admin
01-05-2011, 10:04 PM
MỘT CON ĐƯỜNG ĐẦY HY VỌNG
SUY NIỆM PHÚC ÂM (IV A 28); (08.05.2011); (Lc 24, 13-25)
CHÚA NHẬT III MÙA PHỤC SINH, NĂM A
NGUYỄN HỌC TẬP
Đoạn Phúc Âm hôm nay, hai môn đệ trên đường Émmaus, đặc biệt chỉ có trong Phúc Âm Thánh Luca, tường thuật lại một cách tuyệt diệu cuộc gặp gỡ giữa Chúa Phục Sinh và hai môn đệ. Một người được biết danh tánh là Cleopa, còn người kia không được nêu tên, có lẽ để cho bất cứ ai đọc Phúc Âm ngài cũng có thể đồng hoá mình với người môn đệ đó.
Mỗi người chúng ta đều phải bước đi, thực hiện đoạn đường, mà hai môn đệ đã cùng đồng hành với người bạn đồng hành bí ẩn được đoạn Phúc Âm thuật lại.
Chúng ta có thể chia đoạn Phúc Âm hôm nay thành bốn phần:
- phần trình bày hai nhân vật và bối cảnh của cuộc hành trình (Lc 24, 13-16),
- chúng ta được Thánh Luca phát hoạ hai môn đệ trong cuộc hành trình như là những con người còn thuộc về tư tưởng Cựu Ước, qua những hình ảnh mà các ông suy nghĩ về Chúa Giêsu (Lc 24, 17-24),
- kế đến, nhờ đoạn đường cùng đi với với người đdồng hành xa lạ, tâm trí các ông mới được mở ra trước một chân trời mới và trở thành những con người của Tân Ước (Lc 24, 25-32),
- phần cuối cùng cho chúng ta biết kết quả của cuộc hành trình (Lc 24, 33-35).
1 - Nhân vật và bối cảnh của cuộc hành trình về Emmaus (Lc 13-16).
Chúng ta đang ở vào ngày Phục Sinh, vào buổi chiều, “có hai người trong nhóm môn đệ” (Lc 24, 13), có lẽ trong tâm thức có lối suy tư khác với những người còn lại, quyết định rời bỏ Giêrusalem, rời bỏ các môn đệ, để đi về Emmaus, cách Giêrusalem khoảng 12 cây số.
Có lẽ Emmaus là nguyên quán của hai ông.
Thái độ lìa bỏ Giêrusalem, lìa bỏ các môn đệ khác, hàm chứa dưới đó một mùi vị nản chí, thất vọng, “thôi thì mọi mơ tưởng đã xong hết, thất vọng”, niềm hy vọng say mê của thời gian qua “đã hoàn toàn đổ vỡ , tan tành”.
Dầu vậy, trong tư tưởng, các ông cũng chưa có thể đoạn tuyệt với quá khứ, bởi vì trong lúc đi đường, hai người còn bàn tán với nhau về những gì vừa xảy ra:
- “Các ông chuyện trò với nhau về tất cả những sự việc mới xảy ra” (Lc 24, 14).
" Tất cả những gì đã xảy ra”, một cách nào đó hai ông cũng là cũng là nạn nhân, nghĩa là chỉ có thể làm người bàng quan thụ động.
Cuộc trở về Emmaus, lìa bỏ các môn đệ khác, có nghĩa là kết thúc con đường và khoản thời gian mạo hiểm đối với Chúa Kitô.
Nhưng điều đó không có nghĩa là mọi chuyện đều trở lại yên tỉnh như trước đó, mà mình không bị lạy động. Bởi lẽ không thể ở bên cạnh Chúa Giêsu, rồi sau đó lìa bỏ Người, như là chưa hề có gì đã xảy ra.
Mọi chuyện đều đã kết thúc, nhưng Chúa Kitô vẫn còn tiếp tục chăm lo cho các ông, hơn nữa, Chúa Kitô vẫn còn tiếp tục là câu hỏi để các ông đặt thành vấn đề.
Bởi đó cuộc nói chuyện của hai ông trong lúc đi đường trở thành sôi động, nhiều khi đưa đến cãi cọ, nhiều ý kiến nảy ra khác nhau, nhiều nghi vấn không giải quyết được, được diễn tả bằng động từ Hy Lạp “syzetéo”.
