admin
27-01-2006, 07:05 PM
Capernaum âm phủ
“Vừa ra khỏi hội đường Ca-phác-na-um, Đức Giê-su đi đến nhà hai ông Si-môn và An-rê. Có ông Gia-cô-bê và ông Gio-an cùng đi theo.30 Lúc đó, bà mẹ vợ ông Si-môn đang lên cơn sốt, nằm trên giường. Lập tức họ nói cho Người biết tình trạng của bà.31 Người lại gần, cầm lấy tay bà mà đỡ dậy; cơn sốt dứt ngay và bà phục vụ các ngài.
32 Chiều đến, khi mặt trời đã lặn, người ta đem mọi kẻ ốm đau và những ai bị quỷ ám đến cho Người.33 Cả thành xúm lại trước cửa.34 Đức Giê-su chữa nhiều kẻ ốm đau mắc đủ thứ bệnh tật, và trừ nhiều quỷ, nhưng không cho quỷ nói, vì chúng biết Người là ai.
35 Sáng sớm, lúc trời còn tối mịt, Người đã dậy, đi ra một nơi hoang vắng và cầu nguyện ở đó.36 Ông Si-môn và các bạn kéo nhau đi tìm.37 Khi gặp Người, các ông thưa: "Mọi người đang tìm Thầy đấy! "38 Người bảo các ông: "Chúng ta hãy đi nơi khác, đến các làng xã chung quanh, để Thầy còn rao giảng ở đó nữa, vì Thầy ra đi cốt để làm việc đó."39 Rồi Người đi khắp miền Ga-li-lê, rao giảng trong các hội đường của họ, và trừ quỷ.
(Mc 1:29-39)
1-
“Vừa ra khỏi hội đường”
Người Do thái họp nhau ngày thứ bảy – shabbat. Theo ngòi viết của Marcô, trong ngày đầu tiên rao giảng, Chúa Giêsu đã làm hai chuyện phi thường được kể lại chi ly. Trục xuất thần ô uế ngay tại hội đường Capernaum, và chữa lành bệnh cho mẹ vợ của thánh Phêrô.
Mà lại chữa lành vào ngày shabbat. Không thấy ai thắc mắc gì. Khi ấy xung khắc giữa Chúa Giêsu và “người Do thái” chưa nảy sinh. Người ta mới biết tới Chúa Giêsu trong ngày đầu tiên. Mọi người chỉ biết “kinh ngạc” và “sửng sốt”. Chưa hề có ghen tuông hay thù oán dẫn đến án mạng.
Ở đây cho ta chi tiết lý thú: Mẹ vợ được nhắc đến, được chữa bệnh, còn “bà xã” của thánh Phêrô không hề được nhắc đến.
Đúng ra là có được nhắc tới. Nhưng chỉ được thánh Phaolô nhắc tới trong cơn bực mình. Thánh Phaolô, sau khi trách dân Corintô, Ngài nêu lên những điều Ngài cũng được phép làm như các tông đồ khác, nhưng Ngài đã không sử dụng đến. Ngài bực mình cao giọng: “Phải chăng tôi không có quyền ăn uống,5 không có quyền đem theo một người chị em tín hữu như các tông đồ khác, như các anh em của Chúa và như ông Kê-pha?” (1 Cor 9:5)
Ông “Kêpha” là thánh Phêrô. Nghiêm trang gọi các “bà” là “người chị em tín hữu” chắc chỉ có mình.... Phaolô mà thôi.
“Người chị em tín hữu” này, lúc Phêrô đi theo làm đồ đệ Chúa Giêsu, có “cùng” đi theo Chúa “trong đám các bà nhân đức” không, thì chúng ta không biết. Nhưng sau này, khi Chúa đã lên trời, các tông đồ tuá ra muôn hướng để rao giảng, thì “cô nhà” thánh Phêrô cũng đi theo Phêrô. Có thế Phaolô mới có cớ để mà phàn nàn về trường hợp của mình chứ [Đọc thêm bài “Bà Xã thánh Phêrô”].
Ấy là chuyện về sau này. Bây giờ “cô nhà” không thấy nhắc tới. Chỉ nhắc tới bà mẹ. Bà ngoại là người đảm đang, là chủ bếp lo cơm nước cho cánh đàn ông và cho khách khứa. Nay đột ngột có khách quan trọng, mà bà lại liệt giường, nên “họ - người ta” báo ngay cho Chúa Giêsu.
