PDA

View Full Version : Mùa Thường Niên A - Fiches Dominicales


admin
20-02-2011, 12:02 PM
CNTN2
CHÚA NHẬT II THƯỜNG NIÊN

ÐÂY LÀ CHIÊN THIÊN CHÚA
(Ga 1, 29-34)



I.VÀI ÐIỂM CHÚ GIẢI:

1.Gioan giới thiệu Ðức Giêsu là Chiên Thiên Chúa.

Trong một bối cảnh thù nghịch cuộc vận động của các thầy cả, thầy lêvi yêu cầu Gioan tự xác định vai trò trong cuộc chờ đợi Ðấng Cứu Thế: "ông là ai". Gioan Tẩy Giả đã trả lời trước hết bằng ba phủ định: ông không phải là Ðấng Cứu Thế, không phải là Êlia, cũng không là một đại tiên tri. Rồi ông tuyên bố. "ở giữa anh", "một người mà anh em không biết; chính Ngài đến sau tôi nhưng tôi không xứng đáng cởi dây giày cho người"(l,2-27).

Bây giờ, Gioan Phúc âm xác định là ngày hôm sau, đối diện với các môn đệ, sau khi nhóm người điều tra bỏ đi.

+Gioan Tẩy Giả thấy Chúa Giêsu "tiến về phía Ngài". Không phải là để xin rửa tội như ta tự nhiên nghĩ tới vì phép rửa đã xảy ra, nhưng để làm ứng nghiệm lời sấm của Isaia 40,10 "Chúa đến.

+ Cũng trong chiều hướng làm ứng nghiệm lời tiên tri Isaia 40,2 đã loan báo cho Israel biết rằng "tội lỗi họ đã được tha thứ", Gioan tuyên bố: "Ðây là hiểu ngầm một lời mời hãy nhận xem chiên Thiên Chúa Ðấng xoá tội tràn gian. Một nhận dạng mà ta sẽ gặp lại ở chương 1,36.

Sự đối chiếu với Chiên Thiên Chúa có thể có 3 nền tảng trong Cựu ước. Hoặc con chiên của Israel 53,7: "Như con chiên bị đưa đến lò bát tế, như cừu đến trước mặt kẻ xền lông....Trong trường hợp này, thánh sử Gioan đã thấy nơi Ðức Giêsu khuôn mặt của Người Tôi Tớ đau khổ gánh lấy tội lỗi thế giới. Nhưng cũng nên biết rằng cùng một từ ngữ Aram ấy có thể có 3 nghĩa: "trẻ em", "tôi tớ" hoặc "con chiên". Hoặc con chiên bị sát tế và đứng trong sách Khải Huyền, có thể thắng vượt tội lỗi và sự chết, là Ðức Kitô phục sinh (Kh 5,6; 14,10; l.7,14). Hoặc con chiên vượt qua. Thực vậy, theo Gioan 19,14, Ðức Giêsu bị kết án vào giờ mà các thầy cả bắt đầu sát tế chiên để mừng lễ Vượt qua. A. Marchadour nhận định: "Một tước hiệu như thế có thể có 3 ý nghĩa. Một độc giả không am hiểu bối cảnh Kinh Thánh của từ ngữ sẽ ghi nhận rằng có 2 so sánh vay mượn. Ở thế gian động vâﴺ con chiên Thiên Chúa và chim bồ câu từ trời xuống. Hai hình ảnh của sự bất bạo động này rất thích hợp với bản chất của Ðức Giêsu và với công cuộc nối kết với thế giới của Thiên Chúa". Và làm chứng: "Chính Ngài là Con Thiên Chúa". Rồi, khi gợi lại phép rửa ở sông Giođan, Gioan Baotixita, người đã loan báo trước về Ðấng Messia mà không biết ("Tôi không biết Ngài câu 31 và 33), đã làm chứng: "người đã thấy Ngài quả quyết 2 lần như vậy (câu 32 và 34): "Mọi người sẽ nhìn thấy vinh quang của Chúa và ơn cứu độ Nơi Ðức Giêsu, trên Ngài Gioan đã nhìn thấy "Chúa Thánh Thần lấy hình chim bồ câu ngự xuống từ trời và đậu lại", Thiên Chúa đã mạc khải cho ông biết đó là Con Thiên Chúa.X lon Dufour nhận xét: "Sự chứng nhận này hiển nhiên phù hợp với lời tuyên bố của Thiên Chúa khi Ðức Giêsu chịu phép rữa: Ðây là Con Ta yêu dấu, Ta hài lòng về Người (Mt 3,17). Nhưng đây không phải là tiếng nói từ trời cao. Ðó là tiếng nói của người phàm, Gioan Tiền hô đã nói.

Trong tước hiệu "Con Thiên Chúa" độc giả Kitô hữu tìm ra ý nghĩa vượt quá lời tuyên xưng về Ðấng Messia, tước hiệu ấy nối kết với tước hiệu "Con duy nhất" đã được nhấn mạnh ở phần nhập đề. Ðó chính là ý nghĩa mà bản văn này nhẩm tới, vì Phúc âm đã viết "để anh em tin rằng Ðức Giêsu, Ðấng Messia là con Thiên Chúa (20,31).



II. BÀI ÐỌC THÊM:

1.Dấu chỉ đến từ Thiên Chúa. (Mgr. L. Daloz, "Nous avons vu ta gloire, DDB).

Nơi ngọn nguồn của việc tỏ mình ra của Ðức Giêsu, chứng từ của Chúa Cha: "Ðấng mà trên Người ngươi sẽ thấy. Thần Linh xuống và ở lại, chính người sẽ làm phép rửa trong Thánh Thần". Ta chỉ nhận biết Ðức Giêsu sau lời mạc khải của Chúa Cha. Ðức Giêsu thường nhắc lại: "Ai nghe lời Cha và đón nhận thì đến với Ta" (6,45). Và chính Thánh Thần do Chúa Cha sai đến đã chỉ cho Gioan Tẩy Giả biết Ðức Giêsu. Nhờ ông, ta đi vào mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi. Ta chỉ nhận biết Ðức Giêsu khi Thánh Thần Thiên Chúa đến mở mắt và chỉ cho ta thấy. Nếu không có Thánh Thần, không có lời chứng của các chứng nhân, ta sẽ không nhận biết Người. Người đâu phải là đối tượng của khoa học nhân văn mà ta có thể nhận dạng nhờ việc nghiên cứu và suy gẫm. Người là ngôi vị Con Thiên Chúa mà ta chỉ nhận biết được khi chính Thiên Chúa tỏ ra cho ta. Người là đối tượng của một chứng từ, không ai có thể nhận biết Người nếu họ không có trái tim rộng mở đón nhạn những dấu chỉ của Chúa Thánh Thần.

2.Con đường của Con Chiên. (H. Denis, 100 mots pour dire la foí DDB).

Hằng bao lần ta đã chẳng đọc và nghe: Lạy Chiên Thiên Chúa, Ðấng xoá tội trần gian sao? Thư thánh Phêrô sử dụng 1 đề tài Kinh Thánh cổ xưa như chuyện phiêu lưu của Môsê bên Ai Cập, tôi muốn cùng các bạn đi lại con đường của Con Chiên Thiên Chúa, Người đi từ sự báo oán giải phóng đến sự bất bạo động hoà bình.

Con đường ấy khởi đi từ một lịch sử đẫm máu. Dân Thiên Chúa được cứu khỏi Ai Cập nhờ máu Con Chiên. Con Chiên sẽ trở nên biểu tượng của công cuộc giải phóng Israel. Vì, ta đừng quên điều này, cuộc gặp gỡ của Môsê ở bụi gai cháy đỏ không, phải là một câu chuyện thần bí phóng đại hoặc truyện trẻ em ham thấy Chúa Mẹ hiện ra. Không, Môsê đã giết ngọt một tên Ai-cập đáng ngờ và Thiên Chúa của ông, dù chưa rõ tên Ngài, đã hứa nghe thấy dân Ngài đang bị nô lệ kêu xin. Như thế Con Chiên thuộc về phía cánh tay báo oán của Thiên Chúa, cùng với tất cả sức mạnh của Người. Nhưng chẳng bao lâu, đặc biệt với các ngôn sứ (Isaia 53, Jeremia 11...) Con Chiên này sẽ trở nên kiểu mẫu của những ai chết cho dân Người, như con cừu câm rùn bị dẫn tới lò sát sinh...

Thiên Chúa rời bỏ ngai Ðấng toàn Năng. Ta nói rằng Người đứng về phía Con Chiên chịu đau khổ. Như thể thời gian dần dần chín mùi để đón nhận một Ðức Giêsu nào đó, được Gioan tuyên xưng là Ðấng xoá tội trần gian, còn thư Phêrô thì nhận là Con Chiên không khiếm khuyết, không tì vết, giải thoát ta khỏi cuộc sống không mục đích như là chiên vất vưởng lầm lạc. Nhưng sự đảo ngược hình ảnh chưa hoàn toàn. Cuộc giải phóng bằng việc báo oán của Thiên Chúa chưa chuyển hoá thành lễ dâng của một vát hy sinh tự nguyện và tự hạ. Thật vậy, Con Chiên phải mặc lấy những màu sắc và những hình thức của Sự Sống thực sự và của Vương triều thiên quốc. Ðó chính là Con Chiên của sách Khải Huyền, hiện diện trong biết bao trang sách khi thời gian viên mãn. Ðiều đó nhắc tôi nhớ tới một bức bích hoạ rất đẹp và rất cổ xưa ở vùng ngoại ô Lyon, trong đó ta thấy Ðức Kitô vinh hiển dưới hình Con Chiên mặt người. Ðó là cuộc khải hoàn của niềm bình an, sức mạnh của sự bất bao động của Thiên Chúa. Vâng, chỉ Con Chiên mới có thể ban sự Bình An của lễ Phục Sinh, niềm bình an được hứa ban cho thế giới đã được giải phóng. Xin ban bình an cho chúng con.

admin
20-02-2011, 12:03 PM
CNTN3
CHÚA NHẬT III THƯỜNG NIÊN

TỨC KHẮC HỌ BỎ THUYỀN MÀ THEO NGÀI
(Mt 4,12-23)



I.VÀI ÐIỂM CHÚ GIẢI:

1.Từ một thời đại đã chấm dứt đến một thời đại đang bắt đầu.

Phần đầu bài Phúc âm Chúa nhật thứ III hôm nay (câu 12-16) được coi như đoạn kết chương nhập đề của Matthêu. Một đoạn kết đã phác hoạ những đề tài sắp khai triển.

Bắt đầu là một cuộc tĩnh tâm. Ðức Giêsu rời bỏ sông Giođan, lui về ẩn ở miền Galilêa. Trong phần tường thuật về thời thơ ấu, Matthêu đã giúp ta làm quen với lối "ẩn dật" chiến thuật này khi gặp đe doạ, bắt bớ. Hãy nhớ lại cuộc chạy trốn sang Ai Cập khi Hêrôđê ra lệnh tàn sát các trẻ vô tội, và khi trở về không về Giuđêa nơi bạo chúa Arkêlaô thống trị, nhưng, để được an toàn, đã về Nadarét, xứ Galilêa. Trong khi Ðức Giêsu thi hành sứ vụ, ta sẽ thấy Người "ẩn mình" khi sức ép của địch thù quá căng thẳng, cho đến khi từ nơi ẩn dật Xêsarê Philipphê, Người bắt đầu chuyến đi lên Giêrusalem để đương đầu với đau đớn, khổ nạn.

Nguyên nhân của việc rút vào bóng tối này đã được thánh sử nói rõ: đó là việc Gioan Tẩy Giả bị bắt giữ.

Ðó là dấu hiệu kết thúc một thời đại. Thời của Lề Luật và các tiên tri - Gioan Tẩy Giả qua đi có nghĩa là bắt đầu một thời đại mới, thời đại hoàn tất trong Ðức Giêsu Kitô. Nhưng cách kết thúc tác vụ của Người Tiền hô đã tiên báo chung cuộc dành cho Ðấng mà Ngài có trách nhiệm loan báo việc ngự đến!

Trốn tránh sự thù địch của Hêrôđê Antipas, môi trường hoạt động truyền giáo của Ðức Giêsu sẽ là Galilêa. Tên Galilêa có nghĩa là: nơi hội tụ các dân tộc đã phiên dịch chính xác tính chất của miền đất biên giới nơi đủ mọi sắc dân chung sống, tràn ngập ảnh hưởng ngoại lai, vùng đất mà Giuđêa và Giêrusalem nghi kỵ nếu không nói là khinh bỉ.

Matthêu nhìn thấy ở đó cả một biểu tượng. Có chỗ tên gọi đó là miền đất thuộc Zabulon và Nephtali. Thực vậy; từ lâu không còn ai hài tên này ra nữa. Cl. Tassin giải thích: vì đối với các đôgiả của Matthêu cũng như đối với ta, tên ấy đã lỗi thời, không còn ghi trong sử sách. Việc hài tên chỉ cho thấy rằng: cùng với sự khai mạc tác vụ Ðức Giêsu tại Galilêa, lời sấm Isaia loan báo từ thời 2 chi họ ấy bị sát nhập vào Assyrie, 734-732 trước Công nguyên, đã được thực hiện; "Dân đi trong tăm tối đã thấy ánh sáng huy hoàng" (bài đọc I Chúa nhật này). Tin Mừng mà Ðức Giêsu khởi sự rao giảng tại Galilêa, "nơi hội tụ dân ngoại không phải chỉ dành cho 1 dân tộc, nhưng cho tất cả mọi người, không phân chia, không loại trừ. Như một biểu tượng, Người đã hướng về dân ngoại và những kẻ bị loại trừ.

Cl Tassin kết luận: "Ta có thế tóm tắt tư tưởng của Matthêu như sau: Ðức Giêsu đã chọn Galilêa vì Galilêa tượng trưng cho thế giới dân ngoại. Quả vậy, trung thành với sứ mệnh clta Emanuel được sai đến với nhà Israel, Ngài vẫn ngỏ lời với dân Do Thái. Nhưng biểu tượng vẫn còn đó. Vào thời của tác giả Phác âm, các tên "Zabulon và Nephtali" nhắc lại cảnh lưu đầy, phân tán, vết thương mở ra niềm hy vọng mãnh liệt về một cuộc tập họp toàn thể dân Thiên Chúa. Ta thấy núi Galilêa nơi tất cả mọi người được mời đến tập họp: dựa trên cơ sở nào, bằng cách nào thì bài giảng trên núi sẽ cho ta biết".

2. Một lời làm nổi lên một dân tộc mới.

Câu 17 mở ra một khía cạnh mới của Phúc âm Matthêu, dành cho việc Ðức Giêsu khai mạc nước Trời. Một công thức đặc sắc được dùng để dẫn nhập: "Bắt đầu từ đó Ðức Giêsu khởi sự..., một công thức mà ta sẽ gặp lại ở 16,21 khi Ðức Giêsu khởi hành lên Giêrusalem "Bắt đầu từ lúc đó, Ðức Giêsu Kitô bắt đầu tỏ cho các môn đệ biết Người phải lên Giêrusalem, chịu đau khổ rất nhiều vì những bậc trưởng lão, các thầy cả và các luật sĩ sẽ bị giết, nhưng ngày thứ ba, Người sẽ sống lại". Có thể nói rằng, ngay từ khi khai mạc, việc loan báo Tin Mừng đã di vào một lộ trình đau khổ. Trước hết Matthêu trình bày một bản đúc kết các lời giảng của Ðức Giêsu, lời giảng này đôi khi nhắc lại lời giảng của Gioan Tẩy Giả: "Hãy sám hối, vì Nước Trời đã gần đến".

+ "Nước Trời ": Một kiểu nói của người Do Thái, vì kính trọng, nên tránh hài tên Thiên Chúa ra. Riêng Marco đã dứt khoát nói về Triều đại của Thiên Chúa. Triều đại này không ở xa khuất trên mây xanh, nhưng ở "rất gần".

+"Hãy hoán cải ": hiệu quả của Triều đại Thiên Chúa tuỳ thuộc vào sự đón nhận của loài người.

Kế đó, tác giả Phúc âm cho độc giả một cái nhìn bao quát về những hoạt động truyền giáo của Ðức Giêsu khởi đầu sứ vụ Galilêa. Di chuyển không ngừng nghỉ (l3, 21, 23, 24) Ðức Giêsu tự đưa mình vào hoạt động Người mời gọi đến với Người, bước theo Người, trở nên môn đệ của Người.

+ Trước tiên, "Khi người đi trên bờ hồ Galilêa". Người kêu gọi các anh em: "Simon còn gọi là Phêrô và Mátthêu hữu ý đặt lên hàng đầu những người được gọi và Matthêu trình bày như khuôn mẫu của những người theo Ðức Giêsu "và André em ông", "Jacobê, con Zebede và Gioan em ông".

Ta có 2 tường thuật ngắn về ơn kêu gọi xây trên cùng một_ kiểu mẫu và hiển nhiên cảm hứng từ 1 Các vua 19,19: Êlia kêu gọi êlisêô.

Ðức Giêsu thấy có người. Ðó là những ngư phủ đánh cá trong hồ.

Người bảo họ: Hãy theo Ta. Lập tức họ bỏ thuyền, bỏ lưới mà theo Người.

Cấu trúc 2 vế này có ưu điểm là làm nổi bật vừa sáng kiến của Ðức Giêsu, Người kêu gọi, vừa câu trả lời nhanh nhẹn không ngần ngại của những người được gọi.

Ðức Giêsu không chỉ muốn biến những người mà Người gọi đã bỏ nghề nghiệp mà theo Người thành những người ngưỡng mộ đơn sơ hoặc những thính giả thăm chú nghe giáo huấn của Người. Nhưng Người muốn họ trở thành những người cộng tác với người trong việc chinh phục con người: hãy theo Ta, Ta sẽ biến các người thành những kẻ chinh phục con người.

Claude Tassin giải thích: "Kiểu nói "chài lưới người ta đã ngầm loan báo sứ mạng Kitô hữu, thánh sử đã nhấn mạnh một điểm: Làm môn đệ chính là làm nhà truyền giáo. Ở đây, Ðức Giêsu kêu gọi các môn đệ, những người sẽ nghe lời Thầy Chí Thành và sẽ chứng kiến việc Người làm. Phêrô, Anrê, Gioan, Giacôbê quả là những tên gọi cao cả đối với Kitô hữu thuộc thế hệ thứ hai. Nhưng, Matthêu, ta kính trọng ký ức của họ ủi họ đã từng là môn đệ, đã được kêu gọi vô điều kiện bởi Ðấng khai mạc Nước Trời".

+ Sau đó, toàn miền Galilêa trở thành diễn trường cho Ðức Giêsu rao giảng. Ðược cải hoá nhờ Tin Mừng, được chữa lành khỏi bệnh tật, những người trước kia không thể bước đi nay bắt đầu đi lại và tạo thành một "dân tộc ": tại miền "Galilêa, nơi hội lụ dân ngoại', đã manh nha một dân mới của Thiên Chúa thuộc mọi chủng tộc mọi ngôn ngữ, mọi nước và mọi dân phát sinh nhờ lời rao giảng Tin Mừng.



II. BÀI ÐỌC THÊM

1.Bình minh của hy vọng. (Mgr. L. Daloz, Le Régne de cieux s est approché).

Ðức Giêsu vào cuộc có nghĩa là ánh sáng đến với nhân loại. Trích dẫn Isaia không đơn thuần đem lại một chỉ dẫn về địa lý. Ðó là một biểu tượng: là lối thoát của dân tộc Do Thái, sinh ở Bêlem, vì là dòng dõi David, trở thành người Galilêa ở Nazareth, Ðức Giêsu đến đón rước các dân tộc. Tức thì sứ mệnh của Người mang lấy dáng vóc phổ quát. Tự bản thân chúng ta cũng phải cúi chào tia sáng đầu tiên này loé lên soi cho các dân đang sống trong bóng tối: Ðức Giêsu đến gặp gỡ ta, đó là khởi đầu ơn cứu độ của ta, là bình minh của niềm hy vọng. Ta chiêm ngưỡng vẻ đẹp của ánh bình minh này với lòng biết ơn rồi làm sống lại trong ta cảm giác kỳ diệu khám phá ra Ðức Kitô, ánh sáng bừng lên soi chiếu vào mắt ta. Vâng, đối với ta vì cả mọi dân tộc, ánh sáng chính là Lời nói lạ lùng mà Phúc âm không cho ta biết đối tượng: Từ lúc ấy, Ðức Giêsu bắt đầu rao giảng: hãy năn sám hối, vì Nước Trời đã gần đến. Lời của Giêsu trên vũ trụ, vượt qua những biên cương của vùng đất hứa cho dân của Giao ước cũ, biến cả thế giới thành vùng đất hứa của Nước trời. Những nỗ lực và lực và toan tính của các vị truyền giáo đều phát xuất từ một lời duy nhất này. Bây giờ đến phiên chúng ta phải chuyển nhữngg từ Phúc âm tạo âm vang cho lời kêu gọi đầu tiên của Ðức Giêsu khi Người đứng trước miền Galilê của các dân tộc, trên bờ sông thế giới.

2. Cuộc phiên lưu vĩ đại khởi đi từ một vùng đất bị khinh khi (F. Deleclos, Prends ét mang la Parole Centurion).

Ðối với dân thủ đô, Galilêa chỉ là tỉnh lẻ. Ðối với ai mộ đạo sùng tín, miền Bắc thực đáng ngờ vực. Ðó là rniền hầu như thuộc ngoại bang, nơi hội tụ dân ngoại Một dân cư pha tạp, nông dân và ngư dân có giọng nói nặng phịch vốn là đề tài phong phú cho các câu chuyện giễu cợt hằng ngày.

Trong khi những tín đồ chính thống ở kinh đô nghiền ngẫm sự khinh khi, chiêm ngưỡng sự siêu việt của mình, chế diễu và tránh xa những người bị loại trừ ở phía Bắc, thì Ðức Messia Cứu Chúa, ánh sáng muôn dân, "tới cư ngự' tại Capharnaum, bên bờ hồ". Xa khỏi kinh đô vĩnh hằng, khỏi thói ngạo mạn, tự tôn, và sự mù quáng của họ. Gioan Tiền hô, vị ngôn sứ của lòng thống hối, đã trở thành kẻ sách nhiễu, gây rối. Ông bị chém đầu. Từ đó Tin Mừng bị nghi ngờ và sứ giả Tin Mừng bị theo dõi gắt gao...Nhưng Ðức Giêsu đã gặp những tâm hồn cởi mở đón tiếp nơi những người hiếu động và bé nhỏ nhất của dân Người.

Chính trên bờ hồ chứ không phải trên các bậc cấp của đền thờ, giữa đám ngư phủ bận rộn công việc chứ không phải nơi những vị tư tế chuyên lo phụng tự mà Ðức Giêsu sẽ chọn các môn đệ của Người. Ðúng là một nước cờ ngược lại mọi lôgic. Chính những người ít khả năng nhất, ít được chuẩn bị nhất lại là những người đầu tiên nhận được ánh sáng và đi theo Ðấng là "Ðường, và Sự Thật và là Sự Sống".

Ngay tức khắc, thành phần lao động đơn sơ chất phác nhưng có trái tim nhạy bén đã tin tưởng vào ngôn sứ, người rao giảng chẳng có danh nghĩa chính thức, người chạy trốn chính quyền hợp pháp câu nệ thói tục và lối giải thích của họ. Những người tội lỗi bỗng nhiên bị chất vấn, đã cảm thấy ánh sáng mà ngay những kẻ rắc rối khó tính nhất cũng phải nhượng bộ... và họ đã đi theo Người. Cuộc phiêu lưu vĩ đại đã khởi đi từ một miền đất bị nguyền rủa. Thế giới đổi mới đã ăn rễ sâu vào vùng đất nhơ uế, nhưng cởi mở đón tiếp mọi bất ngờ của Thánh Thần, của Thiên Chúa...

Hôm nay cũng thế, Ðấng Phục Sinh vẫn tiếp tục sứ mệnh của Người không theo cách người ta nghĩ. Người tỏ mình ra dạy dỗ, và kêu gọi không theo những chuẩn mực hay lý luận của người phàm chúng ta. Không khác gì vào thời của Ðền Thở, Ðức Giêsu không chỉ giam mình trong các truyền thống nhân loại, trong các tính toán của các chuyên gia, trong phán quyết của các quyến lực Người không bị giam hãm trong Giáo Hội của Người, Giáo Hội đang bị chia rẽ, nơi người thì tự cho mình là thuộc phe Phaolô và Giacôbê, Anrê, Matthêu như thể kitô đã bị chia cắt và như thể là giáo huấn của người không quan trọng bằng giáo huấn của môn đệ Người. Trong khi con cái trong nhà cãi cọ, xâu xé thân thể mầu nhiệm Ðức Kitô và đóng đinh Người, Người chạy đến nơi "hội tụ dân ngoại và tìm được sự tiếp đón nồng hậu, tìm được môn đệ trong đám người bị khai trừ và những người sống ngoài lề xã hội.

admin
20-02-2011, 12:04 PM
CNTN4
CHÚA NHẬT IV THƯỜNG NIÊN

CÁC MỐI PHÚC
(Mt 5, 1-12)



I. VÀI ÐIỂM CHÚ GIẢI:

1.Tin vui

Hai trong bốn tác giả Phúc âm tường thuật các mối phúc trong phần mở đầu cho bài đại diễn từ cương lĩnh của Ðức Giêsu. Theo thánh Luca, bài diễn từ quan trọng này diễn ra "ở đồng áng", vào lúc quan trọng nhắt của sứ vụ Ðức Giêsu ở Galilê, trái lại theo thánh Mátthêu, nó diễn ra vào buổi đầu của sứ vụ Chúa Giêsu ở Galllê, và ở trên núi tượng trưng núi Sinai nơi Môsê mới sẽ công bố Lề Luật của Giao ước mới. Bốn mối phúc tương ứng với bốn lời chúc dữ theo trình bày của Luca chắc chắn gần với chính lời của Chúa Giêsu hơn tám mối phúc của Mátthêu vì Mátthêu nhằm áp dụng giáo huấn đích thực của Chúa Giêsu vào thực tại đời sống Kitô hữu nơi các cộng đoàn của ngài. Hạnh phúc mà các mối phúc công bố cũng như hạnh phúc cho những người sống các mối phúc này trong những hoàn cánh cụ thể của cuộc đời: "Phúc cho ai có lòng khó nghèo!...Phúc cho ai hiền lành!... không phải do chinh phục mà được, nhưng là ơn huệ Thiên Chúa ban qua con Ngài là Ðức Giêsu Kitô. Họ được ban tặng hạnh phúc này ngay rừ bây giờ: "Nước Trời là của họ". Hạnh phúc ấy sẽ triển nở dưới ánh sáng của đời sau: "Phần thưởng của các con sẽ lớn lao trên trời". Cl Tassin chú giải: "hạnh phúc" trong Kinh thành là tiếng ca tụng người biết làm cho ơn Chúa ban sinh lợi, nên họ cảm thấy hạnh phúc ngay từ bây giờ, và nếu họ luôn trung thành với con đường đã chọn, họ sẽ được nhìn nhận là người công chính trong giờ phán xét. (Tin Mừng thánh Mát-thêu, Centurion, 1991, tr. 58).

2.Của một hiện tại nhào nặn tương lai.

Bốn mối phúc đầu của Mátthêu tương tự nhau: ca ngợi người biết hướng về Thiên Chúa và từ chối mọi bạo lực.

+ Phúc cho ai có lòng khó nghèo: vì Nước Trời là của họ. "Sự khó nghèo" mối phúc này nhắm tới không phải là sự khó nghèo về vật chất; nhưng là thái độ tinh thần của một người nghèo rự nhận mình không có quyền hành gì trước mặt Chúa, trái lại mọi sự mình có đều do bàn tay nhân từ của người cha. Potel chú giải: "Người Kitô hữu trước hết nhìn nhận rằng mình đã mãnh nhận sự sống từ Thiên Chúa mà Ðức Giêsu dạy phải nhận ra và yêu mến Ngài như người. Sự nghèo khó tinh thần chính là chấp nhận từ thẳm lặng mình rằng sự sống là quà tặng thường xuyên của người Cha này. Thiên Chúa không cần lời khen ngợi, Ngài tự hiến một cách vô vị lợi: đó chính là nguồn mạch sự khiêm nhường Kitô giáo. Một điều nghịch lý là sự khiêm nhường triệt để này lại tạo nên phẩm giá của một con người và của tất cả mọi người. Thực vậy, phẩm giá này còn dựa trên sự giầu có cũng như nhận đức tính nhân bản nhưng trên tình yêu mà Thiên Chúa dành cho mỗi người nhất là người nghèo. Chính đây là trọng tâm của Tin Mừng vĩnh cửu! (Ðức Giêsu, lịch sử đích thực, Centuion. 1994, tr. 146-147).

+ Phúc thay ai hiền lành, vì họ sẽ được đất hứa làm gia nghiệp. Mối phúc thứ hai này nối dài mối phúc trên từ một câu thánh vịnh 36: "những ai hiền lành sẽ chiếm hữu trái đất và sẽ hưởng một nền hòa bình sung mãn".

J. Potel nói tiếp: "Sự hiền lành là hoa trái của sự khó nghèo. Người nghèo thì không có một phương tiện thể lý hoặc pháp lý nào được bảo vệ vụ kiện của mình. Vậy phải chăng người nghèo hoàn toàn trơ trọi trước những người không nhìn nhận quyền của mình? Không, vũ khí của họ chính là sự hiền lành, sự nhẫn nại, sự tín nhiệm vào Thiên Chúa. Sự chiến thắng vĩnh viễn không đến từ võ lực. Ngày nay người ta nói nó là kết quả của sự không dùng bạo lực (sách đã dẫn, tr.147) + Phúc thay ai sầu khổ vì họ sẽ được an ủi dĩ nhiên phải hiểu là: họ sẽ được Thiên Chúa an ủi bởi vì các nhà chuyên môn gọi thì thụ động ở đây là thì phụ động thần học. Tận đáy sâu của nỗi tuyệt vọng, người tín hữu vẫn thấy ánh lên một tia hy vọng: Tia hy vọng này là khuôn mặt của Thiên Chúa. Ngài đến gần để an ủi người đắm chìm trong cơn thử thách. (Sách đã dẫn).

+ Phúc thay ai khát khao nên người công chmh, vì họ sẽ được Thiên Chúa cho thỏa lòng. Rảo qua toàn bộ Kinh Thánh. Sự công chính có mối phúc thứ bốn được hiểu là tự điều chỉnh tâm hồn và thái độ theo cách thế Thiên Chúa đã lành Thiên Chúa ở đây là đấng đã đến gặp gỡ con người và nối kết với họ bằng giao ước. Trọn đời mình, người Kitô hữu tìm cách đáp ứng những đòi hỏi tinh thần và luân lý do giao ước này đề ra bằng cách thực hiện sự công chính". Ðối với Thiên Chúa và đối với đồng loại (Sách đã dẫn).

Họ sẽ được Thiên Chúa cho thỏa lòng Người Kitô hữu hiểu rằng cuối đời họ sẽ nhận được sư sống sung mãn từ Thiên Chúa giao ước. Và theo họ, nếu đời sống đạo đức bắt nguồn từ Thiên Chúa thì nó cũng sẽ hoàn tất nơi Ngài. Bốn mối phúc sau hướng đến thái độ đặc trưng của người môn đệ Ðức Kitô.

+ Phúc thay ai xót thương người vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương. Khi chiêm ngắm cách Thiên Chúa, Ðấng nhân rừ và xót thương cư xử với ta, người môn đệ của Ðức Giêsu học biết tha thứ những xúc phạm, trợ giúp anh em mình sống trong cảnh tuyệt vọng.

+Phúc thay ai có tâm hồn trong sạch, vì họ sẽ nhìn thấy Thiên Chúa. Sự trong sạch ở đây không có liên quan trực tiếp đến tình dục. Nó cũng không phải là sự chinh trực, sự không giả dối, sự đi đôi giữa nói và làm, giữa hành vi và động cơ sâu xa của nó. Sự trong sạch đây là con đường hợp nhất với Thiên Chúa.

+ Phúc thay ai xây dựng hòa bình, vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa! Jean Potel giải thích: Ðối với cuộc sống hòa bình bằng cách rèn luyện một đời sống hoà hợp và an lành không đủ. Ngài đòi hỏi một đức ái tích cực, nhất là khi không có hòa bình trong gia đình, một công đoàn Kitô hữu, giữa các nhóm xã hội cũng như các dân tộc. Hòa bình không có biên giới cũng như tình yêu Thiên Chúa không có giới hạn. Nhưng người đời sống hòa bình sẽ được gọi là con Thiên Chúa: dĩ nhiên nhiện vụ của con là tiếp tục công việc của cha mình, mà điều Cha trên trời muốn là đem hòa bình đến cho con người. (Sách đã dẫn. tr. 148).

+ Phúc thay ai bị bách hại vì sống công chính, vì Nước Trời là của họ!". Trung thành thân giữ giáo huấn của Ðức Kitô như trong Các Mối Phúc không phải là không có những hiểu lầm, những đối nghịch, những bách hại vì những giá trị Nước Trời đi ngược lại với những giá trị thường được đề cao như những tiêu chuẩn cuộc sống. Ðối với Ðức Giêsu, những môn đệ bị bách hại của ngài là những người nghèo thực sự của mối phúc thứ nhất. Họ chỉ có lời hứa Nước Trời cho những khổ đau họ gánh chịu.

Tất cả các mối phúc đều vẽ lên một khuôn mặt, đó là khuôn mặt của Ðức Giêsu. Jean Potel kết luận ngài hân hoan đón nhận Nước Trời mà Ngài hết lòng chờ đợi và đã hoàn toàn dấn thân vì Nước Trời ấy. Cuộc đời, lời nói, hành vi của ngài đều biểu lộ nơi Ngài một con người nghèo hèn, hiền lành, thương xót, trong sạch, kiến tạo hòa bình; một người chỉ sống vì Nước Trời đang đến, vì triều Ðại của Ðấng mà các môn đệ Ngài sẽ cầu khẩn khi gọi là Cha". (sách đã dẫn, tr. 149).



II. BÀI ÐỌC THÊM:

1."Lắng nghe lời Ðức Giêsu trong tương quan sống động với con người của Ngài". (Ðức Cha L. Daloz, trong "nước Trời đến gần", Desclée de Brouwer, 1994, tr.43-44).

Mấy lời dẫn nhập và "diễn từ" của Ðức Giêsu được tập hợp lại trong bài "diễn từ": "Thấy đám đông, Ðức Giêsu lên núi. Người ngồi xuống, các môn đệ đến gần bên. Người mở miệng dạy họ rằng". Ta đừng khinh thường bỏ qua những hàng này. Nhờ chúng, toàn bộ diễn từ theo sau mới có ý nghĩa, bởi vì bài diễn từ này không chỉ đơn giản là một chuỗi những câu trống không nói lên những qui tắc về một lối sống đạo đức. Nó là lời của Ðức Giêsu: Người mở miệng dạy họ rằng. Ðừng quên con người Ðức Giêsu. Ngài nói với đám đông và đám đông phản ứng: ở cuối bài giảng trên núi, tác giả Tin Mừng nói với chúng ta: "Khi Ðức Giêsu Giảng dạy những điều ấy xong, đám đông sửng sốt về lời giảng dạy của Ngườ, vì Người giảng dạy như một Ðấng có thẩm quyền, chứ không như các kinh sư của họ." (7,28-29) Ðiều đánh động đám đông không phải là giáo thuyết nhưng là con người của Ðức Giêsu và thẩm quyền nơi lời của Ngài.

Chúng ta cũng vậy, hãy nghe lời Ðức Giêsu không như những chân lý ngàn đời, nhưng trong mối tương quan sống động, với bản thân Ngài. Chính con người của Ngài làm cho giáo huấn của Ngài có thẩm quyền. Chiêm niệm những gì mình đọc là điều cần thiết, đừng chỉ suy tư về vẻ đẹp và về những đòi hỏi trong lời Ðức Giêsu nói. Thẩm quyền lời Ðức Giêsu biến thành một bảng xét mình cũng không đúng. Vì như vậy, lời Chúa sẽ trở thành một đối tượng chiếm hữu, một phương tiện sử dụng... để tạo dựng một đời sống tốt lành, một sự hoàn thiện cho chúng ta, như những người Biệt phái. Trái lại, chúng ta phải đón nhận lời từ miệng Ðức Giêsu, phải chăm chú điều Ngài muốn nói với chúng ta... chứ không phải vào điều mà những lời này nói với chúng ta, vì làm như vậy có nguy cơ là những lời này chúng nói gì với chúng ta! Một nguy hiểm nghiêm trọng là ta thường đọc Tin Mừng chỉ như một bản văn đơn thuần, như một đối tượng để biến thành phương tiện sử dụng. Tin Mừng là nơi gặp gở, nơi lắng nghe. Khi ta không hiểu rõ lời Ngài nói chúng ta có thể xin Ngài giải thích để ta hiểu. Khi ta không thể thực hiện được điều Ngài đòi hỏi, ta xin Ngài giúp đỡ gặp gỡ Ðức Giêsu, nghe Ngài, cầu xin Ngài cho ta có tai để biết nghe, cho ta sức mạnh để thực hiện, đó là cách ta đọc Tin Mừng. Ta hãy lắng nghe những gì Ðức Giêsu nói trong bài diễn từ trên núi này. Cầu xin Ngài cho chúng ta hiểu lời Ngài dạy và đem ra thực hành.

2. "Các mối phúc: lời hứa và món quà hạnh phúc". (J. Guillet, trong Ðức Giêsu trong đức tin của những môn đệ đầu tiên Dédée de Brouwer, 1995, tr. 96-97).

"Khi mở đầu sứ điệp của Ngài bằng các mối phúc,Ðức Giêsu không muốn phác họa một còn đường đưa đến hạnh phúc, một lộ trình buộc ta phải theo, nhưng Ngài hứa: một quà tặng mà chỉ có Ngài mới có thể ban. Ngài không bảo ta đi tìm hạnh phúc hay chờ đợi nó. Ðây chỉ là sư mơ ước theo tính toán của ta, niềm hy vọng phát sinh từ những ước muốn của ta. Ngay trước khi công bố các mối phúc, Ðức Giêsu đã kêu gọi dân chúng sám hối và tin tưởng, anh em hãy sám hối là tin vào Tin Mừng! Khi mời gọi sám hối và công bố Tin Mừng trọng đại, Ðức Giêsu xuất hiện như một tiên tri cao cả nhất từ trước tới nay. Khi tung ra các mối phúc, Ngài tỏ ra mình là người khôn ngoan và giới thiệu một kinh nghiệm. Tin Mừng vừa là lời tiên tri của một biến cố vĩ đại vừa là sự chuyển thông đức khôn ngoan.

Tin Mừng không phai là đi tìm hạnh phúc nhưng là lời hứa và quà tặng hạnh phúc vì Thiên Chúa đã tạo dựng con người để họ được hạnh phúc. Nhưng đó không phải là thứ hạnh phúc mà họ ước mơ và hăng say chinh phục: Hạnh phúc đây chính là sự sống cua Thiên Chúa ban cho con người là trong hạnh phúc đó, ngài qui tụ tất cả con cái Ngài lại. Ta có thể làm sai lạc ý nghĩa của các mối phúc cũng như làm méo mó hình ảnh của Ðấng Thiên Sai đến nỗi không còn nối kết hình ảnh ấy với Ðức Kitô được nữa Ngài không nói: anh em nghèo khổ nên anh em sẽ được hạnh phúc; Ngài cũng không nói: anh em hãy nghèo khổ để được hạnh phúc. Ngài chỉ nói: anh em nghèo khổ, hạnh phúc đến với anh em. Ngài có thể nói điều đó bởi lời Ngài đem đến hạnh phúc này, bởi vì chính bản thân Ngài là niềm vui là hạnh phúc của Thiên Chúa. Nhưng để cảm nhận được điều này, phải tin và ưng thuận theo Ngài. Hạnh phúc này không thuộc về một thế giới khác với thế giới ta đang sống Nó cũng không được cất giấu ở một nơi bí mật. Nhưng ngay từ bây giờ nó đã được ban tặng cho tất cả mọi người, là trước hết là những người đau khổ. Những phép lạ Ðức Giêsu đã gieo trên đường rao giảng là dấu chỉ cho thấy Ngài chính là cội nguồn hạnh phúc. Ðây chỉ là những dấu chỉ, chúng không biến đổi hoàn cảnh ta đang sống, nhưng chỉ ra một lối thoát là cho ta nghe được lời mời: Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng. Anh em hãy mang lấy ách của tôi và hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhượng. Tâm hồn anh em sẽ được nghỉ ngơi". (Mt. 1l,28-30) Ðó là phong cách và ngôn ngữ của một tôn sư về sự khôn ngoan của một người đã sống một kinh nghiệm và tự biết anh có thể truyền đạt nó. Ðó cũng chính là người cộng tác mối phúc và ngôn ngứ vẫn là một: Phúc cho những ai hiền lành-Ta là Ðấng hiền lành; nghỉ ngơi hòa bình. Từ dùng có thể thay đổi, nhưng vẫn là kinh nghiệm ấy, tiếng nói ấy, tấm lòng ấy. Chỉ có Ngài mới biết hạnh phúc là gì; chỉ có Ngài mới có thể ban hạnh phúc vì hạnh phúc là quà tặng của Thiên Chúa."

admin
20-02-2011, 12:05 PM
CNTN5
CHÚA NHẬT V THƯỜNG NIÊN

SỨ MẠNG CỦA CÁC MÔN ÐỆ: ANH EM LÀ MUỐI CHO ÐỜI ANH EM LÀ ÁNH SÁNG THẾ GIAN

(Mt 5, 13-16)



I.VÀI ÐIỂM CHÚ GIẢI
1.Sứ mạng của các môn đệ.

Trong các mối phúc Ðức Giêsu đã công bố hạnh phúc cho những người đáp lại lời mời gọi của Ngài và bắt đầu theo Ngài: đó là các môn đệ. Hạnh phúc được ban cho họ từ bây giờ như một quà tặng, ngay trong những hoàn cảnh cụ thể và đôi khi ngay trong những hoàn canh đau khổ tột cùng của đời sống "Nước Trời và của họ"; một ngày kia hạnh phúc ấy sẽ triển nở trong ánh sáng của đời sau: "Phần thưởng của anh em sẽ lớn lao trên trời".

Tiếp theo lời mở đầu của bài giảng trên núi, Ðức Giêsu xác định sứ mạng của các môn đệ Ngài: anh em là muối cho đời... anh em là ánh sáng thế gian. Chúng ta đã bao giờ có một định nghĩa hay hơn định nghĩa này về Giáo hội không? giáo Hội không phải là một cái bình xoay trong đó là những người được cứu độ (ngoài Giáo Hội không có sự cứu độ), nhưng vì ánh sáng trên núi cao chiếu tỏ ý nghĩa cuộc sống và cắm nọc tiêu chỉ đường cho những ai sống trong bóng tối (Isaia 60), ánh sáng này qui chiếu về nguồn mà nhờ đó nó tỏa sáng! (Cahier Evangile, số 9, tr. 11) trong thế giới sê-mít nơi Ðức Giêsu công bố giáo huấn này và nơi Thánh Mátthêu viết Tin Mừng của ngài, muối là một thực tại hằng ngày chứa rất nhiều ý nghĩa biểu tượng. Ðược dùng trong việc chuẩn bị bữa ăn để cho các món ăn thêm hương vị, muối đã trở nên biểu tượng của tất cả những gì làm cho hiện hữu có hương vị và ý nghĩa, đàng khác một điều đáng chú ý là trong tiếng Latinh, "nếm" (sapere) và "khôn ngoan" (sapientia) có cùng một gốc và trong tiếng Hy lạp và tiếng Do thái, có cùng một động từ vừa có nghĩa "lạt đi" "trở nên lạt lẽo" vừa có nghĩa trở nên vô nghĩa".

Ðược dùng trong việc bảo quản thức ăn, muối đã trở nên biểu tượng của sự vĩnh hằng và được sử dụng trong những nghi lễ giao ước - người ta nói Giao ước của muối" (2 Ký sự 13, 5 và lêvi 2, 13) và trong những nghi lễ đón tiếp và cho khách ở trọ. Muối không được lạt đi! Cl. Tassin chú giải: các môn đệ đem hương vị cho đời và bảo đảm sự sống còn của thế gian trước mặt Thiên Chúa. Nhưng nếu họ không đảm đương được công việc này và đánh mất tinh thần các mối phúc, họ sẽ chẳng còn giá trị gì và Thiên Chúa sẽ từ bỏ họ". (Tin Mừng thánh Mátthêu, Centurion, 1991, tr.62).

2.và "ánh sáng thế gian".

Ðể giúp các môn đệ hiểu rõ hơn sự lớn lao và những đòi hỏi của sứ mạng Ngài trao, Ðức Giêsu dùng hai hình ảnh.

Trước hết, Ngài nói đến một "thành xây trên núi" có lẽ cảnh trí của thành Safed đã gợi ý cho Ngài. Thành này nằm trên mũi đá phía đông-bắc rặng Haute-Galiê nên ban ngày, những ngôi nhà mầu trắng phản chiếu ánh sáng mặt trời và ban đêm nó tỏa sáng. "Trở nên ánh sáng thế gian", đó là lời các ngôn sứ loan báo về tương lai của Giêrusalem vào thời Ðấng Thiên sai: thành này sẽ là thành phố ánh sáng trên núi mà mọi dân tộc sẽ đi về đó. Là ánh sáng cho thế gian" là sứ mạng được trao cho cộng đoàn các môn đệ.. Rồi Ngài nói với các môn đệ người ta đốt đèn không phải để giấu nó "dưới đáy thùng"-dùng để xếp đồ trong những ngôi nhà xứ Pálestine - nhưng là để trên "giá đèn" hầu soi cho tất cả mọi người trong nhà. Cộng đoàn các môn đệ mà Ngài sai đến trong thế gian cũng phải như vậy.

Cl.Tassin kết luận: Giáo Hội sẽ thi hành sứ mạng là muối cho đời và là ánh sáng thế gian, bởi sự chôn vùi và sự tỏa sáng chứ không phải là tham vọng chinh phục về địa dư " (Sách đã dẫn)



II. BÀI ÐỌC THÊM
1.Muối và ánh sáng: (Ðức cha L. Daloz, trong "Nước Trời đến gần" Desclée de Brouwer, 1 994, tr.48-49)

"Anh em là muối cho đời. Ðể có ích, muối không được mất vị của nó: nó chỉ là gia vị! Chính nó không phải là thức ăn, ít ra thường là như vậy: nó giúp cho thúc ăn có hương vị. Trở nên nguồn hương vị thơm ngon, đó là nét độc đáo của chúng ta, những người theo Ðúc Kitô, trong thế giới chúng ta đang sống. Nét độc đáo này giúp chúng ta trở nên hữu ích cho đời nhờ sự khác biệt của nó. Chúng ta không được đánh mắt sự khác biệt này: Nếu muối: lạt đi thì lấy gì ướp nó mặn lại được? Sự khác biệt của chúng ta không ở nơi bản chất riêng của mình hay nơi những tính tốt chúng ta có, chúng ta không tự hào là những người tốt nhất hoặc muốn dạy người khác. Chúng ta cũng được nhào nặn bởi cùng một-thứ bột như tắt cả mọi người. Chúng ta cũng gặp những thuận lợi và những chướng ngại trong chúng ta và chung quanh chúng ta như mọi người. Nhưng chúng ta ra lạt khi không còn liên kết với Ðức Kitô, khi không còn qui chiếu về Ngài, khi Ngài không còn là men cho đời sống chúng ta. Lúc đó cuộc sống chúng ta và thế giới chúng ta sống sẽ thiếu hương vị, bởi vì sứ mạng của chúng ta là làm cho thế giới này biết thưởng thức Ðức Kitô và Tin Mừng của Ngài! Hình ảnh ánh sáng nối tiếp và làm rõ hình ảnh về muốí: Anh em là ánh sáng thế gian ánh sáng là để nhìn, chúng tự nó không đủ. Nó vô dụng nếu nó không soi cho thấy gì hết. Ðức Giêsu đặt các môn đệ của Ngài trong thế gian ta qui chiếu với thế gian. Ngài không kêu gọi họ đóng khép kín, tách rời người khác. Thánh Gioan cũng nói như vậy nhưng diễn tả cách khác: Con sai họ đến trong thế gian (Ga17, 18). Chính vì vậy, các Kitô hữu sống trong thế gian và trong những hoàn cảnh như mọi người không những là điều bình thường mà còn cần thiết nữa.không sống trong một thế giới khác! Chúng ta phải thực hiện những công việc của ánh sáng, nghĩa là những hành vi tốt hay những việc làm tốt được ánh sáng Thiên Chúa soi chiếu để trở thành những việc làm của chính Thiên Chúa. Nói vậy không có nghĩa là Thiên Chúa mời gọi chúng ta tin rằng mình là người tốt hơn người khác hoặc tự mình, mình có thể hành dộng tốt hơn họ, bởi vì mọi công việc chúng ta làm đều qui về vinh quang Thiên Chúa là nguồn ánh sáng: ánh sáng của anh em phải chiếu giãi trước mặt thiên hạ, để họ thấy những công việc tốt đẹp anh em làm, mà tôn vinh Cha anh em, Ðấng ngự trên trời. Nơi Ðức Giêsu, ánh sáng đã tỏa chiếu trong thế gian. Chúng ta chỉ phản chiếu lại ánh sáng này. Ðời sống, hành vi của chúng ta trở nên tấm gương phản chiếu vinh quang Thiên Chúa, trở nên nơi gặp gỡ giữa Thiên Chúa và con người".

2."Thấm nhập vào nơi thâm sâu của thế giới bằng sức mạnh linh hoạt của muối và sự chiếu toả của ánh sáng" (J.Guiuet. Trong Giêsu trong niềm tin của các môn đệ đầu tiên, Desclée de Brouwer, 1995, tr.110-111).

"Mát-thêu đã xen kẽ hai đoạn ngắn với hình thức dụ ngôn về muối và ánh sáng vào giữa các Mối Phúc và những điều Ðức Giêsu công bố về Luật (Do Thái). Cả hai đoạn này đều nhắm một nhóm riêng, phân biệt rõ ràng với những người đi theo nghe Ngài giảng, bởi vì nhóm này phải hành động theo lời Ngài dạy: "Anh em là muối cho đời", "Anh em là ánh sáng thế gian" (Mt 5,16). Trong bối cảnh Bài giảng trên núi, rõ ràng Ðức Giêsu nói với các môn đệ theo Ngài. Và nếu không loại bỏ đám đông náo nức theo Ngài, chúng ta có thể tin rằng sứ điệp của Ðức Giêsu đã gây một tiếng vang nào đó trong đám đông và có thể một hạt nhân các môn đệ thành hình, gồm phụ nữ và đàn ông muốn theo Chú, tuy nhiên họ không làm thành một dân tộc mới, họ vẫn luôn thuộc về dân của Abraham, của Môi-sen: họ là những người mang sứ điệp mới trong dân tộc họ. Ðiều này không có gì là lạ bởi vì người Israel đã có thói quen nghe các ngôn sứ nói đến tương lai mà Thiên Chúa đang chuẩn bị, tương lai đó có lúc đen tối, có lúc lại rực rỡ. Tuy nhiên, tương lai Ðức Giêsu phác họa hoàn toàn khác trước.