Chúa Giêsu hiện đến với các ông, để cho cuộc hành trình vật thể biến thành cuộc hành trình đến đức tin, khiến cho các ông trở thành những con người tích cực, tìm được câu trả lời thoả đáng cho những câu hỏi của mình:
- “Trong lúc các ông trò chuyện và bàn tán (syzetéo), thì chính Chúa Giêsu tiến đến gần và cùng đi với các ông” (Lc 24, 15).
Chúa Giêsu ở đó, đang đồng hành bên cạnh các ông, nhưng mắt các ông không có khả năng nhận ra Người.
Làm sao mà không nhận ra một người, mà chỉ mới vắng mặt một vài ngày trước đó, có lẽ trên dưới 72 giờ?
Câu trả lời hàm chứa trong mầu nhiệm phục sinh của Chúa Giêsu. Sự hiện diện của Người, thân xác của Người đã trở nên khác với hình dáng trước đó, khác hẵn với trường hợp Lazzaro chẳng hạn. Bởi lẽ Chúa Giêsu Phục Sinh không lấy lại đời sống con người mà Người sống trước đó:
-”...Chúa Giêsu tiến đến gần các ông. Nhưng mắt các ông còn bị ngăn cản, không nhận ra Người” (Lc 24, 15b-16).
Chúa Giêsu đã đi vào thể thức sống mới, cuộc sống Thần Linh, chuyển đổi cuộc sống, kể cả thân xác, bởi đó Người có thể đi vào nơi cư ngụ của các môn đệ, mặc dầu các cửa đều đóng kín (Jn 20, 19).
Sống trong trạng thái sống mới vừa kể, chúng ta không thể hiểu được, không cảm nhận được, không còn bị các lằn mức giới hạn của con người chúng ta, không cần ăn uống, nghỉ ngơi, chiếm khoảng không gian...
Hiểu như vậy, chúng ta thấy được trạng thái hoàn toàn khác biệt giữa hai môn đệ và Chúa Giêsu, đang đi bên cạnh các ông.
Muốn nhận ra được Chúa Phục Sinh, hai môn đệ phải có được điều kiện để “quen biết “với Người. Con người với sức lực và khả năng của mình, không thể xác nhận được căn tính của Chúa Giêsu chịu đóng đinh và Chúa Phục Sinh. Căn tính đó chỉ có thể xác nhận được đối với những ai được Chúa Kitô ban cho khả năng và đáp ứng lại trong đức tin, như là những người được Chúa ban cho đôi cánh để bay lên đến Người.
2 - Hai môn đệ, con người trong Cựu Ước đã bị thất vọng (Lc 24, 17-24).
Nghĩ ra một Chúa Kitô vừa với tầm vóc của mình, hợp với khả năng và chương trình sống của mình, không khó khăn gì. Ai cũng làm được.
Nhưng một Chúa Kitô như vậy, không quấy rầy, can dự vào suy nghĩ và dự tính của mình, kông phải là Chúa Kitô đích thực. Trước tiên cần phải phá vỡ đi những tiền kiến cá nhân đó và để cho Người thiết định cho chúng ta thế nào là chân dung Chúa Kitô đích thực, mà chúng ta phải kết hợp và bước theo Người.
Chỉ có như vậy, chúng ta mới là hình ảnh của Người và giống như Người.
Cuộc đối thoại được Chúa Giêsu khởi đầu như là một thử thách kích động, nhằm phá vỡ đi thần tượng về Người mà hai môn đệ đã từ lâu suy nghĩ trong lòng:
- “Các anh vừa đi vừa trao đổi với nhau về chuyện gì vậy ?” (Lc 24, 17).
Hai môn đệ dừng lại “với vẻ mặt buồn rầu” (Lc id.).
Câu trả lời đầu tiên tức khắc cho thấy thái độ thất vọng não nề của Cleopa:
- “Có lẽ ông là người duy nhứt trú ngụ tại Giêrusalem mà không hay biết những chuyện đã xảy ra trong thành mấy bữa nay” (Lc 24, 18).
Tiếp liền câu trả lời đó, Chúa Giêsu đặt ra câu hỏi:
- “Chuyện gì vậy ?” (Lc 24, 19)
như là những gì khởi đầu, để hai môn đệ có thái độ cởi mở đối với Người, là người đồng hành chưa quen biết, cởi mở để nói cho Người về tình cảm và quan niệm mà hai ông có đối với Chúa Giêsu.
