PDA

View Full Version : Isaac - Rebecca


KaTy
14-11-2006, 07:15 AM
Isaac - Rebecca
(http://www.gpnt.net/diendan/)


Cảo thơm lần giở...

Nằm ở khoảng giữa thủ đô Baghdad của Iraq và chỏm Bắc của Vịnh Ba Tư, là thành phố Tall all Muquayyar. Ngay dưới chân thành, sông Euphrates lượn lững lờ. Tall all Muquayyar chiếm một vị trí chiến lược kiểm soát thuỷ lộ từ lục địa chuyển vận ra biển và có một ưu thế trong đời sống chính trị vùng Nam Iraq.

Khoảng năm 1900 trước Công Nguyên, từ thành phố này, có một gia đình cùng toàn bộ gia đinh, gia súc khăn gói lên đường bỏ quê cha đất tổ, đi dọc bờ sông Euprates lên phía Bắc. Người lãnh đạo gia tộc này mang tên Therach và con trai là Abram. Thành phố này, lúc ấy, có tên Ur, còn gọi là “Ur của người Canđê” (St 11,27-32 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%2011:27-32&FontSize=Txt10))[1].

Sau sáu trăm dặm hành trình, ông tạm dừng chân tại môt châu thành có tên gọi Haran[2]. Haran là một phố cổ, nằm phía Tây Bắc vùng Lưỡng Hà [3], ngay trên bờ Đông của sông Euphrates, cách thành phố Sanlurfa vùng Đông Nam của Thổ Nhĩ Kỳ chừng 30 cây số.

Từ nơi này, sau khi ông bố Therach mất (St 11,31-32 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%2011:31-32&FontSize=Txt10))[4], Abram cùng với vợ là Sarah, và người cháu là ông Lot, tiếp tục cuộc hành trình xuống miền Nam, tới vùng Cannaan, vùng đất Thiên Chúa hứa ban cho ông và dòng dõi của ông, khi Ngài gọi ông ra đi từ Haran. Trong khi đó em trai ông là Nahor ở lại định cư luôn tai Haran. Vì thế Kinh Thánh có lần gọi thành này là “thành của Nahor” (St 24,10 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%2024:10&FontSize=Txt10)) [5].

Xuống định cư tại Cannaan, bà Sarai [6] sinh cho ông một đứa con Isaac (St 21,3 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%2021:3&FontSize=Txt10)) [7], người mà suýt nữa ông đã giết để tế sinh cho Thiên Chúa, khi Ngài thử thách đức tin của ông (St 22,6 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%2022:6&FontSize=Txt10))[8].

Lấy vợ xem tông

Sau khi bà Sara qua đời [9], Abraham đã luống tuổi và đã được mọi điều chúc phúc. Bây giờ ông phải nghĩ đến việc kiếm cho con trai một người vợ. Isaac lúc ấy đã 40 tuổi (St 25,20 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%2025:20&FontSize=Txt10)). Abraham luôn có một định kiến trong đầu: con dâu của ông không thể là một phụ nữ xứ Canaan và Isaac không thể trở về Chalđê để cư ngụ (St 24,3-8 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%2024:3-8&FontSize=Txt10)).
Abraham gọi người lão bộc thân tín trong nhà tới [10]. Ông bắt lão bộc phải thề độc trước Đấng Tối Cao, và ra lệnh: Kiếm cho Isaac được một người vợ tại cố hương của ông. “Et je te ferai jurer par l’Eternel, Dieu des cieux et Dieu de la terre, que tu ne prendras pas pour mon fils une femme d’entre les filles des Cananéens, au milieu desquels j’habite; Mais ce sera dans mon pays et dans le lieu de ma naissance que tu iras prendre une femme pour mon fils, pour Isaac.” (St 24,3-4 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%2024:3-4&FontSize=Txt10))
Sau khi mẹ mất, Isaac vẫn ưu sầu nhớ mẹ khôn nguôi. Cứ theo trình tự những chi tiết ở St 17,17; 23,1; 25,20 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%2017:17, 23:1, 25:20&FontSize=Txt10), chúng ta có thể biết được rằng bà Sara đã mất được ba năm. Sau ba năm, mà một người con 40 tuổi vẫn còn thương nhớ Mẹ, thì chúng ta có thể kết luận rằng bà mẹ phải là một người đặc biệt.
Quả vậy, bà Sara mổi tiếng là một người duyên dáng, và... đẹp. Chính Abraham cũng phải nhìn nhận như thế (St 12,11 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%2012:1&FontSize=Txt10)). Dù lúc bà đã 65 tuổi (St 12,4 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%2012:4&FontSize=Txt10)), người Ai cập cũng công nhận là Sara “rất đẹp” (St 12,12 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%2012:2&FontSize=Txt10)). Vua Pharaon vì mê sắc đẹp của bà, đã tìm cách chiếm đoạt bà [11]. Thiên Chúa phải can thiêp để trả bà về lại cho Abraham (St 12,17 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%2012:17&FontSize=Txt10)) Sau này Vua Abimelkek cũng tìm cách chiếm đoạt bà (St 20,1 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%2020:1&FontSize=Txt10)). Một lần nữa, Thiên Chúa lại can thiệp (Stk 20,7 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%2020:7&FontSize=Txt10)). Thiên Chúa cũng chúc phúc cho bà vì Abraham. Từ bà sẽ nảy sinh nhiều dân tộc (Stk 17,16 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%2017:16&FontSize=Txt10)).
Thiết nghĩ Isaac ưu sầu vì tang mẹ không phải vì mẹ đẹp, nhưng có lẽ vì bà Sara đã dành rất nhiều ưu ái và tình thương cho Isaac, người con bà sinh ra do lời hứa. Như gà mẹ xù lông hung hăng bảo vệ con, bà đã bảo chồng đuổi hai mẹ con Hagar và Ismael đi, vì không muốn Ismael đồng thừa tự với con riêng của mình. Các nhà chú giải không đồng ý với nhau về lý do bà Sara không muốn thấy Ismael ở trong nhà mình. Có người cho rằng vì Ismael thờ ngẫu tượng, Người khác cho rằng vì Ismael chọc ghẹo Isaac, hay vì Ismael ngạo nghễ cho rằng vì mình là trưởng tử, nên sẽ được gấp đôi phần thừa tự. Dù sao Thiên Chúa đã bảo Abraham nghe theo lời Sara (!) (St 21:12 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%2021:12&FontSize=Txt10)) và ngay hôm sau, Abraham đuổi hai mẹ con Ismael vào sa mạc.
Isaac hẳn đã thấy được lòng thương của mẹ dành cho mình, nên chi ông đã ưu sầu vì tang mẹ lâu đến thế. Chỉ đến khi “bị sét đánh”, ông mới thôi ưu sầu.

