PDA

View Full Version : Bài đọc Kinh Sách Tháng Ba


admin
19-03-2011, 08:53 AM
Bài đọc Kinh Sách Tháng Ba

Ngày 4 tháng 3
THÁNH CA-XI-MIA
Lễ nhớ

Thánh Ca-xi-mia sinh năm 1458. Thân phụ người là vua nước Ba-lan và Lít-va. Người qua đời năm 1484 lúc hai mươi sáu tuổi, để lại cho dân chúng hình ảnh đẹp về một vị hoàng tử trẻ tuổi, thông minh và hào hiệp. nhưng điều đáng kể nhất, đó là người đã sống rất nhiệm nhặt và siêng năng cầu nguyện, kết hiệp mật thiết với Đức Trinh Nữ Ma-ri-a và với chúa Ki-tô Thánh Thể.

Bài đọc 2
Người lấy mệnh lệnh của Dấng Tối Cao làm kho tàng cho mình
Trích hạnh thánh Ca-xi-mia của một tác giả gần như cùng thời với thánh nhân.
Nơi Ca-xi-mia bừng lên một lòng mến lạ lùng, không giả tạo nhưng chân thành đối Thiên chúa toàn năng, nhờ Chúa Thánh Thần. Lòng mến đó vừa lai láng trong tâm hồn người, vừa dạt dào tự cõi lòng thâm sâu của người, đến nỗi trào ra bên ngoài, lan tới tha nhân, khiến người không lấy gì làm thích thú và đáng ước ao hơn là phân phát của cải mình có. Chẳng những vậy, người lại còn trao tặng và dâng hiến toàn thân mình cho người nghèo khó của Đức Ki-tô, cho khách lữ hành, cho kẻ yếu đau, cho người tù tội và những ai sầu khổ.
Đối với goá phụ, trẻ mồ côi và người bị áp bức, không những người là vị bảo trợ, là người săn sóc, mà còn là cha, là con và là anh em của họ nữa. Chắc hẳn cần viết một cuốn chuyện dài, nếu phải thuật lại từng việc bác ái yêu thương cao cả người đã thực hiện đối với Thiên Chúa và tha nhân.
Người đã vun trồng đức công bình tới mức nào, đã ấp ủ đức tiết độ đến đâu, đã khôn ngoan tới chừng nào, đã can đảm và kiên trì ra sao, nhất là khi ở vào tuổi khá tự do, tuổi mà theo bản tính tự nhiên, con người thường dễ hướng chiều về sự dữ : những điều ấy quả thật khó mà nói và nghĩ cho chính xác được.
Hằng ngày, người vẫn khuyên phụ vương lấy đức công bình mà trị nước và cai quản các dân chư hầu. Và nếu có khi nào vì lơ là hay yếu đuối do bản tính tự nhiên mà phụ vương chểnh mảng việc trị nước thì người không ngần ngại lấy lời khiêm tốn mà nhắc cho phụ vương.
Trong các vụ kiện, người biện hộ và bênh vực cho những người nghèo hèn khốn khổ cũng như cho chính mình, nên được dân chúng xưng tụng là người bênh vực cho những kẻ nghèo. Dù là hoàng tử, thuộc dòng dõi quyền thế cao sang, nhưng người không hề tỏ ra khó tính với ai trong cách nói năng cư xử, ngay cả đối với người hèn hạ tầm thường.
Người luôn thích sống giữa những kẻ hiền lành, có tinh thần nghèo khó, những người sẽ thừa hưởng Nước Trời, hơn là sống giữa những người tiếng tăm, quyền thế đời này. Người không màng chi quyền cao chức trọng, cũng chẳng bao giờ muốn nhận những gì phụ vương ban tặng, vì sợ rằng những mũi tên của cải mà Đức Giê-su Ki-tô, chúa chúng ta, gọi là những cái gai làm cho linh hồn bị thương tổn và lây nhiễm những sự thế trần.
Mọi người, từ thị vệ cho đến các thư ký, các quan chức trong triều đình, mà một số người nay vẫn còn sống, hay những ai đã sống gần gũi thân mật với người, đều quả quyết và chứng thục rằng người đã giữ mình đồng trinh cho đến cùng, cho đến ngày nhắm mắt lìa đời.

Xướng đáp Hc 29,11 ; 1Tm 6,11
X Hãy theo lệnh Đấng Tối Cao mà sử dụng của cải,
* việc đó còn lợi ích cho con hơn cả vàng.
Đ Hãy gắng trở nên người công chính, đạo đức, giàu lòng tin và lòng mến, hãy gằng sống hiền hoà và nhẫn nại. *

Ngày 7 tháng 3
THÁNH NỮ PE-PÊ-TU-A VÀ THÁNH NỮ PHÊ-LI-XI-TA, TỬ ĐẠO
Lễ nhớ

Khi bị bắt, chị Pe-pê-tu-a còn là một dự tòng. Chị có một cháu bé năm hai mươi hai tuổi. còn chị Phê-li-xi-ta thì mang thai và sinh con gái trong tù. Nhưng cả hai không hề tỏ ra yếu đuối khi tiến vào hí trường Các-tha-gô ngày 7 tháng 3 năm 303. Tay nắm tay, hai chị tiến về phía con bò cái hung dữ sắp sửa sát tế hai chị.