Thật là môt cách đối xử rất rất thích hợp theo phương thức sư phạm, khiến cho hai môn đệ thố lộ tâm tình, cởi mở ra nhữn gì đang đươn kết rối rắm đầy nghi ngờ, khiến cho các ông lương tâm bị vẩn đục.
Đồng thời câu chuyện về các biến cố mới xảy ra cũng tạo ra một cây cầu liên kết giữa người đồng hành chưa quen biết và hai môn đệ.
Từ đó trở đi, cuộc đồng hành chứa đầy những vấn đề lợi thú đối với cả ba.
Hai môn đệ vẫn còn giữ lòng thán phục đối với Chúa Giêsu, mặc dầu sau biến cố Khổ Nạn và Tử Nạn chỉ còn là những gì lưu lại trong ký ức.
Bởi đó hai ông trình bày cho người đồng hành chưa quen biết một bối cảnh kết tựu và đầy đủ về hình ảnh Chúa Giêsu đã được dần dần ghi vào tâm khảm họ. Lời bày tỏ đó tạo nên bối cảnh lịch sử và đầy ý nghĩa thần học:
* đối với Chúa Giêsu, các ông còn mang trong nội tâm lòng kính phục trọng đại, bởi vì các ông cho rằng Người là một vị ngôn sứ, tức là người có tước hiệu được dành cho những nhân vật quan trọng trong lịch sử Do Thái. Sự cao cả của Người được chứng tỏ liên quan đến lời nói và việc làm (các phép lạ) Người đã thực hiện, làm cho Người có uy thế trước mặt Thiên Chúa và dân chúng:
- "Các ông thưa: “Chuyện ông Giêsu Nazareth. Người là một ngôn sứ uy thế trong việc làm cũng như lời nói trước mặt Thiên Chúa và toàn dân” (Lc 24, 19).
* Nhưng rồi hai môn đệ cho biết các sự việc xảy ra không trùng hợp nhau, khiến cho tình thế nguy ngập xảy đến bởi vì được tạo ra do các tư tế và các thủ lãnh.
Cuộc Khổ Nạn và Tử Nạn của Chúa Giêsu, do đó, được coi như là một tai nạn bất ngờ, không tiên đoán trước được, mà cũng chẳng ai muốn, một thảm trạng định mệnh làm cho Chúa Giêsu phải trở thành nạn nhân:
- “Thế mà các thượng tế và thủ lãnh của chúng ta đã nộp Người, để Người bị án tử hình và đã đóng đinh Người vào thập giá” (Lc 24, 20).
* Cái chết và nhứt là cái chết trên thập giá (hình phạt đối với người nô lệ), đã làm cho con người của Chúa Giêsu bị bóng tối che phủ lên và đã làm rạn nứt lòng tin sắt đá mà các ông hoàn toàn đặt tin tưởng nơi Người. Không ai là người Do Thái có thể quên được án phạt nặng nề mà Lề Luật đã thiết định:
-”...người bị treo lên cây là đồ bị Thiên Chúa nguyền rủa” (Dt 21, 23).
* “Phần chúng tôi, trước đây vẫn hy vọng rằng chính Người là Đấng cứu chuộc Israel. Hơn nữa những việc ấy xảy ra đến nay là ngày thứ ba rồi” (Lc 24, 21).
Đó là câu nói chứng tỏ hai môn đệ là những người còn thuộc về tâm thức Cựu Ước, bởi lẽ theo các ông Chúa Giêsu phải là Đấng Cứu Độ chính trị, giải thoát theo tư tưởng của con người, có khả năng giải phóng dân Do Thái khỏi vòng nô lệ của quân Roma.
Động từ được dùng để chỉ động tác giải thoát, đó là động từ Hy Lạp “lytróomai”, cho thấy rõ lòng mong đợi Đấng Cứu Độ chính trị mà dân Do Thái đang mong đợi, và chắc chắn đó cũng là tư tưởng không thiếu trong hàng ngũ các môn đệ Chúa Giêsu.
