.
Chị ta lại chịu hai mặt bất lợi: là phụ nữ và là thành phần của một sắc dân bị người Do Thái miệt thị (bằng chứng về sự xuất hiện và có mặt của những cộng đoàn Kitô hữu tại Samari ngay vào thời Tin Mừng IV đang được biên soạn). Nhưng đó không thành vấn đề, Ðức Giêsu vẫn tìm cách lôi kéo người phụ nữ này, nhưng một sức hấp dẫn vô hình. Cách tiếp cận thật lạ lùng: người khách lạ đã môi mết dừng chân bên bờ giếng xin người phụ nữ chút nước uống. Ðấng có quyền năng ban phát mọi sự, nay lại làm kẻ ngửa tay xin. Thiên Chúa luôn rộng ban ơn của Người cho tất cả những ai biết sẵn sàng cho đi chút của cải mình có. Người tân tòng sẽ tìm thấy không phải là một vị Thiên Chúa thích huỷ diệt để rồi lại ban phước, nhưng một Thiên Chúa nghèo, dường như phải cần đến loài người. Thế rồi câu chuyện bỗng đổi chiều, giờ đây cái nhìn của Ðức Giêsu soi thấu vào ngõ ngách đời tư của người phụ nữ. Cái nhìn của loài người chỉ dừng lại ở bề ngoài, nhưng Thiên Chúa nhìn sâu vào cõi lòng. Người tân tòng phải chăng là kẻ mà Ðức Giêsu đã trở nên thiết thân hơn chính bản thân họ?
Ðến đây, người phụ nữ ngỡ ngàng nhận ra vị ngôn sứ Chị biết rằng giòng Nước Hằng Sống kia có thể rửa sạch mọi bất trung tội tình của chị. Kẻ sắp lãnh nhận phép Thánh Tẩy cũng thế, họ khát khao giòng nước rồi đây sẽ cho phép họ thầm thì kêu tên Thiên Chúa là Cha. Chưa hết, người phụ nữ còn bỏ lại tất cả, cả cái vò nước, cả những người tình, cả cuộc đời chị, để loan báo cho mọi người về cuộc gặp gỡ có tính chất quyết định cho chị. Chúng ta có khả năng để lắng nghe tiếng của những anh chị em tân tòng nói với chúng ta, theo cách của họ, sau khi đã giã từ cuộc đời dĩ vãng, về cái mới mẻ muôn thuở của Ðức Tin?".
2. "Người phụ nữ bỏ quên vò nước bên bờ giếng" (J.Cl. Giroud, trong "Dossiers de la Bible", trang 22).
"Bên bờ giếng, có một khánh bộ hành mõi mệt dừng chân, chân lý đã vọt lên từ những lời ông ta nói. Cũng bên bờ giếng đó, người phụ nữ nọ đã để lại cái vò nước của mình, bởi từ nay nó những giúp gì cho chị đón nhận hồng ân Thiên chúa ban. Cái vò nước bỏ quên đó sẽ mãi mãi nói với chúng ta về một người phụ nữ mà số phận từng bị giam hãm trong đủ thứ công việc hằng ngày, trong những quan hệ những tới đâu với một loạt đời chồng, nay bỗng tìm thấy ý nghĩa cho đời mình qua cuộc gặp gỡ với Ðức Giêsu, qua những trao đổi với Người. Cũng thế đối với những người Samari kia, những kẻ đã biết đón nhận người khách đường xa không hẹn mà đến này. Như thế, chính qua những chuyện của đời thường như. ăn, uống, cuộc sống chung với Ịmột người đàn ông, cố gắng quay về với Thiên Chúa... mà con người nghe tiếng nói của Thánh Thần. Nhưng ở đây và lúc này, lại đến như một ân ban qua những bất trắc khôn lường của lời nói, qua thái độ chân thành của các bên đối thoại qua những khoảnh khắc thinh lặng để cho chân lý nói.
admin
20-02-2011, 11:48 AM
CNMC4
CHÚA NHẬT IV MÙA CHAY
DỊP LỄ ÁNH SÁNG
(Ga 9,1-38)
I.VÀI ÐIỂM CHÚ GIẢI:
Cũng như cuộc gặp gỡ của Ðức Giêsu với người đàn bà xứ Samaria gần giếng Giacob, Tin Mừng về người mù từ lúc mới sinh là một trong những bản văn lớn của Gioan mà Giáo Hội ở thế kỷ đầu dành cho việc nhập môn của các tân tòng.
Nếu sự việc xảy ra trong một ngày Sabbat ở cửa ra vào Ðền thờ, sự việc ấy diễn ra trong khung cảnh lễ Lều. Trong lễ này, ngoài nghi lễ rảy nước từ chính giếng Siloê còn nghi lễ ánh sáng buổi chiều tối, với cuộc rước đuốc, diễn tả sự chờ đợi ánh sáng tràn đầy đã hứa cho Israel trong ngày của Ðấng Messia. Cũng trong khung cảnh này, Ðức Giêsu tuyên bố: "Ta là ánh sáng thế gian".
Chúng ta ở trung tâm cuộc luận chiến. Suốt hai chương trên, Ðức Giêsu luôn là mục tiêu cho đối phương quấy rầy. Ở đây sự chống đối của người Pharisêu tập trung trên việc kẻ mù được lành và đang trở thành môn đệ của Ðức Giêsu.
1.Hành trình để nhận biết...
Cũng như Chúa nhật vừa rồi, nay Gioan đang đưa ta đến sự nhận biết.
Sự ra vào của các nhân vật ăn nhịp với các giai đoạn và kết cấu của câu chuyện.
Lúc đầu có mặt, sau đó Ðức Giêsu vắng mặt ở sân khấu cho đến lúc tìm thấy lại người mù, Ngài đặt cho anh ta một câu hỏi căn bản: "Anh có tin Con Người không".
Giữa khởi đầu và kết thúc của câu chuyện, người mù được lành chỉ trơ trọi một mình, mặc cho các người "thân cận" và "người quen" tự đặt câu hỏi về anh, người Pharisêu thì quấy rầy anh ta bằng những câu hỏi, với cha mẹ ruột đang tìm cách tránh né vì sợ bị liên luỵ, người Pharisêu đòi anh ta đến lần thứ hai, và sau một cuộc đối thoại gay gắt, họ "tống anh ra ngoài".
Sự thay đổi danh xưng của Ðức Giêsu, một sự tiến bộ trong sự nhận biết: trước hết Chúa được chỉ như là "người mà người ta gọi là Giêsu, sau đó một "tiên tri" và như kẻ từ Thiên Chúa mà đến, cuối cùng anh mù tuyên xưng Ngài như là "Con Người".
Những từ chính (mots clés) được dùng nơi đây với ý nghĩa sâu xa trong vai trò của chúng:
Trong suốt hành trình, từ "bị mù" (cụm từ được lặp lại 15 lần) đối lại với "thấy" (13 lần).
Ở mỗi một giai đoạn, cùng một công thức được lặp lại "Ngài đã mở mắt cho tôi". Tất cả đến 7 lần, con số ấy là hoàn hảo, chỉ ý nghĩa tượng trưng rằng người được lành hoàn toàn.
Ðúng vậy cuộc gặp gỡ lần thứ hai với Ðức Giêsu cho ta thấy rõ sự chữa lành thể xác chỉ là một dấu chỉ một sự chữa lành sâu xa hơn, cho phép từ nay anh "thấy" trong việc "tin". Anh hỏi: "Ai là Con Người để tôi tin?". Chúa Giêsu trả lời: "Anh đang thấy đấy, chính Ngài đang nói với anh".
2.. Dồn về một tuyên xưng đức tin.
Tất cả bắt đầu bằng cái nhìn của Ðức Giêsu khi Ngài ra khỏi đền thờ. Ngài "thấy trên đường đi một người mù từ thuở mới sinh". Theo niềm tin dân gian, bệnh hoạn là kết quả của tội lỗi, vì thế các môn đệ liền hỏi Ngài: "Thưa Thầy, tại sao người này mù từ lúc mới sinh? Tại tội lỗi của anh ta hay tội lỗi của cha mẹ của anh?" "Không phải do tội lỗi của anh ta, cũng không do của cha mẹ anh", Ðức Giêsu trả lời, nhưng nhờ sự dữ mà con người khốn khổ này đang chịu, "hành động của Thiên Chúa" được biểu lộ, và việc anh ta được tỏ ra như dấu chỉ "ánh sáng trần gian" nhờ dấu lạ buộc mỗi người phải có thái độ đối với anh ta.
Ðức Giêsu lấy bùn trộn với nước miếng. Từ thế kỷ thứ II thánh Irênê de Lyon đã thấy trong cử chỉ của Ðức Giêsu đắp mắt người mù, chính là sự hoàn thiện cử chỉ của Thiên Chúa đắp nên thân xác của Adam. Bôi bùn lên mắt người tàn tật, Ðức Giêsu ra lệnh cho anh ta đứng dậy đi rửa mắt tại giếng Siloê" (Siloê có nghĩa là được sai đi). "người mù liền đi và rửa mắt, khi anh trở lại anh thấy được". Phép lạ này được kể lại cách đơn sơ vỏn vẹn trong hai câu, vì thánh sử có ý dẫn ta từ dấu chỉ đến Ðấng mà dấu chỉ mặc khải! Ðấng được sai đến ".
Anh đã được lành. Ðức Giêsu đã bỏ đi khỏi nơi xảy ra sự kiện. Từ nay anh chỉ một mình ở giữa cuộc tranh luận về việc anh đã được lành và về lai lịch của người đã chữa anh lành.
Trước hết là những "kẻ lân cận" và những người "quen" anh ta. Cái nhìn của họ chỉ ở trên bề mặt của biến cố. Họ sinh ra chia rẽ trên chính thực tế của việc được chữa lành (Người thì nói: phải chăng chính là người thường đứng ăn mày ở đó? Kẻ khác nói: chính anh ta, kẻ khác nữa lại bảo không phải anh ta, đó là kẻ giống anh ta thôi). Họ tỏ ra lưu ý đặc biệt đến việc "tại sao" được lành, và đến tung tích của người đã thực hiện: "và ông ta, ông ta đâu rồi?".
Câu hỏi cuối cùng làm cho anh mù ngày xưa không biết trả lời sao: "Tôi không biết. A. Marchadour quảng diễn: Anh phải trải qua một hành trình dài trước khi khẳng định đức tin mình vào Ðức Giêsu, đi từ dấu chỉ đến việc tiếp nhận Ðức Giêsu, ánh sáng thế gian... Nhưng việc Ðức Kitô đi qua trong đời của anh mù và giữa mọi người đã có một hậu quả chắc chắn là chia người ta ra làm hai phe: "những người chấp nhận dấu chỉ và những người từ chối Ðức Giêsu" (Tin Mừng thánh Gioan, Centurin, 1992, trang 135).
Sau là những người "Pharisêu" với ánh mắt đầy vẻ nghi ngờ, vì việc làm trên diễn ra trong ngày Sabbat. Họ cũng hỏi. Họ cũng chia rẽ. Và người Pharisêu nói.: "ông này không o Thiên Chúa mà đến vì không giữ luật nghỉ ngày Sabbat", kẻ khác đáp lại: "Làm sao người tội lỗi lại làm được những phép lạ như thế?"
Nực cười là chính anh mù lại trở thành một trọng tài: "Còn anh, anh nói gì về người đã mở mắt cho anh?" Anh trả lời: "Là một tiên tri".
Sau cùng là "cha mẹ ruột anh mù". Người Do Thái đòi họ đến, họ xác nhận anh ta là con của họ thật, và mù từ thuở mới sinh. Nhưng né tránh để khỏi liên luỵ cuộc tranh cãi, họ đề nghị một cách giễu cợt: "Các ông hãy hỏi nó, nó đã đủ khôn lớn để trả lời.
Ðề cập đến nguy hiểm bị người Do Thái trục xuất khỏi hội đường, A. Marchadour viết: "Có lẽ thánh sử diễn dịch ra đây những nguy hiểm bị dứt phép thông công ở cuối thế kỷ thứ nhất đối với những ai tin vào Ðức Giêsu. Thời Ðức Giêsu chưa có chuyện này. Nhưng trên bình diện câu chuyện, sự tách biệt đối với người mù nói lên rằng, tin vào Ðức Giêsu luôn luôn là một hành động cá nhân, trong đó cha mẹ đâu có thể định đoạt thay cho người môn đệ được. Sự chọn lựa này không phải không nguy hiểm vì có thể dẫn tới sự gẫy đổ với tôn giáo của anh ta? (O.C. trang 137).
Từ đó sự căng thẳng giữa người mừ xưa và người Pharisêu bị mù mắt bởi đam mê của họ lên đến tột độ. Họ đòi anh đến lần thứ hai và yêu cầu anh một lần nữa phải nói Ðức Giêsu đã làm thế nào để mở mắt anh, anh bạo dạn đáp lại cách mỉa mai: "Sao các ông lại muốn nghe tôi nói lần nữa? Hay các ông cũng muốn làm Môn đệ của Ngài?". Và việc hỏi cung thành dịp nguyền rủa. Anh tuyên bố với họ: "Nếu người này không từ Thiên Chúa mà đến thì không làm được chuyện gì đâu. Quá quắt lắm rồi, người Pharisêu đuổi anh ra ngoài và đứt phép thông công anh.
Ðức Giêsu tái xuất hiện với một sáng kiến mới: "Biết họ đã trục xuất anh, Ngài liền giúp anh". Và cuộc đối thoại với anh mù đã được lành, dẫn anh tới việc tuyên xưng đức tin và Ðức Giêsu là "Con Người": "Lạy Thầy con tin" anh tuyên xưng và "sấp mình xuống trước mặt Ngài ".
A.Marchadour giải thích: Ðức Giêsu đã đưa anh qua một giai đoạn quyết định, từ một "Giêsu tiên tri" đến một Giêsu là Con Người", Ðấng Cứu Thế đưa anh vào cộng đồng của thời kỳ cuối cùng... Người mù sấp mình xuống trước con Người", nhận ra thiên tính của Ngài, bởi vì theo thánh Gioan, sự thờ lạy chỉ dành riêng cho một mình Thiên Chúa. và danh xưng Chúa (Seigneur) nói lên căn tính thần linh của Ðức Giêsu. Nhận ra Ðức Giêsu như là Ðấng mặc khải cuối cùng của Thiên Chúa việc thờ lạy Ngài là đỉnh cao của cuộc hành trình của anh mù" (O.C. trang 139).
Giai thoại được kết thúc với một lời tuyên bố của Ðức Giêsu dưới hình thức một lời phán xét. Nó bộc lộ những gì diễn ra trong thầm kín của tâm hồn: "Tôi đến thế gian này để đặt lại vấn đề: cho những ai không thấy được thấy và ai thấy lại không được thấy". Từ "để cho", cha Guillet cắt nghĩa, ở đây không chỉ mục đích, nhưng là hậu quả.
Ðối với mọi người, anh mù trước Ðền thờ không có của cải: anh ăn xin, một người không quyền thế: anh mất hút trong đám người cùng khổ đến chung quanh nơi thánh, một người không hiểu biết: sinh ra mù, không không đọc được sách luật, người ta cho anh al2 suốt đời tội lỗi.
Nhưng thật ra con người này đã trải qua một hành trình tuyệt diệu, con đường từ tối tăm đến nhận ra "Ðấng là ánh sáng".
Về phần người Pharisêu, họ theo một hành trình ngược lại. Họ là những con người danh giá, những con người được coi như là điểm tựa của xã hội thời đó, họ cho họ "biết" và tưởng mình "thấy", nhưng họ lại đi sâu vào trong sự mù tối (câu 15-18; 29,34). Họ tố cáo Ðức Giêsu là "người tội lỗi và người mù thì trầm mình trong tội lổi từ lúc mới sinh", họ "ở trong tội lỗi của mình. Lời tố cáo họ định gán cho Ðức Giêsu, quay trở lại gán người đi kiện trở thành người bị cáo.
J.Potin kết luận; "Trong lúc người mù được thấy, người Do thái lại lao mình vào sự mù tối. Những dấu lạ Ðức Giêsu làm cho họ thêm cứng lòng: Họ tưởng mình biết vì cho rằng mình biết Môsê và lúc Luật cấm chữa bệnh vào ngày Sabbat. Thật ra họ từ chối ánh sáng thật. Với Ðức Giêsu, thảm trạng này làm thành một trường hợp phải đặt thành "vấn đề" trong tiến trình ý định của Thiên Chúa, bởi lẽ những người không tin, người ngoại tìm thấy ánh sáng cho đức tin vào "Con Người", trong lúc đó, những kẻ "thấy", những người Do Thái lại trở nên mù tối, bị loá mắt vì những sự thật giả dối của họ. Ðức Giêsu nói: "Vì thế họ ở trong tội lỗi của họ ("Jésus, lhistoire vraie" Cent. 1994, trang 364)
II. BÀI ÐỌC THÊM:
Hành trình của người mù từ lúc mới sinh, đường dẫn tới Phép Rửa của chúng ta. (H.Denis, trong "100 mots pour dire la foi" Déchée Brouwer, trang 123-124).
Dĩ nhiên người ta nói nhiều về Phép Rửa trong khi hướng về Phục Sinh. Ðó là chuyện bình thường. Chính vì thế mà chúng ta gợi chuyện anh mù từ thuở mới sinh, nhờ vào câu chuyện rất sống động ấy, mà thánh Gioan đã viết cho chúng ta. Tại sao lại người mù từ thuở mới sinh? Vì đó là bước di của một tân tòng, là đường nhập môn của Phép Rửa. Trước hết phép Rửa là một sự toả sáng. Ðiều đó không có nghĩa là mọi người chịu phép rửa đều chìm trong trạng thái thiên cảm (illuminisme), cũng không phải là một hành động ma thuật, bởi vì người mù phải đi tới giếng Siloê. Nhưng điều đó có nghĩa là có một bước đường mầu nhiệm, từ tối tăm đến ánh sáng, từ một nhân loại còn đóng kín trong vô nghĩa và trong lầm lạc, tới một nhân loại mở ra đón ánh sáng Ðức Giêsu, một nhân loại được đánh thức trước một sự sống viên mãn.
Nhưng chúng ta biết anh mù được chữa lành phải đối đầu vôi biết bao nhiêu là cản trở, cũng vì anh được lành. Người tín hữu mới cũng phải trải qua thử thách, nhất là khi so sánh đức tin mình với sự không tin hay dửng dưng của gia đình (đức tin không di truyền), hơn nữa còn phải đụng chạm với những thế lực khác biệt về chính kiến hay về tôn giáo, coi người chịu phép rửa là kẻ phải loại trừ hay đáng nghi ngờ (Phép rửa không lẫn lộn với sự thừa nhận của xã hội, quốc gia, chính trị hay tôn giáo).
sau hết, đến ngày người mù được lành sẽ thừa nhận Ðấng Cứu chuộc mình chứ không phải chỉ được lành mà thôi. Mọi Kitô hữu, mọi người chịu phép ngày nào đó cũng được mời gọi, rất sớm hay muộn màng hơn, sống một cuộc gặp gỡ có tính quyết định, bởi vì Ðức Giêsu đã không tìm thấy họ đó sao? Ngày ấy các bạn sẽ hỏi: Ai là "Con Người". Và Ngài sẽ trả lời bạn: "Chính tôi, người đang nói với anh đây. Lúc ấy sấp mình xuống, bạn sẽ nói: "Lạy Chúa, con tin". Ðó là ngày phục sinh của bạn.
Hãy chỗi dậy từ cõi chết,
Ngày đã bừng sáng,
Hãy thức dậy đi từ cõi chết.
Hãy toả sáng (cf. Eph 5,14).
admin
20-02-2011, 11:49 AM
CNMC5
CHÚA NHẬT V MÙA CHAY
LAZARÔ SỐNG LẠI
(Ga 11,1- 45)
I. VÀI ÐIỂM CHÚ GIẢI:
1.Từ Bêtania của sự sống đến Bêtania của sự chết.
Cũng như cuộc gặp gỡ giữa Ðức Giêsu với người phụ nữ xứ Samaria, bên bờ giếng Giacob, như bước chân của người mù bẩm sinh tiến về ánh sáng, Phúc âm về sự Lazarô là một trong những bản văn quan thuộc truyền thống Gioan mà Giáo Hội, ngay từ hai thế kỷ đầu tiên, đã dùng vào việc khai tâm cho tân tòng.
Ði liến với trình thuật về quyết định của Hội đường - dẫn đến việc kết án Ðức Giêsu - trình thuật về sự phục sinh Lazarô là một văn bản bản lề trong Phúc âm Gioan.