Bài đọc 2
Các ngài được kêu gọi và tuyển chọn để làm vinh danh Thiên Chúa
Truyện kể về các thánh tử đạo ở Các-tha-gô.
Ngày toàn thắng của các vị tử đạo đã bừng sáng. Các ngài từ ngục thất tiến ra hí trường, như thể tiến vào thiên quốc, nét mặt rạng rỡ hân hoan. Nếu các ngài có run là vì vui chứ không phải vì sợ.
Chị Pe-pê-tu-a là người đầu tiên bị bò húc, ngã ngửa ra phía sau. Chị chỗi dậy và khi trông thấy chị Phê-li-xi-ta đang nằm sóng soài, thì liền đến gần, đưa tay cho chị Phê-li-xi-ta nắm và nâng chị ấy dậy. Cả hai đều đứng. Và khi dân chúng đã bớt hung hăng, người ta đưa hai chị về cửa dành cho những người sống sót. Ở đó chị Pe-pê-tu-a được một người dự tòng tên là Rút-ti-cô vẫn tháp tùng chị tiếp đón. Rồi như người vừa tỉnh ngủ (vì trước đó chị đã xuất thần và ngất trí), chị bắt đầu nhìn chung quanh và nói với mọi người đang sửng sốt : “Đến bao giờ chúng tôi mới được dẫn tới chỗ con bò ấy nhỉ ?” Và khi nghe biết chuyện đó đã xảy ra rồi, thì ban đầu chị không tin, cho tới khi chị nhận thấy những vết bầm trên thân thể và áo bị rách. Sau đó, chị gọi người em trai và người dự tòng mà khuyên rằng : “Hãy đứng vững trong đức tin và mọi người hãy yêu thương nhau. Đừng thấy chúng tôi phải khổ mà nao núng.”
Tại một cửa khác, anh Xa-tu-rô cũng khuyên người lính tên là Pu-đen-tê rằng : “Cuối cùng, quả như tôi đã đoán và nói trước, cho đến bây giờ, tôi chưa bị con thú dữ nào đụng tới. Nhưng nay anh hãy hết lòng tin tôi đi : này tôi sáp giáp mặt với con báo, chỉ cần nó cắn một miếng là tôi hoàn tất cuộc đời.” Đến màn cuối cuộc vui, anh liền bị ném cho con báo. Nó chỉ cắn anh một miếng là máu anh đã đổ ra chan hoà như tắm. Thấy vậy, dân chúng la lên : “Tắm đi, tắm nữa đi” như đò một chứng cớ về phép rửa lần thứ hai. Và quả thật, anh đã được cứu độ, sau khi đã tắm như thế.
Bấy giờ anh nói với Pu-đen-tê rằng : “Vĩnh biệt nhé ! Nhớ giữ đức tin, và nhớ đến tôi ; chớ gì những sự việc này không làm anh chao đảo, mà trái lại làm anh thêm mạnh sức.” Cùng lúc đó, anh bảo người lính đưa cho anh cái nhẫn người ấy đang đeo ở ngón tay ; sau khi nhúng vào vết thương, anh trao cho người ấy làm di sản, để một vết máu của mình lại làm bảo chứng và làm kỷ vật. Rồi khi anh đã bất tỉnh, người ta ném anh cùng với những người khác vào nơi vẫn dành để xử trảm.
Khi dân chúng yêu cầu đem các ngài ra giữa hí trường để những kẻ đồng sát nhân được nhìn tận mắt lưỡi gươm đâm thấu thân thể các ngài, thì các ngài tự động đứng lên, đi tới nơi dân chúng muốn, rồi hôn nhau trước khi hoàn tấ cuộc tử đạo bằng nghi thức trao ban bình an trọng thể.
Các vị khác đứng bất động và yên lặng đón nhận lưỡi gương ; riêng anh Xa-tu-rô đi lên trước, nên anh là người đầu tiên trút hơi thở. Anh đã nâng đỡ chị Pe-pê-tu-a. còn chị Pe-pê-tu-a, khi bị đâm vào xương thì giật nẩy mình lên vì cảm thấy đau, nên chị cầm lấy tay phải vụng về của tên đao phủ tập sự mà đặt vào cổ họng mình. Có lẽ người phụ nữ can trường như vậy không thể bị giết cách nào khác, trừ khi chị muốn, vì thần ô uế cũng phải sợ chị.
Ôi các vị tử đạo rất mực anh hùng và vô cùng diễm phúc ; các ngài thật sự đã được kêu gọi và tuyển chọn để làm vinh danh Đức Giê-su, Chúa chúng ta.

Xướng đáp Rm 8,34-35.37
X Đức Giê-su Ki-tô đang ngự bên hữu Thiên Chúa mà chuyển cầu cho chúng ta.
* Ai có thể tách chúng ta ra khỏi tình yêu của Đức Ki-tô ? Phải chăng là gian truân, khốn khổ, đói rách, hiểm nguy, bắt bớ, gươm giáo ?
Đ Nhưng trong mọi thử thách ấy, chúng ta toàn thắng nhờ Đấng đã yêu mến chúng ta. *

Ngày 8 tháng 3
THÁNH GIO-AN THIÊN CHÚA, TU SĨ

Thánh nhân sinh tại Bồ-đào-nha năm 1495. Sau đời binh nghiệp đầy nguy hiểm, người hiến thân hoàn toàn để phục vụ các bệnh nhân, ao ước được những điều tốt lành hơn. Người đã lập một bệnh viện ở Gơ-ra-na-đa và được một nhóm các bạn cùng tham gia công việc. Đó là những người sau này làm nên dòng Trợ Thế thánh Gio-an Thiên chúa. Nổi bật hơn cả là lòng bác ái của thánh nhân đối với những người cùng khốn và bệnh tật. Người qua đời ở Gơ-ra-na-đa năm 1550.

Bài đọc 2
Đức Ki-tô tiên liệu mọi sự vì Người vốn trung tín
Trích thư của thánh Gio-an Thiên Chúa, tu sĩ.
Nếu chúng ta nhìn vào lòng thương xót của Thiên Chúa, thì không bao giờ chúng ta ngưng làm việc thiện, bao lâu chúng ta còn có khả năng. Vì khi do lòng mến yêu Thiên Chúa, chúng ta trao lại cho người nghèo những gì Thiên Chúa đã ban cho chúng ta, thì Người cho chúng ta được gấp trăm trong cõi phúc muôn đời. Ôi phúc lợi biết bao, ôi lời lãi dường nào ! Ai mà chẳng trao cho vị thương gia tuyệt vời này bất cứ cái gì mình có, khi Người săn sóc công việc làm ăn của chúng ta và dang cánh ta ra nài xin chúng ta trở về với Người mà than khóc tội lỗi chúng ta và thực hành bác ái trước hết đối với chúng ta, rồi đối với tha nhân. Vì như nước dập tắt lửa thế nào thì đức ái cũng tiêu huỷ tội lỗi như thế.
Có biết bao người nghèo tới đây khiến tôi thường băn khoăn tự hỏi làm thế nào để trợ giúp họ ; nhưng Đức Ki-tô lo liệu mọi sự và nuôi hết mọi người. Nhiều người nghèo đến nhà Thiên Chúa vì thành phố Gơ-ra-na-đa rộng lớn và rất lạnh, nhất là hiện nay đang là mùa đông. Hơn một trăm người hiện đang trú ngụ trong nhà này : người đau có, người khoẻ có, người ở có, khách vãng lai có. Vì đây là nhà chính, nên đón nhận người đau đủ thứ bệnh và thuộc mọi hạng người : bại liệt, què cụt, phong hủi, câm, mất trí, bất toại, ghẻ lở. Có những người già nua tuổi tác, và cũng có nhiều trẻ con ; ngoài ra vô số kẻ vãng lai và khách lữ hành tới đây cần được cung cấp lửa, nước, muối, nồi niêu để nấu ăn : không có khoản tiền nào để trang trải những thứ này, nhưng Chúa Ki-tô lo liệu hết.
Vì thế ở đây tôi mắc nợ và bị cầm tù vì Chúa Giê-su Ki-tô. Và vì nợ nần chồng chất như thế nên không mấy khi tôi dám ra khỏi nhà. Khi tôi thấy biết bao người nghèo (họ là anh em, là người thân cận của tôi), khi tôi thấy họ phải khổ cực quá sức, phải thiếu thốn trăm bề, trong tâm hồn cũng như ngoài thể xác mà tôi không làm vơi nhẹ được thì tôi rất buồn, nhưng tôi tin cậy vào Chúa Ki-tô, vì Người biế lòng tôi. Vì thế tôi nói : vô phúc cho ai tin tưởng ở phàm nhân mà không tin tưởng vào một mình Chúa Ki-tô, vì dù muốn dù không anh vẫn phải chia lìa người ta, còn Chúa Ki-tô vẫn trung tín và luôn hiện diện. Vì Chúa Ki-tô tiên liệu mọi sự nên ta hãy luôn luôn cảm tạ Người. A-men.