Ngoài ra chúng ta còn có thêm tư tưởng đối nghịch, trong tâm thức Israel, giữa đau khổ/ sự chết và quyền năng / sự sống của Thiên Chúa: điều đó có nghĩa là nếu Chúa Giêsu là Đấng do Thiên Chúa sai đến, chắc chắn Người phải có quyền tham dự vào quyền năng của Thiên Chúa, và như vậy Người đâu phải chịu đau khổ, cũng như chết.
Hiểu như vậy, đối với hai môn đệ, Chúa Giêsu không phải là Đấng Cứu Thế mà dân chúng đang mong đợi. Cái chết trên thập giá là một bằng chứng không thể chối cãi được.
Tâm thức Cựu Ước đó đã đâm rễ sâu vào nội tâm các ông như thế nào, điều đó chúng ta có thể hiểu được các ông không chấp nhận những tin tức mới mẻ được các phụ nữ loan báo cho và được chính các môn đệ xác nhận.
Tất cả những điều đó xảy ra không ảnh hưởng gì đến xác tín trái ngược của hai ông. Hai ông vẫn bỏ ngoài tai tất cả những tin tức và nhân chứng đó:
- “Thật ra cũng có mấy người đàn bà trong nhóm chúng tôi đã làm chúng tôi kinh ngạc. Các bà ấy ra mộ hồi sáng sớm, không thấy xác Người đâu cả, về còn nói là đã thấy thiên thần hiện ra bảo rằng Người đã sống. Vài người trong nhóm chúng tôi đã ra mộ, và thấy việc y như các bà ấy nói, còn chính Người thì họ không thấy” (Lc 24, 22-24).
Hai môn đệ, cũng như nhiều người khác, muốn thấy được xác chết, thấy xác Chúa Giêsu như xác của một trong bao nhiêu nạn nhân khác của cái chết. Các ông cương quyết và cứng đọng lại trong quan niệm của mình, trong nhãn quan giới hạn của mình.
Thái độ đóng kín đó, không chấp nhận ngay cả một thực thể có thể định hướng khác đi cho mình, hướng về một cái gì mới mẻ hơn, bởi đó tạo nên tình trạng thất vọng trong tâm trạng, được thể hiện ra bên ngoài bằng khuôn mặt rầu rĩ của hai người:
- “Hai ông dừng lại, vẻ mặt buồn rầu” (Lc 24, 17b).
Các ông đã trở thành những người hoàn toàn thất vọng !
SUY NIỆM PHÚC ÂM (IV A 28); (08.05.2011); (Lc 24, 13-25)
CHÚA NHẬT III MÙA PHỤC SINH, NĂM A
NGUYỄN HỌC TẬP
Đoạn Phúc Âm hôm nay, hai môn đệ trên đường Émmaus, đặc biệt chỉ có trong Phúc Âm Thánh Luca, tường thuật lại một cách tuyệt diệu cuộc gặp gỡ giữa Chúa Phục Sinh và hai môn đệ. Một người được biết danh tánh là Cleopa, còn người kia không được nêu tên, có lẽ để cho bất cứ ai đọc Phúc Âm ngài cũng có thể đồng hoá mình với người môn đệ đó.
Mỗi người chúng ta đều phải bước đi, thực hiện đoạn đường, mà hai môn đệ đã cùng đồng hành với người bạn đồng hành bí ẩn được đoạn Phúc Âm thuật lại.
Chúng ta có thể chia đoạn Phúc Âm hôm nay thành bốn phần:
- phần trình bày hai nhân vật và bối cảnh của cuộc hành trình (Lc 24, 13-16),
- chúng ta được Thánh Luca phát hoạ hai môn đệ trong cuộc hành trình như là những con người còn thuộc về tư tưởng Cựu Ước, qua những hình ảnh mà các ông suy nghĩ về Chúa Giêsu (Lc 24, 17-24),
- kế đến, nhờ đoạn đường cùng đi với với người đdồng hành xa lạ, tâm trí các ông mới được mở ra trước một chân trời mới và trở thành những con người của Tân Ước (Lc 24, 25-32),
- phần cuối cùng cho chúng ta biết kết quả của cuộc hành trình (Lc 24, 33-35).
1 - Nhân vật và bối cảnh của cuộc hành trình về Emmaus (Lc 13-16).
Chúng ta đang ở vào ngày Phục Sinh, vào buổi chiều, “có hai người trong nhóm môn đệ” (Lc 24, 13), có lẽ trong tâm thức có lối suy tư khác với những người còn lại, quyết định rời bỏ Giêrusalem, rời bỏ các môn đệ, để đi về Emmaus, cách Giêrusalem khoảng 12 cây số.