Trình thuật này hoàn tất phần một, với dấu chỉ thứ 7 (số 7 là số hoàn hảo) và cũng là dấu chỉ cuối cùng của Ðức Giêsu.
Trình thuật này cũng khởi đầu phần hai vì sắp đề cập đến cái chết của Ðức Giêsu khi nói với giới lãnh đạo Do Thái rằng đã đến lúc kết thúc với Người.
Trình thuật này dẫn ta từ một Bêtania này đến một Bêtama khác. Bắt đầu ở Bêtania bên kia sông Giođan, "nơi Gioan làm phép rửa" (1,28). Ðức Giêsu đã tĩnh tâm ở đó sau một cuộc tranh luận vào dịp lễ Cung hiến Ðền thờ và người Do Thái đã muốn ném đá Người (1,39 và 11,8). Trình thuật kết thúc ở Bêtania gần Giêrusalem nơi Matta và Maria đã phát ra thông tin báo động: "Thưa Thầy, người Thầy yêu mến đang bệnh nặng".
A.Marchadour nhận xét: Như thế có hai Bêtania cách nhau bởi con sông Giođan, xa nhau bằng một khoảng cách không chỉ đơn thuần là địa lý: Bêtania của yên tĩnh, của sự sống, của đức tin và Bêtania của lo âu, của cái chết. Sự chậm trễ của Ðức Giêsu sẽ là nguyên nhân cho truyện kể - cho Người có cơ hội giải thích trước rằng cơn bệnh của Lazarô không nguy đến tính mạng, nhưng chỉ để làm vinh danh Thiên Chúa và Con Người. nếu Ðức Giêsu nói về cái chết của bạn Người là một "giấc ngủ" chính là để ta hiểu rằng ông có thể thức dậy nếu ông nghe tiếng Người.
Trình thuật này là truyện kể về sự trở lại đời sống hơn là về sự phục sinh theo đúng nghĩa. X.leon Dufour viết: "Thực vậy, từ ngữ "phục sinh" thường được dùng trong phép lạ này là không chính xác, vì, theo dữ kiện Kinh Thánh, từ ngữ ấy được dành riêng để chỉ sự vượt qua từ cái chết đến sự sống vĩnh viễn; nó không được dùng để chỉ cuộc trở lại với đời sống ở trần gian này: Ðể nói về sự phục hồi sự sống gian trần, ta có thể dùng từ ngữ hồi sinh, nhưng từ ngữ này có tính chất y học được dùng. Vậy ta nên dùng kiểu nói "trở lại đời sống" để chỉ sự kiện này".
2. Một hành trình của nhận thức.
Một lần nữa Gioan lại đưa ta vào một hành trình nhận thức.
Một lần nữa, ta có thể quan sát những chuyển dịch có ý nghĩa biểu tượng rất cao của các nhân vật trong trình thuật. X. leon Dufour ghi nhận: "Mọi người đều rời nơi mình ở. Mọi người đều ra đi. Ðức Giêsu và các môn đệ từ bên kia sông Giođan; những người Do thái từ Giêrusalem, Matta từ ngôi làng, Maria với những người Do Thái từ nhà nàng trong làng; Lazarô từ nấm mộ. Nếu Ðức Giêsu ngừng chân, khi đến Bêtania và không vào nhà hiếu, chính là để lại lên đường cùng với cả nhóm, tiến tới nơi Người phá tan sự chết, trong khi chuyển động của các nhân vật khác, kể cả Lazarô, đều hướng tới gặp gỡ Ngài".
Một lần nữa, ta có thể nhận ra những bí quyết luôn làm cho truyện kể thêm sinh động:
Sự khinh thường của các môn đệ về giấc ngủ cái chết của Lazarô. Sự khinh thường của Matta vế vấn đề thời điểm phục sinh: ngày sau hết, ngay bây giờ.
Phải đi xa hơn nữa để vượt qua mức độ đầu tiên của ý nghĩa:
Về ánh sáng: ta sẽ được mời, cùng với các chứng tư? vượt qua "ánh sáng của trần gian này đến với Ðấng là Ánh sáng soi trần gian" (câu 9-10).
Về ơn cứu độ: ta sẽ được mời, cùng với các chứng từ vượt qua thứ chữa khỏi bệnh một cách quá giản đơn, cả cuộc hồi phục sự sống về phương diện sinh lý, đến sự tiếp nhận ơn cứu dộ của Thiên Chúa trong Ðức Giêsu Kitô.
3.... lên đến tuyệt đỉnh trong lời tuyên xưng đức tin của Matta.
Tới Bêtania trong xứ Giuđêa này, Ðức Giêsu phải đối diện ngay với nỗi đau khổ của hai chị em của Lazarô. Trước hết dó là cuộc gặp gỡ với Matta. Bà bỏ nhà ra đón Ðức Giêsu. "Khi Matta hay tin Ðức Giêsu đến, bà chạy ra gặp Ngài, trong khi Maria ở lại nhà" A.Marchadour cảm nhận: Matta rời bỏ nhóm đám tang gồm Maria và c~íc người Do Thái để đi gặp Ðức Giêsu. Sự ra đi này đặt Matta vào một mối tương quan tin tưởng đặc biệt, trước mặt Ðức Giêsu. "Nếu Thầy có ở đây, em con đã không chết" bà nói với Ðức Giêsu như thế, vì biết Người có một sức mạnh rất hiệu lực để chống lại cái chết và sự hiện diện của Người có thể cứu Lazarô thoát chết. Bà cũng nhận biết Người có uy tín với Thiên Chúa nên lời cầu của Người sẽ tác dụng? "Nhưng con biết rằng, ngay cả bây giờ, Chúa sẽ ban cho Thầy bất cứ điều gì Thầy xin".
" Em con sẽ sống lại" Ðức Giêsu trả lời, bầng cách nhắc lại cho bà niềm tin của người Do Thái vào sự sống lại ngày sau hết. Matta không ngần ngại phụ hoạ vào niềm tin Irael ấy: "Con biết ngày tận thế em con sẽ sống lại".
Ở đây Ðức Giêsu lại vượt qua một ngưỡng cửa mới. Ngưỡng cửa ấy là thuộc tính của Thiên Chúa: làm cho sống và làm cho chết. Ðức Giêsu tự nhận. Ngài long trọng tuyên bố: "Ta là Sự Sống lại và là sự sống". Không cần phải đợi đến ngày tận thế. Cuộc sống mới là một thực tại hiện diện nơi Người ngay lúc này. Sự sống ấy được ban tặng cho ai tin vào lời Người. "Ai tin Ta, dù có chết, cũng sẽ sống. Và bất cứ ai sống mà tin Ta, sẽ không chết đời đời. "Con có tin không. Matta trả lời: Vâng thưa Thầy, con tin Thầy là Ðấng Messia, là Con Thiên Chúa đến trong trần gian". A. Marchadour bình luận "Ở đây Matta là khuôn mặt của kẻ tin nhận biết nơi Ðức Giêsu sự xâm nhập của Thiên Chúa của người sống đến giữa con người. Ở đây Ðức Giêsu còn hơn Êlia hoặc Êlisêô: Ngài được nhận biết là Ðấng làm cho sống, theo hình ảnh của Thiên Chúa. Như thế, nhờ đức tin Matta đã hiểu rằng Ðức Giêsu chính là Thiên Chúa đến giữa nhân sinh. Thực là hợp lý khi bà tuyên xưng Ðức Giêsu trong căn tính của Người là Messia của Thiên Chúa (điểm tới của Do Thái giáo) và là Con Thiên Chúa. vì thế, bà qui tụ Do Thái giáo (đức Messia) và Kitô giáo (Con Thiên Chúa).
Rồi, đó là cuộc gặp gỡ với Maria, vẫn còn trong tang chế cả về thái độ lẫn lời lẽ: "Cô là một trong nhóm người Do Thái chịu tang chế.. ". Ngay từ đầu trình thuật, cô vẫn chìm đắm trong tang chế với cái chết, cô tượng trưng cho con người bị sự chia lìa của cái chết đánh gục: Sự buồn bực thái quá đã cả ngăn cô ra đón tiếp Ðức Giêsu, mạc khải của Thiên Chúa.
4..Và dấu chỉ hồi sinh của Lazarô.
Xúc động sâu xa khi thấy Maria và những người Do Thái theo cô cũng khóc, Ðức Giêsu lại xúc động khi đứng trước mộ của Lazarô bạn Người.
-Dù đã tuyên xưng đức tin mạnh mẽ, Matta vẫn nghi ngại khi phải mở cửa mồ, bà thưa với Ðức Giêsu: "Nhưng thưa Thầy, chôn đã 4 ngày rồi. X. leon Dufour lưu ý: khoảng thời gian 4 ngày chẳng phải là một lựa chọn ngẫu nhiên, nó liên hệ đến niềm tin dân giả cho rằng kể từ ngày thứ bốn linh hồn bay lởn vởn quanh xác chết nhưng không thể nhập vào được nữa. Lazarô phải thực sự chết và xác đã bắt đầu có mùi như thế mới biểu lộ được chiến thắng của Ðức Kitô. Matta tức khắc ca ngợi vinh quang Thiên Chúa. Ðức Giêsu bảo bà: "Thầy đã không nói với con rằng nếu con tin con sẽ thấy vinh quang Thiên Chúa sao?".
Theo lệnh Người, tảng đá che cửa mộ được mở ra, và lời cầu khẩn của Người quá vững chắc đến độ biến thành lời tạ ơn: lạy Cha, Con ngợi khen Cha vì Cha đã nhận lời con. Theo lệnh truyền oai quyền của Người: Lazarô, hãy đi ra! Người chết ra khỏi mộ. Thần chết nắm giữ ông trong vòng tay tượng trưng bằng các giải băng, nay không còn chút quyền hành nào trước mặt Ðức Giêsu, Người kết luận: Hãy cởi dây và để cho ông đi.
Ðức Giêsu đến từ xứ sở sự sống đã ở lại trong nhân tính bi đát nhất của Người, Ðấng phá vỡ ranh giới chia Thiên Chúa - con người, sự sống - sự chết. Cái chết của Lazarô mà Maria và các người Do Thái coi như kết thúc ở đây trở thành một thoáng qua... các Kitô hữu đầu tiên, những người tuyên xưng chờ đợi lâu dài của Israel đã hoàn tất nơi Ðức Giêsu Ðấng được Cha Người phong làm Ðức Chúa, đã cảm nghiệm rằng cái chết vẫn còn ảnh hưởng tới các bạn hữu của Ðức Giêsu; khi cái chết đe doạ, Ðức Giêsu và Người đến quá trễ không ngăn được thân xác huỷ hoại, tang chế và nỗi buồn. Trước những lời chất vấn này, trình thuật đề nghị một lời giải đáp bằng mượn lối văn kể chuyện để chuyển đạt một giáo huấn khá gần với giáo huấn của Phaolô trong thư thứ nhất giở dân thành Thesalonica.
Truyện kể chấm dứt, để lại độc giả - và cả chúng ta hôm nay - đối diện với Lazarô, đang sống, nhưng câm nín không nói gì về những gì ông đã cảm nghiệm, sự im lặng của ông buộc mỗi người chúng ta phải tự xác định mối quan hệ của mình với Ðức Giêsu, trọng tâm của câu chuyện đi đến cái chết và sự phục sinh của Người. Còn về những người Do Thái, trong khi có nhiều người trong bọn họ tin vào Người, có vài kẻ đến tìm những người biệt phái và kể cho họ nghe những điều Người đã làm. Tiến trình tiếp diễn, sẽ dẫn đưa Ðức Giêsu tới đồi Canvê nơi Người dâng hiến mạng sống để ban sự sống thật cho tất chúng ta là những Lazarô.
II. BÀI ÐỌC THÊM:
1.Lớn lên trong đức tin (N.Quesson, Les entretiens du dimanehe A, Droguet et Ardant).
Trong câu chuyện này, cả Matta lẫn Maria đều được mời gọi tiến triển thêm. Matta đã có đức tin ở một mức độ nào đó, đức tin Do Thái: "Con biết rằng em con sẽ sống lại vào ngày tận thế. Ðức Giêsu mời bà tiến thêm một bước: "Ta là sự sống lại và là sự sống. Con có tin điều đó không. Phải tiến từ đức tin vào sự sống lại ngày tận thế đến đức tin vào lời Ðức Giêsu Ðấng ban sự sống ngay hôm nay cho ai tin vào Người. Ðó chính là mục đích của phép lạ này: "Lạy Cha, Con tạ ơn Cha đã nhận lời Con... Con nói ra đây chính là để cho đám đông chung quanh Con đây tin rằng Cha đã sai Con.
Kết thúc cuộc khám phá về Ðức Giêsu, và để chuẩn bị cho việc tuyên xưng đức tin, chúng ta đã cùng Matta và Maria lãnh nhận bài giáo lý cuối cùng. Những người xứ Samaria đã nhận biết Người là Ðấng Cứu Ðộ trần gian... người mù bẩm sinh đã nhận Ngài là Con Người... Matta và Maria đã tuyên xưng Người là Con Thiên Chúa. Ðối với nhiều trẻ em, những thanh niên và cả lứa tuổi trường thành, Ðức Giêsu trước hết là một người bạn như thuở ban đầu Matta và Maria đã nhận biết. Có phải vào ngày phục sinh, ta sẽ tiến triển trong đức tin khi nói lên, không chỉ bằng môi miệng mà bằng cả một cử hành tạ ơn: "Vâng, lạy Chúa, Người là Ðức Kitô, Ðấng Messia, Con tin Nguớì là Con Thiên Chúa, Ðấng đã đến trong thế gian... Hôm nay, con muốn xin Người đến lấp đầy lổ hổng của hữu thể con bằng Xác Thể hằng sống của Người, lương thực chân thật cho đức tin của con".
2. Từ "Phục Sinh" của Lazarô đến phục sinh của Ðức Giêsu (Missel Communautaire).
Phép lạ đặt ngay trước cuộc khổ nạn của Ðức Giêsu đã tiên báo cái chết và sự phục sinh của Người. Thực vậy nếu Lazarô rút tay chân bị trói ra khỏi giải băng và khuôn mặt bị che phủ khỏi tấm chăn liệm, điều đó nhắc nhở một cách đầy biểu tượng rằng ông vẫn còn là một người phàm hay chết. Ðức Giêsu sẽ thoát ra vào ngày Phục sinh như một người bất tử, được vĩnh viễn giải thoát khỏi sự chết. Nơi Ðức Giêsu, sự sống đã khải hoàn.
3. Thiên Chúa của ta là một Thiên Chúa mở cửa nó (Dossier d'animation du CCFD dành cho Chúa nhật V Mùa Chay).
Nhìn thế giới ta sẽ thấy nó thật bệnh hoạn. Sự phát triển của phương Bắc đã bị xét lại về sự coi thường môi trường và những nguy cơ nó gây ra cho tương lai của hành tinh và cho những thế hệ tương lai. Sự phát triển ấy càng bị chống đối khi ta nhìn thấy những người nghèo mới, số những người bị loại trừ chẳng bao giờ có thể tái hội nhập. Sự phát triển ở phía Ðông cũng thế, tàng sinh ra sự thù hận chủng tộc, bạo lực và nghèo khổ. Sự phát triển ở các nước thuộc thế giới thứ ba cũng bị công kích, vì nó không nuôi được dân trong vùng một cách đúng đắn, cũng không phân phối các sản phẩm cho công bình.
Ðức Kitô đã nói: "Căn bệnh này không đến nỗi chết, nhưng chỉ lành vinh danh Thiên Chúa" (Ga 11,4). Lời lẽ lạ lùng, ngược hẳn với cái nhìn đầu tiên của ta: Hẳn Người đã cảm thấy điều gì... Thực ra đã 4 ngày rồi... (Ga 11,39). Tuy nhiên đó là đức tin, là niềm hy vọng của ta. Thiên Chúa của ta là một Thiên Chúa sự sống. Thiên Chúa của ta là Ðấng mở những nấm mồ. Ðức Kitô của ta là Ðấng, giữa đoạn đường từ làng tới nghĩa trang, đã bảo đảm cho ta vượt qua từ sự chết đến sự sống. Chúa của ta là Ðấng kêu lên: Hãy đi ra. Người gọi chúng ta, những kẻ đang bị giam hãm. Người cởi trói và giải thoát ta khỏi mớ quần áo sự chết, khỏi các giải băng sợ hãi. Thế nên chiến đấu cho công lý trở thành có thể được Yêu thương là luôn luôn có thể được" Con người có thể gặp được nhân tính của mình: anh em không còn dưới áp lực của thân xác nhưng của thần linh vì Thánh Thần Thiên Chúa ở trong anh em (Rm 8,9).
Thành viên của CCFD làm chứng về những điếu đó mỗi ngày. Tình liên đới, đắt giá lắm, nhưng là suối nguồn vui tươi. Sự phát triển rất phức tạp nhưng tiến tới là điều có thể được nếu ta biết hợp tác với nhiều người: các quốc gia, các tổ chức phi chính phủ, các xí nghiệp, các trung tâm nghiên cứu, tư nhân, các Giáo Hội. Mỗi người có thể tham gia theo cách của mình. Ðối với chúng ta những kẻ tin, thì trong cố gắng của nhân loại ấy có dấu vết của Thiên Chúa trong lịch sử hoạt động: các con sẽ biết rằng Ta là Chúa khi Ta sẽ đem các ngươi ra khỏi mồ (Ez 37,13).
Chính Thánh Thần của Ðức Kitô và của Thiên Chúa Cha cho ta đủ năng lực chiến đấu chống lại tất cá sức mạnh của sự chết. Chính Người, một ngày kia, sẽ mở cửa đưa ta vĩnh viễn vào sự sống.
admin
20-02-2011, 11:49 AM
CN-LELA
CHÚA NHẬT LỄ LÁ
CHÚNG TÔI CA NGỢI THÁNH GIÁ
(Mt 26, 14 -27, 66)
I.VÀI ÐIỂM CHÚ GIẢI:
1.Lễ Vượt qua của Ðức Giêsu
Tuy trung thành với lược đồ có vẻ như có từ rất sớm trong truyền thống Giáo Hội sơ khai đã tạo nên những nét chính, trình thuật Thương khó của thánh Matthêu vẫn có những nét riêng của tác giả.
Ngay từ lời khai mào bài thương khó (26,1-2) trong khi Marcô chỉ ghi thoáng qua 1 chỉ dẫn thời gian ("Còn 2 ngày nữa tới lễ Vượt Qua và lễ bánh không men") Matthêu chỉ rõ cả ý nghĩa của sự việc sắp diễn ra: "Các con biết rằng còn 2 ngày nữa là tới lễ Vượt Qua và Con người sẽ bị nộp và bị đóng đinh". Matthêu chỉ cho thấy Ðức Giêsu là người Thầy nắm vững tình hình. Người ý thức về mọi sự sắp xảy đến, và Người tự do tiến tới để trung thành với sứ mạng cho đến cùng... Matthêu nhấn mạnh đến mối liên hệ giữa lễ Vượt Qua và sự kiện Con Người sẽ bị nộp. Lễ Vượt Qua là một lễ quan trọng, hướng về cả quá khứ, hiện tại lẫn tương lai... người Do thái nhớ lại chuyến vượt thoát khỏi Ai-Cập với Môsê, họ nhâﮠbiết rằng hôm nay họ còn sống sót là nhờ ơn Chúa; họ hướng về tương lai và chờ đợi tới lúc Thiên Chúa sẽ can thiệp, như xưa kia, để giải phóng dân Người khỏi ách nô lệ... Này đây đã tới thời viên mãn.
2.Ứng nghiệm các lời Kinh Thánh.
Ðiều Matthêu, tác giả viết cho Kitô hữu mà đại da số có nguồn gốc Do Thái, muốn chứng minh cho họ là Ðức Giêsu đã hoàn tất đến tận cùng và viên mãn lời Kinh Thánh đã loan báo. Ngài nhắc lại: "Tất cả những điều ấy đã xảy đến để ứng nghiệm lời các tiến tri (16,56; 27,9-10). Ngài thường xuyên đưa độc giả của Ngài về Cựu ước hoặc ám chỉ (như trong những lời chế nhạo 27, 43, gợi hứng từ sách Khôn Ngoan 2,13-18), hoặc minh nhiên (như khi Phêrô chối, Giuđa phản bội, khi Ðức Giêsu chịu chết, lúc trút hơi thở còn cầu nguyện thánh vịnh 21)" ứng nghiệm lời Kinh Thánh không có nghĩa là tất cả đã được thấy trước và chỉ cần đọc Kinh Thánh là biết hết. Kinh Thánh chỉ gợi lên hành trình đức tin của những Kitô hữu đầu tiên, sau biến cố Phục Sinh, hiểu rõ hơn ý nghĩa của các biến cố đau thương khi đọc lại Kinh Thánh. Trong suốt lịch sử dân Chúa cũng như lịch sử Ðức Giêsu, vẫn chỉ là ý định của Thiên Chúa được thực hiện qua những chống đối, đau khổ và cái chết. Nhưng dưới ánh sáng mới của cái chết và sự phục sinh của Ðức Giêsu, Kinh Thánh từ này rõ ràng sáng sủa hơn.