Ở đây sự song hành với biến cố Sinai giúp làm sáng tỏ hơn. Một nhóm nhỏ những người dân giã tương ứng với dân chúng đông đảo tụ tập dưới chân núi của Thiên Chúa. Nhưng trong khi ơn gọi của dân Israel là làm chứng cho Thiên Chúa và là dấu chl sự chúc phúc của Thiên Chúa ở giữa các dân tộc, thì sứ mạng của nhóm hạt nhân nhỏ này là thẩm nhập vào nơi thâm sâu của thế giới bằng bức mành linh hoạt của muối vô sự chiếu tỏa của ánh sáng. Abraham là người được Thiên Chúa chúc phúc và mọi dân tộc trên mặt đất đều được chúc phúc qua ông (Gen. 12,1). Dân lsrael của Môi-sen phải trở nên một dân lớn và mọi dân tộc khác đều thán phục cách ăn ở và tinh thần của họ: Khi biết đến các lề luật này, họ sẽ thốt nên: Chỉ có một dân tộc khôn ngoan và minh mẫn, đó là dân tộc lớn này. Thật vậy, có dân tộc nào lớn đến nỗi các thần linh của họ gần gũi họ như Giavê, Thiên Chúa của chúng ta ở gần chúng ta mỗi khi chúng ta kêu cầu Ngài". (Nhị Luật 4,6) Theo Ðức Giêsu chỉ có một số môn đê. Tuy sống trong lòng một thế giới còn chưa biết đến mình, nhưng họ lại mang theo mình một sức mạnh khả dĩ biến đổi thế giới. Bởi vậy, sự tỏa chiếu của các mối phúc trở nên động lực cuộc sống.

3. "Xin hãy trao ban chính bạn làm muối ướp đời tôi".(H. Denis, trong 100 từ để nói về niềm tin, Desclie de Brouwer, 993, 95-96).

"Muối! Tại sao lại chọn vật nhỏ bé chẳng là chi hết ngoài công dụng như một thứ gia vị? Một số Kitô không còn quen dùng nữa. Giáo Hội đôi khi còn nuối tiếc việc bỏ không dùng muối trong bí tích rửa tội. Một sự tiếc nuối vô ích khi mà nó không thúc đẩy người ta dấn thân.

Muối Tin Mừng còn quan trọng hơn một nghi lễ rất nhiều Bạn hãy mường tượng và chúng ta còn sửng sốt về điệu này muối là chính bạn là chính tôi, là tất cả môn đệ Ðức Giêsu. Môn đệ Ðức Giêsu là phải là muối cho đời. Chỉ vậy thôi! Một tham vọng ghê gớm, nếu chứng tá tự cho mình là những người tốt nhất, là giả vị duy nhất trong đám đông nhạt thếch, không có vị mặn. Nhưng đó sẽ là một trách nhiệm lớn lao nếu Ðức Giêsu trao cho chúng ta một sứ mạng như vậy và cách thế để thực hiện nó. Vâng, trước hết chúng ta có trách nhiệm của một loại giao ước giữa cái là muối và cái chưa phải là muối. Môﴠthế giới không có muối thì chẳng có một chút hương vị nào, nhưng nếu ở ngoài thế giới này thì muối cũng vô dụn, Kitô hữu và thế gian là hai thành phần liên kết với nhau. Cả hai được tạo dựng để trộn lẫn với nhau. Hơn nữa, người trước tiên được lợi chính là người Kitô hữu, vì họ phải ướp mặn nơi họ tất cả những gì chưa là Kitô hữu. Một trách nhiệm khác mầ bạn biết rất rõ, đó là đừng la nhạt. Bạn đừng nghĩ rằng để tránh điều này bạn phải trốn khỏi thế gian ắt hẳn sẽ có nguy cơ bị tan rã ở đó cách đơn thuần và dễ dàng. Nhưng muối mà chất đống và để nguyên một chỗ cũng có nguy cơ bị phân hủy đi. Vậy bạn hãy nói cho tôi biết, nếu giữa người với người, giữa những Kitô hữu với nhau, chúng ta cố gắng duy trì vị hương...cho thế giới của chúng ta thì phải làm thế nào? Không thể chỉ cậy vào mình. Phải có thể nói: Xin đưa cho tôi chút muối? như là trong bữa ăn của đôi vợ chồng, của cha mẹ và con cái. Vâng, nếu có bao giờ Tin Mừng nơi bạn nhạt nhẽo đi thì luôn có một người anh, một người chị để bạn hoàn toàn tin tưởng nói với ho: (xin hãy trao ban chính bạn làm muối ướp đời tôi!".

admin
20-02-2011, 12:06 PM
CNTN6
CHÚA NHẬT VI THƯỜNG NIÊN

"TA KHÔNG ÐẾN ÐỂ BÃI BỎ

NHƯNG ÐỂ KIỆN TOÀN"

(Mt 5, 17-37)



I.VÀI ÐIỂM CHÚ GIẢI:

1.Nguyên tắc chung: "không bãi bỏ, không kiện toàn".

Leo lên ngọn núi Sinai mới, Ðức Giêsu, trong các mối phúc của nình, trước tiên, tán tụng cảnh sống hạnh phúc của các môn đệ qua lời mở đầu của bài giảng trên núi: "Phúc cho những tâm hồn nghèo khó: vì nước trời là của họ". Ðoạn ngài, minh định sứ mệnh trao phó cho họ: "Các con là muối đất... các con là ánh sáng trần gian" tiếp đến trung tâm bài Hiến chương, Ngài mạc khải cho các người của mình sự mới mẻ hoàn toàn của Tin Mừng. Bản văn mang đậm dấu ấn của thánh Mátthêu này gợi lên áp lực lưỡng diện đang đè nặng trên những cộng đoàn Kitô giáo.

Trước tiên, là áp lực ngoại tại của hội đường, nhân danh lề luật bắt bớ các môn đệ của Ðức Giêsu. Sau đó, là áp lực nội tại của các cộng đoàn tín hữu bất nguồn từ Do thái giáo, "truyền thống hơn " đôi khi co vào sự tuân giữ lề luật theo nghĩa ngữ, đối lại với các tín hữu xuất thân từ đa thần giáo, luôn tìm cách gièm pha lề luật Giáo huấn của Ðức Giêsu sẽ sửa lưng cả hai. Quả thật, Ngài tuyên bố rằng mình "không đến để bãi bõ lề luật hay các tiên tri, mà để kiện toàn" nghĩa là thể hiện một cách viên mãn, hoàn hảo trong tình yêu và tự do của Con cha trên trời. Vì thế, từ nay "sự công chính" mới hệ tại không phải ở chỗ khép nình một cách bề ngoài vào các tập tục, nhưng là "khuôn mình " theo thánh ý Chúa Cha như Ðức Giêsu. Sống trong cộng đoàn với tình yêu và tự do của con cái có thể, mới "công chính" hơn các luật sĩ và biệt phái được Thánh Irênê thành Ly-on, vào thế kỷ thứ hai đã hỏi: như vậy, khi đến trần gian này, Chúa đã mang theo những gì? Ngài đã mang theo sự mới mẻ hoàn toàn bằng chính con người của Ngài.

2..Những áp dụng cụ thể

Tiếp sau là năm phản đề cụ thể hóa "sự công chính mới" sẽ là bài học áp dụng nguyên lí tổng quát này vào cuộc sống tín hữu, vì chính toàn thể lề luật Phúc âm phải bao bọc toàn thể cuộc sống các môn đệ. Năm hình ảnh, mà chúng ta sẽ theo dõi trong bài đọc chúa nhật tới, đều bắt đầu với công thức "Anh em đã nghe biết người xưa dậy rằng... còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết... " Một kiểu nói trống để tránh dùng tên Thiên-Chúa, có nghĩa là "Thiên-Chúa đã phán ", "anh em đã nghe biết khi lời Chúa được công bố long trọng trong hội đường", đối lại, Chúa đưa ra những xác quyết của riêng mình "Còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết". Theo Jean Potin, "Ðức Giêsu tự giới thiệu như là một Môse mới, không chỉ đủ thẩm quyền giải thích luật lệ của Thiên Chúa, mà còn cách tân: luật Chúa đã bảo anh em...nhưng Thầy, Thầy bảo anh em...ngài còn hơn cả luật Môsê mới nữa vì Ngài không chỉ bằng lòng nói về lề luật mới như một nhà làm luật, mà còn cắt nghĩa cho người cụ thể để họ gắn bó ngày càng mật thiết hơn với Thiên-Chúa Cha, là Ðấng mà họ phải nên hoàn thiện như Người. " (Ðức Giêsu, lịch sử đích thực, Centurión, tr. 198) Minh họa đầu tiên là "mối tương giao huynh đệ" Thập giới truyền bảo "ngươi không được giết người'? Còn Chúa Giêsu, đi đến cùng chung đòi hỏi cua lề luật, đã tuyên bố rằng, nguyên việc không phạm tội sát nhân thôi: chưa đủ, mà còn phải loại bỏ nỗi oán hận và giận hờn khỏi lòng mình nữa. J.potin viết "Trong thập giới của Môsê, lên án tội giết người thuộc giới răn thứ năm. Ở đây, nó được nói đến đầu tiên, chắc chắn vì nó bao hàm một cách tiềm ẩn giới răn tràn đầy bài diễn từ trên núi tình yêu tha nhân, thực tế trong tình yêu tha nhân...trở thành giới răn đầu tiên: Ðức Giêsu đã thấy mầm mống của giới luật yêu thương này trong điều răn lên án việc giế người. Kính trọng sự sống người khác mở đường cho việc bày tỏ tình yêu ân cần hơn đối với tha nhân. Cả hai đều phải được xem xét trước mặt Thiên-Chúa là Ðấng mà Ðức Giêsu sẽ là quan án và hiền phụ". (Sách đã dẫn, tr. 198-l99)

Hai ví dụ ở ngôi thứ hai số ít "anh" tiếp nối mình hoạ thứ nhất "vì thế, khi anh sắp dâng lễ vật trước bàn thờ."xung đột là mầm mống sát nhân, và hòa giải là một bổn phận cấp thiết hơn cả việc dâng của lễ cho Thiên-Chúa: "hãy đi làm hòa với người anh em trước đã rồi hãy trở về dâng lễ vật của mình" hãy mau mau dàn xếp với đối phương": thù oán dây dưa, ngày sau sẽ vô phương cứu chữa trước tòa án Thiên-Chúa.

Minh họa thứ: hai nói về mối tương giao nam nữ trong đời sống hôn nhân. Trong Do Thái giáo, thủy chung là nền tảng của đời sống hôn nhân: nó được chứng thực bằng sự thủy chung của Thiên-Chúa đối với giao ước và với dân riêng người. J.Potin cắt nghĩa: "Hôn nhân không chỉ là một khế ước có tính luật pháp. Nó ràng buộc con người tự đáy lòng họ. Vì thế khi người đàn ông đã có vợ thèm muốn vợ người khác là đã phạm vào dây hôn phối. Trái tim đã chệch khỏi Giao ước của nó. " (Sách đã dẫn, tr. 199).

Minh họa thứ ba nói đến những lời thề hứa mà người ta cho rằng sẽ mạnh hơn khi nại đến những thực tại ít nhiều thánh thiêng: "Chỉ trời, chỉ đất, chỉ Jerusalem... " Ðức Giêsu xác quyết, đừng thề gian không thôi chưa đủ còn phải diệt trừ khỏi lòng ta sự lập lờ, bất chính, đa nghi nữa, không được đi xa hơn lời nói chân thực gian dối: "khi các ngươi nói có" là phải "có '! Mức qui định mà Ðức Giêsu kêu gọi các môn đệ là: biến đổi tấm lòng để có thể hiệp thông với những tình cảm của Thiên-Chúa được biểu hiện trong Ðức Kitô con Ngài. Như đức cha L.Daloz viết "Ðối với các môn đệ, kiện toàn lề luật khác hẳn việc thực thi các mệnh lệnh. Ðúng hơn, đây chính là việc để cho các luật kiện toàn chính mình, đưa mình đi tới cùng ("Nước Trời đến gần", Desclée đe Brouwer, tr. 51)



II. BÀI ÐỌC THÊM:

1."Hãy để cho lề luật kiện toàn chính chúng ta" (Ðức cha L. Daloz. trong nước Trời đến gần! Desdée de Brouwer, 1994, tr 51).

"Ðức Giêsu kiện toàn lề luật bằng cách trả lại cho nó tất cả sự trong sáng của lời Thiên Chúa, khi nhấn mạnh đến điều cốt lõi: "Ta muốn lòng nhân từ chứ không phải hi tế." Khi được hỏi về giới răn trọng nhất. Ngài không do dự trả lời rằng toàn bộ lề luật và tiên tri đều qui về giới răn trọng nhất là yêu mến Thiên-Chúa hết lòng, hết linh hỗn, hết trí khôn và yêu thương anh em chính mình.(Xem 22,34-40). Chính Ngài đã kiện toàn giới răn cao cả ấy bằng cách tự hiến đời mình. Phần các môn đệ, kiện toàn lề luật khác hẳn việc tuân thủ các mệnh lệnh. Ðúng hơn, chính lề luật kiện toàn ta, đưa ta đi cùng. Có thế mới đáng để ta tuân giữ giới răn nhỏ bé nhất thậm chí cho tới một nét phẩy - không phải vì tỉ mỉ hay cầu toàn, nhưng vì tự hiến hoàn toàn, mở lòng trọn vẹn, để lời của Thiên-Chúa thấm nhập và biến đổi tận đáy lòng ta, và biến ta nên hoàn hảo như Cha trên trời là Ðấng hoàn hảo. Ðây không phái là sự nô lệ ma là tình nguyện. Nó không bao giờ kết thúc vì ta luôn bất toàn. Ðây là sự rèn luyện trường kì về tính sáng suốt và lòng can đảm. Trước tiên, đây là một hồng ân, một ân huệ của Thiên Chúa, Ðấng muốn và thực hiện nơi ta điều đó đây chính là tác phẩm của Chúa Thánh Thần, Ðấng đến để sản sinh trong ta những hoa trái của người, như vậy kiện toàn lề luật là ghi khắc nó vào tận đáy lòng ta..."

2. "Sự cấp tiến của bài giảng trên núi". (J. Guillet, Ðức Giêsu trong niềm tin của các môn đệ tiên khởi. Desclée de Brouwer, 1995).

Tính cấp tiến này không hề nệ luật. Ðiều hay nhất của bài giảng là không có thêm một điều khoản bổ túc, một đòi buộc mới nào. Nhưng là không cho phép bất cứ ai tự tin mình đã đạt đến sự công chính cao siêu cả. Nó bắt mọi môn đệ tự do tưởng tượng, tiến xa hết mức trong việc phục vụ và trong tình yêu tha nhân. Giới luật đặc thù của Tin Mừng luôn có tính tích cực. Tại chỗ mà luật cũ mang tính tương đối và hạn định một giới hạn không thể vượt qua "Ngươi không được giết người, không được phạm tội ngoại tình " thì Ðức Giêsu lại công thức hóa chúng theo đường hướng tích cực: trước hết, hãy đi làm hòa đã, hãy móc mắt phải mà nén đi. Ta phải biết nhận ra nguyên lí nền tảng đàng sau những phóng đại quen thuộc theo kiểu nói Phương đông, anh không được đặt giới hạn cho tình huynh đệ, cho việc tôn trọng phụ nữ."

3. "Cuộc cách mạng tôn giáo vĩ đại nhất từ trước tới nay".(H. Denis 100 từ nói lên niềm tin: Desclée de Brouwer, 1993).

"Bạn có biết thập giới không? Có lẽ bạn có thể đọc thuộc mười điều răn bằng văn xuôi hay văn vần, điều đó không quan trọng. Ðiều quan trọng hơn, đó là biết được điều Ðức Giêsu đã làm đối với thập giới. Ta có thể nói với Ngài rằng Lề Luật, không bị hủy bỏ, nhưng được thăng tiến để được kiện toàn. Nói cách khác, ta cũng phai để ý kẻo khi vượt lên lề luật, ta lại khinh thường nó bằng cách bám víu vào đó như Ðức Giêsu chưa từng kiện toàn nó vậy. Với cái nhìn này, bài giảng trên núi có lẽ là cuộc cách mạng tôn giáo vĩ đại nhất của mọi thời. Một con người, một vị tiên tri, một sứ giả của Thiên-Chúa dám nói lên những lời chưa từng nghe, anh em đã nghe Luật dạy "người xưa rằng, còn thầy, Thầy bảo cho anh em biết": Vị Giêsu này vượt trên cả lề luật" Bạn.. hãy tưởng tượng xem Luật dậy người xưa. Luật ở đây là ai? Thật đơn giản. đó chính là Thiên-Chúa của Cựu ước, Ðấng đã ban Lề Luật. Vì thế mà đối với người Do thái, không ai có thể vượt hơn Lề Luật, hơn được Lời Thiên-Chúa đã trao ban một lần cho đến muôn đời được: Vậy mà, có một người đã dám vượt trên Lề luật, bạn hãy lần lượt xét kĩ từng giới răn rồi sẽ thấy, quả thật, khi đã biết Ðức Giêsu là ai rồi, người ta sẽ thấy các giới răn thiêng liêng này thật tương đối so với một điều cao cả hơn nhiều là nhận ra Tình yêu được biểu lộ nơi Ðức Giêsu, con Chúa Cha. Luật dạy người xưa ràng, còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết. " Có lẽ các bạn đã biết đây là một trong ba luận cứ mà thần học đã rút ra từ Tin Mừng, coi như để mạc khải thiên tính của Ðức Giêsu (một Ðức Giêsu, may thay không bao giờ tự xưng: ta là Thiên Chúa, nhưng anh em bảo Thầy là ai? Các bạn cũng biết hai luận cứ kia là gì rồi. Thứ nhất đó là việc gọi Thiên Chúa là Cha, người Cha (Abba) thân thương thực sự. Sau đó là lời yêu sách quá quắt. Mọi tội con đã được tha " chỉ mình Thiên Chúa mới có quyền tha tội mà thôi.

Bạn thấy lề luật được kiện toàn này đưa ta đến đâu vào những lúc nghi nan, hay những giây phút mỏi mòn vì phải trung thành với Lề luật, bạn hãy nhớ đến sự can đảm của Ðức Giêsu: "Luật dạy người xưa rằng, còn Thầy, bảo cho anh em biết."

admin
20-02-2011, 12:06 PM
CNTN7
CHÚA NHẬT VII THƯỜNG NIÊN

"ANH EM HÃY NÊN HOÀN THIỆN NHƯ CHA

ANH EM TRÊN TRỜI LÀ ÐẤNG HOÀN THIỆN"

(Mt 5,38-48)



I. VÀI ÐIỂM CHÚ GIẢI:

1. Những áp dụng cụ thể của luật mới.

Khi tuyên bố rằng Ngài "đến không phải để hủy bỏ Lề luật và các Tiên Tri, nhưng là để kiện toàn (trong Bài giảng trên núi, Ðức Giêsu mạc khải "sự công chính" mới của Nước Trời hệ tại điều gì: đó không phải là giữ Luật cách hình thức, nhưng là "tự điều chỉnh" theo ý Chúa Cha như Ngài, là sống thông hiệp trong tình yêu và tự do của Người Con như Ngài. Rồi nhờ vào 5 minh họa, Ngài cụ thể hóa "sự công chính" mới này, và cho biết rằng để thực hiện toàn bộ Lề luật người tín hữu phải đầu tư toàn bộ cuộc sống của mình. Cả năm minh họa đều bắt đầu bằng một dạng thức duy nhắt biểu lộ một quyền lực phi thường: anh em đã nghe người xưa được dạy rằng... còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết." Ba minh họa đầu tiên trong Phúc âm chúa nhật vừa qua, hai minh họa cuối cùng trong Phúc âm hôm nay.

Minh họa thứ tư nhân nhượng mối tương quan và Ðể tránh những sự trá thù thái quá ngoài tầm kiểm soát luật báo thù (loi du talion) dự kiến kẻ gây hấn sẽ bị đối xử tương xứng với điều thiệt hại đã gây ra cho nạn nhân "Mắt đền mắt" - nhưng không phải là đền hai mắt, "răng đền răng" nhưng không phải là cả hàm (xem Lêvi) Luật này đã là một tiến bộ thực sự trong việc trấn áp tội phạm.

Phần Ðức Giêsu, ngài chủ trương một thái độ rất cá biệt, tương phản hoàn toàn với thái độ bình thường: "Ðừng chống cự với người ác". Ngài đòi hỏi các môn đệ phải bẽ gãy vòng xích bạo lực, dù hợp pháp, và được báo thù.

Ba ví dụ sau đều ở ngôi hai số ít:

+ Ví dụ thứ nhắt về "cái tát": "Nếu ai vả má bên phải con, hãy giơ cả má bên trái ra nữa." Dĩ nhiên không thể hiểu lệnh mâu thuẫn này theo nghĩa đen. Chính Ðức Giêsu cũng đã không giơ má khác cho tên đầy tớ tát tai. Ngài hỏi hắn: "Nếu tôi nói sai, hãy cho thấy sai ở chỗ nào. Còn nếu tôi nói đúng, sao anh lại tát tôi?" (Gioan 18,23). Như vậy, đứng trước kẻ gây hấn, người theo Chúa để có một hành vi vừa thách thức vừa làm cho kẻ địch hết chống trả.

+ví dụ thứ hai về người môn đệ bị người khác có ý định đưa ra tòa và người đó muốn lấy áo trong (tưnique) người môn đệ làm vật thế chấp, nghĩa là áo lót. Ðức Giêsu chủ trương: "Hãy để cho nó lấy cả áo ngoài nữa". Trong khi đó, theo Luật, áo ngoài và áo trong là của không thể sang nhượng được của người nghèo; chiếm hữu chúng là xâm phạm đến chính Thiên Chúa (coi xuất hành 22, 25- 26). Khi để bị trần trụi đến cho đi cả áo theo gương Thầy mình, các Kitô hữu biết rằng sự khó nghèo như vậy, họ là những kẻ chiến thắng, bởi vì họ sẽ được lòng thương xót của Thiên Chúa bao bọc.

+ Ví dụ sau cùng là ví dụ về sự "trưng tập", thường được quân đội và các viên chức chánh quyền Rôma dùng để làm việc công ích (một hình thức lao dịch thời đó. Ðức Giêsu còn nói thêm. "nếu có người bắt anh đi một dặm, thì hãy đi với người ấy hai dặm" Ngoài bài giảng trên núi, thánh sử Mátthêu chỉ dùng động từ "trưng tập" một lần khác khi quân lính trưng tập Sinon thành Xyrênê, một dân ngoại, lúc đó tượng trưng cho tất cả các thế hệ môn đệ chấp nhận thập giá Ðức Kitô.

+Minh họa thứ năm và cuối cùng nói đến yêu thương kẻ thù. Sách Lêvi viết: "Ngươi sẽ yêu tha nhân như chính mình" (19, 18). Như vậy điều này mời gọi con cái Israel sống với nhau bằng tình yêu huynh đệ loại bỏ mọi hận thù oán ghét. Nhưng các Thầy rabbi thuộc những nhóm khác nhau tranh luận mãi về quan niệm tha nhân và nhiều người đã cho nó một nghĩa hạn hẹp: tha nhân là người mà ta có quan hệ tốt đẹp; phân biệt với kẻ thù. Từ đó mà có câu Phúc âm: "Anh sẽ ghét kẻ thù tuy câu này không có trong Luật, nhưng biểu lộ khá đúng ý nghĩ của rất nhiều người. Ngược lại với tình yêu có tính cách chọn lựa đối tượng này, Ðức Giêsu nói đến một tình yêu phổ quát vượt mọi biên giới, đến cả ké thù và người bách hại, theo Ngài, đòi hỏi này đặt nền táng trên cách đối xử của thánh Thiên Chúa với mọi người, "Kẻ xấu cũng như kẻ tốt", người công chính cũng như kẻ bất chính".

2.hệ tại theo gương Chúa Cha:

Câu 48 kết luận toàn thể phần này: "Vậy anh em hoàn thiện, như Cha anh em trên trời là Ðấng thiện".

Như vậy, theo gương Cha và Con của ngài Ðức Giêsu, đó là nền tảng và mục đích của Luật mới này. Là người môn đệ của Ðức Giêsu, đến lượt chúng ta được mời gọi sống như Con, với Ngài và trong Ngài. Cái mới triệt để của Bài giảng trên núi chính là vậy, chứ không phải trong một giới răn đặc biệt nào.

Cl.Tassin chú giải: "Tính từ "hoàn thiện" tóm tắt ý tưởng về sự công chính hơn (các ký lục và biệt phái) ở câu 20, và sự hoàn thiện này chính là noi theo hành động của Thiên Chúa. Ðạo Do Thái đã hiểu "những công việc bác ái xót thương" như những hành vi mà chính Thiên Chúa đã làm gương. Và Hội đường đã chú giải sách Lêvi 22, 28 bằng ngạn ngữ sau: "Như Ta thương xót trên trời thế nào, dưới đất các con cũng hãy thương xót như vậy " Ðiều này được Luca trình bày bằng những từ như sau: "Hãy xót thương như Cha các con là Ðấng xót thương" (6,36). nếu Mátthêu thích tĩnh từ "hoàn thiện" hơn, là vì theo Ngài, lòng thương xót đạt tới mức yêu thương kẻ thù chính là hoàn thiện được Thiên Chúa trông đợi nơi những người của Ngài. Những ai muốn rập theo khuôn mẫu Chúa thì cậy vào Ðức Giêsu. Con chí thiết của Thiên Chúa, ngài trao cho các chìa khóa bí mật này". ("Phúc âm Matthêu", Centunon, 1991, tr.69-70).



II. BÀI ÐỌC THÊM.

1."Bẻ gãy vòng vây bạo lực": (Ðức cha L Daloz, trong "Nước Trời đến gần", Desche de Brouwer, tr. 58...60).

Ðức Giêsu lấy lại qui định của Luật: anh em đã nghe dạy rằng: Mắt đền mắt, răng đền răng... đối với chúng ta điều đó dường như biểu lộ một sự trả thù nghiệt ngã, nhưng trong thực tế, nó lại điều hòa bạo lực và giới hạn ham muốn. Trong một xã hội mà mỗi người thường là quan tòa cho chính mình, đó là một loại luật "tương xứng" trong sự đền trả lại sự xúc phạm, người ta có thể trả thù tới mức độ, không được vượt quá. Trong các quốc gia của chúng ta ngày nay, mỗi người không thể làm quan toà cho chính mình. Chúng ta đã có nhũng cơ quan cảnh sát và tư pháp là những cơ quan duy nhất có quyền bất và trừng phạt những ké phạm tội ác. Các hình phạt được xác định rõ bởi một bộ luật. Trong bộ luật này, người ta tìm thấy lại nguyên tắc tương xứng. Như vậy phạm nhân thoát khỏi ham muốn trả thù cá nhâ, người ta lưu ý đến hoàn cảnh, không chỉ tìm cách trấn áp và trừng phạt, mà còn nhằm tìm cách chữa trị và nâng đỡ. Dĩ nhiên, chúng ta ai cũng biết rằng hệ thống tư pháp có những điểm yếu, những trì tre, những sai lầm hay những "vết chàm". Nhưng dẫu sao nó vẫn là một đảm bảo về sự tiến bộ của nhân loại, chứ trong khung cảnh xã hội và pháp lý này mà hôm nay chúng ta đón nhận Lời Ðức Giêsu. Và ngay cả ở trong khung cảnh này, Ngài vẫn kiện toàn Luật bằng cách làm cho nó đi sâu vào tâm hồn con người. Có khi ý muốn trả thù không còn biểu lộ qua hành động nữa nhưng vẫn còn bị khích động và khơi gợi lên trong công luận qua các hành vi bạo lực và các vụ kiện. Không dễ gì chống lại được tình cảm tập thể, nhất là khi nó được chia sẻ bởi một đám đông những khán giả trong một thế giới mà tất cả mọi sự đều bị các phương tiện thông tin đại chúng truyền đi. Ðàng khác chúng ta dễ ham muốn kêu gọi trả thù và trừng phạt khi chính chúng ta không phải chịu trách nhiệm. Trong xứ sở chúng ta, ngành tư pháp có sứ mạng xã hội vừa bảo vệ, giáo dục vừa làm gương; nhưng cũng vừa sửa đổi, chữa trị vừa giúp tái hội nhập. Lời Ðức Giêsu dạy đừng chống cự người ác không cản trở cũng không gò bó sứ mạng này Nhưng còn có một cái gì khác hơn là những biện pháp cần thiết để bảo đảm an an ninh xã hội, một cái gì khác hơn là sự hận thù, ghen ghét, báo án. Ðức Giêsu kêu gọi đến cái tốt nhất nơi con người, đôi khi đến cả sự anh dũng để có được một con út thứ tha; chúng tôi có thể làm chứng các Kitô hữu sự tha thứ này cách công khai! Ðức Giêsu không cấm chúng ta đòi hỏi những quyền lợi chính đáng. Khi bị viên vệ binh tát tai, chính Ngài đã đòi anh ta giải thích lý do tại sao anh ta hành động như vậy: nếu tôi nói sai, hãy cho thấy sai ở chỗ nào; nếu tôi nói đúng, thì sao lại tát tôi". (Gioan 18, 23). Nhưng nơi vườn Cây dầu Ngài cho phép Phêrô rút kiếm bảo vệ mình và cũng vì Chúa Cha sai các đạo binh thiên thần đến che chở Ngài để mình bị trấn lột, tát tai, đánh đập và đội triều thiên bằng mũ gai... Ngài không hài lòng với lời kêu gọi đừng lấy oán báo oán, lấy lành thắng dữ, lấy tình yêu thắng hận thù. Ngài còn tỏ ra chính mình là con đường thực hiện lời tiên tri về người đầy tớ đau khổ đã không quay lưng, quay mặt tránh những kẻ ra sức làm khổ mình. Ở bất cứ nơi đâu chúng ta sinh sống và theo cách thế của mình, Ngài kêu mời chúng ta đừng đi vào chu kỳ bạo lực, nhưng hãy có đủ sức mạnh tinh thần để đặt một Lôgíc mới trong mối tương quan giữa con người với nhau.

2. "Thứ tha như Thiên Chúa tha thứ cho ta": (L. Smtá: trong "Suy niệm và giảng Lời Chúa. Năm A.Médiaspaul, tr. 83).

"Nếu thực sự thứ tha của Thiên Chúa làm tôi hiện hữu, nếu Ngài ban cho tôi tình yêu Thiên Chúa và khả năng yêu mến, làm sao tôi lại không thể hoán chuyển tình yêu thành thứ tha theo chừng mực, mà tôi có thể làm được đối với những ai đã phản bội, chối bỏ và làm tổn thương tôi? Hoặc tôi không là Kitô hữu và rơi vào lối sống theo câu ngạn ngữ cổ: "mắt đền mắt, răng đền răng", hoặc tôi muốn sống như là một Kitô hữu, thì lập tức tôi phải nhớ điều loan báo cốt yếu nhất của đức tin: tất cả anh em, đều là những tội nhân đã được thứ tha, tất cả anh em đều là nhũng đứa con của lòng thương xót. Nếu anh em muốn là những Kitô thực sự sống đạo, điều thực hiện đầu tiên, cơ bản nhất, chính là thực hành điều Thiên Chúa đã sống đối với anh em, điều mà Ðúc Giêsu đã làm vào lúc Ngài sắp qua đời. Ðó là thứ tha. Ðó là cách thế duy nhất em làm chứng cho mọi người sự tha thứ ta đã lãnh nhận và nó được trao ban cho tất cả mọi người. Dĩ nhiên sự tha thứ như vậy không thể là sự quá ngây thơ, càng không thể là sự cổ võ cho sự dữ. Ðể thực sự là tha thứ, nó chỉ có thể phát xuất từ một lương tâm không có ảo tưởng nào về những ác tâm, ô nhục, tội ác của thế gian nào và của lịch sử con người. Tuy nhiên, vượt lên trên không bất hạnh mà người Kitô hữu dấn thân đấu tranh nhân danh công lý, họ còn làm chứng về niềm hy vọng Thiên Chúa đặt sẵn nơi mỗi người, dù là những kẻ phạm tội, nhơ nhớp nhất Như vậy, Thiên Chúa mong muốn tất cả hoán đổi ác tâm và hận thù thành tình yêu. Ðiều này thật đúng, vì chúng ta chỉ là Kitô hữu do niềm tin và hy vọng như vậy, và chúng ta đang cố gắng hết sức mình sống niềm tin là hy vọng đó nhờ ơn Chúa"

3. "Yêu thương mọi người vì Thiên Chúa yêu thương họ" (Martin-Luther King, trong "chỉ có một cuộc cách mạng". Casterman, 1968, tr108-109)

Trong Tân ước, chúng ta thấy từ Agapè được dùng để chỉ tình yêu. Ðó chính là tình yêu dồi dào không đòi một đáp trả nào hết. Các nhà thần học nói đó là tình yêu hơn Chúa được thực hiện nơi tâm hồn con người. Khi vươn đến một tình yêu như vậy, chúng ta sẽ yêu hết mọi người, không phải vì chúng ta có thiện cảm với họ, không phải vì chúng ta đánh giá cao lối sống của chúng ta yêu thương họ vì Thiên Chúa yêu thương họ, chính là ý nghĩa Lời Ðức Giêsu Anh em hãy yêu thương kẻ thù. Phần tôi, tôi sung sướng vì Ngài đã không nói: "Anh em hãy có thiện cảm với kẻ thù của anh em" bởi vì có những người mà tôi khó có thiện cảm nổi, thiện cảm là một xúc cảm. Tôi không thể có xúc cảm với người ném bom vào gia đình tôi. Tôi không thể có thiện cảm với người bóc lột tôi. Tôi không thể có thiện cảm với người đè bẹp tôi dưới sự bất công. Không, không thể có thiện cảm nào đối với người đêm ngày đe dọa giết tôi. Nhưng Ðúc Giêsu nhắc tôi rằng tình yêu còn lớn hơn thiện cảm, rằng tình yêu là thiện chí biết cảm thông, có sáng tạo, cứu độ đối với hết mọi người".

admin
20-02-2011, 12:07 PM
CNTN11
CHÚA NHẬT XI THƯỜNG NIÊN

SỨ MẠNG ÐẦU TIÊN CỦA 12 TÔNG ÐỒ
(Mt 9,36; 10, 8)



I.VÀI ÐIỂM CHÚ GIẢI:

1.Một sứ mạng bắt nguồn từ "lòng thương xót" của Ðức Giêsu.

Sau những hoạt động truyền giáo của Ðức Giêsu tại Galilê, câu 35 cho một cái nhìn tổng quát về hoạt động này: "Ðức Giêsu rảo khắp các thành phố, làng mạc, rao giảng trong các hội đường. Công bố Tin Mừng Nước Thiên Chúa, chữa mọi bệnh hoạn, tật nguyền, nay đến giờ tổng kết, để tạo một đà lực mới cho sứ mạng. Nguồn mạch của đà lực mới cho sứ mạng này phát xuất từ cái nhìn của Ðức Giêsu, từ trái tim Mục Tử nhân hậu của Người, từ "lòng thương xót" của Người đối với "đám đông mệt mỏi rã rời", tệ hơn nữa, bị những người có trách nhiệm hướng dẫn - Luật sĩ và Biệt phái - bỏ rơi vì những vị này khép lòng lại trước tính chất mới mẻ của Nước Chúa. Họ bơ vơ như đàn chiên không người chăn dắt. Thấy nhiệm vụ quá lớn lao mà phương tiện lại nghèo nàn, trước khi cất tiếng kêu gọi và sai các tông đồ lên đường sứ mạng, Ðức Giêsu hướng tầm mắt các môn đệ về phía "ông chủ mùa gặt": "Hãy cầu nguyện xin chủ ruộng sai nhiều thợ gặt đến".

2. Một sứ mạng không khác sứ mạng của Ðức Giêsu

Nhân việc Ðức Giêsu kêu gọi "mười hai môn đệ", tác giả Phúc âm phong cho họ tước hiệu "tông đồ" nghĩa là "được sai đi". Simon được gọi là "Phêrô" đứng đầu, Matthêu người thu thuế "ở chương 9,9; "Giuđa", "kẻ nộp Người".

Việc kêu gọi đi liền với việc sai đi truyền giáo được diễn tả dưới hình thức diễn từ, đó là diễn từ thứ 2 trong 5 diễn từ quan trọng của Phúc âm thứ 1 mà ta sẽ đọc Chúa nhật XII và Chúa nhật XIII sắp tới. Ðoạn Phúc Âm hôm nay trả lời hai vấn nạn: Họ được sai đến với ai? Sứ mạng của họ là gì?

Ðến với ai? Với cuộc hẹn cuối cùng tại Galilê, Ðức Giêsu phục sinh đã mở chân trời truyền giáo ra tới "mọi dân tộc" (28,19). Còn hiện tại, những người được sai đi trước hết: "với những chiên lạc nhà Israel".

Sứ mạng gì? Y hệt sứ mạng của Ðức Giêsu. Như Người họ sẽ loan báo việc Nước Thiên Chúa đến. Họ sẽ thực hành những cử chỉ nhân hậu của Chúa, những dấu chĩ mà tác giả Phúc âm, ở 11,2, gọi là "những công việc Ðức Giêsu". Khi nhớ lại rằng họ chỉ hành động như vậy nhờ Ðức Giêsu ban các quyền năng của Người cho họ một cách nhưng không, họ đã đi đến một thái độ sống nghèo "Anh em đã lãnh nhận nhưng không, hãy ban nhưng không.



II.BÀI ÐỌC THÊM:

1.Chính nơi trái tim Ðức Giêsu ta tìm thấy động lực cho việc truyền giáo, sứ mạng của ta (Mgr. L. Daloz, le Règne de Diêu s'est approché DDB).

Cho tới nay, Ðức Giêsu chưa trao cho những kẻ kêu gọi một nhiệm vụ nào. Giờ đây Người sắp trao cho họ và sai họ đi. Trước đó, Matthêu đã cho ta thấy nguồn cội của sứ mạng của họ: Thấy đám đông, Người động lòng thương, vì họ mệt mỏi rã rời như bầy chiên không người chăn dắt. Rất nhiều lần, Phúc âm đã nói về lòng thương của Ðức Giêsu đối với đám đông. Nguồn cội của việc sai đi, của sứ mạng truyền giáo là tình thương của Ðức Giêsu, tình thương mà ta gọi là lòng thương xót, không phải là sự hạ cố, nhưng vì tình thương ấy đã nhìn thấy đám đòng mệt mỏi rã rời" và Ðức Giêsu đã xúc động... Từ ngừ Hi Lạp còn nói mạnh hơn: Người đau thắt ruột lại. Chính nơi trái tim Ðức Giêsu, nơi sự âu yếm của Người, nơi sự xúc động tâm can của Người, ta tìm thấy động lực của sứ mạng truyền giáo của ta..Có lẽ ta nghĩ rằng lời kế tiếp sẽ là lời mời gọi lên đường làm việc thu hoạch mùa màng, vì có quá ít thợ! Nhưng Ðức Giêsu lại không nói điều đó với các môn đệ. Hãy nghe Người: Các con hãy xin Chủ ruộng sai thợ gặt đến. Tự nguyện chưa đủ. Quảng đại chưa đủ. Còn phải hiệp thông với tình yêu của Chúa Cha, ông chủ ruộng nữa. "Lòng thương xót" của Ðức Giêsu diễn dịch tình yêu của Thiên Chúa đối với nhân loại lầm lạc. Vâng, thật cần thiết, những người muốn làm việc cho mùa gặt, loan báo Nước Trời, làm chứng Phúc âm, đi kín múc từ nguồn tình yêu làm cho hoạt động của họ có ý nghĩa. Lời kêu gọi trước hết là theo Ðức Giêsu. Hiểu biết Ðức Giêsu, nhận biết Người là Ðấng Cứu Thế, Ðấng đến nhân danh Chúa Cha, để Người khai tâm mở trí, chiêm ngắm người, năng lui tới với Người, khám phá bằng nghe Người nói, nhìn Người hành động không mỏi mệt, và tặng ban chính sự sống của Người, thấy Người xúc động vì "thương xót" đến mức nào, thổn thúc vì khổ đau của nhân loại... và như thế, chia sẻ sự bao la, sự sâu xa của tình yêu Thiên Chúa, một tình yêu không giới hạn cháy bỏng: Thiên Chúa muốn nhân loại vào một cuộc xuất hành khác với cuộc xuất hành do Mosê hướng dẫn, muốn ban cho nhân loại một cuộc giải phóng vĩ đại hơn! Ðó là tất cả điều kiện của một sứ mạng thực sự, không phải là trước khi lên đường, nhưng không ngừng, ở nền tảng của sứ mạng. Trước đây, không biết diều đó, ta vẫn có thể xúc động trước nỗi khổ của con người, trước sự thiếu thốn của họ và dấn thân phục vụ họ, can đảm hành động. Ðiều đó rất quan trọng, và đó cũng là công việc của Thánh Thần Thiên Chúa. Nhưng Phúc âm còn đưa ta đi xa hơn: Nó mạc khải tình yêu mà chính Thiên Chúa mang đến cho nhân loại, say mê, không mỏi mệt. Ðời sống và cái chết của đức Giêsu là bằng chứng hùng hồn về điều đó. Người mời gọi ta đến chia sẻ tình yêu ấy làm tôi tớ phục vụ tình yêu ấy cho anh em ta, bắt tay vào hành động vì Người sai ta đi truyền giáo truyền giáo không phải là tác phẩm của ta. Cũng không do sáng kiến của ta truyền giáo đâm rễ sâu trong lời cầu nguyện làm trái tim và ý chí ta phù hợp với tình yêu trong trái tim Thiên Chúa. Truyền giáo không thể tách rời cầu nguyện: Hãy cầu nguyện xin chủ ruộng sai thợ gặt đến.

2. Chúng ta là Giáo Hội (L. Sintas, Parole de Diêu pour la méditation ét lhomélie, Médias Paul).

Sứ mệnh trao ban cho các tông đồ cũng là sứ mệnh trao ban cho ta hôm nay. Giáo hội hôm nay chính là chúng ta. Vậy đến lượt ta phải loan báo Nước Thiên Chúa đã đến. Chắc rằng ta không đi tìm mặt trời giữa đêm khuya. Xuyên qua hoạt động hằng ngày, cuộc sống gia đình, nghề nghiệp, ta có thể, hoặc trở nên tôi tớ của Vương quốc sự dữ khi ta gieo rắc chia rẽ, vun trồng ghen tương, ích kỷ, hoặc trở nên chứng nhân cho hoạt động của Thiên Chúa khi trở thành men tình bạn, men binh an, men hoà giải. Cần cầu nguyện để nhắc nhở những gì Thiên Chúa đã làm cho ta dù ta tội lỗi. Nhưng cầu nguyện còn có mục đích giúp ta kiên vững trong sứ mệnh là tác nhân hoà bình, chữa lành bệnh và hiệp thông. Muốn là Kitô hữu, phải làm cho cách hành động của ta phù hợp với niềm tin. Ðó là cách duy nhất để trở thành tông đồ, làm cho Giáo Hội nên sống động và có sức hấp dẫn. Thực vậy, đối với những người không cùng chia sẻ niềm tin với ta, thành phần hữu hình của Giáo Hội mà họ thấy được chính là các Kitô hữu cụ thể ở làng ta, trong khu phố ta ở. Là chính chúng ta. Chính ta có trách nhiệm tạo cho Giáo Hội một khuôn mặt của Thiên Chúa, khuôn mặt ấy có sức lôi cuốn mọi người sống quanh ta. Ðó là loan báo Nước Thiên Chúa đã đến

3. Cầu nguyện và truyền giáo (Mgr. R. Coffy, cine Ezlta qui célêber ét quiprie, Le Centurion).

Truyền giáo là lãnh nhận trước khi là hành động. Truyền giáo chỉ là hành động nhân danh Ðấng sai đi. Ðược sai đi chính là hành động nhân danh ai. Nó giả thiết mối quan hệ quen thuộc thông thường giữa người sai và kẻ được sai, trong sứ mạng tông đồ, đó là cầu nguyện. Hoạt động truyền giáo không dựa trên cầu nguyện sẽ có nguy cơ trở nên hoạt động thuần tuý nhân loại chứ không còn là hoạt động của Chúa Thánh Thần nơi con người. Nói về truyền giáo mà không nói trong cầu nguyện, có thể vi phạm tính cách chân thực của sứ mạng.

admin
20-02-2011, 12:08 PM
CNTN12
CHÚA NHẬT XII THƯỜNG NIÊN

ÐỪNG SỢ
(Mt 10,26-33)



I.VÀI ÐIỂM CHÚ GIẢI:

1.Ðược tiếp đón hay bị từ chối như Thầy...

Thấy đám đông, Ðức Giêsu động lòng thương xót, họ mệt mỏi rã rời như dẫn đàn chiên không người chăn người liền kêu gọi 12 môn đệ mà Người gọi là tông đồ (nghĩa là được sai đi).

Nhưng trước khi sai họ đi "đến với những chiên lạc là Israel", Người còn nói với họ một "diễn từ sai đi", là diễn từ thứ 2 trong số 5 diễn từ chính của Ðức Chúa Giêsu trong Phúc âm thứ nhất. Sách Bài đọc chia ra hai bài, hôm nay và Chúa nhật tuần tới, nhưng không chia ra hoạt những nhắn nhủ các nhà truyền giáo:

Một đàng là những nhắn nhủ về sự dứt bỏ vô vị mà họ phải làm chứng, về cách họ phải cư xử khi được đón tiếp hay bị chối từ khi loan Tin Mừng (câu 9-15).

Ðàng khác là những cảnh báo liên hệ đến sự bắt bớ mà họ sẽ phải chọn (câu 16-23) vì Thầy, nếu họ trung thành với sứ điệp của Người (câu 24-25): "Nếu chủ nhà đã bị coi là Belzebu, thì những người trong nhà sẽ còn bị xử tệ hơn". Hai câu cuối cùng này là cao điểm của bài diễn từ Cl Tassin bình luận: "Hai câu này nhìn sứ mạng " Kitô hữu như đồng bộ với thái độ của Ðức Giêsu: cũng Người hiến mình cho đoàn chiên mệt mỏi lang thang, và chấp nhận những thử thách như Người, đó là sứ mạng đích thực của mọi Kitô hữu. Mười hai tông đồ vẫn là những mẫu mực không so sánh được về truyền giáo, không phải do những thành công, nhưng do các Ngài đã cùng Ðức Giêsu cảm nghiệm đến cùng cảm tính định mệnh của các ngài.

2. Những người được sai đi của Ðức Giêsu không đượcc sợ nói.

Sau khi đã loan báo cho các môn đệ biết sự bắt bớ đang chờ họ và họ thấy rõ nguyên nhân của sự bắt bớ - căn tính sâu xa giữa Người và các môn đệ - Ðức Giêsu hướng dẫn họ thái độ phải có khi gặp thử thách. Một tư tưởng hướng dẫn chạy xuyên suốt các lời Thầy, một điệp khúc tạo nên dấu chấm câu: Các con đừng sợ!... Ðừng sợ! Ðừng sợ gì cả..."

Ðừng sợ, dám nói, vì lời họ nói không phải là lời của riêng họ nhưng là lời Ðức Giêsu, lời có hiệu quả của lời Thiên Chúa. Do đó, môn đệ đừng mất can đảm nếu thành công trong hiện tại còn mỏng manh, thậm chí còn chưa thấy; như mặt trời mọc lên chiến thắng đêm đen, sứ điệp rồi cũng sẽ xuyên thủng tăm tối. Ðừng sợ khi bị bắt bớ, vì nếu những kẻ bắt bớ chỉ có quyền trên sự sống dương trần (thân xác) chỉ mình Thiên Chúa nắm giữ đời sống vĩnh cửu và phán quyết của Người có thể huỷ diệt trần thế con người (cả xác lẫn hồn). Ðừng sợ, vì Thiên Chúa, Ðấng xét xử ta cũng là "Người Cha" chăm sóc mọi người, dù bé nhỏ đến đâu, và yêu thương từng người con bằng sự âu yếm của người mẹ: "Các con đáng giá hơn những con chim sẻ nhiều". Ðối với những ai gắn bó sự nghiệp của họ với sự nghiệp của Người đến liều cả mạng sống, Ðức Giêsu cũng hứa sẽ gắn bó với họ trong ngày phán xét. Người sẽ là luật sư biện hộ cho họ "Ai tuyên xưng ta trước mặt người đời, ta sẽ tuyên xưng họ trước mặt Cha Ta trên trời.



II.BÀI ÐỌC THÊM:

1.Trong bàn tay Thiên Chúa. (Mgr. L. Daloz, Le Règne de Cieux Siest approehé, DDB).

Với môn đệ được sai đi, Ðức Giêsu không hứa hẹn một đời sống dễ dãi. Nhưng Người cũng không để các ông trắng tay. Người bảo đảm cho các ông có sự trợ giúp của Chúa Thánh Thần. Người cũng trấn an các ông rằng từ nay các ông được Chúa Cha gìn giữ nên họ sẽ không lo gặp sự dữ. Chúng ta sống trong bàn tay của Thiên Chúa hằng sống, Chúa Cha, Chúa Con, Chúa Thánh Thần. Loan báo Phúc âm đâu phải là của riêng của những bậc anh hùng, những con người có óc phiêu lưu mạo hiểm! Loan báo Phúc âm đòi có sự can đảm, có sức mạnh, nhưng không phải sự can đảm hay sức mạnh của riêng ta. Ta tìm thấy sự bảo đảm vẹn toàn ấy ở nơi Thiên Chúa. Dù bản chất ta yếu ớt, nhát sợ, ta vẫn có chỗ trong việc truyền giáo. Các tông đồ đã chẳng nhát sợ đó sao? Chính Thánh Thần Thiên Chúa trong ngày Lễ Hiện xuống đã ban cho họ sức mạnh để họ ra khỏi nhà, đến với mọi người. Thánh Phaolô tự phụ vì những yếu đuối của Ngài, vì qua những yếu đuối ấy, quyền năng Thiên Chúa được tỏ hiện. Ta là con của Người Cha trên trời, của Thiên Chúa sáng tạo và giữ gìn tạo vật của Người. Là con Thiên Chúa thì khác hẳn với chỉ là tạo vật "Người ta chẳng bán hai chim sẻ một đồng đó sao? Thế mà không một con nào rơi xuống đất là không do ý Cha. Còn các con, ngay cả tóc trên đầu các con cũng đã được đếm rồi". Ta có giá trị trước mặt Thiên Chúa. Người yêu ta như cha, như mẹ ta. Vì thế, Ðức Giêsu luôn khuyên ta đừng sợ hãi. "Ðừng sợ, các con có giá trị hơn chim sẻ kia nhiều".