Có lẽ Emmaus là nguyên quán của hai ông.
Thái độ lìa bỏ Giêrusalem, lìa bỏ các môn đệ khác, hàm chứa dưới đó một mùi vị nản chí, thất vọng, “thôi thì mọi mơ tưởng đã xong hết, thất vọng”, niềm hy vọng say mê của thời gian qua “đã hoàn toàn đổ vỡ , tan tành”.
Dầu vậy, trong tư tưởng, các ông cũng chưa có thể đoạn tuyệt với quá khứ, bởi vì trong lúc đi đường, hai người còn bàn tán với nhau về những gì vừa xảy ra:
- “Các ông chuyện trò với nhau về tất cả những sự việc mới xảy ra” (Lc 24, 14).
" Tất cả những gì đã xảy ra”, một cách nào đó hai ông cũng là cũng là nạn nhân, nghĩa là chỉ có thể làm người bàng quan thụ động.
Cuộc trở về Emmaus, lìa bỏ các môn đệ khác, có nghĩa là kết thúc con đường và khoản thời gian mạo hiểm đối với Chúa Kitô.
Nhưng điều đó không có nghĩa là mọi chuyện đều trở lại yên tỉnh như trước đó, mà mình không bị lạy động. Bởi lẽ không thể ở bên cạnh Chúa Giêsu, rồi sau đó lìa bỏ Người, như là chưa hề có gì đã xảy ra.
Mọi chuyện đều đã kết thúc, nhưng Chúa Kitô vẫn còn tiếp tục chăm lo cho các ông, hơn nữa, Chúa Kitô vẫn còn tiếp tục là câu hỏi để các ông đặt thành vấn đề.
Bởi đó cuộc nói chuyện của hai ông trong lúc đi đường trở thành sôi động, nhiều khi đưa đến cãi cọ, nhiều ý kiến nảy ra khác nhau, nhiều nghi vấn không giải quyết được, được diễn tả bằng động từ Hy Lạp “syzetéo”.
Chúa Giêsu hiện đến với các ông, để cho cuộc hành trình vật thể biến thành cuộc hành trình đến đức tin, khiến cho các ông trở thành những con người tích cực, tìm được câu trả lời thoả đáng cho những câu hỏi của mình:
- “Trong lúc các ông trò chuyện và bàn tán (syzetéo), thì chính Chúa Giêsu tiến đến gần và cùng đi với các ông” (Lc 24, 15).
Chúa Giêsu ở đó, đang đồng hành bên cạnh các ông, nhưng mắt các ông không có khả năng nhận ra Người.
Làm sao mà không nhận ra một người, mà chỉ mới vắng mặt một vài ngày trước đó, có lẽ trên dưới 72 giờ?
Câu trả lời hàm chứa trong mầu nhiệm phục sinh của Chúa Giêsu. Sự hiện diện của Người, thân xác của Người đã trở nên khác với hình dáng trước đó, khác hẵn với trường hợp Lazzaro chẳng hạn. Bởi lẽ Chúa Giêsu Phục Sinh không lấy lại đời sống con người mà Người sống trước đó:
-”...Chúa Giêsu tiến đến gần các ông. Nhưng mắt các ông còn bị ngăn cản, không nhận ra Người” (Lc 24, 15b-16).
Chúa Giêsu đã đi vào thể thức sống mới, cuộc sống Thần Linh, chuyển đổi cuộc sống, kể cả thân xác, bởi đó Người có thể đi vào nơi cư ngụ của các môn đệ, mặc dầu các cửa đều đóng kín (Jn 20, 19).
Sống trong trạng thái sống mới vừa kể, chúng ta không thể hiểu được, không cảm nhận được, không còn bị các lằn mức giới hạn của con người chúng ta, không cần ăn uống, nghỉ ngơi, chiếm khoảng không gian...
Hiểu như vậy, chúng ta thấy được trạng thái hoàn toàn khác biệt giữa hai môn đệ và Chúa Giêsu, đang đi bên cạnh các ông.