Xướng đáp x. Is 58,7-8
X Ngươi hãy chia cơm cho người đói, hãy rước vào nhà những người nghèo không nơi trú ngụ.
* Bấy giờ ánh sáng ngươi sẽ bừng lên như rạng đông.
Đ Thấy ai mình trần thì cho áo che thân, không ngoảnh mặt làm ngơ trước người anh em cốt nhục. *

Ngày 9 tháng 3
THÁNH PHAN-XI-CA RÔ-MA, NỮ TU

Chị sinh tại Rô-ma năm 1384. Chị lập gia đình lúc còn trẻ và sinh được ba người con. Gặp thời buổi khó khăn, chị đã phân phát của cải cho người nghèo, phục vụ những người bệnh tật, những người cùng khốn. điểm nổi bật hơn hết là chị phục vụ với tinh thần khiêm tốn, nhẫn nại. Năm 1425, chị lập tu hội Tận Hiến, theo tu luật thánh Biển-đức. chị qua đời năm 1440.
Bài đọc 2
Lòng nhẫn nại và đức ái của thánh Phan-xi-ca
Trích hạnh thánh Phan-xi-ca Rô-ma do chị Ma-ri-a Ma-đa-lê-na An-ghi-la-ri-a biên soạn.
Không phải Thiên Chúa chỉ thử thách lòng nhẫn nại của chị Phan-xi-ca về của cải vật chất mà thôi, nhưng Người còn muốn chị phải chịu nhiều thử thách nơi chính thân xác của chị qua những cơn bệnh lâu dài và trầm trọng. Tuy nhiên, không ai thấy chị mất kiên nhẫn hoặc tỏ ra không bằng lòng khi người ta đối xử vụng về với chị.
Chị Phan-xi-ca đã chứng tỏ lòng kiên trì của mình khi những đứa con mà chị hết lòng yêu thương phải sớm lìa đời ; với tâm hồn luôn thanh thản, chị vâng theo ý Chúa và tạ ơn Người trước những biến cố xảy ra. Với cũng một lòng kiên trì đó, chị đã chịu đựng miệng lưỡi của những người gièm pha và hạ giá chị cũng như của những người nói xấu về lối sống của chính bản thân chị. Chị không hề tỏ lòng gớm ghét những người mà chị biết là đã nghĩ sai và nói sai về chị cũng như về những công việc của chị. Nhưng chị lấy thiện báo ác và có thói quen luôn cầu nguyện cùng Thiên Chúa cho họ.
Thiên Chúa đã chọn chị không phải để chị nên thánh cho bản thân mình, nhưng để chị biến những ân huệ Thiên Chúa ban cho chị thành ơn cứu độ hồn xác cho tha nhân. Do đó, Thiên Chúa đã phú cho chị một tính tình khả ái đến nỗi ai tiếp xúc với chị đều cảm thấy mình bị thu hút bởi lòng yêu mến và quý trọng của chị. Lời của chị mang sức mạnh hữu hiệu của Thiên Chúa đến nỗi vài lời vắn tắt của chị cũng đủ ủi an những tâm hồn phiền muộn và đau khổ, trấn an những người xao xuyến, làm dịu lại kẻ nóng giận, hoà giải những kẻ thù, dập tắt những mối ghen ghét tị hiềm thâm căn cố đế, rất nhiều lần ngăn cản được sự báo thù có suy tính và được chuẩn bị trước. Tắt một lời, dường như chị có thể hướng dẫn tình cảm của bất cứ người nào và dẫn dắt họ đến nơi chị muốn.
Vì thế, từ khắp nơi, người ta tuốn đến với chị Phan-xi-ca như đến một nơi trú ẩn rất an toàn. Chẳng ai chia tay với chị mà lại không được an ủi mặc dầu chị thẳng thắn khiển trách họ về tội lỗi đã phạm và không sợ sửa chữa những gì là nguy hại và không làm đẹp lòng Thiên Chúa.
Ở Rô-ma thời đó, nhiều thứ bệnh tật hoành hành, thường là nguy hiểm và đưa đến tử vong. Chị không mấy quan tâm đến nguy cơ lây bệnh, và không ngần ngại tỏ bày lòng thương xót đối với những người khốn khổ và những kẻ cần được giúp đỡ. Chị dễ dàng gặp được họ, và với lòng cảm thông trước hết chị đưa dẫn họ tới chỗ ăn năn đền tội ; rồi chị tận tâm giúp đỡ họ, lấy lòng yêu thương khuyên nhủ họ vui vẻ chấp nhận từ tay Thiên Chúa mọi điều trái ý và chịu đựng vì lòng yêu mến đối với Đấng đã vì họ mà gánh chịu biết bao diều trước họ.
Đưa các bệnh nhân về nhà mình để chữa trị, chị Phan-xi-ca không lấy thế làm đủ ; chị còn tìm kiếm họ trong những túp lều họ ở và trong những bệnh viện công. Khi tìm thấy rồi, chị cho họ uống nước, dọn dẹp giường chiếu, băng bó vết thương. Gặp những vết thương càng hôi thối và dễ làm cho buồn nôn, chị càng săn sóc ân cần và chu đáo. Chị cũng có thói quen đến khu Cam-pô Xan-tô, mang theo lương thực và thức ăn ngon để phân phát cho những người thiếu thốn hơn cả. Lúc trở lại nhà, chị đem về đống quần áo nghèo nàn đã sờn và nhớp nhúa. Sau khi đã giặt giũ cẩn thận và khâu vá kỹ càng như thể là cho chính Chúa, chị xếp lại tử tế và đặt vào chỗ nức mùi hương.
Chị Phan-xi-ca đã lo công việc phục vụ bệnh nhân và bệnh viện trong vòng ba mươi năm, nghĩa là trong thời gian ở nhà chồng. Chị thường lui tới bệnh viện Đức Ma-ri-a và bệnh viện thánh Xê-xi-li-a ở bên kia sông Ti-be, bệnh viện Chúa Thánh Thần ở Xát-xi-a và bệnh viện thứ tư ở Cam-pô Xan-tô. Vì trong thời gian có bệnh dịch chẳng những khó tìm ra các y sĩ để săn sóc cho thân xác, mà còn khó kiếm được các linh mục để mang đến phương dược cần thiết cho linh hồn, nên chính chị đã tìm kiếm và dẫn đưa các ngài tới những người sẵn sàng lãnh nhận các bí tích Hoà Giải và Thánh Thể. Để thực hiện ý định của mình cách dễ dàng hơn, chị đài thọ các chi phí cho một linh mục để ngài đến các bệnh viện nói trên mà thăm viếng các bệnh nhân do chị giới thiệu.