KaTy
14-11-2006, 07:26 AM
Duyên tiền định ?


Vâng lệnh chủ, lão bộc Eliézer lên đường về Bắc [12] cùng một đoàn lạc đà gồm 10 con.

Một chi tiết ớ câu St 24,10 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%2024:10&FontSize=Txt10) cho ta thấy lão bộc Eliézer này là một người rất thân tín trong gia đình; Ông có toàn quyền trên của cải của gia đình Abraham.”Le serviteur prit dix des chameaux de son maître et s’en alla; or il disposait de tous les biens de son maître. Il partit et alla en Mésopotamie, à la ville de Nachor“, Rõ ràng không ai thích hợp hơn ông để lo chuyện hôn nhân đại sự này cho tiểu chủ Isaac.

Ý thức được tầm quan trọng của vấn đề, lão bộc Eliézer đã có đủ viễn kiến để đưa ra một giả sử: ”Et le serviteur lui répondit: Peut-être que cette femme ne voudra pas me suivre dans ce pays-ci ; faudra-t-il que je ramène ton fils dans le pays d’où tu es sorti? “ (St 24,5 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%2024:4&FontSize=Txt10)). Nếu cô dâu tương lai không chịu theo ông về xứ này để làm dâu nhà chồng thì sao ? Abraham quyết liệt: “Thì ông cũng đừng đem Isaac theo vợ về xứ Bắc - Garde-toi bien de ramener là mon fils! “ (St 24,6 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%2024:6&FontSize=Txt10))

Ông cũng là người sành tâm lý, nên tự nghĩ trong đầu một trắc nghiệm nho nhỏ để thẩm tra cá tính của cô dâu tương lai. Ông sẽ ngồi ngoài thành, bên giếng nước và xin nước uống. Nếu cô gái nào nhanh nhảu không những cho ông giải khát mà còn vui vẻ múc nước cho cả đoàn lạc đà, thì chắc hẳn cô ta sẽ xứng đáng với tiểu chủ của mình.

Đông Á và Trung Đông gặp nhau chỗ này. Sự việc xảy ra như truyện Ông Tơ Bà Nguyệt. Rebecca, cháu gái của người em út ông Abraham, ngay lúc ấy ra giếng kín nước, và đã mau mắn trả lời Eliézer khi ông này xin nước: ”Thưa Ông, nước đây xin ông cứ tự nhiên uống.“ Rồi Rebecca cúi xuống nghiên bình cho ông uống. Khi ông uống xong Rebecca cho biết tiếp: “Cháu sẽ múc nước cho lạc đà của ông uống nữa”(St 24,18-19 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%2024:18-19&FontSize=Txt10)). Nếu chúng ta biết rằng mười con lạc đà, sau nhiều ngày vượt sa mạc, mỗi con có thể uống tới 100 lít nước, thì cá tính thương người, quảng đại, và tốt bụng của Rebecca tự nhiên bộc rõ như thế nào.

Diễn tiến tuy ngắn ngủi nhưng được Kinh Thánh coi trọng, nên đã tường thuật lại những ba lần: Một lần trong đầu Eliézer, một lần khi sự việc thực sự xảy ra, và khi Eliezer tường thuật lại cho Laban, anh của Rebecca nghe.

Qua biến cố này, Sách Sáng Thế cho chúng ta thoáng thấy thái độ đối xử với khách lạ là thước đo mực luân lý của một xã hội. Abraham và Lot đã dùng tiêu chuẩn này để xét đoán cư dân vùng mình sống. Nhưng ở đây Eliezer còn khắc khe hơn. Con dâu nhà Abraham phải quảng đại, nhân bản và có lòng thương người cách tự nhiên. Khi thấy đoàn lạc đà khát lã, Rebecca tự nhiên động lòng trắc ẩn. Rebecca không hề có toan tính trước hay vị lợi. Eliezer biết ngay một người có lòng tốt bẩm sinh như thế, thì không thế nào có bất cứ cử chỉ ác độc trong gia đình hay ngoài xã hội được. Rebecca là hiện thân của một giá trị mà Truyền thống Do thái gọi là “Gmilut Hasadim”: Tự phát làm việc thiện.

Một chi tiết cũng quan trọng nữa là Rebecca là một “trinh nữ” và “rất đẹp”. ” Et la jeune fille était fort belle; elle était vierge, nul homme ne l’avait connue - Puella decora nimis virgoque pulcherrima et incognita viro“ (St 24,16 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%2024:16&FontSize=Txt10)).

