admin
19-03-2011, 08:53 AM
Bài đọc Kinh Sách Tháng Ba
Ngày 4 tháng 3
THÁNH CA-XI-MIA
Lễ nhớ
Thánh Ca-xi-mia sinh năm 1458. Thân phụ người là vua nước Ba-lan và Lít-va. Người qua đời năm 1484 lúc hai mươi sáu tuổi, để lại cho dân chúng hình ảnh đẹp về một vị hoàng tử trẻ tuổi, thông minh và hào hiệp. nhưng điều đáng kể nhất, đó là người đã sống rất nhiệm nhặt và siêng năng cầu nguyện, kết hiệp mật thiết với Đức Trinh Nữ Ma-ri-a và với chúa Ki-tô Thánh Thể.
Bài đọc 2
Người lấy mệnh lệnh của Dấng Tối Cao làm kho tàng cho mình
Trích hạnh thánh Ca-xi-mia của một tác giả gần như cùng thời với thánh nhân.
Nơi Ca-xi-mia bừng lên một lòng mến lạ lùng, không giả tạo nhưng chân thành đối Thiên chúa toàn năng, nhờ Chúa Thánh Thần. Lòng mến đó vừa lai láng trong tâm hồn người, vừa dạt dào tự cõi lòng thâm sâu của người, đến nỗi trào ra bên ngoài, lan tới tha nhân, khiến người không lấy gì làm thích thú và đáng ước ao hơn là phân phát của cải mình có. Chẳng những vậy, người lại còn trao tặng và dâng hiến toàn thân mình cho người nghèo khó của Đức Ki-tô, cho khách lữ hành, cho kẻ yếu đau, cho người tù tội và những ai sầu khổ.
Đối với goá phụ, trẻ mồ côi và người bị áp bức, không những người là vị bảo trợ, là người săn sóc, mà còn là cha, là con và là anh em của họ nữa. Chắc hẳn cần viết một cuốn chuyện dài, nếu phải thuật lại từng việc bác ái yêu thương cao cả người đã thực hiện đối với Thiên Chúa và tha nhân.
Người đã vun trồng đức công bình tới mức nào, đã ấp ủ đức tiết độ đến đâu, đã khôn ngoan tới chừng nào, đã can đảm và kiên trì ra sao, nhất là khi ở vào tuổi khá tự do, tuổi mà theo bản tính tự nhiên, con người thường dễ hướng chiều về sự dữ : những điều ấy quả thật khó mà nói và nghĩ cho chính xác được.
Hằng ngày, người vẫn khuyên phụ vương lấy đức công bình mà trị nước và cai quản các dân chư hầu. Và nếu có khi nào vì lơ là hay yếu đuối do bản tính tự nhiên mà phụ vương chểnh mảng việc trị nước thì người không ngần ngại lấy lời khiêm tốn mà nhắc cho phụ vương.
Trong các vụ kiện, người biện hộ và bênh vực cho những người nghèo hèn khốn khổ cũng như cho chính mình, nên được dân chúng xưng tụng là người bênh vực cho những kẻ nghèo. Dù là hoàng tử, thuộc dòng dõi quyền thế cao sang, nhưng người không hề tỏ ra khó tính với ai trong cách nói năng cư xử, ngay cả đối với người hèn hạ tầm thường.
Người luôn thích sống giữa những kẻ hiền lành, có tinh thần nghèo khó, những người sẽ thừa hưởng Nước Trời, hơn là sống giữa những người tiếng tăm, quyền thế đời này. Người không màng chi quyền cao chức trọng, cũng chẳng bao giờ muốn nhận những gì phụ vương ban tặng, vì sợ rằng những mũi tên của cải mà Đức Giê-su Ki-tô, chúa chúng ta, gọi là những cái gai làm cho linh hồn bị thương tổn và lây nhiễm những sự thế trần.
Mọi người, từ thị vệ cho đến các thư ký, các quan chức trong triều đình, mà một số người nay vẫn còn sống, hay những ai đã sống gần gũi thân mật với người, đều quả quyết và chứng thục rằng người đã giữ mình đồng trinh cho đến cùng, cho đến ngày nhắm mắt lìa đời.
Xướng đáp Hc 29,11 ; 1Tm 6,11
X Hãy theo lệnh Đấng Tối Cao mà sử dụng của cải,
* việc đó còn lợi ích cho con hơn cả vàng.
Đ Hãy gắng trở nên người công chính, đạo đức, giàu lòng tin và lòng mến, hãy gằng sống hiền hoà và nhẫn nại. *
Ngày 7 tháng 3
THÁNH NỮ PE-PÊ-TU-A VÀ THÁNH NỮ PHÊ-LI-XI-TA, TỬ ĐẠO
Lễ nhớ
Khi bị bắt, chị Pe-pê-tu-a còn là một dự tòng. Chị có một cháu bé năm hai mươi hai tuổi. còn chị Phê-li-xi-ta thì mang thai và sinh con gái trong tù. Nhưng cả hai không hề tỏ ra yếu đuối khi tiến vào hí trường Các-tha-gô ngày 7 tháng 3 năm 303. Tay nắm tay, hai chị tiến về phía con bò cái hung dữ sắp sửa sát tế hai chị.
Bài đọc 2
Các ngài được kêu gọi và tuyển chọn để làm vinh danh Thiên Chúa
Truyện kể về các thánh tử đạo ở Các-tha-gô.