Xướng đáp x. R 3,10a.11b ; x. Gđt 13,19a
X Bà được Chúa ban tặng phúc lành.
* Toàn dân biết bà là một phụ nữ đức hạnh.
Đ Chúa sẽ tôn vinh danh bà, khiến người đời không ngớt lời ngợi khen. *

admin
19-03-2011, 08:53 AM
Ngày 17 tháng 3
THÁNH PÁT-RÍCH, GIÁM MỤC

Thánh nhân sinh tại Anh quốc quãng năm 385. Lúc còn bé, người đã bị bắt đưa sang Ai-len và phải đi chăn chiên. Khi được tự do, người nhập hàng giáo sĩ, được tấn phong giám mục Ai-len và hăng say loan báo Tin Mừng cho dân thuộc quần đảo này. Người đã đem ánh sáng đức tin đến cho rất nhiều người và có công rất lớn trong việc thiết lập hàng giáo phẩm tại đây. Người qua đời năm 461, gần thành phố Đa-un.

Bài đọc 2
Qua tôi, nhiều dân tộc đã được tái sinh trong Chúa
Trích lời tuyên xưng đức tin của thánh Pát-rích, giám mục.
Tôi không ngừng tạ ơn Thiên Chúa đã gìn giữ tôi, cho tôi được trung tín trong ngày tôi gặp gian nan thử thách. Thế nên hôm nay tôi tin tưởng dâng linh hồn tôi làm của lễ sống động lên Đức Ki-tô là Chúa của tôi, Đấng gìn giữ tôi trong mọi cơn khốn quẫn. Và giờ đây tôi có thể nói : Lạy Chúa, con là ai, hoặc ơn gọi của con là gì mà Chúa đã lấy chính mình Chúa để bao bọc thân con ? Vì thế hôm nay giữa chư dân, con luôn hớn hở vui mừng và ngợi khen danh Chúa, dù con ở bất cứ nơi đâu, lúc thuận cũng như lúc nghịch.
Vậy, bất cứ điều lành hay điều dữ tôi gặp, tôi phải chấp nhận như nhau và luôn luôn tạ ơn Thiên Chúa. Chính Người đã tỏ cho tôi biết là tôi phải luôn luôn tin tưởng vào Người, vì Người là Đấng chân thật và hằng nghe lời tôi xin. Cho nên trong những ngày sau hết này, tôi vẫn ước ao trở nên giống các tông đồ là những vị đã được Chúa báo trước sẽ rao giảng Tin Mừng của Người mà làm chứng cho Người trước mặt muôn dân, dù tôi không thể hoàn thành công việc lớn lao và lạ lùng ấy.
Bởi đâu tôi được sự khôn ngoan này, mà trước kia tôi không có ? Tôi đã không biết số ngày đời tôi, cũng chẳng biết nếm hưởng Thiên Chúa. Bởi đâu mà sau đó tôi lại được ân huệ thật lớn lao và bổ ích, là nhận biết Thiên Chúa và yêu mến Người, đến nỗi tôi dám bỏ quê hương, họ hàng, để đến giảng Tin Mừng cho dân Ai-len, và chuốc lấy những lời khinh dể của những kẻ không tin ? Bởi đâu tôi có sức chịu đựng bao vất vả trên đường tông đồ, bao cơn bắt bớ, kể cả xích xiếng, và hy sinh tự do của mình vì lợi ích tha nhân ?
Nếu Chúa xét là tôi xứng đáng, thì tôi sẵn sàng cống hiến cả mạng sống vì danh Người, không chút ngần ngại mà lòng rất vui. Tôi ước mong tiêu hao chính con người của tôi, thậm chí tôi sẵn sàng chịu chết nếu được Chúa ban ơn. Quả thật, tôi mắc nợ Thiên Chúa quá nhiều, vì Người đã ban cho tôi ơn cao cả này là qua tôi, nhiều dân tộc được tái sinh trong Thiên Chúa, rồi sau đó được đạt tới mức thập toàn trong đức tin. Khắp nơi, nhiều người được gia nhập hàng giáo sĩ để phụ vụ đoàn dân vừa mới đến với đức tin, đoàn dân Chúa đã chuộc về từ tận cùng cõi đất. Đúng như xưa kia Người đã hứa qua các ngôn sứ : Từ khắp cùng cõi đất, các dân tộc sẽ đến với Ngài. Chúng sẽ nói : Cha ông chúng tôi đã chỉ được thừa hưởng sự dối trá, cùng những điều hão huyền vô tích sự. Người còn phán : Này đây ta đặt ngươi làm ánh sáng muôn dân, để ngươi đem ơn cứu độ của Ta đến tận cùng cõi đất.
Vì thế tôi quyết trông đợi Chúa thực hiện lời hứa, vì Người chẳng bao giờ sai lời, như Người đã cam kết trong Tin Mừng : Từ phương Đông phương Tây, nhiều người sẽ đến dự tiệc cùng các tổ phụ Áp-ra-ham, I-xa-ác và Gia-cóp. Chúng tôi tin như vậy : từ khắp tứ phương thiên hạ, những người tin sẽ đến.

Xướng đáp Rm 15,15-16 ; 1-9
X Thiên Chúa đã ban cho tôi ân sủng này là làm người phục vụ Đức Giê-su Ki-tô giữa các dân ngoại, lo việc tế tự là rao giảng Tin Mừng của Thiên Chúa.
* Để các dân ngoại nhờ được Thánh Thần thánh hoá mà trở nên một lễ phẩm đẹp lòng Thiên Chúa.
Đ Tôi hết lòng thờ phượng Thiên Chúa khi loan báo Tin Mừng về Con của Người. *