Sau khi thấy điều ông xin đã được chấp thuận y hệt như lòng ông khấn xin, Eliezer liền điều tra lý lịch của cô gái tốt bụng ấy xem coi có đúng yêu cầu của Abraham. Rebeacca tự giới thiệu lý lịch [13].

Eliézer bây giờ yên tâm vì đã tìm được người vợ tương lai cho Isaac. Ông ngỏ lời xin Rebecca tá túc qua đêm. Rebecca nhanh nhảu mời ông về nhà và giới thiệu với gia đình. Gia đình Rebecca mời ông dùng bữa tối. Nhưng ông không ăn uống cho tới khi nào tường trình đầy đủ sứ mệnh được trao cho mình và cả biến cố hồ như là tiền định xảy ra ban chiều. Ông nhấn mạnh và kể lại tỷ mỷ ý định của Abraham về con dâu tương lai.

Cha mẹ của Rebecca thấy rõ bàn tay dàn xếp diệu kỳ của Thiên Chúa trong câu chuyện này ( St 24,50 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%2024:50&FontSize=Txt10)). Ông bà hỏi ý kiến Rebecca. Cô gái trẻ đẹp Rebecca trả lời, nhanh nhảu và ngắn gọn: “ Con sẽ đi - Ils appelèrent donc Rébecca et lui dirent : Veux-tu partir avec cet homme? Et elle répondit: Je partirai” (St 24,58 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%2024:58&FontSize=Txt10)). Câu trả lời dứt khoát, mạnh mẽ và nhanh gọn như thế có quá đáng không, hỡi cô Rebecca, khi chưa biết mặt mũi người chồng tương lai? Nhưng bằng vào những sự kiện xảy ra như đã từng được xếp đặt trước, bằng vào đoàn lạc đà 10 con nói lên sự giàu có của chủ nhân, bằng vào những quà cáp lão bộc đã trao tặng trước ( St 24, 22 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%2024:22&FontSize=Txt10)) [14], bằng vào mối liên hê gia tộc sẵn có, Rebecca có thể tin chắc duyên mình đã được tiền định. Bố cô và anh cô cũng tin như thế: ” Et Laban et Béthuel répondirent et dirent: La chose vient de l’Eternel ; nous ne pouvons te dire ni mal ni bien. “ (St 24,50 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%2024:50&FontSize=Txt10))

KaTy
14-11-2006, 07:26 AM
Tomber... et tomber amoureux

Ngay hôm sau. Eliézer đem theo Rebecca xuôi miền Nam.

Chỉ có ba câu kể lại phút đầu gặp nhau giữa Rebecca và Isaac mà chúng tôi trích dẫn lại đây: “Et Isaac était revenu du puits de Lachaï-Roï, et il habitait dans le pays du Midi. Et Isaac était sorti pour méditer dans les champs à l’approche du soir ; et, levant les yeux, il vit des chameaux qui arrivaient. Et Rébecca leva aussi les yeux, et elle vit Isaac et sauta à bas du chameau.”
(St 24,62-64 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%2024:62-64&FontSize=Txt10))

Ban chiều, sau khi trở về từ giếng Lachaï-Roï [15], Isaac thẩn thơ ra ngoài đồng ... suy niệm[16]. Isaac lúc ấy suy nghĩ về điều chi mà Kinh Thánh dùng từ suy niệm “Egressus fuerat ad meditandum in agro inclinata iam die” (St 24,63 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%2024:63&FontSize=Txt10))? Nhớ về dì Hagar và người anh Ismael cuả mình, hay vẫn còn nhớ thương người mẹ đã qúa vãng của mình ? Chúng ta không hề biết chắc. “Trời chiều bãng lãng bóng hoàng hôn”. Đó là lúc mà tâm hồn ai cũng chùng xuống. Hay chúng ta có thể đưa ra một giả thiết khác: Isaac thẩn thơ ra đồng để chờ đợi kết quả cuộc hành trình của Eliézer?

Issac không thể không thấy đoàn lạc đà từ xa đi lại. Mà Rebecca, trên lưng lạc đà, cũng không thể không thấy chàng thanh niên đang thơ thấn trên đồng kia. Và quả thực đã có tiếng sét nổ tung giữa trời chiều. Đồng xanh là chốn đây!

Sáng Thế Ký chỉ ghi ngắn gọn có hai sự kiện: “Cumque levasset oculos vidit camelos venientes procul. Rebecca quoque conspecto Isaac descendit de camelo - Isaac, ngước mắt nhìn lên, thấy đoàn lạc đà đi tới. Rebecca, khi thấy Isaac, liền xuống khỏi lạc đà” (St 24,63-64 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%2024:63-64&FontSize=Txt10))

“Descendit de camelo” ? Không, bản Vulgata không nói lên được hết cái thi vị ở đây. Trong nguyên ngữ Do thái, bản văn nói rõ: “Rebecca té xuống khỏi lạc đà !:וַתִּפֹּל, מֵעַל הַגָּמָל. " ... VATIPOL MEHAL HAGAMAL", còn có thế dịch là “tuột khỏi lưng lạc đà - et se jeta à bas du chameau ». Se jeter à bas , tuột xuống, mà cũng có thể là ngã vật xuống đất. Rachi, nhà chú giải KinhThánh nổi tiếng đưa ra lời cắt nghĩa như sau: ”Rebecca, khi thoạt trông thấy chàng thanh niên đứng giữa trời chiều như thế, cô thấy chàng đẹp trai quá khiến cô sừng sờ, bàng hoàng đến độ cô suýt té xuống đất. Cô té, nhưng chưa chạm đất, và gượng lại được. Kết quả là Cô “tuột xuống khỏi lưng lạc đà”. Tomber, đúng vậy, và tomber amoureux.