3.Khai mạc thời kỳ mới
Lúc Ðức Giêsu chết, Matthêu kể ra những hiện tượng kỳ lạ có sức biểu tượng mạnh mẽ: màn trong Ðền Thờ xé ra làm hai, động đất, "thi thể của đông đảo các thánh sống lại và "sau khi Ðức Giêsu sống lại, đi vào thành thánh". Như thế Matthêu loan báo cho ta biết ta đang dự vào một cuộc sụp đổ của cả một thế giới và sự khai mạc của một thời đại mới. Từ nay, tất cả mọi người, trong Ðức Giêsu là Ðền Thờ mới, sẽ có thể tiến đến gặp gỡ Thiên Chúa. Các thánh có thể theo Ðức Giêsu Phục Sinh tiến vào Vương quốc Nước Trời. Nơi đầu sự chết tưởng đã chiến thắng, nơi đó sự sống chiến thắng trên sự chết và tội lỗi Thể hiện nơi viên đại đội trưởng Lamã, người tuyên xưng đức tin vào Giáo Hội: "Người này thực là Con Thiên Chúa" là tất cả dân ngoại bắt đầu nhìn Ðấng chịu đóng đinh bằng cả niềm tin.
II. BÀI ÐỌC THÊM:
1.Ðức Giêsu Thiên Chúa không quyền lực (Henri Denis, "Voici lHomme", DDB).
Vì Con Người, Ðấng đã có thể gọi đến cả những sư đoàn thiên thần, vẫn chịu trói chân trói tay trước mặt Philatô. Ðức Giêsu bị xếp vào loại người không có thế lực, nghèo hèn, bệnh tật, bị loại trừ, để phục hồi nhân phẩm cho họ. Ðức Giêsu đã tích cực bảo vệ họ đến độ chọc tức cả những người tự cho mình có thế lực trước mặt Thiên Chúa hơn Người. Và chính những người ấy lại kêu gọi đến những thế lực trần gian này để làm cho Vị Tiên tri trở thành bất lực. Ðó là "sì căng đan" thánh giá. Người đã cảnh báo các môn đệ của Người rằng giữa họ với nhau, và cả với người khác nữa đừng bao giờ đè nặng lên nhau cái gánh mệnh lệnh. "Chớ gì kẻ ra lệnh hãy trở thành người phục vụ, vì Con Người không đến để được phục vụ nhưng để phục phục" (Mt 20, 27).
Vâng, Ðức Giêsu chính là Con Thiên Chúa không thế lực. Chính vì thế quyền uy của Ðấng Phục sinh chẳng có gì giống với những quyền lực ở trần gian. Quyền lực của tình yêu không làm Thiên Chúa trở thành Thiên Chúa các đạo binh nhưng trở thành Thiên Chúa không khí giới.
admin
20-02-2011, 11:50 AM
T5TT
THỨ NĂM TUẦN THÁNH
ÐỂ NHỚ ÐẾN THẦY
(Ga 13, 1-20)
I. VàI ÐIỂM CHÚ GIẢI
1.Một cử chỉ gây ngạc nhiên.
Phúc âm Gioan, khác với Nhất lãm, không tường thuật việc lập phép Thánh Thể, trái lại, chỉ Phúc âm này kể lại một cử chỉ khác của Ðức Giêsu trong bữa Tiệc ly: Rửa chân cho các môn đệ. Nhập đề của chương 13 này thực sự long trọng. Phần nhập đề làm nổi bất sự ý thức tuyệt hảo của Ðức Giêsu, nó hé mở cho thấy ý nghĩa của việc sắp diễn ra: Ðó là từ nơi Chúa Cha và Chúa Giêsu con Ngài, sự biểu lộ tình yêu đã đi đến tuyệt đỉnh: "Trước lễ Vượt qua, biết rằng đã đến giờ Người bỏ thế gian mà về cùng Cha, Ðức Giêsu, đã yêu thương những kẻ thuộc uề mình còn ở trần gian thì yêu thương cho đến cùng. Sự tương phản càng mãnh liệt với cảnh rửa chân được tả tỉ mỉ như một màn chiếu chậm những chi tiết bề ngoài rất tầm thường: "Ðức Giêsu chỗi dậy khỏi bàn, cởi áo buộc khăn vào người; rồi đổ nước ra thau, Người bắt đầu rửa chân các môn đệ. Cứ chỉ này gây ngạc nhiên cực độ vì 2 lý do: Vì được Ðức Giêsu làm ngay trong bữa ăn trong khi bình thường, luật hiếu khách đòi rửa chân trước bữa ăn. Vì chính Ðức Giêsu làm việc này. Người là "Thầy và Chúa" trong khi ở Do Thái nhiệm vụ này thường trao cho các đầy tớ người nước ngoài.
2.Một cử chỉ nhiều ý nghĩa.
Trái với khuynh hướng của ta, những con người duy lý ta thường giải thích trước khi làm, còn Ðức Giêsu, Người làm trước hết một cử chỉ đầy biểu tượng, một cử chỉ có ý nghĩa thâm sâu trước khi dùng lời giải thích ý nghĩa. Chơi trò gây hiểu lầm - Kỹ xảo quen thuộc của Gioan về sự "thanh tẩy", cuộc đối thoại của Ðức Giêsu với Phêrô chuyển hướng ta, cũng như chính người môn đệ từ một giải thích đơn thuần "luân lý" - một cử chỉ khiêm nhu - chuyển sang một giải thích "thần thiêng": Ðó là một cứ chỉ biểu lộ Thiên Chúa trong Ðức Giêsu; là một cử chỉ trong đó, Ðức Giêsu đảm nhận trước cuộc vượt qua nhờ cái chết, như một dấu ấn tình yêu dành cho con người mà vẫn trung tín với Cha Người. Ðể dự phần với Ðức Giêsu, Phêrô sẽ phải theo Người cho đến cùng, gắn bó trọn vẹn với chương trình cứu thế của Người? kể cả đem cái chết làm chứng cho Người.
Lối giải thích ấy được tăng cường ý nghĩa nhờ các động từ mà Gioan sử dụng để diễn tả hành động của Ðức Giêsu: Người "cởi" áo rồi sau đó "mặc lại". Rõ ràng những động từ này đã được đặt lên môi Ðức Giêsu ở chương 10 để Người nói rằng Người sẽ dâng hiến mạng sống Người trước khi lấy lại. "Cởi bỏ", "lấy lại", 2 động từ mà Gioan dùng để chỉ cái chết mà Ðức Giêsu đã vui lòng chấp nhận và sự phục sinh của Người. X lon Dufour bình luận: Chúng ta cũng đang được chuyển qua giai đoạn Rửa chân, một màn kịch câm cảm động là biểu tượng cái chết tự nguyện của Ðức Giêsu trên thánh giá: không hề đánh mất quyền làm Ðức Chúa quyền làm con ban cho Người, Ðức Giêsu đã tỏ mình ra như một người phục vụ.
3. Một cử chỉ ta phải bắt chước để tưởng nhớ Người.
Hành động duy nhất mà Người làm chiều hôm ấy để tượng trưng cái chết tự nguyện chấp nhận vì yêu thương và sự phục sinh, đồng thời cũng là "một tấm gương mà chúng ta những môn đệ Người phải bắt chước để làm cho nhau: "Ðó là tấm gương Thầy để lại cho các con để các con làm cho nhau, như Thầy đã làm cho các con. Nếu Người là "Thầy và là Chúa" đã đến để phục vụ chứ không để được phục vụ, thì môn đệ của Người cũng phải tự hiến hoàn toàn theo gương Ðức Giêsu để phục vụ anh em. X lon Dufor kết luận: "Nếu Gioan đã tả phép Thánh Thể ở chương 6, chỉ quảng diễn ở đây truyền thống giao ước bằng cách tả Ðức Giêsu trong việc phục vụ tuyệt vời chính vì truyền thống ấy đưa ra ánh sáng thực tại này: suy cho cùng, phép Thánh Thể phải tăng cường nơi các tín hữu tình yêu huynh đệ bắt nguồn từ Thiên Chúa. Thay vì là một thêm thắt tuỳ tiện, việc rửa chân là cần thiết để biểu lộ rằng đời sống văn hoá thôi chưa dủ và để tránh ảo tưởng, đời sống văn hoá chỉ tìm thấy ý nghĩa nơi thực hành một tình yêu có hiệu quả. Nếu phép Thánh Thể làm nên Giáo Hội, gương rửa chân vẫn là hành vi nền tảng nhờ đó Giáo Hội được thiếp lập.
II. BÀI ÐỌC THÊM:
Một cái gì đó trong bí mật kinh khủng của thần linh.
Như thế, trong cử chỉ rửa chân, Ðức Giêsu không cho ta đơn thuần một bài học về lòng khiêm tốn như một nhà luân lý nào đó đề nghị cho các môn đệ. Trong hành động biểu tượng này, Người biểu lộ cho ta biết tất cả cuộc đời của Người, tất cả sứ mạng của Người và sự chết - sự sống lại của người có ý nghĩa gì. Hơn nữa, vì mỗi lời nói, mỗi cử chỉ của con người ấy đối với ta đều là mạc khải của Thiên Chúa, nên việc rửa chân cho ta thoáng thấy một cái gì đó trong bí mật thần linh. "Nơi Thiên Chúa có một sự rửa chân triền miên", cha Varillon thích nói như thế. Thiên Chúa là Tình Yêu, không phải là tình yêu thống trị và khinh thị. "Nghiêng mình xuống" đó là hình ảnh mà Cựu ước dùng để diễn tả lòng nhân hậu, sự dịu dàng của Thiên Chúa. Ðó là cách bắt đầu của từ "Xin thương xót" bằng tiếng Do Thái: Lạy Chúa, xin hãy nghiêng xuống con theo lòng nhân hậu Chúa (Tv 51). Thiên Chúa nghiêng-mình-xuống, giờ đây ta đã biết tình yêu dẫn đưa Người đi đến đâu: đến chỗ làm đầy tớ quỳ gối xuống trước các môn đệ, nghiêng mình xuống đến thế, theo nghĩa đen, xuống tận chân họ, và để phải ngước lên để trả lời khi Phêrô phản đối; một Thiên Chúa đã cúi xuống tạo vật, đã tự đặt mình vào vị trí phải ngước lên để nhìn tạo vật. Tất cả những gì có thể còn sót lại trong hình ảnh Kinh Thánh về sự hạ cố, về chủ nghĩa gia trưởng, tức là về mọi ngăn cách, tự tôn, trổi vượt bỗng chốc bị phá huỷ tan tành, khi Người cho ta được chiêm ngắm Thiên Chúa Ðấng ngước mắt lên nhìn con người. Ðó quả thực là sự nghèo hèn của Thiên Chúa (Jean Perron).
admin
20-02-2011, 11:50 AM
T6TT
THỨ SÁU TUẦN THÁNH
HẠT GIỐNG GIEO XUỐNG
ÐỂ NẨY MẦN TRONG BẠN LỄ VƯỢT QUA
(Ga 18, 1- 19, 24)
I.VÀI ÐIỂM CHÚ GIẢI
1.Một cấu trúc rất công phu
Gần với trình thuật Nhất lãm, trình thuật khổ nạn theo Gioan cũng không kém phần đặc sắc: mối trăn trở của tác giả muốn chuyển đạt ý nghĩa các biến cố và bộc lộ căn tính thực sự của Ðức Giêsu Nazareth, Kitô và Ðức Chúa được thấy rõ trong cấu trúc được chuẩn bị rất công phu của trình thuật, bắt đầu từ vườn hấp hối và kết thúc trong vườn an táng, mà cảnh trọng tâm là vụ xử án của Philatô.
2. Những im lặng biết nói.
Những im lặng của Gioan cũng đầy ý nghĩa mạc khải. Ngài bỏ không nói tới những chi tiết gây nhục nhã cho Ðức Giêsu là sự bi thảm của các biến cố để vẻ oai nghiêm vương giả của Ðức Giêsu và sự tự do tuyệt đỉnh của Người hiện rõ nét hơn: "Mạng sống ta, không chỉ lấy được nhưng là chính Ta ban tặng" (Ch. 10). Vì thế Ngài không đề cập đến cơn hấp hối (chỉ thoáng nói ở nơi khác 12,20-36), cái hôn của Giuđa, vụ xử án ở dinh Caipha và Hội đường (những cuộc tranh luận dài ở các chương 7 và 10 đã thay thế), cảnh lăng nhục, chế nhạo, hoặc thập giá của 2 người trộm cướp. (chỉ nói tới thập giá Ðức Kitô). Và lời sau cùng của Ðức Giêsu trên thánh giá không phải là lời thánh vịnh 21: "Lạy Chúa, sao Chúa nỡ bỏ rơi Con" nhưng là lời "mọi sự đã hoàn tất".
3.Những đoạn văn riêng biệt của Gioan
Những đoạn văn riêng biệt của Phúc âm thứ 4 cũng không kém phần hùng hồn. Như trong cảnh bắt giữ, Ðức Giêsu chỉ cần nói "Ta đây" (đó là tên của Thiên Chúa trong Kinh Thánh) thì những người đến bắt Chúa té ra hết. Thay vì là đố chọi, Ðức Giêsu hướng dẫn các biến cố.
Như đoạn mô tả kỹ lưỡng vụ xử án trước toà Philatô, đoạn tả chiếm hơn 1/4 trình thuật khổ nạn (29 câu trên 112). Maurice Antané bình luận: Ðối với Jean, vận mệnh hiện tại và tương lai của đức Giêsu là ở đó. Từ nay trở đi, Ðức Giêsu là Vua toàn năng, là quan toà xét xử các dân tộc. Philatô mời Người ngồi vào ghế toà án, có ý chỉ sự thống trị này (19,13). Ở trung tâm của màn xử án đầy kịch tính này mà Chúa Giêsu bị đội vòng gai và được tôn xưng là vua, nhưng vẫn còn là vị vua bị lăng nhục. Phải đợi đến Phục sinh vương quyền này mới được biểu lộ, mới thực sự là một "tôn vinh", một đăng quang (20,17).
Như sau khi chết, máu và nước chảy ra từ cạnh sườn Ðức Giêsu. A. Marchadour ghi chú: "Ghi nhận này đã có thể chỉ là một nhận xét về phẫu thuật, nhưng thánh sử đã rút ra như "Một chứng từ long trọng mà Ngài nhấn mạnh. Ngài làm chứng rằng sự nhập thể là thật sự và cái chết của Ðức Giêsu, trong thực tại của nó, mở ra mầu nhiệm cứu độ đã được loan báo ở 7,38 "Như Kinh Thánh đã nói, từ lòng Người chảy ra những dòng sông nước hằng sống. Trong cái chết của Ðức Giêsu, giờ tôn vinh Người đã đến, thánh Thần được ban cho các tính hữu (7,39). Ðộc giả Kitô giáo hiện tại hoá đời sống do Chúa Giêsu thông ban trong 2 bí tích Rửa tội (tái sinh bởi nước và Thánh Thần 3,5) và Thánh Thể (6,54).
admin
20-02-2011, 11:51 AM
T7TT
THỨ BẢY TUẦN THÁNH
NGÀY ÐẦU CỦA CUỘC SÁNG TẠO MỚI
(Mt 28,1- 10)
I.VÀI ÐIỂM CHÚ GIẢI
1.Ðến viếng ngôi mộ của một người chết
Vào giờ bà Maria Madalena và bà Maria khác đi đến mộ, ngày sabbat đã kết thúc. Một ngày mới bắt đầu: "ngày thứ nhất trong tuần. Ngày thứ nhất của sự sáng tạo mới.
Cuộc động đất, theo Matthêu 27,51.54 xảy ra sau cái chết của Ðức Giêsu nay lập lại ngoạn mục hơn "và có động đất lớn. Từ cuộc thần hiện trên núi Sinai, đề tài này, qua Kinh Thánh, diễn tả hành động mầu nhiệm của Thiên Chúa: Biến cố vừa xảy ra khai mạc thời đại mới.
Hai phụ nữ đến "viếng mộ Ðức Giêsu". Ở đây, "tảng đá" tượng trưng cho tính cách bất khả chuyển dịch và bất khả chống cưỡng của cái chết đã bị "lăn ra". "Thiên thần Thiên Chúa ngồi "ở trên, dấu hiệu của sự chiến thắng của Thiên Chúa trên sự chết. Ðêm tối của nấm mồ đã nhường chỗ cho một hữu thể rực rỡ ánh sáng mà thánh sử miêu tả rõ từng nét như nhắc lại cuộc biến hình của Ðức Giêsu: "Người có dáng vẻ như một tia chớp, y phục Người trắng như tuyết" Những người lính gác sững sờ trước biến cố đã trở nên "như người chết" lạ lùng và hàm ý đảo ngược. Cl. Tassin giải thích: Theo luật thường, vị Thiên Thần sắp báo tin cho các phụ nữ, lẽ ra các bà phải run rẩy. Nhưng Matthêu không muốn ta quên mất những người lính gác mộ và Ngài đã cho thấy lý do tại sao họ sợ hãi. Những kẻ gác một người chết nay trở nên "như người chết" và thẳng nghe được sứ điệp Phục Sinh.
2. Các bà trở về như sứ giả của Ðấng đang sống.
Ðến tìm Ðức Giêsu, "Ðấng chịu đóng đinh", hai phụ nữ biết rằng "Người không còn ở đây nữa, vì người đã sống lại như lời Người đã nói". Cl. Tassin ghi chú: "Ðộng từ được dùng ở thể thụ động giả thiết rằng Thiên Chúa chính là tác nhân (Thiên Chúa đã phục sinh Người). Ðiều đó, Ðức Giêsu đã nói trước", tin tưởng vào Cha Người. Khi người loan báo cuộc khổ nạn của Người.
Ðến để hoàn thành những động tác kinh tin đó với thi thể của Thầy mình, từ nay các bà trở thành nhưng người mang Tin Mừng của Ðấng Ðang Sống, Tin Mừng mở ra một tương lai mới cho mọi người: Ðó, họ là những tác giả Phúc âm đầu tiên, vui vẻ chạy mang tin cho các môn đệ. Ðến nơi hẹn của sự chết, giờ đây các bà trở thành những người loan tin cho cuộc hẹn với sự sống. "Ở Galilêa". Vâng, chính tại Galilêa nơi hội tụ dân ngoại" mà mọi sự sẽ bắt đầu (Mt 4,12). Chính tại đó mà Ðức Giêsu Phục Sinh mời gọi các "anh em của Người đến để trao phó cho họ một sứ mạng phổ quát: "Hãy đi! biến mọi dân tộc thành môn đệ Thầy. Còn Thầy sẽ ở với anh em mọi ngày cho đến tận thế" (Mt 28,l9-20). Cl. Tassin két luận: chính nhờ các thành phần khiêm tốn này của Giáo Hội mà các môn đệ cao cả mới tìm lại được con đường đức tin của họ.
II. BÀI ÐỌC THÊM:
Phục sinh ở trung tâm các Phúc âm (marc Sevin).