Ngày 18 tháng 3
THÁNH SY-RI-LÔ, GIÁM MỤC GIÊ-RU-SA-LEM, TIẾN SĨ HỘI THÁNH

Thánh nhân chào đời năm 315 trong một gia đình Ki-tô giáo. Năm 348, người kế vị giám mục Mắc-xi-mô, trông coi giáo phận Giê-ru-sa-lem. Vì những hoạt động, những cuộc tranh luận với giáo phái A-ri-ô, hơn một lần người bị kết án đi đày. Người để lại nhiều bài giảng, trong đó người dựa vào Sách Thánh và truyền thống mà giải thích cho các tín hữu biết giáo lý chân truyền. Các bài giảng đó cho thấy hoạt động mục vụ tích cực của Người. Người qua đời năm 386.
Bài đọc 2
Anh em hãy chuẩn bị tâm hồn cho thanh sạch để đón nhận Chúa Thánh Thần
Trích bài Giáo huấn của thánh Sy-ry-lô, giám mục Giê-ru-sa-lem.
Trời vui lên, đất hãy nhảy mừng. Vì có những anh chị em sắp được rảy nước bằng cành hương thảo, sắp được thanh tẩy bằng cành hương thảo thiêng liêng, nhờ quyền năng của Đức Ki-tô. Trong cuộc thương khó, người ta đã lấy cành hương thảo và cây sậy đưa đồ uống lên cho Người. Các quyền thần thiên quốc hãy vui mừng. Các tâm hồn sắp được kết hợp với Đức Lang Quân hãy chuẩn bị, vì có tiếng người hô trong hoang địa : Hãy dọn sẵn con đường của Đức Chúa.
Hỡi những người công chính, hãy ăn ở theo lời thánh Gio-an khuyên bảo : Hãy sửa lối cho thẳng để Đức Chúa đi. Anh em hãy gỡ bỏ mọi chướng ngại và cản trở để tiến đến cuộc sống đời đời. Tâm hồn anh em là bình quý, hãy chuẩn bị cho thanh sạch để đón nhận Chúa Thánh Thần. Anh em hãy sám hối, hãy bắt đầu giặt áo đi, để khi anh em được gọi vào loan phòng của Đức Lang Quân, thì Người thấy anh em tinh tuyền rồi.
Quả thật, Đức Lang Quân kêu gọi mọi người, không phân biệt, và Người rộng tay ban ân sủng dồi dào. Những vị rao giảng Tin Mừng lớn tiếng tập họp mọi người, nhưng chính Đức Lang Quân sẽ phân định ai là người được vào dự tiệc cưới. Tiệc cưới là hình bóng của bí tích Thánh Tẩy.
Ước chi đừng xảy ra chuyện này là trong số những người đã ghi danh, bây giờ lại có kẻ phải nghe nói : Này bạn, làm sao bạn vào đây mà lại không có y phục lễ cưới ?
Nhưng trái lại, ước chi tất cả anh em đều được nghe lời này : Khá lắm, hỡi người đầy tớ tài giỏi và trung thành, được trao ít mà anh đã trung thành, thì tôi sẽ trao nhiều cho anh trông coi. Hãy vào mà hưởng niềm vui của chủ anh.
Cho đến lúc này anh em vẫn còn đứng ở ngoài cửa. Ước gì tất cả anh em có thể nói : Đức Vua đưa tôi vào cung điện của Người. Tôi mừng rỡ muôn phần nhờ Đức Chúa. Người mặc cho tôi hồng ân cứu độ, choàng cho tôi đức chính trực công min, như chú rể chỉnh tề khăn áo, tựa cô dâu lộng lẫy điểm trang.
Ước chi Chúa không còn thấy tì ố, vết nhăn hay bất cứ cái gì giống như thế nơi tâm hồn của tất cả anh em. Tôi không muốn nói anh em phải như vậy trước khi lãnh nhận ân sủng (nói thế làm sao được, vì anh em đang được gọi đến lãnh nhận ơn tha thứ tội lỗi mà ?). Nhưng ước chi khi Chúa ban ân sủng rồi, lương tâm anh em không còn gì đáng kết án, mà sẽ nghiệm thấy công hiệu của ân sủng.
Thưa anh em, đây là việc rất trọng đại. Hãy hết sức chú tâm mà tiến tới. Mỗi người anh em sẽ đứng trước tôn nhan Thiên Chúa, giữa muôn muôn đạo binh thiên thần. Chúa Thánh Thần sắp đóng ấn trên tâm hồn anh em, hẳn anh em sẽ được tuyển chọn làm quân binh của Đức Vua cao cả.
Vì thế, anh em hãy chuẩn bị sẵn sàng. Đừng lo ăn mặc lộng lẫy xa hoa, nhưng hãy trau dồi đức hạnh cho tâm hồn anh em không còn chi đáng trách.

Xướng đáp x.Ml 2,6 ; Tv 88 (89),22
X Tôi tớ của Ta sẽ mở miệng nói lời chân thật chứ không nói lời gian ác.
* Trên nẻo đường bình an, ngay thẳng, tôi tớ của Ta cùng đi với Ta.
Đ Ta sẽ không ngừng đưa tay nâng đỡ, tay quyền năng củng cố vững vàng. *

Ngày 19 tháng 3
THÁNH GIU-SE, BẠN TRĂM NĂM ĐỨC MA-RI-A
Lễ trọng

Thánh Giu-se, bạn trăm năm của Đức Ma-ri-a, có sứ mạng “chăm sóc Đức Giê-su như một người cha”. Nhưng Chúa đã muốn người chủ thánh gia ở Na-da-rét tiếp tục sứ mạng ấy trong Hội Thánh, thân thể của Chúa Ki-tô. Đức Ma-ri-a là Mẹ của Hội Thánh thì thánh Giu-se là Đấng che chở Hội Thánh.
Bài đọc 1 Dt 11,1-16

Đức tin của các thánh tổ phụ
Lời Chúa trong thư gởi tín hữu Do-thái.

1 Đức tin là bảo đảm cho những điều ta hy vọng, là bằng chứng cho những điều ta không thấy.2Nhờ đức tin ấy, các tiền nhân đã được Thiên Chúa chứng giám.
3Nhờ đức tin, chúng ta hiểu rằng vũ trụ đã được hình thành bởi lời của Thiên Chúa; vì thế, những cái hữu hình là do những cái vô hình mà có.4Nhờ đức tin, ông A-ben đã dâng lên Thiên Chúa một hy lễ cao quý hơn hy lễ của ông Ca-in: nhờ tin như vậy, ông A-ben đã được chứng nhận là người công chính, bởi vì Thiên Chúa đã chấp nhận những lễ phẩm ông dâng. Và cũng nhờ tin như thế, mà tuy đã chết rồi, ông vẫn còn lên tiếng.
5Nhờ đức tin, ông Kha-nốc được đem đi nơi khác để khỏi chết, và người ta không tìm thấy ông nữa, bởi vì Thiên Chúa đã đem ông đi. Quả thật, Kinh Thánh chứng nhận rằng: trước khi được đem đi, ông đã làm đẹp lòng Thiên Chúa.6Mà không có đức tin, thì không thể làm đẹp lòng Thiên Chúa, vì ai đến gần Thiên Chúa, thì phải tin là có Thiên Chúa và tin Người là Đấng ban phần thưởng cho những ai tìm kiếm Người.
7Nhờ đức tin, ông Nô-ê được Thiên Chúa báo cho biết những gì người ta chưa thấy; vì có lòng kính sợ Thiên Chúa, ông đã đóng một chiếc tàu để cứu gia đình ông. Tin như thế là ông đã lên án thế gian, và được phần gia nghiệp là sự công chính nhờ đức tin.
8Nhờ đức tin, ông Áp-ra-ham đã vâng nghe tiếng Chúa gọi mà ra đi đến một nơi ông sẽ được lãnh nhận làm gia nghiệp, và ông đã ra đi mà không biết mình đi đâu.9Nhờ đức tin, ông đã tới cư ngụ tại Đất Hứa như tại một nơi đất khách, ông sống trong lều cũng như ông I-xa-ác và ông Gia-cóp là những người đồng thừa kế cũng một lời hứa,10vì ông trông đợi một thành có nền móng do chính Thiên Chúa vẽ mẫu và xây dựng.11Nhờ đức tin, cả bà Xa-ra vốn hiếm muộn, cũng đã có thể thụ thai và sinh con nối dòng vào lúc tuổi đã cao, vì bà tin rằng Đấng đã hứa là Đấng trung tín.12Vì thế, do một người duy nhất, một người kể như chết rồi mà đã sinh ra một dòng dõi nhiều như sao trời cát biển, không tài nào đếm được.13Tất cả các ngài đã chết, lúc vẫn còn tin như vậy, mặc dù chưa được hưởng các điều Thiên Chúa hứa; nhưng từ xa các ngài đã thấy và đón chào các điều ấy, cùng xưng mình là ngoại kiều, là lữ khách trên mặt đất.14Những người nói như vậy cho thấy là họ đang đi tìm một quê hương.15Và nếu quả thật họ còn nhớ tới quê hương mình đã bỏ ra đi, thì họ vẫn có cơ hội trở về.16Nhưng thực ra các ngài mong ước một quê hương tốt đẹp hơn, đó là quê hương trên trời. Bởi vậy, Thiên Chúa đã không hổ thẹn để cho các ngài gọi mình là Thiên Chúa của các ngài, vì Người đã chuẩn bị một thành cho các ngài.