Rõ ràng là có tiếng sét ái tình. Tình yêu giữa hai người đã có sẵn và bàng bạc ở đâu đó rồi, trong tâm thức Issac khi chàng vẫn còn âu sầu thương nhớ mẹ, trong tâm thức Rebecca khi nàng trả lời cho bố : “Con sẽ đi”.[17].

Rebecca bấy giờ mới hỏi Eliézer; chàng thanh niên đó là ai. Cả trời đất vạn vật lúc bấy giờ, qua đoạn Kinh Thánh này, chỉ còn có ba nhân vật hiện hữu: Không hề nhắc tới những người tuỳ tùng đi theo Eliézer, mà chỉ còn có mình Eliézer. Không hề có ai chung quanh Isaac. Abraham dường như không còn trên đời. Toàn bộ gia đinh, đoàn súc vật, toàn thể bà con xa gần, không hề có ai xuất hiện hay được nhắc đến lúc này bên cạnh Isaac. Giữa đồng không quạnh quẽ lúc chiều hôm chỉ có mình Isaac. Vũ trụ lúc bấy giờ chỉ có chàng Isaac. Trên lưng lạc đà, không có ai khác được nói tới ngoài Rebecca. Như thế, tình yêu mãnh liệt bộc phát lúc ấy mới thật dữ dội.

« Le serviteur raconta à Isaac toutes les paroles qu’il a faites. Isaac la fait venir dans la tente de Sarah, sa mère. Il prend Rebecca : elle est à lui pour femme. Il l’aime. Isaac se réconforte après sa mère » (Stk24:66-67). Kết quả phải thế thôi. Lão bộc không tường trình kết quả cho Abraham, mà chỉ báo cáo cho tiểu chủ Isaac. Isaac chẳng hề thốt ra lời nào. Chỉ đem Rebecca vào lều của mẹ ngày xưa từng ở. Và lúc ấy, cả đến trời đất còn bị Isaac bỏ bơ vơ, chứ nói chi đến mẹ mình. Tình yêu mãnh liệt phát sinh tức thời như thế nếu không là “tiếng sét ái tình – coup de foudre- love at first sight” thì còn có thể gọi là gì?

KaTy
14-11-2006, 07:33 AM
Trâu ta ăn cỏ đồng ta

Tại sao Abraham cứ kiên quyết không chịu kiếm cho Isaac một người thiếu nữ địa phương làm bạn đời?

Dĩ nhiên chúng ta không thể hời hợt chấp nhận ý kiến cho rằng vì không có nhiều hoa hậu địa phương để chọn lựa.

Trong nhà ông đã có quá nhiều phụ nữ ngoại tộc. Hagar: người vợ vốn là nữ tỳ mà bà Sara đã “đặt vào tay ông“, để sinh cho ông một người con là Ismael. Hagar là một phụ nữ Ai cập (St 16,1,3 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%2016:1,3&FontSize=Txt10)). Dâu trưởng của ông, vợ cuả Ismael, cũng là một phụ nữ Aicập (St 21,21 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%2021:21&FontSize=Txt10)). Dân Ai cập, bấy giờ, lại thờ rất nhiều thần, mà những thần quan trọng là thần Osiris. Anubis, hay thần Râ.

Abraham đang sinh sống tại Cannaan, và ông phải chung đụng cũng như phải theo tập tục địa phương. Điều này không có gì đáng nói. Khi gọi Abram ra đi, Thiên Chúa chỉ hứa làm cho ông thành tổ phụ một dân tộc vĩ đại (St 12,2 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%2012:2&FontSize=Txt10)). Còn đất Canaan, Thiên Chúa hứa ban cho con cháu ông. (St 12,6 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%2012:6&FontSize=Txt10)) Đó là lời hứa tại cây sồi More, ở Sichem. Sau vụ xích mích giữa gia nhân hai nhà, ông Lot khi chia tay với ông. Thiên Chúa lúc ấy lập lại lời hứa và lần nay Ngài hứa ban cho ông toàn bộ đất đai vùng ấy, tính từ cây sồi Mambré. (St 13,14-18 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%2013:14-18&FontSize=Txt10))

Tuy vậy, lúc bấy giờ, ông không sở hữu một vuông đất nào tại địa phương ấy, ngoại trừ một cái hang, hang Macpelah , để tống táng bà Sara, vợ ông.” Je suis chez vous un étranger et un hôte ; accordez-moi de posséder parmi vous un lieu de sépulture, que je puisse enlever de devant moi mon mort pour l’ensevelir.” St 23,4 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%2023:4&FontSize=Txt10)). Chính ông đã bỏ tiền ra để mua đất ấy làm nghĩa trang.
Dân Canaan, dân bản xứ lúc bấy giờ, là nhóm dân gốc Semitic, nói một ngôn ngữ rất giống với tiếng Do thái. Họ chuyên nghề trồng trọt, nhưng có đời sống xã hội văn minh hơn bộ tộc của Abraham lúc bấy giờ. Họ bắt chước xây các đô thị và sống theo các chế luật giống như vùng Lưỡng Hà địa. Người Canaan thờ thần Baal. Và ảnh hưởng tôn giáo của họ rất mạnh đến nỗi nhóm người Dothái nào chung sống trong vùng đô thị với họ thường bị cuốn hút theo. Sau này nhiều lần trong các sách Josue và Quan án cho thấy nỗ lực không ngừng nghỉ của các ngôn sứ nhắc nhở, khuyên bảo, răn đe, kêu gọi người Do thái trở về với niềm tin gốc của dân tộc, là tin vào “Thiên Chúa của Abraham, của Isaac và Giacóp”. Chỉ có nhóm Dothái nào sống đời du mục vùng cao nguyên mới còn dễ trung thành với niềm tin của cha ông thôi.
Abraham viễn kiến được cái nguy hiểm của ảnh hưởng xã hội địa phương ấy, và nhất là ảnh hưởng của những lời thủ thỉ vợ hằng ngày luôn rót vào tai chồng.
Lý do quan trọng hơn nữa là dân chúng chung quanh vùng ấy không phải là người hiền lương. Hai thành phố Sôđôma và Gômôra vừa mới bị lửa trời thiêu rụi. Cư dân hai thành này không có lấy được 10 người tốt lành (St 18:32; 19:24-25 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%2018:32,19:24-25&FontSize=Txt10)). Quá xuống phía Nam, cư dân vùng Kadesh, Sur và Guerar, cũng không tốt lành gì hơn: Vua Abimelek của họ đã toan chiếm đoạt bà Sara (St 20,11 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%2020:11&FontSize=Txt10)). Nước Aicập lân cận cũng thế. Sống giữa một vùng ngoại lai, mà chính Abraham cũng đã từng lo ngại dân chúng không biết kính sợ Thiên Chúa (St 10,11 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%2010:11&FontSize=Txt10)) chắc chắn Abraham không thể yêm tâm kiếm được cho con mình một người vợ thích hợp.