Ngày toàn thắng của các vị tử đạo đã bừng sáng. Các ngài từ ngục thất tiến ra hí trường, như thể tiến vào thiên quốc, nét mặt rạng rỡ hân hoan. Nếu các ngài có run là vì vui chứ không phải vì sợ.
Chị Pe-pê-tu-a là người đầu tiên bị bò húc, ngã ngửa ra phía sau. Chị chỗi dậy và khi trông thấy chị Phê-li-xi-ta đang nằm sóng soài, thì liền đến gần, đưa tay cho chị Phê-li-xi-ta nắm và nâng chị ấy dậy. Cả hai đều đứng. Và khi dân chúng đã bớt hung hăng, người ta đưa hai chị về cửa dành cho những người sống sót. Ở đó chị Pe-pê-tu-a được một người dự tòng tên là Rút-ti-cô vẫn tháp tùng chị tiếp đón. Rồi như người vừa tỉnh ngủ (vì trước đó chị đã xuất thần và ngất trí), chị bắt đầu nhìn chung quanh và nói với mọi người đang sửng sốt : “Đến bao giờ chúng tôi mới được dẫn tới chỗ con bò ấy nhỉ ?” Và khi nghe biết chuyện đó đã xảy ra rồi, thì ban đầu chị không tin, cho tới khi chị nhận thấy những vết bầm trên thân thể và áo bị rách. Sau đó, chị gọi người em trai và người dự tòng mà khuyên rằng : “Hãy đứng vững trong đức tin và mọi người hãy yêu thương nhau. Đừng thấy chúng tôi phải khổ mà nao núng.”
Tại một cửa khác, anh Xa-tu-rô cũng khuyên người lính tên là Pu-đen-tê rằng : “Cuối cùng, quả như tôi đã đoán và nói trước, cho đến bây giờ, tôi chưa bị con thú dữ nào đụng tới. Nhưng nay anh hãy hết lòng tin tôi đi : này tôi sáp giáp mặt với con báo, chỉ cần nó cắn một miếng là tôi hoàn tất cuộc đời.” Đến màn cuối cuộc vui, anh liền bị ném cho con báo. Nó chỉ cắn anh một miếng là máu anh đã đổ ra chan hoà như tắm. Thấy vậy, dân chúng la lên : “Tắm đi, tắm nữa đi” như đò một chứng cớ về phép rửa lần thứ hai. Và quả thật, anh đã được cứu độ, sau khi đã tắm như thế.
Bấy giờ anh nói với Pu-đen-tê rằng : “Vĩnh biệt nhé ! Nhớ giữ đức tin, và nhớ đến tôi ; chớ gì những sự việc này không làm anh chao đảo, mà trái lại làm anh thêm mạnh sức.” Cùng lúc đó, anh bảo người lính đưa cho anh cái nhẫn người ấy đang đeo ở ngón tay ; sau khi nhúng vào vết thương, anh trao cho người ấy làm di sản, để một vết máu của mình lại làm bảo chứng và làm kỷ vật. Rồi khi anh đã bất tỉnh, người ta ném anh cùng với những người khác vào nơi vẫn dành để xử trảm.
Khi dân chúng yêu cầu đem các ngài ra giữa hí trường để những kẻ đồng sát nhân được nhìn tận mắt lưỡi gươm đâm thấu thân thể các ngài, thì các ngài tự động đứng lên, đi tới nơi dân chúng muốn, rồi hôn nhau trước khi hoàn tấ cuộc tử đạo bằng nghi thức trao ban bình an trọng thể.
Các vị khác đứng bất động và yên lặng đón nhận lưỡi gương ; riêng anh Xa-tu-rô đi lên trước, nên anh là người đầu tiên trút hơi thở. Anh đã nâng đỡ chị Pe-pê-tu-a. còn chị Pe-pê-tu-a, khi bị đâm vào xương thì giật nẩy mình lên vì cảm thấy đau, nên chị cầm lấy tay phải vụng về của tên đao phủ tập sự mà đặt vào cổ họng mình. Có lẽ người phụ nữ can trường như vậy không thể bị giết cách nào khác, trừ khi chị muốn, vì thần ô uế cũng phải sợ chị.
Ôi các vị tử đạo rất mực anh hùng và vô cùng diễm phúc ; các ngài thật sự đã được kêu gọi và tuyển chọn để làm vinh danh Đức Giê-su, Chúa chúng ta.
Xướng đáp Rm 8,34-35.37
X Đức Giê-su Ki-tô đang ngự bên hữu Thiên Chúa mà chuyển cầu cho chúng ta.
* Ai có thể tách chúng ta ra khỏi tình yêu của Đức Ki-tô ? Phải chăng là gian truân, khốn khổ, đói rách, hiểm nguy, bắt bớ, gươm giáo ?
Đ Nhưng trong mọi thử thách ấy, chúng ta toàn thắng nhờ Đấng đã yêu mến chúng ta. *
Ngày 8 tháng 3
THÁNH GIO-AN THIÊN CHÚA, TU SĨ
Thánh nhân sinh tại Bồ-đào-nha năm 1495. Sau đời binh nghiệp đầy nguy hiểm, người hiến thân hoàn toàn để phục vụ các bệnh nhân, ao ước được những điều tốt lành hơn. Người đã lập một bệnh viện ở Gơ-ra-na-đa và được một nhóm các bạn cùng tham gia công việc. Đó là những người sau này làm nên dòng Trợ Thế thánh Gio-an Thiên chúa. Nổi bật hơn cả là lòng bác ái của thánh nhân đối với những người cùng khốn và bệnh tật. Người qua đời ở Gơ-ra-na-đa năm 1550.