Các biến cố Phục Sinh đã khiến các môn đệ ngạc nhiên. Các trình thuật Phúc âm và Công vụ các tông đồ đã chứng tỏ rằng cần phải có thời gian và sự can thiệp của Thiên Chúa để thực hiện những gì đã xảy ra. Sự Phục sinh của Ðức Giêsu không đơn thuần là chuyện trở lại đời sống của một người chết, nhưng là sự bắt đầu của thế giới mới của Thiên Chúa, đã thoáng thấy và được chờ đợi nơi truyền thống con cái Israel. Ðức Gỉêsu, Ðấng Phục Sinh, giờ đây đang sống một cuộc sống hoàn toàn mới nơi Ðức Chúa Cha. "Trường tử từ trong kẻ chết", Thiên Chúa đã tôn Người lên làm Chúa. Nói cách khác, sự phục Sinh của Ðức Giêsu đã đảo lộn tất cả. Ðó là khởi đầu của một thời đại mới chưa từng có, liên hệ tới hết mọi người. Có cái gì đó đã thay đổi trong thế giới của chúng ta. Làm sao quên được, dù chỉ trong giây lát, cái dữ kiện bất ngờ của đức tin ấy? Nếu các môn đệ của Ðấng Phục sinh đã rèn giũa nên các Phúc âm, chính là để làm chứng cho Phúc âm chứ không hề có bận tâm đơn thuần tái tạo lịch sử các biến cố trước Phục Sinh. Họ soạn thảo các Phúc âm để cho các độc giả hiểu rằng tất cả đời sống và hoạt động Ðức Giêsu Nazareth chuẩn bị cho lễ Phục Sinh, chỉ có thể hiểu được dưới ánh sáng Phục Sinh, hội tụ trong Phục Sinh. Họ kể lại bắt đầu từ đức tin của họ vào sự Phục sinh. Họ không thể làm khác hơn. Tất cả những gì họ viết đều phải chịu sàng lọc qua đức tin Phục Sinh. Phục sinh chính là điểm xuất phát của họ. Ðó là chuẩn mực giúp họ giừ lại thời kỳ nào đó trong đời sống của đức Giêsu, lời nói nào đó của Người. Các Phúc âm, từ chương đầu cho đến chương cuối, đều thấm đẫm đức tin vào sự Phục Sinh của Ðức Giêsu.
admin
20-02-2011, 11:52 AM
CNPS
CHÚA NHẬT PHỤC SINH
NGÔI MỘ MỞ TOANG VÀ TRỐNG RỖNG
(Ga 20, 1-9)
I.VÀI ÐIỂM CHÚ GIẢI:
1. "ông đã thấy...
Thực nghịch lý, Phúc âm hôm nay dừng lại ở việc khám phá ra ngôi mộ mở toang và trống rỗng chúng dẫn ta đi đến chỗ trình thuật, tới cuộc gặp gỡ của Maria Madalena với Ðấng Phục Sinh và tới lời bà loan báo cho các môn đệ: "Tôi đã thấy Chúa, và Người đã nói với tôi" (28). Dường như phụng vụ hôm nay mời ta lần bước trên con đường đức tin theo vết chân những chứng nhân tiên khởi. Trong đoạn văn ta nghe sáng nay, rõ ràng tác giả đã sắp xếp một tiến trình đầy kịch tính.
Trước hết trong các di chuyển rất nhiều và rất nhanh: động từ "chạy" được nhắc lại 3 lần trong vỏn vẹn vài câu. Maria Madalena chạy đến thấy ngôi mộ đã mở, rồi chạy "đi tìm Sỉmon-Phêrô và môn đệ kia". Simon- Phêrô và môn đệ kia chạy đến mồ, môn đệ kia đến trước. Những cuộc chạy liên tục để tìm câu trả lời đầu tiên cho câu hỏi không thể chịu nói về ngôi mộ mở tung và trống rỗng..Rồi, trong những chỉ dẫn ngày càng rõ rệt (dùng các dộng từ: nhìn, thấy) và trong giải thích sự kiện đã xảy ra.
Maria Madalena "thấy" đá cửa mộ đã được "lấy" ra và kết luận rằng thi thể của Thầy mình đã bị "lấy" đi. Môn đệ kia tới trước. Nhưng không vào trong mồ trước Simon-Phêrô, "khi cúi xuống, ông thấy khăn liệm còn đó" Simon Phêrô vào mộ, "nhìn khăn liệm nằm đó, và vải phủ đầu không đặt chung với khăn liệm, nhưng cuộn lại và để riêng ra. Phúc âm Luca có chỗ khác biệt (4,12). Gợi lên sự "ngạc nhiên" của Phêrô, nhưng tác giả không đi quá điều ghi nhận. Chỉ sau này, trong cuộc gặp gỡ với Ðấng phục Sinh và đã lãnh nhận Chúa Thánh Thần, Phêrô mới hiểu ngôi mộ trống và tâm trí ông mới mở ra, thấu hiểu lời Kinh Thánh: "Thực vậy, tới lúc đó, Phúc âm thứ 4 nói, các môn đệ vẫn chưa tin rằng, theo lời Kinh Thánh, Ðức Giêsu sẽ phục sinh từ trong kẻ chết".
Rồi môn đệ kia cũng bước vào trong mộ, và sách Thánh ghi nhận rằng, ngay phút đầu tiên của kinh nghiệm về sự Phục sinh, "ông đã thấy và ông đã tin".
2.và ông đã tin
Phêrô, người đầu tiên vào mộ, đã trở thành chứng nhân không chối cãi được trước mắt Giáo Hội sơ khai. Trái lại, môn đệ kia được trình bày ở đây như khuôn mẫu của người môn đệ, người môn đệ tuyệt hảo. Ông, "người môn đệ mà Ðức Giêsu yêu mến", người trong bữa tiệc ly ngồi tựa đầu vào ngực Chúa, với trực giác mà tình yêu ban cho, ông đã thấy sự trống rỗng của ngôi mộ và vị trí của khăn liệm - xếp đặt rất ngay ngắn, chứ không lộn xộn - ngần ấy dấu chỉ của một thực tại khác, chỉ cảm nhận được trong đức tin: "ông đã thấy và ông đã tin". Với ông, thi thể của Ðức Giêsu đã không bị "lấy đi" như Maria Madalena tưởng: Trộm cướp, trước khi lấy xác Thầy đi, còn có thời giờ cởi bỏ, xếp đặt khăn áo cẩn thận đến thế. Với ông, chính cái chết đã bị sự sống vĩnh viễn truất quyền. Trong ông hình thành tiến trình vượt qua từ "thấy" đến gắn bó hoàn toàn với Ðức Giêsu Phục sinh. Quang cảnh y phục hoặc trật tự trong đó y phục được xếp đặt chứng tỏ rằng thì thể Ðức Giêsu không bị ăn trộm lấy đi nhưng là chính Ðức Giêsu đã ra đi sau khi để lại y phục trong trật tự ở nơi Người đã mang chúng. Khác với Lazarô khi bước ra còn mặc áo liệm, Ðức Giêsu không cần gì đến y phục nữa vì Người đã rời bỏ thế giới con người. Một trong các nhân chứng đầu tiên đã "thấy" Ðức Giêsu Phục Sinh, môn đệ kia đồng thời là khuôn mẫu của những ai, đón nhận lời chứng của họ, "tin dù không thấy".
II. BÀI ÐỌC THÊM
1.Phêrô và Gioan trước ngôi mộ mở, trống rỗng: những nẻo đường của đức tin phục sinh (J. Potin Jésus, l'histoire vraie).
Theo Gioan, vải liệm thi thể Ðức Giêsu có 2 loại trước hết có khăm sudarium dùng che đầu, còn othoma (khăn liệm) là những tấm vài lanh rộng bó lấy toàn thân thể (tay, thân, chân). Ngài phân biệt rõ như vậy trong trình thuật khám phá ngôi mộ là có dụng ý rõ rệt. Trình thuật tìm cách xác nhận cuộc khám phá ngôi mộ trống của Phêrô, thủ lãnh các tông đồ. "Môn đệ kia" theo Phêrô từ lúc bắt đầu vụ án, "môn đệ mà Ðức Giêsu yêu mến" để Phêrô vào trước. Ông nhận thấy rằng sudarium và othonia được để lại trên ghế. Vậy thi thể ấy bị lấy cắp, nhưng đã thoát ra khỏi khăn liệm, để khăn liệm lại tại chỗ. Phêrô chưa có giải đáp cho câu hỏi. Môn đệ kia lanh lẹ hơn trong niềm tin: "ông đã thấy và ông đã tin". Nếu, vì kính trọng, ông đã để cho vị thủ lãnh Giáo Hội vào mộ trước, thì ông lại hiểu ngay điều cốt yếu chỉ bằng cách nghiêng mình ngó vào trong mộ. Là môn đệ được Ðức Giêsu yêu mến cũng là một cái gì đó chứ. Tuy vậy, niềm tin của họ vẫn chưa hoàn hảo. Chỉ thấu hiểu Kinh Thánh mới đưa họ thấm nhập vào mầu nhiệm Phục Sinh của Ðức Giêsu, vì Kinh Thánh giải thích ý nghĩa cái chết này. Gioan đã báo cho các độc giả rằng chỉ có sự thấu hiểu Kinh Thánh mới ban cho họ Thánh Thần mà Ðức Giêsu Phục Sinh đã đem đến cho môn đệ trong những lần hiện ra. Phêrô và "môn đệ kia" trở về nhà đóng kín cửa vì sợ người Do Thái.
Ðối với các môn đệ, ngôi mộ trống vẫn còn là một câu hỏi chứ chưa chứng tỏ được sự Phục Sinh. Tuy nhiên nếu ngôi mộ khép chặt thì làm sao có thể rao giảng sự Phục Sinh được?
2. Mộ mở toang (G. Boucher, "Le ciel sur terre").
Sáng hôm ấy, một phụ nữ, bà Maria Madalena đến viếng mộ Ðức Giêsu. Nhưng, kinh ngạc: mộ đã mở tung. Hòn đá lấp cửa mộ đã lăn qua một bên.
Thoạt nhìn ngôi mộ mở tung, ta nghĩ đến một âm mưu hoặc một trò lừa đảo. Ðó là một trò giễu cợt chết người. Hay là một xúc phạm không chấp nhận được.
Phản ứng thế nào trước một sự việc như thế Maria Madalena báo ngay cho các môn đệ của Ðức Giêsu Bà chạy đến báo động cho Phêrô. Có Gioan theo, Phêrô thoát ra khỏi dè dặt, phá vỡ sự im lặng sợ hãi. Ông rời nơi ẩn náu. Ông chạy đến xem và ghi nhận tại chỗ. Một sự xúc phạm như thế cần phải xem cho kỹ đã. Phêrô và Gioan cùng chạy. Họ chạy đến ngôi mộ mở sẵn. Giờ đây họ đối diện với sự vĩ đại của biến cố. Và Gioan đã thấy ông đã thấy và ông đã tin. Gioan thấy. Nhưng ông thấy gì? Chẳng thấy gì hết. Có gì đâu mà thấy. Tuy vậy điều ông thấy đã dẫn ông tới chỗ tin. Ta hãy nghiêng mình xuống như Gioan. Ta thấy gì? Một hố sâu thăm thẳm, đầy màu trắng. Một sự trống rỗng mênh mông dâng đầy mầm sống. Cờ tang khăn tang chuyển biến thành y phục ánh sáng. Một sự vắng mặt vang dội sự có mặt. Một sự im lặng của nấm mồ nói nhiều hơn mọi bài diễn văn. Một bức tường mà ta chỉ thấy được phần bị khoét lỗ. Một kết quả của tất cả mang dáng dấp khởi đầu. Một cái chết có bộ mặt một cuộc giáng sinh. Mầu nhiệm mà ta khám phá ra bí mật. Vậy ai đã tạo ra ngôi mộ trống. Ngôi mộ đâu có trống. Vì Gioan đã thấy chân dung thực sự của Ðức Giêsu, bạn Ngài. Ngôi mộ không trống, không sâu, không câm nín, không vương mùi chết chóc. Ngôi mộ nói. Nó sẽ nói. Hôm nay nó còn nói với ta. Ta có bị cụt hứng không? Vì sự vắng mặt này, lớn như một nấm mồ, chính là một sự hiện diện, vĩ đại như một phép lạ. Dưới nhãn quan của não trạng hiện đại, đã thấm nhiễm vào ta, chết là hết. Chấm hết. Chết rồi chẳng còn gì ráo. Chẳng còn gì ngoài đêm đen. Chẳng còn gì ngoài trống rỗng và hư vô. Cái chết khép lại tất cả. Cái chết chôn kín đời ta.
Nhưng ở đây cái chết mở ra. Ngôi mộ của Người đã mở ra. Mở ra một mầu nhiệm lớn lao. Một mầu nhiệm loan báo sự sống. Mầu nhiệm mang tên chỗi dậy. Phục sinh. Ngôi mộ mở lòng mở trí ta. Ký ức sống và sống lại. Ta mở hồn ra với đức tin. Sau cùng ta hiểu rằng Ðức Giêsu, đã vượt qua bức tường sự chết, đã nâng phiến đá che mộ, đã hoàn thành Phục sinh báo trước.
admin
20-02-2011, 11:53 AM
CHÚA NHẬT II PHỤC SINH
TỪ NHẬN THỨC ÐẾN TRUYỀN GIÁO
(Ga 20,19-21)
I.VÀI ÐIỂM CHÚ GIẢI:
1.Từ Chúa nhật.
Phần đầu của Phúc âm Chúa nhật này - năm nào ta cũng đọc lại - đưa ta đến "Sau cái chết của Ðức Giêsu" buổi chiều "ngày thứ nhất trong tuần, ngày qui tụ phụng vụ của các Kitô hữu, thời gian thuận tiện để Chúa hiện diện giữa cộng đoàn mà Người qui tụ để chia sẻ Lời và Bánh, và để sai họ đi vào thế giới.
Trong trình thuật, ta gặp lại 3 thời gian đặc biệt của tiến trình phục sinh.
1. Sáng kiến của Ðấng Phục Sinh "đến" thăm.
2. Nhận biết Ðức Giêsu đang sống thắng vượt cái chết.
3. Sứ mệnh nhận từ Ðấng Phục Sinh.
Các môn đệ hội họp ở một nơi mà các cửa "đều đóng kín... vì họ sợ người Do Thái, tức là chức quyền tôn giáo ở Giêrusalem. Có lẽ qua việc xác định rõ ràng này, tác giả muốn nói tới cảnh bắt bớ mà những người nghe Phúc âm phải chịu: bị loại ra khỏi Hội Ðường vì họ nhận Ðức Giêsu là Kitô. Dần dà, họ tìm những địa điểm họp riêng, tránh ánh mắt của những kẻ bắt bớ. Trong lúc họ họp nhau, Ðức Giêsu tới với họ "Ðức Giêsu đến và ở giữa họ". Lời đầu tiên của Người là lời chúc bình an. "bình an cho các con" (Shalom). Ơn cứu độ không chỉ là một lời chúc lịch sự, nhưng là ơn cứu độ có hiệu quả, của niềm vui, và niềm bình an.
Nhận Ðức Giêsu sống vượt qua cái chết.
Ðức Giêsu cho họ xem: "Tay và cạnh sườn Người (đối chiếu với ngọn giáo của Gioan). Marchadour bình luận: "Dấu vết của việc đóng đinh trên tay và cạnh sườn Ðức Giêsu chứng tỏ rằng, dù những điều kiện lạ lùng trong các cuộc tỏ mình ra của Ðức Giêsu, tác giả Phúc âm không muốn các độc giả lầm Chúa với một bóng ma, nghĩa là một người khác với Ðấng chịu đóng đinh. Chắc chắn, sự hiện diện thể lý bình thường của Ðức Giêsu không còn nữa, nhưng Ðấng ngự giữa họ vẫn là Chúa Giêsu, nghĩa là cũng vẫn là Ðấng mà họ đã biết và đã yêu, nhưng từ nay đã biến hình đổi dạng qua cuộc phục sinh. Sợ hãi tiêu tan, các môn đệ tràn đầy niềm vui.
Sứ mệnh nhận từ Ðấng phục sinh.
Sự hiện ra của Ðấng phục sinh không có một mục đích tự thân. Nó khai mở ra một sứ mệnh: sai đi, với sức mạnh của Thánh Linh, đem cho mọi người Tin Mừng về ơn tha thứ của Thiên Chúa. "Như Cha đã sai Thầy thế nào, Thầy cũng sai các con như vậy". Nói thế rồi Người rồi thổi hơi trên các ông và nói: "Các con hãy nhận lấy thánh Thần, các con tha tội cho ai thì người ấy được tha."
A.Marchadour bình luận: Ðó không phải chỉ là một so sánh, đó chính là một nền tảng, một cội rễ. Các môn đệ được sai đi (nguyên ngữ là: trở thành tông đồ) để nối dài hoạt động của Ðức Giêsu... Như Thiên Chúa đã thổi hơi thần khí của Người vào Ađam (St 2,7), như Thánh Thần xuống trên Ðức Giêsu (1,33-34), Ðức Giêsu mà Thiên Chúa đã tôn phong làm Ðức Chúa, cũng thổi hơi cùng một động từ như ở (St 2,7) sức mạnh của Thánh Thần trên các tông đồ... Như Thiên Chúa, rồi như Ðức Giêsu kẻ được Thiên Chúa sai đi, các môn đệ tha thứ tội lỗi nghĩa là thanh tẩy tội lỗi trong sức mạnh của sự chết của Ðức Giêsu.
2.Tới Chúa nhật.
Sự vắng mặt của Tôma vào ngày thứ nhất trong tuần cho phép tác giả Phúc âm dẫn nhập vào màn kế tiếp, "tám ngày sau". Típ người tiêu biểu cho sự cứng lòng, ông từ chối xếp mình vào hàng ngũ chứng nhân của các tông đồ khác và ông nghi ngờ Ðức Giêsu phục sinh: ông đòi "thấy" và "sờ" rồi mới "tin".
Thế là Ðức Giêsu đến một lần nữa, ngôn ngữ dùng miêu tả cũng như lần hiện ra trước. Ðức Giêsu lại hiện diện, dù các cửa đều "khoá chặt". Lại một lần nữa, Người gởi lời chào phục sinh: "Bình an cho các con". Một lần nữa, Người cho các ông xem tay và cạnh sườn Người. Hơn nữa, Người nói với Tôma, nhấn mạnh đến tính cách liên tục và tính cách mạch lạc giữa tình trạng bị đóng đinh và tình trạng vinh hiển hiện tại: "Hãy xỏ ngón tay con vào đây, hãy xem tay Thầy, hãy thọc bàn tay vào cạnh sườn Thầy. Gérard Bessière thắc mắc: "Người tông đồ cứng lòng tin ấy có làm như thế không. Từ lâu người ta đầy tranh cãi về điều ấy. Những bức hoạ thường chỉ vẽ Tôma đang giơ tay về phía những vết thương. Ðiều quan trọng ấy là lời nói thốt ra: "Ðừng cứng lòng nữa, nhưng hãy tin. Và đây tìm lại được đức tin, Tôma kẻ cứng lòng đã tặng Ðức Giêsu danh hiệu lớn lao nhất của cả Phúc âm: "Lạy Chúa là Thiên Chúa tôi". "Một đỉnh cao mà các định nghĩa tín lý sau này không vượt qua nổi. Giữa "Ngôi Lời là Thiên Chúa" ở khởi đầu (1,1) và lời tuyên xưng Ðức Giêsu là Chúa và là Thiên Chúa", không còn gì để nói thêm nữa. Càng rõ ràng hơn nữa khi kẻ làm chứng về chân lý này lại là kẻ không muốn tin vào lời chứng của các tông đồ.
3. Cho tới Chúa nhật hôm nay:
Màn kịch kết thúc bằng một mối phúc hứa ban cho những ai sống trong thời đại vắng bóng sự hiện diện thể lý của đức Giêsu, là chính chúng ta: "Phúc cho những ai không thấy mà tin. Mối phúc cuối cùng của eáe Phúc âm, mối phúc của những kẻ tin. A. Marchadour nói tiếp: Ðó là câu kết luận của cả cuốn Phúc âm và nhấc lại một chủ đề lớn trong Do Thái giáo: Giữa điều thấy và điều tin, cảnh tượng và lắng nghe, sự trình bày và lời lẽ, chính từ thứ 2 tạo nên điều kiện bình thường và lý tưởng của tín hữu. Ngay cả những kẻ đã thấy cũng phải tin vượt quá điều họ thấy. Ngôi Lời, ngay từ phút giây trở thành "nhục thể" đã chỉ cho các môn đệ thấy "nhục thể" nghĩa là nhân tính nơi lẽ ra ta phải "thấy Thiên Chúa tỏ mình ra trong vinh quang". Chúng ta thật phúc đức những người tiếp nhận Phúc âm. Chúng ta không thấy, nếu, do lời chứng của các tông đồ mà ta gắn bó với Ðức Kitô và trở thành tín hữu.
II. BÀI ÐỌC THÊM:
1.Sai đi như Chúa Cha đã sai (I. Potin, Jésus, l'hstoire vrare).