Cách tân truyền thống

Tại sao Abrahm lại kiên quyết không cho Isaac trở về sống tại cố hương Nachor, miền Lưỡng Hà ?
Sau này, khi Giacob và hai người vợ là hai chị em Lea, Rachel, trốn bố là Laban để xuôi về miền Nam, Rachel đã ăn cắp các tượng thần mà Laban đang thờ trong nhà. “Rachel déroba les théraphim de son père.” (St 31,19 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%2031:19&FontSize=Txt10)). Khi nghe tin ba người đã bỏ trốn, Laban rượt theo và lấy cớ rằng có ai trong bầu đoàn thê tử của Giacob đã ăn cắp các tượng thần của mình: ”Et maintenant tu es parti parce que tu languissais après la maison de ton père ; [mais] pourquoi as-tu dérobé mes dieux?” (St 31,30 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%2031:30&FontSize=Txt10)) Rachel giấu các tượng ấy dưới chổ ngồi và không chịu đứng đậy khi Laban lục lọi trong lều, lấy cớ rằng mình “có tháng”: ”Et elle dit à son père : Que mon seigneur ne s’irrite pas de ce que je ne puis pas me lever devant toi ; car j’ai ce qui est ordinaire aux femmes. Et il chercha, mais il ne trouva pas les théraphim”(St 31,35 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%2031:35&FontSize=Txt10)).Laban, cậu cuả Giacob, đã theo thờ những vị thần không phải là Thiên Chúa của Abraham. Chính Laban đã nói rõ điều ấy (St 31,29 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%2031:29&FontSize=Txt10)).

Abraham biết thế nên đã cấm chỉ không cho Isaac trở về sống trong một môi trường nguy hiểm đối với niềm tin vào Vị Thiên Chúa đã kêu gọi mình ra đi khỏi nơi ấy, và đã hứa ban cho mình và con cháu mình vùng đất Canaan này làm cơ nghiệp. Chính ông đã đồng thuận với lời hứa ấy bằng một lễ tế sinh (Stk 15; 17:1-17 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%2015:,17:1-17&FontSize=Txt10)) và ông không muốn con cháu ông thất hứa.

Dĩ nhiên khi trở về sống ở cố hương, không thể không hoà nhập trở lại theo truyền thống. Giả như Thiên Chúa không kêu gọi Abraham ra đi, thì ông cũng như mọi người khác trong gia tộc vẫn mãi theo thờ những vị thần mà Laban hiện thời đang thờ.

Nói tóm lại Abraham muốn người con dâu cũng phải thực hiện một hành trình đức tin như ông đã từng nghe tiếng Chúa gọi bỏ quê mà đi đến Đất Hứa.Vừa có gốc rễ từ truyền thống – người cùng quê, nhưng cũng phải đoạn tuyệt với truyền thống - bỏ xứ sở, bỏ cha mẹ, đoạn tuyệt luôn với các vị thần quê cũ. Các cháu dâu của ông sau này đã chôn các ngẫu tượng quê cũ dưới gốc cây sồi tại Sichem, như một hành vi đoạn tuyệt với quá khứ [18].

KaTy
14-11-2006, 07:57 AM
Tiếng sét giữa trời chiều

Phút đầu gặp gỡ, không hề có chuyện thi vị bốn mắt lúng liếng gặp nhau. Isaac nhìn lên, thấy toàn... lạc đà: “levant les yeux, il vit des chameaux qui arrivaient” (St 24,63 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%2024:63&FontSize=Txt10)). Rebecca, cũng ngước mắt nhìn lên, nhưng chỉ thấy Isaac: “Rébecca leva aussi les yeux, et elle vit Isaac et sauta à bas du chameau.”(St 24,64 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%2024:64&FontSize=Txt10)). Như thế phải nói là Rebecca thấy Isaac trước. Hành vi xuống khỏi lạc đà là để chào và tỏ lòng kính trọng bậc vị vọng. Chúng tôi nghiêng về ý kiến cho rằng Rebecca đã bị tiếng sét ái tình ngay lúc này: “Người đâu gặp gỡ làm chi.” Sau đó Rebecca mới hỏi lão bộc về người đang ra đón là ai. Khi biết ra, Rebecca rủ khăn che mặt. Một dấu hiệu chấp nhận phận cô dâu. Tuy là cuộc hôn nhân mai mối, nhưng khi vừa nhận ra nhau, thì “tình trong như đã.” Còn Isaac thì yêu vợ đến quên cả mẹ (St 24,67 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%2024:67&FontSize=Txt10)) Người đàn ông nào biết thương mẹ thì cũng biết yêu vợ. Mà được một người vợ tốt bụng, lành tính như Rebecca mà không yêu mới là lạ.