Bài đọc 2
Đức Ki-tô tiên liệu mọi sự vì Người vốn trung tín
Trích thư của thánh Gio-an Thiên Chúa, tu sĩ.
Nếu chúng ta nhìn vào lòng thương xót của Thiên Chúa, thì không bao giờ chúng ta ngưng làm việc thiện, bao lâu chúng ta còn có khả năng. Vì khi do lòng mến yêu Thiên Chúa, chúng ta trao lại cho người nghèo những gì Thiên Chúa đã ban cho chúng ta, thì Người cho chúng ta được gấp trăm trong cõi phúc muôn đời. Ôi phúc lợi biết bao, ôi lời lãi dường nào ! Ai mà chẳng trao cho vị thương gia tuyệt vời này bất cứ cái gì mình có, khi Người săn sóc công việc làm ăn của chúng ta và dang cánh ta ra nài xin chúng ta trở về với Người mà than khóc tội lỗi chúng ta và thực hành bác ái trước hết đối với chúng ta, rồi đối với tha nhân. Vì như nước dập tắt lửa thế nào thì đức ái cũng tiêu huỷ tội lỗi như thế.
Có biết bao người nghèo tới đây khiến tôi thường băn khoăn tự hỏi làm thế nào để trợ giúp họ ; nhưng Đức Ki-tô lo liệu mọi sự và nuôi hết mọi người. Nhiều người nghèo đến nhà Thiên Chúa vì thành phố Gơ-ra-na-đa rộng lớn và rất lạnh, nhất là hiện nay đang là mùa đông. Hơn một trăm người hiện đang trú ngụ trong nhà này : người đau có, người khoẻ có, người ở có, khách vãng lai có. Vì đây là nhà chính, nên đón nhận người đau đủ thứ bệnh và thuộc mọi hạng người : bại liệt, què cụt, phong hủi, câm, mất trí, bất toại, ghẻ lở. Có những người già nua tuổi tác, và cũng có nhiều trẻ con ; ngoài ra vô số kẻ vãng lai và khách lữ hành tới đây cần được cung cấp lửa, nước, muối, nồi niêu để nấu ăn : không có khoản tiền nào để trang trải những thứ này, nhưng Chúa Ki-tô lo liệu hết.
Vì thế ở đây tôi mắc nợ và bị cầm tù vì Chúa Giê-su Ki-tô. Và vì nợ nần chồng chất như thế nên không mấy khi tôi dám ra khỏi nhà. Khi tôi thấy biết bao người nghèo (họ là anh em, là người thân cận của tôi), khi tôi thấy họ phải khổ cực quá sức, phải thiếu thốn trăm bề, trong tâm hồn cũng như ngoài thể xác mà tôi không làm vơi nhẹ được thì tôi rất buồn, nhưng tôi tin cậy vào Chúa Ki-tô, vì Người biế lòng tôi. Vì thế tôi nói : vô phúc cho ai tin tưởng ở phàm nhân mà không tin tưởng vào một mình Chúa Ki-tô, vì dù muốn dù không anh vẫn phải chia lìa người ta, còn Chúa Ki-tô vẫn trung tín và luôn hiện diện. Vì Chúa Ki-tô tiên liệu mọi sự nên ta hãy luôn luôn cảm tạ Người. A-men.
Xướng đáp x. Is 58,7-8
X Ngươi hãy chia cơm cho người đói, hãy rước vào nhà những người nghèo không nơi trú ngụ.
* Bấy giờ ánh sáng ngươi sẽ bừng lên như rạng đông.
Đ Thấy ai mình trần thì cho áo che thân, không ngoảnh mặt làm ngơ trước người anh em cốt nhục. *
Ngày 9 tháng 3
THÁNH PHAN-XI-CA RÔ-MA, NỮ TU
Chị sinh tại Rô-ma năm 1384. Chị lập gia đình lúc còn trẻ và sinh được ba người con. Gặp thời buổi khó khăn, chị đã phân phát của cải cho người nghèo, phục vụ những người bệnh tật, những người cùng khốn. điểm nổi bật hơn hết là chị phục vụ với tinh thần khiêm tốn, nhẫn nại. Năm 1425, chị lập tu hội Tận Hiến, theo tu luật thánh Biển-đức. chị qua đời năm 1440.
Bài đọc 2
Lòng nhẫn nại và đức ái của thánh Phan-xi-ca
Trích hạnh thánh Phan-xi-ca Rô-ma do chị Ma-ri-a Ma-đa-lê-na An-ghi-la-ri-a biên soạn.
Không phải Thiên Chúa chỉ thử thách lòng nhẫn nại của chị Phan-xi-ca về của cải vật chất mà thôi, nhưng Người còn muốn chị phải chịu nhiều thử thách nơi chính thân xác của chị qua những cơn bệnh lâu dài và trầm trọng. Tuy nhiên, không ai thấy chị mất kiên nhẫn hoặc tỏ ra không bằng lòng khi người ta đối xử vụng về với chị.