Chuyện lạ lùng trục xuất quỷ vừa mới xảy ra ở Hội đường hẳn đã vang nhanh về nhà bà. Bà nằm liệt giường nên không thể đi hội đường được.
Theo lề luật hội đường Do thái, phụ nữ không được ở chung với phái nam trong hội đường mà phải ở một gian riêng, ngăn cách nhau bằng một cái màn gọi là “mechitzah”. Dù thế, nếu có tới hội đường, cánh phụ nữ cũng biết chuyện gì xảy ra bên kia bức màn.
Nhà cháu tưởng tượng ra được khung cảnh như thế này:
Hoặc các người báo muốn cho Chúa Giêsu biết rằng: “Thật là áy náy quá. Lần đầu Thầy đến nhà mà... chật... Cảm phiền Thầy vậy. Có người nấu nướng nhưng bà ngoại các cháu chẳng may lại bệnh nặng nằm liệt giường. Thôi thì xin Thầy qua quýt cho !”
Hoặc là con gái không nấu ăn ngon bằng mẹ. Hoặc con gái cũng đang “bấn” lên vì mẹ đau nặng nên chẳng còn lòng dạ nào mà lo chu đáo cho khách.
“Người ta” phải báo cho rabbi Iesouah biết lý do. Vả lại biết đâu chừng rabbi Iesouah làm được cho bà điều gì đó lạ lùng.
Mà rabbi Iêsouah làm được thật. Ngài không nói gì, chỉ “lại gần, cầm lấy tay bà mà đỡ dậy”. Cơn sốt liền biến mất. Người bệnh khỏi liền tức thời. Bằng chứng? Bà ngoại đã xuống bếp làm cơm đãi khách. Ba người khách được bữa ăn tươm tất. Bà còn phải sửa soạn chỗ ngã lưng cho khách.
Đây là phép lạ thứ hai trong ngày đầu tiên. Cách thức Ngài thực hiện phép lạ thứ hai này cho ta thấy nhiều chi tiết thú vị.
Ở hội đường là nơi công cộng, nơi thánh thiêng, ở đây là chỗ nhà riêng. Ở hội đường người thụ ơn là đàn ông. Ở đây, là một phụ nữ. Ở hội đường nạn nhân bị quỷ ám. Ở đây, nạn nhân là bệnh nhân. Ở hội đường, Ngài còn lên tiếng ra lệnh, chứ ở đây Ngài không nói gì, chỉ ân cần nắm tay đỡ bà “trỗi dậy”.
Như thế rõ ràng quyền năng của rabbi Iêsouah không bị hạn chế. Ngài có quyền trên cả tà thần lẫn những xáo trộn thể lý, vật lý.
Ngài cũng coi thường và vượt qua cả những cấm kỵ hay những định chế văn hóa, tập tục đương thời. Ngài nắm tay phụ nữ, đụng đến bệnh nhân, và trong thuật trình chúng ta sẽ nghe vào tuần sau, Ngài còn đụng tay đến cả người cùi. Không sợ bị lây nhiễm, không sợ bị cấm kỵ
Như thế dường như đối với con người, nhất là đối với phụ nữ, Ngài đối xử ân cần hơn. Để trục quỷ, Ngài chỉ cần ra lệnh. Với con bệnh, Ngài lại nắm tay, Ngài đụng chạm vào cơ thể. Như một lương y từ mẫu.
Chúa Giêsu “đỡ bà (trỗi) dậy”− raises her.” Động từ Hy lạp là egeiren.
Marcô dùng cùng một động từ để kể rằng Chúa Giêsu nâng cô bé đã chết “trỗi dậy - sống lại”: “Người cầm lấy tay nó và nói: "Ta-li-tha kum", nghĩa là: "Này bé, Thầy truyền cho con: trỗi dậy đi!” (Mc 5:41-42), Và để miêu tả chính việc Chúa sống lại: “Nhưng sau khi trỗi dậy, Thầy sẽ đến Ga-li-lê trước anh em... "Đừng hoảng sợ! Các bà tìm Đức Giê-su Na-da-rét, Đấng bị đóng đinh chứ gì! Người đã trỗi dậy rồi, không còn đây nữa.” (14:28; 16:6).