Phòng đóng kín, Ðức Giêsu đột ngột hiện ra giữa các môn đệ, ba lời vắn vỏi: bình an, Thánh Thần, tha tội. Ở đây các môn đệ sợ người Do Thái chứ không sợ ma. Trái lại, họ tràn đầy niềm vui. Sao họ có thể dè dặt về căn tính của Ðấng hiện ra, vì Người đã cho họ xem thấy và cạnh sườn Người? Ðức tin vào sự phục sinh phát sinh từ khám phá này, cũng với niềm bình an và niềm vui được gặp lại Người, 2 món quà của thời đại Messia mà Người đã hứa cho họ. Theo Gioan và Luca, sự hiện diện của Người không có mục đích đưa họ trở lại quá khứ nhung nhớ: Ðức Giêsu "sai" họ như Cha Người đã sai Người. Họ trở nên "Tông đồ" của Người. Ðể tấn phong, người thổi hơi, nghĩa là ban Thánh Thần của Người cho họ theo 2 nghĩa của từ ngữ bằng tiếng Do Thái và Hy lạp. Theo Gioan, thổi hơi liên hệ đến việc ban phát hào sóng Thánh Thần mà Luca đặt vào thời điểm 50 ngày sau, trong lễ Hiện Xuống. Ân ban Thánh Thần cho phép họ tha thứ tội lỗi mà theo Gioan, chủ yếu là tội từ chối tin Ðức Giêsu là Con Chúa Cha. Ai tuyên xưng Người sẽ được tha tội, vượt qua cái chết đến sự sống. Sứ mạng của các tông đồ là loan báo tha tội này nhân danh Ðức Giêsu.
2.Chiêm ngắm Ðức Giêsu trong "tấm gương" đức tin của những kẻ đã thấy. (Mgr. L. Daloz, Nous avons vu sa gloire). Ðức Giêsu tuyên bố từ nay sẽ là chế độ đức tin. Người đã tỏ mình ra trong vinh quang phục sinh cho các tông đồ và các môn đệ. Họ sẽ là những chứng nhân ưu tuyển đã thấy trước điều mai sau sẽ tỏ ra cho mọi người: khi chúng ta thấy- Người diện đối diện, ta sẽ nhận ra Ðấng đã cho ta xỏ ngón tay vào vết thương trên bàn tay và ở cạnh sườn người. Trong khi chờ đợi ngày mạc khải chung cuộc ta tìm thấy sự bảo đảm và niềm vui của đức tin trong chứng từ của các môn đệ đầu tiên. Phúc cho những ai không thảy mà tin. Ta tin khi chiêm ngắm Ðức Giêsu trong tấm gương đức tin của những chứng nhân đã thấy Chúa, cho dù đối với ta sự phục sinh vẫn là một điều khó hiểu. Nếu ta tiếp nhận phép lạ phục sinh trong sự vững vàng tăm tối của đức tin, một ngày kia Ðấng phục sinh sẽ tỏ mình cho ta, và ta sẽ phải kêu lên như Tôma: "Lạy Chúa, lạy Thiên Chúa của con.
admin
20-02-2011, 11:56 AM
CNPS3
CHÚA NHẬT III PHỤC SINH
TRÊN ÐƯỜNG EMMAU
(Lc 24, 13-35)
I.VÀI ÐIỂM CHÚ GIẢI:
1.Từ mối tương giao khép kín đến thái độ cởi mở với người khác.
Ðoạn Tin Mừng về hai môn đệ trên đường Emmaus được kể là một trong những đoạn Tin Mừng đẹp nhất của thánh Luca. Một câu chuyện vừa sâu sắc về thần học, vừa diễm ảo về văn chương, chính cấu trúc câu chuyện chuyến đi khứ hồi Giêrusalem-Emmau-Giêrusalem là bức phóng biểu tượng cho "cuộc qui hồi " sắp thực hiện trong lòng hai môn đệ. Câu chuyện sẩy ra vào ngày "thứ ba sau khi Ðức Giêsu lìa trần" ngày mà, thánh Luca, ngay những dòng mở đầu của Tin Mừng, đã coi như "ngày thứ nhất trong tuần" và các Kitô hữu đã sớm gọi là "ngày Chúa nhật", ngày của Chúa.
Hai môn đệ trở về Emmaus, làng xưa yêu dấu, các bậc thức giả còn tranh luận về địa điểm của làng này.: nhưng có gì là quan trọng. Ðiều cốt thiết đối với chúng ta hôm nay chính là khám phá kinh nghiệm lữ hành mà hai môn đệ xưa đã trải "với những bước chân nặng nề" (Fiche A.124), một kinh nghiệm mà có lẽ vẫn còn tái hiện mọi nơi trong cuộc lữ thứ này. Tác giả Tin Mừng kể lại; "trò chuyện với nhau" nhưng chỉ quanh đi quẩn lại với một vắn nạn nan giải duy nhất: cái chết của Thầy họ đã dập tắt mọi hi vọng họ đã ấp ủ trong lòng và xóa sổ nhóm mười hai môn đệ. L.M. Chauvet chú thích: Họ trò chuyện với nhau, câu chuyện chỉ xoay quanh đời họ va lời giải đáp cho cái chết thất hại của thầy mình, mắt họ vẫn còn bị bưng bít" trí họ cũng bị phong tỏa như mắt họ, tất cả còn phong kín, họ tự phong tỏa chính mình, với các chết của Ðức Giêsu trong âm phủ: cửa mộ đã bị một tảng đá lớn bít kín." ("Từ biểu tượng đến biểu tượng", Cerf, tr.89) Ðang chuyện vãn với nhau trên đường chiều mòn mỏi, chợt một người bắt kịp họ và "cùng họ đồng hành". Người cách lạ hỏi ngay đến vấn nạn của họ các anh vừa đi vứa trao đổi với nhau về chuyện gì vậy? " Câu hỏi được gợi lên như một điểm dừng cho cuộc hành trình nổi trôi không mục đích của họ: "họ dừng lại vẻ mặt buồn"; câu hỏi ân cần ấy đã kết thúc câu chuyện riêng rư giữa hai người để có dịp thổ lộ với một người thứ ba về niềm hi vọng đã mất của họ: "chúng tôi cứ ngỡ.... Ðiều khiến Cléopas ngỡ ngàng vì người khách lạ hầu như chẳng biết tí gì, trùng hợp lạ lùng với lời rao giảng tông đồ trong bài diễn từ của thánh Phêrô tại nhà viên bách quản Corneille (Xem: Bài đọc một chúa nhật phục sinh") và trong bài diễn từ của thánh Phêrô ngày lễ Ngũ tuần. (Xem: Bài đọc một Chúa nhật thứ ba phục sinh) Nắm trong tay mọi mã số của ô chữ, nhưng không có chìa khóa để giải mã ra để tìm ra ý nghĩa. "Toàn bộ nội dung đã được trao ban, đã được công thức hóa hoàn chỉnh, kinh tin kính được đọc đi đọc lại, Tin Mừng đã được tóm tắt,...chỉ còn thiếu một đốm lửa,.. người lữ khách đã ngân nga tất cả ngay dẫn lời báo trước diệu kì "Ngài hàng sống" với nét mặt buồn thẳm. Ông còn thiếu niềm tin, ơn đức tin, ánh sáng đức tin sẽ chiếu sáng, sẽ mang lại ý nghĩa cho câu chuyện. Tất cả đều đợi chờ lúc màn bí mật được vén lên" ("những người hành hương về Emmaus, tr. 61-62)
Từ ngõ cụt đến llưừng đi. Người khách lạ chăm chú lắng nghe họ, giờ thì họ bắt đầu lắng nghe Ngài. Ngài duyệt lại cuộc sống và cái chết của Thầy họ, "mọi điều liên quan tới Ngài" dưới ánh sáng Thánh Kinh. "Và, khởi đi từ Môsê và các tiên tri" Ngài hé mớ cho họ thấy thánh ý nhiệm mầu của Thiên Chúa đã thể hiện giữa những biến cố mà họ cho là thê thảm ấy. Cái chết của Ðức Giêsu, đối với họ dường như là một ngõ cụt, thực sự lại là đường "dẫn đến sự Sống". Nào Ðấng Kitô lại chẳng phải chịu khổ hình như thế, rồi mới vào trong vinh quang của Người sao" L.M. Chauvet giải thích thêm: khi nghe nói về Ðức Giêsu khi đón nhận chứng từ của Ngài về chương trình Thiên Chúa trong Kinh Thánh (Môsê và các tiên tri), lòng họ vẽ nên một hình ảnh khác về Ðức Giêsu vị tiên tri" bắt đầu biến hình thành Ðức Kitô! thành Ðấng thiên sai phải chịu đau khổ và chịu chết để bước vào chốn vinh hiển. " (sách đã dẫn, tr.90)
Họ được mời gọi đảo ngược tận căn niềm tin của mình: Làm sao mà Ðấng Thiên Sai của Thiên-Chúa lại có thể phải trải qua cái chết như thế được? nhưng một điều gì đó đã nẩy mầm trong lòng họ; tảng đá nặng nề phong tỏa họ đã bắt đầu lung lay "Xin ở lại với chúng tôi" họ khẩn nài khi đến gần ông vì trời dã chiều và đêm đã xuống".
3. Từ mê lẩm đến đốn ngộ
Giờ thì cả ba đang ở trong quán trọ, người lữ khách đang "đồng bàn cùng họ. Những cử chỉ Ngài thực hiện "Ngài cầm lấy bánh, đọc lời chúc tụng, bẻ ra và trao cho họ", chính là những cử chỉ của Chúa trong bữa tiệc li.
Thánh Luca, nếu chẳng phải là qua các việc làm thì chí ít trong hướng cũng muốn nhắm đến các tín hữu hội nhau mỗi ngày thứ nhất trong tuần. Và thật bất ngờ, họ đã hiểu rõ ngọn ngành: khi ấy, mắt họ liền mở ra và họ nhận biết Ngài". "Người đã chết chính là Ðấng hằng sống! vẫn Ðấng ấy nay đã biến thành một người khác, chính họ cũng biến thành người khác. Vì mắt họ nay đã mở ra để thấy được mình cũng như thấy được Người. Việc duyệt lại đời Ngài giúp họ duyệt lại đời mình, nhận biết ngài phục sinh đánh dấu sự phục sinh của riêng họ. Lòng ta đã chẳng bừng cháy lên khi ngài cắt nghĩa Kinh thành cho ta trên đường chiều đó sao? Trong khi hồi tưởng, niềm tin nơi Ðức Kitô phục sinh đã phục hồi quá khứ rã rời và mở ra cho họ một tương lai mới".
Tháng ngày quá vãng dường như đã chết của họ nay bắt đầu hồi sinh, mắt đã được hàn gắn và uốn nắn lại: mô thức có tính "biểu trưng" của bí tích đã phác họa, nối kết và hình thành nên nó, bây giờ họ tìm thấy nơi nó một ý nghĩa chắc chắn...tương lai đã biến đổi: nếu thực sự thập giá là sống giây phút hiện tại với Thiên Chúa và với mình, thì còn có gì không thực làm được nữa đây " (LM. Chauvet, sách đã dẫn, tr. 91-92) Ðức Giêsu có thể "biến mất khỏi tầm nhìn" của các môn đệ đã lấy lại được niềm tin. Họ đã tìm lại được người, hằng sống, trên đường đời của họ. Phục sinh, từ nay "Ngài ở với họ" và tỏ mình ra cho họ qua những dấu chỉ của niềm tin, lôi kéo họ vào mầu nhiệm phục sinh
4. Từ sự tan nát.đến chỗ tuyên xưng niềm tin của Hội Thánh.
Con đường dẫn đưa những người lữ khách từ Giêrusalem đến quán trọ Emmau sao mà xa xôi vạn lí. Ấy vậy mà lúc trở về Giêrusalem lại chỉ trong phút giây vì Tin Mừng đang cháy bỏng trong tim là trên môi họ. Chính nhóm mười một và thân hữu lại tập họp nhau và thông báo với họ trước rằng "Chúa đã phục sinh: Ngài đã hiện ra với Si-on Phê-rô. " Bấy giờ, họ cũng kể lại những diễn biến trên đường và nhờ đâu họ đã nhận ra được Ngài khi Ngài bẻ bánh".
Cuộc trở về nguồn cội, nghĩa là trở về với cái nôi phát sinh Hội thánh, tức Giêrusalem, tượng trưng cho cuộc trở lại nỗi buồn sang niềm vui, từ sự lùi bước đến dấn thân, từ sự tan tác đến kết đoàn, nhóm những người theo Chúa đã tản mác ở đầu câu chuyện, nay đã tái hợp, nhưng khác hẳn ngày xưa, họ đã chết, nay họ "sống lại". Ngày lễ Phục Sinh của Chúa Giêsu đã biến thành ngày Lễ phục sinh của riêng họ: là một nhóm nhỏ, họ cũng đã đi qua cái chết được phục sinh thành Hội Thánh. " (LM chauvet.. sách đã dẫn.)
II. BÀI ÐỌC THÊM:
1.Câu chuyện này là bản lược đồ hay khuôn mẫu chính xác của nền phụng công giáo (H. Denis, "100 từ để tuyên xưng niềm tin", Desclie de Brouwer, tr. 145-146).
Câu chuyện sống động này chính là bản lược đồ hay khuôn mẫu xác thực của tất cả nền phụng vụ công giáo, đặc biệt là bí tích Thánh Thể. Hãy đọc lại sẽ thấy. Phụng vụ luôn bắt đầu bằng việc tập họp. Ðây là điều không thể thiếu được Các bạn đang đồng hành trên con đường sự sống. Có lẽ đã quá quen nhau nên không nhận ra Ðức Kitô, người bạn đồng hành vừa gia nhập vào nhóm của các bạn. Một cộng đoàn phụng vụ tự cơ bản là một cộng đoàn được hình thành, gắn bó với Ðức Kitô, trở nên thân thế của Ðức Kitô. Hội Thánh...Nhưng rồi, người ta xao lãng, người ta có những mối quan tâm khác, thế là bạn nói chuyện ngay ngoài cửa nhà thờ, bạn kể cho nhau vài tin tức trước khi bước vào hay khi đã ngồi vào ghế cho đến lúc bạn tự hỏi xem đời mình có thể nối kết với đời sống của Ðức Kitô và đời sống của Ðức Kitô có thể nối kết với đời mình không. "Sao, có lẽ ông là người duy nhất trú ngụ tại Giêrusalem mà không hay biết những chuyện đã xảy ra trong thành mấy bửa nay... " Cộng đoàn là một tập thể có khả năng lắng nghe Ðức Giêsu. Ðó chính là phụng vụ lời Chúa, trong đó, dù là ngày nào đi nữa thì cũng vẫn là Ðức Giêsu cho biết mình đã kiện toàn lề luật và các tiên tri ra sao. Bây giờ, ta có thể bước vào trong thâm cung nhà Chúa. "Hãy ở trong Thầy là Thầy ở trong anh em" (Ga 15,4) nhà của những người đồng hành trên đường Emmaus đã biến thành nơi chia sẻ tấm bánh. Kì diệu tham chính trong việc hé ra, chia sẻ, việc Thiên Chúa tự hiến mà người ta nhận biết nhau. Những con mắt mở ra để khám phá, không phải sự trần trụi của thân xác hay chết như trong vườn Ê-đen xưa kia, mà là vẻ rực rỡ huy hoàng của Ðấng Phục sinh đã tự nguyện mặc lấy thân xác mọn hèn phải chết của chúng ta. Sự nhận biết đầy kính tin cấm người ta chạm đến Ðấng Phục sinh. Hiện diện trong xa vắng. Ðức Giêsu đã xa khuất tầm nhìn của họ... Thế cũng đã đủ để họ ra đi, hợp nhất niềm tin với các tông đồ, hãy ra đi trong bình an của Ðức Kitô. Hãy ra đi loan báo cho các anh em: Ðức Kitô đã sống lại. alleluia.
2. Câu chuyện diễm tuyệt và xác thực dành cho các tín hữu mọi thời. (M. Sevin, trong "Hồ sơ Kinh thánh", số 41, tr. 22).
Mong sao độc gia Tin Mừng hiểu được rằng câu chuyện nào nhắm đến họ. Ðến lượt anh, họ tự hỏi làm sao thấy được Ðấng Phục sinh. Câu trả lời là: mắt trần hoàn toàn vô dụng, sự hiện diện của Ðấng Phục sinh khác hẳn sự hiện diện của Ðức Giêsu tại Nazarét. Ðây là một sự hiện diện mới mẻ, chỉ tỏ hiện với con mắt đức tin được nuôi bằng Kinh thánh và việc chia sẻ bữa ăn với Ðức Giêsu: Nếu muốn thấy và sống sự hiện diện của Ðấng phục sinh các tín hữu phải trang bị cho mình hai điều kiện ấy vì họ luôn có sẵn trong tay Thánh kinh và Thánh Thể.
Ở đây thánh Luca, đã viết nên một câu chuyện diễm tuyệt và xác thực cho các tín hữu mọi thời.
admin
20-02-2011, 11:57 AM
CNPS4
CHÚA NHẬT IV PHỤC SINH
ÐỨC GIÊSU: MỤC TỬ NHÂN LÀNH
VÀ CỬA CHUỒNG CHIÊN
(Ga 10, 1-10)
I. VÀI ÐIỂM CHÚ GIẢI:
1. Ðức Giêsu, mục tử nhân lành.
Bài Phúc âm hôm nay nằm trong văn mạch của một cuộc luận chiến tiếp sau việc chữa lành người mù bẩm sinh vẫn ngồi ăn xin bên cửa đền thờ, (Phúc âm Chúa nhật thứ bốn mùa chay, năm A) những người biệt phái tự xưng là sáng mắt và tự nhận là những bậc linh sư trong dân, thực ra, ngày càng chìm sâu trong sự mù quáng của mình, trong khi đó, người mù được chữa lành, không ngừng được khai sáng đến độ dám tuyên xưng mầu nhiệm Ðức Giêsu, nhìn nhận Ngài là "Con Người" và là "Ðấng Thiên sai bị người do thái trục xuất khỏi hội đồng và được Ðức Giêsu đón nhân, ông trở thành mẫu mực của người có niềm tin, điển hình của con chiên nhận ra Người mục tử để được dẫn về cùng Chúa Cha (X. lon Dufour, "Ðọc Tin Mừng Gioan " Tập 2, Seuil, 1990, tr..348)." Ðức Giêsu kết luận" ta đến trần gian chỉ là để cho những kẻ không thấy được thấy là những kẻ thấy trở nên đui mù" Thế rồi, tác giả Tin Mừng chuyển thẳng sang dụ ngôn vị mục tử nhân lành, một hình ảnh quen thân trong Kinh Thánh. Thật vậy, trong suốt lịch sử Do thái, Thiên Chúa luôn tự giới thiệu như là vị Mục Tử của dân người, Ðấng đã chọn lấy cho mình những tôi tớ, cũng được gọi là "mục tử ", để trao cho họ trách nhiệm dẫn dắt dân Chúa theo người. Tiếc thay họ thường bất xứng với sứ vụ này và vậy các tiên tri đã loan báo một thời đại mà chính Thiên-Chúa, qua Ðấng Thiên Sai, sẽ nắm quyền lãnh đạo dân người.
Ở đây Ðức Giêsu tự giới thiệu mình là vị Mục Tử nhân lành, vị Mục Tử thiên sai, người gọi "tên từng con chiên một và "dẫn chúng đi ăn"! khác hẳn những tên trộm đạo đến trấn lột đoàn chiên hay những kẻ chăn thuê không bao giờ dám mạo hiểm vì đoàn Chiên. Nên đặc biệt chú ý đến kiểu nói này vì trong Thánh kinh, nó gợi lên: cuộc xuất hành đầu tiên, khi Chúa "dẫn đưa" Israel ra khỏi nhà nô lệ. (Ex 3.10; 6, 27; Lev. 19,36)
Lời cầu nguyện của Môsê, xin Chúa chọn người kế vị mình "một người sẽ lãnh đạo cộng đoàn,..sẽ đưa chúng ra đi và dẫn chúng trở về để chúng không trở thành những con chiên không người chăn giữ" (Nom. 27, 17)
Cuộc xuất hành mới là quyết định được các tiên loan báo "ta sẽ đưa đoàn chiên ta ra khỏi muôn dân, sẽ qui tụ chúng lại từ muôn nước và đưa chúng về cố hương" (Ez.34,l3)
Thành toàn những lời tiên tri trong Cựu ước, Ðức Giêsu là Mô-sê mới đến qui tụ đoàn dân mới của Thiên- Chúa và "dẫn đầu ","đưa họ ra đi" trong cuộc xuất hành mới, trên đường về miền đất hứa.
Ðức Giêsu dùng dụ ngôn này để nói vớí người "biệt phái" là những người, theo tác giả Tin Mừng, không hiểu được điều Ngài muốn nói với họ" khiến Ngài phải đề cập đến một chủ đề mới, đó là cửa chuồng chiên.
2. Ðức Giêsu là cửa chuồng chiên
"Cửa chuồng chiên" khi nói thế, Ðức Giêsu muốn minh định mình là lối vào duy nhất để gặp được đoàn chiên. "để đến với đoàn chiên, hình ảnh của dân Thiên-Chúa, phải đi qua Ðức Giêsu. Ngoài ngài ra, không còn cách nào để đến với dân Chúa và với sự sống. " A. Marchadour, "Tin Mừng theo thánh Gioan", Centtưion, 1992,p.143).