Chị Phan-xi-ca đã chứng tỏ lòng kiên trì của mình khi những đứa con mà chị hết lòng yêu thương phải sớm lìa đời ; với tâm hồn luôn thanh thản, chị vâng theo ý Chúa và tạ ơn Người trước những biến cố xảy ra. Với cũng một lòng kiên trì đó, chị đã chịu đựng miệng lưỡi của những người gièm pha và hạ giá chị cũng như của những người nói xấu về lối sống của chính bản thân chị. Chị không hề tỏ lòng gớm ghét những người mà chị biết là đã nghĩ sai và nói sai về chị cũng như về những công việc của chị. Nhưng chị lấy thiện báo ác và có thói quen luôn cầu nguyện cùng Thiên Chúa cho họ.
Thiên Chúa đã chọn chị không phải để chị nên thánh cho bản thân mình, nhưng để chị biến những ân huệ Thiên Chúa ban cho chị thành ơn cứu độ hồn xác cho tha nhân. Do đó, Thiên Chúa đã phú cho chị một tính tình khả ái đến nỗi ai tiếp xúc với chị đều cảm thấy mình bị thu hút bởi lòng yêu mến và quý trọng của chị. Lời của chị mang sức mạnh hữu hiệu của Thiên Chúa đến nỗi vài lời vắn tắt của chị cũng đủ ủi an những tâm hồn phiền muộn và đau khổ, trấn an những người xao xuyến, làm dịu lại kẻ nóng giận, hoà giải những kẻ thù, dập tắt những mối ghen ghét tị hiềm thâm căn cố đế, rất nhiều lần ngăn cản được sự báo thù có suy tính và được chuẩn bị trước. Tắt một lời, dường như chị có thể hướng dẫn tình cảm của bất cứ người nào và dẫn dắt họ đến nơi chị muốn.
Vì thế, từ khắp nơi, người ta tuốn đến với chị Phan-xi-ca như đến một nơi trú ẩn rất an toàn. Chẳng ai chia tay với chị mà lại không được an ủi mặc dầu chị thẳng thắn khiển trách họ về tội lỗi đã phạm và không sợ sửa chữa những gì là nguy hại và không làm đẹp lòng Thiên Chúa.
Ở Rô-ma thời đó, nhiều thứ bệnh tật hoành hành, thường là nguy hiểm và đưa đến tử vong. Chị không mấy quan tâm đến nguy cơ lây bệnh, và không ngần ngại tỏ bày lòng thương xót đối với những người khốn khổ và những kẻ cần được giúp đỡ. Chị dễ dàng gặp được họ, và với lòng cảm thông trước hết chị đưa dẫn họ tới chỗ ăn năn đền tội ; rồi chị tận tâm giúp đỡ họ, lấy lòng yêu thương khuyên nhủ họ vui vẻ chấp nhận từ tay Thiên Chúa mọi điều trái ý và chịu đựng vì lòng yêu mến đối với Đấng đã vì họ mà gánh chịu biết bao diều trước họ.
Đưa các bệnh nhân về nhà mình để chữa trị, chị Phan-xi-ca không lấy thế làm đủ ; chị còn tìm kiếm họ trong những túp lều họ ở và trong những bệnh viện công. Khi tìm thấy rồi, chị cho họ uống nước, dọn dẹp giường chiếu, băng bó vết thương. Gặp những vết thương càng hôi thối và dễ làm cho buồn nôn, chị càng săn sóc ân cần và chu đáo. Chị cũng có thói quen đến khu Cam-pô Xan-tô, mang theo lương thực và thức ăn ngon để phân phát cho những người thiếu thốn hơn cả. Lúc trở lại nhà, chị đem về đống quần áo nghèo nàn đã sờn và nhớp nhúa. Sau khi đã giặt giũ cẩn thận và khâu vá kỹ càng như thể là cho chính Chúa, chị xếp lại tử tế và đặt vào chỗ nức mùi hương.
Chị Phan-xi-ca đã lo công việc phục vụ bệnh nhân và bệnh viện trong vòng ba mươi năm, nghĩa là trong thời gian ở nhà chồng. Chị thường lui tới bệnh viện Đức Ma-ri-a và bệnh viện thánh Xê-xi-li-a ở bên kia sông Ti-be, bệnh viện Chúa Thánh Thần ở Xát-xi-a và bệnh viện thứ tư ở Cam-pô Xan-tô. Vì trong thời gian có bệnh dịch chẳng những khó tìm ra các y sĩ để săn sóc cho thân xác, mà còn khó kiếm được các linh mục để mang đến phương dược cần thiết cho linh hồn, nên chính chị đã tìm kiếm và dẫn đưa các ngài tới những người sẵn sàng lãnh nhận các bí tích Hoà Giải và Thánh Thể. Để thực hiện ý định của mình cách dễ dàng hơn, chị đài thọ các chi phí cho một linh mục để ngài đến các bệnh viện nói trên mà thăm viếng các bệnh nhân do chị giới thiệu.
Xướng đáp x. R 3,10a.11b ; x. Gđt 13,19a
X Bà được Chúa ban tặng phúc lành.
* Toàn dân biết bà là một phụ nữ đức hạnh.