Marco muốn ám chỉ rằng quyền năng Chúa Giêsu chữa bệnh cũng chính là quyền năng cánh chung Thiên Chúa cho Ngài sống lại từ cõi chết.
2-
Từ chi tiết phép lạ thứ hai Chúa Giêsu dành cho phụ nữ, chúng ta có thể rút ra những kết luận như sau:
a- Chúa Giêsu không phải là người có định kiến như cánh đàn ông và như văn hóa Do thái đương thời. Ngài coi trọng và tôn vinh phụ nữ, qua việc dành phép lạ đầu tiên cho một phụ nữ. Ngài còn làm phép lạ cho con gái ông Giairô sống lại (Mc 5:21-24, 35-43) Ngài chữa lành bệnh xuất huyết cho một phụ nữ vô danh, nhiều mặc cảm (Mc 5:25-34) Và dĩ nhiên khi Marcô viết rằng cả thành kéo tới chật cửa xin chữa bệnh thì hẳn cũng có nhiều phụ nữ trong số đó.
b- Các phụ nữ, dường như tự bản chất, để ý đến việc phục vụ nhiều hơn cánh đàn ông. Có các bà đi theo để “hầu hạ” Ngài và các môn đệ, nghĩa là lo lắng chuyện cơm nước. Chính một phụ nữ đã “biết ý” rửa chân cho Chúa dù bằng nước mắt, còn Simon thì không ! Chính các Bà vẫn theo Ngài tới cùng, đến mãi tận chân thập giá. Lại chính các bà sáng sớm hôm đầu tuần chạy ra mồ định tiếp tục việc ướp xác Chúa, nhờ thế mà khám phá sự kiện mồ trống, trong khi cánh dàn ông vẫn ru rú trong nhà đóng kín cửa, vì sợ người Do thái.
Trong nhà Simon hôm nay cũng thế, vừa được chữa khỏi bệnh, bà đã đi lo liệu cơm nước, nghĩa là “phục vụ” ngay.
(còn tiếp)
KaTy
“Vừa ra khỏi hội đường Ca-phác-na-um, Đức Giê-su đi đến nhà hai ông Si-môn và An-rê. Có ông Gia-cô-bê và ông Gio-an cùng đi theo.30 Lúc đó, bà mẹ vợ ông Si-môn đang lên cơn sốt, nằm trên giường. Lập tức họ nói cho Người biết tình trạng của bà.31 Người lại gần, cầm lấy tay bà mà đỡ dậy; cơn sốt dứt ngay và bà phục vụ các ngài.
32 Chiều đến, khi mặt trời đã lặn, người ta đem mọi kẻ ốm đau và những ai bị quỷ ám đến cho Người.33 Cả thành xúm lại trước cửa.34 Đức Giê-su chữa nhiều kẻ ốm đau mắc đủ thứ bệnh tật, và trừ nhiều quỷ, nhưng không cho quỷ nói, vì chúng biết Người là ai.
35 Sáng sớm, lúc trời còn tối mịt, Người đã dậy, đi ra một nơi hoang vắng và cầu nguyện ở đó.36 Ông Si-môn và các bạn kéo nhau đi tìm.37 Khi gặp Người, các ông thưa: "Mọi người đang tìm Thầy đấy! "38 Người bảo các ông: "Chúng ta hãy đi nơi khác, đến các làng xã chung quanh, để Thầy còn rao giảng ở đó nữa, vì Thầy ra đi cốt để làm việc đó."39 Rồi Người đi khắp miền Ga-li-lê, rao giảng trong các hội đường của họ, và trừ quỷ.
(Mc 1:29-39)
1-
“Vừa ra khỏi hội đường”
Người Do thái họp nhau ngày thứ bảy – shabbat. Theo ngòi viết của Marcô, trong ngày đầu tiên rao giảng, Chúa Giêsu đã làm hai chuyện phi thường được kể lại chi ly. Trục xuất thần ô uế ngay tại hội đường Capernaum, và chữa lành bệnh cho mẹ vợ của thánh Phêrô.