"Cửa chuồng chiên" khi nói thế, Ðức Giêsu minh ảnh mình là cửa mà mọi con chiên phải đi qua nếu muốn được tự do và đạt được sự sống viên mãn. A. Machadour viết tiếp ngoài Ngài ra, không ai có thế tự xưng là người mang ơn cứu độ cho nhân loại được. Ðức Giêsu là cửa vì qua Ngài, con người đạt được ơn cứu độ và được sống, khung cảnh đền thờ cho phép ta lấy đơn vị (cửa) để cắt nghĩa tổng thể (đền thờ) Ðức Giêsu tự giới thiệu mình như đền thờ mới trong đó con người tìm được tự do và sự sống".
II. BÀI ÐỌC THÊM
1.Những liên hệ dựa trên những hiểu biết cá nhân, tức tình yêu (J. potin Ðức Giêsu, lịch sử đích thực Centurion, 1994,p. 370-371).
Vượt trên cuộc luận chiến, dụ ngôn và bài học áp dụng minh định mối tương giao giữa Ðức Giêsu và con người, chưa biết rõ tên những người của mình, từng người một. Ngài không đẩy họ đi trước mình, nhưng Ngài đi trước họ, dẫn đường cho họ, nói với từng người, thu hút họ hơn là hướng dẫn họ, tuy nhiên, sói không ngừng lảng vảng quanh đoàn chiên, rình bắt những con chiên bất cẩn xa đàn, vị mục tử đích thực sẵn sàng đương đầu với sói vì mỗi con chiên đều quí giá vô ngần. Ngài sẵn sàng hi sinh mạng sống vì chiên. Mối tương giao giữa họ hệt như giữa Chúa Cha và Chúa Con. mối rương giao ấy dựa trên sự hiểu biết riêng tư về nhau, nghĩa là trên tình yêu. Cha biết Con sẵn sàng tự hiến trọn vẹn cho những ngài bước theo và sẽ bước theo mình.
2..Chúa là mục tử của tôi. (H. Denis, trong "100 từ ngữ để nói lên niềm tin". Desclée de Brouwer,1993, p.149-l50)
Chúa Mục tử, Chúa là Ðấng mà với Ngài, trong cảnh nghèo khó cùng cực, người ta có thể cảm nghiệm và hiểu biết được sự phong phú của Thiên Chúa, đây chính là niềm ủi an mới của mùa phục sinh này, các bạn đã là những con chiên lạc, nhưng giữa các bạn, Con Chiên không tì vết đã hiến mình, và hóa thân thành mục tử, thành người chăn giữ mạng sống quí giá của các bạn.
Mục tử, một từ dân dã, một nghề gần như đã mai một còn chăng chỉ có những du khách lâu lâu gặp thấy những người chăn cừu vùng sơn cước. Tuy nhiên chúng ta còn nhạy cảm với hình ảnh của người mục tử với chiếc tù và đang tập họp đoàn chiên, hơn thế nữa, người ta còn xúc động khám phá ra tấm lòng của Thiên Chúa, khi nhìn thấy người mục tử mệt lả vác con chiên lạc trên khi đưa trở về bầy.
Ðức Giêsu chính là người muốn qui tụ về đàn chiên duy nhất của Ngài toàn cá nhân loại được thánh tẩy trong máu con Chiên, điều đó khiến ta khiêm tốn. Tôi muốn nói rằng Ðức Giêsu không bao giờ quả quyết Ngài, chỉ là mục tử của các tín hữu, và chuồng chiên của Ngài chỉ gồm các Hội thánh công giáo. Trong Tin Mừng của Thánh Gioan. Ngài tự giới thiệu mình như là Ðấng đưa dẫn mọi người thiện chí về đồng cỏ xanh, là đấng mà mọi người đều có thể nhận ra tiếng Ngài.
Các linh mục hay các mục tử không thể trở thành sở hữu chủ của những người mà họ phục vụ được. Vì thế, từ mọi đồng cỏ, mọi tôn giáo, mọi nền văn hóa đều có thể hướng về trời cất tiếng ca: "Chúa là mục tử tôi, tôi chẳng thiếu thốn chi".
3. Loan báo nhữgn kỳ công Chúa đã thực hiện nơi ta và nhờ ta (Tài liệu của uỷ ban khuyến khích ơn gọi toàn quốc.) Cầu nguyện cho ơn kêu gọi, ngày thế giới cầu nguyện cho ơn kêu gọi...những bản văn được đề nghị cho ngày này mời gọi ta vừa tiến bước, vừa đi theo con đường hòa nhập vào một cộng đoàn thuộc về Ðức Giêsu và mời gọi ta làm theo thánh ý Thiên Chúa, nghĩa là làm lành, sống trong tình yêu nồng nàn và thực sự của Ðức Giêsu đối với thế giới bằng cách sống chiến đấu cho công bằng và qua đó biểu tỏ tất cả! niềm hi vọng trong chúng ta. Ðức Kitô đã ban lời Ngài để nó thấm nhập, tăng trưởng, đâm rễ và triển nở trong đời sống chúng ta. Lời Chúa mở cửa, mời gọi đón nhận và nhận biết sự tùy thuộc vào Thiên-Chúa tình yêu, Thiên-Chúa của Ðức Kitô Ðấng biết rõ từng tên, từng người chúng ta. Ngài kêu gọi chúng ta, không phải để nhốt ta trong vòng rào mênh mông, hầu gìn giữ hay che chở chúng ta, nhưng như những con chiên mà Ngài kêu gọi, 'Ngài đưa chúng ra ngoài" để nghe rõ tiếng Ngài hơn, và nhận ra con đường mà chính Ngài đã mượn, trên đó, Ngài dấn bước, ra đi và khơi dậy niềm tự do để người ta được sống và sống dồi dào.
Tất cả những điều này đều có thể thành toàn nhờ cầu nguyện, tiếp xúc thân mật với Ðức Kitô, nhờ mối dây tình yêu thương hằng và liên tục giữa lòng với lòng, vì thế cầu nguyện cho ơn gọi có nghĩa là cầu nguyện cho con người, chia sẻ cuộc sống của Thiên-Chúa, trở nên những cộng đoàn, xây dựng những cộng đoàn Kitô hầu sống động và tích cực. Còn về ơn gọi linh mục, tu sĩ, đừng mong những phép lạ, không phải chỉ cầu nguyện là có nhiều ơn gọi đâu. điều đó chỉ có được nếu chúng ta cầu nguyện trong chân lí, bằng cách xây dựng những cộng đoàn Kitô hữu thực sự, lúc bấy giờ, tự nhiên sẽ có những lời đáp trả. Nếu hôm nay, 5 triệu tín hữu Pháp tuyên xưng niềm tin vào Ðức Kitô đã chết và phục sinh, thì sẽ có 5 triệu "ơn gọi" vì thế ngày nay, cần phải nói lên điều mình sống, điều mình tin, loan báo những kì công Thiên-Chúa đã thực hiện nơi ta và qua ta.
admin
20-02-2011, 11:58 AM
CNPS5
CHÚA NHẬT V PHỤC SINH
TA LÀ ÐƯỜNG LÀ SỰ THẬT VÀ LÀ SỰ SỐNG
(Ga 14,1-12)
I.VÀI ÐIỂM CHÚ GIẢI:
1.Ðường về với Chúa.
Cũng giống như Chúa nhật tới, bài Phúc âm Chúa nhật thứ 5 phục sinh hôm nay trích từ chương 14, diễn từ sau bữa tiệc li" với những từ như "ra đi" "đi tới" "trở lại", "con đường". A. Marchadour minh định chương này ("được kế cấu xung quanh cuộc trở về với Chúa Cha của Chúa Cha vai trò độc nhất của Chúa Con trong việc đưa dẫn huynh đệ của mình về với Chúa Cha. " (Tin Mừng Gioan, Centurion, 1992, p. 190) những lời loan báo liên tiếp về việc Judas phản bội ("1 trong các con sẽ phản Thầy":14:2) về cuộc ra đi dứt khoát của riêng Ngài ("Thầy chỉ còn ở với các con một ít nữa 13,38) và về việc Phêrô chối thầy (trước khi gà gáy, con đã chối ta ba lần:l3,38)đã khiến các môn đệ hoang mang -" X lon Dufour nhận xét "sự hoang mang ấy không chỉ vì phải xa cách người thực sự cần thiết cho đời họ, mà cũng còn vì nỗi thất vọng sâu xa khi lượng giá công việc của Chúa Jesus mà họ đang trông mong kết quả" (Ðọc Tin mừng theo thánh Gioan, tập 3, Seuil, 1993, tr 90). Do đó mới có lời Ðức Giêsu kêu gọi: "Lòng anh em đừng xao xuyến, hãy tin vào Thiên-Chúa và hãy tin vào Thầy chớ gì họ cậy dựa vững vàng vào lời Ngài và vào chính Ngài. Dufour viết tiếp: "Ðức Giêsu dựa trên niềm tin của người Do thái, và những người không bao giờ tự coi mình độc lập trong mối liên hệ với Thiên-Chúa, đấng ban cho thụ tạo sự kiên vững của đá tảng, Ngài cũng dựa vào niềm tin vào chính mình Ngài, nếu họ còn có thể theo Ngài, các môn đệ chỉ dựa vào Ngài, như dựa vào chính Thiên Chúa". Vì thế nếu Ngài có ra đi, thì cũng chính là để trở lại nhà Cha, nơi Ngài sẽ "dọn chỗ sẵn cho họ" Từ chủ đề "ra đi" bài diễn từ sau bữa tiệc li bắt sang đường đi, Thầy ở đâu, anh em cũng sẽ ở đó. Thầy đi đâu thì anh em biết đường rồi Ðức Giêsu bảo họ như vậy bấy giờ Tôma mới hỏi: "Thưa Thầy, chúng con không biết Thầy đi đâu làm sao chúng con biết được đường?" Chúa long trọng đáp "Thầy, Thầy chính là đường, là sự thật và là sự sống. Không ai đến được với Chúa Cha mà không qua Thầy! X. lon Dufour đã diễn dịch câu nói ấy như sau:!'Tôma, nếu anh tin Thầy là chân lý và là sự sống, chắc chắn anh sẽ tìm thấy nơi Thầy con đường đưa về với Cha, đó là nơi Thầy đi đó là nơi Thầy ở. " Ðức Giêsu, trong đoạn 10,9, đã tự coi mình như là "cửa" dẫn đến sự sống, ở đây.. lại nói như mình đã ở nơi mà các môn đệ muốn đến, bằng công thức vắn gọn này, Ngài thực sự công bố về tính đồng nhất sẽ còn vang vọng mãi trong nên chiêm niệm Kitô giáo" (p. 100)
2. Bày tỏ Chúa Cha.
Thấy thế, Philipphê mới lên tiếng: Thưa Thầy, xin tỏ cho chúng con thấy Chúa Cha, như thế là chúng con mãn nguyện rồi và Ðức Giêsu đáp lại thấy Thầy, là thấy Chúa Cha rồi trong cuộc sống, mọi lời nói và việc làm của Ðức Giêsu là một biểu hiện hoàn hảo hình ảnh của Chúa Cha vì người kết hợp mật thiết với Chúa Cha "anh không tin rằng Thầy ở trong Cha và Cha ở trong Thầy ư?" cuộc sống của Ngài, đó là Chúa Cha thực hiện qua Ngài, lời Ngài nói đó là tư tưởng của Chúa Cha.
3..Ðức Giêsu tiếp tục làm việc qua các môn đệ.
Nhắc lại lời mời gọi tin tưởng trên, Ðúc Giêsu bắt đầu mạc khải cho các môn đệ biết cuộc sống mới của họ sẽ ra sao: "Ai tin vào Thầy, thì người đó cũng sẽ làm được việc Thầy làm. Người đó còn làm những việc lớn hơn nữa, vì Thầy đến cùng Chúa Cha. " Cho dù, hay đúng hơn Ngài về cùng Cha, mà các môn đệ sẽ sống cuộc sống Ngài không ngần ngại đồng nhất với cuộc sống chính mình. X. lon Dufour còn minh định thêm: Không phải vì cuộc sống cua ngài vẫn là gương mẫu, nhưng vì chính Ngài sẽ là tác giả đích thực của những họ thực hiện, đọc kĩ bản văn, người ta thực sự thấy rằng người tín hữu sẽ không làm những việc Ðức Giêsu đã làm, nhưng là những việc Ngài đang làm và sẽ làm: Chúa Cha tiếp tục được tôn vinh nơi trần thế, từ đây,sứ mệnh Ngài đã hoàn tất phải đơm bông kết trái trong thời gian và không gian: và điều ấy được thể hiện nơi hành động của các tín hữu." (p.l07)
II. BÀI ÐỌC THÊM:
1.Thiên Chúa thật gần". (H. Vulliez, Desclée de Brouwer, 1992, tr.61-62).
Khi Phúc âm thứ tư được viết ra, chắc chắn "những biến cố " đã sẩy ra hơn 60 năm, các cộng đoàn tín hữu ở Palestine, Tiểu á, và các nơi khác đã chịu rất nhiều đau khổ. Họ phải chịu những cuộc tấn công dai dẳng trong các vùng có người Do thái. Họ đã bị chính quyền Rôma bách hại triền miên. Ðặc biệt niềm tin của các Giáo Hội Tiểu á lúc ấy đã rung động trước những luồng tư tưởng cho rằng mình khiến người ta quá tin vào trời cao mà kinh chê trần thế, chỉ để ý đến tâm hồn mà coi thường thân xác nhưng cuộc sống thề trần và sự phục sinh có đối nghịch đến độ phải khước từ cuộc sống này để sống cuộc sống kia không? Chẳng lẽ cứ phải trải qua cái chết mới được phục sinh hay sao?
Tác giả Tin Mừng nhấn mạnh: người tín hữu đã sống cuộc sống phục sinh ngay trên trần thế này. Niềm tin vào Ðức Kitô hằng sống đã xóa bỏ khoảng cách giữa những sự dưới đất và trên trờ. Niềm tin ấy giúp người ta sống ngay trên trần thế cuộc sống vĩnh hằng của Thiên Chúa... Chân lí thật khó hiểu và khó chấp nhận, cũng thế, Ðức Giêsu nhà sư phạm đại tài, để dẫn đưa người nghe vào trong ánh sáng của Thiên Chúa, đã lợi dụng sự cứng tin của Tôma và Philipphê "Thưa Thầy chúng tôi không biết Thầy đi đâu, làm sao chúng con được đường?" Lầm lớn? Ðây không phải con đường tính được bằng kilômét. Khoảng cách giữa cuộc sống trần thế và cuộc sống phục sinh không lớn hơn khoảng cách giữa Chúa Cha và Chúa Con: Cha ở trong Con và Con ở trong Cha. Niềm hi vọng về điều đã có và chưa có sẽ triển nở và đâm bông trong lòng người tín hữu như vậy đó.
Hoàn cảnh của cộng đoàn tín hữu giữa cuộc sống trần gian của Ðức Giêsu và ngày Ngài trở lại. ("Célébrer", số 258, tr.34, tháng 3.l996)
Ðâu là vị trí của cộng đoàn tín hữu giữa cuộc sống trần gian của Ðức Giêsu và ngày Ngài trở lại?
Trước tiên, cộng đoàn tín hữu sống trong mềm hi vọng vô bờ một ngày kia sẽ được sống với Ðức Giêsu rong nhà Cha Ngài: "Thầy ở đâu, anh em cũng sẽ ở đó"! Sau đó họ biết được đường đi: "Thầy là đường là sự thật và là sự sống; không ai đến được với Chúa Cha mà không qua Thầy" hơn thế nữa, họ còn biết được Chúa Cha, họ đã "thấy" Ngài: "Ai thấy Thầy, là thấy Chúa Cha" Thấy Ðức Giêsu, dĩ nhiên là biết được Ngài bằng niềm tin, là "nhận ra Ngài là con duy nhất, là lời sáng tạo vĩnh hằng đến độ khi Ðức Giêsu nói, tôi biết rằng Ngài nói những lời của Chúa Cha, khi Ðức Giêsu hành động, chữa lành, tha tội, phó mình cho đao phủ, tôi biết rằng Ngài làm theo ý Chúa Cha và Chúa Cha đã chữa lành, tha tội, tự hiến hoàn toàn qua Ngài. Tôi biết Cha và Con là "một"!
Như vậy, cộng đoàn tín hữu đã thực sự biết Ðức Giêsu bằng đức tin, đến lượt mình có thể nhận biết Chúa Cha và hoàn thành những công việc của Người được không? được, Ðức Giêsu nói thế và còn hơn thế nữa, vì Thầy đến cùng Chúa Cha". Qua những lời này, ta có thể hiểu rằng Ðức Giêsu phục sinh đã mặc lại trọn vẹn sức siêu nhiên mà Ngài đã tự giới hạn khi mặc lấy thân phận tôi đòi mặc lấy nhân tính. Cũng vậy, một khi đã được mời gọi tiếp tục sự nghiệp của Chúa Giêsu trên trần gian cộng đoàn các Tông đồ, bằng đức tin của mình, thực sự thông phần với Thiên-Chúa, họ là cộng đoàn những người con trong Ðức Giêsu, Thiên-Chúa Con.
admin
20-02-2011, 11:59 AM
CNPS6
CHÚA NHẬT VI PHỤC SINH
THẦY SẼ KHÔNG BỎ CÁC CON MỒ CÔI
(GA 14, 15-21)
I.VÀI ÐIỂM CHÚ GIẢI:
1.Lời hứa sẽ hiện diện giữa các môn đệ.
Ðoạn Tin Mừng chúa nhật trước kết thúc với lời loan báo rằng sứ mệnh của Ðức Giêsu sẽ sinh hoa kết quả trong thời gian và không gian qua việc làm của các tín hữu "Ai tin vào Thầy sẽ làm được những việc Thầy làm. Người đó còn làm những việc lớn hơn nữa vì Thầy đến cùng Chúa Cha".
Trước tiên, câu 16 và 17 là lời hứa ban Chúa Thánh Thần: "Thầy, Thầy sẽ xin Chúa Cha, và Người sẽ ban cho anh em một Ðấng bảo Trợ khác đến ở với anh em luôn mãi: đó là Thần Khí sự thật " Thánh Thần được Chúa Cha ban xuống nhờ sự can thiệp của Chúa Con. Nhiệm vụ của Ngài là: "Ở với anh em luôn mãi". Ðây cũng chính là ý nghĩa của tên Ngài. vì thế, đây là một sự hiện diện thường xuyên, "luôn mãi"; sự hiện diện như bóng với hình bên người tín hữu và ở với họ với anh em...bên cạnh anh em...trong anh em. " Ngài được gọi là Ðấng Bảo Trợ. Ngài sẽ là trạng sư của các môn đệ Chúa và là Ðấng bào chữa cho họ. Ngài sẽ phụ lực và giúp đỡ họ trong vụ kiện sống còn mà "thế gian" theo đuổi để chống lại Ðức Giêsu và các môn đệ Ngài. Ngài được gọi là Thần Khí sự thật: Ngài sẽ đào sâu đức tin cho họ, làm cho họ hiểu biết "tận đáy lòng " cuộc sống Ðức Giêsu và sứ điệp của Ngài (xem Gioan 14,25;16,12-15) Ngài sẽ soi rọi những hoàn cảnh mới và những gì mà các môn đệ sẽ phải đương đầu.
Tiếp theo sau, các câu 18-20 là lời hứa ban một kiểu Hiện Diện khác của Ðức Giêsu: "Chẳng bao lâu nữa, thế gian sẽ không còn thấy Thầy. Phần anh em, anh em sẽ thấy Thầy vì Thầy sống và anh em cũng sẽ được sống".
Lời hứa về sự hiện diện hoàn toàn mới mẻ này sẽ trở thành hiện thực vào chính ngày lễ Phục sinh: các môn sẽ thấy Ðấng phục sinh (Gioan 20, 20-25) nhưng những cuộc hiện ra trong dịp phục sinh không phải là kết thúc. Chúng mở màn cho một Sự Hiện Diện kéo dài, một sự Hiện Diện dành riêng cho con mắt đức tin. Cuộc sống của Ðức Giêsu khơi nguồn một kỉ nguyên mới "khởi đầu với vinh quang phục sinh của Chúa và kéo dài trong thời gian với Giáo Hội, trong suốt cuộc sống chúng ta, Chúa đến, chúng ta nhìn thấy Người, đây không còn phải là thị kiến của các môn đệ trước Ðấng Phục Sinh nữa mà là một thị kiến của niềm tin giúp ta ý thức về sự hiện diện, hiệp thông đời sống " (Assemblées du Seigneur số 27, p 42)
2. Cuộc sống vĩnh hằng đã khởi đầu.
Trong thời đại của Giáo-Hội, Ðức Giêsu hiện diện cùng với Chúa Cha và Chúa Thánh Thần. Tiếp sau sự hiện diện lịch sử của Ngài là một kiểu hiện diện mới mang lại cho chúng ta một nếp sống mới, hợp nhất với Ðức Giêsu và Chúa Cha dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần."