Đ Chúa sẽ tôn vinh danh bà, khiến người đời không ngớt lời ngợi khen. *
Ngày 4 tháng 3
THÁNH CA-XI-MIA
Lễ nhớ
Thánh Ca-xi-mia sinh năm 1458. Thân phụ người là vua nước Ba-lan và Lít-va. Người qua đời năm 1484 lúc hai mươi sáu tuổi, để lại cho dân chúng hình ảnh đẹp về một vị hoàng tử trẻ tuổi, thông minh và hào hiệp. nhưng điều đáng kể nhất, đó là người đã sống rất nhiệm nhặt và siêng năng cầu nguyện, kết hiệp mật thiết với Đức Trinh Nữ Ma-ri-a và với chúa Ki-tô Thánh Thể.
Bài đọc 2
Người lấy mệnh lệnh của Dấng Tối Cao làm kho tàng cho mình
Trích hạnh thánh Ca-xi-mia của một tác giả gần như cùng thời với thánh nhân.
Nơi Ca-xi-mia bừng lên một lòng mến lạ lùng, không giả tạo nhưng chân thành đối Thiên chúa toàn năng, nhờ Chúa Thánh Thần. Lòng mến đó vừa lai láng trong tâm hồn người, vừa dạt dào tự cõi lòng thâm sâu của người, đến nỗi trào ra bên ngoài, lan tới tha nhân, khiến người không lấy gì làm thích thú và đáng ước ao hơn là phân phát của cải mình có. Chẳng những vậy, người lại còn trao tặng và dâng hiến toàn thân mình cho người nghèo khó của Đức Ki-tô, cho khách lữ hành, cho kẻ yếu đau, cho người tù tội và những ai sầu khổ.
Đối với goá phụ, trẻ mồ côi và người bị áp bức, không những người là vị bảo trợ, là người săn sóc, mà còn là cha, là con và là anh em của họ nữa. Chắc hẳn cần viết một cuốn chuyện dài, nếu phải thuật lại từng việc bác ái yêu thương cao cả người đã thực hiện đối với Thiên Chúa và tha nhân.
Người đã vun trồng đức công bình tới mức nào, đã ấp ủ đức tiết độ đến đâu, đã khôn ngoan tới chừng nào, đã can đảm và kiên trì ra sao, nhất là khi ở vào tuổi khá tự do, tuổi mà theo bản tính tự nhiên, con người thường dễ hướng chiều về sự dữ : những điều ấy quả thật khó mà nói và nghĩ cho chính xác được.
Hằng ngày, người vẫn khuyên phụ vương lấy đức công bình mà trị nước và cai quản các dân chư hầu. Và nếu có khi nào vì lơ là hay yếu đuối do bản tính tự nhiên mà phụ vương chểnh mảng việc trị nước thì người không ngần ngại lấy lời khiêm tốn mà nhắc cho phụ vương.
Trong các vụ kiện, người biện hộ và bênh vực cho những người nghèo hèn khốn khổ cũng như cho chính mình, nên được dân chúng xưng tụng là người bênh vực cho những kẻ nghèo. Dù là hoàng tử, thuộc dòng dõi quyền thế cao sang, nhưng người không hề tỏ ra khó tính với ai trong cách nói năng cư xử, ngay cả đối với người hèn hạ tầm thường.
Người luôn thích sống giữa những kẻ hiền lành, có tinh thần nghèo khó, những người sẽ thừa hưởng Nước Trời, hơn là sống giữa những người tiếng tăm, quyền thế đời này. Người không màng chi quyền cao chức trọng, cũng chẳng bao giờ muốn nhận những gì phụ vương ban tặng, vì sợ rằng những mũi tên của cải mà Đức Giê-su Ki-tô, chúa chúng ta, gọi là những cái gai làm cho linh hồn bị thương tổn và lây nhiễm những sự thế trần.
Mọi người, từ thị vệ cho đến các thư ký, các quan chức trong triều đình, mà một số người nay vẫn còn sống, hay những ai đã sống gần gũi thân mật với người, đều quả quyết và chứng thục rằng người đã giữ mình đồng trinh cho đến cùng, cho đến ngày nhắm mắt lìa đời.
Xướng đáp Hc 29,11 ; 1Tm 6,11
X Hãy theo lệnh Đấng Tối Cao mà sử dụng của cải,
* việc đó còn lợi ích cho con hơn cả vàng.
Đ Hãy gắng trở nên người công chính, đạo đức, giàu lòng tin và lòng mến, hãy gằng sống hiền hoà và nhẫn nại. *
Ngày 7 tháng 3
THÁNH NỮ PE-PÊ-TU-A VÀ THÁNH NỮ PHÊ-LI-XI-TA, TỬ ĐẠO
Lễ nhớ
Khi bị bắt, chị Pe-pê-tu-a còn là một dự tòng. Chị có một cháu bé năm hai mươi hai tuổi. còn chị Phê-li-xi-ta thì mang thai và sinh con gái trong tù. Nhưng cả hai không hề tỏ ra yếu đuối khi tiến vào hí trường Các-tha-gô ngày 7 tháng 3 năm 303. Tay nắm tay, hai chị tiến về phía con bò cái hung dữ sắp sửa sát tế hai chị.
Bài đọc 2
Các ngài được kêu gọi và tuyển chọn để làm vinh danh Thiên Chúa
Truyện kể về các thánh tử đạo ở Các-tha-gô.