Tuyên xưng niềm tin khi ta sống giữa những người đồng đạo, trong một cộng đoàn Kitô giáo thì thật dễ. Cho dù ở trong cộng đoàn, ta vẫn có tự do. Nhưng điều tối quan trọng, cực kỳ khó khăn đó là ta dám hành xử, ăn nói theo đức tin giữa một thế giới lãnh đạm, nghi kỵ hoặc thù ghét. Ðức Giêsu đòi hỏi ta điều đó. Ðức Giêsu sai môn đệ để họ đi rao giảng Nước Trời cho thế gian, chứ đâu phải chỉ để họ rao giảng cho nhau. Không đủ nếu ta chỉ mời người khác đến tham dự các buổi họp, thánh lễ vì ở đó, ta vẫn thường nói về Ðức Giêsu Kitô, ta chẳng phải liều lĩnh gì cả, ta vẫn ở "nhà" ta, trong khuôn viên của ta. Nhưng cũng không cần phải ra ngoài đường phố mà rao giảng. Tuy nhiên, khi dám nói một lời trong xã hội ta sống, trong gia đình, với các bạn bè, các đồng nghiệp, "tại nhà họ", không khiêu khích, nhưng cũng không sợ hãi, đó là gieo hạt giống Nước Trời vào thúng bột trần gian... Ðó là một liều lĩnh, nhưng lười biếng, im lặng còn là một liều lĩnh lớn hơn...

Lạy Chúa, xin hãy gìn giữ chúng con trong trung tín với Chúa. Chúng con chỉ đứng vững nhờ sức mạnh Chúa ban. Chúa là sự vững mạnh, là tảng đá cho chúng con nương tựa. Xin cất khỏi chúng con mọi sợ hãi loài người. Xin hãy tuyên xưng chúng con trước mặt Cha để Người ban cho chúng con đủ sức tuyên xưng Chúa trước mặt người đời. Xin cho chứng từ của chúng con là một bằng chứng cho mọi người thấy rằng Chúa chính là bảo đảm cho chúng con trước mặt Chúa Cha. Xin cho lời tuyên xưng đức tin của chúng con cho mọi người biết Chúa là Con yêu dấu của Chúa Cha. Khi chúng con sợ chống đối hay chế diễu, không dám tuyên xưng danh Chúa, xin hãy tha thứ cho chúng con, như Chúa đã tha thứ cho Phêrô. Nếu chúng con phản bội, thì Chúa vẫn một mực trung tín. Xin nâng đỡ chúng con để dù chúng con sợ hãi, tình yêu của Chúa vẫn là mạnh nhất. Ðể qua sự yếu đuối của chúng con, chúng con biết làm chứng về sức mạnh của ơn Chúa tha thứ.

2. Im hay nói (G. Bessierè, Diêu si proche, DDB).

Ngày nay Kitô hữu nói về Thiên Chúa ít hơn xưa. Tuy nhiên, Ðức Giêsu yêu cầu ta: "Hãy la lớn trên "mái nhà" điều gì đã "thì thầm vào tai". Lời chúc dữ của Người: "Ai từ chối Ta trước mặt người đời, ta cũng sẽ từ chối họ trước mặt Cha Ta trên trời".

Im hay nói? Có nhiều loại im lặng. Im lặng sợ hãi, im lặng lãnh đạm, im lặng phản bội. Cũng có những im lặng mừng vui, im lặng sung mãn, im lặng yêu thương, im lặng dấu kín một bí mật. Những phút mãnh liệt nhất trong đời là những lúc "Không còn lời lẽ". Lúc ấy im lặng còn diễn tả hơn mọi lời lẽ: nó cho ta nghe thấy điều không diễn tả được. Làm sao trẻ em, và giới trẻ biết được Ðức Giêsu nếu ta cứ im lặng mãi? Ta đề nghị niềm hy vọng nào nếu ta lặng thinh? Im lặng cần có từ ngữ mới có sức mạnh: nếu không có bản giao hưởng, làm sao nghe được sự im lặng tràn ngập căn phòng sau hợp âm cuối cùng?

Ðức Giêsu đã chẳng nói đó sao: "Tất cả những gì che giấu sẽ được tỏ lộ. Tất cả những gì giấu giếm rồi mọi người sẽ biết. Phải chăng ta không cần như thánh Phaolô, nói "vào lúc thuận tiện cũng như lúc không thuận tiện" để rao giảng Phúc âm cho cả nhân loại qua mọi thế hệ?

Cần phải loan báo thứ sứ điệp vượt quá mọi từ ngữ và mọi giáo thuyết. Nhà khôn ngoan lớn tuổi viết sách Giảng Viên đã nói: "Có thời đã nói, có thời để im lặng. Những thời điểm này tiếp nối nhau trong cuộc đời con người cũng như trong Giáo Hội từ ngàn đời. Vì đôi khi ta nói quá nhiều, rồi sẽ tới ngày những từ ngữ biến nghĩa và chẳng còn "nói lên được điều gì nữa". Chính sự sống và sự im lặng để làm chín muồi những lời lẽ mới mẻ và tươi trẻ.

Ta đang ở vào một mùa lịch sử mà nhiều từ ngữ không nói lên điều gì nữa: vì đôi khi trong quá khứ người ta đã dùng sai từ ngữ, và vì ta đã bước vào một lối hiện hữu mới nơi mọi người đang thay đổi lối sống, lối suy nghĩ, diễn tả và truyền đạt. Mong sao Kitô hữu cố gắng mỗi ngày sống Phúc âm hơn. Thánh Thần của Ðức Giêsu sẽ khơi dậy trong họ sự im lặng hoặc từ ngữ. Lời đầu tiên của họ vẫn luôn luôn là sự sống của họ. Còn những lời khác sẽ không ngừng tái tạo, từ thời đại này qua thời đại khác, mà không bao giờ bị sa lầy trong những từ ngữ bị thói quen làm cho lu mờ.

admin
20-02-2011, 12:09 PM
CNTN13
CHÚA NHẬT XIII THƯỜNG NIÊN

AI ÐÓN TIẾP CÁC CON LÀ ÐÓN TIẾP THẦY
(Mt 10, 37-42)



I. VÀI ÐIỂM CHÚ GIẢI:

Với Chúa nhật XIII này, kết thúc bài "diễn từ sai đi truyền giáo".

1.Sẵn sàng để theo Ðức Kitô.

Ðức Giêsu nói với "mười hai môn đệ" thân thiết mà Người vừa phong làm tông đồ, tức là những kẻ "được sai đi, của Người. Bài diễn từ có chia làm phần rõ rệt: Phần thứ nhất tập trung vào SỰ SẴN SÀNG TRỌN VẸN và sự gắn bó triệt để của người môn đệ vào Ðức Kitô. Ðức Giêsu đòi người môn đệ yêu mến Người hơn những gì thân yêu nhất: "Ai yêu cha mẹ hơn Thầy không xứng đáng làm môn đệ Thầy. Ai yêu con cái hơn Thầy không xứng làm môn đệ Thầy. Những lời này không đi ngược với giới răn thảo kính cha mẹ. Trong thể văn khoa đại kiểu Sêmít, những lời này chỉ nhắm thiết lập một trật tự ưu tiên trong những lựa chọn. Những tình cảm gia đình, dù chính đáng, không thể kìm hãm, càng không thể ngăn chặn những môn đệ bước theo Ðức Giêsu. Những mối dây liên hệ thiêng liêng này chỉ là tương đối so với mối liên hệ tuyệt đối: gắn bó vô điều kiện vào bản thân Ðức Giêsu. Ở đoạn văn trước đó, cùng đậm đặc chất Sêmít, Ðức Giêsu đã nói không úp mở cho những ai muốn theo Người biết những chọn lựa đau đớn mà họ sẽ phải trải qua: "Thầy đến để tách lìa con trai khỏi cha, con gái khỏi mẹ, con dâu khỏi mẹ chồng, người trong một nhà sẽ chống đối nhau. Claude Tassin gợi ý: "Hãy nghĩ tới nhũng người ngoại đạo mới trở lại, từ chối không thờ lạy thần của gia đình vì đức tin Kitô hữu... Giữa "ngôi nhà" của Thiên Chúa (câu 25) và ngôi nhà của riêng mình", người môn đệ luôn luôn bị đẩy vào cho phải lựa chọn giữa (nhà" của Thiên Chúa và "nhà của riêng mình", Ðức Giêsu sẽ đi xa hơn nữa: Người mời gọi môn đệ yêu mến Người hơn chính bản thân họ, hơn cả mạng sống của họ? Và vì người môn đệ đã chọn chia sẻ vận mệnh với Người, Ðức Messia chọn đóng đinh, họ sẽ không ngại ngùng vác lấy "thập giá bản thân" mà theo Người". Nếu ta thường cho rằng kiểu nói "vác thánh giá" thuộc về một ngôn ngữ ước lệ thì các độc giả của Matthêu không nghĩ thế, vì họ phải sống trong một hoàn cảnh bắt bớ, đe doạ, nơi cái chết trên thập giá xảy ra rất thường và là hình khổ tàn bạo, nhục nhã hơn hết, hình khổ dành cho nô lệ. Thế nên ai chọn nối bước Ðức Giêsu chắc chắn rồi sẽ như Thầy mình, gặp phải hiểu lầm, thù ghét, và cả bắt bớ nữa.

2.Ðón tiếp các môn đệ của Ðức Kitô.

Với 4 câu, phần thứ hai trở lại đề tài "ÐÓN TIẾP" môn đệ Ðức Kitô.

Trước hết để xác định sự duy nhất giữa Ðấng sai đi và người được sai đi: "Ai tiếp đón các con là tiếp đón Thầy; ai tiếp đó Thầy là tiếp đón Ðấng đã sai Thầy".

Sau đó, để phân biệt chi tiết sự đón tiếp theo 3 mức độ giảm dần một cách nghịch lý: các "tiên tri", những "người công chính", nhưng "kẻ bé mọn", và long trọng xác nhận họ có tư cách xứng đáng là sứ giả của Phúc âm. Các "tiên tri" hiển nhiên là những Kitô hữu. Họ đã thi hành một tác vụ được chấp nhận trong Giáo Hội sơ khai. Những "người công chính có lẽ là những thành phần được kính trọng trong cộng đoàn Kitô hữu. Còn những kẻ "bé mọn" là các môn đệ, họ chẳng làm gì hơn là "tin" vào Ðức Giêsu. Họ cũng đáng được trân trọng và yêu mến đặc biệt.

J. Perron ghi nhận: "không ý nghĩa sao, chỉ "diễn từ tông đồ" này khởi đầu như chỉ nói riêng với nhóm 12, tách họ riêng ra, trao cho họ trách nhiệm và tư cách người được sai đi của Ðức Kitô, lại kết thúc bằng trao ban cho cả những người bé nhỏ nhất sự cao trọng và trách nhiệm y như thế?".



II. BÀI ÐỌC THÊM:

(Mgr. L. Daloz, Le Règne descieux s 'est approché DDB).

Ðức Giêsu không chỉ đồng hoá với các tông đồ mà Người sai đi loan báo Nước Thiên Chúa. Người còn đồng hoá với mỗi một môn đệ, nhất là với những người bé nhỏ nhất. Người sẽ nói: "Ai vì danh Thầy mà đón tiếp một trẻ nhỏ chính là đón tiếp chính Thầy" (l8,5). Ðặc biệt, Người mời gọi ta nhận biết Người trong những kẻ túng cùng, khốn khổ: "Quả thực Thầy bảo anh em, mỗi lần anh em làm như thế cho một trong những kẻ bé mọn này, là anh em làm cho chính Thầy" (25,40). Hôm nay, ngay khi nói với các tông đồ: "Ai tiếp đón anh em la tiếp đón Thầy". Người nói tiếp và cho biết Người gắn bó biết bao với từng người: cho một tiên tri vì họ là tiên tri, cho người công chính vì họ là người công chính, cho kẻ bé mọn nhát vì họ là môn đệ. Ai đón tiếp họ, Người hứa sẽ ban phần thưởng, khi đón tiếp họ, cũng là chọn đứng về phía Người. Giữa Ðức Giêsu và các môn đệ có một dây hiệp thông sâu xa. Ðôi khi ta nói về "bí tích huynh đệ". Các bí tích, trước hết là bí tích rửa tội, không biến anh em ta, một cách nào đó, thành những "bí tích" của Ðức Giêsu Kitô mà họ đã được ghi đấu đó sao? Cái nhìn đức tin phải giúp ta nhận biết Ðức Giêsu hiện diện trong anh em ta. Mỗi người chúng ta được sai đến với con người để cho họ biết Ðức Giêsu đã đến gần...".

2. Ðiểm bình thường trở tàhnh nơi diễn ra lắm bất ngờ

Yêu thương, tiếp đón là những từ ngữ thuộc về ngôn từ và phong tục của Nước Trời. Cái bình thường, cái thường ngày trở thành ân sủng, khả năng, khám phá ra niềm vui Nước Trời. Ðiều bình thương nhất như cho một ly nước uống, bỗng trở thành nơi diễn ra sự bất ngờ, mạc khải. Có lẽ Thiên Chúa muốn thời gian nghỉ hè sắp tới sẽ giúp ta trở nên biết quan tâm tới người khác, tới Ðấng khác. Như thế, chúng ta sẽ trở thành những con người của niềm tin, những tín hữu.

admin
20-02-2011, 12:09 PM
CNTN14
CHÚA NHẬT XIV THƯỜNG NIÊN

KINH TẠ ƠN CỦA ÐỨC GIÊSU
(Mt11,25-30)



I.VÀI ÐIỂM CHÚ GIẢI:

+ Trong một bối cảnh đối nghịch và thất bại hiển nhiên sau những chỉ dẫn làm nòng cốt cho sứ mạng Kitô hữu (ở Chúa nhật 11, 12 và 13), ta chờ đợi được thấy 12 môn đệ lên đường sứ mạng. Nhưng hôm nay, ta gặp lại Ðức Giêsu giữa bộn bề hoạt động truyền giáo, Matthêu viết: "Dạy bảo 12 môn đệ rồi, Ðức Giêsu lên đường dạy dỗ và rao giảng tại các thành thị trong nước (11,1). Trong hoạt động truyền giáo ấy, Người phải trả lời những chất vấn của Gioan Tiền hô cũng như phải đương đầu với sự cứng lòng, sự chống đối của các đối thủ và sự bất tín của các thành thị xứ Galilê.

Ðối diện với các sứ giả của Gioan Tiền hô. Gioan Tiền hô nhận thấy thái độ của Ðức Giêsu không phù hợp với những lời rao giảng nghiêm khắc của ông, nên từ trong tù, ông sai người đến hỏi Ðức Giêsu: "Ngài có phải là Ðấng phải đến, hay chúng tôi phải đợi một người khác?".

Ðể trả lời họ, Ðức Giêsu đưa họ trở lại những lời tiên báo của Isaia: "Hãy về thuật lại cho Gioan những gì các ngươi đã nghe và đã thấy: người mù nhìn thấy, kẻ què đi được kẻ chết sống lại và người nghèo được nghe giảng Tin Mừng". Thời ứng nghiệm lời tiên tri đã tới. Phải biết nhận định những dấu chỉ loan báo về Nước Trời. Ðức Giêsu nói với Gioan: "Phúc cho ai không vấp phạm vì Ta". Khi "những sứ giả của Gioan đi rồi", Ðức Giêsu tiếp tục liên hệ sứ mạng của Gioan với sứ mạng của Ngài và tố cáo những ai không đón tiếp sứ mạng của các Ngài. Vạch trần ý đồ xấu xa của các đối thủ, Ðức Giêsu so sánh họ với đám trẻ con hư đốn muốn chơi trò đám tang khi ta đề nghị chúng chơi trò đám cưới, và đòi chơi trò đám cưới khi ta đề nghị chúng chơi trò đám tang. Vì thái độ bất tín của miền Galilê quê hương Ngài dù họ đã thấy biết bao phép lạ Người làm sau cùng Ngài đã phải thốt lên những lời đau đớn y hệt các tiên tri trong Cựu ước.

1.Kinh tạ ơn của Ðức Giêsu.

Vậy mà Matthêu đã đặt lời kinh nguyện lạ lùng của Ðức Giêsu vào trong cái bối cảnh chống đối và thất bại hiển nhiên của sứ vụ Galilê ấy. Lời kinh mà trong Phúc âm Luca 10,21-22, ta gặp thấy trong sứ mạng của các môn đệ.

Một lời cầu nguyện mang âm hưởng rất Do Thái, trong đó Ðức Giêsu ngỏ lời với "Chúa trời đất". Một lời cầu nguyện mà tiếp theo đó, Ðức Giêsu, trong tương quan với Ðấng mà Ngài gọi là "Cha", đã tự nhận mình là "Con": một danh hiệu bất ngờ qua đó hiển lộ mối liên hệ duy nhất nối kết các Ngài: "Cha Ta đã trao cho Ta mọi sự, không ai biết Con trừ ra Cha; cũng không ai biết Cha, trừ ra Con và người mà Con muốn mạc khải cho".

Một lời cầu nguyện còn vang âm lời phán ra từ đám mây, khi Ðức Giêsu chịu phép rửa ở sông Giođan "Ðây là Con Ta yêu dấu: Ta hài lòng về Người".

Bây giờ Ðức Giêsu cầu nguyện: "Ðiều Cha đã giấu những bậc khôn ngoan thông thái, Cha lại mạc khải cho những kẻ bé nhỏ. Vâng, lạy Cha, Cha đã muốn như vậy vì lòng nhân lành của Cha. Cha cũng dùng tình yêu thương ấy ấp ủ Ðức Giêsu, Con rất yêu dấu, Tôi tớ của Người, và những kẻ bé nhỏ sẽ nhận biết Cha trong cảnh nghèo hèn của họ. Một kinh nguyện tạ ơn, một tiếng reo vui, một lời tuyên xưng đức tin, một "bài ca tán tụng". Tại sao lại tạ ơn? Vào đúng lúc khó khăn này? Không phải vì Ngài đã thất bại đối với những bậc khôn ngoan thông thái, những kẻ cho rằng họ nắm giữ đặc quyền hiểu biết, nhưng vì sự đón nhận mà đám đông những "người bé nhỏ", những kẻ khiêm nhường, những người có tâm hồn nghèo khó, dành cho Người. Những người ấy đã nhận ra nơi Người mầu nhiệm Thiên Chúa Cứu Ðộ bí mật tình yêu của Người đối với nhân loại. Họ đã nhận biết nơi Người Thiên Chúa tối cao đã tỏ ra gần gũi, Thiên Chúa vì đại đã tỏ ra ngang hàng với những kẻ bé nhỏ.

Cl Tassin ghi nhận: "Lời kinh này phản ánh đúng sự lượng giá của Ðức Giêsu về sứ mạng của Người. Lời kinh cũng cho ta mẫu mực của mọi lời kinh tông đồ, lời kinh, biết nhìn lại những thành công và những thất bại, để khám phá ra ý định của Thiên Chúa với niềm hạnh phúc.

Trong lời nói và cử chỉ của Ðức Giêsu, những người bé nhỏ khám phá ra Thiên Chúa là một người Cha. Họ hiểu rằng giữa Thiên Chúa và con người ấy có một sự hỗ tương toàn vẹn, rằng Ðức Giêsu muốn mạc khải Thiên Chúa và rằng, trong sứ mạng của Người, Thiên Chúa tỏ mình ra trong một ngôi vị.

2.và lời mời gọi trở nên môn đệ Người.

Ðối với những người được tỏ cho biết mối liên hệ duy nhất nối kết Người với Chúa Cha, Ðức Giêsu kêu gọi hãy trở nên môn đệ của Người. Ðể qua Người đi sâu vào sự hiểu biết trừu tượng, nhưng trong một liên hệ sống động giữa các ngôi vị.. "Gánh" mà Người gọi ra ở đây có lẽ là gánh của thói duy lề luật tỉ mỉ. Người là Ðấng đến không phải để phá huỷ, nhưng"hoàn thành", Người "chống lại thói tục chính yếu của tôn giáo thời ấy là áp đặt một kỷ luật khắt khe trên con người mà không thông truyền cho họ niềm vui ơn cứu độ". Người đề nghị một sự công chính mới. Một sự công chính đòi hỏi hơn nhưng cũng nhẹ nhàng hơn, vì đó là sự gắn bó với cá nhân của Người, Ðấng khai mở ra tình yêu của Chúa Cha. Một sự công chính mà bản thân Người rất "nhân lành và khiêm nhường trong lòng" đến hoàn tất trong những ai gắn bó với Lời Người.



II.BÀI ÐỌC THÊM:

1.Một lời nguyện không tách rời những câu Phúc Âm ở đạon trước. (L. Monloubou, Evangile de Matthieu, Salvator). Lời cầu nguyện của Ðức Giêsu được trích dẫn ở đây không tách rời những câu Phúc âm ở đoạn trước. Vì quen chia cắt chương này, ta hay coi thường mối liên hệ chặt chẽ nối kết Lời của Ðức Giêsu với sự thất bại khi Người rao giảng tại Galilê. Thất bại này giải thích tại sao Ðức Giêsu kết án những thành thị bất tín. Ðiểm lý thú của lời kinh nguyện của Ðức Giêsu là, sau khi cảm nhận sự thất bại trong chuyến đi vòng quanh Galilê, Ðức Giêsu "chúc tụng" Chúa Cha. Trong Cựu ước không thiếu gì những bản văn miêu tả phản ứng hiếu chiến rất nhân loại của các ngôn sứ. Sau khi bị tổn thương vì gặp thất bại, họ qui trách nhiệm cho Thiên Chúa về những thất bại đó. Bài tự thuật của Giêrêmia tường thuật lại mối thất vọng nặng chất người - trừ Ðức Giêsu ai dám kết án một sự thất vọng như thế? của vị ngôn sứ bất hạnh, bị các thính giả mà ngài kết án vây hãm tứ bề. Những câu nói của một vị ngôn sứ tuyệt vọng vì thất bại, muốn nghi ngờ Thiên Chúa đã được Giêrêmia thuật lại (15,15-18 hoặc 15,19-21) có thể dùng trong bài đọc 1; những lời ấy cho thấy sự yếu đuối của tín hữu, và của chính vị ngôn sứ đã muốn nghi ngờ Thiên Chúa, chúng cho thấy sức mạnh vô song của Ðức Giêsu, vì, thay vì phản loạn, nghi ngờ Ngài đã "chúc tụng" Ngài nói "Vâng, lạy Cha, đó là ý định của Cha: Ðức Giêsu chúc tụng. chúc tụng phát xuất từ sự ngưỡng mộ. Ta chúc tụng vì ngưỡng mộ một tác phẩm, một nhân vật có những dấu hiệu của sự hoàn hảo, toàn bích. Như thế Ðức Giêsu nghĩ rằng kết quả của chuyến rao giảng tại Galilê, tuy bề ngoài có vẻ bi quan, vẫn có cái gì tích cực. Ðể thẩm định sự vật như thế, phải vượt qua những lý do tự nhiên. Vì tiếng kêu thán phục thốt lên trong lời chúc tụng không chỉ phát xuất do sự vật mà ta nhìn ngắm, ngưỡng mộ, tiếng kêu ấy phát xuất từ việc đối chiếu với Thiên Chúa. Một... ngất ngây phát sinh khi ta thoáng thấy Thiên Chúa; tình trạng đó là kết quả của một hành vi của Thiên Chúa, như một tác phẩm thần linh. Vậy ta ngưỡng mộ Thiên Chúa hơn là tác phẩm của Người. Và ta chúc tụng. Ðức Giêsu chúc tụng Thiên Chúa vì, tuy không quên trách nhiệm đối với những kẻ bất tín trong thất bại của Ngài (sự kết án những thành thị minh chứng điều đó) Ngài đã nhận ra một mầu nhiệm thần linh; Ngài biết rằng Thiên Chúa có mặt trong tấn kịch. Nó đã hầu như phá huỷ nỗ lực rao giảng. Phúc âm của Ngài. Ngài ngưỡng mộ sự hiện diện này, công trình của Thiên Chúa này. Chính Thiên Chúa đã che mắt những kẻ bất tín, cũng chính Thiên Chúa mạc khải cho "những ai đơn sơ": vì tất cả những điều đó, Ngài phải được chúc tụng. Ngài tỏ ra là một Thiên Chúa hiện diện còn hơn cả hiện diện: một Thiên Chúa "là Cha" Ðức Giêsu nói: "Lạy Cha, Con chúc tụng Cha".

2.Ðức Giêsu, sự mạc khải của Chúa Cha cho những kẻ bé nhỏ. (Mgr. L. Daloz, Le Règne des cieux s'est approché, DDB).

Lời nguyện của Ðức Giêsu: "Lạy Cha là Chúa trời đất Con chúc tụng Cha, vì Cha đã giấu không cho những người khôn ngoan thông thái biết, nhưng Cha đã mạc khải cho những người hèn mọn...". Không có ý nói Thiên Chúa phân biệt đối xử; Ðức Giêsu không tuyên bố cửa Nước Trời vĩnh viễn khép chặt đối với một vài loại người. Nhưng mỗi người chúng ta đều bị đe doạ vì thói tự mãn, kiêu căng về kiến thức, về sự khôn ngoan phàm trần... Ðể đón nhận Thiên Chúa và ơn cứu độ, con người phải diệt trừ thói tự mãn. Ðó không phải là hạ mình. Ngược là đó là sự cao cả của con người: năng lực của họ mở ra vô biên và do đó đạt đến viên mãn. Vì thế Ðức Giêsu có thể ca ngợi Chúa Cha đã ban cho con Người được đi vào mầu nhiệm của Ngài: "Con chúc tụng Cha...vì Cha đã mạc khải cho những kẻ bé mọn". Ðó không phải là một lựa chọn cứng ngắc, nhưng là sự quan tâm yêu thương của Ngài. "Vâng? lạy Cha, vì đó là điều đẹp ý Cha".

Ðiều mà Chúa Cha che giấu những người khôn ngoan thông thái, nhưng mạc khải cho những kẻ bé: mọn, đó là mầu nhiệm Thiên Chúa, đời sống thân mật của Thiên Chúa. Thiên Chúa Tình Yêu tỏ mình ra trong mầu nhiệm đời sống của Ngài, mầu nhiệm sự thân mật của Ngài, là Thiên Chúa Ba Ngôi: -"Tất cả đã được ban cho Ta từ Cha. Không ai biết Con trừ ra Cha, cũng không ai biết Cha trừ ra con và những người mà Con muốn mạc khải cho? Vì đó là mầu nhiệm của Thiên Chúa, của tình yêu là sức sống Thiên Chúa mà Ngài muốn ta chia sẻ, sự khôn ngoan thông thái loài phàm trần chúng ta không tài nào hiểu được. Ta không thể phán đoán Thiên Chúa theo chuẩn mực nhân loại. Ta không thể tiến vào mối thân mật thâm sâu với Thiên Chúa bằng những nỗ lực hay bằng lý luận của loài người. Ta chỉ có thể mấp mé ở ngưỡng cửa nơi lý trí còn có thể phiêu lưu, nơi lòng muốn có thể vươn tới nhưng không bao giờ đạt được đối tượng. Các triết thuyết lý luận về Thiên Chúa, các nhà thần bí hướng dẫn cuộc tìm kiếm Thiên Chúa. Nhưng sau cùng Thiên Chúa vẫn là "Ðấng vượt trên tất cả". Ta chỉ nhận biết Ngài nếu để Ngài dạy dỗ: Ta chỉ gặp được ngài nếu để Ngài dẫn ta đi. "Không ai biết được Chúa Cha trừ ra Con và những ai mà Con muốn mạc khải cho....Ðức Giêsu là con đường duy nhất. Ngài là Con Thiên Chúa làm người để nói lời Thiên Chúa bằng ngôn ngữ loài người và để tỏ ra tình yêu Thiên Chúa trong cử chỉ của con người... Ngài đã trở nên anh em của ta, để dẫn đưa ta về với Cha qua những nẻo đường quanh co của hiện diện nhân loại. Mắt ta ngây ngất chiêm ngưỡng nơi Ngài một sự khôn ngoan và một tình yêu đích thực. Tim ta bốc lửa vì lời Ngài trao ban cho ta bí mật của bụi gai cháy đỏ. Ta chỉ biết được Chúa Cha và Chúa Con nhờ thờ lạy, chiêm ngắm trong ngọn lửa của Thánh Thần.

admin
20-02-2011, 01:38 PM
CNTN15
CHÚA NHẬT XV THƯỜNG NIÊN

NGƯỜI GIEO GIỐNG
(Mt 13,1-23)



I.VÀI ÐIỂM CHÚ GIẢI:

1.Hiệu quả của Hạt giống Lời Chúa.

Ta đã kết thúc "bài diễn từ sai đi" bằng kinh nguyện truyền giáo của Ðức Giêsu. Một lời nguyện tạ ơn, trái ngược hẳn với sự tiếp đón hờ hững lời Người giảng dạy tại Galilê. Với chương 13, ta lại gặp nhau trong một đoạn mới của Phúc âm thứ nhất (12,22; 16,20) mà sợi chỉ đỏ là căn tính thực sự của Ðức Giêsu. Căn tính ấy đạt tới cao điểm trong lời tuyên xưng của Phêrô ở chương 16,16. Trong lúc các luật sĩ và biệt phái không ngừng lún sâu vào con đường mù quáng. Họ tuyên bố. "Người này trừ quỉ nhân thân Belzébolul, tướng quỉ".

Những tâm hồn "bé nhỏ" lại mở rộng đón tiếp mầu nhiệm bản thân và sứ vụ của Ngài. Họ tự hỏi "Phải chăng người này là con vua Ðavit. Trong bối cảnh này, Matthêu đặt bài diễn từ thứ ba của Ðức Giêsu, bài "diễn từ bằng dụ ngôn một tập họp bảy dụ ngôn và bốn là của riêng ngài (dụ ngôn cỏ lùng, viên ngọc và lưới cá). Trong các dụ ngôn, Ðức Giêsu biểu dương một "tài năng không ai bắt chước được, một người kể chuyện độc đáo" như J. Potin nhận định. "Dụ ngôn kích thích óc tò nó nắm bắt thực tại của cuộc sống hằng ngày, tách ra một mảng, dàn dựng thành cảnh để hướng thính giả về một thực tại vô hình? phụ thuộc vào điều mắt thấy tai nghe hằng ngày. Ngồi trên thuyền, Ðức Giêsu thấy một đám đông mênh mông chen chúc nhau trên bờ hồ. Ngài bất đầu giảng dụ ngôn người gieo giống. Một dụ ngôn nói với những người thất vọng vì kết quả ít ỏi của lời Người giảng dạy, nói với các môn đệ vì họ có cảm tưởng rằng Lời Người chỉ gặp thuần thất bại. Một đụ ngôn của niềm hy vọng, rất hiện thực, vì như J. Dupont viết: "Những thất bại ấy, ngày nay đâu thiếu, cũng không thiếu những Kitô hữu chán nản. Ðức Giêsu muốn thông truyền niềm tin không gì lay chuyển được của Người. Ðược Ðức Chúa Cha sai, Người đã đến khai mạc Nước Thiên Chúa: "Này người gieo giống đi gieo". Và, bất chấp những khó khăn, chậm chạp, thất bại, mùa gặt cũng sẽ tới. Dường như Thiên Chúa gieo thuần trong thất bại? Nhưng từ những khởi đầu ít hứa hẹn ấy, sẽ bừng lên một mùa thu hoạch vượt quá mọi niềm by vọng: huê lợi kỳ diệu của hạt giống rơi trên "đất tốt", sẽ đền bù rộng rãi những thất bại. J. Potin nói tiếp: "Ðức Giêsu không phải không biết đến hoàn cảnh phức tạp của con người trong đó Thiên Chúa muốn gieo mầm mống Nước Trời. Cách thế gieo hạt ở Palestine đã cho Ngài cơ hội giải thích nước Trời, người ta gieo trước khi cày ruộng. Người qua kẻ lại băng ngang làm đất chai lì, không cho hạt giống mọc lên. Ðất không mầu mỡ hoài hoài. Ðá trồi, gai mọc bóp nghẹt cây lúa trước khi nó kịp nẩy nở. Nhưng dù huê lợi không đồng đều đất mầu mỡ vẫn có. Người gieo, tức Thiên Chúa, ước lượng rằng hạt giống có mất mát, mùa gặt vẫn bội thu. Ðức Giêsu khẳng định Nước Thiên Chúa sẽ đạt đến viên mãn dù có những chướng ngại. Ðến mùa gặt, Thiên Chúa sẽ có lý do để mừng vui. Trong viễn tượng này, ta cảm thấy Ðức Giêsu reo lên vui mừng. Ta đoán được điều đó trong các kết quả tăng dần: 30, 60, 100 cho một hạt. Hành động của Thiên Chúa không thể dẫn đến thất bại. hành động ấy có hiệu quả, như "Lời của Người".

2.Những thửa đất khác nhau.

Tự thân dụ ngôn, dụ ngôn của niềm hy vọng, tập trung vào giạt giống - Lời Chúa và hiệu quả của nó. Việc giải thích dụ ngôn cho cộng đoàn ở các câu 10 và tiếp theo lại nhấn mạnh đến tính chất khác biệt của các thửa đất và phẩm chất đón nhận của chúng. Tin vào hiệu quả của Lời Chúa không được làm quên đi trách nhiệm của những kẻ nghe lời: Kết quả cụ thể của việc gieo hạt tuỳ thuộc vào thái độ đón nhận của họ. J. Potin kết luận: "Giáo Hội đã, nhân dụ ngôn này, tố cáo những thiếu sót tinh thần ngăn cản sự tiến bộ của đời sống Kitô hữu... ở mỗi thửa đất, ta dễ dàng thấy những thái độ mà các nhà giảng thuyết tố cáo: sa chước cám dỗ của Satan, nhất là trong lúc bị bắt bớ, sự hời hợt của đức tin, gắn bó với của cải vật chất.



B. BÀI ÐỌC THÊM:

1. Gieo lời Chúa với lòng can đảm và hào phóng. (Mgr. L Daloz Le Règn e des cieux s 'est approché, DDB).

Tôi có thể rút ra được một bài học nửa từ dụ ngôn người gieo giống. Thái độ của người có trách nhiệm loan báo lời Chúa. Ðức Giêsu cảnh báo họ trước một cám dỗ: chỉ lo phân tích đất đai, đoán xét lòng người và hoàn cảnh, chuẩn bị sao cho đất sinh hoa kết trái. Vì thế, họ có khuynh hướng dành hạt giống cho thửa đất tốt, loại trừ những thửa đất xem ra không xứng đáng hoặc không có khả năng đón nhận lời Chúa... Sau cùng dụ ngôn nói rằng chính hạt giống bộc lộ phẩm chất của đất đai. Hạt giống không chỉ dành riêng cho đất tốt, cho những người lành, cho những người tốt, trong những hoàn cảnh rõ ràng, sau khi các vấn đề đề quân bình, công bình, phát triển, lương thiện, luân lý... đã được giải quyết. Ta vẫn thường bị cám dỗ: "Làm thế có ích gì?" "Với những người này, trong hoàn cảnh ấy, ta chẳng có gì để làm". Không, phải tung gieo Lời Chúa với lòng can đảm và sự hào phóng. Chính Thiên Chúa chứ không phải ta, sẽ thăm dò các tâm hồn. Ta vẫn thường ngạc nhiên: Lời Chúa bộc lộ đáy lòng thầm kín của con người, những người thu thuế và gái điếm sẽ vào Nước Thiên Chúa trước các thượng tế và các tiến sĩ luật.

2 Người gieo giống kỳ lạ, vừa là người gieo, vừa là người bị gieo. (H. Dens, 100 mots pour diu la foi, DDB)

Dụ ngôn đưa vào cuộc một Thiên Chúa còn có nhiều điều để nói với ta, dù đã có nhiều bình luận, giải thích, để ta bắt đầu bằng những bình luận, giải thích của chính Phúc âm. Quả thực người ta có khuynh hướng lái dụ ngôn ra khỏi ý nghĩa quan trọng nhất khi biến nó thành, không phải dụ ngôn Người gieo giống nữa, nhưng là dụ ngôn về chất đất. Ðiều đó hợp pháp vì đó là một lối đọc do tác giả Phúc âm đề nghị, một lối đọc theo luân lý, cảnh báo về những thái độ của con người khi đón nhận Lời Chúa, để Lời Chúa sinh hoa kết quả dồi dào. Hãy nhớ lại lối giải thích và áp dụng do nhóm "Hành động Công giáo" đề nghị, ứng vào những cảnh vực đời sống". Nhưng ta hãy trở lại với Người gieo giống. Tôi muốn rút ra từ hình ảnh người gieo giống, mà những con tem Pháp luôn minh hoạ bằng người phụ nữ, một vài đặc điểm của Thiên Chúa chúng ta. Trước hết, Thiên Chúa của Ðức Giêsu trao ban lời của Ngài có lẽ như một "hơi thở mong manh". Nhưng Người đã trao ban. Người không giữ Lời cho riêng mình. người cho nó mặc lấy hình hài trong thửa đất của con người. Kế đó, Thiên Chúa gieo lúc thuận tiện cũng như không thuận tiện. Cũng cần thêm rằng, người gieo hào phóng đến độ chẳng cần nhìn chỗ hạt giống rơi: trên đường đi, trong đá sỏi, trong gai góc, trên đất mỏng...,nghĩa là, gieo khắp nơi. Ðương nhiên có nhiều hạt giống chết đi. Người gieo giống là kẻ đầu tiên thực hành câu nói thời danh: Ai muốn cứu mạng sống mình sẽ mất, ai liều mạng sống sẽ gặp được sự sống. Thực kỳ dị, vì người gieo giống vừa là người gieo, vừa là người bị gieo. Làm sao quên được rằng Ðức Giêsu là hạt giống gieo vào lòng đất? Làm sao tin vào sự phong nhiêu của Ngài nếu ta từ chối cái chết của Ngài? Ðức Giêsu không chỉ là cánh tay Thiên Chúa tung gieo Lời Hằng Sống. Chính Ðức Giêsu là hạt lúa mì đã chôn vùi vào thửa đất có cả cỏ lùng của ta và tan biến trong lòng đất, để phục sinh trong muôn ngàn bông lúa. Chính vì thế mà Mùa gặt đỏ ối dưới ánh mặt trời Phúc âm sẽ được thu hoạch, khi Thiên Chúa muốn, vào những kho lẫm của Tình yêu vĩnh cửu.

admin
20-02-2011, 01:39 PM
CNTN16

CHÚA NHẬT XVI THƯỜNG NIÊN

DỤ NGÔN HẠT CẢI VÀ CỎ LÙNG

DỤ NGÔN BỘT VÀ MEN

(Mt 13,24-43)



I.VÀI ÐIỂM CHÚ GIẢI:

1.Theo gương nhẫn nại của Chúa

Chúa nhật trước, chúng ta đã bắt đầu đọc bài giảng thứ ba trong năm bài giảng lớn của Phúc âm thánh Matthêu là dụ ngôn Người gieo giống. Hôm nay chúng ta tiếp tục với ba dụ ngôn khác. Trước tiên là dụ ngôn hạt cải và cỏ lùng, rồi sau là dụ ngôn bột và men. Cả ba đều tiếp theo sau phần giải thích dụ ngôn người gieo giống.

Dụ ngôn hạt cải và cỏ lùng đều mở đầu giống như dụ ngôn người gieo giống: "Nước Trời thì ví như người kia gieo giống tốt trong ruộng "mình...? Thế rồi đột nhiên câu chuyện trở nên bi đát: các đầy tớ sửng sốt khám phá thấy cỏ lùng đã mọc lan khắp cả ruộng lúa vừa gieo. Họ hỏi ông chủ: "Cỏ lùng ở đâu mà ra vậy ông đáp: "Kẻ thù đã làm đó". Họ sẵn sàng đi ra ruộng ngay để nhổ hết thứ cỏ dại làm hư ruộng của chủ.

+ "Vậy ông có muốn chúng tôi nhổ cỏ đi không". Phản ứng tự phát của những người đầy tớ trong dụ ngôn cũng đúng là phản ứng của những người đã mắt thấy tai nghe bài giảng của Ðức Giêsu, phản ứng của những tín hữu ở mọi thời. Ðó là phản ứng của thánh Gioan Tẩy Giả, người đã vẽ nên bức tranh gây ấn tượng về việc Ðấng Mêsia sắp đến: "Tay Người cần nia. Người sẽ rê sạch lúa. trong sân: thóc mẩy thì thu vào kho lẫm, còn thóc lép thì bỏ vào lửa không hề tốt là đốt đi" (Mt 3,12). Hụt hẫng vì không thấy cách xét xử của Chúa diễn ra y như mình đã loan báo, nên từ trong ngục tù, Người sai hai môn đệ đến hỏi Chúa rằng: "Thầy có thật là Ðấng phải đến không, hay là chúng tôi còn phải đợi ai khác". Ðó là phản ứng ngỡ ngàng của tất cả những ai đã nghe lời Ðức Giêsu loan báo: "Nước Trời đã đến gần, thế mà họ lại chẳng thấy có gì được phác hoạ giống như sự xét xử vẫn trông đợi khi Nước này tới.

Ðó là phản ứng tỏ ra thất vọng của mấy môn đệ thân tín của Chúa khi thấy người ta không lịch sự tiếp đón Thầy mình. Giacôbê và Gioan, hai con ông Dêbêđê rất bực mình vì thái độ tiêu cực của một thôn làng miền Samari, liền hỏi Chúa: " Thưa Thầy, Thầy có muốn chúng con khiến lửa trời xuống tiêu diệt họ không?".

Thực vậy, làm sao tin được rằng những hành động chẳng có gì là vẻ vang của Chúa Giêsu như chữa lành người bệnh, quan tâm đến các trẻ em và những người hèn mọn, tiếp xúc gần gũi với những người tội lỗi, mà lại loan báo và thực thi Nước Chúa một cách hiệu quả đang lúc giờ phút xét xử của Thiên Chúa còn muộn màng, chưa tỏ hiện và sự ác thì hoành hành và có mặt khắp nơi.

+ Ông chủ bình tĩnh đáp lời những người giúp việc tỏ ra quá mẫn tiệp: "lùng, cứ để cả hai cùng lớn lên cho tới mùa gặt... sợ rằng khi nhặt cỏ lùng, các anh làm bật luôn rễ lúa".

Từ mùa gieo hình ảnh Nước Thiên Chúa đến-đến mùa gặt kèm theo việc đập lúa - hình ảnh việc xét xử - có một khoảng giữa: Lúc này đang là thời kỳ lúa lớn lên là thời gian nhẫn nại của Thiên Chúa: nếu Thiên Chúa gớm ghét sự ác, thì Người vẫn cứ phải yêu thương con người - kẻ tội lỗi cũng như người công chính - và Người biết rõ tiềm năng lạ lùng của Lời gieo trong lòng họ. Ngày thu hoạch mùa và lựa lọc sẽ đến vào giờ của Người; ngày đó không thể dự đoán trước. ông chủ nói với các gia nhân ông rằng: "Ðến ngày mùa, tôi sẽ bảo thợ gặt: Hãy nhặt cỏ lùng trước đã, bó thành bó mà đốt đi còn lúa thì hãy thu vào kho lẫm cho tôi. Là một lời mời gọi sống theo gương nhẫn nại của Thiên Chúa, dụ ngôn này đồng thời cũng đề nghị ta suy niệm về thời gian của Giáo Hội: đó là thời gian mà tiềm năng của Lời đang hoạt động, bất chấp mọi trở ngại và chống đối; thời gian chờ đợi ngày cánh chung, thời gian của niềm hy vọng. Lời giải thích dụ ngôn chúa có ý nhắm nói năng cho các môn đệ khi đã về tới nhà xem ra xa với bài học về lòng nhẫn nại mà dụ ngôn đã đưa ra. Ðiểm nhấn mạnh ở đây không còn nhắm tới sự sống giữa giống tốt và cỏ lùng nữa, mà là sự chọn lựa cuối cùng; đang khi chờ đợi sự chọn lựa này, thì phải cố gắng sống không như "con cái ác thần" mà như "những con cái Nước Trời".

2..trong niềm hy vọng hạt giống sẽ nẩy mần:

Xen giữa dụ ngôn cỏ lùng và người gieo giống được giảng cho đám đông, mà giải thích thì dành cho các môn đệ, ta thấy có hai dụ ngôn mới: dụ ngôn hạt cải và dụ ngôn men trong bột. Dụ ngôn này cũng như dụ ngôn kia đều nói đến mối tương quan be,1ớn, mà có ý làm nổi bật sự bất cân xứng khác thường giữa một bên là cái bé nhỏ, khiêm tốn hầu như vô nghĩa lúc khởi đầu và bên kia là sự bành trướng lạ thường khi tới đích.

Quả thực, chẳng có tỉ lệ cân xứng chút nào giữa "một hạt nhỏ nhất trong tất cả các hạt giống" và một cây lớn lên từ hạt đó" vì khi mọc lên thành cây lớn nhất trong vườn, nó trở thành cây cổ thụ, đến nỗi chim trời tới làm tổ trên cành được!".

Và thật là chẳng cân xứng chút nào giữa một bên là một dúm men hầu như không trông thấy mà người pbụ nữ vùi vào trong bột, và ba đấu bột là dùng để ủ men: từ ba trở thành 40 hạt đủ bảo đảm bữa ăn cho hơn 100 người!

Cũng vậy, để làm cho Nước Chúa đến, Thiên Chúa cũng không xử sự khác người nông dân khi gieo vào đất một hạt bé nhỏ, hay như người đàn bà vùi một chút men vào bột. Dù bề ngoài xem quá khiêm tốn, sứ mệnh của Ðức Giêsu vẫn cứ khai mào việc Thiên Chúa nhất định can thiệp vào lịch sử của con người. Vậy thì có lẽ nào mà phải nghi ngờ về kết quả chung cuộc?



II. BÀI ÐỌC THÊM:

1."Chưa nhẫn nại đợi chờ" (A. Nocent, trong "Céléhrer Jésus Chirist" số 6, NXB Ðại học, 1977, trang 100).

"Sự nhẫn nại đợi chờ này thực là rõ nét trong dụ ngôn cỏ lùng, tâm điểm của Tin Mừng hôm nay. Cánh đồng được gieo toàn hạt giống tốt. Con người đã gieo vào trần thế những con cái Nước Trời. Ban đêm kẻ thù xuất hiện, Satan tới gieo cỏ lùng. Và thế là có cảnh lẫn lộn trên trần gian, người lành kẻ dữ cùng chung nhau một mảnh đất. Nếu chỉ thoáng nhìn, đôi khi khó mà không phê phán Thiên Chúa. Làm sao Chúa lại để điều ác phát triển như vậy? Những người xấu đôi khi xem ra lại được ưu đãi trong đời sống vật chất hơn những kẻ lành. Ðó là vấn đề thường nhật mà không phải chỉ riêng cho những người chân chất. Thiên Chúa để cho như vậy. Và quả thực Thiên Chúa muốn để cho mọc lên hạt giống Người đã gieo; đó là người con Chúa đã tuyển chọn, những người Chúa đã ban ơn thanh tẩy, những người mà Thần Khí đã biến đổi nên đồng hình đồng dạng với Con của Người. Chúa để cho họ phát triển, cùng lúc để cho cỏ lùng Người đã không gieo và không thể gieo lớn lên. Nhưng Người kiên nhẫn đợi chờ. Thế giới phải đi con đường của mình, và Thiên Chúa cứ để cho họ đi. Người đợi cho đến mùa thu hoạch. Cuộc đời trần gian cứ trà trộn như vậy, nên tốt hơn ta đừng can thiệp quá sớm kẻo làm chết đi cái gì còn đang sống. Nhưng Nước Chúa vẫn không ngừng tiến triển như hạt cải như, bột lên men: Chúa đợi chờ cho mọi cái đạt tới độ chín mùi. Thánh Matthêu khi viết điều này không phải là người không biết đến tình trạng của cộng đoàn mà ngài trách nhiệm. Ngài thấy cộng đoàn ấy lớn lên bước đầu từ hạt cải nhỏ tí ti, rồi trở thành cây lớn. Ngài hiểu biết rằng men đang nằm trong bột, nhưng ngài cũng không thể không biết rằng cỏ lùng lẫn lộn với hạt giống. Chắc chắn điều đó tạo nên vấn đề cho các tín hữu của ngài, cũng như ngày nay vậy và vấn đề không chỉ đơn giản là trấn an những nổi lo âu và hâm nóng lòng tin tường vào Chúa quan phòng. Chứng tỏ cho thấy rằng Nước Chúa vẫn có sức năng động, mặc dầu có những kẻ thù, mặc dầu có những khiếm khuyết, và đồng thời giúp cho cộng đoàn biết suy nghĩ về trách nhiệm của mình đang khi chờ đợi Ngày hội ngộ, đấy mới phải là mục tiêu mà thánh sử nhắm tới.

2. "Hạt giống tốt và cỏ lùng lẫn lộn xà ngầu" (Ðức Cha L. Daloz trong "Le règne des cieux s'est apprché" NXB Desclée de Brouuer, trang 200-201).

Phân loại nhưng "người lành", "kẻ dữ " thực ra có quá dễ dàng như thế không? Chúa Giêsu phán rằng sẽ chỉ đến mùa gặt thì việc phân biệt lựa chọn (nghĩa là đến ngày tận thế) mới thực hiện được: "Con người sẽ sai các thiên thần của Người tập trung mọi kẻ làm gương mù gương xấu và mọi kẻ làm điều gian ác, mà tống ra khỏi Nước của Người. Phải, việc đó sẽ được thực hiện, nhưng chỉ những tình huống tuyệt vọng nhất, nơi những con người xem như tồi tệ nhất, vẫn còn lập loè vài tia sáng. Hơn nữa, trong tình liên đới giữa con người với nhau, những người bị hãm hại và bị ức hiếp không để mình chịu thua sự độc ác của những kẻ hành hạ mình, mà lại trở thành con đường hộ phù và cứu độ cho những kẻ ấy. Ðức Giêsu người đứng đầu các kẻ công chính khi hấp hối trên thập giá đã cầu nguyện: "lạy Cha, xin tha cho chúng..!". Nét đẹp của con người, vẻ cao cả của một tấm lòng, đức tận tuỵ hy sinh của tình yêu thương cho đến tận cùng cũng biểu lộ cả trong những tình huống tội lỗi hỗn loạn hoàn toàn. Ðôi khi chính ở đó mà những vẻ đẹp kia lại tìm những cứ chỉ yêu thương và anh hùng bất ngờ, phải là phép lạ khi hình ảnh của Thiên Chúa thường bị biến dạng mà vẫn ẩn vùi trong thâm sâu của bản thân mỗi người phải là phép lạ khi tình yêu vẫn le lói như một tia sáng yếu ớt và kiên cường ngay ở nơi xem ra chỉ cồ bóng tối; hạt giống nhỏ xíu của Nước Trời "loại nhỏ nhất trong tất cả các hạt giống" mà người ta tưởng chừng nó phải mất hút, thế mà lại xuyên qua được đá cứng nhất nhờ sức mạnh của nhựa cây? Hạt giống rất quý giá đó mà Thiên Chúa vốn nhẫn nại không cho phép người ta tạo nguy cơ loại bỏ nó, chỉ vì vội muốn nhổ ngay đám cỏ dại. "Sợ rằng khi nhặt cỏ lùng, các anh làm bật luôn rễ lúa... ". Ta phải học cho biết hy vọng cả khi phải nguyện vọng như thế nào?; phải có lòng trắc ẩn và xót thương biết bao để biết tôn trọng tình trạng "'hổ lốn" mà ta vốn thích phân loại cho rõ rệt! Ta phải học đức nhẫn nại của Chúa, một sự nhẫn nại không mệt mỏi cho đến tận thế, học thương yêu con người, hết mọi người để cho không một ai phải hư mất, học lòng thương yêu của Chúa Con, Ðấng đã mặc lấy xác phàm để các anh em nhân loại của Người không phải là những nạn nhân của chính lòng độc ác của họ. Ðức nhẫn nại của Cha đâu có biết đến giới hạn? "Cứ để cả hai cùng lớn lên cho tới mùa gặt...? Con người thật là quý giá, nên phải coi chừng đừng để mất đi một mảnh vụn nào hết! Thiên Chúa không hề mệt mỏi khi phải kiên nhẫn "cho đến ngày tận thế".

admin
20-02-2011, 01:40 PM
CNTN17
CHÚA NHẬT XVII THƯỜNG NIÊN

DỤ NGÔN KHO BÁU VÀ NGỌC QUÝ,

DỤ NGÔN CHIẾC LƯỚI

(Mt 13,44-52)



I.VÀI ÐIỂM CHÚ GIẢI:

1.Chọn lựa Nước Trời là điều khẩn trương.