Xướng đáp Rm 4,20-22 ; Gc 2,22
X Ông đã chẳng mất niềm tin, chẳng chút nghi ngờ lời Thiên Chúa hứa, trái lại, nhờ niềm tin, ông đã nên vững mạnh và tôn vinh Thiên Chúa.
* Bởi thế, ông được kể là người công chính. (H)
Đ Đức tin hợp tác với hành động của ông, và nhờ hành động mà đức tin nên hoàn hảo. *

Bài đọc 2
Thánh Giu-se trung thành dưỡng nuôi và gìn giữ Chúa Giê-su
Trích bài giảng của thánh Bê-na-đi-nô Xi-ê-na, linh mục
Đây là đường lối thông thường của Chúa khi Người ban những ơn riêng cho một thọ tạo có trí khôn : Chúa thương tuyển chọn và ban cho ai một ơn đặc biệt hay một địa vị cao trọng nào, thì Người cũng ban mọi đặc sủng cần thiết cho kẻ được tuyển chọn ấy cũng như cho nhiệm vụ của họ. Những đặc sủng này còn tô điểm thêm cho bản thân họ rất nhiều.
Điều này được chứng thực cách tuyệt hảo nơi thánh cả Giu-se. Thánh nhân được coi là cha của Chúa Giê-su Ki-tô và thực sự là bạn trăm năm của Đức Ma-ri-a, nữ hoàng trần thế và nữ vương các thiên thần. Chúa Cha hằng hữu đã chọn thánh Giu-se để thánh nhân trung thành dưỡng nuôi và gìn giữ Đức Giê-su Con Thiên Chúa và Đức Ma-ri-a hiền thê của thánh nhân. Đây là hai kho tàng quý giá nhất của Người. Thánh nhân đã chu toàn nhiệm vụ ấy một cách rất trung thành. Vì thế, Chúa đã nói với thánh nhân : Hỡi người tôi tớ tài giỏi và trung thành, hãy vào hưởng niềm vui của chủ.
Nếu bạn muốn nói đến vị thế của thánh Giu-se trong Hội Thánh Đức Ki-tô, thì không phải thế này sao : thánh nhân chính là con người được tuyển chọn, con người đặc biệt. Nhờ có thánh nhân đứng bảo lãnh mà Đức Ki-tô đã vào trần gian một cách hợp pháp và đàng hoàng ? Vậy nếu toàn thể Hội Thánh mắc nợ Đức Mẹ Đồng Trinh, vì nhờ Mẹ mà Hội Thánh được đón nhận Đức Ki-tô, thì sau Đức Mẹ, thánh Giu-se phải được Hội Thánh biết ơn và tôn sùng hơn hết.
Thánh nhân chính là điểm kết của Cựu Ước. Nơi thánh nhân, các tổ phụ và ngôn sứ đón nhận được hoa trái Thiên Chúa hứa ban. Điều mà Thiên Chúa dủ tình hứa ban cho các vị ấy, nay trở thành một con người bằng xương bằng thịt, và một mình thánh Giu-se được tiếp đón.
Suốt cuộc đời dương thế, Đức Ki-tô đã sống thân tình với thánh Giu-se, đã quý trọng và tôn kính thánh nhân như người con đối với cha mình, thì hẳn không thể nghi ngờ gì nữa : nay trên trời, chẳng những Đức Ki-tô không chấm dứt, mà còn gia tăng và kiện toàn những tâm tình ấy.
Bởi đó, thật thích đáng khi Chúa nói thêm : Hãy vào hưởng niềm vui của chủ. Đúng ra, niềm vui thấm nhập cõi lòng khi con người được hưởng hạnh phúc vĩnh cửu, nhưng Chúa vẫn thích nói thế này hơn : Hãy vào hưởng niềm vui … Chúa muốn ta hiểu sâu xa rằng : Không những niềm vui thấm nhập vào lòng người, nhưng nó còn bao trùm, cuốn hút và, như một vực thẳm mênh mông vô tận, nó tràn ngập con người.
Lạy thánh Giu-se, xin nhớ đến chúng con và cầu thay nguyện giúp cho chúng con bên toà Đức Ki-tô là Dưỡng Tử của Ngài. Xin kêu cầu bạn trăm năm của Ngài là Đức Trinh Nữ Ma-ri-a rất thánh dủ lòng thương xót chúng con. Người là Thân Mẫu Đức Ki-tô, Đấng hằng sống và hiển trị cùng Chúa Cha và Chúa Thánh Thần đến muôn thuở muôn đời. A-men.

Xướng đáp
X Thiên Chúa đã đặt thánh nhân lên bậc phụ vương, giao cho người quản trị nhà Thiên Chúa.
* Nhằm cứu độ muôn dân muôn nước, chính Thiên Chúa đã nâng tôi lên. (H)
Đ Người đã thương phù trợ và giải thoát tôi. *

Thánh thi “Lạy Thiên Chúa”.

admin
31-03-2011, 09:21 PM
Ngày 22 tháng 3
THÁNH TU-RI-BI-Ô MÔN-RÔ-VÊ-KHÔ, GIÁM MỤC
Thánh nhân sinh tại Tây-ban nha quảng năm 1538. Học luật tại Xa-la-man-ca. Năm 1850, người được đặt làm giám mục giáo phận Li-ma ở Nam Mỹ. Là một người đầy nhiệt tâm tông đồ. Người đã tổ chức nhiều cuộc hội miền để cổ võ đời sống tu trì của toàn miền và đã gặt hái được nhiều kết quả. Người mạnh mẽ bênh vực luật của Hội Thánh. Người hoàn toàn hiến thân phục vụ đoàn chiên và nhất là chăm lo cho dân bản xứ. Người qua đời năm 1606.
Bài đọc 2

Hãy sẵn sàng làm mọi việc tốt
Trích Sắc lệnh Chúa Ki-tô của Công Đồng Va-ti-ca-nô II, về nhiệm vụ mục tử của hàng giám mục trong Hội Thánh.