Mà lại chữa lành vào ngày shabbat. Không thấy ai thắc mắc gì. Khi ấy xung khắc giữa Chúa Giêsu và “người Do thái” chưa nảy sinh. Người ta mới biết tới Chúa Giêsu trong ngày đầu tiên. Mọi người chỉ biết “kinh ngạc” và “sửng sốt”. Chưa hề có ghen tuông hay thù oán dẫn đến án mạng.
Ở đây cho ta chi tiết lý thú: Mẹ vợ được nhắc đến, được chữa bệnh, còn “bà xã” của thánh Phêrô không hề được nhắc đến.
Đúng ra là có được nhắc tới. Nhưng chỉ được thánh Phaolô nhắc tới trong cơn bực mình. Thánh Phaolô, sau khi trách dân Corintô, Ngài nêu lên những điều Ngài cũng được phép làm như các tông đồ khác, nhưng Ngài đã không sử dụng đến. Ngài bực mình cao giọng: “Phải chăng tôi không có quyền ăn uống,5 không có quyền đem theo một người chị em tín hữu như các tông đồ khác, như các anh em của Chúa và như ông Kê-pha?” (1 Cor 9:5)
Ông “Kêpha” là thánh Phêrô. Nghiêm trang gọi các “bà” là “người chị em tín hữu” chắc chỉ có mình.... Phaolô mà thôi.
“Người chị em tín hữu” này, lúc Phêrô đi theo làm đồ đệ Chúa Giêsu, có “cùng” đi theo Chúa “trong đám các bà nhân đức” không, thì chúng ta không biết. Nhưng sau này, khi Chúa đã lên trời, các tông đồ tuá ra muôn hướng để rao giảng, thì “cô nhà” thánh Phêrô cũng đi theo Phêrô. Có thế Phaolô mới có cớ để mà phàn nàn về trường hợp của mình chứ [Đọc thêm bài “Bà Xã thánh Phêrô”].
Ấy là chuyện về sau này. Bây giờ “cô nhà” không thấy nhắc tới. Chỉ nhắc tới bà mẹ. Bà ngoại là người đảm đang, là chủ bếp lo cơm nước cho cánh đàn ông và cho khách khứa. Nay đột ngột có khách quan trọng, mà bà lại liệt giường, nên “họ - người ta” báo ngay cho Chúa Giêsu.
Chuyện lạ lùng trục xuất quỷ vừa mới xảy ra ở Hội đường hẳn đã vang nhanh về nhà bà. Bà nằm liệt giường nên không thể đi hội đường được.
Theo lề luật hội đường Do thái, phụ nữ không được ở chung với phái nam trong hội đường mà phải ở một gian riêng, ngăn cách nhau bằng một cái màn gọi là “mechitzah”. Dù thế, nếu có tới hội đường, cánh phụ nữ cũng biết chuyện gì xảy ra bên kia bức màn.
Nhà cháu tưởng tượng ra được khung cảnh như thế này:
Hoặc các người báo muốn cho Chúa Giêsu biết rằng: “Thật là áy náy quá. Lần đầu Thầy đến nhà mà... chật... Cảm phiền Thầy vậy. Có người nấu nướng nhưng bà ngoại các cháu chẳng may lại bệnh nặng nằm liệt giường. Thôi thì xin Thầy qua quýt cho !”
Hoặc là con gái không nấu ăn ngon bằng mẹ. Hoặc con gái cũng đang “bấn” lên vì mẹ đau nặng nên chẳng còn lòng dạ nào mà lo chu đáo cho khách.
“Người ta” phải báo cho rabbi Iesouah biết lý do. Vả lại biết đâu chừng rabbi Iesouah làm được cho bà điều gì đó lạ lùng.
Mà rabbi Iêsouah làm được thật. Ngài không nói gì, chỉ “lại gần, cầm lấy tay bà mà đỡ dậy”. Cơn sốt liền biến mất. Người bệnh khỏi liền tức thời. Bằng chứng? Bà ngoại đã xuống bếp làm cơm đãi khách. Ba người khách được bữa ăn tươm tất. Bà còn phải sửa soạn chỗ ngã lưng cho khách.
Đây là phép lạ thứ hai trong ngày đầu tiên. Cách thức Ngài thực hiện phép lạ thứ hai này cho ta thấy nhiều chi tiết thú vị.