Từ hai tuần qua, chúng ta đã khởi sự đọc "Bài giảng bằng dụ ngôn", với dụ ngôn người gieo giống. Hôm nay chúng kết thúc với những dụ ngôn kho báu và ngọc quí dụ ngôn chiếc lưới và lời kết thúc bài giảng.

Như một cặp, nên hai dụ ngôn kho báu và ngọc quí đều được xây dựng cách cân đối. Không muốn ta chú ý đến những sự vật là kho báu ngọc quí vì cho ta ít giáo huấn- hai dụ ngôn muốn tập trung chú ý của ta vào thái độ ửng xứ của các nhân vật. Việc họ khám phá ra kho báu, viên ngọc chỉ làm nên điều giả sử đã có, sẽ cho phép ta hiểu được ngay cách hành xử mà hai người đã chọn.

+ Người thứ nhất là một người làm công nhật, cầy ruộng của một người khác, tình cờ trong lúc làm ruộng, anh gặp thấy chôn giấu miếng đất một kho báu. Một kho báu mà theo con mắt của anh là vô giá, nên anh liền "đi bán tất cả những gì có là mua thửa ruộng ấy".

+ Người thứ hai là một thương gia buôn bán ngọc quý. Tình cờ trong khi chạy hàng anh đã tìm được một viên ngọc thượng thặng, liền bán tất cả những gì mình có mà mua viên ngọc ấy".

Cả hai đều không muốn bỏ lỡ cơ hội có một không hai, không muốn để cho vận may của cuộc đời qua mất, và vì thế họ hành động. Lời đáp trả cho sứ điệp Tin Mừng về Nước Chúa, như J. Dupont chú giải, có thể khác nhau tuỳ theo hoàn cảnh và ơn gọi của mỗi cá nhân; nhưng không làm tất cả những gì cần thiết để được vào Nước Chúa, không lợi dụng vận may hiếm có đưa đến, đó là tỏ ra một thái độ khờ dại không thể tha thứ được. Chẳng có gì là phải trả giá quá đắt đối với -sự thiện có được: lấy tất cả những gì ta có, đem tất cả con người của mình để đặt cọc cho sự thiện này, đó chính là việc mua bán tuyệt vời. Ðã cam kết trọn vẹn, lẽ nào lại keo kiệt, đắn đo? Hiểu như vậy, ta mới thấy hai dụ ngôn khó ăn ý với nhau để minh hoạ cho lời rao giảng ban đầu của Chúa Giêsu: "anh em hãy sám hối, vì Nước Trời đã đến gần" (Mt 4,17) (cf. Assemblées du Seigneur, số 48, trang 20).

2. Ðang khi đợi chờ ngày Chúa đến:

Tiếp theo là dụ ngôn chiết lưới, đúng hơn là với vét: một loài lưới để là, hoặc là được kéo đi nhờ hai thuyền, hoặc được một thuyền đánh cá bố trí, rồi dòng giây dài vào bờ mà kéo đi.

+ Rất gần gũi với dụ ngôn cỏ lùng và hạt giống tốt, dụ ngôn thứ bảy và cũng là dụ ngôn cuối cùng này đưa chúng ta gặp lại biển, bờ biển cùng những người ngồi trên bờ lúc Chúa bắt đầu giảng (Phúc âm Chúa nhật thứ XV). J. Dupont giải thích: "Ðức Giêsu loan báo việc Nước Chúa đến là điều sắp xảy ra. Thế nên mọi người biết rằng việc đến này phải bắt đầu bằng một cuộc tẩy rửa lớn lao... Bởi vậy, người ta chờ đợi xem Ðức Giêsu bắt đầu cuộc thanh tẩy: luận phạt kẻ có tội, qui tụ người công chính chung quanh Người. Nhưng sứ vụ của Ðức Giêsu lại chẳng tương xứng chút nào với sự mong chờ đợi này... Ðức Giêsu phải tự giải thích. Người thực hiện điều này bằng nhiều cách khác nhau: Sứ mệnh của Người liên can tới những người tội lỗi mà Chúa muốn cho họ được cứu độ (Mt 20,1-15; Lc 15); làm cho giờ xét xử đến trước thời gian, việc đó không thuộc quyền Người... Thiên Chúa xử sự không khác với các ngư phủ; họ gom tất cả vào lưới rồi mới tiến hành việc lựa chọn. Bởi vậy lòng nhân từ yêu thương Ðức Giêsu tỏ ra đối với những người tội lỗi không được là căn cớ gây nên xì-căng-đan: trong viễn ảnh ngày cánh chung khi mà Thiên Chúa ra tay can thiệp, thì sứ vụ của Ðức Giêsu được coi là giai đoạn một, giai đoạn mà lưới được đầy cá đủ loại. Thời điểm tách biệt kẻ xấu ra khỏi hàng ngũ người công chính hãy còn chưa tới. Nhưng sẽ tới, đó là điều chắc (O.C., trang 22-23).

+ Lời giải thích tiếp theo ngay dụ ngôn này rõ ràng có một sự chuyển hướng tầm nhìn. Trong dụ ngôn, Ðức Giêsu có ý cắt nghĩa tình trạng hiện hành là việc trà trộn người tốt với kẻ xấu. Còn cách giải thích của Phúc âm thứ nhất thì nhấn mạnh đến sự trừng phạt sẽ giáng xuống những kẻ có tội vào ngày tận thế, vào giờ sẽ thực hiện sự lựa chọn. J. Dupont kết luận: "Trong lời cảnh giác nghiên nhặt này, người ta nhận thấy mối bận tâm có tính huấn giáo của thánh sử. Ngài lo lắng vì thấy có biết bao tín hữu mà nơi họ lời Chúa vẫn trơ trơ không sinh kết qủa gì" (O.C. trang 24).



II.BÀI ÐỌC THÊM:

1. Chỉ có một thực tại đáng kể, kính là Thiên Chúa (J. Potin, trong "Jésus, l'histoire vraie" NXB Centurion, 1994, trang 134).

Bằng hai dụ ngôn nhỏ này. Ðức Giêsu gợi ý rằng nước Trời là giá trị tuyệt đối không thể đem ra so sánh được với cái gì khác. Mọi sự còn lại đều mờ nhạt khi ta nhận thức được Nước Trời là gì và cao quý thế nào. Nhân vật trong dụ ngôn như bị thôi miên, bị choáng ngợp vì sự khám phá của mình, từ nay trở đi chỉ có một cái đó là đáng kể đối với anh mà thôi. Và để cái đáng kể đó trở thành của mình, anh sẵn sàng rũ bỏ mọi sự. Ðức Giêsu chỉ cho thấy chỉ có một thực tại đáng kể chính là Thiên Chúa, Ðấng mà ta phải loại trừ và hy sinh tất cả mọi sự khác ở trần gian này để mà chiếm lấy".

2. "Ðức tin, trường học ưu tiên và hấp dẫn" (F. Deleclos, trong Preuds ét mang La Parole", Centurion - Duculot, 1992, trang 68-69).

Vì thế phải nhìn Kitô giáo trong sự thực sâu xa của nó. Không phải là tôn giáo chủ trương tìm kiếm đau khổ hay cam chịu đau khổ, không phải là tôn giáo sùng bái những hy sinh và từ bỏ chỉ vì phải từ bỏ, hy sinh. Ðức tin mới là trường học được ưa chuộng nhất và hấp dẫn, là bước dẫn đến kho báu đích thực làm cho cuộc sống và trọn vẹn cuộc sống được phong phú. Sứ điệp và giáo huấn của Ðức Kitô là Tin Mừng chân lý và hạnh phúc.

Ðối diện với kho báu, chúng ta bị dồn vào thế phải chọn lựa và chọn lựa ngay không tên hoãn: bán đi để có được, từ bỏ để chiếm hữu, khước từ để được tự do. Chắc chắn là phải khởi sự đi tìm và tìm cho được, bởi lẽ tài sản quý giá vô cùng này, viên ngọc vô giá kia được chôn giấu trong đất mà chúng ta vẫn dằm lên mỗi ngày. Kho báu và viên ngọc quý ấy hoà trộn vào cái làm nên sinh hoạt đời thường của ta. Bởi vậy ta có thể đến gần nó mà không biết, xéo lên chúng mà lại vô tình. Vì thế ta phải biết chú ý đến "những dấu chỉ của thời đại", những tiếng gọi bí ẩn vang dội lên mỗi ngày và trong mọi trường hợp. Bị loá mắt nếu không muốn nói là mù quáng bởi ánh sáng của những của cải phù vân giả dối, chúng ta có nguy cơ bỏ qua "chiếc đồng hồ vàng" và lạc đường khi đuổi theo những ảo ảnh. Bí tích Thánh Thể là phút dừng chân đặc biệt trong cuộc săn đuổi tìm kiếm kho báu. Hãy mượn lời ca của thánh vịnh để hát lên: "Niềm hy vọng của con, chính là lời Chúa! Nhờ để tâm lắng nghe Lời khôn ngoan, lòng ta "bừng cháy". Việc khám phá ra tài sản quý giá không xa. Nhưng liệu ta có đủ tin tưởng và lòng tin để bán đi những gì ta có hầu mua lấy viên ngọc quí hoặc thửa ruộng có kho báu ấy chăng?

admin
20-02-2011, 01:41 PM
CNTN18
CHÚA NHẬT XVIII THƯỜNG NIÊN

VỚI NĂM CÁI BÁNH VÀ HAI CON CÁ, ÐỨC GIÊSU ÐÃ CHO ÐÁM ÐÔNG ĂN UỐNG THOẢ THUÊ (Mt 14, 21)

I.VÀI ÐIỂM CHÚ GIẢI:

1.Một cử chỉ biểu tượng sứ mệnh của Ðức Giêsu.

Bốn thánh sử đều tường thuật câu truyện hoá bánh ra nhiều. Cả thảy là sáu lần mà hai lần trong Matthêu và Máccô trong những bối cảnh khác nhau. Ở đây chúng ta gặp một trường hợp duy nhất là cùng một biến cố mà có những ngần ấy trình thuật khác nhau; điều đó đủ nói lên tầm mức quan trọng và vẻ phong phú của biến cố đối với huấn giáo.

Hôm nay Giáo Hội đề nghị ta suy niệm trình thuật thứ nhất trong hai trình thuật của thánh Matthêu.

Tác giả đã đặt câu truyện vào một bối cảnh bi thảm. Nỗi thất bại đã trải qua trong chính quê hương của mình" ở Nagarét (13,53-55) Ðức Giêsu lại vừa mới hay tin Gioan Tẩy Giả bị Hêrôđê ra lệnh chém đầu(14,1-3). Khởi sự một chuyến đi lánh nạn sẽ dẫn Người từng chặng lần lượt đến miền Césarée Philipphe "Người lánh khỏi nơi đó, đi thuyền đến một chỗ hoang vắng, riêng biệt. Không như một bài báo tường thuật biến cố xảy ra, bài trình thuật rất mau chóng lộ ra - cho ai xem xé kỹ lưỡng - là một bài tích luỹ những vay mượn các mẫu của Cựu ước, đồng thời được đọc lại dưới ánh sáng kinh nghiệm bữa ăn Thánh Thể của các cộng đồng tín hữu đầu tiên.

+ Gặp lại "đám đông" đã đi bộ mà theo Chúa, còn Người thì dùng thuyền tìm nơi êm ả, thanh vắng, Ðức Giêsu "chạnh lòng thương" (đúng chữ là "quặn lòng") họ. Lúc bắt đầu bài giảng về truyền giáo Ðức Giêsu đã quặn lòng như vậy khi nhìn thấy đám đông không người chăn dắt (9,36). Người cũng sẽ quặn lòng như thế khi gặp người mù ở Giêricô (20,34). Trước mặt đám người đông đúc mà Người trông thấy khi ra khỏi thuyền", Ðức Giêsu tỏ mình ở đây là MỤC TỬ ÐÍCH THỰC mà các ngôn sứ đã loan báo (cf. Ez, 34), là Mục Tử Thiên Chúa sai đến để quy tụ dân Người và đưa họ đến những đồng cỏ xanh tươi.

F. Prud'homme chú giải: "Người chạnh lòng thương". Từ ngữ chỉ thứ xúc động của tình yêu sâu xa, như bản năng, bắt nguồn từ trong tim hay trong "ruột gan" của một người mẹ: đó không phải chỉ là tình cảm thuần tuý, nhưng là lòng trắc ẩn có sức tác động. Trong Cựu ước động từ ấy chỉ tình yêu của Ðức Giavê đôi với dân Người, một tình yêu thuộc bản tính của Thiên Chúa.... Truyền thống nguyên thuỷ đã trình bày việc Chúa hoá bánh ra nhiều như một cử điệu chỉ thoát ra từ lòng trắc ẩn của Ðức Giêsu. Trong bài tường thuật của mình, thánh Máccô dùng Ezechiel 34 để mô tả Ðức Giêsu mang những nét của vị Mục Tử đích thực mà dân trông đợi Thánh Matthêu lại dùng cũng điểm quy chiếu trên ở 9,36 để nói lên ý tưởng là sứ mệnh của các tông đồ có nguồn gốc trong tình yêu trắc ẩn của Ðức Giêsu. Ở đây cũng vậy, cử chỉ xót thương của Ðức Giêsu được gợi nên do tính cách của đám đông đang đi tìm kiếm mà chẳng biết, đang "đi theo" mà đích thực chẳng khám phá ra Ðấng Cứu Thế. Cái "đói" đích thực của đám đông này là thế đó. Hành động của Ðức Giêsu sẽ mang tính biểu tượng cho tất cả sứ mệnh của Người, và các tông đồ sẽ tham dự chặt chẽ vào sứ mệnh đó. Nhưng con người nghèo khổ đói khát này, tất cả đều cần được chữa lành và hết thảy không trừ một ai đều được mời gọi tham dự bàn tiệc" ("Assemblée, du Seigneur" số 49, trang 24).

Cũng giống như ba tác giả kia, thánh Matthêu nhấn mạnh đến sự bất cân xứng lớn lao giữa số thực phẩm mang tới: năm chiếc bánh và hai con cá", và đám đông ăn no nê: "Chừng năm ngàn người, không kể đàn bà và trẻ em". Như thế Ðức Giêsu được giới thiệu như vị NGÔN SỨ ÐƯỢC TRÔNG ÐỢI, vượt trên cả chính Élisée người đã nuôi ăn một trăm người bằng hai mươi cái bánh lúa mạch (2 Các Vua 4,42-44). Thời đại mới, thời đại ứng nghiệm những hình ảnh của Giao ước cũ, đã được khai trương trong con người Ðức Giêsu.

+ Cảnh được đặt vào "một chỗ hoang vắng". Ðối với thánh sử Matthêu, đó là một cách để chào mừng Ðức Giêsu là Môsê mới tụ họp dân Chúa tiến vào hoang mạc (Xh 10,4) rồi dẫn họ tới Ðất Hứa thực, nơi đó "mọi người sẽ được nuôi ăn và ăn no nê" (Nl 6,11; 11,15; 31,20).

+ Sau cùng khi nhấn mạnh đến số thực phẩm quá dồi dào được ban tặng miễn phí, thánh sứ hàm ý chỉ Ðức Giêsu là CHỦ BÀN ĂN quy tụ quanh Người những đám dân tản mác vào dự bàn tiệc của Ðấng Cứu thế (cf. Isaie 55, bài đọc một của Chúa nhật XVIII thường niên).

2. Một cử chỉ biểu tượng của Giáo Hội:

Nếu cảnh hoá bánh ra nhiều mạc khải bằng biểu tượng căn tính đích thực và sứ mệnh của Ðức Giêsu, thì cảnh ấy cũng vén lên bức màn về sứ mệnh của các môn đệ Người phải thực hiện cho tới ngày Người trở lại.

Vả lại khi đặt cảnh hoá bánh ra nhiều vào lúc "chiều đến", giống như ở Tiệc Ly (26,20), thánh Matthêu có vẻ như muốn đúc kết trình thuật của mình để cho nó có vẻ long trọng hơn, một phong cách phụng vụ hơn, và như thế tập trung hơn những cái nhìn hướng về những cử chỉ của Ðức Giêsu. Những cử chỉ được thánh sử tường thuật bằng cùng những lời lẽ như những cử chỉ Chúa đã làm trong bữa ăn sau hết với các môn đệ", "Cầm lấy bánh", "đọc lời chúc tụng" (hoặc "tạ ơn"), "bẻ ra và "trao cho" (Mt 26,26). Những cử chỉ này chính là những cử chỉ của truyền thống phụng vụ về nghi lễ "Bẻ bánh" diễn ra trong các buổi họp hội của các tín hữu. Ðối với thánh sử, đó là một cách để trình bày việc hoá bánh ra nhiều như là một báo hiệu tiệc Thánh Thể sau này. Còn về nhiệm vụ dành cho các môn đệ, thánh Matthêu cũng loan báo bằng biểu tượng thừa tác vụ mà sẽ là chính tác vụ của các ông trong việc cử hành Thánh Thể vốn được sinh hoạt trong các cộng đồng tín hữu: "Ðức Giêsu cầm lấy bánh... bẻ ra, trao cho các môn đệ. Và Môn đệ trao cho đám đông. J. Perron giải thích: "Ðức Giêsu đã muốn cần đến các tông đồ, và muốn cho các ông khai trương ngay hôm đó nhiệm vụ vốn phải là nhiệm vụ của chính các ông. Thánh Matthêu còn nhấn mạnh ở đây tầm quan trọng và phẩm cách của chức vụ này khi dùng cũng một động từ "trao cho", mà chủ từ trước tiên là Chúa Giêsu, rồi sau là các môn đệ; điều đó hàm ý rằng: có cùng một ơn ban, và ơn đó được trao qua tay các môn đệ. Phải chăng Ðức Giêsu đã muốn như thế, bởi trước đó, Người vừa mới nói với các ông: "Chính anh em hãy cho họ ăn"(Lire La Bible, số 52, trang 227).

Chuyện kể kết thúc ở việc thu gom những "mẩu bánh còn thừa": "mười hai giỏ đầy", cũng bằng con số các chi tộc Israel là dấu hiệu nói lên rằng công việc Chúa làm vượt trên số những người được hưởng ơn ngay tức thì, mà còn lan rộng tới cả một dân tộc. Là biểu tượng tiêu biểu việc Chúa ban ơn tràn trề, mười hai thúng đầy này cũng còn là dấu chỉ rằng thứ lương thực này còn mãi cho những ai được mời gọi tham dự cùng một bữa ăn trong cuộc lữ hành hôm nay của Giáo Hội: mỗi lần chúng ta cử hành Bí tích Thánh Thể, một cách nào đó, là chúng ta lấy ra ở trong "mười hai thúng đã được uỷ thác chiều hôm đó cho mười hai tông đồ. Như thế, việc hoá bánh ra nhiều, suy niệm về "bánh" của Ðức Giêsu, về chính con người Ðức Giêsu, và về sứ mệnh của Người, dưới ngòi bút của thánh sử Matthêu, trở thành sự chiêm ngắm Giáo Hội kẻ trao bánh, Giáo Hội kẻ trao ban Ðức Giêsu trong khi tiếp tục sứ mệnh của mình trong thế giới.



II. BÀI ÐỌC THÊM:

1."Một biến cố biểu tượng đầy ý nghĩa" (J.Potin, trong "Jésus, L'histoire vraie", Centurion, trang 276-277).

"Thực tế mà nói, biến cố ấy có một tầm mức mà những người chứng kiến không thể lĩnh hội hết mọi chiều kích. Sau này các tín hữu sẽ không chỉ xem đó là kỷ niệm việc hoá bánh và cá ra nhiều mà thôi. Tất cả mọi chiều kích của ơn cứu độ Ðức Giêsu Kitô mang đến cho toàn thể nhân loại, được diễn tả qua phép lạ này. Người là Môsê mới. Cũng như Môsê, Người đã dẫn Israel, từ bên kia biển, đi qua sa mạc, để tìm đất Hứa. Như Môsê, sau lễ mừng Vượt qua đầu tiên đã ban bố Lề Luật cho dân, thì ở đây, dân chúng cũng đã được nghe Người loan báo Luật mới của Nước Trời. Dân chúng đông đảo Thánh Matthêu nói rõ là bốn hoặc năm ngàn người, không kể đàn bà và con trẻ. Ðức Giêsu đã chia họ thành từng nhóm năm mươi hoặc một trăm cũng như Môsê xưa đã tổ chức nhóm nô lệ chạy trốn này thành một dân tộc chính cống. Xưa để nuôi dân Israel, Thiên Chúa cho họ Manna mỗi ngày. Cũng thế, để nuôi những kẻ theo Người, Ðức Giêsu hoá bánh ra nhiều. Nhưng bánh này không phải chỉ là đồ ăn nuôi xác mà thôi Ðức Giêsu còn loan báo bánh Thánh Thể mà Người sẽ phân phát cho các môn đệ của Người chiều hôm trước ngày chịu chết và là bánh các môn đệ đến phiên mình cũng sẽ phân phát cho các tín hữu trong các cộng đồng tụ họp lại nhân danh Người. Vì thế, hình ảnh chàng trẻ tuổi làm-phép-lạ sẽ mờ nhạt đi sau con người Ðấng Cứu Thế, Ðấng mà trong bữa ăn cuối cùng đã phán: "Này là Mình Thầy bị nộp vì các con. Không thể gợi nhớ lại cảnh tượng xảy ra ở ven biển hồ mà lại không nghĩ đến cảnh ở nhà Tiệc Ly. Buổi chiều hôm đó, nhóm Mười Hai là tất cả Giáo Hội non trẻ. Ðám đông hưởng phép lạ lúc ấy há không phải là hình ảnh loan báo Israel mới mà Thiên Chúa ban cho dư đầy của cải Nước Trời sao? Thì sách Xuất hành cũng đã tường thuật rồi đó: chiều hôm trước ngày Sabát, Thiên Chúa đã ban cho dân Người khẩu phần manna gấp đôi, để họ giữ lại cho ngày hôm sau, vì ngày hôm đó không có manna rơi xuống. Ðức Giêsu cũng vậy, Người đã không đành chỉ làm dịu cơn đói, mà còn ban cho họ lương thực dự trừ để tiếp tục con đường. Quả thực, sau khi dân chúng ăn no nê, các môn đệ thu lại các mẩu bánh thừa được mười hai thúng, theo thánh Matthêu (con số biểu tượng Giáo Hội). Chúa Giêsu quả thật làm no đầy những kẻ thuộc về Người.

Nhờ việc sử dụng bài tường thuật về việc ra khỏi Ai Cập, và hơn nữa, bài nói về việc Chúa lập bí tích Thánh Thể mà biến cố hoá bánh ra nhiều được kể lại trong các Phúc âm có được một tầm mức biểu tượng nói lên rất nhiều điều, biểu tượng ấy đã nuôi dưỡng việc rao giảng của Giáo Hội.

2."Giáo Hội không thể là Giáo Hội mà không thể chia sẻ tình yêu của Chúa mình cho quảng đại quần chúng". (Ðức Cha L. Daloz, trong "Le Règne des cieux s'est approehé" Desclée de Brouwer, trang 219-220).

Giáo Hội có sứ mệnh biểu lộ và làm cho người ta chia sẻ cho mọi người tình yêu thương và lòng nhân ái của Thiên Chúa. Ðiều đó không chỉ giới hạn trong nội bộ của chính Giáo Hội, mà còn vì Giáo Hội có liên quan với tất cả nhân loại. Giáo Hội chỉ có thể là một căn nhà mở ra tứ phía, đón gió muôn phương. Các tín hữu là những người sống liên đới với đồng bào của mình, với những người sống cùng thời với mình, nên các tín hữu ấy chia sẻ những vấn đề, những niềm vui và những nỗ lực của họ. Ðức Giêsu luôn luôn tiếp đón đám đông là một mẫu gương luôn luôn hiện thực đối với ta. Ở mọi thời đại, các tín hữu đã dấn thân không biết mệt mỏi để phục vụ con người; họ phục vụ cách nhưng không, không đòi hỏi được đền đáp, không bận tâm về vấn đề chủng tộc hay tôn giáo. Thời nay, nhờ những phương tiện thông tin đại chúng. các nhu cầu của con người được truyền đi mau lẹ và được toàn cầu biết đến, thì Giáo Hội nhất thiết phải quan tâm đến mọi nỗi thống khổ của con người, mọi tiếng kêu gọi có tính nhân đạo. Giáo Hội không thể sống khép kín, chỉ biết lo lắng cho những phần tử của mình. Trong mọi lãnh vực thăng tiến nhân loại, bênh vực quyền con người, Giáo Hội phải là người có mặt, Giáo Hội không thể là chính mình, nếu không chia sẻ tình yêu của Chúa mình cho quảng đại quần chúng mà Người luôn luôn quan tâm".

admin
20-02-2011, 01:42 PM
CNTN19
CHÚA NHẬT XIX THƯỜNG NIÊN

NGƯỜI KÉM TIN, SAO NGƯƠI LẠI NGHI NGỜ? (Mt 14,22-33)


I.VÀI ÐIỂM CHÚ GIẢI.

1.Nỗi sợ hãi của các môn đệ cô đơn giữa cơn bão táp

Ðoạn văn tường thuật việc Ðức Giêsu đi trên mặt nước, ta đọc thấy cả trong Mt, Mc (6,45-52 và Ga (6,16-21). Cả ba tác giả đều đặt hiến cố này sau phép lạ hoá bánh ra nhiều. Tường thuật của Matthêô gồm 4 phần nối kết chặt chẽ với nhau: 1. Tương quan với việc hoá bánh ra nhiều; 2. Việc Ðức Giêsu rút lui lên núi; 3. Việc Ðức Giêsu đi trên mặt nước; 4. Việc Phêrô bước đi trên mặt nước và tuyên xưng đức tin.

1.Tương quan với phép lạ hoá bánh J.Potin coi như tương quan thần học. Trong sa mạc Sinai, Thiên Chúa đã nuôi dân bằng Manna và đã dẫn dắt họ đi qua Biển Ðỏ. Cũng vậy, Ðức Giêsu nuôi dân chúng và bước đi trên biển để dẫn dắt các môn đệ tới bến bờ bên kia. (Jésus, llhistoire vrai Centurion 1999 trang 257). Thánh Matthêô thuật lại: "Ngay sau khi đã nuôi dân trong sau mạ Ðức Giêsu bắt buộc các môn đệ lên thuyền và cho qua bờ bên kia trước". Tại sao phải lên thuyền vội vã và bị bắt buộc như vậy. Cả hai tác giả Matthêô và Maccô đều không giải đáp câu hỏi này. Trái lại, Gioan cho ta biết: dân chúng quá cuồng nhiệt về phép lạ hoá bánh, nên muốn ép buộc Ngài làm vua (Ga 6,15). Phải chăng Ðức Giêsu muốn ngừa môn đệ khỏi ô nhiễm bởi cám dỗ về một thành công hão huyền.

2.Sau khi đã giải tán đám đông, Ðức Giêsu rút lui lên núi một mình để cầu nguyện. Núi là khung cảnh của bài giảng Bát Phúc, và cũng là nơi diễn ra biến cố Hiển Dung (17,1) và cuối cùng là nơi hẹn của Ðức Giêsu phục sinh với các môn đệ ở Galilê (28,16). Ðọc qua Thánh Kinh, ta thấy núi là một địa điểm thần học hơn là một địa điểm địa lý; núi là nơi được chọn để Thiên Chúa tỏ mình ra và để ta găﰠgỡ Thiên chúa (xem bài đọc I Chúa nhật này), là nơi ưu tiên dành cho việc cầu nguyện.

G. Gaide giải thích: Ðức Giêsu hướng về Cha của Người. Dự kiến của quần chúng là một thử thách đối với Ðức Giêsu, một cơn cám dỗ lôi kéo về thành công dễ giãi cơn cám dỗ số hai (Mt 4,5-7) - là muốn lôi kéo quần chúng theo mình bằng những hành động kỳ diệu, trong khi Chúa Cha muốn cho Người lôi kéo mọi người lên với Người bằng việc chịu treo lên thập giá (rồi lên ngự bên hữu Chúa Cha, Ga 12,32). Trong cơn cám dỗ này, Ðức Giêsu hướng về Ðấng đã sai phái mình, để hiếu rõ ý nghĩa sứ mạng của mình (Assemblee du Seigneur", trang 25-26).

"Chiều đến" Ðức Giêsu ở đó, múc lấy sức mạnh trong cuộc đàm thoại với Cha Người, sức mạnh để đẩy lui cơn cám dỗ, dụ dỗ Người chiều theo ý kiến cứu chuộc bằng cách thức loài người. Người "cô đơn" giống như vào một buổi tối hấp hối sau này trong khi các môn đệ của Chúa bất lực, thiếp nghỉ vì buồn sầu.

3. Ðức Giêsu bước đi trên mặt biển. Matthêô thuật tiếp: "Thuyền bị sóng dập vùi bởi vì gió ngược". Trong khi Ðức Giêsu ở cách xa họ để cầu nguyện, thì con thuyền của các môn đệ-tượng trưng cho Hội Thánh - phải đương đầu với đêm tối bão táp, vào canh tư đêm tối, Ðức Giêsu đến với họ, bước đi trên mặt biển". Cuộc đi bộ trên biển trong đêm tối không chỉ biểu dương một phép lạ suông, xét theo cách diễn tả của tác giả Tin Mừng, nhưng nó hàm ngụ nhiều ý nghĩa khác: Biển đối với người am hiểu Thánh Kinh, tượng trưng cho quyền lực của sự ác; biển rẽ ra hai bên dưới cây gậy của Môsê, mở một con đường cho Dân Chúa đi về tự do. Thánh vịnh 77 ca ngợi: "Trên biển cả là đường Chúa đi, khắp nẻo trùng dương là lối của Chúa". Ði trên biển, Ðức Giêsu tỏ mình ra là Ðấng chiến thắng sự dữ, Người đến để mở cho dân của Giao ước mới lối đi từ sợ hãi qua tin yêu. Chính "vào lúc đêm tàn" giống như buổi- bình minh của ngày phục sinh, Ðức Giêsu đến: cách nói điển hình chỉ cuộc hiển linh phục sinh (xem Ga 20). Cuộc tỏ mình này, thánh ký Tin Mừng trình bày như báo hiệu và như tiến trưng của cuộc toàn thắng phục sinh của Ðức Giêsu đối với biển cả chết chóc.

Vì, "xao xuyến" nên các môn đệ không nhận ra Người. Họ sợ hãi kêu lên: "Ma kìa". Lời của Ðức Giêsu nói với các môn đệ lúc đó còn hơn là một lời trấn an: Hãy vững tin. Ðừng sợ. Thầy đây mà". Ðây là một sự mạc khải: Ðức Giêsu có thể xuất hiện bất cứ lúc nào, bất cứ ở đâu Họ không phải sợ hãi. Thầy đây mà". J.Potin đã giải thích: Ðàng sau câu nói quả quyết này, các môn đệ được mời gọi cảm nghiệm câu định nghĩa mà Thiên Chúa đã phán với Môsê về chính mình, khi Người xuất hiện đột ngột với ông ở núi sinai: Ta là Ya-vê: Ðấng Tự hữu".

2.Tuyên xưng đức tin vào Ðức Giêsu "Con Thiên Chúa".

4. Và cuối cùng là việc Phêrô đi trên biển, việc này cũng mang ý tượng trưng, củng với việc tuyên xưng đức tin. "Lạy Chúa, nếu thực là Chúa thì xin truyền cho con đi đến với Ngài trên mặt nước". Nơi Maccô, tường thuật chấm dứt lúc Ðức Giêsu bước lên thuyền với các môn đệ và lúc đó sóng gió lắng dịu. Nơi Matthêô tường thuật còn nối dài với cảnh tượng báo trước thái độ mà Phêrô sẽ xử sự sau này: một buổi chiều kia, sau khi đã tuyên xưng lòng tin không hề lay thuyền của mình, Phêrô sẽ té nhào cách thảm hại. Ông còn cần phải gặp gỡ Ðấng phục sinh để bước qua thử thách ngày thứ sáu đau thương, mà tới được bến bờ lòng tin vào Chúa Phục sinh. Lúc này Phêrô liều mình bước đi trên mặt nước để đến gặp Ðức Giêsu, đó là một hình ảnh sống động về thân phận của người tín hữu. Bị giằng co bởi một bên là lòng tin, lòng tin đem ông đến với Chúa, và bên kia là sự nghi ngại, nghi ngại khiến ông chìm xuống nước. Ông kêu lên: Chúa ơi, cứu con với? Và Ðức Giêsu giơ tay ra để cứu ông. "Và khi đã lên thuyền, sóng gió lắng dịu". Lúc này Phêrô đã lên thuyền với Ðức Giêsu. Gió lắng dịu. Mọi người trên thuyền, con thuyền Hội Thánh, đều sấp mình để tung hô lời tuyên xưng đức tin đầu tiên mà ta thấy được trong sách Tin Mừng: "Thầy thật là Con Thiên Chúa".



II.BÀI ÐỌC THÊM:

1."Ði từ mạc khải đến nhận biết" (L.Montoubou, trong "Evangile de Matthieư', Salvator trang 198-199).

Chính vào lúc con thuyền của các tông đồ bị bóng đêm vây kín vào canh tư đêm tối (khoảng 4 giờ sáng), lúc thuyền bị những đợt sóng lớn nhồi đập dừ dội, bị cản trở bởi gió ngược, thì chính lúc đó Ðức Giêsu đến với họ, bước đi trên mặt biển. Ðó là kiểu nói quen thuộc của Kinh Thánh, Thiên Chúa bước đi trên biển cả. Ta đọc trong Thánh vịnh 77: Trên biển cả là đường Chúa đi, khắp nẻo trùng dương là lối của Người, không ai biết được đường lối Chúa". Các môn đệ ngạc nhiên, vì họ không nhận ra Ðức Giêsu là Ðấng vạch lối đi trên biển cả, họ nghĩ đó là một bóng ma. Họ cần đến câu nói của Chúa: Thầy đây mà! mới nhận ra Người. Nhận ra Chúa trong khi tuyên xưng Người là Ðấng nào. Thành ngữ "Ta đây" là một cách chuyển dịch câu: "Ta là Ta: Ya-vê". Mà câu "Ta đây" nói ở giữa biển cả là câu nói, theo Matthêô, công bố thần tính. Ðây là thuật ngữ mà Thiên Chúa đã tự mạc khải cho ông Mosê, rồi sau đó cho dân Israel, trong quá trình một cuộc phiêu lưu lịch sử, ở đó biển đóng một vai trò quan trọng, Thiên Chúa Ya-vê dùng để tỏ ra quyền lực vô biên của Người. Nhưng mạc khải này đây không đi sâu vào nội tâm của các môn đệ, như thái độ của Phêrô chứng tỏ. Ông còn cần cảm nghiệm bản thân và trực tiếp sự phũ phàng của cơn bão táp, cảm nghiệm sự nguy hiểm mà ông phải đương đầu, sau đó ông mới tìm được tận thâm sâu con người ông một thái độ sẵn sàng để tin. Ông kêu lên: "Chúa ơi, xin cứu con!". Kìa Ðức Giêsu được Phêrô kêu bằng danh hiệu "Ðức Chúa" (KUTRIOS, chuyển ngữ Hy Lạp của danh Chúa YAHVE), có nghĩa là Thiên Chúa ở gần, Thiên Chúa hiệu năng, Thiên Chúa cứu độ. Giờ đây bão táp đã chấm dứt, gió đã lắng dịu, các môn đệ mới hiểu rằng Ðức Giêsu là "Con Thiên Chúa".

Trước hết Người là Ðấng mà họ tìm đến, bởi vì khi Người xuất hiện giữa lúc họ gặp nguy nan, Người có dáng vẻ hấp dẫn, nên đã khiến cho Phêrô kêu lên: xin Ngài truyền cho tôi đến với Ngài. Lúc này, Người là Ðấng mà họ phục lạy và tuyên xưng: "Thầy thật là Con Thiên Chúa. Những người ở trong cùng một con thuyền đã có được sự đồng nhất trong đức tin, cùng có một thái độ trước Ðức Giêsu và tuyên xưng cùng một đức tin.

2. Chúng ta cũng giống như các môn đệ trong thuyền. (Mgr Daloz trong cuốn "Le Règne de Dieu s'est approché" Desclée de Brouwer, trang 222).

Các môn đệ hoảng sợ khi thấy Ðức Giêsu đi trên mặt biển tiến đến với họ, và họ tưởng Người là ma. Chính họ đã hoạt động với Người để phục vụ dân chúng, thế mà giờ đây họ không nhận ra Người. Chỉ Ðức Giêsu cho người khác thì dễ hơn là nhận ra Người trong giờ phút gian nan của cuộc sống của chính bản thân ta. Trong những giờ phút đó, đức tin của ta bị thử thách, đức tin với những bóng tối của nó. Lúc đó chính Chúa phải tự tìm cách tỏ cho ta biết Người. Khi ta tuyên xưng đức tin, khi ta chia sẻ hoặc giáo huấn đức tin, khi ta hoạt động rao giảng Tin Mừng, đức tin được ta coi như một của sỡ hữu yên tĩnh, một hiểu biết êm vui giúp sống và hoạt động. Nhưng những thời điểm quan trọng nhất, quyết liệt nhất của đức tin thì không êm ả chút nào: đó là những lúc ta gặp thử thách, như một tai hoạ lớn, một sự đe doạ liên quan đến mạng sống, đe doạ cho lẽ sống của ta, đe doạ những người thân nhất của ta, hoặc có thể là một hoàn cảnh hay một ý nghĩ thúc giục ta tự vấn sống để làm gì, hoặc khi công việc mà ta đang làm gặp thất bại, ta cảm thấy mình yếu đuối, bệnh tật, tội lỗi vv... Bấy giờ đức tin không còn là của sở hữu yên tĩnh nữa, ta không cảm thấy sự hiện diện của Thiên Chúa nữa. Ta giống như các môn đệ ở trên thuyền. Cuộc gặp gỡ với Ðức Giêsu có thể gây ngộ nhận, nó khác với điều mà ta tưởng tượng hoặc ta giảng giải cho người khác. Ta không nhận ra Người nữa, giống như các môn đệ nghĩ rằng mình thấy ma...Tuy nhiên, phải chăng những lúc này mới là giờ phút ta có được đức tin tinh tuyền hơn. Phải chăng đến gần Thiên Chúa thường làm ta mất phương hướng, chăng là chuyện thường tình sao? người là Ðấng khác, Hoàn Toàn Khác, làm sao ta có thể nhận biết Người, nếu Người không tỏ mình cho ta? Những giờ phút ta bị lạc hướng bởi sự hiện diện mầu nhiệm của Chúa, chính là những thời điểm nền tảng cho đức tin. Ðó là lúc Chúa nói với trái tim ta, là lúc ta nhớ đến một trong những lời của Chúa để ta đoán biết Người ở đó: hãy an tâm, Thầy đây mà. Ðừng sợ!

admin
20-02-2011, 01:44 PM
CNTN20
CHÚA NHẬT XX THƯỜNG NIÊN

ÐỨC TIN CỦA NGƯỜI ÐÀN BÀ CANAAN (Mt 15,21 -28)


I.VÀI ÐIỂM CHÚ GIẢI:

1.Một cử chỉ tượng trưng xảy ra ở ngoài biên giới.

Ðám đông dân chúng theo Chúa trong hoang địa Ðức Giêsu đã nhân 5 ổ bánh và 2 con cá lên nhiều đến dư dật (Chúa nhật thứ l8). Rồi Người bắt buộc các môn đệ lên thuyền và chèo sang bờ bên kia trước. Trong khi đó Người rút lui lên núi cầu nguyện một mình. Rồi sau đó Người đã đến nhập bọn với họ, bằng cách đi trên mặt biển, lúc thuyền của họ đang bị sóng gió dập vùi (Chúa nhận 19). Giờ đậy, các biệt phái và ký lục đến từ Giêrusalem chất vấn Người về chuyện các môn đệ Chúa không giữ luật thanh sạch, pbá tục lệ của tổ tiên. Ðức Giêsu đặt lại các lề thói của tổ tiên vào đúng chỗ, nghĩa là các tục lệ đó phải phục vụ các giới răn của Thiên Chúa. Ðức Giêsu quả quyết rằng sự thanh sạch của một người không lệ thuộc vào những thực hành, cho dù nó hợp pháp và theo truyền thống đến đâu chăng nữa, nhưng chỉ lệ thuộc vào hành động, phản ảnh nội tâm sâu xa nhất của người đó, phản ánh con tin của họ. Ðiều đó dẫn đến việc gặp gỡ người đàn bà Canaan ngoài giáo.

Sau cuộc tranh luận về chuyện "sạch" và "dơ", Ðức Giêsu lui về miền Tyrô và Sidon, ngày nay thuộc miền Nam Liban, đó là miền giáp ranh với đất của dân ngoại. Một phụ nữ từ miền đó tiến đến gặp Chúa. Một phụ nữ mà tác giả Matthêô đã cố ý gọi là người đàn bà Canaan, để chỉ rõ ý nghĩa cái hố sâu không thể vượt qua giữa họ và thế giới Do Thái. Ðịa danh cổ kính này dùng để chỉ miền đất mà dân Hipri đã đánh chiếm làm lãnh thổ của mình. Người phụ nữ ấy thuộc về "kẻ ngoại" những kẻ "dơ", những dân mà dân Do Thái coi khinh như những "con chó". Còn tệ hơn nữa, bà thuộc một dân tộc mà người Do thái chính thống tránh xa hơn các dân khác, mà từ thời cha ông họ đã thề nguyền giữ mối thù truyền kiếp."Lạy Chúa, xin thương xót tôi" bà ấy van xin, trong khi kêu Ðức Giêsu bằng danh hiệu "con vua Ðavit". Trước hết Ðức Giêsu làm thinh. Nhưng rồi bị các môn đệ nài ép đuổi người đàn bà vẫn đeo đẳng kêu van ấy Người nhắc đến sứ mạng của Người là chỉ được sai đến với những "chiên lạc của nhà Israel" mà thôi. J. Radmakers giải thích: "Câu đáp của Ðức Giêsu am hạp hoàn toàn với bài diễn từ khai mạc sứ mạng của Người (câu 10,6). Ơn cứu độ của Thiên Chúa phải đi theo con đường lịch sử và địa lý trước, sau đó mới tới toàn thể các dân nước và lan rộng ra tới tận cùng thế giới" ("Aufil de Evangile se lon St Matthieu", trang 211).

"Lạy Ngài, xin hãy đền cứu giúp" người phụ nữ một lần nữa sấp mình trước mặt Chúa và kêu cầu theo lời kinh phụng vụ. Ðức Giêsu bấy giờ nói trắng ra rằng: Người không thể lấy bánh của con cái - là của dân Do Thái, dân của Lời hứa - để ném cho con chó nhỏ. Tuy câu nói "chó nhỏ" thì đã nhẹ bớt ý khinh dể, nhưng câu nói vẫn còn mang vẻ sỗ sàng. Người phụ nữ không phật lòng trước câu nói đó, bà còn dùng chính lời đó để đáp lại Chúa một cách tinh tế. "Ðúng vậy thưa Ngài, nhưng những con chó nhỏ cũng được ăn những miếng bánh vụn rơi xuống từ bàn ăn của chủ. Cl. Tassin giải thích: Bà ấy nhìn nhận rằng dân Israel theo lịch sử thánh được ưu tiên, họ là "chủ", còn bà là dân ngoại, bà chỉ cầu được những "miếng bánh vụn" trong sự tuyển chọn mầu nhiệm của Thiên Chúa (L'evangile de Matthieu Centurion, trang 167).

Ðức tin mãnh liệt ấy đã gây nên sự ngỡ ngàng nơi Ðức Giêsu. "Bánh" Lời Chúa bị người Do Thái khước từ, vậy mà người đàn bà này, một người ngoại giáo, một người xa lạ, một người "dơ" đối với con mắt Do Thái, đã chấp nhận và chấp nhận với đức tin vững vàng. Chúa liền kết luận "Hỡi bà, đức tin của bà thật to lớn bà muốn sao thì được vậy. Ðức Giêsu đả phá mọi cấm cản, dẹp tan mọi loại trừ để ban cho bà điều bà ta xin, đó là con bà được lành.

2. Báo hiệu một Tin Mừng không biến giới

Tác giả Matthêô thuật lại câu truyện người đàn bà Canaan này có ý nhắm những người Kitô hữu gốc Do Thái. Những người này tuy bị người đồng bào ruồng rẫy, nhưng họ cũng vẫn cảm thấy lòng nghi kỵ mãnh liệt đối với những Kitô hữu gốc dân ngoại, những người đón nhận Tin Mừng và gia nhập Hội Thánh ngày càng đông.

Ðặt cuộc gặp gỡ này vào trong khung cảnh "bẻ bánh", tác giả như muốn làm sáng tỏ giáo lý Tin Mừng về sự cách biệt giữa người "sạch" và người "dơ" từ nay không còn nữa. Từ nay điều kiện duy nhất để được ngồi vào bàn tiệc Hội Thánh đề ra cho dân ngoại, và nhận "bánh của con cái" là lòng tin vào Ðức Giêsu.

Từ một thái độ ban đầu của Ðức Giêsu xem ra Ngài chỉ chịu chết để cứu chuộc nhưng người thuộc dân tộc tuyển chọn, Matthêô đà dẫn đến bài học về phái độ cởi mở trong truyền giáo. Cl.. Tassin viết: "Ðức Giêsu thật đã thi hành sứ vụ cứu thế đối với dân Israel cách trung thành, tuy nhiên Người đã mền lòng trước lòng tin mạnh mẽ của người phụ nữ ngoại đạo... Ngày nay, nếu những người ngoại giáo cũng chứng tỏ một đức tin mạnh mẽ như thế đối với Ðấng Cứu Thế, lẽ lào Hội Thánh lại cô thể đóng cửa không cho họ vào. Lẽ nào Hội Thánh lại có thể đặt giới hạn cho Ðức Kitô, ngăn cản người chiếu sáng cho dân ngoại." (sđd trang 167-168).

Cuộc tranh luận giữa nhưng Kitô hữu gốc Do Thái và Kitô hữu gốc dân ngoại đã tắt từ lâu. Nhưng trong Hội Thánh vẫn còn âm ỉ cơn cám dỗ đối nghịch giữa những người thuộc các chủng tộc khấc nhau: cám dỗ giả điếc làm ngơ trước những kêu gọi đến từ những nước xa xôi; cám dỗ cuộn tròn trong vỏ ốc của mình; cám dỗ trốn tránh mạo hiểm và khước từ mở rộng cửa để đón những cơ may. Do đọc lại đoạn Tin Mừng Matthêô hôm nay câu truyện người phụ nữ Canaan mời gọi Hội Thánh hãy tìm ra trong lịch sử của mình niềm hứng khởi và sức mạnh cần thiết để trung thành với sứ mạng toàn cầu và liên tục tự vượt thắng chính mình.



II. BÀI ÐỌC THÊM:

1."Ðức tin phá đổ mọi rào cản". (G.Bessière, trong cuốn "Diêu si proche" NXB Deschée de Brouwer, 1992, trang 136-137).

Người ta không biết tên bà, người ta gọi bà là "người phụ nữ Canaan". Tuy nhiên bà giữ một vai trò độc đáo Ðức Giêsu và các môn đệ vừa vượt ranh giới, bởi vì tình hình căng thẳng ở Galilê: Dĩ đào vi thượng mà. Họ đi về hướng Bắc, đến Tyr và Sidon, ngày nay là miền Nam Liban. Ðã từ nhiều thập kỷ, người Do Thái giừ một khoảng cách đối với dân chúng miền này, tôn giáo của người Canaan bị người dân trung thành với Thiên Chúa Israel khinh miệt. Một phụ nữ của xứ này đến kêu xin Ðức Giêsu chữa con gái bà. Chúa làm thinh. Khi các môn đệ nài xin Chúa ban phép lạ để thoát khỏi người đàn bà quấy rầy, thì Chúa trả lời rằng Người chỉ được sai đến kiếm những chiên lạc nhà Israel. Rồi khi người đàn bà sấp mình dưới chân Chúa, thì Người còn tỏ ra cứng cỏi hơn: "Không nên lấy bánh của con cái là ném cho chó con. Và đây chính là lúc sự việc diễn ra. Một người phụ nữ chộp lấy cách gọi khinh bỉ đó và đối đáp lại bằng câu ví: "Thâﴠđúng vậy, nhưng chó con được ăn những miếng bánh vụn từ bàn ăn của chủ rơi xuống. Bà ấy không phản đối, không chống lại. Bà chỉ kêu mời Ðức Giêsu đi tới cùng. Ðức Giêsu ngạc nhiên: "lòng tin của bà quá lớn.... Và đứa con được lành bệnh. Ðức Giêsu vừa bước qua một ranh giới, ranh giới nội tâm. Chúa mở rộng tâm hồn cách quyết liệt. Câu đối đáp của người phụ nữ ngoại này có chiều kích nhân đạo và tôn giáo vô hạn. Ðối với các Kitô hữu đến từ các dân tộc và tôn giáo khác - người ta thường kêu là "dân ngoại" - đoạn Tin Mừng thuật lại việc Ðức Giêsu đến với' người ngoại quốc, được coi là quý hoá. Bởi vì họ có thể đồng hoá với viên đại đội trưởng, với người phụ nữ Canaan. Khi có cuộc tranh luận xem có cần phải theo đạo Do Thái dể theo chân Ðức Giêsu không, thì người ta nhắc lại kỷ niệm này. Tại sao Ðức Giêsu khen ngợi người phụ nữ Canaan? Chính là vì đức tin kiên trì của bà. Nhìn bà,

chúng ta cùng khám phá ra rằng chúng ta cần phải học hỏi người khác, đôi khi cần chúng ta phải bỏ đi cái nhìn hẹp hòi của ta, và nhận ra rằng Thiên Chúa Cha đến từ nơi khác.