Trong khi thi hành nhiệm vụ giảng dạy, các giám mục phải loan báo Tin Mừng Đức Ki-tô cho loài người : đó là nhiệm vụ hàng đầu trong số các nhiệm vụ trọng yếu của hàng giám mục. Đang khi các ngài dựa vào sức mạnh của Thánh Thần mà kêu gọi người ta lãnh nhận đức tin hoặc củng cố họ trong đức tin sống động, các ngài phải trình bày cho họ biết toàn bộ mầu nhiệm Đức Ki-tô, tức là những chân lý mà người ta không thể không biết đến, một khi đã biết chính Đức Ki-tô. Các ngài cũng phải trình bày con đường đã được Thiên Chúa mặc khải, ngõ hầu Thiên Chúa được tôn vinh, và nhờ đó loài người cũng đạt tới hạnh phúc vĩnh cửu.
Hơn nữa, các ngài còn phải cho thấy rằng : theo kế hoạch của Thiên Chúa Tạo Hoá, ngay cả các thực tại trần thế và các định chế do loài người lập ra, cũng đều nhằm giải cứu nhân loại, và do đó, đều có thể góp phần không ít vào việc xây dựng nhiệm thể Đức Ki-tô.
Vậy các ngài phải theo giáo huấn của Hội Thánh mà dạy cho người ta biết phải giữ thái độ trân trọng như thế nào đối với nhân vị, tự do và cả sự sống thể xác của con người ; đối với gia đình, mối hiệp nhất và sự bền vững của gia đình ; đối với bổn phận sinh sản và giáo dục con cái ; đối với xã hội trần gian, các luật lệ và ngành nghề trong xã hội đó ; đối với việc lao động và nghỉ ngơi giải trí ; đối với nghệ thuật và kỹ thuật ; đối với nỗi túng thiếu và cảnh dư dật. Sau cùng, các ngài còn phải đưa ra những phương thế nhằm giải quyết các vấn đề nghiêm trọng liên quan đến việc sở hữu của cải vật chất, đến việc làm ra thêm và phân phối của cải ấy cho công bằng, hoà bình và chiến tranh, đến cộng đoàn huynh đệ bao gồm tất cả mọi dân tộc.
Các ngài sẽ trình bày giáo lý Chúa Ki-tô thế nào cho thích hợp với các nhu cầu của thời đại, nghĩa là đáp ứng được những khó khăn và những vấn đề đang dồn ép và dày vò con người hơn cả. Các ngài cũng bảo vệ giáo lý đó, dạy cho các tín hữu biết tự mình bênh vực và phổ biến giáo lý đó. Trong khi truyền đạt giáo lý, các ngài phải nêu cao lòng ân cần đầy tình mẫu tử của Hội Thánh đối với mọi người, bất kể là tín hữu hay không. Các ngài cũng phải đặc biệt lo cho người nghèo và người hèn mọn, vì Chúa đã sai các ngài đi loan báo Tin Mừng cho những người này.
Khi thi hành nhiệm vụ làm cha và làm mục tử, các ngài phải sống giữa bổn đạo như những người phục vụ. Các ngài phải là mục tử nhân lành hiểu biết chiên và được chiên hiểu biết. Các ngài phải là những người cha thực sự, ai cũng thấy rõ là các ngài đầy tình yêu thương và lòng tận tuỵ đối với mọi người, ai cũng hết lòng biết ơn và sẵn sàng tùng phục quyền bính Thiên Chúa đã trao cho các ngài. Các ngài sẽ quy tụ toàn thể đoàn chiên thành một gia đình, huấn luyện cho đoàn chiên ý thức nhiệm vụ của mình, sống và hành động trong tình hiệp thông bác ái.
Để thực hiện những điều trên đây cho có kết quả, các giám mục phải sẵn sàng làm mọi việc tốt, cam chịu mọi sự để mưu ích cho những người Thiên Chúa đã chọn và tổ chức đời sống của các ngài sao cho phù hợp với các nhu cầu của thời đại.

Xướng đáp 1 Pr 5,2-4 ; Cv 20,28
X Anh em hãy chăn dắt đoàn chiên của Thiên Chúa, hãy nêu gương sáng cho đoàn chiên.
* Khi vị Mục Tử tối cao xuất hiện, anh em sẽ được lãnh triều thiên vinh hiển không bao giờ hư nát. (H)
Đ Anh em hãy ân cần lo cho toàn thể đoàn chiên mà Thánh Thần đã đặt anh em làm người coi sóc, hãy chăn dắt Hội Thánh của Thiên Chúa. *

Ngày 25 tháng 3
LỄ TRUYỀN TIN
Lễ trọng
Chín tháng trước lễ Giáng Sinh, chúng ta mừng ngày Con Thiên Chúa nhập thể trong lòng Đức Trinh Nữ Ma-ri-a. Biến cố này được thánh Lu-ca tường thuật lại trong phần đầu sách Tin Mừng của người. Phụng vụ ngày hôm nay được soi sáng nhờ lời của tác giả Thánh vịnh 39. Lời này đã được tác giả thư Do-thái đặt lên miệng Chúa Ki-tô khi Người bước vào trần gian : “Lạy Chúa, này con đây, con đến để thực thi ý Ngài”.

Bài đọc 1 1 Sb 17,1-15

Lời sấm về con vua Đa-vít
Lời Chúa trong sách Sử Biên Niên quyển 1.

1 Khi đã được yên cửa yên nhà, vua Đa-vít nói với ngôn sứ Na-than rằng: "Này, tôi được ở nhà bằng gỗ bá hương, còn Hòm Bia Giao Ước của ĐỨC CHÚA thì vẫn ở dưới lều." 2 Ông Na-than thưa với vua Đa-vít: "Tất cả những gì ngài ấp ủ trong lòng, xin cứ thực hiện, vì Thiên Chúa ở với ngài." 3 Nhưng, ngay đêm ấy, có lời Thiên Chúa phán với ông Na-than rằng: 4 "Hãy đi nói với tôi tớ Ta là Đa-vít: ĐỨC CHÚA phán thế này: không phải ngươi sẽ xây nhà cho Ta ở. 5 Thật vậy, từ ngày Ta đưa Ít-ra-en lên cho tới hôm nay, Ta không hề ở trong một ngôi nhà, nhưng Ta đã ở hết lều này đến lều khác, hết Nhà Tạm này sang Nhà Tạm khác. 6 Trong suốt thời gian rày đây mai đó với toàn thể Ít-ra-en, có bao giờ Ta đã lên tiếng hỏi một trong các thủ lãnh Ít-ra-en mà Ta đã đặt lên chăn dắt dân Ta, rằng: sao các ngươi không xây cho Ta một ngôi nhà bằng gỗ bá hương? 7 Bây giờ, ngươi hãy nói với tôi tớ Ta là Đa-vít như sau: ĐỨC CHÚA các đạo binh phán thế này: Chính Ta đã cất nhắc ngươi, từ một kẻ lùa chiên ngoài đồng cỏ, lên làm người lãnh đạo dân Ta là Ít-ra-en. 8 Ngươi đi đâu, Ta cũng đã ở với ngươi; mọi thù địch ngươi, Ta đã diệt trừ cho khuất mắt ngươi; Ta sẽ làm cho tên tuổi ngươi sánh được với tên tuổi các bậc vĩ nhân trên mặt đất. 9 Ta sẽ cho dân Ta là Ít-ra-en một chỗ ở; Ta sẽ định cư chúng và chúng sẽ ở luôn tại đó, chúng sẽ không còn run sợ và quân gian ác cũng không còn tiếp tục quấy phá chúng như thuở ban đầu, 10 từ thời Ta đặt các thủ lãnh cai quản dân Ta là Ít-ra-en, Ta sẽ bắt mọi thù địch hàng phục ngươi. Ta báo cho ngươi biết là ĐỨC CHÚA sẽ xây cho ngươi một ngôi nhà. 11 Khi ngươi được mãn phần mà về với tổ tiên, Ta sẽ cho dòng dõi ngươi đứng lên kế vị ngươi -tức là một trong số các con ngươi-, và Ta sẽ làm cho vương quyền của nó được vững bền. 12 Chính nó sẽ xây nhà cho Ta, còn Ta sẽ làm cho ngai báu của nó vững bền mãi mãi. 13 Đối với nó, Ta sẽ là cha, đối với Ta, nó sẽ là con; ân nghĩa dành cho nó, Ta sẽ không rút lại, như Ta đã rút lại đối với kẻ tiền nhiệm của ngươi.
14 Ta sẽ làm cho nó được kiên vững trong nhà Ta cũng như trong vương quốc của Ta đến muôn đời, và đến muôn đời ngai báu của nó sẽ được củng cố."
15 Tất cả các lời ấy và tất cả thị kiến ấy, ông Na-than nhận được làm sao, thì đã nói lại với vua Đa-vít đúng y như vậy.