Ở hội đường là nơi công cộng, nơi thánh thiêng, ở đây là chỗ nhà riêng. Ở hội đường người thụ ơn là đàn ông. Ở đây, là một phụ nữ. Ở hội đường nạn nhân bị quỷ ám. Ở đây, nạn nhân là bệnh nhân. Ở hội đường, Ngài còn lên tiếng ra lệnh, chứ ở đây Ngài không nói gì, chỉ ân cần nắm tay đỡ bà “trỗi dậy”.
Như thế rõ ràng quyền năng của rabbi Iêsouah không bị hạn chế. Ngài có quyền trên cả tà thần lẫn những xáo trộn thể lý, vật lý.
Ngài cũng coi thường và vượt qua cả những cấm kỵ hay những định chế văn hóa, tập tục đương thời. Ngài nắm tay phụ nữ, đụng đến bệnh nhân, và trong thuật trình chúng ta sẽ nghe vào tuần sau, Ngài còn đụng tay đến cả người cùi. Không sợ bị lây nhiễm, không sợ bị cấm kỵ
Như thế dường như đối với con người, nhất là đối với phụ nữ, Ngài đối xử ân cần hơn. Để trục quỷ, Ngài chỉ cần ra lệnh. Với con bệnh, Ngài lại nắm tay, Ngài đụng chạm vào cơ thể. Như một lương y từ mẫu.
Chúa Giêsu “đỡ bà (trỗi) dậy”− raises her.” Động từ Hy lạp là egeiren.
Marcô dùng cùng một động từ để kể rằng Chúa Giêsu nâng cô bé đã chết “trỗi dậy - sống lại”: “Người cầm lấy tay nó và nói: "Ta-li-tha kum", nghĩa là: "Này bé, Thầy truyền cho con: trỗi dậy đi!” (Mc 5:41-42), Và để miêu tả chính việc Chúa sống lại: “Nhưng sau khi trỗi dậy, Thầy sẽ đến Ga-li-lê trước anh em... "Đừng hoảng sợ! Các bà tìm Đức Giê-su Na-da-rét, Đấng bị đóng đinh chứ gì! Người đã trỗi dậy rồi, không còn đây nữa.” (14:28; 16:6).
Marco muốn ám chỉ rằng quyền năng Chúa Giêsu chữa bệnh cũng chính là quyền năng cánh chung Thiên Chúa cho Ngài sống lại từ cõi chết.
2-
Từ chi tiết phép lạ thứ hai Chúa Giêsu dành cho phụ nữ, chúng ta có thể rút ra những kết luận như sau:
a- Chúa Giêsu không phải là người có định kiến như cánh đàn ông và như văn hóa Do thái đương thời. Ngài coi trọng và tôn vinh phụ nữ, qua việc dành phép lạ đầu tiên cho một phụ nữ. Ngài còn làm phép lạ cho con gái ông Giairô sống lại (Mc 5:21-24, 35-43) Ngài chữa lành bệnh xuất huyết cho một phụ nữ vô danh, nhiều mặc cảm (Mc 5:25-34) Và dĩ nhiên khi Marcô viết rằng cả thành kéo tới chật cửa xin chữa bệnh thì hẳn cũng có nhiều phụ nữ trong số đó.
b- Các phụ nữ, dường như tự bản chất, để ý đến việc phục vụ nhiều hơn cánh đàn ông. Có các bà đi theo để “hầu hạ” Ngài và các môn đệ, nghĩa là lo lắng chuyện cơm nước. Chính một phụ nữ đã “biết ý” rửa chân cho Chúa dù bằng nước mắt, còn Simon thì không ! Chính các Bà vẫn theo Ngài tới cùng, đến mãi tận chân thập giá. Lại chính các bà sáng sớm hôm đầu tuần chạy ra mồ định tiếp tục việc ướp xác Chúa, nhờ thế mà khám phá sự kiện mồ trống, trong khi cánh dàn ông vẫn ru rú trong nhà đóng kín cửa, vì sợ người Do thái.
Trong nhà Simon hôm nay cũng thế, vừa được chữa khỏi bệnh, bà đã đi lo liệu cơm nước, nghĩa là “phục vụ” ngay.
(còn tiếp)
KaTy