2. "Ðức tin của một người phụ nữ ngoại (F.Declos, trong cuốn "Prends et mange la Parole" NXB Centurion - duculot, 1992, trang 73).

Người phụ nữ Canaan tuy biết rằng những người Do Thái mà bà đang khẩn cầu này nhìn bà cách kinh tởm vẫn cứ nài nỉ dai dẳng. Các môn đệ, những người rất tôn trọng truyền thống, gợi ý với Thầy mình: Xin Thầy làm phép lạ cho bà ấy đi, để chúng ta được yên. Ðây là cuộc gặp gỡ do Chúa quan phòng xếp đặt. Vì lòng kiên trì của người phụ nữ sẽ thắng thái độ thinh lặng "theo luật" của Ðức Giêsu. Nào Người sẽ giữ thái độ khép kín trong bốn bức tường định kiến của dân tộc Người chăng? Nhưng vị tiên tri Nadarét đã phản ứng một cách bất ngờ và gây sốc biết bao. Bằng chỉ một lời, Ðức Giêsu đã quét sạch mọi cấm kỵ, mọi luật lệ, mọi quy ước do những con người nhỏ nhen tạo ra, và bắt đầu một cuộc đổi đời mà sẽ trở thành cuộc hiệp thông giữa mọi người.

Ðứng trước nhóm biệt phái tức tối và nhóm môn đệ bàng hoàng, Ðức Giêsu đã trân trọng lời của một phụ nữ, trân trọng đức tin của một người ngoại đạo, thái độ chứng tỏ cho mọi người thấy tâm hồn cao thượng và lòng tin tương sâu xa của bà. Bà nhận được phép lạ như lòng mong ước, đồng thời nhận được tình bạn của vị tôn sư, điều mà bà không dám nghĩ tới.

Giờ đây, người "dơ" trở nên mẫu mực cho người "sạch". Người mà dáng lẽ phải bị ruồng bỏ giờ đây được đón tiếp, người đáng lẽ bị nguyền rủa giờ đây được chúc mừng. Người phụ nữ Canaan bị các môn đệ khinh bỉ, giờ đây được sư phụ của họ tôn vinh. Người khách lạ trở nên người thân thuộc, và "con chó nhỏ" được ngồi vào bàn ăn của Chúa. Sát bên Người. Chúng ta cũng có những phụ nữ Canaan, những con chó nhỏ. Tinh thần Ghetto (pháo đài) về giai cấp, địa vị luôn rình rập ta. Tính tự cao tự đại khiến ta nghi kỵ ra mặt, khinh bỉ người khác không giấu giếm, hoặc kiêu căng nghĩ mình là trên hết. Nhưng nhiều khi những "con chó nhỏ" giúp ta nhảy qua rào cản của bè phái để mở ra đón nhận sự phong phú từ người khác, và mở ra đón nhận tình huynh đệ toàn cầu. Ðâu là những "người khách lạ" khi chúng ta tham dự tiệc Thánh Thể?

admin
20-02-2011, 01:45 PM
CNTN21
CHÚA NHẬT XXI THƯỜNG NIÊN

PHÊRÔ TUYÊN XƯNG ÐỨC TIN
(Mt 16,13-20)



I.VÀI ÐIỂM CHÚ GIẢI
1.Phêrô tuyên xưng đức tin

Phải luôn lẩn tránh những địch thù quấy nhiễu Ngài, Ðức Giêsu dẫn dắt môn đệ của Người đi vào một chỗ những cuộc tĩnh tâm liên tiếp. Nó đặt cột mốc vừa về địa lý, vừa về tinh thần - trên chặng đường tìm hiểu căn tính thực của Ngài. Vừa trải qua cuộc tranh luận với Biệt phái, những kẻ xin Người làm một dấu lạ, này đây Ðức Giêsu và các môn đệ sang miền đất dân ngoại, phía nguồn sông Giođan. Césarée Philipphe là thành phố mới được xây dựng do kinh phí của hoàng tử Philipphe, con của vua Hêrôđê Cả. Có ý tôn vinh hoàng đế Rôma, nên đã đặt tên là Césarée. C. Tassin chú giải: Dân ở đây là người Siri gốc Hy Lạp, họ thờ cúng thần Pan và thần Nymphe, tạo nên một khung cảnh gần giống với môi trường mà Matthêô đang sống (L'evange le de Matthieu centurion. trang 173). Chính tại đây, trước khi khởi hành đi Giêrusalem trong cuộc hành trình cuối cùng mà Ðức Giêsu đặt câu hỏi quan trọng mà chúng ta đọc trong Tin Mừng hôm nay.

Con Người, Ðức Giêsu hỏi, người ta bảo Con Người là ai?

+ Chúa đà dùng hình ảnh "Con Người", một hình ảnh mầu nhiệm (xem Danien 7,13) mà Matthêô nhắc lại tới 30 lần trong chính Tin Mừng của ông, để nói về chính mình và sứ mạng của Người: một con người thực thụ có tương quan với Thiên Chúa Ðấng Cứu độ.

+ Ðể đáp lại câu hỏi, các môn đệ đã nêu ra một loạt các ý kiến về Người. Mọi ý kiến đều coi người là một nhân vật đóng vai trò quan trọng, như là Gioan Tẩy Giả đã sống lại từ cõi kẻ chết, như ngôn sứ Êlia mà dân chúng trông đợi trở lại để loan báo Chúa Cứu thế đến, như ngôn sứ Giêrêmia, một vị ngôn sứ phản kháng vì bị phản kháng, như một ngôn sứ nào đó.

Còn anh em, Ðức Giêsu hỏi thẳng ý kiến các ông, anh em bảo Thầy là ai? -Simon Phêrô trả lời, tuyên xưng đức tin "Thầy là Ðấng Messia, Con Thiên Chúa hằng sống". Lúc này ông không những là phát ngôn viên của nhóm môn đệ, nhưng còn là gương mẫu cho việc tuyên xưng đức tin Kitô hữu. Lời đáp của Phêrô, theo C. Tassin, nhắc lại một mẩu tuyên tín phụng vụ của Hội Thánh thời Matthêô (sđd). Trong đó người Kitô hữu tuyên xưng đức tin cách toàn vẹn.. "Thầy là Ðấng Messia ' (tiếng Hy Lạp Christos) nghĩa là Ðấng được xức dầu mà các ngôn sứ đã tiên báo; Ðấng đáp ứng lòng mong đợi bao thế kỷ của Israel, Ðấng thực hiện mọi lời hứa của Thiên Chúa nói với dân Người. "Con" nghĩa là Ðấng liên kết với Thiên Chúa bằng một dây liên hệ có một không hai. "Của Thiên Chúa hằng sống" nghĩa là, theo truyền thống Kinh Thánh, là Thiên Chúa ban sự sống, còn theo quan niệm Kitô giáo, là Thiên Chúa, Ðấng làm cho Ðức Giêsu từ trong cõi kẻ chết sống lại. - "Con có phúc", Ðức Giêsu đã thốt lên câu đó, cũng là dạng thức Kinh Thánh của "Bát phúc" để chào mừng "con của Yona", là người vừa nhìn nhận Người như "con của Thiên Chúa hằng sống". Bởi vì Simon Phêrô không có thể công bố lời tuyên xưng này phát xuất từ thịt và máu, nghĩa là phát xuất từ bản tính nhân loại yếu giòn, nhưng chỉ có thể phát xuất từ cuộc mạc khải thần thiêng. "Bản văn không đề xuất cho Phêrô công lao đặc biệt nào, cũng không đề cao ông như một anh hùng của đức tin. Tác giả chỉ nhấn mạnh tính chính xác của đức tin nơi Phêrô, bởi vì nó đến từ một mạc khải thần thiêng" (C. Tassin).

2. Sứ mạng "đá"nền tảng của Phêrô

Những lời long trọng mà Ðức Giêsu phán chỉ về Simon Phêrô chỉ có trong Tin Mừng Matthêô. "Anh là đá, trên đá này.... + Trong Kinh Thánh sự thay tên đổi họ thường chỉ rằng sứ mạng Thiên Chúa trao làm cho người nhận thành một người mới. Cũng như Abram, khi được đổi thành Abraham thì thấy mình được giao sứ mạng trở nên "tảng đá duy nhất", từ đó phát xuất cả một dân tộc (Is 51,1-2).

+ Trong ngôn ngừ Aramê "Kê pha" "Ðá" không phải là một tên riêng, nhưng chỉ là một danh từ. Ðặt cho ông cái tên mới này, nó sẽ thay thế hẳn tên cũ, Ðức Giêsu tỏ cho thấy Người giao cho ông một sứ mạng: ông sẽ là đá nền, đá tảng, đá sẽ bảo đảm cho toà nhà mà người sẽ xây dựng được vững chắc. " Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy..".

+ Trong Kinh Thánh, từ "Hội Thánh" (nguyên ngữ mang ý nghĩa mời dự hội) chỉ cộng đoàn tôn giáo của Israel, cộng đoàn mà Thiên Chúa đã quy tụ giữa loài người để trở thành dân của Giao ước, dân dấu chỉ lòng thương xót và tình thương của Thiên Chúa.

+ Từ ngữ này được dùng ở đây, lần đầu tiên trong Tin Mừng Matthêô, ở trên đất ngoại giáo, để chỉ cộng đồng những người mà Ðức Giêsu quy tụ, giữa các dân tộc tràn qua mọi biên giới để làm nên một dân của Giao ước mới, dân - dấu chỉ ơn cứu độ cho mọi người. Nếu cộng đồng này đứng trên tảng đá Phêrô thì quyền lực của sự chết cũng không thể phá đổ được. "Thầy ban cho con chìa khoá nước Trời.

+ Không nên nghĩ đến những chiếc chìa khoá hiện đại thời chúng ta, mà phải nghĩ đến những chìa khoá của những thành phố có những lâu đài vua chúa. Loại chìa khoá giống như những thanh sắt khổng lồ mà người ta mang trên vai. Trao chìa khoá cho ai là trao cho người đó nhiệm vụ thủ tướng.

+ Trao cho Phêrô chìa khoá Nước Trời, Ðức Giêsu làm cho Phêrô thành thủ tướng. Người trao cho ông quyền lực chính Người nắm giữ, như sách Khải Huyền diễn tả: "Ðấng chân Thật, Ðấng thánh, Ðấng giữ chìa khoá của Ðavit. Người mở ra thì không ai đóng lại được. Người đóng đại thì không ai mở ra được (đoạn văn có liên quan với 22 trong bài đọc I). Chức vụ trao cho ông ở dây là ở dưới đất; ông không phải người canh giữ cửa thiên đàng (C.Tassin): Phêrô là người bảo lãnh, là thông dịch viên của sứ điệp cứu rỗi của Ðức Giêsu, Con Thiên Chúa hằng sống. "Sự gì con cởi mở dưới đất, trên trời cũng cởi mở". Cầm buộc, cởi mở là những thuật ngữ vùng Palestine chỉ ý nghĩa đại khái: toàn bộ quyền lực, như thiết lập luật pháp, như loại trừ một ai ra khỏi cộng đoàn hoặc cho phép một ai gia nhập cộng đoàn.

+ Trong một 18,18 quyền cầm buộc cởi mở được hứa ban cho các môn đệ (ở số nhiều) như vậy không chỉ dành riêng cho Phêrô, nhưng Phêrô chia xẻ quyền đó với những người phụ trách khác. Dặn dò giữ im lặng Tin Mừng Chúa nhật hôm nay kết thúc bằng một lời khuyến dụ ngược đời: "đừng nói với ai Người là Ðấng Messia".. Tại sao có lời khuyến cáo này sau cuộc tưng xung đức tin cảm động như vậy? Chắc hẳn danh xưng "Messia" còn mang ý nghĩa mơ hồ, còn mang nhiều trông đợi có tính dân tộc quá khích, đi ngược lại sứ mạng mà Người nhận được từ Chúa Cha - phản ứng của Phêrô mà ta sẽ đọc trong Chúa nhật tới minh chứng điều đó. Chỉ những ai mở tâm hồn đón nhận mạc khải thập giá mới hiểu chính xác danh xưng ấy. Thật vậy, chỉ dưới ánh sáng của cuộc Khổ nạn - Phục sinh danh xưng Messia mới tìm thấy ý nghĩa đích thực; và mọi ngộ nhận sẽ vĩnh viễn bị dẹp tan.



II. BÀI ÐỌC THÊM
1."Thầy là Ðấng Messia, Con Thiên Chúa hằng sống" (Mgr. Daloz, trong cuốn "Le règne de Diêu est approché" Desclée de Brouwer 1993, trang 237-238).

"Ðức Giêsu không chỉ là một tôn sư khởi xướng một trào lưu tâm linh; Người không phải một ngôn sứ được sai đến để cảnh tỉnh hoặc kêu gọi người ta trung thành với giao ước. Sự nhận biết Ðức Giêsu vượt quá điều đó. Với những kẻ Chúa gọi và đã đi theo Người, Chúa đặt câu hỏi: Còn anh em, anh em nghĩ Thầy là ai? Người cũng hỏi chúng ta câu đó. Người muốn chúng ta tiến tới, phát huy trong việc khám phá ra bản ngã đích thực của người. Ta không thể tự thoả mãn khoác cho Người những mong ước của ta hoặc phóng lên Người những ước vọng của ta. Cần phải đi xa hơn những ý kiến của những con người, cần lột bỏ những ấn tượng hời hợt, cần chấp nhận rằng không thể nắm bắt và không thể tóm gọn Người vào những ý tưởng và những ước muốn của ta. Như ta đã thấy đó, có một hiểu biết về Ðức Giêsu theo cách loài người "Người ta bảo Thầy là ai?. Từ thời Thượng cổ, trải qua giai đoạn lịch sử đã có rất nhiều câu giải đáp. Những giải đáp ấy vừa không vô nghĩa vừa không đáng coi thường. Nhưng sự hiểu biết đích thực không chỉ của loài người đâu - Nó là do Thiên Chúa ban cho: "không ai có thể biết Chúa Con chỉ trừ Chúa Cha" (11,27). Bởi vậy Ðức Giêsu nói cho Phêrô biết do đâu ông có sức lực nhận biết và tuyên xưng đức tin của ông: "Simon con Jona, phúc cho con, vì không phải xác thịt hay máu huyết "mạc khải cho con điều đó, nhưng là chính Cha Thầy, Ðấng ngự trên trời". Một con người, con người đặt chính miệng Simon con ông Jona, nhận quyền do Thiên Chúa quyền kêu đích danh xác thật của Ðức Giêsu - Lời tuyên xưng của ông đã trở thành tiêu chuẩn cho các môn đệ Chúa mọi thời đại. Nhưng lời tuyên xưng nó đã không tránh cho ông chối Chúa 3 lần. Ông vẫn còn là con người phàm tục còn mang tính người với những ưu và khuyết điểm của con người. Tuy nhiên ông được chọn để đáp câu hỏi của Ðức Giêsu và để làm điều đó ông nhận được mạc khải do Chúa Cha ban. Từ đó ông trở nên tiêu chuẩn về sự chính xác cho mọi lời tuyên xưng đức tin và cho sự nhận biết chính xác về Thiên Chúa. Nhờ ông mà người tín hữu có thể vượt xa ngoài tầm vóc những lời người ta dư luận. Ðức tin của ông nâng đỡ đức tin của chúng ta".

2. "Con là Ðá" (J.Potin. trong cuốn "Jésus, lỊhistoire vraie", Centurion, 1994, trang 322).

Hội Thánh của Ðức Giêsu, ở đây Người kêu là "Hội Thánh của Người", được xây dựng trên nền tảng là đức tin vào thiên tính của Người. Hội Thánh đó chỉ một mảng dân Israel chấp nhận đi vào giao ước mới. Simon, do việc tuyên xưng, đã trở nên viên đá tảng, trên đó Ðức Giêsu xây "Hội Thánh của Người" bởi vì Hội Thánh đó là cộng đoàn những kẻ tin rằng Ðức Giêsu là Thiên Chúa. Công nhận được tên mới: Kêpha, Ðá - Quyền lực của tử thần (dịch theo chữ: quyền lực hoả ngục), nghĩa là mọi thế lực nhằm chống lại sự thiết lập vương quốc, không có sức phá đổ Hội Thánh đó. Mà ngược lại, Ðức Giêsu sẽ ban cho Hội Thánh của Người quyền và thế mà Ngài thi hành ở trong tay Người. Thiên Chúa công nhận Hội Thánh của Con của Người chính thức là dụng cụ đặc trưng để điều hành vương quốc của Người giữa loài người. Những phán quyết và nghị định của Hội Thánh này được Thiên Chúa công nhận là do Chúa ban hành. Phải chăng Ðức Giêsu phán những lời này trong khi đi đường lên Giêrusalem? Có nhiều nhà chú giải đặt những lời này sau biến cố Phục sinh, trong một cuộc hiện ra. Thật vậy, trước khi Chúa chết, từ "Hội Thánh chỉ thấy xuất hiện có một lần duy nhất ở Mt 18,17 nói về đời sống của cộng đồng Kitô hữu.

Lời tuyên bố với Phêrô xem ra diễn tả cách Hội Thánh sơ khai hiểu về chính mình: Hội Thánh tuyên xưng rằng Ðức Giêsu là Ðấng Kitô, là Con Thiên Chúa. Simon Phêrô đã là phát ngôn viên của lời tuyên xưng. Lời tuyên bố cũng có liên hệ với việc dồi tên Simon ra Kêpha: Ðá. Trong tiếng Aramê, Ðá không phải là một tên riêng. Tên mới này chỉ tính cách vững bền của đá tảng mà người ta có thể xây an tâm trên đó... Phêrô là đá tảng mà Ðức Giêsu sẽ xây Hội Thánh của Người. Do đó Người sẽ trao ông địa vị ưu tiên trên nhóm Mười Hai. Ông được Hội Thánh nhìn nhận dưới cái tên mới và coi như quên hẳn cái tên cũ kia".

admin
20-02-2011, 01:45 PM
CNTN22
CHÚA NHẬT XXII THƯỜNG NIÊN

CON ÐƯỜNG DẪN TỚI SỰ SỐNG
(Mt 16, 21-28)



I.VÀI ÐIỂM CHÚ GIẢI:

1.Con đường của Con Người.

Ðáp lại câu hỏi Ðức Giêsu đặt ra cho các môn đệ "trong miền Xêrarê Philip" trước khi lên đường đi lên Giêrusalem: "Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai?". Phêrô đã trả lời: "Thầy là Ðức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống". Tiếp liền theo Ðức Giêsu đã đặt cho ông một tên mới, tượng trưng cho sứ vụ mà Chúa trao cho: "Con là Ðá trên đá này Thầy sẽ Xây Hội Thánh của Thầy".

Ðến đây Matthêô lấy lại công thức mà ông đã giới thiệu mục vụ ở Galilê, đã thuật tiếp: "Từ thời gian này.... " đó là một cách nói báo trước một bước ngoặt quyết định trong hành trình của Ðức Giêsu Kitô.

2.Thông báo lần đầu về khổ nạn

Những kẻ theo Chúa cho đến lúc đó, và đã tuyên xưng qua miệng lưỡi của Phêrô căn tính đích thực của người, còn cần phải khám phá xem Người phải thực thi sứ vụ của Người bằng con đường bất ngờ và khó đoán nào. Ðức Giêsu từ nay bắt đầu vào việc: "Bắt đầu từ lúc này, Matthêô viết, Ðức Giêsu Kitô bắt đầu tỏ cho các môn đệ biết: Người phải đi Giêrusalem, phải chịu nhiều đau khổ do các kỳ mục, các thượng tế và kinh sư gây ra, rồi bị giết chết, và ngày thứ ba sẽ sống lại."

Thông báo lần đầu trong ba lần về cuộc khổ nạn phân chia cuộc hành tinh lên Giêrusalem (xem 17,22-23 và 20,17-19). Mỗi lần đó đều gặp phải sự không hiểu từ phía các môn đệ. Mỗi lần đó đều quả quyết rằng không có con đường nào khác cho các môn đệ ngoài con đường mà sư phụ đã đi. Lời can ngăn hăng hái mạnh mẽ của Phêrô. Phêrô không thể giữ thinh lặng mà không nói lên lời phiền trách trước cái viễn tượng đen tối, mà ông và các bạn ông đã không thể tin được, nên ông "kéo Ðức Giêsu ra khỏi đám đông, và bắt đầu trách Người: "Xin Thiên Chúa thương đừng để Thầy gặp phải chuyện ấy! Dù ông đã tuyên xưng sứ vụ cứu thế của Thầy mình, nhưng quan niệm về một Ðấng Kitô phải chịu nhục mạ, chịu khổ hình và chịu chết là điều ông không thể chịu nổi. Ông lấy danh Ðức Kitô vinh thắng để chối bỏ Ðấng Cứu thế đau khổ. Lời khiển trách nghiêm ngặt của Ðức Giêsu vào lúc đương đầu với cuộc khổ nạn và cái chết, Ðức Giêsu trải qua cơn thử thách cô đơn. Không những đám đông dân chúng ha bỏ ngươi, mà cả đến các bạn hữu cũng không hiểu người. Kẻ mà Người vừa chọn làm "đá tảng, đá nền để xây Hội Thánh của Người trên đó, giờ đây bỗng biến thành viên đá cản đường, hòng làm Người té nhào trên đường. Ông gợi ý cho Người một con đường "cứu thế" theo ý loài người, chứ không theo con đường của Thiên Chúa. Việc Phêrô không muốn chấp nhận, theo J.Potid giải thích, làm sống lại cơn thử thách vĩ đại mà Chúa đã phải trải qua vào lúc đầu thi hành sứ vụ. Con đường của người không phải là đường vinh quang mà những người Do Thái mơ ước cho Ðấng Cứu thế của họ, con đường trải đầy những việc phi thường, những chiến thắng, nhưng cuộc biểu dương vinh hiển. Ðức Giêsu đã phải loại bỏ những điều đó, bởi vì Thiên Chúa không thể thiết lập vương quốc bằng vũ lực. Và giờ đây Phêrô làm sống lại trước mắt Người sự hiện diện của Satan, mà người đã thắng (trong "Jesus, l'histore vraic"Centturion1994, trang 334-335)

"Satan, lùi lại đàng sau Thầy". Ðức Giêsu đã đáp lại ông cách hết sức gay gắt. Nghĩa là: anh hãy giữ địa vị môn đệ, đàng sau Thầy. Lời quở trách này, Cl. Tasin quảng giải, vẽ nên nết tương phản với lời chúc phúc mà Chúa đã nói với Phêrô ở câu 16,7. Ông đã biết tuyên xưng đức tin, nhưng ông lại không biết từ bỏ ý mình mà chấp nhận ý Thiên Chúa. Sự phản kháng của ông không những phát xuất từ tính ích kỷ của "ý tưởng loài người", mà còn phục vụ Satan. Cả một thế giới thù nghịch với sứ mạng của Ðức Kitô ("L'evangile de Matthieu" (Centurion 1991, trang 181).

Ðường của các môn đệ

Và để cất đi mọi ngộ nhận, Ðức Giêsu quả quyết rằng đối với môn đệ không có con đường nào khác con đường mà sư phụ đã đi trước: đó là đường thập giá. "Nếu ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo. Ba câu tiếp theo đều xây dựng trên từ "mạng sống" sẽ soi sáng tư tưởng lựa chọn này: "Ai muốn cứu mạng sống mình thì sẽ mất, còn ai liều mất mạng sống mình vì Thầy, thì sẽ tìm được mạng sống ấy". Ai tự đặt mình làm trung tâm lẽ sống, người ấy đi vào cõi diệt vong; nhưng ai xem bề ngoài thất bại để uổng mất mạng sống mình vì Ðức Kitô; thực tế tiến tới thành công. "Nếu người ta được cả thế giới mà phải thiệt mất mạng sống, thì nào có lợi gì?". Mạng sống con người không đồng hoá với của cải họ có, cho dầu họ chiếm được cả thế giới. "Hoặc người ta sẽ lấy gì mà đổi mạng sống mình?: nào ai trả được giá thục hồi cho Thiên Chúa, thánh vịnh 49,8 đã nói. Chỉ cần môn đệ - đầy tớ giống như sư phụ - đầy tớ là đủ rồi (10,24-25), Jean Rachemakers kết luận, từ bỏ chính mình, mang thập giá lên vai và theo Chúa, là những thành phần làm nên cuộc sống người môn đệ. Ðiều mà Thầy đòi hỏi nơi Phêrô thì Người cũng đòi hỏi nơi mọi môn đệ là: chấp nhận ý định cứu thế của Thiên Chúa theo cách thế được tỏ ra nơi đời sống Ðức Kitô, bởi đó, chấp nhận rằng Chúa Cha khác hẳn với điều mà "xác thịt và máu huyết" có thể nghĩ ra, hình dung được (trong L'evangile con St. Matthieu trang 221).

II. BÀI ÐỌC THÊM
1.Theo Ðức Giêsu (Mgr. Daloz trong cuốn "Le Règlle des cieux s'est approehé" desclée de Brouwer,trang 242-243). Nếu ta chăm chú nghe lời Ðức Giêsu, ta sẽ thấy rằng Người không nói chống đối sự sống. Người không đòi hỏi các môn đệ phải bỏ sự sống. Trái lại Người kêu mời họ hãy sống phong phú hơn. Người chỉ cho thấy con đường sống thôi thúc người ta sống tốt tối đa, tức là sống để trao ban chính bản thân. Ai khép kín trong vỏ ốc của mình, ai chỉ lo cho bản thân mình, sẽ héo tàn, bởi vì con người không thể thành tựu nếu chỉ đóng kín lo cho mình. Nếu bạn khép kín, bạn sẽ chết trong khi nghĩ rằng mình giữ được sự sống. Thu tích của cải để phòng thân sẽ không ích gì, nếu bạn đánh mất chính mình. Con người ta không được cứu rỗi nhờ những của cải mình có, nhờ của "sở hữu" nhưng nhờ đức tính của đời sống. Tính "người được lớn lên khi ta quên mình và trao ban thân mình. "Nếu người ta được cả thế giới mà thiệt mất mạng sống mình, thì nào có lợi gì hoặc người ta sẽ lấy gì mà đổi mạng sống mình". Ðức Giêsu nhắc cho ta vẻ cao trọng của con người, trái tim con người được tạo nên để mở ra, để yêu thương, và bạn không thể yêu thương nếu bạn không cho đi và trao ban chính mình. "Yêu là cho tất cả là trao ban chính bản thân mình", thánh Têrêxa Hài Ðồng Giêsu đã nói. Nếu bạn muốn tự cho mình là trung tâm vũ trụ, nếu bạn muốn qui chiếu mọi sự về bạn, bạn sẽ đánh mất bản thân: mất linh hồn, yếu tố nhờ đó mà sự sống thực sự là của con người. Thật là một nghịch lý cho con người, anh ta chỉ thật sự thành tựu cuộc sống trong khi anh khước từ nó để cho đi. Chúng ta có thể nhận thấy ở ngay quanh ta, mặc đầu ta không dễ chấp nhận điều đó áp dụng cho chính mình; những người thành tựu cuộc sống đẹp và hữu ích, là những người không tìm dễ dãi, là những người cho đi thời gian, sức lực lòng tận tụy để phục vụ tha nhân... cho đến hy sinh sự sống của mình. Ðức Giêsu đã đề cập và soi sáng vẻ cao đẹp cho con người mới có này. Không những Người đã sống như thế, người còn mạc khải ý nghĩa đầy đủ. Người đã đi con đường mà Người muốn cho những ai theo Người phải đi: Ai muốn theo tôi... Nào chúng ta lại không muốn bước theo Người sao? Còn đường thập giá, người đã làm cho nó trở thành cửa ngõ xuống đường dẫn vào cuộc sống sung mãn bất ngờ: đó là sự phục sinh. Những câu tiếp theo liên quan đến phần thưởng Người nói về kết cục của cuộc sống con người. Không phải một lời đe doạ đâu, mà là một lời hứa. "Vì Con Người sẽ ngự đến trong vinh quang của Cha Người, cùng với các thiên thần của Người, và bấy giờ Người sẽ thưởng phạt ai nấy xứng việc họ làm. Không có gì phải sợ khi bạn liều mạng sống vì Ðức Giêsu, vì đó là một bảo đảm tốt nhất cho sự thành tựu cuối cùng: "Ai liều mạng sống mình vì Thầy, sẽ tìm lại được nó. Ðức Giêsu mời ta cân nhắc tầm vóc đời đời của những lựa chọn của ta, và tương lai vô tận của tình thương đã trao ban.

2.Biểu trưng của thập giá (Ð.Ponnau, Giám đốc trường Louvre, trong tạp chí "Le Monde de la Bibbe" số 97, trang 5)

Biểu tượng của Thập giá đi trước và vượt quá biên giới của thế giới Kitô giáo. Tuy vậy nó là dấu chỉ quen dùng nhất có tính đặc trưng và tính phổ quát của Kitô giáo. Từ thời trước Ðức Kitô và từ thời Ðức Kitô, thập giá là một biểu tượng có tính toàn cầu phổ biến nhất và được nói đến nhiều nhất, ở ngoài những miền đã tin theo Phúc âm. Nó liên kết hết mọi người "phương Ðông" ở mặt đất, ở trên trời và trong không gian. Lâu đời trước thời Ðức Kitô, thập giá đã là dụng cụ khổ hình ghê sợ và ô nhục, chỉ dành cho những cặn bã của xã hội, những tên nô lệ phản động. Nhưng Ðức Kitô đã làm nó trở nên biểu tượng của Ðức Kitô và của các môn đệ của Ðức Kitô. người Do Thái đòi phép lạ, người Hy Lạp tìm sự khôn ngoan, còn chúng tôi, chúng tôi rao giảng một Ðức Kitô chịu đóng đinh, là vấp phạm đối với người Do Thái, là điên dại đối với mân ngoại, còn đối với những kẻ được gọi, cả Do Thái và Hy Lạp, người là Ðấng Kitô, quyền năng và khôn ngoan của Thiên Chúa. Thánh Phaolô đã nói như thế và chính Ðức Giêsu cùng đã nói: "Ai không vác lấy thập giá và không theo Ta, thì không xứng đứng với Ta. Ðấng là Ngôi Lời hằng hữu, nói theo các môn đệ tự trao ban ngay từ khởi thuỷ, như Ðấng bị đóng đinh và Ðấng kêu gọi người ta chết đi đóng đinh vào thập giá. Người trao ban bản thân với tư cách đó trong lời Người và trong lời của những kẻ mà Người linh hứng. Không phải trong ảnh tượng của Người. Phải chờ đến thế kỷ IV thì ảnh tượng thập giá của Chúa mới được trưng bày cho người ta chiêm ngường. Thánh nữ Helena đã phát minh ra ở Giêrusalem và rồi sau đó xuất hiện vinh quang ở thành thánh. Từ đó thập giá được làm bằng kim loại quý và được cẩn đá quí. Rồi nhiều thế kỷ sau đó mới thấy xuất hiện tượng thánh giá có mang Ðấng chịu khổ hình. Nghịch lý thay một biểu tượng có tính toàn cầu lại là một biểu tượng ô nhục. Nghịch lý thay sự vinh quang được tung hô bằng lời nói, lại không thể chịu được bằng mắt nhìn. Người ta đã có thể gây vấp phạm là trương lên tên gọi của thập giá và của Ðức Giêsu bị đóng đinh. Nhưng phải đợi rất lâu sau người ta mới có thể trưng bày thập giá cho mắt thấy, và đợi một thời gian nữa, mới thấy trưng bày Ðấng mà họ đã đóng đinh vào thập giá. Dấu ấn của thập giá đã trở nên dấu ấn tối ưu của Kitô hữu trên thế giới. Trên đó người Kitô hữu chiêm ngắm vị Thiên Chúa đã chọn vâng lời cho đến chết, và chết trên thập giá. Ðức Kitô và Kitô hữu đã không sáng chế ra biểu tượng có dạng thập giá được tôn vinh từ Ðông sang Tây và khổ hình độc ác nhất. Họ chỉ tạo cho nó thành địa điểm để Thiên Chúa siêu vời thấm nhập vào mầu nhiệm cô đơn của con người. Ðức Giêsu bị đóng đinh trên đó đã mời gọi một cách độc đáo những kẻ từ nay có thể nhìn ngắm Người - Người từ đỉnh núi thánh gọi những kẻ đang ở đáy vực cuộc sống - nhìn ngắm Người, hoặc như gương mẫu tuyệt hảo của tận hiến và yêu thương, hoặc như dấu chỉ của tận hiến và yêu thương.

admin
20-02-2011, 01:46 PM
CNTN23
CHÚA NHẬT XXIII THƯỜNG NIÊN

CÓ TRÁCH NHIỆM VỚI NHAU
(Mt 18,15-20)



I.VÀI ÐIỂM CHÚ GIẢI:

1.Giáo Hội, một cộng đoàn huynh đệ.

Sau lần thứ nhất loan báo cuộc khổ nạn, Ðức Giêsu cùng các môn đệ rời miền "Cêsarée Phiìipphê" đi lên Giêrusalem. Sau cuộc biến hình trên núi, giờ đây Ngài tới Capharnaum, tại đó, theo Matthêô Ngài đã loan báo diễn từ thứ tư trong Phúc âm Matthêu "diễn từ về đời sống Giáo Hội". Những hướng dẫn, giúp cho cộng đoàn mà Ngài sáng lập phản ảnh được hình ảnh của "Cha trên trời".

J. Potin báo trước: "Trong chương 13 này, Matthêu đã tập họp lại những lời nói khác nhau của Ðức Giêsu về đề tài cộng đoàn. Rất nhiều lời đã được Ðức Giêsu nói với các môn đệ trong tình thân mật, nhất là trong những tháng ngày Ngài bỏ Galilê để chuẩn bị lên Giêrusalem. Ðức Giêsu chuẩn bị cho các môn đệ sống trong một bầu khí yêu thương huynh đệ, khi phải xa lìa Ngài sau cuộc khổ nạn. Bất kể tương lai có ra sao, tinh thần quan tâm tới những kẻ bé nhỏ, yếu ớt tinh thần tha thứ lẫn cho nhau này phải tràn ngập cộng đoàn. Bốn mươi năm sau, lúc Matthêô viết Phúc âm, những lời mời gọi của Ðức Giêsu vẫn còn hiện thực. Cộng đoàn mà Ngài nhắn nhủ gồm các Kitô hữu gốc Do Thái lẫn gốc dân ngoại, thuộc nhiều tầng lớp xã hội khác nhau. Ðời sống cộng đoàn giữa anh chị em đôi lúc có khó khăn. Tới những lời Ðức Giêsu nói với nhóm các môn đệ vẫn còn là thực tế. Chính vì thế, tác giả Phúc âm đã gom chúng vào trong một diễn từ, quảng diễn một chút cho phù hợp với Giáo Hội "của ông", nghĩa là cộng đoàn của ông. Trước tiên, Ðức Giêsu miêu tả cộng đoàn các môn đệ của Ngài như một cộng đoàn đặc biệt quan tâm tới những kẻ "bé nhỏ" tin vào Chúa, những Kitô hữu mà đức tin còn rất mỏng manh (18,1-10) và lo lắng cho những "con chiên lạc, người Kitô hữu tránh xa cộng đoàn và liều mình hư mất (18,12-14). Ngài trình bày một cộng đoàn sống động thực hành sự nâng đỡ và tha thứ lẫn cho nhau. Ðó là thái độ phải có đối với một người "anh em" đã "phạm tội".. Ðó là thái độ phải có khi anh chị em bất hoà, xung khắc.

2..Thực hành sự tương trợ và tha thứ lẫn cho nhau.

Sửa đổi anh em: một việc làm có tính chất Tin Mừng. Chỉ có sự âu yếm của Người Mục Tử tốt lành mới làm ta hiểu được hết chiều sâu của đoạn Phúc âm nói về người "anh em" đã "phạm tội" này. Bản văn không nói về tính chất của tội, nhưng lời Ðức Giêsu cho thấy đó là một xúc phạm đến Thiên Chúa và xúc phạm đến một người anh em, đó cũng là một việc liên quan đến Giáo Hội, cộng đoàn Kitô hữu. Qua những luật lệ và các thực hành ít nhiều phịu ảnh hưởng của Do Thái giáo, việc xoá lỗi anh em vừa giúp duy trì sự hài hoà trong Giáo Hội vốn bị đe doạ vì lỗi của một thành viên trong cộng đoàn, vừa giúp che chở tội nhân khỏi những biện pháp khắc nghiệt, vội vã. Vì thế tác giả Phúc âm nhấn mạnh trên yếu tố xem ra nền tảng nhất đối với Ngài: đòi hỏi của Phúc âm về việc nâng đỡ, lòng thương xót và sự tha thứ lẫn cho nhau. Chính tinh thần ấy đã làm phát sinh ra những cuộc vận động tiệm tiến nhiều đợt nhằm chinh phục người anh em lầm lạc mà nếp sống làm tổn tưởng sự duy nhất và chứng tá của toàn thể cộng đoàn Kitô hữu. Mục đích không phải để hoà giải với một anh em như trong Luca 17,3, nhưng là để "chinh phục"người anh em này, để đưa người ấy về với Chúa, đồng thời cũng về với cộng đoàn mà anh đã xa lìa vì tội lỗi. Sửa lỗi anh em: một cuộc vận động tiệm tiến. Bước 1, nói chuyện riêng, kín đáo giữa một người anh em với một người anh em mà anh có quyền mong đợi sự giúp đỡ ngược lại trong trường hợp chính anh ta lầm lỗi. Ðó không phải là hạ nhục người tội lỗi, nhưng là giúp anh nhận ra lầm lỗi. Bước 2: nếu bước 1 không đem lại kết quả mong đợi sẽ đến bước 2: gặp gỡ có 2 hoặc 3 chứng nhân, theo đề nghị của sách Ðệ Nhị luật 19, 1 như đã từng dược thực hành, dưới sự chứng giám của Phaolô, trong cộng đoàn tín hữu tại Côrintô (2cor 13,l). Sự hiện diện của các chứng nhân báo đảm cho tính khách quan, đồng thời đưa vào đó 1 yếu tố cộng đoàn, dù luôn luôn kín đáo. Bước 3: nếu vẫn không có kết quả, ta còn một phương thế cuối cùng: đưa ra trước Giáo Hội: "trình bày sự việc trước cộng đoàn Giáo Hội". Nếu tội nhân từ chối nghe Giáo Hội, thì, theo như bài Phúc âm, "ta hãy coi họ như người ngoại và người thu thuế". Một công thức dứt khoát không phải là một khinh miệt hoặc kết án: Ðức Giêsu đã trở nên "bạn bè với những người thu thuế kia mà. Công thức ấy chỉ tuyên bố rằng người tội lỗi tự loại trừ mình ra khỏi cộng đoàn và Giáo Hội chỉ chứng nhận sự tách lìa này và sẵn sàng đón nhận lại người mà một ngày nào đó, hy vọng thế, sẽ được ơn thánh thay đổi, giải phóng sửa lỗi anh em: một cuộc vận động từ đầu đến cuối đều nhờ lời cầu nguyện của cộng đoàn. Lời cầu nguyện theo dõi và yểm trợ tiến trình này từ đầu đến cuối. Lời cầu nguyện vẫn tiếp tục cả khi tội nhân đã lìa xa Giáo Hội, van nài cho người anh em lầm lạc được ơn hối cải. Ðó là một lời cầu nguyện có sức nặng của sự hiện diện của Ðấng đã hứa: "Khi có 2, 3 người tụ họp lại nhân danh Ta, Ta ở giữa họ '? C. Tassin bình luận: "Vì chính danh thánh Ðức Giêsu đã qui tụ các tín hữu lại, nếu họ thực sự tụ họp lại chỉ để hành động nhân danh Ngài trong những vấn đề khó, họ chắc chắn họ sẽ có sự hiện diện chủ động và hiệu quả của Ngài. Vậy một coi sự thực hành việc "sửa lỗi anh em" là một bổn phận của các cộng đoàn tín hữu Ngài nhấn mạnh đến bầu khí cầu nguyện và ý chí hành động "nhân danh" Ðức Kitô. Chính Ðức Kitô sẽ nối kết mọi người đã tham dư cuộc vận động này".



II. BÀI ÐỌC THÊM:

1.Việc sửa lỗi anh em (Mgr. L. Daloz, Le Règne des cieux s est approché, DDB)

Ðoạn Phúc âm này đưa ra một tiến trình hoà giải một trường hợp tế nhị trong đời sống các cộng đoàn: "Phải lành gì khi anh em ngươi phạm tội". Câu trả lời không dễ Ðức Giêsu nói gì? Hãy đi tìm nó và trách móc! Ðó không phải là cách hành động. Ta thường cho rằng đó là việc cá nhân của người đó "vấn đề của nó" và rằng nó có tự do! Can thiệp, tìm gặp và trách móc, chẳng phải là tôi đã pha mình vào những việc không có liên hệ đến tôi, xen vào đời tư cá nhân; không kín đáo, không khoan nhượng, và liều mình gây gổ với anh ta sao? Ngay trong mối tương quan giữa tín hữu với nhau, ta vẫn thường hành xử như người đời quen làm trong xã hội. Ta không muốn pha mình vào công việc của người khác, ta né tránh. Dĩ nhiên trước khi can thiệp ta phải kiểm chứng xem có nên trách móc không, làm cách nào cho có kết quả. Hơn nữa xã hội ta đang sống khác với xã hội thời Ðức Giêsu. Ta ít cảm thấy liên đới hơn. Tự do cá nhân là một cuộc chinh phục tương đối mới, và tuyên ngôn Nhân quyền là một hiến chương phần lớn dựa trên những tự do cá nhân này. Ta không muốn phá huỷ nó vì người khác và ta cũng không muốn người khác can thiệp vào đời sống, tư cách của ta. Ta khó chịu khi có ai đến cho ta một bài học luân lý! Còn nữa, thường thường điều mà ta không muốn nói trước mặt người khác, ta lại ít tế nhị khi nói sau lưng họ...

Ðức Giêsu đã nêu lên thái độ phải giữ trong cộng đoàn môn đệ của Ngài. Ta không thể rập khuôn cách làm của ta theo những gì diên ra chung quanh. Cảm thấy có liên hệ đến những hành vi của anh em, đó là chuyện bình thường. Chính vì thế mà Ðức Giêsu nói: Nếu anh em ngươi phạm tội... Anh em ngươi, đâu phải là người xa lạ, ngươi không thể nói rằng tội lỗi của nó không liên hệ gì tới ngươi. Vì sự sống của anh em ngươi, sự sống vĩnh cửu của anh ta, liên đới ngươi lắm chứ. Khi yêu ai, ta đâu dửng dưng để mặc người ấy lún sâu vào sự dữ. Ta sẽ tìm dịp cảnh tỉnh, giúp đỡ không làm anh ta phật lòng, không la mắng anh. Lỗi khuyên dạy của Ðức Giêsu giả thiết ta phải có mối liên lạc huynh đệ. Phải chăng đó là vấn đề cần đặt ra cho đời sống cộng đoàn chúng ta? Có tình thân rồi, ta có thể nói với nhau nhiều chuyện, giúp đỡ nhau nhiều việc. Trách móc không có nghĩa là nói nặng lời, hung hăng, dữ tợn. Trái lại lời khuyên của Ðức Giêsu kêu gọi ta hành động với sự tế nhị: "Nếu anh em ngươi phạm tội, hãy đi gặp và trách móc nó giữa hai người với nhau. Sự kín đáo của cuộc vận động tránh đưa tội lỗi ra công khai. Ðiều này hoàn toàn phù hợp với một mối liên lạc cá nhân, huynh đệ. Và Ðức Giêsu nhấn mạnh đến mục đích của cuộc vận động: đó là cứu lấy anh em, chinh phục anh em, để nó đừng hư mất: nếu nó nghe ngươi, ngươi đã lợi được một người anh em. Ðó không phải là lời nói gắt gỏng, của thói phê bình chỉ trích, hay đối nghịch. Ðó không phải là từ ngữ hạ nhục, là sự dò xét chế tài của kẻ bề trên. Ai tiến hành cuộc vận động ấy cũng phải sẵn sàng đón nhận sự trách móc ngược lại.

2.Mô hình của mọi cuộc hoà giải trong Giáo Hội. (B. Marliangeas, danh vos assemblées, DDB).

Trong chương 18 mà ta quen gọi là "diễn từ về cộng đoàn các môn đệ", là sự miêu tả một tiến trình hoà giải trong Giáo Hội tạo nên, một cách nào đó, mô hình căn bản cho mọi hoà giải trong Giáo Hội. Ðó là một tiến trình bao gồm cả gặp gỡ của cá nhân lẫn vận động của cộng đoàn. "Nếu anh em ngươi phạm tội, hãy đến nói với nó... " (Mt 18,15). Một cuộc hoà giải thực sự luôn luôn đòi có một tiếp xúc cá nhân bằng cách nào đó. Giáo Hội luôn ý thức về tầm quan trọng của tiếp xúc này. Chính vì thế, ở mọi thời, dù phép cáo giải có mặc hình thức nào đi nữa, vẫn luôn luôn dành chỗ cho một đối thoại cá nhân. Một đối thoại như thế thường rất khó khăn - Chính Ðức Giêsu đã có kinh nghiệm đau đớn về điều đó - nhưng không phải vì thế bỏ cuộc: "nếu nó không nghe ngươi, hãy nhờ 1 hoặc 2 ngươi khác đi với ngươi... nếu nó từ chối nghe họ, hãy đưa ra cộng đoàn Giáo Hội..." (Mt 18,16-18). Hãy ghi nhận sự tiệm tiến của những phương thế được sử dụng để thoát ra khỏi tình trạng gãy dỗ: đó là phối hợp những cố gắng để nối lại đối thoại, nói lên sự thực và tìm lại được sự hiệp thông. Chính nhờ cộng đoàn mà quyết định được thi hành, trước mặt cộng đoàn mà sự hoà giải phải được ký kết. Trong trường hợp sự hoà giải thất bại, Phúc âm nói tiếp: nếu nó từ chối nghe Giáo hội, hãy coi nó như người ngoại hoặc như người thu thuế.... Rất nhiều nhà bình luận đã chú giải lời nói như kết án, loại trừ này: nhưng ta có thể hiểu một cách hoàn toàn khác hẳn, dưới ánh sáng của Phúc âm: vào thời Ðức Giêsu, từ ngữ "ngoại đạo" chỉ những người, tuy theo một đạo (thời đó ai mà không có đạo?) nhưng vẫn chưa quay trở về với Thiên Chúa Hằng Sống và Chân thật còn về "những người thu thuế vào thời chiếm đóng của đế quốc La-mã, họ khép mình trong một hệ thống bất công. Tuy nhiên, trong Phúc âm ta thấy Ðức Giêsu, dù người Do Thái đạo đức lấy làm vấp phạm, vẫn ăn uống với những người thu thuế, dưới ánh sáng của thái độ của Ðức Giêsu, đối xử ai như "kẻ ngoại đạo và người thu thuế là một lời mời gọi hãy có thái độ đồng hành với những người, mà vì lý do nào đó, vẫn chưa có đức tin hoặc đóng kín trong sự bất công và không thể tự mình thoát ra. Họ chưa đón nhận được Tin Mừng của một Thiên Chúa "không muốn kẻ tội lỗi phải chết, nhưng muốn nó ăn năn ám hối và được sông (Ez 18, 23). Chính trong bối cảnh cầu nguyện cộng đoàn mà sự hoà giải có thể được thực hiện. Ðiểm cốt yếu trong cuộc vận động không gì khác hơn là ơn tha thứ của Thiên Chúa. Ở đây ta gặp lại lời tuyên bố long trọng: "Thật, Ta bảo thật các người, điều gì các con cầm buộc dưới đất, trên trời cũng cầm buộc và điều gì các còn cởi mở dưới đất, trên trời cũng cởi mở (Mt 18,18). Lời nói đó được sử dụng để nói lên uy quyền của Phêrô là đầu Giáo Hội (Mt 15,19). Nhưng Ðức Giêsu nói thêm: "... Ta lại bảo các ngươi: nếu hai người dưới đất hiệp ý với nhau" và xin sự gì, Cha Ta trên trời sẽ ban cho họ (Mt 18,19-20). Ðây không đơn thuần là một giải quyết giữa anh em loài người, nhưng là cùng nhau đến trước tình yêu Thiên Chúa, chỉ mình Ngài có quyền Trong một bối cảnh như thế, người thi hành tác vụ hoà giải phải cư xử không phải như chủ nhân của sự tha thứ nhưng phải như tôi tớ của sự tha thứ của Thiên Chúa mà chính đương sự là kẻ đầu tiên được thụ hưởng. Trong lịch sử, mô hình Phúc âm này có lẽ đã được ứng dụng nhiều cách khác nhau mà chúng ta đã phần nào được thừa kế.

admin
20-02-2011, 01:47 PM
CNTN24
CHÚA NHẬT XXIV THƯỜNG NIÊN

HÃY THỰC LÒNG THA THỨ
(Mt 18,21-35)



I.VÀI ÐIỂM CHÚ GIẢI:

Ðức Giêsu nói về người anh em phạm tội vừa xong, thì bài diễn từ lại cộm lên với câu hỏi của Phêrô. Ông tiến đến hỏi Thầy: "Thưa Thầy, khi anh em tôi lỗi phạm đến tôi, tôi phải tha thứ bao nhiêu lần. Ðến 7 lần chăng". Nêu lên con số 7, vị tông đồ tin chắc rằng thế đã là nhiều lắm rồi, vì các thầy rabbi thời đó cho rằng người ta chỉ có thể tha thứ quá lắm là 3 lần thôi. Quá tam ba bận mà. Câu trả lời của Ðức Giêsu nhắc lại, nhưng đảo ngược, bài thơ tàn bạo về lamek mà Kinh Thánh đã trích dẫn (St 4,24): "Cain bị báo thù bẩy lần, nhưng Lanlek bị 77 lần". Ðối nghịch với vòng thù oán lẩn quẩn, Ngài để ra sự dễ lây nhiễm của sự tha thứ không giới hạn: "Ta không nói 7 lần, nhưng đến 70 lần 7".