Xướng đáp x. Lc 1,26-32
X Sứ thần Gáp-ri-en được Thiên Chúa sai đến truyền tin cho Trinh Nữ Ma-ri-a, sau khi Trinh Nữ đã thành hôn với ông Giu-se. Thấy ánh sáng, Trinh Nữ sợ hãi, sứ thần liền nói : “Thưa bà Ma-ri-a, xin đừng sợ, vì bà đẹp lòng Thiên Chúa.
* Này đây bà sẽ thụ thai và sinh con, và con bà sẽ được gọi là Con Đấng Tối Cao”. (H)
Đ Mừng vui lên, hỡi Đấng đầy ân sủng, Thiên Chúa ở cùng bà. *

Bài đọc 2
Bí tích giao hoà của chúng ta
Trích thư của thánh Lê-ô Cả, giáo hoàng.

Đấng uy nghi đã nhận lấy thân phận thấp hèn ; Đấng quyền năng nhận kiếp người ya61u đuối ; Đấng hằng hữu nhận xác phàm phải chết. Để trả món nợ mà những kẻ mang thân phận làm người như chúng ta mắc phải, bản tính bất khả tổn thương đã phối hợp với bản tính có thể chịu đau khổ. Như thế, vị trung gian duy nhất giữa Thiên Chúa và nhân loại, là con người Giê-su Ki-tô, vừa có thể chết, lại vừa không thể chết ; và đó chính là phương dược cứu chữa chúng ta.
Thế nên Đấng là Thiên Chúa thật đã mang lấy đầy đủ và nguyên vẹn bản tính của một con người thật mà sinh ra. Người vẫn hoàn toàn là Thiên Chúa, đồng thời cũng hoàn toàn là con người như chúng ta. Tôi nói “là người như chúng ta” theo nghĩa là những gì Đâng1 Tạo Hoá đã dựng nên nơi chúng ta từ thuở ban đầu và cũng là những gì Người đã nhận lấy để tái tạo.
Vì nơi Chúa Cứu Thế, không có dấu vết của những gì mà tên lừa gạt đã đưa vào thế gian, và con người bị lừa gạt đã mắc phải. Cho nên dẫu Người chấp nhận chia sẻ thân phận mỏng dòn của phàm nhân chúng ta, Người vẫn không thông phần vào tội lỗi của chúng ta.
Người đã mặc lấy thân nô lệ mà không nhiễm vết nhơ tội lỗi, đã nâng cao nhân tính mà không hạ thấp thần tính : Đấng Tạo Hoá và Chủ Tể muôn loài đã muốn trở nên một người giữa những nhười có sinh có tử, nên đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, và nhờ đó, vốn là Đấng vô hình, Người đã hoá nên hữu hình cho chúng ta được thấy. Nhưng trút bỏ vinh quang như thế là người đã dủ tình thương xót mà hạ cố, chứ không phải là người đã bị mất quyền năng. Vậy, Đấng trong uy thế của một vì Thiên Chúa, đã làm ra con người, cũng chính là Đấng nay làm người trong thân phận của một kẻ tôi tớ.
Thế là Con Thiên Chúa đã đi vào hạ giới của chúng ta. Người từ ngai trời mà xuống, nhưng không rời bỏ vinh quang của Cha. Người được sinh ra theo một lối sinh khác để đi vào một thế giới khác.
Nói là “vào một thế giới khác”, vì trong giới Thiên Chúa, Người vô hình, còn trong giới phàm nhân, Người hữu hình. Đấng vô biên đã muốn trở thành hữu hạn. Đấng vẫn hiện hữu trước thời gian đã bắt đầu hiện diện từ một thời điểm. Đấng là Chúa Tể càn khôn đã mặc lấy thân nô lệ, che giấu hết uy quyền vô biên của mình. Đấng là Thiên Chúa không thể chịu đau khổ, đã chẳng quản nên người phàm có thể chịu khổ đau. Và Đấng bất tử đã chẳng nề chấp nhận luật tử sinh.
Quả thế, Đấng thực sự là Thiên Chúa cũng thực sự là con người, và sự phối hợp này không có chi dối trá, vì giữa phận hèn phàm nhân và thần tính cao cả vẫn có một quan hệ hỗ tương.
Thiên Chúa vẫn nguyên vẹn là Thiên Chúa khi Người cúi xuống xót thương. Cũng vậy, con người không mất tư chất của mình khi phẩm vị được nâng lên. Cả hai bản tính cùng hoạt động, nhưng lại thông hiệp với nhau. Đó là một điều đặc biệt : Ngôi Lời vẫn hoạt động theo bản tính của Ngôi Lời, còn xác phàm vẫn theo bản tính xác phàm.
Một đàng rạng ngời vinh quang vì phép lạ, một đàng quỵ ngã vì nhục hình. Ngôi lời không mất đi vinh quang ngang hàng với Cha thế nào, thì xác phàm của người cũng không rời bỏ bản tính nhân loại của chúng ta như thế.
Phải nhắc đi nhắc lại rằng Người chỉ là một hữu thể duy nhất, vừa thực sự là Con Thiên Chúa, vừa thực sự là con của loài người. Người là Thiên Chúa, bởi lúc khởi đầu đã có Ngôi Lời. Ngôi Lời vẫn hướng về Thiên Chúa, và Ngôi Lời là Thiên Chúa. Người là một con người, bởi Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta.

Xướng đáp
X Lạy Đức Trinh Nữ Ma-ria, xin nhận lời Chúa do thiên sứ truyền lại : Này đây bà sẽ thụ thai và sinh con, và con bà sinh hạ vừa là Thiên Chúa, vừa là người. Lạy Mẹ Ma-ri-a,
* chính vì thế, Mẹ được ngợi khen là có phúc hơn mọi người phụ nữ. (H)
Đ Mẹ sẽ thụ thai, nhưng vẫn mãi tinh tuyền, Mẹ sẽ sinh con, nhưng vẫn luôn trinh khiết. *

Thánh thi “Lạy Thiên Chúa”


Bài đọc Kinh Sách Tháng Tư
http://gpnt.net/diendan/showthread.php?t=15171