Tình yêu bộc phát Isaac dành cho Rebecca:”Il prend Rebecca : elle est à lui pour femme. Il l’aime. Isaac se réconforte après sa mère » (St 24,67 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%2024:67&FontSize=Txt10)) khiến chúng ta không thể không nghĩ tới câu Stk 2:23-24 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%202:23-24&FontSize=Txt10) “C’est pourquoi l’homme laissera son père et sa mère et il s’attachera à sa femme, et ils deviendront une seule chair. Ngươì đàn ông lià bỏ cha mẹ mình và quyến luyến vợ, và họ trở nên một xương thịt.” Một khởi đầu mới như từ vườn Eden.

Hẳn là dọc đường Rebecca hồi hộp vẽ vời trong đầu bao nhiêu hình ảnh về người chồng tương lai cuả mình. Nhưng khi nhác trông thấy Isaac từ xa. Cái linh cảm - và tiếng sét ái tình - đã khiến cô “xuống khỏi lạc đà”.

Chúng ta thường nghe thấy hôn nhân do mai mối ít khi có được một mối tình như ý: Hai người chính trong cuộc chỉ biết nhau qua ngươì thứ ba. Tỷ lệ may rủi qúa nhiều. Và người mai mối thường là nạn nhân bị đổ lỗi khi chuyện đổ vỡ xảy ra. Nhưng mối tình giữa Rebecca và Isaac là một minh chứng cho thấy, nếu người mai mối là chính Thiên Chúa thì cuộc hôn nhân chắc chắn là một thành công.


Lời cầu là đầu câu chuyện

Câu chuyện Rebecca về làm dâu nhà Abraham cho chúng ta thấy thêm một chi tiết thú vị: Cô dâu chú rể không hề biết mặt nhau, chưa hề gặp nhau lần nào trước khi cưới. Thế mà khó có cuộc hôn nhân nào thành công và hạnh phúc cho bằng cuộc hôn nhân này. Chúng ta sẽ càng ngạc nhiên hơn nữa khi chúng ta xét đến những điều kiện của bố chồng đưa ra:

Abraham không đòi hỏi người con dâu sẽ phải đẹp, không đòi hỏi người con dâu phải là con nhà giầu có, không đưa ra điều kiện người con dâu sẽ phải môn đăng hộ đối, không nhắc đến học lực của con dâu. Ông không hề dựa vào những tiêu chuẩn kén vợ cho con ngày nay. Ông chỉ nói với lão bộc: “Kiếm một thiếu nữ nơi cố hương, nơi quê cha đất tổ- Mais ce sera dans mon pays et dans le lieu de ma naissance que tu iras prendre une femme pour mon fils, pour Isaac. (St 24,4 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%2024:4&FontSize=Txt10))”. Thế thôi.

Lão bộc Eliézer cũng không kiếm vợ cho tiểu chủ theo tiêu chuẩn thường tình trên kia. Và điều lạ là ông bắt đầu cuộc tuyển chọn dâu bằng cách ...cầu nguyện bên giếng nước, giữa trời chiều. Mà ông cầu nguyện cũng lạ kỳ. Ông nhờ Đấng Vĩnh Cữu chọn dùm cho ông: “Xin cho con được điều con cầu“. Ông ra điều kiện: “Nếu cô nào, khi ông xin uống nước, mà không chỉ cho ông lại còn cho cả doàn súc vật uống nước, thì đó là người mà Thiên Chúa muốn chọn làm vợ cho Isaac. (St 24,12-14 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%2024:12-14&FontSize=Txt10))[19]. Quả thực Abraham đã nghiêm túc trị gia. Đến như gia đinh lão bộc kia mà còn thấm nhuần niềm tin vào Đấng Tối Cao của riêng ông, và cầu nguyện với Ngài trước những biến cố quan trọng trong đời, thì dư biết niềm tin của Abraham mạnh mẽ và xác tín như thế nào.

Sau khi thấy điều xảy ra như mong ước, lão bộc không quên lời cám ơn Thiên Chúa: “Et cet homme s’inclina et se prosterna devant l’Eternel. Et il dit : Béni soit l’Eternel, le Dieu d’Abraham mon maître, qui n’a pas manqué à sa bonté et à sa fidélité envers mon maître. Et moi, l’Eternel
m’a conduit par le chemin chez les frères de mon maître” (St 24,26-27 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%2024:26-27&FontSize=Txt10))

Không chỉ thế, khi về đến nhà Rebecca, ông còn kể lại rành rẽ chi tiết chuyện xảy ra , Ông thuật lại cả những lời kinh ông cầu nguyện với “Thần Vĩnh Cửu“ của ông và chủ Abraham của ông. Một bài giáo lý và một bài giảng đạo cho họ hàng của chủ nhân. Từ khi về nhà Rebecca cho đến hôm sau, khi ra đi, trong vòng 20 câu văn chuyện kể, (St 24:34-59 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%2024:34-59&FontSize=Txt10)), có đến 9 lần nhắc đến tên Đấng Vĩnh Cửu. Abraham nhắc đến hai lần (câu 35, 40). Laban, cháu của Abraham, anh trai Rebecca, cũng nhắc đến Ngài 2 lần, nhắc đến và chấp nhận Ngài đã an bài tất cả(câu 50, câu 51).
Còn lão bộc thì nhắc đến Ngài năm lần, mà lần nào cũng nhấn mạnh thêm “Đấng Vĩnh Cửu, Thần linh của Abraham“ (cc 42, 44, 48, 52, 56) Ông thật là một giáo lý viên tốt.