Như vậy, với các môn đệ, đời sống vĩnh cửu đã bắt đầu, cuộc sống họ "ngay trên trần gian này đã tương đương với cuộc sống của Ðấng Phục Sinh, đã thông phần nơi cuộc sống của chính Thiên Chúa, với cuộc sống cua Chúa Ba Ngôi cuộc sống họ là một sự hiệp thông, trong tình yêu, nơi từng ngôi Thiên Chúa đang ở trong họ. (M.E.Boismard và A. Lamouille, "Tin Mừng thánh Gioan" Cerf,p.360) "Chẳng bao lâu nữa, thế gian sẽ không còn thấy Thầy. Phần anh em, anh em sẽ được thấy Thầy vì Thầy sống giữa anh em cũng sẽ sống, Ðức Giêsu hứa như vậy. ngày đó anh em sẽ biết rằng Thầy ở trong Cha Thầy anh ern ở trong Thầy là Thầy ở trong anh em".
II.BÀI ÐỌC THÊM:
1.Một cuộc sống mới: (G. Bessière, trong "Thiên-Chúa thật gần năm A". Desclĩe de Brouwer, 1992, tr.64-65).
Rõ ràng, điều quan trọng ở đây là có được mối trung liên cá biệt với Ðức Giêsu hay đúng hơn, được "yêu mến Ngài". Các Phúc âm Mt, Mc, Lc mời gọi ta tiến vào nước Trời. Phúc âm Gioan, xuất hiện trễ hơn, không đề cập đến nước Trời ấy nữa mà tập trung vào Ðức Giêsu và qui kết về Ngài. Hình ảnh cây nho và cành nho biểu hiện rõ rệt về điều đó: mỗi môn đệ đều kết hợp trực tiếp với Ðức Kitô. Người ta đã có thế nói về "tính đồng đẳng" của thánh Gioan: theo Ngài, mọi người phải sống với Ðức Giêsu bằng mối dây tình yêu, trong lòng cộng đoàn tín hữu, mỗi Kitô hữu trực tiếp trao đổi với Ngài. Tình yêu này không hàm hồ. Nó không phải là một thúc đẩy cảm tính về một hình ảnh mơ hồ qua đó người ta có thể dự phóng những giấc mơ của mình. "Nếu anh em yêu mến Thầy, anh em sẽ giữ các điều răn của Thầy. " Ðây là một tình yêu với những việc làm cụ thể, toàn bộ Phúc Âm là một bằng chứng về cuộc sống mới đã khởi đầu nơi Ðức Giêsu: Phải tái sinh, phải mở mắ, phải uống nước vọt lên từ nguồn suối, phải ăn bánh hằng sống, phải để Ðức Giêsu rửa chân và chúng ta phải làm đầy tớ cho nhau... một cuộc sống khác đã khát mở, cuộc sống của chính Thiên Chúa, đúc kết nơi Ðức Giêsu.
Tin Mừng của thánh Gioan diễn ra trong bầu khí căng thẳng. Sự cắt đứt với Do thái giáo đã chín mùi, và sự đối đầu thật gay go. Tác giả Tin Mừng thứ tư hết sức cứng rắn với người Do thái. Ngài nhấn mạnh đến thần tính của Ðức Giêsu, Ðấng từ trời xuống, từ nay, ngoài Ngài ra, không còn con đường nào khác, các môn đệ sẽ không ngừng đón nhận sự tự do của Ngài và cùng khám phá với Ngài cuộc sống yêu thương.
Nhưng làm sao có thể sống thân thương được với môﴠngười mà kỉ niệm đã xa mờ trong quá vãng? Khi Tin Mừng thánh Gioan được soạn thảo xong, thế hệ những chứng nhân bằng xương bằng thịt đã qua đờ, chỉ còn lại những bản văn, những lời chứng, những mẩu chuyện và những lời nói uyên thâm cho phép ta không ngừng gặp gỡ Ðấng vĩnh hằng, song còn hơn thế nữa: còn có một Ðấng luôn ở cạnh bên, như một trạng sư hay một Ðấng Bảo Trợ, đó là Thần Khí sự thật.
Nhờ Ngài, công việc của Ðức Giêsu sẽ luôn hiện thực trước những hoàn cảnh mới. Thánh Thần sẽ không lập lại những lời nói cũ mòn nhưng Ngài cách tân chúng theo dòng đời luôn luôn đổi mới.
Chính trong Ngài mà mối tương giao dấu ái với Ðức Giêsu sẽ không ngừng nối kết những con người qua các thế kỉ, nó hệt như một ngọn lửa luôn chiếu sáng và sưởi ấm cõi lòng.
2. Một Ðấng Bảo Trợ khác (H. Denis, trong "100 từ ngữ nói lên niềm tin" Desclec de Brouwer, 1993. tr. 161-162.
Ðấng Bảo Trơ, là từ Hi Lạp, thoạt đầu, theo nghĩa luật pháp tức là trạng sư, người trợ lí, người báo vệ, về sau, từ này được dùng theo nghĩa rộng để chỉ người an ủi và người can thiệp giúp. Có điều lạ là từ này được áp dụng cho Ðức Giêsu (trong thư thứ nhát của thánh Gioan, 2,l): Nhưng nếu ai phạm tội, thì chúng ta có một Ðấng Bảo Trợ trước mặt Chúa Cha đó là Ðức Giêsu Kitô, Ðấng Công Chính" còn hầu hết thì chỉ Chúa Thánh Thần, vì thế, nếu gán cho Chúa Thánh Thần mọi phẩm tính trên, ta sẽ thấy, nếu chỉ có một mình, người ta sẽ khó sống trung thành với Ðúc Kitô tới mức nào. Nhưng đây cũng chính là sứ điệp cua Ðức Giêsu: các con sẽ không mồ côi một mình. Ðức Kitô vô tình nhường chỗ cho Ðấng Bảo Trợ các tín hữu, mang đến cho họ những kháng độc tố cần thiết cho cuộc sống công chính theo Tin Mừng giữa muôn vàn thử thách. Tốt đẹp biết bao khi tin rằng- từ khi Ðức Giêsu ra đi trong ngày Ngài lên trời- tất cả những gì được Ðức Kitô thực hiện trên trần gian này một cách hữu hình đều do những người nam và người con đã mạo hiểm với niềm tin dũng cảm, đôi khi phải trả giá bằng chính cai chết của mình. - Chính vì họ không đơn độc. Vị đạo diễn vĩ đại, hợp nhất toàn cả vũ trụ, hợp nhất Giáo-hội chính là Ðấng Bảo Trợ vô hình, Người ân ban sức mạnh tràn trề cho những người yếu đuối nhất và lòng can đảm cho những kẻ nhát đảm nhất. Niềm ủi an của Chúa Thánh Thần sẽ như ngọn lửa lan truyền giũa các tín hữu đời này cho tới đời kia.
admin
20-02-2011, 11:59 AM
CNPS7
CHÚA NHẬT VII PHỤC SINH
"GIAO ƯỚC THIÊNG LIÊNG
KẾT THÚC TRONG KINH NGUYỆN"
(Ga 17, 1-11)
I.VÀI ÐIỂM CHÚ GIẢI:
Cũng như bài ca của Môsê và lời chúc lành trên các chi tộc Israel, kết thúc ba lời từ biệt của Môsê, trong sách Dân Số (32-33), lời kinh cao cả của Ðức Giêsu mà hôm nay chúng ta đọc phần đầu, kết thúc ba lời từ biệt (ch. 14-16 của Ga.) của Ðức Giêsu.
Không phải do tác giả được linh ứng một sự tương đồng hay một kỹ thuật văn chương nhưng là ý muốn có chủ ý trình bày trong Ðức Giêsu một Môsê mới, Ðấng trung gian của Giao ước mới.
J.Radermarker nhận xét: "Gioan muốn cho các độc giả thấy được cách Ðức Giêsu, Môsê mới, hướng dẫn tất cả lịch sử nhân loại cho đến ngày cánh chung trong đời sống Ba Ngôi Thiên Chúa! ông tiếp: "Thật vậy, chính lời kinh của Ðức Giêsu làm sáng tỏ lời kinh của Môsê, chứ không phải lời ngược lại. Thật ra khi Môsê, nói đến Thiên Chúa ở Ngôi thứ Ba (Ðnl 32,1-33.35) trước khi tự mình trở thành người loan báo các phép lành của Yavê dành cho mỗi chi họ được chọn (Ðnl 33,6-29), phần Ngài Ðức Giêsu thưa trực tiếp với Cha mình ở ngôi thứ hai, từ giữa cộng đoàn tông đồ đã có tính Giáo Hội. Một người trung gian của cả hai bên nói: Môsê triển khai những ơn lành của Thiên Chúa ban cho dân Người, một dân luôn luôn bất trung về ơn gọi của mình, và mặc khải niềm hy vọng mà một quá khứ đầy khích lệ và sự chăm sóc của Thiên Chúa đã hình thành. Ðức Giêsu cầu nguyện như là Ðấng mà trong Ngài sẽ diễn ra công việc của Chúa Cha, và đồng thời như là Ðấng sẽ nên một với các môn đệ, là những người mà Ngài sẽ thông ban vinh quang đang bao bọc Ngài. Từ Ðệ Nhị Luật chuyển sang Phúc âm, cho thấy được sự đi vào chiều sâu do Ðức Giêsu mang đến cho chân lý được chiêm niệm. Sự thật do Môsê khi ấy Cha là hình bóng, như mở đầu Phúc âm thánh Gioan đã loan: "Bởi vì Lề luật do Môsê ban cho, còn ân sủng và chân lý thì do Ðức Giêsu đem đến " (1, 17) (Assemlée du Seigneur, số 29, trang 48-49).
Một lời kinh hướng về Cha và về các môn đệ. Một lời kinh vào "Giờ" mà Ðức Giêsu sẽ đi qua từ thế gian về cùng Cha. Giờ khổ nạn và giờ của cái chết, nhưng một cách không thể chia cắt cũng là giờ tuyên dương vinh quang của Ngài. J.Radermaker diễn giải: "Một cách nào đó, lời kinh này thực hiện việc Ðức Giêsu về với Cha, bởi vì "giờ" của Ngài là thánh Gioan nói đến ở đầu và cuối bài giảng sau bữa Tiệc Ly... là giờ của sự chết và của sự sống lại hay là tương đương với việc tôn vinh, tôn vinh Ngài trên thập giá và trên các tầng trời... sự tôn vinh ấy bao gồm mọi tín hữu cho đến tận thế. "Giờ này cũng là giờ của Giáo Hội, trong lòng Giáo Hội Chúa sống lại sẽ là Ðấng cầu bầu phổ quát và cũng là Ðấng trung gian duy nhất (O C p 50).
Một lời kinh mở rộng bởi tiếng "CHA". Cho đến lúc đó, trong ba lời từ biệt Ðức Giêsu nói với các môn đệ. Bấy giờ "ngước mắt lên trời" Ngài thưa với Cha:
Một lời kinh được kết cấu với ba động từ: làm vinh danh,ban, biết.
"Làm vinh danh" theo Kinh Thánh có nghĩa là biểu dương hữu thể sâu xa của ai đó, tính cách hiện diện được nhận ra và ảnh hưởng của người đó.
Tác giả viết: "Trong thánh Gioan, người ta thấy Cha thông ban cho Con quyền năng, sự thánh thiện, tính năng động của hữu thể mình. Mặt khác, chính nhờ đáp trả tính cách làm Cha được bày tỏ. Khi thi hành cho đến cũng công việc ở dưới đất mà Ngài phải thực hiện: đem mọi người tới chỗ nhận biết rằng tình yêu Thiên Chúa và căn bản sự sống cửa mọi người và rằng Ngài gợi lên cho mỗi người trong trường hợp cá biệt của họ, đây Ðức Giêsu vào trong vinh quang của Ngài, tất cả vinh quang do Cha ban cho. Cái chết của Ngài mở đầu sự tôn vinh của Ngài và đồng thời sự tôn vinh của cả nhân loại, bởi vì nhân loại có thể khám phá ra Cha như là nguồn là sự viên mãn của sự sống mình. Sự tôn vinh Chúa Con không thể tách rời sự tôn vinh loài người: "Vinh quang Chúa Cha chính là con người sống và sự sống của con người chính là chiêm ngắm Thiên Chúa", thánh Irênê đã thốt: "lên như thế. Và con người sống (lhomme vivant) phải chăng là Ðức Giêsu Kitô mà lời nói đầu của thánh Gioan đã tuyên bố: "Ngài là sự sống của mọi loài (1,4. p 57)
"Ban cho" động từ lặp lại đến 10 lần trong đoạn này và 15 lần chỉ trong chương 17 của Gioan, cho thấy ân huệ nối tiếp nhau mà chúng ta là những người thừa hưởng: từ Cha đến Con và từ Con đến loài người.
Ðối với tác giả của Phúc âm, một cách để làm nối rõ sự ân cần của tình yêu là nhấn mạnh rằng mọi sự lành đều do Cha mà ra.
"Biết" không phải là nhận biết bề ngoài chỉ bằng trí óc, nhưng là ruột sự nhận biết phát triển qua một sự thân mật và một kinh nghiệm tiệm tiến..Theo Kinh Thánh. biết, bao hàm cả con người, vừa là nhận ra, hiểu biết và thông hiệp. Muốn biết người nào phải dùng tới cả một nguồn lực, mọi khả năng của hữu thể: biết Thiên Chúa là hiến thân cho Ngài. Suốt thời gian sống ở trần gian và qua cái chết của Ngài, khi tỏ ra cho loài người sự thật về Chúa Cha, Ðức Giêsu cống hiến cho họ con đường đi tới Thiên Chúa. Sứ điệp Tin Mừng được tóm tắt lại trong tin vui này: trong Ðức Giêsu, chúng ta được đưa tới Chúa Cha". (O.C. p.60).
Một lời kinh đưa ta vào trung tâm của sự liên hệ giữa Ðức Giêsu với Chúa Cha và với các môn đệ Ngài. Lời kinh mặc khải sự thông hiệp sâu xa của Ðức Giêsu với Chúa Cha, và sự thông hiệp sâu xa của Ngài với các môn đệ Ngài.
Thông hiệp sâu xa với Chúa Cha, Ðức Giêsu là Con, đã nhận tất cả nơi Cha ("Tất cả những gì Cha ban cho Con đều từ Cha mà ra... ").
Tôn vinh Cha bằng cuộc sống con cái trọn vẹn của Ngài, với cuộc khổ nạn, cái chết và sự sống lại, Ðức Giêsu làm sáng tỏ vinh quang của Cha, cùng lúc ấy Chúa Cha cũng làm sáng tỏ vinh quang của Ngài: Ngài mặc khải tấm lòng của Cha và hữu thể sâu xa của Ngài bằng cách mặc khải rằng tình yêu nhưng không của Thiên Chúa đối với loài người đạt tới sự điên khùng khôn tả.
Hiệp thông sâu xa với các môn đệ Ngài, Ðức Giêsu nối kết các môn đệ vào dây liên hệ thân tín của tình yêu và của sự trung thành mà Ngài là Con, Ngài sống với Chúa Cha. Trong Ngài và nhờ Ngài, Ðức Giêsu đã đưa các môn đệ vào sự "nhận biết" đó chính là sự sống đời đời.
Ðàng khác một sự sống đời đời không chỉ là một lời hứa sau cái chết trong thế giới bên kia lịch sử, nhưng bắt đầu từ bây giờ trong cuộc sống hiện tại của người Kitô hữu.
II. BÀI ÐỌC THÊM:
1."Một lời mạc khải hai động tác của sự sống". (Mgr. L,Daloz: "Chúng tôi đâ thấy vinh quang của Ngài" Desclée de Brouwer, p.209-210).
"Ðức Giêsu kết thúc cuộc nói chuyện cuối cùng với các môn đệ bằng một lời kinh đầy cảm động, một lời trối trăn thiêng liêng. Ngài ngước mắt lên trời và hướng về Chúa Cha. Trước mắt chúng ta, Ngài đặt mình một lần cuối như là Con yêu dấu mà Chúa Cha hằng nghe lời. Chúng ta tìm lại được hai động tác của cuộc sống Ngài, hướng về Cha và hướng về loài người. Ðiều Ngài muốn là vinh quang của Cha đổ xuống trên Ngài, trong mầu nhiệm cuộc khổ nạn và sự sống lại.. Giờ đã đến, giờ quyết định mà Ðức Giêsu hiến mạng sống, giờ mà vì đó Ngài được sai đến. Bây giờ Thiên Chúa sẽ hoạt động nơi Ngài: xin Cha làm vinh danh Con để Con làm vinh danh Cha. Có cuộc trao đổi nào lạ lùng hơn là việc trao đổi mà Chúa Cha tự cam kết và Chúa Con tự cam kết với Chua Cha? Ðộng tác hướng về Cha không thể tách rời động tác tình yêu đối với loài người: "Vinh quang Thiên Chúa chính là con người sống (l'homme vivant). Quyền hành trên xác thịt mà Ðức Giêsu nhận được là quyền cứu rỗi, thiên mạng sống mình: chớ gì theo quyền hành trên mọi xác thịt Cha đã ban cho Ngài, Ngài ban sự sống đời đời cho những ai mà Cha đã ban cho Ngài. Ðức Giêsu tôn vinh Chúa Cha bằng cách ban cho loài người sự sống muôn đời. Bởi lẽ sự sống đời đời đối với loài người chính là sự gặp gỡ Thiên Chúa. Biết Thiên Chúa làm thay đổi con người, soi sáng cuộc sống con người, cho cuộc sống ấy một ý nghĩa. Thiên Chúa mặc khải trong Ðức Gịêsu là một Thiên Chúa đầy tình bạn với con người, tha thứ và cứu chuộc con người. Là một Thiên Chúa trở nên thân thiện và bày tỏ vinh quang Ngài trong sự đơn sơ của những cử chỉ hằng ngày. Chính Thiên Chúa đó, là Ðấng mà Ðức Giêsu mặc khải cho chúng ta. Chỉ mình Ngài là Thiên Chúa thật chứ không phải một Thiên Chúa theo chúng ta hình dung hay tưởng tượng ra. Phải trở lại với Ngài luôn. Ðây là một sự trở lại bằng nhận thức chúng ta bắt buộc phải có. Tin Mừng mà Ðức Giêsu đến loan báo chính là cái mới mẻ nơi Thiên Chúa. Sự sống đời đời bất đầu khi mà chúng ta bắt đầu chấp nhận Thiên Chúa chân thật và duy nhất: "Bởi vì sự sống đời đời là họ nhận biết Cha là Thiên Chúa duy nhất và Ðấng Cha sau đến là Ðức Giêsu Kitô.
2. Lời kinh của Ðức Kitô là mẫu mực lời kinh của người Kitô hữu (Báo "Célébrer" số 229, p.22)
Chúa nhật này chúng ta được mời gọi trở thành một Giáo Hội "cử hành và cầu nguyện". Một Giáo Hội cầu nguyện là một Giáo Hội chờ đợi Chúa Thánh Thần.
Các bài đọc cho thấy, chờ đợi và kinh nguyện nối kết với nhau, thay vì nói, chúng ta hãy tạo một bầu khi cầu nguyện được chuẩn bị chu đáo.
Mẫu kinh của người Kitô hữu là lời kinh mà Ðức Giêsu đã dùng để cầu nguyện: để người ta nhận biết Thiên Chúa đích thực là như thế nào ("được tôn vinh") nghĩa là một Thiên Chúa tình yêu: Nói cách khác, lời kinh này lấy lại những lời xin trong kinh Lạy Cha: "Con đã tỏ danh Cha cho loài người, nhắc lại "danh Cha cả sáng. Ðể cho loài người còn ở thế gian nhận biết "Thiên Chúa thật và Ðấng Ngài sai đến là Ðức Giêsu Kitô".
Như vậy phải hiểu vinh quang Thiên Chúa không giống chút nào với vinh dự của những người làm lớn ở trần gian, bởi nó được mặc khải trong thập giá Ðức Kitô, và chính đó là sức mạnh và ảnh hưởng của tình yêu Ngài. Thánh Thể giúp ta đi vào lời kinh. của Ðức Giêsu, Ðấng tế lễ mình và tạ ơn Chúa Cha, trong niềm hy vọng "Ngài sẽ tôn vinh tất cả thân thể là Hội Thánh, như Ngài đã tôi vinh Ðầu (Lời nguyện sau khi rước lễ).