Cũng giống như phần đầu bài diễn từ về những "kẻ bé mọn" đã kết thúc bằng dụ ngôn con chiên lạc (18,12-14) câu trả lời cho câu hỏi của Phêrô dẫn đến dụ ngôn người mắc nợ tàn nhẫn: Một dụ ngôn của riêng một diễn ra theo 3 màn và kết thúc bằng một phấn kết luận. - Màn 1: Chúng ta hiện diện. trong phòng có ngai vàng của cung điện nhà vua. Ở đâu đó bên Ðông phương. Một ông vua tính sổ với các viên chức cao cấp. Một người mắc nợ "10.000 nén vàng" nghĩa là 60 triệu franes (120 tỷ đồng). Một món nợ đến chóng mặt mà chỉ "cấp bộ trưởng đã biển thủ tài nguyên của 1 tỉnh lớn trong nhiều năm mới có thể có" (J. ' Potin). Án phạt của nhà vua xem ra quá khắc nghiệt. Nhưng trong thế giới cổ đại, không những người ta tịch thu tài sản của người mắc nợ mà không trả nổi, mà còn có thể bán anh ta cùng cả gia đình làm nô lệ, để trả nợ. Ông vua trong dụ ngôn đã áp dụng đạo luật đó: "Vua truyền bán anh ta, vợ con và cả tài sản để trả nợ. Bỗng người đầy tớ mắc nợ khổng lồ ấy quỳ cuồng chân vua mà van xin: "Xin hãy cho tôi khất ít lâu, tôi sẽ xin hoàn trả hết". Thực là những lời không tưởng, một cam kết vô phương tuân thủ, vì món nợ quá khổng lồ? Vậy mà điều không ngờ đã diễn ra: vượt quá điều hắn dám nài xin, vua tha cho hắn toàn bộ số nợ và thả hắn về. Tại sao có sự thay đổi bất ngờ và đột ngột này. Chính ông chủ, phút trước đã truyền bán hắn cùng với cả vợ con làm nô lệ, giờ đây đã "động lòng thương". L. Deiss nhận xét: "Ðộng từ "động lòng thương" là một trong những từ đẹp nhất của Phúc âm nhất lãm. Theo nghĩa đen, có nghĩa là xúc động trong bụng, hay như ngày nay ta thường nói: xúc động trong lòng. Áp dụng vào Ðức Giêsu, động từ diễn tả sự xúc động rất nhân loại khi Ngài đứng trước những vết lở loét của người bệnh phong (Mc l,41), trước đám đông mệt mỏi bơ vơ như đàn chiên không người chăn giữ, hoặc trước những dòng nước mắt của bà goá Naim (Lc 7,13). Lòng thương xót của nhà vua khiến ta đoán được lòng thương xót của Thiên Chúa đối với nhân loại khổ đau, là tuyệt đối quan trọng để hiểu được dụ ngôn: nó giúp ta khám phá ra nguồn mạch phát xuất ra sự tha thứ của nhà vua và sự tha thứ của người anh em đối với người anh em."

Màn 2: bày giờ chúng ta ra khỏi chính điện, nơi vua ngự. Trong lúc màn 1 nâng cao sự ngưỡng mộ của các nhân chứng trước sự cao thượng của nhà vua, thì màn hai sẽ khơi dậy sự phẫn nộ.

Thật vậy, vừa ra khỏi đền thờ, kẻ được tha nợ gặp "một người bạn mắc nợ y 100 đồng bạc" tức là 1/600.000 món nợ của y đối với nhà vừa, chỉ khoảng 200.000 đồng. Một món vặt vãnh. Thế mà y "phóng tới bóp cổ người bạn" và lãnh đạm trước lời bạn van xin, đó chính là lời van xin hồi nãy y đã dùng nói với nhà vua: "Xin hãy khoan giãn cho tôi ít lâu, tôi sẽ trả anh đầy đủ. Y cho "tống bạn vào ngục cho đến khi trả hết nợ.

Màn 3: Chúng ta trở lại trong chính điện của hoàng cung. Các nhân chứng kinh hoàng vì thái độ ấy, đã trình tâu lên đức vua. Ðức vua vô cùng, tức giận chắc chắn tên mắc nợ nhẫn tâm phải chịu gia hình. Chủ đã tha nợ cho y đâu buộc y tha nợ cho bạn y. Nhưng, đây rõ ràng là cái đinh của dụ ngôn, vì vua phân xử tôi tớ không dựa trên công lý cứng ngắc, nhưng dựa trên lòng thương xót của họ đối với nhau. Vua bảo y: "Hỡi tên đầy tớ xấu xa, ta đã tha nợ cho ngươi vì ngươi đã van xin ta. Sao ngươi không thương bạn ngươi như ta đã thương ngươi. Và chủ đối xử với con người tàn nhẫn này như hắn đã đối xử với bạn hắn: Ngài "trao hắn cho lý hình cho tới khi hắn trả hết nợ".

J. Potin bình luận: "Qua dụ ngôn, Ðức Giêsu muốn nói rằng hành động của Thiên Chúa khác xa với lý luận và công lý của con người. Con người chỉ biết trừng phạt cho cân xứng với tội lỗi. Thiên Chúa thì "nghịch lý", như Ngài đã cư xử với người thợ giờ thứ 11. Chúa muốn con người cũng cư xử với nhau trong cùng một tinh thần như thế, vì Chúa đã tha cho họ những món nợ khổng lồ so với những món nợ của họ với nhau. Không thể có ranh giới cho sự tha thứ vì tha thứ đâu phải thứ công bình cân đo đong đếm được, đó là tình yêu, mà tình yêu tự bản tính là không biên giới. Kết luận: Ðức Giêsu tuyên bố với các thính giả đang tức giận vì thái độ nổi loạn của người mắc nợ nhẫn tâm, để đưa họ trở về với lối sống của chính mình: "Cha Ta trên trời cũng đối xử với các ngươi như thế nếu các ngươi không biết thật lòng tha thứ cho anh em". Sự kiện có ý nghĩa cao độ, lời này của Ðức Giêsu cũng là lời kết luận cho diễn từ về đời sống trong Giáo Hội: Sự tha thứ lẫn cho nhau là nền tảng trong một Giáo Hội được kêu gọi để trở thành một cộng đoàn huynh đệ yêu thương tha thứ cho nhau.

J. Potin kết luận: "Cộng đoàn phải được tác động bởi cùng một tình yêu như Chúa Cha đã tỏ ra khi tha thứ những lỗi lầm không cùng kích cỡ với những lỗi lầm mà họ phải chịu hoặc đã phạm. Chính vì thế, mỗi thành viên phải sẵn sàng tha thứ và chấp nhận sự tha thứ.



II.BÀI ÐỌC THÊM:

1.Một sự tha thứ không giới hạn (F. Deleclos, Prends ét mang la Parole, Centurion-Duculot.)

Ta nợ Thiên Chúa nhiều vô kể. Dù ta đã cố giảm nhẹ, quên lãng, những món nợ ấy vẫn không ngừng chồng chất thêm mỗi ngày. Ta thật là những con nợ không có gì để trả. Nhưng Thiên Chúa tốt lành, ta thường nhủ mình như thế. Ngài thấu hiểu, ngài cảm thông, Ngài tha thứ, Ngài quên lãng những lỗi lầm, những yếu đuối rất con người, rất dễ hiểu ấy, nếu không, dù có được biện hộ, Người cũng chẳng thể tha thứ cho ta. Vậy mà, khi phải tha thứ, ta lại ngần ngại và rất thường ta mặc cả và từ chối. Trong thánh lễ, ta hát: "Xin Chúa thương xót chúng con nhưng ta lại rất ít thương xót người khác. Chắc chắn là Thiên Chúa tha thứ kiên nhẫn và quảng đại không khác gì ông vua mà Ðức Giêsu nói tới trong dụ ngôn. Tuy nhiên ơn tha thứ của Ngài đòi hỏi bài học ấy phải sinh hoa kết quả trong lòng ta. Ta cũng vậy phải biết thông cảm, thương xót, ta thứ và tha nợ cho anh em ta. "Xin tha lỗi chúng con như chúng con cũng tha kẻ có lỗi với chúng con". Còn hơn nữa, phải "tha cho kẻ mắc nợ chúng ta". Sự tha thứ của Thiên Chúa là toàn vẹn, nhưng vẫn đòi điều kiện. Phải chăng sự tha thứ không được đo lường bằng chính thước đo mà ta dâng lên Chúa?

Từ nay ta đã biết đường lối Thiên Chúa phán đoán và xét xừ ta. Danh dự thực sự của ta dựa trên khả năng và chất lượng của sự tha thứ giống như Phêrô, ta dễ hài lòng với một sự tha thứ có chừng mực, tuỳ trường hợp định sẵn, tha thứ đến 7 lần thôi, không hơn nữa. Nhưng Ðức Giêsu rao giảng một tình yêu, và vì thế một sự tha thứ không giới hạn. Làm sao tham dự mầu nhiệm Thánh Thể nếu ta không biết tha thứ. "Khi con dâng của lễ là nhớ còn có người bất hoà với con hãy để của lễ lại đó, và làm hoà với anh em trước đã rồi sẽ dâng của lễ sau" (Mt 5,23-24).

2.Tha thứ tự đáy lòng (Mgr. L. Daloz, Le Règne de cieux s'est approché, DDB.)

Mục đích của dụ ngôn là dạy ta biết tha thứ cho anh em tự đáy lòng mình. Dụ ngôn kết thúc một loạt những lời răn dạy của Ðức Giêsu về những mối liên hệ trong cộng đoàn các môn đệ, và trong Giáo Hội. Tha thứ chính là lời kết cho những mối liên hệ này. Nó là chất xi măng xây dựng cộng đoàn, nếu các cộng đoàn biết sống trong sự thật. Sự hiệp nhất đâu phải ngẫu nhiên. Các mối liên hệ của ta thường bị đe doạ bởi những bất đồng, khinh miệt, gây gỗ, bạo lực. Sự hiệp nhất, tình huynh đệ là kết quả của hoà giải. Chính Thánh giá của Ðức Giêsu đã đánh đổ những bức tường ghen ghét, như thánh Phaolô nói trong thư Êphêsô (2,15). Trái tim con người cần được chữa lành và đổi mới nhờ ơn cứu độ của Ðức Kitô, mới có thể tiến bước trên con đường tha thứ cho anh em. Chính vì thế, ta cần hiểu rõ lời Ðức Giêsu: "Cha các ngươi trên trời cũng đối xử với các ngươi như vậy, nếu các ngươi không biết thật lòng tha thứ cho anh em". Ơn tha thứ của Thiên Chúa không bị điều kiện hoá bởi sự tha thứ hỗ tương của ta, hiểu theo nghĩa sáng kiến đến từ ta! Dụ ngôn chỉ khiến ta ý thức rằng chính ta cũng là người tội lỗi được tha thứ, được kêu gọi để đến phiên ta, cũng tham dự vào nguồn động lực tha thứ. Sau cùng, chất xi măng xây dựng những mối liên hệ của ta chính là tình yêu của Cha trên trời, một tình yêu đi đến tận cùng của tha thứ, một tình yêu Ngài cho ta được tham dự để ta có thể tha thứ như Ngài, tha thứ từ đáy lòng.

admin
20-02-2011, 01:48 PM
CNTN25
CHÚA NHẬT XXV THƯỜNG NIÊN

TÌNH YÊU VƯỢT XA CÔNG LÝ
(Mt 20, 1-6)



I.VÀI ÐIỂM CHÚ GIẢI:

1.Bảo vệ quyền lợi và đặc quyền

Sau khi Phêrô tuyên xưng đức tin tại Xêsarê Philipphê, Ðức Giêsu trước khi lên Giêrusalem, đã loan báo lần đầu tiên về cuộc khổ nạn sắp tới, Ngài không quên cảnh báo các môn đệ: "Ai muốn theo Thầy, hãy bỏ mình, vác thập giá mình mà theo Thầy". Tại Caphanaum, Ngài đã phác hoạ khuôn mặt của cộng đoàn mà Ngài sáng lập phải có, nếu cộng đoàn ấy muốn phản ánh hình ảnh của "Cha trên trời". Một cộng đoàn biết quan tâm tới "những kẻ bé mọn"; một cộng đoàn huynh đệ biết giúp đỡ thương xót và tha thứ cho nhau.

Hôm nay Ngài đến Giuđêa, bên kia sông Giođăng (19,1) tại đó Ngài bắt đầu dạy cho những kẻ theo Ngài biết sự đảo nghịch mà họ phải đi tới. Sự đảo nghịch có trong mọi lãnh vực đời sống, đời sống vợ chồng, thái độ với trẻ em, mối liên hệ với của cải vật chất (19,3-39). Dụ ngôn những người thợ làm vườn nho giờ thứ 11 - Phúc âm Chúa nhật XXV Thường niên - cho ta một minh hoạ về sự đảo nghịch Phúc âm này. Thoạt tiên, dụ ngôn này gây phẫn nộ nơi công chúng quen có mặt trong các buổi qui tụ ngày Chúa nhật, vẫn nhạy cảm với việc bảo vệ quyền lợi xã hội và với vết thương do nạn thất nghiệp gây ra. Ðức Cha L. Daloz tự hỏi: "Dụ ngôn đó không chống lại tất cả những qui tắc về công bình phân phối và về quản lý tốt đẹp đó sao. Ai đời đi thuê mướn thợ vào các giờ giấc khác nhau rồi cuối cùng trả lương cho người cuối cùng cũng bằng người đầu tiên! Tự nhiên ta dễ đồng ý với những người mong được trả nhiều hơn, lẩm bẩm kêu trách chủ: "Những người đến sau cùng chỉ làm việc có một giờ mà ông đối xử cũng thư chúng tôi, trong khi chúng tôi phải chịu vất vả, nóng nực suốt ngày". Nếu dụ ngôn muốn dạy ta rằng đó là cung cách hành xử của Thiên Chúa, thì chúng ta phải thất vọng. Trong Phúc âm, có những lời của Ðức Giêsu rất bí hiểm, nếu không nói là gây vấp phạm ta cảm thấy đồng ý với phản ứng của người anh của đứa con phung phá khi nó trở về, người cha dọn tiệc ăn mừng, dù nó đã phung phí hết tiền bạc. Ta không hiểu làm sao những phường trộm cắp, đĩ điếm lại vào Nước Trời trước chúng ta. Ta khó mà chấp nhận cung cách hành xử của người chủ vườn nho. Ðể kết thúc dụ ngôn, Ðức Gíêsu đã rút ra, một kết luận: "Vậy những kẻ sau cùng sẽ trở lên trước hết, và những kẻ trước hết sẽ trở lên sau cùng.Ta muốn la lên: không, không công bình! Vậy thì trung tín, chung thuỷ có ích gì? Tội gì mà chịu cực giữ luật Thiên Chúa, nếu Ngài ban Nước Trời cho những kẻ đến sau cùng, chẳng chịu nắng nôi khó nhọc gì, ta cần phải tìm hiểu dụ ngôn này."

Việc quan trọng nhất là phải xác định cử toạ mà dụ ngôn nhằm nói với. Ở đây Ðức Giêsu nói với người Do Thái, đúng hơn, với những thành phần ưu tuyển trong tôn giáo của họ: những biệt phái và luật sĩ vừa tức giận vì thái độ của Ðức Giêsu đối với những người thu thuế, những người tội lỗi, vừa ghen tương vì sự quan tâm mà Ðức Giêsu bày tỏ với họ. Một bối cảnh rất gần với dụ ngôn người cha và hai con trai ở Lc 15 mà dụ ngôn này có nhiều điểm tương đồng. Ðức Giêsu không hề muốn đụng chạm tới lãnh vực công bình xã hội. Ðiều Ngài tìm kiếm là, qua dụ ngôn nghịch lý này, dẫn các thính giả tới chỗ tự tra vấn về mối tương quan của họ với Thiên Chúa và với anh em: cả họ nữa, họ đã chẳng bị cám dỗ co lại trong đặc quyền đặc lợi của họ, không còn biết kinh ngạc trước lòng quảng đại kỳ diệu của Thiên Chúa đối với mọi người và hoa trái của ân sủng Người nơi anh em họ đó sao?

Câu chuyện khởi đầu rất bình thường. "Nước Trời giống như ông chủ vườn nho sáng sớm ra chợ thuê người làm..."? ông chủ vườn nho này "ra đi" nhiều lần (cũng như người cha. trong dụ ngôn của Luca 15 ra nhiều lần) vào những giờ khác nhau để nhắc lại lời mời gọi: "Hãy vào làm vườn nho cho ta chẳng có gì đặc biệt khiến ta phải chú ý...cho tới lúc, bất chấp những luật lệ sơ đẳng về lợi nhuận, ông còn ra chợ "trào lúc 5 giờ chiều", trong khi mặt trời sắp lặn nhường chỗ cho bóng đêm? Ta vẫn còn chưa hết ngạc nhiên! Vào lúc chiều tối, thay vì trả ông cho người làm sớm nhất và để cho họ ra về, ông chủ lại ra lệnh cho viên. quản lý trả lương 'bắt đâu từ những người làm sau hết và kết thúc bằng những người làm đầu tiên ", họ sẽ là chứng nhân cho cứ chỉ của ông? Những người được thuê vào lúc 5 giờ chiều tiến đến và nhận "mỗi người 1 đồng bạc'? Những người đầu tiên, đã chịu cực khổ suốt ngày, tò mò quan sát cảnh tượng và hy vọng sẽ được trả "nhiều hơn ". Nhưng khi đến phiên họ, họ cũng chỉ nhận được một đồng bạc như hợp đồng lúc thuê mướn. Từ im lặng ngạc nhiên đến "lẩm bẩm kêu trách": "Họ lẩm bẩm kêu trách ông chủ". Những tiếng lẩm bẩm khiến ta nhớ lại tiếng lẩm bẩm của đứa con trưởng khi cha long trọng đón tiếp đứa con phung phá trở về (Lc 15). Những tiếng lẩm bẩm hoà nhịp với tiếng lẩm bẩm của con cái Israel suốt thời gian băng qua sa mạc, và tiếng lẩm bẩm của bọn biệt phái và luật sĩ khi nhìn thấy thái độ của Ðức Giêsu đối với nhưng người thu thuế và tội lỗi họ lẩm bẩm kêu trách Ngài: "Người này tiếp đón kẻ tội lỗi là ăn uống với họ" (Lc 15). Ðiều khiến những người thợ đầu tiên bất mãn đó là thấy những kẻ "chỉ làm việc một giờ" lại được đối xử ngang hàng với họ: "ông đối xử với họ cũng như chúng tôi. Việc làm đã xong, những điều kiện trong đó họ làm việc chẳng đem lại cho họ đặc quyền đặc lợi nào, so với những người khác, "những người cuối cùng này" mà họ nói đến với sự khinh miệt y như đứa con trưởng trong dụ ngôn ở Luca 15: "Thằng con trai cha đó" (Lc 15,30) hoặc người biệt phái trong Luca 18: "tên thu thuế kia".

2.hay ngây ngất vì ơn Thiên Chúa ban nhưng không cho mọi người.

Ông chủ vườn nho nói với người phát ngôn của những người thợ bất mãn: "Hay là bạn bất bình vì tôi nhân lành". Giống như anh cả của đứa em hoang đàng, những người thợ làm giờ đầu tiên là biểu tượng cho tất cả những ai nhân danh quyền lợi tự cho là nhận được từ Thiên Chua, nhân danh cái gọi là đặc quyền, ngạc nhiên và vấp phạm vì thái độ của Ðức Giêsu đối với những người tội lỗi: đó là những người biệt phái và luật sĩ của hôm qua... và cả hôm nay nữa. Làm như ơn cứu độ không phải là ân huệ ngoại thường và nhưng không, vượt xa sự xứng đáng của ta muôn trùng. Ðức Gìêsu tự đứng về phía ông chủ vườn nho cũng như về phía người cha đón tiếp đứa con trai đã mất mà nay lại tìm thấy. Thái độ của hai nhân vật này phản ánh lối sống của họ, lối sống bị người ta chê trách. Với những người phản đối thái độ của Ngài đối với người tội lỗi Ngài dám tuyên bố: Thiên Chúa không hành động khác hơn! Thiên Chúa giống như người Cha ăn mừng đứa con trở lại, như ông chủ vườn nho trả lương cho người thợ làm sau cùng cũng bằng người thợ làm đầu tiên. Chắc chắn khi thuật lại dụ ngôn này của Ðức Giêsu, Matthêu muốn áp dụng nó vào Giáo Hội thời đó: "Những người đầu tiên" là những người Do Thái; "những người cuối cùng", dân ngoại đã nhận được cái mà Israel coi như đặc quyền. Claude Tassin kết luận: Vậy, dụ ngôn nhắm tới những người có phản ứng giống như phản ứng của đứa con trai cả trong truyện người con phung phá... Thiên Chúa đã quyết định tỏ sự âu yếm đối với những người tội lỗi đó là lý do tại sao Ðức Giêsu, sứ giả của Ngài, lại thích gần những người này đến thế, điều đó gây phẫn nộ cho một số người công chính vì họ tự coi mình có quyền được Thiên Chúa quan tâm hơn những phường chẳng ra gì kia, đâu quan tâm gì đến phục vụ Trời - làm như thể khi cứu vớt những người tội lỗi, Thiên Chúa đã lấy đi điểu gì của những kẻ trung thành. Trái với bài học mà tác giả Phúc âm rút ra (16) dụ ngôn không hạ "những người đầu tiền" xuống hàng "những người sau cùng", nhưng dụ ngôn chỉ nhấn mạnh đến sự bình đẳng làm phát sinh ơn phúc lạ thường cho người tội lỗi.



II. BÀI ÐỌC THÊM:

1.Công bình kỳ cục (G. Boucher, La terre parle au ciel) Công bình! Ta gọi ngươi bằng tất cả khát vọng. Ta đấu tranh vì một thế giới công bình hơn. Ta phát động cách mạng để đập tan bất công. Thậm chí ta còn nói tới thật là ghê tởm- cuộc chiến tranh chính nghĩa. Các toà án của ta đó để thực thi công bình. Lời cầu nguyện của ta kêu lên tới Chúa để cho người nghèo, người bị bóc lột được lắng nghe. Niềm vinh dự của các xã hội, các quốc gia là tạo lập được một hiến pháp, nhưng luật lệ và những cơ chế giúp cho trật tự công bình tiến bộ. Do đâu dụ ngôn Phúc âm bắt ta làm ngược lại? Do đâu khi đọc dụ ngôn lần đầu ta khó chịu như những người thợ làm đầu tiên dã khó chịu, họ tự cho mình và nạn nhân của một sự bất công. Ðối với con người, thực thi công bình không phải là trả cho mỗi người điều gì thuộc về họ, theo sức lao động và giả trị của họ sao? Nhưng trong khuôn khổ Nước Trời lại là chuyện khác: có một Ðấng tên là Thiên Chúa, là sự viên mãn? ban cho mọi người những gì chính đáng. Thiên Chúa công chính hoá những ai mong muốn. Ngay từ giờ đầu tiên. Ngay từ phút khởi đầu. Nhưng cũng có khi ở nữa đời người, thâm chí cả ở phút chót của cuộc đời nữa. Thiên Chúa kêu mời mọi người hãy đến để được công chính hoá như người ta nhận một quà tặng, một ân ban. Có người trả lời ngay tức khắc từ lúc rạng đông. Có kẻ chỉ nghe được lời đề nghị ở giữa ngày. Ðôi khi mãi đến cuối ngày có người mới nhận ra cơ may Chúa ban mà theo ngôn ngữ bác học, ta gọi là ân sủng. Thiên Chúa làm cho nên công chính như ta trở nên trong suất khi ta ở trong ánh sáng. Thiên Chúa biến ta nên công chính như chính Ngài là Ðấng công chính, điều đó không có gì giống với những mô hình nhân loại. Bởi vậy ai nhận biết mình được Thiên Chúa công chính hoá sẽ chỉ có thể mừng vui khi thấy ân phúc đó đến với người láng giềng, người đối thủ, người đối địch... vì lối sống của Thiên Chúa đã thấm nhập đời anh. Thời giờ chẳng có gì quan trọng. Ta chỉ có thể cầu mong cho mọi người biết nắm lấy cơ may của mình, những người cùng sống trong chung cư những bạn đồng nghiệp, những người thân và cả những người không thân nữa. Sự công bình theo nghĩa của Thiên Chúa chỉ được thực hiện khi ta biết nắm bắt cơ may của mình, như người thợ giờ thứ 11 đã chọn đi làm việc. Và qua kinh nghiệm, ta biết rằng, để lãnh được lô độc đắc của Thiên Chúa, không có gì bằng một biến cố thúc bách ta, một chứng từ chất vấn ta, phần ta hãy biết đón nhận ân sủng mà Thiên Chúa ban cho và sống sao cho mọi người chung quanh ta khao khát được ân sủng ấy, lương bổng ấy.

2. Một ví dụ khiêu khích bắt ta phải tự vấn (MGT. L. Daloz, Le Règne des cieux siest approché DDB).

Ðức Giêsu lấy làm gương thái độ của người chủ đối với thợ của mình, thực là một ví dụ khiêu khích, chứng minh điều Thiên Chúa không là. Không giống như ta tưởng. Ngài hành động không theo cách ta làm. Ngài tốt lành vượt xa các ông bố trần gian muôn trùng. Nhờ đó, Ðức Giêsu cho ta chứng nghiệm được tình yêu của ta hẹp hòi biết bao: "Bạn bất bình vì tôi nhân lành ư?. Dụ ngôn này dạy ta biết Thiên Chúa, nhưng cũng biết chính mình. Nếu ta thấy đồng tình với những người thợ lẩm bẩm kêu trách, không phải vì ta đã tưởng tượng Thiên Chúa theo thước đo của ta, và muốn đóng khung Ngài trong những quan niệm chật hẹp của tình yêu giới hạn của ta sao? Dụ ngôn của Ðức Giêsu trước hết là nói với dân Do Thái, họ là những người được kêu gọi trước hết, rồi mới tới dân ngoại. Dụ ngôn soi sáng tình trạng các cộng đoàn đầu tiên, trong đó những người từ đa thần giáo tới sau cũng có cùng quyền lợi như các tín hữu gốc Do Thái. Ngày nay, vấn đề vẫn còn đó, tuy hoàn cảnh có khác Giáo huấn của Ðức Giêsu vẫn luôn có cùng mục đích, cùng hiệu quả: Ngài mạc khải sự cao thượng của tình yêu Thiên Chúa "chiều cao, chiều rộng và chiều sâu của tình yêu ấy". Tình yêu ấy thay đổi đường lối của ta, mở rộng lòng ta. Phản ứng của ta thường là giới hạn tình yêu ấy theo khuôn thước của ta. Nhưng "giới hạn của tình yêu là yêu không giới hạn"! Sau cùng, sứ điệp của dụ ngôn phải chăng không nằm trong những từ ngữ đơn sơ này, chúng nói với ta về Thiên Chúa: "Ta nhân lành... Hơn cả lương bổng, điều quan trọng là tiếng gọi, luôn luôn đổi mới từng ngày, từng giờ, ở mọi thời trong lịch sử cũng như ở mọi lứa tuổi của dời người, tiếng gọi này không gạt ai ra ngoài lề đó là ân sủng cho những người đầu tiên cũng như cho những người cuối cùng, tiếng gọi của Thiên Chúa nói với con người mà Ngài yêu thương không mỏi mệt và Ngài muốn rằng không ai bị bỏ quên: "Nào, cả anh nữa, hãy đến làm vườn nho cho tôi".

admin
20-02-2011, 01:49 PM
CNTN26
CHÚA NHẬT XXVI THƯỜNG NIÊN

PHỤC VỤ THIÊN CHÚA KHIẾN CON NGƯỜI TỰ DO
(Mt 21, 28-32)



I.VÀI ÐIỂM CHÚ GIẢI
1.Ai trong hai.

Trước sự phẫn nộ của các đối thủ, Ðức Giêsu, được một đám đông cuồng nhiệt chào đón bằng những tiếng: "Hosana", đã long trọng tiến vào Giêrusalem. Trong Ðền Thờ, nơi Ngài giảng dạy, Ngài thường xuyên chịu đựng sự quấy nhiễu của "các thượng tế, và kỳ lão trong dân". Hiển nhiên họ đến chất vấn Ngài về uy quyền nào cho phép Ngài nói và làm như vậy: "Do quyền nào ông đã làm điều đó, và ai đã ban cho ông uy quyền đó" (21,33). Nhưng Ðức Giêsu từ chối trả lời bao lâu họ còn né tránh câu hỏi Ngài đặt ra: "Phép rửa của Gioan từ đâu đến, từ trời hay từ con người (21,44). Chính trong bối cảnh tranh cãi này, trong đó có 3 dụ ngôn về ngày phán xét, Ðức Giêsu đã cho họ 1 lời cảnh báo mạnh mẽ sau cùng: Dụ ngôn 2 đứa con trai được sai đi làm vườn nho (Pâ CN 26). Dụ ngôn thợ làm vườn nho sát nhân (Pâ CN tới). Dụ ngôn khách được mời dự tiệc cưới (Pâ CN 28). Dụ ngôn đầu là của riêng Matthêu, dụ ngôn 2 đứa con trai được sai đi làm vườn nho có một vẻ đạm bạc đặc biệt, bỏ đi tất cả những chi tiết phụ thuộc để làm nổi bật sự tương phải giữa hai chàng trai. Tương phản trong thái độ ban đầu.

Ðối lập thái độ vụng về của đứa con thứ nhất, nó phản đối thẳng thừng: "Tôi không muốn đi!". Với thái độ kính cẩn thái quá của đứa con thứ hai: "Vâng, thưa cha". Nhất là tương phản trong thái độ sau cùng.

Trong khi đứa thứ nhất, sau khi đã chối từ, nghĩ lại và ra vườn làm việc.

Ðứa thứ hai, sau khi đã kính cẩn vâng phục và chấp nhận, lại chẳng làm gì hết.

2.đã thi hành ý Cha?

Lúc đó Ðức Giêsu quay lại phía các người chất vấn và hỏi họ: hai trong hai đứa con đã thi hành ý của cha?". Họ chỉ có thể đồng loạt trả lời: "đứa thứ nhất". Ðâu còn gì rõ ràng hơn, con người xứng danh được phán xét theo hành động họ làm, không theo ý hướng hay thay đổi của họ. Sự ngỡ ngàng ập đến khi Ðức Giêsu chuyển sang phần áp dụng dụ ngôn, đã làm họ thấy rằng họ vừa tự phán xử và tự kết án chính mình: "Thật, Ta bảo thật các ngươi, những người thu thuế và đĩ điếm sẽ vào Nước Thiên Chúa trước các ngươi. Vì Gioan Tẩy giả đã đến với các ngươi sống công chính và các ngươi không tin vào lời Ngài, trong khi những người thu thuế và đĩ điếm đã tin. Còn các ngươi, cả sau khi đã chứng kiến điều ấy, các người vẫn không hối chi, không tin lời Ngài. "Các thượng tế và các kỳ lão trong dân" tuyên xưng để trả lời "vâng" với Thiên Chúa bứng cách lo âu gắn bó với lề luật và mọi ghi chú từ lề luật. Thực ra, họ ẩn núp sau Lề Luật để từ chối tin sứ mệnh của Ðức Giêsu, cũng như họ đã từ chối tin vào sứ mệnh của Gioan Tẩy giả. Họ né tránh ý Chúa: đón tiếp lời và con người Ðức Giêsu; trở về với Chúa để tiến vào Nước Trời. Ngược lại, những người mà Do Thái giáo chính thức coi là đáng khinh bỉ và vô phương cứu chữa, những người "thu thuế" và "đĩ điếm", những người tội lỗi công khai xem ra rất xa đường công chính", lại đón nhận lời rao giảng của Ðức Giêsu cũng như họ đã đón nhận lời rao giảng của Gioan Tẩy giả: họ đã "hối cải và tin vào lời Ngài". Cl Tassin bình luận: "Vì trước hết đức tin không phải là một vài tư tưởng công chính, nhưng là một hành động công chính, những người tội lỗi tồi tệ đã hiểu điều này nên đã bằng mọi giá cố gắng "thi hành ý Cha". Còn các ngươi, Ðức Giêsu nói, các thượng tế, chứng nhân của các cuộc hoán cải này mà các ngươi chẳng nhúc nhích các ngươi đã lỡ cơ hội đầu tiên, thậm chí các ngươi còn để vuột mất tất cả mọi cơ hội: dụ ngôn kế tiếp sẽ minh chứng điều đó.

Khi thuật lại dụ ngôn này cho cộng đoàn, thánh sử muốn biện hộ cho một Giáo Hội mở rộng vòng tay đón tiếp những người thu thuế, gái điếm đã hoán cải ngài cảnh giác các Kitô hữu, xưa cũng như nay, chống lại một thứ tôn giáo bề mặt chỉ biết biết lãi nhãi: "Lạy Chúa, lạy Chúa" nhưng không bao giờ thi hành ý Cha".



II. BÀI ÐỌC THÊM:

1.Một ví dụ khích đối với những người đối thoại với Ðức Giêsu (Mgr. L. Daloz, Le Règne des cieux s'est approché, DDB).

Ðức Giêsu đã nói: không phải những kẻ kêu rằng: Lạy Chúa, lạy Chúa! mà được vào Nước Trời, nhưng là những kẻ làm theo ý Cha. Hôm nay Ngài còn đi xa hơn: Ngài nói con người có khả năng thay đổi ý kiến, thái độ, từ vâng lời có thể trở thành bất tuân, ngược lại từ chống đối có thể hoán cải. Ví dụ Ngài đưa ra quả là khiêu khích những người đối thoại: Thật, Ta bảo các ngươi, những người thu thuế và đĩ điếm sẽ vào Nước Trời trước các ngươi. Ngài chỉ cho thấy chìa khoá mở cửa Nước Trời: đó không phải là vị trí người ta chiếm giữ, cũng không phải địa vị đắc thủ, càng không phải là một lần đồng ý với Lời Thiên Chúa. Ðó là tình trạng của các thầy thượng tế, các kỳ lão, các luật sĩ và các tiến sĩ luật. Họ có một nhiệm vụ chính thức trong dân; đó cũng là sự tự hào của bọn biệt phái, họ khoe khoang sự trung tín không hề lơi lỏng đối với Lề Luật và truyền thống. Khốn nỗi lối vào Nước Trời đâu mở ra cho giá trị, công phúc, trọn lành. Ðó là món quà Thiên Chúa tặng không cho những ai tiếp nhận lời Ngài và hoán cải. Chìa khoá lối vào Nước Trời là sự hoán cải: hãy hoán cải, vì Nước Trời đã gần" (3,2) Gioan Tẩy Giả đã la lên như thế. Hoán cải là nhận biết những giới hạn của bản thân, là phó mình cho Thiên Chúa và ý định của Ngài. Ðức Giêsu phân biệt những người khẳng định sự trung tín nhưng không hề nhúc nhích, với những người không sống "theo luật tắc", nhưng nhận biết Người và thay đổi theo tiếng gọi của Thiên Chúa: Hoán cải là đi đến nơi. Ðể giải thích rõ, Ðức Giêsu đưa ra một ví dụ cực kỳ, gây phẫn nộ nhất: những người thu thuế và đĩ điếm sẽ vào Nước Thiên Chúa trước các ngươi. Chứng cớ mà Ngài trưng dẫn là sự rao giảng của Gioan Tẩy Giả: "Thật vậy, Gioan đã đến vớt các ngươi trong đường công chính và các ngươi đã không tin, trái lại những người thu thuế và đĩ điếm đã tin ông. Sau đó, đã nhìn thấy như vậy, các ngươi vẫn không hoán cải mà tin ông". Ðâu có những người tin, đón nhận lời của Gioan và dấn thân thay đổi đời sống. Ðức Giêsu nhận thấy đó là những người không tự hào, chẳng có đặc quyền đặc lợi gì, nhưng bị khinh miệt, coi thường. Họ chẳng có gì để bảo vệ, họ không sợ bị mất mặt hay bị nghi ngờ. Ai có "danh dự " cần bảo vệ, ai tự tin mình công chính, người ấy khó mà nhận mình tội lỗi, khó mà ăn năn hối cải, khó mà nhận mình cần thay đổi, khó chấp nhận rằng mình sẽ vào nước Trời không do công phúc của mình... Ta không ngừng cầu xin Chúa ban cho ta một trái tim nghèo, xin Ngài tẩy sạch thói tự mãn, cho ta ý thức sự yếu hèn, tội lỗi của mình. Khi giảng dạy, Ðức Giêsu đã ban một chìa khoá "chung" để vào Nước Trời: đó là sự hoán cải, thống hối, ai cũng làm được cho dù họ có những phẩm chất nào, khuyết điểm nào, thuộc dòng chủng tộc nào, dân tộc nào đi nữa. Ơn cứu độ ban cho tất cả những ai chấp nhận mở lòng ra và tin tưởng.

2. Chúng tôi chấp nhận bị Phúc Âm làm phiền (M. Hubaut, Prier les paraboles, DDB).

Lạy Chúa
Mỗi buổi sáng, Chúa nhắc lại lời mời:
"Hãy đi làm vườn nho cho Ta!"
Nhưng lời Chúa
Con đã nghe hằng trăm lần
Giờ thì còn là một âm thanh quen thuộc
Mỗi Chúa nhật ru ngủ cộng đoàn
Tuy vậy chúng con vẫn máy móc trả lời
"Vâng, vâng lạy Chúa
Rồi chúng con lặng lẽ trở lại
với những công việc thường lệ.

Chúng con đã thuần hoá sự mãnh liệt của Phúc âm Chúa để chỉ còn nghe những lời lẽ dịu êm những công thức rất tế nhị. Chúng con đã làm giảm cường độ ánh sáng Phúc âm qua lăng kính của quan niệm về trật tự, của Giáo Hội và xã hội. Và Phúc âm của Chúa sẽ chẳng còn phiền nhiễu chúng con nữa.

admin
20-02-2011, 01:51 PM
CNTN27
CHÚA NHẬT XXVII THƯỜNG NIÊN

DỤ NGÔN NHỮNG TÁ ÐIỀN SÁT NHÂN
(Mt 21,22-43)



I.VÀI ÐIỂM CHÚ GIẢI:

1.Từ vườn nho..đến nhứng át điền chiếm đoạt vườn:

Trước sự phẫn nộ của đối phương, còn dân chúng thì lại hồ hởi chào mừng Người bằng những lời tung hô "Vạn tuế" Ðức Giêsu đã tiến vào Giêrusalem trong tư cách Messia. Khi Người giảng dạy ở trong Ðền Thờ, Người thường bị các thượng tế và các kỳ mục trong dân "sách nhiễu". Rõ ràng là họ tới có ý chất vấn Người đã lấy quyền nào mà nói và hành động như vậy: "Ông lấy quyền nào mà làm các điều ấy. Ai đã cho ông quyền ấy". (21,2a). Nhưng Ðức Giêsu đã từ chối trả lời họ, khi mà chính họ vân lẩn tránh câu người hỏi họ: "Phép rửa của ông Gioan do đâu mà có do Trời hay do người ta" (21,24).

Ba dụ ngôn về việc xét xử mà Chúa nói với họ như một lời cảnh giác cuối cùng và mạnh mẽ, được đặt vào trong bối cảnh gay cấn ấy:

Dụ ngôn hai người con được sai đi làm vườn nho (Phúc âm Chúa nhật tuần trước).

Dụ ngôn những tá điền sát nhân (Phúc âm Chúa nhật 27).

Dụ ngôn tiệc cưới (Phúc âm Chúa nhật tới).

Ph. Gruson đặt câu hỏi: "Tại sao Ðức Giêsu kể câu truyện dụ ngôn thứ hai này Chính Người bắt đầu tự dàn cảnh khi tuyên bố rằng "người Con" sắp bị "quăng ra". Người ý thức rõ mình là người cuối cùng được Chúa sai đến, sau tất cả các tôi tớ, các ngôn sứ của Chúa; Người loan báo Nước Thiên Chúa sắp đến. Vậy mà Người cũng chẳng được đón nhận hơn những người kia, những kẻ đã từng "bị đánh, bị giết, bị ném đá". Vì thế Người lên tiếng kêu gọi những người lãnh đạo Israel một lần cuối cùng để đặt họ trước trách nhiệm nặng nề, bởi vì chính lúc này đây, hoặc không bao giờ nữa, mà họ phải đón nhận Nước Trời và kéo theo họ tất cả dân Chúa. Nhưng những dấu hiệu của chối từ, và thất bại ngày càng tăng thêm. Nhiều lần Ðức Giêsu báo trước cái chết dữ tợn của Người, vì Người cảm thấy nuối thù địch hoàn toàn từ phía các nhà lãnh đạo tôn giáo đối với Người, ngày một lần cao" ("Lesdossiers de La Bible" số 61, tháng Giêng 1996, trang 9).

Ngay từ những lời mở đầu: "Có gia chủ kia, trồng được một vườn nho, chung quanh vườn, ông rào giậu, trong vườn ông khoét bồn đạp nho và xây một tháp canh.." dụ ngôn những tá điền sát nhân hẳn gợi nhớ lại "bài ca vườn nho" của Isaia 5, bài đọc một lễ hôm nay. Ðược thấm nhuần Thánh Kinh từ hồi còn trẻ, mỗi thính giả không thể không có ngay trong đầu óc họ một sự liên tưởng đối chiếu là: như thời của ngôn sứ, dân được tuyển chọn đã không làm nẩy sinh hoa lợi, mà Chúa có quyền trông đợi, nên họ phải bị Chúa xét xứ. Nhưng rất mau chóng, sau mấy câu mở đầu, sự chú ý được chuyển từ chính vườn nho đến những tá điền mà ông chủ đã trao vườn nho cho. Khi "gần đến mùa hái nho", ông chủ vườn, theo quyền chính đáng, đòi thu hoa lợi thì những người tá điền bắt đầu giở trò. Sự tàn ác của họ ngày càng tăng.

Trước hết, ông chủ vườn nho đã sai "các đầy tớ của ông", nghĩa là các ngôn sứ - Nhưng những người này đều bị chúng tống khứ, hành hạ, giết chết. Ngôn sứ Nêhémia, thế kỷ thứ ba trước Chúa Giêsu cũng đã viết: "nổi loạn chống lại Chúa, họ đã quăng sách Luật của Chúa đi, họ đã giết các ngôn sứ, những người đã lên tiếng bảo họ phải trở về với Chúa" (Nh 9,26).

Ông chủ còn sai đến với họ một số đầy tớ khác đông hơn trước" họ cũng chịu chung số phận như những người trước. "Sau cùng", ông sai con trai" mình đến gặp chúng vì nghĩ rằng: "Chúng sẽ nể con ta". Nhưng bọn tá điền liền "bắt lấy cậu, quăng ra bên ngoài vườn nho, và giết đi vì nghĩ rằng làm như vậy là chiếm được "gia tài".

2. Những địa chỉ được sai đến hôm xưa.đến những địa chỉ được sai đến hôm nay:

Câu truyện kết thúc ở đó? Không, vì Ðức Giêsu đưa thính giả của Người ra làm chứng: "Vậy xin nói: Khi ông chủ vườn nho đến, ông sẽ làm gì bọn tá điền kia. Câu trả lời đến từ nhóm người bao quanh Chúa không làm cho người ta phải chờ đợi: "ác giả ác báo, ông sẽ tru diệt bọn chúng, và cho các tá điền khác canh tác vườn nho, đến cứ đúng mùa, họ nộp hoa lợi cho ông?

Ðức Giêsu chỉ còn việc đưa ra điểm chủ chốt của dụ ngôn này: "Bởi đó, tôi nói cho các ông hay: Nước Thiên Chúa, Thiên Chúa sẽ lấy đi không cho các ông nữa, mà ban cho một dân biết làm cho Nước ấy sinh hoa, các thượng tế và người Pharisêu đã hiểu ngay là Người nói về họ "và họ vừa mới tự xét xử chính mình họ trước mặt mọi người. Chỉ còn nỗi "sợ đám đông" là ngăn cản được họ tra tay bắt Ðức Giêsu mà thôi. Nhưng từ nay thời giờ đã gần kề lắm rồi. Nếu bắt được Người, họ sẽ lôi Người ra "bên ngoài thành","giết Người (21,4,)- 46). Khi tường thuật dụ ngôn nay của Ðức Giêsu cho các độc giả của mình, thánh sử Matthêu chủ tâm làm cho dụ ngôn lại được mang tính hiện thực theo như ý họ.

3. Nên khi nghe các dụ ngôn này

Các độc giả là tín hữu của Ngài có thể thấy dụ ngôn được thực hiện trong việc tàn phá khủng khiếp thành Giêrusalem năm 70;

Họ có thể nhận ra mình trong "những tá điền khác này" là những kẻ mà vườn nho của Chúa đã được trao cho họ.

Sau hết họ có thể tuyên xưng niềm tin vào Ðức Giêsu chết và phục sinh khi dùng thánh vịnh 117 mà cầu nguyện dưới ánh sáng mầu nhiệm phục sinh:

Tảng đá thợ xây nhà loại bỏ,
lại trở nên đá tảng góc tường
Ðó chính là công trình của Chúa,
công trình kỳ diệu trước mắt chúng ta!".

4. Nhưng thánh sử Matthêu cũng còn đưa ra hai thông điệp cho Giáo Hội thời đó, cũng như cho Giáo Hội của mọi thời:

Ph. Gruson giải thích tiếp: Chính Giáo Hội cũng luôn luôn bị thử thách chiếm đoạt những ơn huệ Chúa ban, nên Chúa cũng đòi Giáo Hội phải sinh hoa lợi, nếu không muốn thấy đến lượt mình phải rút khỏi vườn nho. Cũng như những người có trách nhiệm của Israel, Giáo Hội phải chịu phán xét. Giáo Hội không được suy diễn từ dụ ngôn ấy mà cho rằng mình thay thế Israel, bởi vì, như Ph. Gruson nhận xét tiếp, phần kết thúc của trình thuật phân biệt rõ hai nhóm người: một bên là những thượng tế và các người Pharisiêu (các nhà chức trách Do Thái mới thời Matthêu viết Phúc âm), họ muốn bắt Ðức Giêsu, còn bên kia là đám đông vốn xung khắc với họ, bởi vì đám đông cho Người là một ngôn sứ. Chính đám đông ấy vẫn tiếp tục nối dài trong Giáo Hội, trong số những độc giả của Matthêu như chính chúng ta đang là lúc này vậy" (O.C trang 10).



II. BÀI ÐỌC THÊM:

1. "Coi chừng đừng làm hư hỏng Giáo Hội" (Giám Mục L. Daloz, trong "Le Règne des cieux slest approché Desclée de Brouwer, trang 298-299).

Ðúng là một chuyện chiếm đoạt. Chúa Giêsu khiển trách những kẻ đối thoại với Người vì họ tưởng mình là những kẻ nắm giữ lời hứa, nắm giừ Giao ước, nên đã không còn muốn tường trình với Thiên Chúa nữa. Tổ phụ Abraham đã tin tưởng vào Chúa, vẫn luôn hy vọng cả khi không còn gì để hy vọng. Và ông đã nhận được lời hứa. Hậu duệ của ông sẽ có khuynh hướng tưởng mình là những người sở hữu lời hứa này như một gia sản mà họ có thể quản lý theo ý họ và cho chính họ. Họ đã không muốn hoàn lại cho Ðức Giêsu, người Con, những gì họ đã nhận được từ Chúa Cha. Họ đã ỷ thế mà từ khước điều ấy: Chúng tôi đã có tổ phụ Abraham (3,9)... Nguy cơ sử dụng tôn giáo như gia sản của ta, thứ bảo hiểm cho ta thì thời nào cũng có và luôn luôn đáng lo ngại. Lời Chúa, các bí tích, các "công đức" của ta... Không phải là tài sản riêng của ta, mà là những ân huệ Chúa ban cho ta. Chúng phải hướng ta về với Chúa, khơi dậy và phát triển lòng tin của ta. Những ân huệ đó thúc đẩy ta hiến dâng chính mình, để ta sống đời tận hiến, hoàn toàn thuộc về Người. Cách riêng trong Bí tích Thánh Thể, Ðức Giêsu hiến mình Người để kết hiệp ta với Người là của lễ mà dâng lên Cha, ngõ hầu Thần Khí của Người đến làm cho ta nên của lễ muôn đời tôn vinh Chúa?... Tôn giáo đích thực là một mối dây, một tương quan khởi đi từ Chúa, lại đưa ta quay trở về với Chúa và với tha nhân. Những "thực hành đạo đức" là những phương thế giúp tăng cường mối tương quan này. Những thực hành đạo đức ấy mở lòng ta ra cho tình yêu: yêu Chúa và yêu tha nhân là hai tình yêu không thể tách biệt, như hai mặt của một bàn tay. Tôn giáo đích thực khiến chúng ta trở nên nghèo để có thể yêu mến.

Ðức Giêsu tranh luận với các thượng tế và kinh sư. Người hỏi họ: vâ﹠khi ông chủ vườn nho đến, ông sẽ làm gì bọn tá điền kia. Họ đáp: "ác giả ác báo, ông sẽ tru diệt bọn chúng, và cho các tá điền khác canh tác vườn nho, để cứ đúng mùa, họ nộp hoa lợi cho ông. Câu trả lời này phải làm cho họ suy nghĩ. Nhưng chính họ mù quáng rồi, như ta vẫn thường như vậy. Họ biết rút ra câu kết luận của dụ ngôn, nhưng lại không nghĩ rằng lời kết đó lại nói về họ. Là những người kế nghiệp Nước Trời, chúng ta không thể tự phụ mình là những kẻ trên người khác, nếu không, đến lượt ta lại trở thành những kẻ chủ trương chiếm đoạt vườn nho của Chúa! Ta phải coi chừng đừng làm hư hỏng Giáo Hội, dân tộc mới, khi mắc phải những tật xấu Chúa đã khiển trách những thượng tế và kinh sư Do Thái xưa. Ai ngân xuống đá này, kẻ ấy sẽ tan xương; đá này rơi trúng ai, sẽ làm người ấy nát thịt. Giáo Hội chỉ theo đuổi ruột mục đích là loan báo Ðức Giêsu Kitô, minh chứng Ðức Giêsu Kitô, làm cho người ta sống sự chết và phục sinh của Người.

2. "Những ngôn sứ của Người Con thừa tự " (M. Hubaut, trong "Prier les Paraboles" Desclée de Brouwer, trang l08-110).