Kết quả là dù Rebecca chưa biết và chưa tin vào Thiên Chúa của Abraham, cô cũng nhanh nhảu theo đi ngàn dặm để về “gánh vác giang sơn nhà chồng”.

Abraham đã tin vào một vị Thiên Chúa hoàn toàn khác với các vị Thần địa phương đương thời, và lại càng khác hẳn với các vi Thần quê cũ nên ông biết đất lề quê thói là một lối sống mà theo thì rất dễ dàng nhưng đoạn tuyệt thì rất khó. Khi kiếm vợ cho con, Abraham đồng thời đã dạy cho con và con dâu, cũng như lão bộc, một bài học giáo lý đầu tiên và quan trọng.

Dĩ nhiên khuôn mặt của Vị Thiên Chúa của Abraham không chỉ tỏ hiện như là người mai mối hôn nhân mát tay, nhưng nét nhất quán chúng ta rút ra được từ những chương sách Sáng Thế Ký đó là: Có bàn tay Chúa dẫn đưa, đời người mới suông sẽ thành công. Nếu theo ý mình mà tự ý quyết định, chỉ tổ rách việc.

KaTy
14-11-2006, 08:14 AM
Ghi chú:

[1] Theo truyền thống Do thái, Therach làm nghề buôn bán các tượng thần. Từ thuở ấu thời Abram đã nêu thắc mắc với cha mình về niềm tin của cha. Ông luôn luôn kiếm tìm chân lý, và ông đã đi đến kết luận rằng toàn thể vũ trụ là công trình của một Đấng Tạo Hóa duy nhất.
Ông đã tìm cách thuyết phục cha mình là Therah. Một hôm, khi thay cha một mình coi tiệm, Abram đã đập nát hết các tượng thần, trừ một bức tượng lớn nhất, rồi ông để cái búa vào tay bức tượng thần lớn này. Khi ông Therah về và hỏi tự sự, Abram trả lời: “Các tượng thần đánh nhau. Tượng thần lớn này đã đập nát các tượng thần nhỏ kia”. Ông Therach trả lời: ” Nói vậy mà cũng nói được sao? Các tượng thần làm gì có sự sống mà biết đánh nhau ?” Abram nới với bố: “Vậy sao cha lại thờ cúng những tượng thần bằng đất đấy?“

[2] Tiếng Do thái: haran, có nghĩa là "thuộc da". Cũng có thể do nguồn gốc tiếng Accadian charana, có nghĩa là "con đường" Thời nay thành này mang tên là Harran. Còn được gọi là "Charran" trong bản LXX. Và trong Cv 7,2 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Cv%207:2&FontSize=Txt10). Trong đoạn St 24,10 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%2024:10&FontSize=Txt10) Haran được gọi là "thành của Nahor". Sau này, Jacob lên trên đây tạm lánh tại nhà chú Laban để tránh mặt Esau (St 30,43 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%2030:43&FontSize=Txt10)). Người Hy lạp và Roma gọi thành này dưới tên Carrhae.

[3] Lưỡng Hà Địa: tiếng Do thái gọi là “Aram naharaïm” có nghĩa là “Syrie giữa hai con sông”. Hay còn gọi dưới tên: “Paddan-Aram” có nghĩa là “Bình nguyên Aram”. Hai tên đều chỉ vùng đất nằm giữa hai con sông Euphrates và Tigris. Đúng hơn, tên gọi này chỉ vào vùng phía Nam của dãy bình nguyên ấy nằm phía Tây của sông Chaboras, phụ lưu của Euphrates.

[4] Therach có ba người con: Abram, Nachor và Haran (St 11,27 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%2011:27&FontSize=Txt10)). Ông Lot là con của Haran. Như thế Lot gọi Abraham bằng bác (St 11,31 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%2011:31&FontSize=Txt10)). Còn Nachor có con trai là Bethuel. Và cô Rebecca nhân vật chính trong bài này, là con của Bethuel . Như thế Rebecca gọi Abraham là “Ông Bác”, nghĩa là Abraham là anh của ông nội của Rebecca.

[5] “Le serviteur prit dix des chameaux de son maître et s’en alla; or il disposait de tous les biens de son maître. Il partit et alla en Mésopotamie, à la ville de Nachor. “

[6] Thời con gái, bà có tên là “Sarai”, tiếng Do thái có nghĩa là “Công nương của tôi”. Sau khi Abraham thực hiện hiện việc cắt bì, Thiên Chúa đổi tên cho bà thành “Sarah”, có nghĩa là “Công Chúa”. (St 17,15 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%2017:15&FontSize=Txt10))

[7] Tên Isaac, phiên âm từ tiếng Do thái “Yitzchak”, thoát thai từ một từ có nghĩa là “người cười “(St 17,18 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%2017:18&FontSize=Txt10)) Một chi tiết thú vị là ba nhân vật đều cười: Abraham, khi nghe tin này cười thầm (St 17,17 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%20217:17&FontSize=Txt10)). Ông cười vì thấy ra được cái chênh lệch giữa khía cạnh long trọng của lời hứa (con cháu đầy đàn) và tình trạng bất túc của thụ nhân: ông đã 99 tuổi. Bà Sarai cũng cười. Cười vì nghi hoặc: Bà đã 90 thì còn nghĩ chi đến chuyện chăn gối. Ngay Isaac cắt bì, bà còn cho rằng “Thiên Chúa sao khéo biết đùa dai.” (St 21,6 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%2021:6&FontSize=Txt10)). Cậu bé Ismael cũng cười. Nhưng là cười để đối phó lại hoàn cảnh (St 21,9 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%2021:9&FontSize=Txt10)). Quả thực chung quanh Isaac có nhiều tiếng cười .