Muốn nhận ra được Chúa Phục Sinh, hai môn đệ phải có được điều kiện để “quen biết “với Người. Con người với sức lực và khả năng của mình, không thể xác nhận được căn tính của Chúa Giêsu chịu đóng đinh và Chúa Phục Sinh. Căn tính đó chỉ có thể xác nhận được đối với những ai được Chúa Kitô ban cho khả năng và đáp ứng lại trong đức tin, như là những người được Chúa ban cho đôi cánh để bay lên đến Người.
2 - Hai môn đệ, con người trong Cựu Ước đã bị thất vọng (Lc 24, 17-24).
Nghĩ ra một Chúa Kitô vừa với tầm vóc của mình, hợp với khả năng và chương trình sống của mình, không khó khăn gì. Ai cũng làm được.
Nhưng một Chúa Kitô như vậy, không quấy rầy, can dự vào suy nghĩ và dự tính của mình, kông phải là Chúa Kitô đích thực. Trước tiên cần phải phá vỡ đi những tiền kiến cá nhân đó và để cho Người thiết định cho chúng ta thế nào là chân dung Chúa Kitô đích thực, mà chúng ta phải kết hợp và bước theo Người.
Chỉ có như vậy, chúng ta mới là hình ảnh của Người và giống như Người.
Cuộc đối thoại được Chúa Giêsu khởi đầu như là một thử thách kích động, nhằm phá vỡ đi thần tượng về Người mà hai môn đệ đã từ lâu suy nghĩ trong lòng:
- “Các anh vừa đi vừa trao đổi với nhau về chuyện gì vậy ?” (Lc 24, 17).
Hai môn đệ dừng lại “với vẻ mặt buồn rầu” (Lc id.).
Câu trả lời đầu tiên tức khắc cho thấy thái độ thất vọng não nề của Cleopa:
- “Có lẽ ông là người duy nhứt trú ngụ tại Giêrusalem mà không hay biết những chuyện đã xảy ra trong thành mấy bữa nay” (Lc 24, 18).
Tiếp liền câu trả lời đó, Chúa Giêsu đặt ra câu hỏi:
- “Chuyện gì vậy ?” (Lc 24, 19)
như là những gì khởi đầu, để hai môn đệ có thái độ cởi mở đối với Người, là người đồng hành chưa quen biết, cởi mở để nói cho Người về tình cảm và quan niệm mà hai ông có đối với Chúa Giêsu.
Thật là môt cách đối xử rất rất thích hợp theo phương thức sư phạm, khiến cho hai môn đệ thố lộ tâm tình, cởi mở ra nhữn gì đang đươn kết rối rắm đầy nghi ngờ, khiến cho các ông lương tâm bị vẩn đục.
Đồng thời câu chuyện về các biến cố mới xảy ra cũng tạo ra một cây cầu liên kết giữa người đồng hành chưa quen biết và hai môn đệ.
Từ đó trở đi, cuộc đồng hành chứa đầy những vấn đề lợi thú đối với cả ba.
Hai môn đệ vẫn còn giữ lòng thán phục đối với Chúa Giêsu, mặc dầu sau biến cố Khổ Nạn và Tử Nạn chỉ còn là những gì lưu lại trong ký ức.
Bởi đó hai ông trình bày cho người đồng hành chưa quen biết một bối cảnh kết tựu và đầy đủ về hình ảnh Chúa Giêsu đã được dần dần ghi vào tâm khảm họ. Lời bày tỏ đó tạo nên bối cảnh lịch sử và đầy ý nghĩa thần học:
* đối với Chúa Giêsu, các ông còn mang trong nội tâm lòng kính phục trọng đại, bởi vì các ông cho rằng Người là một vị ngôn sứ, tức là người có tước hiệu được dành cho những nhân vật quan trọng trong lịch sử Do Thái. Sự cao cả của Người được chứng tỏ liên quan đến lời nói và việc làm (các phép lạ) Người đã thực hiện, làm cho Người có uy thế trước mặt Thiên Chúa và dân chúng:
- "Các ông thưa: “Chuyện ông Giêsu Nazareth. Người là một ngôn sứ uy thế trong việc làm cũng như lời nói trước mặt Thiên Chúa và toàn dân” (Lc 24, 19).
* Nhưng rồi hai môn đệ cho biết các sự việc xảy ra không trùng hợp nhau, khiến cho tình thế nguy ngập xảy đến bởi vì được tạo ra do các tư tế và các thủ lãnh.