Chúa ơi,
Lịch sử phải chăng chỉ là một sự tái diễn khôn nguôi,
Là tấn thảm kịch được diễn lại mãi mãi muôn đời?
Ðây vườn nho của Chúa,
Mảnh đất này Chúa đã trao cho con.
Ðây vườn nho của Chúa,
lòng, trí con và tự do này
Tất cả đều do Người ban tặng.
Con lại chiếm cho mình mà không biết thẹn;
Và để chiếm trọn gia tài,
Con lại quyết không nhìn Người Con Thừa Tự
Dồn Người vào ngục tối sử xanh.
Thế là Chúa đã chết rồi Hoan hô con người?
Một mình sở hữu mọi của trần gian!
Vạn tuế con người,
Chỉ mình làm chủ kiếp người và lịch sử!
Chúa liền sai báo sứ giả đến
Ðể thu phần hoa lợi của tình yêu,
Ðem chia sẻ, an bình và công lý.
Thế mà tất cả lại bị đánh đập tơi bời,
Hoặc bị tống giam vào nơi ngục thất.
Hoặc bị tù đày hay là bị giết.
Jérémia bị ném đá, Isaia bị xé xác tan tành.
Roméro Giám mục bị bắn gục trước bàn thờ;
Cha Popieluko bị đánh nhừ từ và trấn sâu dưới nước,
Thân thể cha Jarland đạn ghim lỗ chỗ như tổ ong bầu..
ôi lạy Ðức Kitô!
Sao Người luôn bị ghét bỏ khinh khi,
Bị miệt thị và đóng đinh vào thập giá!
Xin ban cho con tâm hồn hiểu biết
Gương mù này của thập giá tình yêu.
Hiểu biết hơn sự ngoan cố của con người
Không cộng tác làm vườn nho của Chúa;
Xin cho con luôn nghiệm ra rằng:
Mọi viên đá nào bị loại bỏ
Ðều trở nên viên đá góc tường,
Cho phế nhân hưởng nguồn ơn cứu độ.
ôi lạy Ðức Kitô phục sinh!
Ngài là Con Thừa Tự của Trời, Ðất mới.
xin mở mắt con để con thấy rõ
Qua gian lao của những bậc tôi trung,
Qua cái chết của những ngài ngôn sứ,
Chúa đang thực hiện công trình của Chúa,
Công trình kỳ diệu còn khuất mắt chúng con.

admin
20-02-2011, 01:52 PM
CNTN28
CHÚA NHẬT XXVIII THƯỜNG NIÊN

DỤ NGÔN TIỆC CƯỚI VÀ ÁO CƯỚI
(Mt 22, 1- 14)



I.VÀI ÐIỂM CHÚ GIẢI:

1.Từ những khách mời "không xứng đáng.đến gặp ai cũng mời:

Trước sự phẫn nộ của đối phương, còn dân chúng lại hồ hở chào mừng Người bằng những lời tung hô "vạn tuế, Ðức Giêsu đã tiến vào thành Giêrusalem trong tư cách Messia. Khi giảng dạy ở trong Ðền Thờ, Người thường bị các thượng tế và kỳ mục trong dân hạch sách. Rõ ràng là họ tới có ý chất vấn Người đã lấy quyền nào mà nói và hành động như vậy: "ông lấy quyền nào mà làm các điều ấy. Ai đã cho ông quyền ấy" (21,23). Nhưng Ðức Giêsu đã từ chối trả lời họ, bao lâu mà chính họ vẫn lẩn tránh câu Người hỏi họ: "Phép Rửa của Gioan do đâu mà có. Do Trời hay do người ta (21,24). Trong bối cảnh gay cấn như vậy, mà ba dụ ngôn về xét xử Chúa dùng để nói với họ như một lời cảnh giác mạnh mẽ và cuối cùng, được đặt vào:

Dụ ngôn hai người con được sai đi làm vườn nho (Phúc âm Chúa nhật 26).

Dụ ngôn những ta điền sát nhân (Phúc Âm Chúa nhật tuần rồi).

Dụ ngôn tiệc cưới (Phúc âm Chúa nhật 28 này).

Ðọc bản văn dụ ngôn những khách mời dự tiệc như được viết trong Phúc âm Matthêu, chúng ta có thể nhận thấy ngay những lời giáo huấn của Chúa được các cộng đồng tín hữu gìn giừ và nghiền gẫm, đã phải trải qua quá trình truyền đạt và thích nghi cho tới khi được các thánh sử soạn thảo thành văn nhất định. Chắc hẳn trong nội dung lời giáo huấn của Chúa, thì dụ ngôn này, theo như diễn ý của J.Jérémias, có nghĩa như "một sự bênh vực và biện minh" cho Phúc âm.

Th. Matura giải thích: "Những người đạo đức (các Pharisiêu), những nhà "thần học (các kinh sư), những người lãnh đạo tôn giáo của dân (các tư tế) dù không đón nhận Tin Mừng Nước Trời Chúa Giêsu loan báo, mà theo nguyên tắc là có ý dành cho họ trước tiên. Trái lời dân chúng và nhiều người sống bên lề (các người thu thuế, "tội lỗi), những người bị những kẻ thông trị loại bỏ thì lại tỏ ra sốt sắng lắng nghe lời Chúa kêu gọi và vui lòng đi theo Người (Lc 15,1-2), khiến cho giới có đầu óc khó chịu và buông lời chỉ trích. Dụ ngôn những khách mời dự tiệc cưới là câu trả lời cho thái độ giả hình này. "Chính các ông cũng giống như những người khách được mời này mà lại chối từ. Các ông cho đó chướng mắt, vì tôi được các người vốn bị cáo ông khinh bỉ, quây quần bên tôi: chính các ông mới là những người đã không thèn đếm xỉa tới, đã từ chối và các ông còn điểu này: không phải những người công chính mà là những người tội lỗi mới cần cứu độ!"

Ðiểm hóc búa của dụ ngôn Chúa kể, quả là gay cấn phải chứng tỏ và đúng, cách người cư xử với những người tội lỗi và lên án thói giả hình của giới lãnh đạo. Ðức Giêsu đã biểu lộ tình yêu của Thiên Chúa đối với những người bé nhỏ, đồng thời người cũng tố cáo những kẻ từ chối lời mời gọi của Phúc Âm, và như thế bị loại khỏi bàn tiệc Nước Trời mà Người đến khai trương" (Assemblées du Seigneur" số 59, trang 18-19).

Khi đem nội dung trên vào Phúc âm của mình để trình bày cho cộng đồng tín hữu của ngài là những người gốc Do Thái giáo, thánh sử Matthêu khác với tác giả Luca, có sửa đổi nhiều chi tiết làm thay đổi ý nghĩa ban đầu của dụ ngôn này để hướng tới một ý nghĩa ẩn dụ (mỗi chi tiết đều mang một ý nghĩa).

2. "Người kia" trong dụ ngôn ban đầu, trở thành "một ông vua kia mở tiệc cưới cho con mình".

Cl: Tassin gợi nhớ lại: Cựu ước đã hứa hẹn sự hiệp nhất phu thê giữa Thiên Chúa và dân Người và Phúc âm đã trình bày Chúa Giêsu như vị Tân lang của những đám cưới được trông đợi này (x. Mt 9,15). Thế nên thánh Matthêu cung cấp ngay cho ta những chìa khoá cần thiết giúp cho việc đọc "("Phúc âm thánh Matthêu ", NXB Centurion, trang 230).

+ Cũng vậy, người đầy tớ duy nhất trong Phúc âm Luca được tăng lên thành nhiều loại: các câu 3.4.8.13.

+ Và không những, các người đầy tớ này bị người ta hắt hủi, mà còn bị xỉ nhục và giết chết các (câu 6 và 7) như trong dụ ngôn những tá điền sát nhân. Và cũng như trong dụ ngôn này, sự trừng hạt không muộn màng. Th. Matutura chú giải: Ðức Giêsu khiển trách những người lãnh đạo tôn giáo, thì họ hăng hăng chối từ sứ mệnh của người... Việc đưa xen vào dụ ngôn, hai câu 6 và 7 càng làm rõ nét phương diện này, bởi thì rõ ràng là đối với thánh Matthêu, những khách mời thoái thác kia, chính là những người Do thái không tin. Cách họ đối xử với các người được sai đến (các ngôn sứ bị chúng giết 3,32-36) lôi kéo sự trừng phạt đến cho họ: ám chỉ qúa rõ ràng việc thành Giêrusalem bị tàn phá" (O.C. trang 20-21).

+ Không trì hoãn, vua liền sai những sứ giả khác "đi ra các ngã đường", gặp ai cũng mời hết vào tiệc cưới.

+ Các đầy tớ thi hành lệnh ngay, gặp ai"bất luận tốt xấu cũng tập hợp lại. Th. Matura nhận định: "Cách diễn tả này chứng tỏ rằng: Thiên Chúa yêu thương hết mọi người, Người lựa chọn mà không đòi hỏi, nhưng chỉ vì lòng thương xót (Mt 6, 45). Giống như những dụ ngôn cỏ lùng và chiếc lưới, nó cũng mô tả tình trạng của cộng đồng tín hữu thời thánh Matthêu, lúc đó không phải mọi người đều thánh thiện cả. Sau cùng lời diễn tả ấy chuẩn bị cho câu chuyện về người xâm nhập phòng tiệc bị loại ra" (O.C. trang 23).

3. Từ việc được mời.đến việc tham dự tiệc cưới:

"Phòng tiệc cưới lúc này đã đầy thực khách". Theo tập tục Ðông phương cổ, người chủ tiệc không ngồi bàn ăn với các thực khách, nhưng ông đi lại chuyện trò, thăm hỏi họ. Chi tiết hơi lạ là gia nhân ra các nẻo đường, gặp ai bất luận tốt xâu, cũng tập hợp cả lại vào phòng tiệc, thì những người ấy đâu có thời giờ mà thay đồ. Thế nên mới có câu chuyện về áo cưới. Ðang khi tất cả phần thứ nhất của dụ ngôn này nói cho những người chống đối Phúc âm, thì phần kết của dụ ngôn lại nhắm nhóm người vốn cho mình vẫn sống theo Phúc âm đó là cộng đồng các môn đệ Ðức Giêsu. Th. Matura giải thích: "Họ phải cảnh giác đối với ý nghĩ cho rằng chỉ cần được gọi và đáp lại Tin Mừng là bảo đảm được rỗi linh hồn. Không cần phải tuyên xưng danh Ðức Kitô, tham gia vào cộng đồng của người (tức là chịu phép Rửa dể được vào phòng tiệc), còn phải chu toàn các công việc mà đức công chính mới đòi hỏi (Mt 7,21). Nếu không dù là đã được nhận vào phòng tiệc rồi, người ta vẫn có nguy cơ bị nén ra ngoài bị loại trừ vĩnh viễn khỏi Nước Trời" (O.C. trang 25).

Bởi vậy Giáo Hội không thay thế Israel, vì lịch sử dân tộc này vẫn trước sau như một. Phần các tín hữu, nên biết lượng sức mình yếu đuối giòn mỏng và vẫn chưa đáp trả đủ tình yêu Thiên Chúa của Ðức G'iêsu Kitô dành cho mình, chứ đừng vội thấy người khác bị Chúa trừng phạt mà vui mừng.



II. BÀI ÐỌC THÊM:

"Một Giáo Hội mời gọi hết mọi người"(Giám mục L. Daloz trong "Le Règne des cieux s'est approché", Desclée de Brouwer, trang 301-302).

"Thế chỗ cho dân tộc được kêu gọi trước nhất, những kẻ được mời gọi ở đây, chính là những lớp người của mọi dân tộc, họ ở trên các công trường, tại những ngã ba, ngã tư đường. Không còn nữa những chiếc ghế được dành riêng cho ai: "Gặp ai cũng mời hết vào tiệc cưới!". Vấn đề được xét đến không phải là dân Do thái là một dân như thế, mà là thái độ tự mãn, và chối từ, sự không chú ý lắng nghe lời mời gọi của Chúa: "Họ không thèm đếm xỉa tới lại bỏ đi: Kẻ thì đi thăm trại, người thì đi buôn". Thái độ đó vẫn xảy ra hôm nay, bất cứ lúc nào. Người ta cố gắng và cho là điều quá tự nhiên khi xếp đặt các giờ phút gặp gỡ với Chúa, các việc đạo đức của đời sống Kitô hữu, việc cầu nguyện... vào những giờ phút thừa thải, những ngày giờ chẳng còn công chuyện gì để làm, sau giờ lao động, sau những công việc thường ngày, cả sau khi đã vui chơi nữa, sớm muộn, còn đâu thì giờ rảnh rỗi nữa. Người ta bắt đầu trở nên bê bối, rồi tìm cớ chữa lỗi cho mình rằng: "Làm việc cũng là cầu nguyện rồi...". Dần dần mỗi ngày một chút, người ta không còn cầu nguyện, tham dự các bí tích, các buổi hội họp và việc huấn luyện nữa, viện cớ rằng: "Tôi không còn thì giờ để cầu nguyện nữa...". Ðôi khi thái độ từ chối tiếp nhận Ðức Giêsu, từ chối đáp lại tiếng gọi của Chúa là do không biết hoặc thù địch với Người. Ðức Giêsu gây phiền hà, là chướng ngại. Thế là chống đối, là bách hại. Không cứ gì một dân tộc mới làm thế, mà mọi người đều có khả năng làm như vậy, và chúng ta đều là thành phần của nhân loại này! Nhưng tiệc cưới không thể bị ế. Thiên Chua vẫn mời gọi không ngừng: "Các đầy tớ ấy liền đi ra các nẻo đường, gặp ai, bất luận tốt xấu, cũng tập hợp cả lại". Tiếng Chúa kêu gọi dành cho hết mọi người; Người ngỏ lời với những người lương thiện cũng như kẻ bất lương, với người công chính cũng như kẻ tội lỗi đặc biệt là những người tội lỗi? Ðiều đó giúp ta nhìn rõ Giáo Hội vốn quy tụ mọi người.

Giáo Hội nhất định không phải là nơi tập hợp những "người thập toàn", là tổ chức gồm những người không có gì đáng chê trách cả. đôi khi chúng ta quan niệm Giáo Hội là thành phần ưu tuyển, có cảm giác rằng Giáo Hội phải loại trừ ra khỏi lòng mình tất cả nhưng ai không sống theo Phúc âm. Phải chăng đã đến lúc tôi sẽ là người đầu tiên phải bỏ đi ý nghĩ lầm lạc ấy?... Ðúng là Giáo Hội đón nhận khá rộng rãi và điều đó không làm thoả mãn những ai muốn Giáo hội tạo cho mình một hình ảnh không tì vết! Liệu Giáo giội đưa ra một hình ảnh như thế có tốt không? Ðó chẳng phải là con đường mở ra cho lối sống giả hình như đối với những người Pharisiêu sao? Phần cuối dụ ngôn nói đến một sự lựa lọc phải diễn ra, nhưng là vào giờ phút chót khi "vua tiến vào quan sát khách dự tiệc". Ðấy cũng là điều mà hai dụ ngôn cỏ lùng và chiếc lưới đều nói lên: "Ðến ngày tận thế, cũng sẽ xảy ra như vậy. Các thiên thần sẽ xuất hiện và tách biệt kẻ xấu ra khỏi hàng ngũ người công chính... " (13,49). Ai muốn vào dự tiệc Nước Trời, phải mặc y phục lễ cưới: "Này bạn, làm sao bạn vào đây mà lại không có y phục lễ cưới". Rồi vua truyền quăng nó ra chỗ tối tăm bên ngoài: ở đó người ta sẽ phải khóc lóc nghiến răng". Vào dự tiệc Nước Trời không tuỳ thuộc nòi giống, hay là người của một dân tộc, nhưng căn cứ vào sự trở lại, thay đổi đời sống, những việc lành phúc đức... Khi nhận chiếc áo trắng trong lễ nghi Rửa tội, chúng ta đã được mời gọi "giữ cho tinh tuyền phẩm giá người con Chúa". Y phục của dân mới, y phục lễ cưới, chính là Ðức Kitô mà chúng ta đã "mặc lấy", là phẩm cách người Kitô hữu, là ân sủng Chúa trao ban. Sống sao cho xứng đáng với những gì ta đã lãnh nhận, đó chính là một lời mời gọi.

admin
20-02-2011, 01:53 PM
CNTN29
CHÚA NHẬT XXIX THƯỜNG NIÊN

VẤN ÐỀ NỘP THUẾ CHO CESAR
(Mt 22, 15-21)



I.VÀI ÐIỂM CHÚ GIẢI:

1.Kẻ khéo giăng bẫy.

Ba dụ ngôn về xét xử mà chúng ta đã suy gẫm suốt mấy tuần rồi (dụ ngôn hai người con được sai đi làm vườn nho, Chúa nhật 26; dụ ngôn những tá điền sát nhân, Chúa nhật 27; dụ ngôn khách dự tiệc cưới, Chúa nhật 28) vẫn không đủ làm cho các kẻ thù địch Chúa tan rã hàng ngũ. Trái lại họ còn liên minh với nhau và thay phiên nhau trong cố gắng làm cho Chúa phải rơi vào bẫy của họ. Sau khi đã "bàn bạc với nhau, tìm cánh làm cho Ðức Giêsu phải lỡ lời mà mắc bẫy" thì một lần nữa những người Pharisiêu, không ngại gì sai các môn đệ của họ cùng đi với những người thuộc phe Hêrôđê. Vấn đề họ đặt ra. cho thấy rất rõ những thái độ khác nhau của họ đối với người Rôma chiếm đóng. Ðang khi những người Pharisêu đành phải bằng lòng coi sự có mặt của quân chiếm đóng như một điều xấu không tránh khỏi được, miễn là tự do tôn giáo được bảo đảm - những người phe Hêrôđê là nhóm chính trị ủng hộ gia đình Hêrôđê lại thân với chính quyền Rôma- thì những người thuộc nhóm quá khích" (zéloté) lại chủ trương bày tỏ sự chống đối công khai, nên nhóm này cấm các thành viên của nhóm không được đụng chạm đến tiền bạc của người Rôma. Họ lên tiếng hỏi Ðức Giêsu, sau mấy lời mở đầu đầy vẻ phỉnh phờ: vậy xin Thầy cho biết ý kiến có được phép nộp thuế cho Ceasar hay không P. de Surgy đưa ra nhận xét sau: "Vấn đề họ đặt ra này liên can tới sứ vụ thiên sai, điều đó không làm ta ngạc thiên, bởi lẽ họ chỉ muốn nhắm đả kích việc Ðức Giêsu cho mình là Ðấng Cứu Thế là thôi. Vả lại họ đặt ra vấn đề cũng là thì lòng thì địch ghen ghét muốn cho dân chúng hay chính quyền thù ghét Người" (Assemblées du seigneur" số 60, trang 10).

Họ nghĩ: Dù Ðức Giêsu trả lời đàng nào, thì Người cũng không thể thoát khỏi bẫy. Nếu Người trả lời "không", nếu Người không nhìn nhận công khai việc phải nộp thuế này, thì đúng là Người chống lại với hoàng đế César - Và nhưng người phe Hêrôđê sẽ vội vã tố cáo Người với nhà chức trách Rôma - Trái lại, nếu Người trả lời "Có", nếu Người công khai thừa nhận là nên nộp thuế cho César, thì Người hợp thức hoá sự hiện diện vô đạo và bất nhân của người Rôma trên một đất thánh mà Thiên Chúa đã ban cho tổ phụ Abraham và con cháu ngài; vậy thì trước con mắt của một dân tộc đang trông đợi một cuộc giải phóng quốc gia, Người mất hết tín nhiệm và đừng hòng coi mình là Ðấng Messia đến thực hiện những ước mơ của họ. Những người Pharisiêu sẽ không bỏ lỡ cơ hội để đánh trống la làng về chuyện này.

2..thì chính họ lại mắc bẫy.

Trước khi trả lời câu hỏi của họ, Ðức Giêsu làm cho lộ ra thanh thiên bạch nhật "thói giả hình" của những kẻ đối thoại với Người. Người yêu cầu họ: "Ðem đồng tiền nộp thuế cho tôi coi. Lạ thay! Họ có đem theo một đồng. Quả là hồi đó "đồng tiền này", đồng quan Rôma, đều có mang hình tượng hoàng đế Rôma, đầu đội vòng hoa như một vị thần, cùng với danh hiệu rõ ràng này: César Tibeno con của thần Augusto: Augusto". Cl. Tassin chú giải: "Rõ ràng là có chuyện coi mình như thần thánh, mặc dầu bản thân Tiberio vẫn coi mình là một người như mọi người". Nhất là từ thời Caligula, thì các hoàng đế Rôma vẫn hiên ngang đòi cho mình có căn tính thần thánh. Cựu ước đã rò ràng cấm chỉ những hình ảnh phàm trần cùng vì xu hướng thần thánh hoá này. Ðể tôn trọng cái cảm quan tôn giáo này, các nhà cầm quyền Rôma chỉ đúc những đồng tiền không có hình ảnh để dùng trên lãnh thổ Do thái. Nhưng, đối với việc nộp thuế trong đế quốc, thì người ta không tránh khỏi được đồng bạc bất nhân ấy, mà đồng tiền ấy, theo nét trào phúng của câu chuyện, xem ra lại được móc ra từ túi của những người Pharisiêu vốn dĩ rất trung thành với những điều cấm đoán của Luật Chúa" (Phúc âm thánh Matthêu", NXB Centurion, trang 233).

Chúa hỏi họ: "Hình và danh hiệu này là của ai đây". Họ đáp: của César. Và Chúa Giêsu nói lên một câu bất hủ nhưng lại rất hay bị người ta cắt nghĩa sai- khiến những kẻ đối mặt với Người phải hết sức ngạc nhiên": "Thế thì của César, trả về César; của Thiên Chúa, trả về Thiên Chúa? Người không phải là Ðấng Messia mà, để chu toàn công việc của mình, phải nắm lấy quyền chính trị và đảm nhận những trách nhiệm và chức vụ của César. Và bởi vì chính họ đã được tạo dựng giống hình ảnh Chúa, nên Người khuyên nhủ họ hành động sao cho trong mọi sự Thiên Chúa phải được phụng sự trên hết; còn đối với quyền hành chính trị, mặc dầu vẫn hết mực tôn trọng, nhưng khi quyền ấy ngẫu nhiên tự thần thánh hoá mình mà chiếm đoạt luôn cả những quyền chỉ thuộc về Thiên Chúa, thì họ phải lên tiếng phản đối vì: "Của Thiên Chúa, trả về Thiên Chúa"? Không muốn để mình kẹt vào thế lưỡng nan do đối phương bày ra, Ðức Giêsu xác định lập trường của Người và xoay chuyển vấn đề. Nước Thiên Chúa không phải là nước cạnh tranh với nước của César; Nước ấy thuộc về một trật tự khác và nằm ở một bình diện khác, Ðấng Messia không đến để chiếm chỗ của César và thực hiện một sứ vụ thiên sai có tính tôn giáo - chính trị; Người đến thiết lập Nước Thiên Chúa. P. de Surgy kết luận: khi mời gọi người ta trả về César... cái mà thông thường Người.. có thể đòi hỏi theo như trách nhiệm của chính mình và nhất là khi làm cho hiểu rõ bản chất của Nước Chúa cũng như sứ vụ cứu thế của người và khi khẳng định quyển ưu tiên của Thiên Chúa, Ðức Giêsu đem vào quan niệm của Người xưa một sự phân biệt rạch ròi và rất cách mạng: nghĩa là Người làm cho chính trị mất đi tính thần tinh và thánh thiêng, chống lại với mọi xu hướng tôn thờ nó như một ngẫu tượng; người trả chính trị cho chính trị, bằng cách nhìn nhận giá trị của nó và quy cho nó một trách nhiệm riêng. Khi trả chính trị về cho chính trị, Ðức Giêsu không có ý để cho chính trị ở trong một hoàn cảnh trung lập với Phúc âm. "Của Thiên Chúa, trả về Thiên Chúa.Với những lời dứt khoát này Ðức Giêsu kêu gọi ta sống cuộc đời của ta, kể cả đời sống chính trị, trong niềm trung tín với Thiên Chúa, Ðấng đã tỏ mình ra nơi người. Người đòi hỏi đời sống chính trị của ta phải trung tín với những ước vọng và tinh thần Phúc Âm. Người cũng lêu gọi Giáo Hội cũng như cộng đồng đức tin phải nắm giữ, không phải là phận vụ thống trị hay luân lý đối với chính trị, nhưng là vai trò tiên tri về Phúc âm hoá là bằng con đường hoán cải các tâm hồn sẽ đem lại hiệu quả thực sự: sống giữa lòng lịch sử nhân loại Giáo Hội phải dùng đời sống và lời nói mà lặp lại cho César, tiếng gọi của Thiên Chúa hằng sống là và lên tiếng "mời gọi, mời gọi chuyên chăm, và mời gọi không ngừng tất cả mọi người tiếp tay thực hiện những gợi hứng tích cực của Phúc âm trong công cuộc xây dựng thành đô của loài người" (O.C. trang 24).



II. BÀI ÐỌC THÊM
1."Hình tượng này là của ai đây?"

Thánh Augustino bài giảng 24.

Anh em thân mến, Thiên Chúa đòi chúng ta trả lại hình ảnh Người (hình ảnh mà theo đó chúng ta đã được tác tạo) Ðó chính là điều Người muốn nói cho những người Do Thái khi họ đưa Người coi một đồng bạc. Trước hết họ muốn thử Người khi hỏi Người rằng: "Xin Thầy cho biết ý kiến: có được phép nộp thuế cho César hay không để, nếu Người trả lời: được phép, thì họ có thể tố cáo Người là nhục mạ dân tộc Israel vì muốn cho dân thần phục bằng việc đóng thuế và trở thành chư hầu dưới ách thống trị của hoàng đế. Còn nếu Người trả lời là không được phép, thì họ sẽ có thể tố cáo Người tội phát ngôn chống lại hoàng đế César, là căn cớ cho dân chúng từ chối nộp thuế mà họ phải nộp, bởi lẽ người ta đang sống dưới ách của hoàng đế. Ðức Giêsu nhìn thấy mưu mô của họ, như sự thật tìm ra điều gian dối, vì Người đã làm cho họ phải chịt là chính miệng lưỡi họ gian dối. Người không dùng miệng lưỡi mình mà kết án họ, nhưng bắt chính họ phải tuyên án cho mình, như có lời chép rằng: "Vì nhờ lời nói của anh, mà anh sẽ được trắng án, và cũng tại lời nói của anh mà anh sẽ bị kết án" (Mt 12,37). Người nói với họ: "Tại sao các người lại thử tôi, hỡi những kẻ giả hình! Ðưa đồng tiền nộp thuế cho tôi coi!. Họ liền đưa cho Người một đồng bạc. "Hình và danh hiệu này là của ai đây Họ đáp: "Của César". Bấy giờ Ðấng Cứu Thế bảo họ: "Thế thì của César, trả về César; của Thiên Chúa, trả về Thiên Chúa" Cũng như César tìm hình ảnh mình trên đồng tiền thế nào, thì Thiên Chúa cũng tìm hình ảnh của Người-trong hình hồn bạn như vậy. Ðấng Cứu chuộc phán rằng: "của César, trả về César". César đòi bạn trả gì? trả hình ảnh của ông. Chúa đòi bạn trả gì? Hình ảnh Người. Nhưng hình ảnh của César thì in trên đồng tiền, hình ảnh của Thiên Chúa ở trong lòng bạn: Nếu mất đồng tiền khiến bạn phải khóc, vì bạn đã đánh mất hình ảnh César. Thì gây xỉ nhục cho hình ảnh Chúa trong lòng bạn, lẽ nào điều đó lại không hề làm cho bạn phải nhỏ lệ sao?".

2. "Hôm nay đến lượt ta làm chứng Tin Mừng".

(Sổ tay sinh hoạt Ngày thế giới Truyền giáo).

"Năm 180, tại miền đất nay là nước Tunisit có 5 phụ nữ và 7 người đàn ông là nông dân bị bắt vì là những người có đạo Người ta ép họ chối bỏ đức tin và nhìn nhận hoàng đế Rôma là Chúa. Theo án lệnh, một phụ nữ trong đám đáp: "chúng tôi kính trọng César vì là hoàng đế nhưng chúng tôi chỉ tôn thờ Thiên Chúa mà thôi. Tất cả đều bị kết án tử, họ là những vị tử đạo tiên khởi của Bắc Phi.

Họ làm chứng cho lời Chúa mà chúng ta vừa nghe: "Hình và danh hiệu của César, trả về César, vì đồng tiền này là dấu hiệu sự tổ chức xã hội mà con người tham dự nào, tỉ dụ như việc nộp thuế, nhưng con người được tạo dựng theo hình ảnh Chúa (St 1,26-27) và "mang danh hiệu: Con thuộc về Chúa (Is 44,5), nên phải trả về Chúa"... Ðây chẳng qua là một thí dụ xưa rồi, nhưng ta có thể tìm ra vô vàn những mẫu tương đương trong tất cả lịch sử Kitô giáo. Cho tới thời hiện đại... Ðó chẳng phải là kết quả của việc loan báo Tin Mừng, của Lời Chúa được đón nhận có sức làm biến đổi đời sống con người như đã thể hiện nơi Giáo Hội trẻ trung ở Thessalonica mà thánh Phaolô nói tới đó sao? Chính ngài, ngài biết rõ mình được sai đi rao giảng bí ẩn của Thiên Chúa mà Ðức Giêsu đã mạc khải... Nhưng điều làm cho thánh nhân vui mừng là được thấy sống dậy một cộng đồng các người nam nữ mà đời sống của họ được đổi mới nhờ việc họ đón nhận Tin Mừng này. Họ có một lòng tin sống động, một lòng mến tích cực và một lòng cậy trông vững vàng như ta thấy thánh tông đồ nói về họ. Những cộng đồng này, đến lượt mình, trở thành những nhân chứng giúp mở ra những hàng rào xã hội trong đó con người có nguy cơ bị giam hãm. Những cộng đồng này móc nối với cộng đồng kia lần lượt nổi lên như những hoa trái của Lời Ðức Giêsu, tạo thành một chuỗi các mắt xích, đã dần dần thể hiện một sự hiệp thông các Giáo Hội địa phương và đó chính là Giáo Hội của Chúa trong thế giới. Các giáo hội ấy cùng nhau thực thi Lời Chúa "Của Thiên Chúa, trả về Thiên Chúa.

admin
20-02-2011, 01:54 PM
CNTN30
CHÚA NHẬT XXX THƯỜNG NIÊN

VẤN ÐỀ GIỚI RĂN TRỌNG NHẤT
(Mt 22,34-40)



I.VÀI ÐIỂM CHÚ GIẢI:

1.Vấn đề cạn bẫy về "điều răn lớn nhất".

Ba dụ ngôn về xét xử mà chúng ta đã suy niệm trong các Chúa nhật 26,27 và 28 đã chẳng làm cho các kẻ thù địch Chúa phải câm miệng, mà con châm ngòi một loạt các cuộc tranh cãi khác. Họ liên minh với nhau và lần lượt thử Chúa cốt làm cho Người phải rơi vào bẫy của vấn đề họ đặt ra. Trước hết - Phúc âm tuần rồi - là sự xoay sở của đám "môn đệ những người Pharisiêu cùng đi với những người phe Hêrôđê". Họ tới hỏi Chúa một câu, bấm bụng rằng bẫy đặt ra như vậy là không tài nào tránh thoát: "Xin Thầy cho biết ý kiến có được phép nộp thuế cho César hay không". Nhưng Ðức Giêsu chẳng để mình bị kẹt chút nào trong thế lường đao của họ, mà đã chuyển hướng vấn đề, và nhìn vào hình tượng in trên đồng tiền mà họ đưa cho coi Người đã tuyên bố: "Của César, trả về César; của Thiên Chúa, trả về Thiên Chúa". Một câu trả lời đă khiến cho đối phương của Người không nói thêm được câu nào nửa: "Họ ngạc nhiên, và để Người lại đó mà đi". Tiếp đến - đoạn chuyển tiếp không có trong sách Bài đọc năm A - là ngón xoay sở của những người "phe Sadducée'? nhóm này chủ trương "không có sự sống lại". Họ đem câu chuyện kỳ cục về một phụ nữ, có bảy đời chồng, hy vọng chế giễu chính Ðức Giêsu, và lòng tin vào sự sống lại. Nhưng Ðức Giêsu đã nhắc lại cho họ điều Thiên Chúa mạc khải trong câu chuyện về bụi gai rực cháy ở sách Xuất Hành 3,6: Ðấng đã tỏ mình ra với ông Môsê như là "Thiên Chúa của Abraham, Thiên Chúa của Isaac, Thiên Chúa của Jacob. Người không phải là Thiên Chúa của kẻ chết, nhưng là của kẻ sống. Khi nghe tin Ðức Giêsu "đã làm cho nhóm Sadducée phải câm miệng", thì đến lượt những người Pharisiêu trở lại vào cuộc. Nhưng lần này là một nhóm; một người thông luật trong nhóm hỏi Ðức Giêsu để "thử Người" rằng: "Thưa Thầy, trong sách luật Môsê, điều răn nào là điều răn lớn nhất". Nên biết rằng, thời đó, sách Luật gồm, không hơn kém 613 điều răn; các kinh sư phân ra 365 điều cấm (bằng với số ngày trong năm) và 248 điều truyền (bằng với số bộ phận trong cơ thể con người). J.Potin giải thích: "Cuộc tranh luận về điều răn nào lớn nhất tạo nên mối xung khắc giữa những người Pharisiêu chủ trương 613 điều răn đều quan trọng như nhau, với những ai ước mong phải có tôn ti đẳng cấp, rõ hơn có thể giải thích cho người ngoài biết đâu là điều cốt yếu là bản chất của đạo". (Ðức Giêsu, lịch sử đích thực", NXB Centurion, 1994, trang 376).

2.Dẫn vào điểm cốt lõi của Tân Ước.

Ðức Giêsu đã trả lời thật khôn khéo vấn đề của những người Pharisiêu về việc nộp thuế cho César - Người đã trích dẫn Lời Chúa để phá vỡ mưu đồ của những người phe Sadducée. Còn về giới răn lớn nhất, thì câu trả lời Người là thẳng thắn, không do dự, nhắm thẳng đích. Ðức Giêsu không nhắc nhở họ về lời ban bố của sách xuất Hành, đoạn 20: Mười Ðiều răn Ðức Chúa Trời. Người trích dẫn hay đúng hơn, Người đọc thuộc lòng lời tuyên xưng lòng tin của sách Ðệ Nhị Luật 6,4-5 mà mọi người Do Thái vẫn đọc khi đi ngủ cũng như khi thức dậy; lời này được ghi trên các thẻ linh mà những người Pharisiêu vốn đeo trên trán là trên cánh tay một lời khẳng định tính cách duy nhất của Thiên Chúa mà theo sau là giới răn yêu mến Thiên Chúa, một tình yêu phải thấm nhập vào tận đáy lòng, sức lực và ý nghĩ: "Nghe đây, hỡi Israel, Ðức Chúa, Thiên Chúa chúng ta, là Ðức Chúa duy nhất. Hãy yêu mến Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh em, hết lòng, hết dạ, hết sức anh em...? Nhưng điểm độc đáo của Ðức Giêsu là Người gắn liền "điều răn thứ nhất" này với điều răn thứ hai cũng giống điều răn ấy": "Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình" (Lv 16,18). Làm như vậy không những Người diễn tả được "Tất cả Luật Môsê và các sách Ngôn sứ nghĩa là tập trung tất cả vào hai giới răn đứng đầu này, không có vậy thì mọi điều răn khác đều mất hết ý nghĩa, nhưng Người còn tỏ cho thấy bí quyết của chính cuộc đời Người, một cuộc đời tự hiến vì yêu mến Cha và yêu thương các anh em của Người. Cl Tassin chú giải: "Hai điều răn này chi phối toàn bộ Kinh Thánh (Luật Môsê và sách Ngôn sứ) không phải để bãi bỏ Kinh Thánh, nhưng là để đọc Kinh Thánh mà thấy rõ hơn. Và, trong Kinh Thánh, lòng yêu mến không dính dáng gì với thứ tình cảnh bồng bột, đổi thay tuỳ cảm xúc; lòng yêu mến đây chính là sự quyết định gắn bó với một ai đó mà mình cho người ấy có quyền trên mình và là những hành động cụ thể nuôi dưỡng quyết định này... không bao lâu nữa Ðức Giêsu sẽ dùng cuộc khổ nạn của Người "và chứng tỏ rằng Người là hiện thân chính lòng yêu mến Thiên Chúa là lòng yêu thương mọi người này" ("Phúc âm thánh Matthêu", NXB Centurion, trang 236).



II. BÀI ÐỌC THÊM

1."Một lời để ghi nhớ: Ngươi phải yêu mến" (Giám mục L. Daloz "Le Règne des Cieux sest approché". Desclée de Brouwer, trang 309-311).

Ðúng là hai điều răn: điều răn thứ nhất là điều răn lớn. Ðiều răn thứ hai cũng quan trọng không kém. Có nghĩa là những giới răn ấy không cho phép ta tuỳ thích. Tình yêu mà những giới răn ấy nói tới, đối với Thiên Chúa cũng như đối với tha nhân không phải là một thứ tình cảm trôi nổi tuỳ theo tính khí của ta. Tình yêu là một sự cam kết lớn lao, một sự dâng hiến chính mình, hiến mạng sống mình. Tình yêu không dừng lại ở nửa đường, mà đi cho tới cùng giống như đám lửa cháy. Giới răn ấy khơi dậy tình yêu khi mà thường tình và một cách tự nhiên tính lãnh đạm hay chối từ có nguy cơ thống trị. Giới răn ấy là như tia lửa làm bùng lên đám cháy, giới răn ấy nâng đỡ tình yêu khi nỗi chán chường hay thói quen sẽ làm cho tình yêu ra nguội lạnh hoặc tàn lụi. Giới răn ấy làm bừng lên nhuệ khí khi tình yêu chân thực đòi hỏi nhiều hy sinh, quên mình... Nhờ tương phản và hỗ trợ giữa tình yêu và giới răn này mà đời sống ta được thăng tiến! Giới răn yêu thương có hai mặt hai mặt mà không tách biệt nhau như mu và lòng bàn tay: Ðiều răn thứ hai cũng giống, cũng quan trọng như điều răn thứ nhất, là: "ngươi phải yêu người thân cận, như chính mình". Chỉ có một mình Chúa là Ðấng ta phải yêu mến cách tuyệt đối, hơn cả chính mình ta, hết lòng, hết linh hồn và hết tn khôn ta. Khi yêu mến Chúa hết mình, vượt khỏi chính mình, ta được vào trong tình yêu Chúa ban tặng, được sống trong tình yêu của Người, lòng ta mở ra hướng về vô biên, và con người được tạo nên cho cõi vô biên, bởi lẽ Thiên Chúa muốn thông phần sự sống của Người cho con người, muốn thần hoá con người! Còn về người thân cận, Ðức Giêsu truyền phải yêu người thân cận, như chính mình. Ðây không phải là một sự so sánh bình thường, mà còn hơn thế nữa. Không chỉ đơn giản là muốn và làm cho người thân cận điều ta muốn cho ta. Ðức Giêsu đã đưa ra một điểm son, một khuôn vàng thước ngọc: "Vậy tất cả những gì anh em muốn người ta làm cho mình, thì chính anh em cũng hãy làm cho người ta, vì Luật Môsê và lời các Ngôn sứ là thế đó" (Mt 7,12). Giới răn thứ hai thật minh bạch và đi xa hơn. Giới răn ấy đòi ta yêu mến người thân cận như người ấy là chính ta, là ta đồng hoá với người ấy. Nó diễn tả một sự hiệp thông giữa hai hữu thể, giữa hai cuộc sống, giữa anh em trong một nhà, trong một gia đình Thiên Chúa. Nếu tôi không yêu mến người thân cận của tôi, nếu tôi khinh chê người ấy, chính là tôi gây thiệt hại cho bản thân tôi. Yêu người thân cận như chính mình, chính là tôi dành cho tôi một tình yêu tuyệt vời... Thế nên, và nhất là có điều răn ấy, thật là điều hạnh phúc! Bởi lẽ khi tôi yêu mến người giống như tôi, người mà tôi nhận ra tôi nơi con người ấy, thì tôi cũng được người ấy đáp lại bằng lòng yêu mến tự nhiên, bằng mối thịnh tình theo nghĩa mạnh nhất, còn nếu theo bản năng tôi ngờ vực một người, thì người ấy có thể trở thành một đối thủ, một người cạnh tranh, một kẻ thù của tôi. Lịch sử từng minh chứng những biến cố thật lớn lao đượm tình huynh đệ, cũng như những cuộc bùng nổ dữ dội nhất từng châm ngòi cho thù hận giữa con người.

Ðiều răn thứ hai quả là cần thiết, và rất cần thiết nên Ðức Giêsu mới dùng tất cả những lời lẽ trang trọng mà tuyên bố là điều răn ấy cũng giống như điều răn kia, cũng quan trọng không kém. Người đã đặt con người vào đúng tước vị của nó là hình ảnh và là con Thiên Chúa? Quả thực, đây cũng là điều đơn giản và chắc chắn Chúa muốn ta tham khảo... Yêu mến thế nào, thường là điều phức tạp; bạn phải tìm kiến, nhận thức rõ, kiểm soát những tình cảm tốt xấu của bạn, chứ không được miễn trừ. Bạn hãy luôn luôn phải tìm xem để yêu mến thế nào cho đúng sự thật; cần được học hỏi về điều này. Nhưng nếu bạn có một ý chí muốn yêu thương, nếu để cho ngọn lửa của Thánh Linh điều động cuộc đời bạn, thì bạn sẽ thấy con đường phải đi và phương cách để làm. Bạn hãy tìm kiếm hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn bạn. Bạn hãy tìm kiếm như cho chính rình. Thì bạn sẽ gặp...!

2. "Một từ tóm tắt tất cả Phúc Âm: yêu mến" (H. Denis "100 mots pour dire la coi" Desclée de Brouwer, trang 31-32).

Khi nói đến yêu, tôi vốn thích dùng động từ Yêu mến, nó có tính cách chủ động và tích cực, hơn là dùng từ Tình yêu một từ rất đẹp nhưng cũng rất dễ bị phê phán.

Làm sao có thể là tín hữu mà lại không yêu mến?

Làm sao có thể nhận biết Thiên Chúa của chúng ta nếu Người không phải là Ðấng yêu mến chúng ta? Nhưng vậy thì có nhiều cách yêu mến 'không" Chắc hẳn là có rồi, nên trong vấn đế này, tôi vẫn cứ theo gót" nhà sư phạm trứ danh là thánh Augustino. Ngài phân biệt ba trình độ trong hành vi yêu mến.

Trình độ thứ nhất, thấp nhất, không có ý nói là xấu nhất: Thích được yêu (aimer tre ai mé). Bạn hãy nói cho tôi hay, có ai mà lại không thích điều đó không? Phải là con người hư hỏng môi dám nói ngược lại. Mọi người đều như vậy thôi... nhưng cuộc sống cũng đã dạy cho ta rằng tình yêu còn phải là cái gì khác hơn là niềm khoái chí (tự tôn kia).

Trình độ thứ hai: Thích yêu (aimer aimer). Ta hãy tạm dịch ở đây là: lấy làm vui khi yêu mến người khác. Ở bậc này, người ta có ra khỏi mình một chút, có quảng đại có vị tha. Chúa ơi, thật vui và đẹp biết bao khi làm được một việc thêm khi xả thân, và đôi khi đi tới chỗ đóng vai con chim bố nông tự để cho con da thịt mình. Ngay ở điểm này, ai lại không muốn nhận khen thưởng chúng. Bạn hãy nói cho tôi hay bạn có đủ can đảm để đi thăm một 'bệnh nhân nào đó, di uỷ lạo một cảnh khốn này, chẳng tìm thấy được ở đó một điều gì khích lệ chăng? Nhưng bạn hãy coi chừng. Tất cả thái quá trong lãnh vực này - quảng đại thái quá - có lẽ là một hình thức tự tôn tự đại của lòng yêu mến chính mình đó thôi. Còn trình độ thứ ba: Yêu (aimer). Có thế thôi. Yêu mến người khoe vì chính họ, không phải vì ta làm điều tốt cho họ, không phải vì làm cho nhân đức của ta lớn lên. Không phải thế, bởi lẽ xét cho cùng, người ta không yêu mến vì... Ta yêu là yêu thôi. Ðó mới là đỉnh cao của "tình cho không, biếu không". Hãy nhìn nhận điều này: Ta chẳng mấy khi đạt tới trình độ đó. Chỉ có một vị đã hiến thân chỉ vì yêu mà thôi, một Ðức Giêsu ấy muốn lấy bản tính nhân loại của ta, một Ðức Giêsu ấy mới ban cho ta Thần Linh tình yêu, khi Người tắt thở, một Ðức Giêsu ấy mới có thể sáng nghĩ ra nhân vật Samaritano nhân lành yêu thương mà không đòi đáp trả và hình dung ra một người Cha đang mở rộng vòng tay đón nhận đứa con đi hoang trở về. Nếu phải cần đến một từ để tóm tắt cả Phúc âm, đó là: Yêu mến.

admin
20-02-2011, 01:55 PM
CNTN31
CHÚA NHẬT XXXI THƯỜNG NIÊN

TRONG HỘI THÁNH, CHỨC VỤ LÀ ÐỂ PHỤC VỤ, THEO GƯƠNG ÐỨC GIÊSU TÔI TỚ (Mt 23, 1-12)



I.VÀI ÐIỂM CHÚ GIẢI:

1.Thi hành chức vụ.

Thay vì làm cho những đối thủ của Ðức Giêsu im tiếng, ba dụ ngôn về ngày chung thẩm mà chúng ta đã suy niệm trong các ngày Chúa nhật thứ 26, 27 và 28, lại làm nổ ra một loạt những tranh luận, trong đó bọn họ bắt tay nhau và thay phiên nhau giăng những cạm bẫy hòng để Ðức Giêsu mắc vào. Trước hết, trong Phúc âm Chúa nhật thứ 29, là mưu mô của "môn đệ nhóm Biệt phái và những người thuộc phe Hêrôđê": "Có nên nộp thuế cho hoàng đế hay không. Họ nêu lên câu hỏi, chắc ăn là sẽ bắt được con tôm. Nhưng Ðức Giêsu chẳng dại gì để mình rơi vào thế lưỡng nan, Người chuyển hướng vấn đề, và dựa vào hình khắc trên đồng tiền người ta trao cho, Ðức Giêsu tuyên bố: "Hãy trả cho César những gì thuộc về César, và trả cho Thiên Chúa những gì thuộc về Thiên Chúa". Một câu trả lời làm cho những kẻ hạch hỏi phải im tiếng: "Mọi người đều sửng sốt và rút lui". Thứ đến, một đoạn không có trong bài đọc năm A, là thủ đoạn của những người thuộc phái Sadducée, "những kẻ không tin có sự sống lại". Bằng câu chuyện tưởng tượng về một người đàn bà với bảy đời chồng, họ nắm chắc phen này sẽ giễu cợt được Ðức Giêsu và niềm tin vào sự sống lại. Nhưng Ðức Giêsu bắt họ phải quay về với mặc khải của Thiên Chúa trong câu chuyện bụi gai bốc lửa trong sách Xuất Hành, chương 3: Người là Ðấng tự xưng mình là "Thiên Chúa của Abraham, Thiên Chúa của Isaac, Thiên Chúa của Giacob, không phải là Thiên Chúa của kẻ chết, mà là Thiên Chúa của người sống.

Nghe tin Ðức Giêsu đã "khoá miệng những người Sadducée", các ông Biệt Phái lại tấn công Chúa. Lần này họ kéo đến cả nhóm: Thưa Thầy-một người trong bọn họ, một tiến sĩ luật, lên tiếng vạn hỏi Chúa- điều răn nào là điều quan trọng nhất. ("Ðức Giêsu đã trả lời bằng cách liên kết chặt chẽ hai giới luật mến Chúa và yêu người. Người kết luật: "Tất cả sách Thánh, gồng Lề- luật là các Ngôn sứ, đều tuỳ thuộc vào hai điều răn ấy. Các đối thủ của Chúa, sau khi đã ê chề với kết cục của ba cuộc tranh luận, không còn dám hạch hỏi Chúa điều gì nữa". Ðức Giêsu đã lật ngược thế cờ, chính những kẻ giăng bẫy để kết tội Chúa nay lại bị Người vạch tội. Người không hề có ý xem thường quyền bính của những bậc "ngự toà Môsê" và nắm giữ nhiệm vụ giải thích lề luật, nhưng chỉ muốn vạch trần cho họ thấy sự bất nhất giữa cái nói (giáo huấn) và cái làm của họ: "Họ chỉ biết nói mà không làm". Lợi dụng quyền giải thích Luật của Môsê, họ chất trên vai kẻ khác những gánh nặng mà bản thân họ không hề đụng vào. Hoàn toàn trái ngược với Ðức Giêsu, người "chu toàn" Lề Luật, nhưng lại tỏ ra dịu dàng, ân cần đối với những ai phải mang gánh nặng nề (Mt11,28-30). Cho mình là mẫu mực của thiên hạ - có thể họ chân thành nghĩ thế - "họ luôn làm mọi việc tốt để cho mọi người thấy". Họ lo tô điểm cái vỏ bên ngoài - vỏ đạo đức vỏ địa vị xã hội- hơn là làm sao để lời nói và việc làm của mình đi đôi với nhau.

"Hộp kinh": Ðó là những túi da đựng những đoạn Kinh Thánh mà mọi người Do Thái đạo đtíc thời đó cũng như nay thường mang trên cánh tay trái và trên trán của mình mỗi lần cầu nguyện. Vì sợ người ta thấy không rỏ, nên họ đã nới những hộp kinh này ra quá khổ. "Tua áo": Ðó là những chùm len may ở bốn góc của áo ngoài mà những người Do Thái ngoan đạo thời đó cùng như Ðức Giêsu, đã mang và ngày nay cũng thế, để thường xuyên nhớ đến các giới răn của Chúa. Những tua áo ấy cũng có kích thước quá phô trương. Danh vọng, địa vị là những thứ họ đặc biệt thèm khát: Họ há ngồi cỗ nhất trong đám tiệc, chiếm hàng ghế đầu trong hội đường, và được người ta chào hỏi ở những nơi công cộng là được thiên hạ gọi là ráp bi.

2.Ðể phục vụ theo gương Ðức Giêsu:

Khi viết Phúc âm, vị thánh sử muốn kể lại những câu chuyện về Ðức Giêsu, bằng cách thời sự hoá chúng lại cho các cộng đoàn Kitô hữu hôm nay đang sống trong những năm 80. Những cộng đoàn ấy đang gặp chống đối và bách hại từ phía hội đường Do thái, những cộng đoàn ấy đang có nguy cơ bị lay nhiễm virút Biệt phái, và một số người có trách nhiệm trong đó đang mở ra cho thấy một thứ tinh thần kẻ cả rỗng tuếch. Thánh Matthêu cũng thế, sau khi đã gom góp những lời của Ðức Giêsu nói với các luật sĩ và biệt phái giả hình ('!họ"), ông liền thuật lại những điều Chúa dạy nhằm xác định đâu là những nét đặc thù của việc thi hành quyền bính trong cộng đoàn "các môn đệ" của người. Ðó là:

Tình huynh đệ: "Tất cả anh em đều là anh em với nhau". "Anh em" là từ thông dụng nhất xuyên suốt cả Tân ước, để gọi thành viên của cộng đoàn Kitô hữu, nghĩa là của gia đình Hội Thánh. Do đó phải dứt khoát loại trừ tính kẻ cả, tinh thần tự mãn, làm cho những ai đang thi hành một tác vụ hay một chức năng trong Hội Thánh quên đi họ cũng chỉ là một người anh em giữa các anh em của mình. Lòng đơn sơ: "Anh em chỉ có một Vị Thầy là Ðức Kitô anh em chỉ có một Cha, Ðấng đang ngự trên trời"? những danh xưng mà người ta có thể dành cho những vị có trách nhiệm trong cộng đoàn Hội Thánh, không bao giờ được phép che khuất tính cách là con một Cha duy nhất mà người Kitô hữu tuyên xưng, tư cách của các vị lãnh đạo trong Hội Thánh bắt buộc phải là một hiện diện phục vụ, và hoàn toàn là một phản ánh trong suốt về Ðấng Duy Nhất ("Assemblées du Seigneur, số 62, trang 31). Tinh thần phục vụ: Người lớn nhất trong anh em, phải là người phục vụ. Mọi chức vụ trong Hội Thánh từ nay đều phải được thi hành theo gương Ðức Giêsu là Thầy và là Chúa, nhưng lại "hạ mình xuống" và làm đầy tớ phục vụ các anh em của Người (cf. Rửa chân các môn đệ)



II. BÀI ÐỌC THÊM:

1."Một trách nhiệm phục vụ". (L.Daloz, trong "Le règne de Diêu s'est approché", Centurion, trang 315).