[8] Isaac là cuộc thử thách thứ 10 và là cuộc thử thách khó khăn nhất dành cho Abraham (St 22 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%2022:&FontSize=Txt10)). Theo truyền thống Do thái, thử thách này được gọi là Akeidah, có nghĩa là “liên kết’ hay “ràng buộc”, ám chỉ việc Isaac bị trói buộc vào bàn thờ. Nhưng đây cũng là cuộc thử thách của chính Isaac, vì khi biết mình sẽ bị tế sinh mà ông vẫn không phản kháng. Như thế hai bố con cùng hiệp nhất trong một mối liên kết chung. Nhưng qua cuộc thử thách này, truyền thống Do thái giáo cho thấy Thiên Chúa không hề đồng thuận việc giết người để tế lễ. Do thái giáo luôn luôn chống lại việc tế sinh bằng mạng người, vốn là một thói tục thông thường thời ấy nơi các sắc dân chung quanh như Phenici, Moabit, và Ammonit. Xem 2 Vua 16,3; 17,17; 21,6 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=2 V%2016:3, 17:17, 21:6&FontSize=Txt10) )

[9] Bà Sara qua đời tại Kyryat Arba, bây giờ gọi là Hebron, năm bà 127 tuổi. Abraham đã mua hang Machpelah, tại Hephron từ người Hittites để tống táng bà (Stk 23:1-2 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%2023:1-2&FontSize=Txt10)). Sau này Abraham, Isaac, Jacob, Rebecca và cả Leah, nghĩa là gần như toàn bộ gia tộc Abrahm đều táng tại hang mộ này, chỉ trừ Rachel được chôn bên vệ đường, gần Bethlehem, vì cô ta mất trên đường đi đến Ephrath, lúc chuyển bụng sinh Benjamin (Stk 35,19 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%2035:19&FontSize=Txt10)).

[10] Bằng vào câu St 15,2 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%2015:2&FontSize=Txt10) “Et Abram dit : Seigneur Eternel, que me donneras-tu ? Je passe ma vie sans enfants, et l’héritier de ma maison est Dammések Eliézer.” Người ta cho rằng lão bộc này tên là Eliézer.

KaTy
14-11-2006, 08:14 AM
[11] Khi vào miền đất lạ, Abraham sợ hãi là phải. Nhưng không hiểu sao ông lại dùng đến một phương cách khó biện minh cho ổn thỏa khi nói Sara là “em” mình. Thời ấy, muốn chiếm người đàn bà đã có chồng, cách duy nhất là giết chồng bà ta. Nếu người phụ nữ chỉ là em gái, thì có thế đổi bằng các tặng vật. Theo St 20,12 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%2020:12&FontSize=Txt10) Sara là em cùng cha khác mẹ với Abraham. Nhưng khi đã thành gia thất, Sara không còn là em gái, mà là vợ.
Truyền thống Do thái vẫn không dấu diếm hay ém nhẹm thái độ hèn kém của Vị Cha –Các-Dân-Tộc này. Đủ biết trình thuật này không phải là một huyền thoại.
Sau này những cuộc hôn nhân giữa anh em như thế bị cấm chỉ (Lv 18,9 , 20,17, Đnl 27,22 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Lv%2018:9, 20:17; Dnl 27:22&FontSize=Txt10)).

[12] Eliezer đi lên miền Bắc về vùng Lưỡng Hà Thượng, nhắm thành Nachor, còn gọi là Charan, theo Stk 27,43 ; 28,10 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%2027:43,28:10&FontSize=Txt10). Xem thêm St 11,31 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%2011:31&FontSize=Txt10). Theo đúng lệnh chủ Abraham ở câu 4, lão bộc đi thẳng lên cố quận.

[13] Rebecca là con gái ông Bethuel. Bethuel là con của Nahor. Nahor lại là em của Abraham. Nên Rebecca là cháu gái, gọi Abrahm bằng “Ông Bác”

[14] “Quand les chameaux eurent fini de boire, il prit un anneau d’or du poids d’un demi-sicle et deux bracelets du poids de dix sicles d’or.” (St 24,22 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%2024:22&FontSize=Txt10)) và “Alors j’ai mis l’anneau à ses narines et les bracelets à ses mains. (St 24,47 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%2024:47&FontSize=Txt10)). Đấy chưa phải là quà đính hôn (St 24,53 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%2024:53&FontSize=Txt10)), nhưng như như lời cám ơn cho miếng nước giúp qua cơn khát. Câu 53: ”Et le serviteur sortit des objets d’argent et des objets d’or et des vêtements, et les donna à Rébecca ; et il fit de riches présents à son frère et à sa mère.” mới nói đến quà đính hôn.

[15] Còn gọi là “Giếng của Hagar”, nằm trên đường đi xuống phía Nam. Xem St 16,14 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%2016:14&FontSize=Txt10). Đó là nơi Sứ thần Chúa hiện ra cứu giúp bà Hagar, tỳ nữ của Abraham, mẹ của Ismael, khi hai mẹ con bà này bị Sara đuổi đi.

[16] Kinh Thánh bản Do thái dùng ở đây một từ tối nghĩa. Từ “siach” không hề gặp thấy nơi nào khác trong Kinh Thánh. Bản Bible annotated của Oxford dịch bằng từ “walk-đi dạo”. Bản Vulgata, New Iinterbational Version, New American Standard Bible đều dùng từ “suy niệm”.

[17] Xem SIBONY D.: L’amour inconscient. Au delà du principe de séduction. Collection Figures. Editions Grasset, Paris, 1983.

[18] (St 35,1-4 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%2035:1-4&FontSize=Txt10))

[19] (St 24:12-14 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%2024:12-14&FontSize=Txt10))