3."Lời của Kitô hữu, lời kinh của Ðức Kitô" (Mgr. R.Coffy, "Một Giáo Hội cử hành và cầu nguyện", Lourde 1973, Cent. p.3).
Danh xưng Cha (Abba) gán cho Thiên Chúa, Ðức Giêsu cho phép chúng ta đọc lên với Ngài và trong Ngài. Mục đích của việc xuống thế, mục đích của việc nhập thể có tính cứu chuộc là đưa nhân loại vào tình trạng Giao ước; nghĩa là liên hệ với Cha để mọi người có thể nói trong sự thật: "Cha" (Abba). Lời kinh truyền thống, lời kinh được diễn tả cách đặc biệt trong các câu lấy trong bí tích Thánh Thể, là kinh dâng lên Cha, bởi Con, trong Thánh Thần và hầu như luôn luôn bắt đầu bởi từ "Cha". Trong De Oratione, Origène nói với ta rằng Chúa Con và Chúa Thánh Thần cầu nguyện trong ta... Lời kinh của Kitô hữu là kết quả của Thánh Thần trong ta. Là lời thưa lên với Cha, lời mà Ðức Kitô không ngừng trình bày với Cha, lời mà Chúa Thánh Thần cho chúng ta quyền được đọc lên "Chính Thánh Thần hiệp với tâm trí chúng ta để làm chứng rằng chúng ta là con cái Thiên Chúa... Thánh Thần cầu khẩn cho ta bằng những tiếng rên xiết khôn tả (Rm 8,14-17. 26-27). Mỗi lần chúng ta cầu nguyện, chính Ðức Kltô trong ta và bởi ta, lặp lại không ngừng: "Abba", lời mà Ngài đã thốt ra một ngày kia trước các môn đệ để họ lặp lại trong Ngài và với Ngài. Nhưng việc thốt ra tiếng ấy, đòi hỏi chúng ta phải là những đứa con nhỏ, để vào Nước Chúa nơi mà chỉ các trẻ nhỏ được vào, ta phải tìm lại được niềm hy vọng mà tiếng Abba diễn tả.
admin
20-02-2011, 02:27 PM
THANG-THIEN
CHÚA NHẬT LỄ THĂNG THIÊN
"VÀ ÐÂY, THẦY Ở CÙNG ANH EM MỌI NGÀY CHO ÐẾN TẬN THẾ". (Mt 28, 16, 20)
I.VÀI ÐIỂM CHÚ GIẢI:
1.Kết thúc mà lại khởi đầu.
Phụng vụ bài đọc năm A về lễ Thăng Thiên mời gọi ta suy niệm những câu cuối cùng của Phúc âm thứ nhất. Ðoạn văn kết thúc Phúc âm Matthêu này đặc biệt gợi nhớ đến hai chương đầu của Phúc âm. Thực vậy, khi viết "Phúc âm về thời niên thiếu", thánh Matthêu muốn mời gọi ta coi việc Ðức Giêsu giáng sinh tại Bêlem, thành vua Ðavít là ứng nghiệm lời tiên tri về một Ðấng "Emmanuel": Ðấng "Thiên"Chúa ở cùng chúng ta (Is 7), còn các Ðạo sĩ đến từ Phương Ðông tiêu biểu cho những người tiên phong của Dân Ngoại đang đi đến niềm tin vào Ðức Kitô: Họ thấy Hài Nhi với thân mẫu là bà Maria, liền sấp MÌNH THỜ LẠY NGƯỜI ". Ở đoạn kết thúc, rõ ràng là thánh sử, đã lấy lại cũng những lời lẽ trên để thuật lại cuộc gặp gỡ lần cuối cùng của Ðấng Phục Sinh với các môn đệ của Người ở Ga1ilê: "KHI THẤY Người, các Ông SẤP MÌNH THỜ LẠY NGƯỜI".
Rồi Ðức Giêsu trao cho các ông sứ mệnh đến với "MUÔN Dân" long trọng tuyên bố rằng: "THẦY Ở CÙNG CÁC CON mọi ngày cho đến tận thế. J. Raaermakers chú giải: "ở đây chúng ta thấy con người Ðức Giêsu dầu mang dấu vết của một con người được sinh ra ở một thời điểm và sinh sống ở một nơi chốn nhất định, vẫn có cả một sự bao trùm lớn lao trải rộng đến mọi chiều kích của toàn thể lịch sử nhân loại" (Au fie de l'evangile se lon saint Mathieu, Viện Nghiên cứu Thần học, Bruxelles, 1974, trang 362).
2.Khi hồi kết thúc loan báo một khởi sự mới.
Sau Phục sinh, Ðức Giêsu hẹn gặp lại các môn đệ Người, không phải ở Giêrusalem, thủ đô và là thành thánh như trong Phúc âm Luca, mà là ở "Galilê" miền đất vẫn bị mọi người nhìn bằng nửa con mắt, là "nơi qui tụ dân" là biểu tượng của thế giới ngoại giáo (Mt 4,12)"Giáo Hội... phải rời bỏ Giêrusalem mà về một địa lý cho tới lúc ấy vẫn được coi là trung tâm đức tin nơi có Thiên Chúa hiện diện, để đi tới miền vốn được coi là "Galilê của dân llgoại". Một Giáo Hội được định nghĩa ngay là một "Giáo Hội vì mọi người ": đó chính là sứ mệnh của Giáo Hội, điều mà không bao lâu sau Ðức Giêsu sẽ nói rõ ràng" (Cahiers - Evangiles' số 9, trang 6). Nơi Ðức Giêsu truyền cho các môn đệ đi tới, là một "ngọn núi" vốn là nơi rất thích hợp cho việc Chúa mạc khải. Một lần nữa ở đây cũng như trải dài suốt Phúc âm của Ngài, thánh Matthêu đều trình bày Ðức Giêsu như một Môsê mới ban Luật của Người cho dân tộc mời của Thiên Chúa. Cl Tassin chú giải: "Như trong một cuốn phim, người ta lần lượt thấy quan hệ những ngọn núi: núi quỷ cám dỗ khi chỉ cho Ðức Giêsu thấy các nước trần gian núi Bát Phúc, nơi Thầy công bố hiến chương Nước Trời, và Núi Hiển Dung nơi vinh quang con Người được tỏ hiện; nổi bật hơn cả vẫn là cảnh âm u tịch mịch của của núi Nê-bô, nơi Môse phải nói lời giã biệt trước khi dân tiến vào Ðất Hứa" ("Phúc âm thánh Matthêu, NXB. Centurion, trang 303).
Khi thấy Ðức Giêsu, các môn đệ liền "sấp mình thờ lạy Người" trong một cử chỉ vừa tôn kính theo đạo giáo, mà cũng có tính cách phụng thờ, y như các đạo sĩ đã làm khi thấy hài nhi với thân mẫu là bà Maria (2.8.11-); cũng như các môn đệ đã bày tỏ khi ở trong thuyền lúc sóng to gió cả, và đó cũng là cử chỉ của người phụ nữ Canaan vậy (15,25). Nhưng lòng tôn thờ của các ông còn vương vấn "sự hoài nghi", mối hoài nghi này, theo như J. Radermakers nhận xét chí lý, chính là người bạn đồng hành không thể tách biệt của một lòng tin đang lần bước". Ðấng tỏ mình ra cho các môn đệ (Ðức Giêsu đến gần"), Ðấng mà các ông sấp mình thờ lạy ấy, chính là Ðức Chúa hiển vinh. Một khi đã được vinh thăng, được trao ban quyền tối cao xét xử toàn cầu ("Thầy đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất") thì giờ đây Người có lý khi sai các môn đệ của mình đi khắp thế giới để làm cho vương quyền ấy được thực hiện. Những lời Người ban bố cho họ đánh dấu sự khai trương một giai đoạn mới trong sứ mệnh của Người, sứ mệnh mà từ này trở đi người sẽ vẫn tiếp tục nhờ Giáo Hội.
+ Anh em hãy đi làm cho muôn dân trở thành môn đệ". Suốt thời gian thừa hành sứ vụ công khai, Ðức Giêsu đã phải tự ý giới hạn hoạt dộng của Người đối với "cử chỉ chiến lược của nhà Ít-ra-en". Từ nay những biên giới ngăn cách do không gian và thời gian đều bị bãi bỏ vì Người có thể thực thi trọn vẹn sứ mệnh Người Tôi Tớ của Thiên Chúa đúng như Matthêu đã loan báo, khi mượn lời sấm của Isaia 42,1-4: Và muôn dân sẽ đặt niềm hy vọng nơi danh Người (Mt 12,18-21). Dân ngoại có mặt ngay từ buổi đầu của Phúc âm thì cuối cùng vẫn thấy mình là những con người được Tin Mừng nhắm tới. Ðức Giêsu trao phó cho Giáo Hội Người sứ mệnh truyền giáo khắp hoàn cầu này. Cl. Tassin còn muốn lưu ý ta rằng: "Ðiểm nhấn mạnh không ở tại động từ "Ði" hay ở tại sứ mệnh chinh phục địa lý, mà cốt ở việc nhờ cho hết mọi nhóm người không phân biệt một ai. Bởi lẽ Ðức Giêsu đã được "trao toàn quyền" thì mọi người điều phải thần phục quyền bính của Người. Ðối với Matthêu, truyền giáo là gì? Thưa là: những môn đệ al2m cho những người khác trở thành môn đệ; là những người nam cũng như nữ cảm nghiệm sâu sắc rằng giáo huấn của Ðức Giêsu biến đổi chính cuộc đời của họ, họ chia sẻ kinh nghiệm này với các người khác, dạy bảo cho những người ấy tuân giữ mọi giới luật của Ðức Giêsu là thực ra chỉ tóm gọn lại trong một luật là tình yêu." (O.C., trang 304).
+ "Làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Truyền giáo không phải là tuyên truyền một ý thức hệ, dù là cao siêu tuyệt vời mà là chủ trương không ngừng xây dựng một cộng đồng: cộng đồng của những con người nhờ chịu phép rửa mà muốn sống gắn bó mật thiết với nhau bởi cùng thuộc về một Thiên Chúa là "Cha, Con và Thánh Thần".
+ "Dạy bảo họ tuân giữ những điều, Thầy đã truyền cho anh em". Truyền giáo không thể chỉ thu gọn lại trong việc kêu gọi người ta trở lại rồi bỏ mặc đấy. Giáo Hội sẽ phải giúp đỡ những tân tòng ngày qua ngày sống hoà nhập với cuộc đời mới mà họ đã bước vào. J. Radermakers đưa ra nhận xét sau: "Chính Phúc âm nhìn toàn bộ là một giáo huấn về cuộc sống, được hiểu như dấu chỉ của bí tích trong phép rửa tội và được triển khai cách hài hoà trong cuộc sống đời thường; đời sống luân lý trong cộng đồng Kitô hữu chẳng qua là sống Tin Mừng bằng việc làm cụ thể".(O.C, trang 365).
+"Và đây Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế". Ðây là lời tuyên bố cuối cùng và cũng là điểm cao nhất của lời Chúa phán vì là lời hứa bảo đảm một sự hiện diện tích cực và hữu hiệu vô bờ bến. Cuối Phúc âm của mình, thánh Matthêu mới cao rao rằng lời thiên thần hứa với Giuse đã hoàn toàn ứng nghiệm nơi Ðức Giêsu: "Người ta sẽ gọi tên con trẻ là Emmanuel, nghĩa là Thiên-Chúa ở cùng chúng ta. J. Potin kết luận: "Ðức Giêsu không xa lìa Giáo Hội của Người. Mặc dầu ta không trông thấy Người, Người vẫn hiện diện ở mà nơi mà Giáo Hội sẽ lan rộng tới cho đến tận thế. Theo thánh Matthêu Ðức Giêsu không biến mất lên trời. Nhưng lời nói cuối cùng của Người cũng là câu sau chót của Phúc âm, hay rằng: "Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế. Vả lại trước đây há chăng người đã chẳng tuyên bố. "ở đâu có hai ba người họp lại nhân danh Thầy, thì có Thầy ở đấy, giữa họ" (Mt 18,20). dung Phục Sinh không ở lại trên núi Galilê, Người đi theo các tông đồ của Người trên mọi nẻo đường trần gian" ("Jésus, l'histoire vraie" NXB Centurion, 1994, trang 516).
II.BÀI ÐỌC THÊM:
1."Bài kết thúc Phúc Âm thánh Matthêu thực ra là một sự khởi đầu, một sự khai mở ". (Ðức Cha L. Daloz, trong "Le Règne de diệu s'est approché").
"Bài kết thúc Phúc âm thánh Matthêu thực ra là một sự khởi đầu, một màn khai mở: đó là khai trương công cuộc truyền giáo toàn cầu. Phải suy niệm, và nhìn ngắm mới thấy rõ việc truyền giáo là con tim đang đập trong lồng ngực Giáo Hội có tác dụng kích thích Giáo Hội. Nhờ việc sai đi và uỷ quyền cho các tông đồ, và qua các ông, cho chung tất cả mọi môn đệ, Ðức Giêsu thành người sống đương thời với chúng ta: Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế... Việc gặp gỡ Mười Một Tông đồ là điều có liên hệ chặt chẽ với mầu nhiệm phục sinh. Trước khi đi vào cuộc khổ nạn Người đã báo trước: Sau khi sống lại, Thầy sẽ đến Galilê trước anh em. Sau khi Phục sinh, Người nói lại sứ điệp ấy với các phụ nữ đứng bên mồ và triệu tập các môn đệ: "Các bà hãy về báo cho anh em Thầy đế họ đến Galilê. "Họ sẽ được thấy Thầy ở đó". Vì nhờ mầu nhiệm Phục sinh của Ðức Kitô, sự phục sinh nhân loại mới có thể được thực hiện. Khi sai các môn đệ... Ðức Giêsu phục sinh là cội nguồn của việc truyền giáo. Quyền năng Thiên Chúa đã cho Người sống lại trở nên quyền năng cứu độ cho mọi dân tộc. Chúng ta nhận biết quyền năng ấy, và chỉ có lòng tin mới tiếp nhận được thôi (cũng như 11 tông đồ) các ông gặp Ðức Giêsu trên núi, là nơi vốn xảy ra những cuộc hiển linh của Chúa, như ở núi Sinai hay ở núi Hiển Dung. Thái độ của các tông đồ lúc ấy diễn tả lòng tin của ta: tôn thờ mà lại do dự: khi thấy Người, các ông bái lạy, nhưng có mấy ông lại hoài nghi. Cảnh tượng thật long trọng, giống như một cuộc hành lễ chứ không còn là buổi gặp gỡ thân tình như những lần hiện ra trước đây: Là vì lần gặp gỡ này xác định nền tảng, hình thức và chân trời cho sứ mệnh truyền giáo vậy. Nền tảng ấy là quyền hành mà Ðức Giêsu nhận được: Thầy đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất. "Không phải là quyền của kẻ có sức mạnh trong tay và thống trị, mà là ách êm ái và gánh nhẹ nhàng. Không phải là quyền chiếm đoạt như Tên Cám dỗ đã đề nghị cho Người. Nhưng là quyền của tình yêu không để bị khuất phục. Ðó là sức mạnh của sự phục sinh được khơi nguồn trong Ðức Giêsu và nhờ Người sức mạnh ấy làm thay đổi cả thế giới. Những nỗ lực truyền giáo, tinh thần can đảm để không ngừng thực thi sứ mệnh, tất cả đều nhờ sức mạnh ấy mà tìm được chỗ dựa bảo đảm. Sức mạnh này không phải do ta khôn ngoan, tài khéo, tận tuỵ mà có được... anh em hãy đi! Ðó là một lệnh truyền.
Từ buổi đầu cho đến nay, lệnh sai đi này vẫn vang lên không ngừng, vẫn luôn luôn gợi ra những sáng kiến mới lạ, những cuộc lên đường mới, một đà tiến mới tới miền xa xăm hay rất gần mà chúng ta đều mắt thấy tai nghe qua suốt dòng lịch sử. Bởi lẽ chân trời truyền giáo là tất cả mọi quốc gia, và hạn kỳ là cho đến tận thế. Việc truyền giáo chẳng bao giờ cùng về mặt địa lý cũng như về lịch sử. Ta tham gia vào công việc này ngay ở nơi ta đang ở và thời đại ta đang sống. Mỗi người lệnh phần trách nhiệm của mình, nhưng mỗi người không phải chịu trách nhiệm về tất cà. Quan tâm thôi, không đu; mà phải hành động. Mỗi người chúng ta được sai đến ở nơi mình đang ở; ta không thể chỉ là người hưởng ơn cứu độ, mà cũng còn là dụng cụ Chúa dùng để ơn cứu độ của Ðức Giêsu Kitô đạt tới những kẻ khác, những người ta đang sống với, những người ta được sai đến với họ ở cận kề bên ta hay từ xa ta. Nhiệt tình do Ðức Giêsu phục sinh ban cho vẫn có trong con tim của mọi cuộc đời Kitô hữu. Ðời sống này trở nên suy nhược khi bóp nghẹt nhiệt tình này bằng lối sống vị kỷ, khép kín. Cần phải biết sống chia sẻ để khởi xơ cứng và chết.. Cũng vậy, Giáo Hội không thể ở thể tĩnh. Giáo hội được sai đi... hình thức việc truyền giáo cũng được chỉ rõ ràng: Làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ, nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, và dạy bảo họ tuân giữ những điều Thầy đã truyền cho anh em. Chúng ta nhận thấy có ba mặt: loan báo Tin Mừng để khơi dậy được những con người môn đệ tham dự vào mầu nhiệm Phục sinh bằng việc lệnh nhận phép rửa và các bí tích, sống đời sống mới bằng 3 cách thi hành các điều Chúa truyền. Truyền giáo là tất cả như thế đó. Không có ba yếu tố này, công việc ấy không đầy đủ, và chẳng một yếu tố nào trong ba làm nên được công chuyện bởi lẽ "một cây làm chẳng nên non, ba cây chụm lại nên hòn núi cao". Quả thực, đây là một thách đố đặt ra cho Giáo Hội, vì rằng mọi dân tộc đều có quyền chia sẻ mầu nhiệm Phục sinh, đón nhận ơn cứu độ của Ðức Giêsu để được biến đổi và trở nên mới. Như thế các dân tộc ấy cũng hội nhập vào mầu nhiệm sự sống Thiên Chúa: "nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần". Qua việc truyền giáo của các tông đồ Ðức Giêsu vẫn theo đuổi công việc Người đã khởi sự trong mầu nhiệm Phục sinh của Người; Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế. Ta còn sợ hãi gì nữa, một khi có Ðức Giêsu phục sinh đang ở cùng chúng ta.
2. "Là dịp để ta canh tân lại quyết định làm môn đệ trung thành của Ðức Kitô" ("Célébrer" (nguyệt san của Trung tâm Quốc gia về Mục vụ Phụng vụ) số 258 trang 42.)
"Thiên Chúa vẫn luôn luôn là Emmanuel, vẫn là Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng ta".Việc Người-lên-trời không hẳn là một sự lìa bỏ. Phải học hỏi để nhận ra điều này dầu không trông thấy Người như các môn đệ đã thấy xưa. Chúa lên trời nhắc nhở ta sống thân phận của một người tin và yêu: tin rằng Người vẫn đang có mặt, và thực hành yêu thương để làm cho Người được hiện diện. Lễ này phải là dịp để ta canh tân lại quyết định trở thành những môn đệ trung tín của Ðức Kitô: những môn đệ vững tâm vì Người vẫn có mặt bên ta "mọi ngày", những môn đệ sẵn sàng đáp lại tiếng gọi sai đi truyền giáo cho "muôn dân" của thời đại hôm nay".
3. Emmaunel, Thiên Chúa ở cùng chúng ta". J. Radermakers chú giải thêm cho bài viết ở trên.
Ðức Giêsu Nagiarét xuất thân.
Từ miền Galilê của chư dân,
Ðất thuộc Zabulon và Néptali
Người là ánh sáng bừng lên
Soi cho dân ngồi trong tăm tối;
Người là Quý Tử chí ái
Của Ngôi Thánh Phụ muôn đời quang vinh.
Ðể tha tội lỗi môn dân
Người đành hiến máu để làm Giao ước;
Người đã chỗi dậy ngày thứ ba
Làm cho muôn dân trở thành môn đệ.
Người là Emmanuel vẫn luôn có mặt,
Người còn đi trước các anh em
Ðến những Galilê của mọi miền trái đất.
vBulletin v3.5.2, Copyright ©2000-2012, Jelsoft Enterprises Ltd.