Ðức Giêsu khiển trách những người Luật sĩ và Biệt phái vì họ tự cho mình hơn kẻ khác, và muốn tỏ mình ra hơn kẻ khác: họ nới rộng hộp kinh, nối dài tua áo, nghĩa là họ muốn những thứ đó của họ phải nổi bật hơn của người... Họ muốn khoe mình đạo đức, sốt sắng với Chúa và với lề Luật hơn; Họ ưa ngồi cỗ nhất trong đám tiệc, chiếm hàng ghế đầu trong hội đường, thích được người ta chào hỏi giữa nơi công cộng và được thiên hạ gọi là "ráp bi"... Lời mô tả của Ðức Giêsu thật rõ ràng, dễ sợ, không bỏ qua điều gì. Ngược lại, chúng ta hãy nghe những gì Người căn dặn các môn đệ: đừng đễ ai gọi mình là "ráp bi", đừng gọi ai dưới đất là cha, đừng để ai gọi mình là người lãnh đạo. Ở đây cũng thế: tất cả đều rõ ràng! Dĩ nhiên chúng ta không nên hiểu theo nghĩa sát mặt chữ: nếu như thế lại phải thêm dài dài không biết bao nhiêu danh xưng khác nữa mới đủ! Tuy vậy, điều rất quan trọng các môn đệ của Ðức Giêsu không bao giờ được quên, là đừng để mối tương quan giữa họ với nhau rập khuôn theo kiểu tương quan của xã hội họ đang sống. Cách con người liên hệ với Thiên Chúa luôn ảnh hưởng tới tính chất của mối liên hệ giữa người với nhau. Nó cho thấy rằng mọi địa vị của con người, mọi chức vụ trong xã hội và cả trong gia đình, mọi trách nhiệm... đều phải ở trong thế hệ thuộc với một Ðấng vừa là Tạo Hoá vừa là Cha của mọi người. Và không một thứ quyền bính nào có giá trị nếu không qui chiều về người: Thử hỏi nhân danh cái gì một con người tư cho mình ở bên trên một con người khác, cũng mang hình ảnh Thiên Chúa như mình, đòi kẻ đó phải phục vụ và vâng lời mình? Bởi chỉ có một Thầy, một Cha, và một Người Cha Ðạo duy nhất! Và do việc chúng ta chỉ có Thiên Chúa là Cha, nên tất cả loài người chúng ta đều bình đẳng như nhau trong cùng một nhà: "Tất cả anh em đều là anh em với nhau!". Quyền bính, chức cả, đều chỉ là những trách nhiệm phục vụ. Chỉ trong phục vụ, chúng mới có lý do tồn tại: "Kẻ làm lớn trong anh em sẽ là người phục vụ. Chúng ta có thể là những danh hiệu của tình yêu; là ánh phản chiếu chính uy quyền và sự cao cả của Thiên Chúa. Ðức Giêsu đã cho thấy rõ điều đó khi Người hạ mình xuống làm người đầy tớ đau khổ và vâng phục. Mẫu gương đó của Chúa đã từ nay trở nên qui luật cho mối tương quan giữa các môn đệ với nhau: "ai treo mình lên sẽ bị hạ xuống, còn ai hạ mình xuống, sẽ được tôn lên".

2. "Ở bên các gia đình đang gặp tang chế:một sứ mạng của Hội Thánh, một phục vụ huynh đệ" (do một nhóm thành viên cộng tác thuộc giáo phận về mục vụ bí tích và phụng vụ của vùng truyền giáo phía Tây, trong "Vers la lumière" (CRER, Angers).

"Ai có trách nhiệm?"

"Tất cả mọi người thuộc cộng đoàn Dân Chúa đều phải ý thức trách nhiệm của mình trong việc cử hành an táng. Tất cả không cùng một danh nghĩa như nhau, nhưng mỗi người có phần mình tuỳ hoàn cảnh và tuỳ chức vụ của mình (...). Cả cộng đoàn nói chung cũng có vai trò của nó" ("Nouveau rituel aes funềrailles", Desclée ma me, N.5). Cả cộng đoàn được mời gọi làm chứng về niềm hy vọng và niềm tin của mình vào sự phục sinh. Vấn đề không phải là tìm cách đưa người giáo dân thế chỗ của linh mục, nhưng làm sao để họ hợp tác vào việc trình bày một Hội Thánh tôi tớ.

1.Hai thái độ phải có: Một hiện diện huynh đệ: Khi có người qua đời trong khu xóm, trường học, thôn làng, nhà máy... của mình, chẳng lẽ người Kitô hữu chúng ta không biết đến hiện diện, một cách thực tế, và đầy kính trọng sao? Mối liên hệ đơn sơ giữa người với người, sự quan tâm chân thành đến người khác, có khả năng làm dịu đi nỗi đau thương của cái chết. Ðến đó, hiện diện và thinh lặng bên những con người đang đau khổ. Lắng nghe tiếng thở than, mỗi tức tươi sự câm nín của họ. Ðây không phải là lúc để diễn thuyết hay dạy đời, nhưng là cơ hội để hiệp thông và đồng cảm, theo nghĩa trọn vẹn của nó.

2. Một chứng tá: Sự hiện diện như thế sẽ làm sáng tỏ giá trị của mọi cuộc sống, và làm chứng về sự trân trọng của Hội Thánh đối với tất cả những gì làm nên lịch sử của một đời người.

Những vai trò khác nhau: Tình trạng giảm sút số linh mục, sự nhìn nhận chỗ đứng của những người dã chịu phép thanh tẩy, ý thức về tính cộng đoàn trong mục vụ tang lễ, mời gọi mọi phần tử trong cộng đoàn Kitô hữu phải làm tròn nhiều vai trò khác nhau... trước khi cử hành (...) đang lúc cử hành (...) sau cử hành (...) Sự ra đi của một người thân, một người bà con, một người hàng xóm hay một người bạn luôn là một biến cố đau thương. Người Kitô hữu trong cùng khu xóm đó không được phép tỏ ra hờ hững. Công tác mục vụ an táng của Hội Thánh là một yếu tố quan trọng cho việc loan báo Tin Mừng hôm nay. Tham dự vào lễ nghi an táng không phải là chuyện chẳng đặng đừng ở đời, nó là một phần của ơn gọi của những ai đã lãnh nhận phép Thanh Tẩy. Do đó khi ở bên những tang gia trong lúc bối rối, các Kitô hữu đang thi hành sứ mạng của họ: trong Hội Thánh. Có lẽ cần khẩn trương lên một kế hoạch đào tạo và thông tin cho các cộng đoàn Kitô hữu, sao để hình thành được những nhóm phụ trách tang lễ".

admin
20-02-2011, 01:56 PM
CNTN32
CHÚA NHẬT XXXII THƯỜNG NIÊN

DỤ NGÔN 10 CÔ TRINH NỮ ÐƯỢC MỜI DỰ TIỆC CƯỚI (Mt 25, 1-13)



I.VÀI ÐIỂM CHÚ GIẢI:

1.Một dụ ngôn gởi đến những thính giả Do thái ngày xưa:

Bài Tin Mừng của ngày Chúa nhật thứ 32 hôm nay lấy trong diễn từ thứ 5 của Ðức Giêsu, "diễn từ về thời cánh chung". Ðức Giêsu đã từ chối trả lời câu hỏi của các môn đệ: "khi nào những sự việc ấy sẽ xảy ra. Bù lại, sau khi kể ra những dấu hiệu báo trước biến cố, Người ân cần giải thích cho họ phải chuẩn bị trước như thế nào: Năm dụ ngôn về sự tỉnh thức là những minh hoạ cho điều đó.

Trước hết, Chúa dùng câu chuyện lụt đại hồng thuỷ và ông Nôe để so sánh (Mt 24,37-42): "Họ không hay biết gì, cho đến khi nặn hồng thuỷ ập tới cuốn đi hết thảy. Ai nấy chỉ lo chuyện đời: "thiên hạ vẫn ăn uống, cưới vợ lấy chồng", Họ không muốn biết rằng Thiên Chúa có thể thi hành việc xét xử ngay giữa cuộc sống hiện tại này. Một mình Nôe đã biết chuẩn bị cho tai hoạ sắp đến.

Tiếp đến, Chúa kể dụ ngôn về kẻ trộm đêm, Người quả quyết: "nếu chủ nhà biết vào canh nào kẻ trộm sẽ đến, nên ông đã thức, không để nó khoét vách nhà mình đâu. Và kết luận: "Cho nên anh em cũng vậy, anh em hãy sẵn sàng, vì chính giờ phút anh em không ngờ, thì Con Người sẽ đến". Sau đó Chúa móc nối với dụ ngôn người đầy tớ trung tín để tuyên bố: "Phúc cho đầy tớ ấy nếu chủ về mà thấy anh ta đang làm như vậy!

Ðức Giêsu tiếp tục kể tới dụ ngôn mười cô trinh nữ được mời dự tiệc cưới. Bối cảnh của câu chuyện chẳng xa lạ gì đối với các thính giả của nó: một tiệc cưới như thường xảy ra ở Palestine thời đó:

Như người ta thường biết, cô dâu phải ở tại nhà cha mẹ, chờ chú rể cùng với bạn bè đến rước.

Khi chú rể đến một cách long trọng để tìm đón cô dâu về nhà mình, nơi sẽ diễn ra nghi thức chúc hôn và tiệc cưới, có một đám rước tưng bừng ra đón chàng với đèn đuốc sáng trên tay, rồi sau đó cùng với chàng tiến vào tận phòng tần hôn. Dụ ngôn của Ðức Giêsu được Matthêu thuật lại gồm 3 hồi và một màn kết:

Hối l: màn mở với cảnh mười cô trinh nữ "được mời dự tiệc cưới". Cầm đèn "ra đi đón chú rể". Nhưng chú rể đến trễ, nên các cô "thiếp đi rồi ngủ cả".

Hồi 2: Câu chuyện đang mở màn một cách tốt đẹp, bỗng sang một khúc quanh bi đát, khi thình lình "nửa đêm có tiếng la lên: kìa chú rể, ra đón đi". Lúc này xảy ra một sự tách biệt giữa nội bộ các cô. Một bên, gồm năm cô được gọi nào là "biết phòng xa", "thận trọng", "khôn". Trong Thánh Kinh, đức tính này không chỉ sự khôn khéo theo kiểu người đời cho bằng một sự sáng suốt trong hành động, một cách thực tiễn, đối với ý định của Thiên Chúa. Ðược kể là "khôn" những ai ý thức được tính khẩn trương của ngày giờ, và biết ứng xử phù hợp. Năm cô gái này "vừa mang đèn, vừa mang dầu theo". Họ lập tức sẵn sàng, đèn trong tay cháy sáng, để nhập vào đám rước đi đón chú rể và đám bạn bè của mình. Bên kia là năm cô được gọi là "dại". Trong Thánh Kinh, tính từ này không chỉ sự bất cẩn, lơ đễnh, cho bằng một thái độ quên lãng đối với Thiên Chúa: được xem là "dại" kẻ nào lạc xa con đường của Thiên Chúa. Cả năm cô này mang đèn mà không mang dầu theo. Các cô nửa chừng bị thiếu dầu vì chú rể đến trễ và bất ngờ. Do không thể xin các chị em khác chia dầu cho, bởi chẳng ai có thể tỉnh thức dùm ai, nên họ phải nửa đêm đi đánh thức chủ tiệm dậy bán dầu cho. Nhưng đi rồi trở về thì đã quá trễ?

Hồi 3: Ðám rước đã vào trong phòng cưới. Cửa đã đóng lại và sẽ không mở ra nữa. Các cô khi ấy mới năn nỉ: "Thưa ngài, thưa ngài! mở cửa cho chúng tôi' với!, nhưng vô ích. Chỉ có tiếng trả lời: "Tôi bảo thật các cô, tôi không biết các cô!. Thật trùng hợp lạ lùng với câu của Ðức Giêsu trong Bài Giảng trên núi: "Ðến ngày đó, nhiều người sẽ thưa với Thầy rằng: Lạy Chúa, lạy Chúa... Bấy giờ thầy sẽ tuyên bố với họ: Ta không hề biết các người" (Mt 7,22-23).

Màn kết: với lời khuyên: "Vậy anh em hãy canh thức, vì anh em không biết ngày nào, giờ nào". Các thính giả của Ðức Giêsu là những người rất rành Kinh Thánh, không thể lầm vào đâu được: dụ ngôn với bối cảnh một bữa tiệc cưới này gợi nhớ đến giao ước của Thiên Chúa với Dân Người (cf. Ed 16,l-43.49-63)."Qua hình ảnh các trinh nữ này, J.Potin nhận định, Ðức Giêsu nhắm đến tập thể những người Do Thái đang mong đợi Ðấng Cứu Thế. Nhưng ơn cứu độ đòi phải chờ đợi Dân Chúa đã thiếp ngủ về một thiêng liêng. Nhưng này thời cứu thoát đã đến. Người ta phải mau chóng đáp lại lời loan báo Tin Mừng, phải nhập vào đám rước đang ngang qua. Ðể vài giờ nữa thì không thể kịp. Khi gởi gắm lời kêu gọi tối hậu của Thiên Chúa, Ðức Giêsu muốn dành dân Israel, đám dân cũ ở Giêrusalem, các vị lãnh đạo tôn giáo. Nếu họ chối từ lời loan báo ơn cứu độ này họ sẽ không thể được gia nhập Nước Trời! Cả một tai hoạ nghiêm trọng sẽ dành cho họ trong tương lai (Jésus l'histoire vraie", Centurion, trang 383).

2.Một dụ ngôn gởi đến những Kitô hữu chúng ta hôm nay:

Dụ ngôn mà Ðức Giêsu gợi ra cho các thính giả Do Thái của Người suy tư, vẫn có giá trị cho mỏi thời, cả cho thời chúng ta nữa. Ðược Matthêu đưa vào trong diễn từ dài sau cùng của Phúc âm ông, khi được gởi đến cho cộng đoàn Kitô hữu, nó trở thành một lời kêu gọi thôi thúc phải tỉnh thức, vì loài người chúng ta không thể biết trước "giờ" chú rể đến, "ngày" Chúa trở lại. Cl Tassin nhận xét: "Ðể được dự bữa tiệc có một không hai này, được mời mà thôi không đủ, còn phải chuẩn bị sẵn sàng nữa". Cũng như mười cô phù dâu ở đây, được mời không có nghĩa đương nhiên được vào dự tiệc cưới, thì tự xưng mình là Kitô hữu thôi cũng chưa đủ Do đó phải khẩn trương chuẩn bị đón Chúa trở lại. Ðến ngày đó, Ðức Giêsu chỉ "nhận ra" thuộc về Người những ai, trong lúc tích cực mong chờ Người, biết thi hành ý muốn của Chúa Cha; như thế mới là "người khôn", theo nghĩa của Kinh Thánh. Cl Tassin viết tiếp: "Kitô hữu không phai là kẻ bị ám ảnh bởi ngày tận thế sắp đến. Bổn phận của họ là phải luôn sẵn sàng sống đức tin của mình giữa dòng thời gian, phân biệt với những kẻ chỉ biết có hiện tại trước mắt: chính đây là điểm mà trên đó Thiên Chúa sẽ phán xét loài người. Lối sống say sưa với hiện tại, kiếm dư thừa phải phiếm không cần biết trước sau đôi khi lại lấn át mà năng ý thức đúng đắn về hiện tại, biết rút ra những bài học từ quá khứ, biết sửa soạn cho tương lai. Hiểu như thế thì dụ ngôn mới thể hiện được hết sức tra vấn của nó.

Dụ ngôn về lụt đại hồng thuỷ trình bày cho thấy sự phán xét của Thiên Chúa ập xuống nghiệt ngã ngay giữa dòng đời thường của con người. Dụ ngôn kẻ trộm đêm kêu gọi phải tỉnh táo trước mọi thứ bất ngờ không hẹn trước. Và dụ ngôn về người đầy tớ trung tín nêu rõ tinh thần vâng phục chủ phải là hành hồn của thời gian đợi chờ. Hội Thánh sống với niềm mong đợi ngày cánh chúng ở cuối chân trời, nhưng cuộc phán xét đã bắt đầu hôm nay, trong những lựa chọn của đời sống hằng ngày" ("l'evangile de Matthieu", Centunon, trang 259-260).


II. BÀI ÐỌC THÊM
1."Hãy chong đèn sáng" (Mgr. L.Daloz, trong "Le Règne des cieux s'est approché, Desclée de Brouwer, trang 335- 336).

"Việc loan báo Chúa đến không có mục đích hù doạ chúng ta, hay bắt chúng ta phải chờ đợi trong sợ hãi kinh hoàng. Thiên Chúa đến trễ không có nghĩa Người tìm chích bắt chợp chúng ta. Người không rình mò bắt tội bắt lỗi con người để trừng phạt! Người là Cha, người Cha nhân từ chỉ muốn mọi người được cứu độ" (1Tm 2,4). Người ban cho chúng ta thì giờ vì lợi ích cho chúng ta, để chúng ta biết sử dụng cho nên. Thời gian cho sự kiên nhẫn đợi chờ của Thiên Chúa cũng là thời gian cho sự bền đỗ của chúng ta, thời gian của lịch sử chúng ta, là cơ hội cho chúng ta huấn cải đổi đời, sám hối trở về. Chúng ta phải biết cảm tạ Thiên Chúa về món quà thời gian ấy, và chính chúng ta cũng phải biết nhẫn nại đối với người khác như Thiên Chúa, cầu nguyện cho mọi người, để thông hiệp vào trong lòng nhân hậu và tình thương bao la của Thiên Chúa. Phải biết tận dụng thì giờ, phải hiểu lý do tại sao ông chủ về trễ! Chúng ta thấy các cô trinh nữ khôn ngoan, có vẻ ích kỷ quá: khi chú rễ đến, họ từ chối không chịu chia chút dầu cho các cô kia: "Sợ không đủ cho chúng em và cho các chị đâu, các chị ra hàng mà mua thì hơn". Phải chăng họ quá khôn, quá thủ cho mình, y hệt như con kiến trong câu chuyện ngụ ngôn? Chúng ta đã biết rằng: dụ ngôn không phải là một câu chuyện dạy ăn ngay ở lành. Nó dùng sự so sánh lấy ra từ sinh hoạt hằng ngày, từ lối xử sự thông thường ở đời. Nó không có ý dưa ra một qui luật đạo đức, hay một mẫu mực nhất thiết phải theo... Người ta cũng có thể có nhận xét tương tự về thái độ quá ngờ vực hay quá cứng cỏi của chú rể đối với các cô khờ dại. Ðúng là Ðức Giêsu tự nhận mình là chú rể, nhưng điều đó không có nghĩa là Người xử sự theo kiểu chú rể trong dụ ngôn, xua đuổi những kẻ đến trễ: "Tôi bảo thật các cô, tôi không biết các cô!". Giáo huấn của dụ ngôn được chính Ðức Giêsu rút ra. Ðó là thái độ luôn sẵn sàng để đáp lại tiếng gọi: "Kìa chú rể, ra đón đi! Cần phải cảnh giác, tỉnh táo, khôn ngoan, để nhận ra, phân biệt, biết cách đáp trả; Cần phải chong đèn cho sáng và dự trù trong mình lúc nào cũng đầy dầu Bác ái, để giữ cho ngọn lửa đừng tàn lụi; Cần phải có mặt ngay khi Chúa đến, và đừng đi đâu xao lãng việc gì... "Anh em hãy canh thức, vì anh em không biết ngày nào giờ nào..." Chúa không chỉ đến trong ngày tận thế. Nếu chúng ta chờ Người đến vào ngày tận thế, chúng ta sẽ thấy thời gian quá dài và chúng ta cũng sẽ thiếp đi rồi ngủ cả. Nếu biết rằng Người có thể đến trong mỗi phút giây của cuộc sống, chúng ta sẽ lo thắp sáng ngọn đèn đức tin, đổ đầy băng dầu đức ái, để mau ra nghênh đón Người không chút chậm trễ. Rồi sẽ đến một ngày, Người tỏ ra cho chúng ta biết Người là ai, và đã đến với chúng ta như thế nào: "Ta bảo thật các ngươi: mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các người đã làm cho chính Ta vậy" (25,40).

2. "Con ve và con kiến" (Bible du dimanche, trang 339-340).

"Một đám cưới to ở một làng quê Palestine: 10 cô phù dâu đến để tháp tùng chú rể đi đón cô dâu. Nhung chỉ có năm trong số các cô xứng đáng được vào phòng tiệc. Tại sao chú rể lại có thái độ có vẻ cứng cỏi như thế. Dường như tiêu chuẩn chàng đòi hỏi nơi các cô chính là sự "khôn ngoan". Một khi đã quyết định đi theo chú rể (nói cách khác: một khi đã quyết định là Kitô hữu), phải hoàn toàn qui hướng về Ðức Kitô, không được xao lãng tỉnh thức vì đủ ba mươi sáu thứ chuyện phù phiếm vô bổ ở đời. Phải biết chọn lựa, đó là một chuyện. Phải tận dụng mọi phương tiện cần thiết để trung thành với lựa chọn của mình và để đi đến cùng, đó là một chuyện khác nữa... và là chuyện quan trọng hơn cả.

Thánh Matthêu kể lại dụ ngôn này vào thời mà chắn chắn các Kitô hữu quá quen với đức tin của mình, và đang dần dần làm cho đức tin ấy chỉ còn là vâng theo Hội Thánh một cách máy móc mà thôi. Thời nào thì cũng thế, là những phương thế để tìm lại sức sống cho niềm tin cũng thế thôi".

admin
20-02-2011, 01:57 PM
CNTN33
CHÚA NHẬT XXXIII THƯỜNG NIÊN

CÁC NÉN BẠC
(Mt, 25, 14-30)



I.VÀI ÐIỂM CHÚ GIẢI:

1 Một dụ ngôn nói với người Do Thái hôm qua:

Hơn tất cả 4 dụ ngôn trước nói về sự tỉnh thức- đại hồng thuỷ (24,37,44) kẻ trộm đến ban đêm (24,43- 44), người đầy tớ trung tín (24,45-51) và trong Phúc âm Chúa nhật trước, mười người trinh nữ (25,1-13)- dụ ngôn Các Nén bạc nhấn mạnh đến trách nhiệm của các môn đệ. Một trách nhiệm không nhỏ (21) nếu ta nhớ rằng vào thời ấy, nén bạc (talent: tiếng Pháp cũng có nghĩa là tài năng) không là những khả năng tự nhiên khả năng trí thức hoặc khả năng nhân loại phải phải phát triển, nhưng là một đơn vị trọng lượng, đơn vị tiền. H. Vulliz giải thích "Nó là kim loại thực sự, cân nặng từ 35 đến 60 kg trị giá từ 4300 đến 8700 quan Pháp (8 triệu 6 đến 17 triệu 4 tiền Việt Nam), nếu bằng bạc, và trị giá 140.000 đến 152.000 quan (từ 250 triệu đến 304 trệu đồng Việt Nam), nếu bằng vàng. Sau khi đã đo lường kỹ lưỡng trọng lượng của những trách nhiệm được chủ giao cho các đầy tớ, ta hãy đọc lại dụ ngôn kỹ hơn. Ta có thể chia diễn biến ra làm 3 thời kỳ rất rõ ràng. Thời kỳ ra đi của ông chủ. Ông "đi xa", ông trao cho 3 đầy tớ, mỗi anh một số nén bạc. Ðó thực là một tài sản như ta đây thời hoàn toàn tin tưởng các đầy tớ, ông không đưa ra một thoả thuận nào về cách họ phải sử dụng số bạc đó. Nhưng đó là một niềm tin tưởng rõ ràng, vì ông "đưa cho mỗi người tuỳ theo khả năng của họ". Thời kỳ vắng mặt: sự ra đi của ông chủ "tức khắc" tạo nên những phản ứng trái ngược nhau nơi các đầy tớ. Hai người đầu liều lĩnh có tính toán: họ gởi tiền vào ngân hàng "để sinh lợi". Người thứ ba lại sợ hãi. Theo "lời khuyên của luật Rabbi đối với những ai nhận tiền gởi và tự cho mình không có trách nhiệm trong trường hợp trộm cắp", anh đào lỗ chôn nén bạc của chủ, và phủi tay trốn trách nhiệm. Thời kỳ tính sổ, cùng với sự trở về của chủ, sau một thời gian dài vắng mặt. Hai người đầu thay phiên nhau trình lên số bạc đã sinh lợi gấp đôi.

Chủ đã gọi họ là những đầy tớ "tốt lành và trung tín". Họ đã đáp ứng lòng mong đợi của ông, họ xứng đáng với niềm tin tưởng của ông: thay vì để tiền nhàn rỗi vô ích, họ đã liều mình để sinh lợi. Họ hành xử không như nô lệ, nhưng như người cộng sự. Vì thế chủ sẽ trao phó cho họ những trách nhiệm lớn hơn đưa họ từ địa vị tôi tớ lên hạng đồng bàn với chủ. Ông bảo họ: "hãy đến hưởng sự vui mừng của chủ ngươi". Còn người thứ ba thật kỳ dị, anh vẽ nên hình ảnh một ông chủ khó chịu, anh cho đó là "một người khó tính" '(gặt ở nơi không gieo", "thu ở nơi không phát". Anh thú nhận: "Tôi sợ, nên đã chôn nén bạc của ông dưới đất". Và anh kết luận: đây, nén bạc của ông đây". Tức giận vì lời lẽ của người đầy tớ này, ông chủ, có phần nào mỉa mai, chỉ cho anh thấy thái độ bất nhất của anh: "Ngươi đã biết ta hay gặt ở nơi không gieo, thu ở nơi không phát. Sao người không gởi bạc vào ngân hàng, để khi ta về sẽ thu cả vốn lẫn lời?". Ông chủ đã tin cậy thì phải đáp lại bằng thái độ trách nhiệm xứng đáng với nhiệm vụ được trao chứ án phạt ban xuống: tên đầy tớ xấu xa và lười biếng" bị chủ tróc cả nén bạc duy nhất, vì anh không biết sử dụng. Nhiệm vụ bị bãi bỏ. Anh bị ném "vào nơi tối tăm". Sự hồi hộp được khéo léo sắp xếp kéo dài cho đến cuối dụ ngôn, và diễn tiến câu chuyện cho đến cuộc đối thoại giữa người đầy tớ thứ ba với ông chủ cho thấy rõ những đối tượng đầu tiên mà dụ ngôn có thể nhắm tới, những người mà Ðức Giêsu muốn tạo cho một cơ may cuối cùng. Ðó là các lãnh tụ tôn giáo, luật sĩ và biệt phái tự xưng là "đầy tớ của Thiên Chúa": Họ đã nhận gìn giữ Lời Chúa. Liệu họ có để tài sản này nhàn rỗi vô ích? Liệu họ có chiếm hữu làm của riêng? Ðó là những người Do Thái, quên lãng sự nhân từ và lòng thương xót của Thiên Chúa, liều mình tìm kiếm an toàn tôn giáo trong việc lo âu giữ Luật cách cứng nhắc và tự giam mình trong thực hành nệ luật. J. Potin bình luận: "Ðức Giêsu cho thấy có một số chức sắc tôn giáo đã biết làm cho Lời Chúa sinh hoa kết trái giống như các thiếu nữ sẵn sàng đi theo chồng. Làm sao Ngài có thể không công nhận công trạng của những người công chính đã giúp phát triển đức tin của dân Người, các tổ phụ, một vài vị vua, các tiên tri, số đông thầm lặng của những kẻ tin. Tuy nhiên có những kẻ, do tính bảo thủ sợ hãi, đã không làm được nhu vậy. Có lẽ Ðức Giêsu nhắc nhở giới Sađucêô rất bảo thủ. Ðó là lý do tại sao ông chủ trao nén bạc cho kẻ biết sinh lợi nhiều nhất. Nước Thiên Chúa tiếp tục sinh hoa kết trái nhờ những đầy tớ trung thành, nhưng khốn cho ai từ chối sinh lợi kho tàng đã nhận lãnh".

2.Một dụ ngôn nói với người Kitô hữu chúng ta.

Dụ ngôn mà Ðức Giêsu đề nghị thính giả Do Thái suy nghĩ này, thánh sử Matthêu đã thuật lại với mục đích giúp cộng đoàn tín hữu sống trong lúc chờ đợi mỏi mòn ngày trở lại của Chúa. Các thành viên của cộng đoàn có lẽ đã mê ngủ, bị cám dỗ chỉ thực hành giới răn với tinh thần nệ luật, bị tê liệt vì sợ hãi. Khi lồng dụ ngôn này vào "diễn từ cánh chung" và nối kết chặt chẽ nó với dụ ngôn 10 người trinh nữ, tác giả Phúc âm đã biến dụ ngôn này thành 1 dụ ngôn về sự tỉnh thức trong trung tín. J. Dupont nhận xét: "Khi truyền đạt dụ ngôn này, Matthêu vẫn giữ đưa giáo huấn mà độc giả của ông phải biết rút ra. Dù cuộc trở lại của Chúa có chậm trễ, các tín hữn vẫn phải "tỉnh thức" và nhớ rằng họ sẽ bị xét xử về cách sống, liệu họ vó được vào Nước Trời hay không, cũng tuỳ thuộc vào đó. Sự tỉnh thức chính là sự trung tín trong khi hoàn thành các nhiệm vụ được uỷ thác, nghĩa là mọi bổn phận của đời sống Kitô hữu. Ðể tham dự vào ơn cứu độ chỉ nghe Lời Chúa chưa đủ: cần phải thực hành, làm cho Lời Chúa sinh hoa kết trái.

Người tín hữu không biến sứ điệp thành hành động sẽ chẳng rút ra được lợi ích nào từ điều họ đã lãnh thận được.. Phúc âm là một số vốn: đã ký thác cho ai thì người ấy phải sinh lợi. Họ phải để Phúc âm biến đổi cuộc đời, hướng dẫn mọi hoạt động. Chỉ như thế họ mới chứng tỏ mình "trung tín" với Ðấng đã ký thác Phúc Âm cho họ. Lòng đạo đức và ý hướng tốt chưa đủ. Ðời sống Kitô hữu là một hành động có trách nhiệm. Bức tranh vĩ đại vẽ cảnh phán xét cuối cùng, trên đó ta kết thúc năm phụng vụ Matthêu, sẽ cho ta toàn bộ nội dung vào Chúa nhật tới.



II. BÀI ÐỌC THÊM:

1.Một chờ đợi biến những nhiệm vụ hiện tại thành nghiêm túc. (Mgr. L. Daloz, Le Règne sies cieux s'est approehé, DDB).

Dụ ngôn giúp soi sáng hoàn cảnh của ta. Những nén bạc không là của ta, không được trao phó cho ta. Trước khi đưa các nén bạc ra làrn việc? ta đã lãnh nhận chúng. Sau đó, ta sẽ phải tường trình cách thế ta đã dùng để làm cho những nén bạc sinh lợi. Ðời sống ta, những khả năng, những phương tiện hành động, các hoạt động, tất cả đều là ơn Chúa ban. qua việc đấng tạo, qua ân sủng, Thiên Chúa đổ đầy hồn ta, mỗi người tuỳ khả năng đón nhận. Ðời sống ta chỉ ở trong sự thật nếu nó là một bài ca tạ ơn, là của lễ, là đợi chờ và hy vọng! Ta không có quyền chiếm đoạt, sử dụng nó theo ý riêng, như thể chính ta ban cho mình sự sống. Ta không thể quên đời sau, không được quên nơi ta xuất phát, nơi ta sẽ đến, Ðấng ta sẽ phải trả lời, điều đó giúp ta can đảm ý thức bổn phận mình ở đời này mà không quên đời sau. Sự trở lại của Chúa khiến ta khẩn trương đến độ không có thời giờ nghĩ đến điều gì khác nữa. Ðời sau làm cho đời này có ý nghĩa. Kết thúc thời gian làm cho thời gian có ý nghĩa! Kết thúc thời gian mớ ra cho thời gian một chân trời. Công việc hiện tại của ta không đơn thuần là một "việc làm", đó là một bổn phận, một sứ mạng. Nó chỉ có ý nghĩa khi hướng về vô biên. Sự chờ đợi ngày Chúa đến không làm mất giá trị của nó cũng không biến nó thành vô nghĩa. Trái lại sự chờ đợi Chúa đến tạo cho nó một tầm quan trọng, mà giá trị chắc chắn chính sự chờ đợi này biến công việc thường ngày thành cơ hội bày tỏ lòng trung tín và mối tương giao với Chúa: "tốt lắm, hỡi đầy tớ tốt lành và trung tín, ngươi đã trung tín trong việc nhỏ, ta sẽ đặt ngươi coi sóc những việc lớn, hãy vào hưởng sự vui mừng với chủ ngươi".

2.Ta chỉ là quản lý (H. Denis, Cent mọt pour diu la coi, DDB).

Một tư tưởng cũ kỹ ta không được phép quên, tư tưởng rất gắn bó với tôn giáo Nhập Thể, đó là trên trần gian này ta chỉ là quản lý. Hiển nhiên phải là những quản lý năng nổ, sáng tạo, quan trọng. Nhưng cũng chỉ là quản lý. Nói cách khác, ta không phải là chủ nhân các của cải mà ta làm sinh lợi: "Lạy Cha rất nhân lành, mọi sự đều bởi Cha! Ðúng thế, đúng đối với mọi nghề nghiệp, mọi công tác nguy hiểm, táo bạo nhất (tôi nghĩ đến những ai đụng chạm đến lãnh vực đạo đức sinh học). Nhất là đối với Giáo Hội, với các tác vụ và sự phục vụ của Giáo Hội hiểu theo nghĩa rộng nhất. Vị trí người quản lý quan trọng đến nghịch lý. Cuối cùng không những ông chủ sẽ trao lại kết quả của công việc đã hoàn thành mà còn ban thêm rất nhiều. Nhưng ông cũng trừng phạt nặng nề đầy tớ nào không làm việc. Theo một tục ngữ Do Thái, ngày nay người ta vần còn nói: Ai không có, người ta sẽ lấy đi luôn cái nó có. Rốt cuộc, nó không còn lại chút gì. Cũng nên lưu ý rằng Phaolô, dù không được nghe Ðức Giêsu rao giảng ở Palestine, vẫn có cùng ngôn ngữ với Ngài: "Xin mọi người hãy coi chúng tôi là tôi tớ của Ðức Kitô và là quản lý các mầu nhiệm của Thiên Chúa. Vậy điều mà mọi người đòi hỏi nơi các quản lý, đó là hãy trung tín". Hãy để Chúa đến, chính Ngài sẽ soi sáng những bí mật trong bóng tối và phơi bày công khai mọi ý nghĩa trong tâm hồn. Rồi, mỗi người sẽ nhận được từ Thiên Chúa lời ca tụng, lời ca tụng ấy lại trở lại với Ngài (1cor 4,1.2.5).

3. Thế giới được trao phó cho ta nhưng không kèm theo bản hướng dẫn sử dụng (secours Cathohque).

Hãy lưu ý rằng Thầy Chí thánh không đưa ra một qui ước nào. Ngài đã có thể nói: "Ta báo trước, khi ta trở lại, Ta muốn gấp đôi số vốn, hãy đầu tư vào bất động sản hay vào dịch vụ để sinh lợi". Không, các tôi tớ đã đủ trưởng thành để biết điều phải làm. Ðó là bài học đầu tiên của bài Phúc âm này. Thế giới được trao phó cho ta mà không kèm theo bản hướng dẫn cách sử dụng. Có lẽ ta đã mơ màng nghĩ rằng Ðức Giêsu, khi trở về bên Chúa Cha sau ngày Thăng Thiên, vẫn giữ đường dây điện thoại trực tiếp với các môn đệ, vẫn sẵn sàng ngày đêm trả lời những câu hỏi băn khoăn nhất của các dân tộc và các cá nhân: "Lạy Chúa, phải làm gì trong trường hợp chiến tranh huynh đệ tương tàn, trong các vấn đề tài chính, thiên tai... Chúa ơi, hãy tìm cho con công ăn việc làm, hãy chữa bệnh cho đứa con của con, hãy sửa lại căn nhà sắp sập. Giấc mơ ảo tưởng ấy, ta chưa giũ bỏ hết đâu. Nó vẫn ghi khắc trong tế bào di truyền của ta. Nhưng sự im lặng của Thiên Chúa cứu ta khỏi ma thuật, sự vắng mặt của Ngài khơi dậy trong ta niềm khao khát khác hẳn với một nhu cầu. Và từ đó ta phải luôn tỉnh thức đối với những ai tự cho rằng có thể lấp đầy quảng không của sự vắng mặt, đưa ra những giải đáp đơn sơ cho các câu hỏi phức tạp, và nắm trong tay tự do gai góc mà chính Thiên Chúa đã trao phố cho ta. Sự vắng mặt chỉ là tương đối, vì Ðức Giêsu đã hứa: "Thầy sẽ không bỏ các con mồ côi. Thánh Thần của Thầy sẽ ngự trong các con". Trong các con chứ không ở nơi đâu khác hoặc ở trên mây. Trong nơi sâu thẳm nhất của Giáo Hội và của chính các bạn. Bản hướng dẫn cách sử dụng đời sống và thế giới, nếu có, nằm ở đó.

admin
20-02-2011, 01:59 PM
LỄ ÐỨC KITÔ VUA
BỨC HOẠ LỚN VỀ NGÀY PHÁN XÉT CHUNG:

CHÚNG TA SẼ BỊ XÉT XỨ VỀ TÌNH YÊU

(Mt 25,31-46)



I.VÀI ÐIỂM CHÚ GIẢI:

1.Một bức hoạ cho người ta xem thấy chung cuộc.

"Khi nào thì điều đó sẽ xảy đến?". Các môn đệ đã lo lắng hỏi Ðức Giêsu như vậy, khi Người loan báo cho các ông về việc Ðền Thờ Jérusalem bị tàn phá. Chúa không trả lời như các ông trông đợi, trái lại trong bài giảng nói về ngày tận thế, và xuyên qua năm dụ ngôn, Chúa đã dạy các môn đệ phải chuẩn bị mình thế nào cho Biến Cố đó, nghĩa là phải chủ động tĩnh thức, phải làm cho những nén bạc đã trao, sinh lời. Phần kết thúc bài giảng cuối cùng này của Ðức Giêsu, kết tinh tất cả mọi lời nói và việc làm của Người, thâu tóm tất cả Phúc của Chúa, một cảnh tượng vĩ đại mang tính khải huyền, nựng của Phúc âm thánh Matthêu làm nên dư âm của phần kết thúc bài giảng đầu tiên, Bài giảng trên núi: "Không phải bất cứ ai thưa với Thầy: Lạy chúa Lạy Chúa! là được vào Nước Trời cả đâu! Nhưng chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy, là Ðấng ngự trên trời, mới được vào mà thôi" (Mt 25,3 1- 33), đối thoại với những "kẻ được chúc phúc" (câu 34-40), đối thoại với những quân "bị nguyền rủa" (câu 41-45), thi hành bản án (c.46). Phần nhập đề gợi ra quang cảnh một cuộc tập hợp vĩ đại của toàn thể nhân loại quanh Ðấng sẽ ngự lên ngải vinh hiển của Người":

+Ðấng ấy được trình bày ở đây như "Con Người", nhân vật huyền bí của các sách Khải Huyền Do Thái ấy (như trong Daniel 7) ngự đến thi hành việc phán xét "cấc dân thiên hạ", một đặc quyền thuộc về Thiên Chúa.

+ Nhưng cũng như "Mục tu" đã được Ezéchiel loan báo (bài đọc một người đến thi hành việc phân lựa: "Người sẽ tách biệt họ như mục tử tách biệt chiên với dê: chiên thì đặt bên phải, dê thì đặt bên trái".) "Ở nước Palestine, người ta chăn chiên chung với dê; nhưng đến chiều, người chăn tách chiên ra để ở một nơi kín đáo hơn, Cl. Tassin giải thích, nhưng vội thêm một cách hóm hỉnh: "Bên phải" và "bên trái" trong thời Cổ đại, không có mang chút âm hường chính trị nào đâu; Nhưng theo óc hơi mê tín, người ta cho là những từ đó chỉ số phận tốt, xấu của con người" ("Phúc âm thánh Matthêu, NXB Centurion, trang 264).

+ Ðức Giêsu còn được trình bày như "Ðức Vua" xét xử công minh, đang nói về "Cha mình" và mọi người bị phán xét thì thưa với Người là "Lạy Chúa', tước hiệu mà phụng vụ và giảng thuyết buổi sơ khai vốn gán cho Ðức Kitô vinh hiển khi Người phải trở lại trong ngày tận thế.

2...Và hé cho thấy tính cách nghiêm trọng của sự việc đang diễn ra trong lúc này:

Cuộc đối thoại với những kẻ "được phúc phúc" cho ta được nghe án quyết phù hợp với những lý lẽ đã nêu ra, đồng thời cho thấy phán ứng của những người trong cuộc

+ Tiên vàn là án quyết: "Nào những kẻ Cha Ta chúc phúc, hãy đến thừa hưởng vương quốc dành sẵn cho các ngươi, từ thuở tạo thành trời đất", và lý lẽ đưa ra dưới hình thức một bảng liệt kê dài những hành động bác ái mà coi như họ đã thực hành đối với Ðức Vua: "Vì xưa Ta đói, các ngươi đã cho ăn.... Cl Tassin nhận xét: "Lòng đạo đức của người Do Thái cũng có những bảng liệt kê tương tự tương đối dài (cf. Tobia 1,16-20), tuy nhiên lại không đề cập tới việc thăm viếng tù nhân: hành vi bác ái này chắc hẳn đã được áp đặt khi cuộc bách hại đã tống giam nhiều người thân của họ. Ta nên ghi nhận rằng những người Do Thái đạo đức vốn coi những hành vi bác ái này như một việc noi gương bắt chước thật đáng khen: ta phải cho kẻ đói ăn, bởi vì Chúa đồng hoá mình với người đói, Chúa đứng về phía người bất hạnh; không liên đới với con người bất hạnh là đi ngược với quyền lợi của Chúa. Ý tưởng này bén rễ sâu xa trong Kinh Thánh (cf. Is 58,6-7) và đã đưa đến lời phú giải cao đẹp này: "Nếu ngươi đã nuôi nấng những người nghèo khổ, thì Ta sẽ kể như ngươi đã làm việc ấy cho chính Ta vậy" (O.C trang 265).

+ Những người công chính ngạc nhiên: "Lạy Chúa, có bao giờ chúng tôi đã thấy Chúa... thế rồi họ ngỡ ngàng khám phá ra điều gì là chủ chốt trong sinh hoạt đời thường của những con người nam cũng như nữ: Ðức Vua vốn đồng hoá mình với hết mọi người trong cảnh khốn cùng, họ đã phục vụ chính Người trong những con người khốn khổ ấy: "Mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy? Cuộc đối thoại với những "quân bị nguyền rủa diễn lại cùng một khuôn khổ: án quyết với những lý lẽ nêu ra, phản ứng ngạc nhiên của những người liên hệ: "Lạy Chúa, có bao giờ chúng con đã thấy Chúa đói, khát...Rồi họ cũng sẽ hay biết - nhưng muộn quá rồi! - rằng khi bỏ mặc anh em họ trong cảnh khốn cùng, là họ đã bỏ mặc chính Ðức Vua vậy: "Mỗi lần các ngươi không làm như thế cho một trong những người bé nhỏ nhất đây là các ngươi đã không làm cho chính Ta vậy. Thi hành án diễn ra tức thì, đã được tường thuật một cách giản dị: "Thế là bọn này sẽ phải ra đi mà vào chốn cực hình muôn kiếp, còn những người công chính sẽ được lên hưởng phúc trường sinh. J.Potin kết luận: "Tính cách mới mẻ của giáo huấn của Ðức Giêsu thật rõ như ban ngày. Giáo huấn ấy được nhấn mạnh ở vẻ ngỡ ngàng của những kẻ khám phá ra được từ đàng sau những dáng vẻ bề ngoài, sự thật về con người mà vì đó họ được hạnh phúc hay bất hạnh; ấy là con người có tước vị làm anh em với Ðức Giêsu, không phải tước vị làm anh em với Con Người trong vinh quang, mà đúng hơn là với Ðấng sẽ đích thực trở nên anh em của người nghèo bằng đau khổ và nhục nhã trên thập giá. Từ nay con người không thể dựa vào những thực hành điều Luật dạy là tôn giáo để làm bình phong che chắn mình. Chỉ điều răm mới về tình yêu thương con người mới đáng kể thôi. Như thế Ðức Giêsu làm nổi bật điều mà người cho là bản chất của Lề Luật và sách các Ngôn sứ ấy là lòng yêu thương. Kẻ nghèo được coi như đủ tư cách để được Thiên Chúa và Con của Người quý mến. Từ nay mọi điều răn khác đều phải được đánh gía theo thước đo này. Ðạo Do thái nhờ được Ðức Giêsu mang đến choa ánh sáng này mà được canh tân. Nhưng Ðức Giêsu lấy uy quyền là tương lai của người để bảo đảm cho giáo huấn của Thiên Chúa muốn hướng dẫn toàn thể nhân loại trên con đường này, chứ không phải chỉ một mình dân Do Thái mà thôi. Con người muốn tập họp người người mọi thời, mọi nơi để quy về giới răn duy nhất này. Hết thảy đều bị xét xử theo tình yêu của họ đối với người nghèo" ("Jesus, lhistorie vraie", NXB Centurion, trang 403-404).

Mối tình liên đới với hết mọi người khốn khổ này mà Chúa vừa minh hoạ để kết thúc bài giảng cuối cùng của Người, có một phạm vi vô hạn và bắt nguồn từ Thiên Chúa, thì giờ đây chính người sống tình liên đới ấy đến mức độ tận cùng. Chương 26 là chương tiếp theo bày giảng cuối cùng ấy đưa ta trình thuật về cuộc Khổ nạn.



II. BÀI ÐỌC THÊM:

1."Một cảnh nhấn mạnh phạm vi giá trị cách ta cư xử ở đời này" (Giám mục L.Daloz, trong "Le Règne des cieux sest approchié", Desclée du Brouwer, trang 343-344).

"Ðức Giêsu không mô tả cảnh này để ta lo sợ hóng nhìn về ngày chung thẩm mà buông lơi những phận vụ hiện tại của ta; trái lại điểm có ý nhấn mạnh ở đây chính là cách ta cư xử ở đời này có một tầm kích vĩnh cửu. Tính vĩnh cửu làm cho thời gian có giá trị, định hướng hoạt động của ta và cho hoạt động ấy có ý nghĩa. Ai tin vào trời thì càng phải định tâm làm cho trần gian này trở thành nơi chan hoà tình huynh đệ, một miền đất của tương lai. Không phải đến ngày tận thế người ấy mới gặp gỡ Con Người. Ðến ngày tận thế, người ấy sẽ được thấy Người tỏ tường, vì Con Người sẽ tỏ mình ra rõ ràng. Nhưng chính Người lúc này vẫn đang cận kề ta trong những người anh em bé mọn nhất. Ðiều có lẽ làm ta ngạc nhiên nhất, chính là mọi người cùng có chung một sự vô tri, những người đã thực hành lòng thương xót cũng như những người đã trốn tránh - Ai nấy sẽ bỡ ngỡ: Những người trước thưa rằng: "Lạy Chúa, có bao giờ chúng con đã thấy Chúa đói mà cho ăn. Những kẻ đã không tiếp rước Người cũng nói như vậy: "Lạy Chúa, có bao giờ chúng con đã thấy Chúa đói, khát, hoặc là khách lạ, hoặc trần truồng, đau yếu hay ngồi tù là không phục vụ Chúa đâu. Mọi manh tâm phục con người vì Chúa, chứ không vì chính họ đều bị Chúa phơi bày. Thực vậy người và Chúa không tách biệt nhau: "Quả thực, Ta bảo thật các ngươi: mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy. Ðiều đó mời gọi ta nhận biết rõ tình huynh đệ liên kết những kẻ bé nhỏ này với Ðức Giêsu, và mời gọi ta phục vụ họ tốt hơn. Ðiều đó cũng có nghĩa là ta sẽ gặp những bất ngờ, hay đúng hơn mối quan hệ của ta với Ðức Giêsu thường diễn ra ở nơi ta vốn không trông đợi Người. Tiên vàn ta đừng tìm cách nhận ra Ðức Giêsu trong dung mạo của người ta, trước khi ta phục vụ họ: ta thường sẽ phải thất vọng thôi. Chỉ cần phục vụ họ một cách đơn sơ, yêu mến một cách cụ thể, bằng hành động và cho không. Rồi đây chính Người sẽ nói cho ta biết rằng người đã ở gần ta ngay lúc ta không nghĩ đến Người: "Có bao giờ chúng con đã thấy Chúa là khách lạ mà tiếp rước, hoặc trần truồng mà cho mặc. Chúng con đâu có biết... Vậy thì ta đừng tìm kiếm để biết bây giờ, hãy hành động, hãy yêu mến bằng sự thật ở dâu người ta sống tình yêu chân thật với nhau, thì Thiên Chúa làm người sẽ nhìn nhận họ là người của mình: "Các ngươi đã làm cho chính Ta vậy.

2. "Một bức tranh chiếu vào hiện tại, ánh sáng thực của đức tin và sự minh mẫn" (H.Vulliez, trong "Thiên Chúa thật gần", Desclée de Brouwer, trang 175).

Ðức Giêsu đã đặt bức tranh này dưới mắt các môn đệ để chiếu vào hiện tại ánh sáng thực của đức tin và sự minh mẫn. Sự chia sẻ không phải chỉ được quyết định thực hiện vào thời buổi cuối cùng, những là bây giờ, ở đây và lúc này (hie ét nune). Ðây không phải là một quyết định có tính cách hình thức, nhưng là một quyết định đưa đến sự thay đổi đời sống trong xã hội. Vào thời Matthêu viết Tin Mừng của ngài, các Kitô hữu nồng nhiệt chờ đợi ngày Chúa trở lại đến nỗi họ quên cả đời sống hiện tại. Nhắc nhớ họ về đời sống hiện thực là điều quan trọng. Hơn nữa, không phải sự thực hành các mối phúc là điều quyết định phần rỗi đời đời trước cả tế lễ và cầu nguyện đó sao? Ngay cả những người ngoại giáo cũng được cứu độ nhờ thực hiện các nối phúc này. "Anh em đợi chờ Chúa, vua vinh quang, nhưng Ngài đang ở đây! không phải nơi người nghèo như người ta nói. Nhưng trong sự chia sẻ tưới họ. Thiên Chúa hiện diện qua sự chia sẻ cơm bánh. Ðó là vinh quang của vương triều Thiên Chúa. Ðức Giêsu không chói ngời vinh quang trong cung điện hay trên ngai vàng, nhưng ở tất cả những nơi có tình liên đới nhân loại Thiên Chúa tình yêu có thể có mặt ở khoảng trống vắng chia cách con người và các dân tộc chăng? Ngài hiện diện ở trong sự hiện diện của người này cho người kia. Ðó là "sự hiện diện trong chia sẻ".