Ngày toàn thắng của các vị tử đạo đã bừng sáng. Các ngài từ ngục thất tiến ra hí trường, như thể tiến vào thiên quốc, nét mặt rạng rỡ hân hoan. Nếu các ngài có run là vì vui chứ không phải vì sợ.
Chị Pe-pê-tu-a là người đầu tiên bị bò húc, ngã ngửa ra phía sau. Chị chỗi dậy và khi trông thấy chị Phê-li-xi-ta đang nằm sóng soài, thì liền đến gần, đưa tay cho chị Phê-li-xi-ta nắm và nâng chị ấy dậy. Cả hai đều đứng. Và khi dân chúng đã bớt hung hăng, người ta đưa hai chị về cửa dành cho những người sống sót. Ở đó chị Pe-pê-tu-a được một người dự tòng tên là Rút-ti-cô vẫn tháp tùng chị tiếp đón. Rồi như người vừa tỉnh ngủ (vì trước đó chị đã xuất thần và ngất trí), chị bắt đầu nhìn chung quanh và nói với mọi người đang sửng sốt : “Đến bao giờ chúng tôi mới được dẫn tới chỗ con bò ấy nhỉ ?” Và khi nghe biết chuyện đó đã xảy ra rồi, thì ban đầu chị không tin, cho tới khi chị nhận thấy những vết bầm trên thân thể và áo bị rách. Sau đó, chị gọi người em trai và người dự tòng mà khuyên rằng : “Hãy đứng vững trong đức tin và mọi người hãy yêu thương nhau. Đừng thấy chúng tôi phải khổ mà nao núng.”
Tại một cửa khác, anh Xa-tu-rô cũng khuyên người lính tên là Pu-đen-tê rằng : “Cuối cùng, quả như tôi đã đoán và nói trước, cho đến bây giờ, tôi chưa bị con thú dữ nào đụng tới. Nhưng nay anh hãy hết lòng tin tôi đi : này tôi sáp giáp mặt với con báo, chỉ cần nó cắn một miếng là tôi hoàn tất cuộc đời.” Đến màn cuối cuộc vui, anh liền bị ném cho con báo. Nó chỉ cắn anh một miếng là máu anh đã đổ ra chan hoà như tắm. Thấy vậy, dân chúng la lên : “Tắm đi, tắm nữa đi” như đò một chứng cớ về phép rửa lần thứ hai. Và quả thật, anh đã được cứu độ, sau khi đã tắm như thế.
Bấy giờ anh nói với Pu-đen-tê rằng : “Vĩnh biệt nhé ! Nhớ giữ đức tin, và nhớ đến tôi ; chớ gì những sự việc này không làm anh chao đảo, mà trái lại làm anh thêm mạnh sức.” Cùng lúc đó, anh bảo người lính đưa cho anh cái nhẫn người ấy đang đeo ở ngón tay ; sau khi nhúng vào vết thương, anh trao cho người ấy làm di sản, để một vết máu của mình lại làm bảo chứng và làm kỷ vật. Rồi khi anh đã bất tỉnh, người ta ném anh cùng với những người khác vào nơi vẫn dành để xử trảm.
Khi dân chúng yêu cầu đem các ngài ra giữa hí trường để những kẻ đồng sát nhân được nhìn tận mắt lưỡi gươm đâm thấu thân thể các ngài, thì các ngài tự động đứng lên, đi tới nơi dân chúng muốn, rồi hôn nhau trước khi hoàn tấ cuộc tử đạo bằng nghi thức trao ban bình an trọng thể.
Các vị khác đứng bất động và yên lặng đón nhận lưỡi gương ; riêng anh Xa-tu-rô đi lên trước, nên anh là người đầu tiên trút hơi thở. Anh đã nâng đỡ chị Pe-pê-tu-a. còn chị Pe-pê-tu-a, khi bị đâm vào xương thì giật nẩy mình lên vì cảm thấy đau, nên chị cầm lấy tay phải vụng về của tên đao phủ tập sự mà đặt vào cổ họng mình. Có lẽ người phụ nữ can trường như vậy không thể bị giết cách nào khác, trừ khi chị muốn, vì thần ô uế cũng phải sợ chị.
Ôi các vị tử đạo rất mực anh hùng và vô cùng diễm phúc ; các ngài thật sự đã được kêu gọi và tuyển chọn để làm vinh danh Đức Giê-su, Chúa chúng ta.
Xướng đáp Rm 8,34-35.37
X Đức Giê-su Ki-tô đang ngự bên hữu Thiên Chúa mà chuyển cầu cho chúng ta.
* Ai có thể tách chúng ta ra khỏi tình yêu của Đức Ki-tô ? Phải chăng là gian truân, khốn khổ, đói rách, hiểm nguy, bắt bớ, gươm giáo ?
Đ Nhưng trong mọi thử thách ấy, chúng ta toàn thắng nhờ Đấng đã yêu mến chúng ta. *
Ngày 8 tháng 3
THÁNH GIO-AN THIÊN CHÚA, TU SĨ
Thánh nhân sinh tại Bồ-đào-nha năm 1495. Sau đời binh nghiệp đầy nguy hiểm, người hiến thân hoàn toàn để phục vụ các bệnh nhân, ao ước được những điều tốt lành hơn. Người đã lập một bệnh viện ở Gơ-ra-na-đa và được một nhóm các bạn cùng tham gia công việc. Đó là những người sau này làm nên dòng Trợ Thế thánh Gio-an Thiên chúa. Nổi bật hơn cả là lòng bác ái của thánh nhân đối với những người cùng khốn và bệnh tật. Người qua đời ở Gơ-ra-na-đa năm 1550.