Cuộc Khổ Nạn và Tử Nạn của Chúa Giêsu, do đó, được coi như là một tai nạn bất ngờ, không tiên đoán trước được, mà cũng chẳng ai muốn, một thảm trạng định mệnh làm cho Chúa Giêsu phải trở thành nạn nhân:
- “Thế mà các thượng tế và thủ lãnh của chúng ta đã nộp Người, để Người bị án tử hình và đã đóng đinh Người vào thập giá” (Lc 24, 20).
* Cái chết và nhứt là cái chết trên thập giá (hình phạt đối với người nô lệ), đã làm cho con người của Chúa Giêsu bị bóng tối che phủ lên và đã làm rạn nứt lòng tin sắt đá mà các ông hoàn toàn đặt tin tưởng nơi Người. Không ai là người Do Thái có thể quên được án phạt nặng nề mà Lề Luật đã thiết định:
-”...người bị treo lên cây là đồ bị Thiên Chúa nguyền rủa” (Dt 21, 23).
* “Phần chúng tôi, trước đây vẫn hy vọng rằng chính Người là Đấng cứu chuộc Israel. Hơn nữa những việc ấy xảy ra đến nay là ngày thứ ba rồi” (Lc 24, 21).
Đó là câu nói chứng tỏ hai môn đệ là những người còn thuộc về tâm thức Cựu Ước, bởi lẽ theo các ông Chúa Giêsu phải là Đấng Cứu Độ chính trị, giải thoát theo tư tưởng của con người, có khả năng giải phóng dân Do Thái khỏi vòng nô lệ của quân Roma.
Động từ được dùng để chỉ động tác giải thoát, đó là động từ Hy Lạp “lytróomai”, cho thấy rõ lòng mong đợi Đấng Cứu Độ chính trị mà dân Do Thái đang mong đợi, và chắc chắn đó cũng là tư tưởng không thiếu trong hàng ngũ các môn đệ Chúa Giêsu.
Ngoài ra chúng ta còn có thêm tư tưởng đối nghịch, trong tâm thức Israel, giữa đau khổ/ sự chết và quyền năng / sự sống của Thiên Chúa: điều đó có nghĩa là nếu Chúa Giêsu là Đấng do Thiên Chúa sai đến, chắc chắn Người phải có quyền tham dự vào quyền năng của Thiên Chúa, và như vậy Người đâu phải chịu đau khổ, cũng như chết.
Hiểu như vậy, đối với hai môn đệ, Chúa Giêsu không phải là Đấng Cứu Thế mà dân chúng đang mong đợi. Cái chết trên thập giá là một bằng chứng không thể chối cãi được.
Tâm thức Cựu Ước đó đã đâm rễ sâu vào nội tâm các ông như thế nào, điều đó chúng ta có thể hiểu được các ông không chấp nhận những tin tức mới mẻ được các phụ nữ loan báo cho và được chính các môn đệ xác nhận.
Tất cả những điều đó xảy ra không ảnh hưởng gì đến xác tín trái ngược của hai ông. Hai ông vẫn bỏ ngoài tai tất cả những tin tức và nhân chứng đó:
- “Thật ra cũng có mấy người đàn bà trong nhóm chúng tôi đã làm chúng tôi kinh ngạc. Các bà ấy ra mộ hồi sáng sớm, không thấy xác Người đâu cả, về còn nói là đã thấy thiên thần hiện ra bảo rằng Người đã sống. Vài người trong nhóm chúng tôi đã ra mộ, và thấy việc y như các bà ấy nói, còn chính Người thì họ không thấy” (Lc 24, 22-24).
Hai môn đệ, cũng như nhiều người khác, muốn thấy được xác chết, thấy xác Chúa Giêsu như xác của một trong bao nhiêu nạn nhân khác của cái chết. Các ông cương quyết và cứng đọng lại trong quan niệm của mình, trong nhãn quan giới hạn của mình.
Thái độ đóng kín đó, không chấp nhận ngay cả một thực thể có thể định hướng khác đi cho mình, hướng về một cái gì mới mẻ hơn, bởi đó tạo nên tình trạng thất vọng trong tâm trạng, được thể hiện ra bên ngoài bằng khuôn mặt rầu rĩ của hai người:
- “Hai ông dừng lại, vẻ mặt buồn rầu” (Lc 24, 17b).
Các ông đã trở thành những người hoàn toàn thất vọng !