Bài đọc 2
Đức Ki-tô tiên liệu mọi sự vì Người vốn trung tín
Trích thư của thánh Gio-an Thiên Chúa, tu sĩ.
Nếu chúng ta nhìn vào lòng thương xót của Thiên Chúa, thì không bao giờ chúng ta ngưng làm việc thiện, bao lâu chúng ta còn có khả năng. Vì khi do lòng mến yêu Thiên Chúa, chúng ta trao lại cho người nghèo những gì Thiên Chúa đã ban cho chúng ta, thì Người cho chúng ta được gấp trăm trong cõi phúc muôn đời. Ôi phúc lợi biết bao, ôi lời lãi dường nào ! Ai mà chẳng trao cho vị thương gia tuyệt vời này bất cứ cái gì mình có, khi Người săn sóc công việc làm ăn của chúng ta và dang cánh ta ra nài xin chúng ta trở về với Người mà than khóc tội lỗi chúng ta và thực hành bác ái trước hết đối với chúng ta, rồi đối với tha nhân. Vì như nước dập tắt lửa thế nào thì đức ái cũng tiêu huỷ tội lỗi như thế.
Có biết bao người nghèo tới đây khiến tôi thường băn khoăn tự hỏi làm thế nào để trợ giúp họ ; nhưng Đức Ki-tô lo liệu mọi sự và nuôi hết mọi người. Nhiều người nghèo đến nhà Thiên Chúa vì thành phố Gơ-ra-na-đa rộng lớn và rất lạnh, nhất là hiện nay đang là mùa đông. Hơn một trăm người hiện đang trú ngụ trong nhà này : người đau có, người khoẻ có, người ở có, khách vãng lai có. Vì đây là nhà chính, nên đón nhận người đau đủ thứ bệnh và thuộc mọi hạng người : bại liệt, què cụt, phong hủi, câm, mất trí, bất toại, ghẻ lở. Có những người già nua tuổi tác, và cũng có nhiều trẻ con ; ngoài ra vô số kẻ vãng lai và khách lữ hành tới đây cần được cung cấp lửa, nước, muối, nồi niêu để nấu ăn : không có khoản tiền nào để trang trải những thứ này, nhưng Chúa Ki-tô lo liệu hết.
Vì thế ở đây tôi mắc nợ và bị cầm tù vì Chúa Giê-su Ki-tô. Và vì nợ nần chồng chất như thế nên không mấy khi tôi dám ra khỏi nhà. Khi tôi thấy biết bao người nghèo (họ là anh em, là người thân cận của tôi), khi tôi thấy họ phải khổ cực quá sức, phải thiếu thốn trăm bề, trong tâm hồn cũng như ngoài thể xác mà tôi không làm vơi nhẹ được thì tôi rất buồn, nhưng tôi tin cậy vào Chúa Ki-tô, vì Người biế lòng tôi. Vì thế tôi nói : vô phúc cho ai tin tưởng ở phàm nhân mà không tin tưởng vào một mình Chúa Ki-tô, vì dù muốn dù không anh vẫn phải chia lìa người ta, còn Chúa Ki-tô vẫn trung tín và luôn hiện diện. Vì Chúa Ki-tô tiên liệu mọi sự nên ta hãy luôn luôn cảm tạ Người. A-men.
Xướng đáp x. Is 58,7-8
X Ngươi hãy chia cơm cho người đói, hãy rước vào nhà những người nghèo không nơi trú ngụ.
* Bấy giờ ánh sáng ngươi sẽ bừng lên như rạng đông.
Đ Thấy ai mình trần thì cho áo che thân, không ngoảnh mặt làm ngơ trước người anh em cốt nhục. *
Ngày 9 tháng 3
THÁNH PHAN-XI-CA RÔ-MA, NỮ TU
Chị sinh tại Rô-ma năm 1384. Chị lập gia đình lúc còn trẻ và sinh được ba người con. Gặp thời buổi khó khăn, chị đã phân phát của cải cho người nghèo, phục vụ những người bệnh tật, những người cùng khốn. điểm nổi bật hơn hết là chị phục vụ với tinh thần khiêm tốn, nhẫn nại. Năm 1425, chị lập tu hội Tận Hiến, theo tu luật thánh Biển-đức. chị qua đời năm 1440.
Bài đọc 2
Lòng nhẫn nại và đức ái của thánh Phan-xi-ca
Trích hạnh thánh Phan-xi-ca Rô-ma do chị Ma-ri-a Ma-đa-lê-na An-ghi-la-ri-a biên soạn.
Không phải Thiên Chúa chỉ thử thách lòng nhẫn nại của chị Phan-xi-ca về của cải vật chất mà thôi, nhưng Người còn muốn chị phải chịu nhiều thử thách nơi chính thân xác của chị qua những cơn bệnh lâu dài và trầm trọng. Tuy nhiên, không ai thấy chị mất kiên nhẫn hoặc tỏ ra không bằng lòng khi người ta đối xử vụng về với chị.
Chị Phan-xi-ca đã chứng tỏ lòng kiên trì của mình khi những đứa con mà chị hết lòng yêu thương phải sớm lìa đời ; với tâm hồn luôn thanh thản, chị vâng theo ý Chúa và tạ ơn Người trước những biến cố xảy ra. Với cũng một lòng kiên trì đó, chị đã chịu đựng miệng lưỡi của những người gièm pha và hạ giá chị cũng như của những người nói xấu về lối sống của chính bản thân chị. Chị không hề tỏ lòng gớm ghét những người mà chị biết là đã nghĩ sai và nói sai về chị cũng như về những công việc của chị. Nhưng chị lấy thiện báo ác và có thói quen luôn cầu nguyện cùng Thiên Chúa cho họ.
Thiên Chúa đã chọn chị không phải để chị nên thánh cho bản thân mình, nhưng để chị biến những ân huệ Thiên Chúa ban cho chị thành ơn cứu độ hồn xác cho tha nhân. Do đó, Thiên Chúa đã phú cho chị một tính tình khả ái đến nỗi ai tiếp xúc với chị đều cảm thấy mình bị thu hút bởi lòng yêu mến và quý trọng của chị. Lời của chị mang sức mạnh hữu hiệu của Thiên Chúa đến nỗi vài lời vắn tắt của chị cũng đủ ủi an những tâm hồn phiền muộn và đau khổ, trấn an những người xao xuyến, làm dịu lại kẻ nóng giận, hoà giải những kẻ thù, dập tắt những mối ghen ghét tị hiềm thâm căn cố đế, rất nhiều lần ngăn cản được sự báo thù có suy tính và được chuẩn bị trước. Tắt một lời, dường như chị có thể hướng dẫn tình cảm của bất cứ người nào và dẫn dắt họ đến nơi chị muốn.
Vì thế, từ khắp nơi, người ta tuốn đến với chị Phan-xi-ca như đến một nơi trú ẩn rất an toàn. Chẳng ai chia tay với chị mà lại không được an ủi mặc dầu chị thẳng thắn khiển trách họ về tội lỗi đã phạm và không sợ sửa chữa những gì là nguy hại và không làm đẹp lòng Thiên Chúa.
Ở Rô-ma thời đó, nhiều thứ bệnh tật hoành hành, thường là nguy hiểm và đưa đến tử vong. Chị không mấy quan tâm đến nguy cơ lây bệnh, và không ngần ngại tỏ bày lòng thương xót đối với những người khốn khổ và những kẻ cần được giúp đỡ. Chị dễ dàng gặp được họ, và với lòng cảm thông trước hết chị đưa dẫn họ tới chỗ ăn năn đền tội ; rồi chị tận tâm giúp đỡ họ, lấy lòng yêu thương khuyên nhủ họ vui vẻ chấp nhận từ tay Thiên Chúa mọi điều trái ý và chịu đựng vì lòng yêu mến đối với Đấng đã vì họ mà gánh chịu biết bao diều trước họ.
Đưa các bệnh nhân về nhà mình để chữa trị, chị Phan-xi-ca không lấy thế làm đủ ; chị còn tìm kiếm họ trong những túp lều họ ở và trong những bệnh viện công. Khi tìm thấy rồi, chị cho họ uống nước, dọn dẹp giường chiếu, băng bó vết thương. Gặp những vết thương càng hôi thối và dễ làm cho buồn nôn, chị càng săn sóc ân cần và chu đáo. Chị cũng có thói quen đến khu Cam-pô Xan-tô, mang theo lương thực và thức ăn ngon để phân phát cho những người thiếu thốn hơn cả. Lúc trở lại nhà, chị đem về đống quần áo nghèo nàn đã sờn và nhớp nhúa. Sau khi đã giặt giũ cẩn thận và khâu vá kỹ càng như thể là cho chính Chúa, chị xếp lại tử tế và đặt vào chỗ nức mùi hương.
Chị Phan-xi-ca đã lo công việc phục vụ bệnh nhân và bệnh viện trong vòng ba mươi năm, nghĩa là trong thời gian ở nhà chồng. Chị thường lui tới bệnh viện Đức Ma-ri-a và bệnh viện thánh Xê-xi-li-a ở bên kia sông Ti-be, bệnh viện Chúa Thánh Thần ở Xát-xi-a và bệnh viện thứ tư ở Cam-pô Xan-tô. Vì trong thời gian có bệnh dịch chẳng những khó tìm ra các y sĩ để săn sóc cho thân xác, mà còn khó kiếm được các linh mục để mang đến phương dược cần thiết cho linh hồn, nên chính chị đã tìm kiếm và dẫn đưa các ngài tới những người sẵn sàng lãnh nhận các bí tích Hoà Giải và Thánh Thể. Để thực hiện ý định của mình cách dễ dàng hơn, chị đài thọ các chi phí cho một linh mục để ngài đến các bệnh viện nói trên mà thăm viếng các bệnh nhân do chị giới thiệu.
Xướng đáp x. R 3,10a.11b ; x. Gđt 13,19a
X Bà được Chúa ban tặng phúc lành.
* Toàn dân biết bà là một phụ nữ đức hạnh.
Đ Chúa sẽ tôn vinh danh bà, khiến người đời không ngớt lời ngợi khen. *