View Full Version : Báo cáo thường niên các Giám Mục Miền Nam Việt Nam 1970
admin
18-11-2006, 01:42 PM
BÁO CÁO THƯỜNG NIÊN CÁC GIÁM MỤC
Năm: 1970
Nước: Miền Nam Việt-Nam
Hằng năm, Hội Thừa Sai Paris (M. E. P) đều có báo cáo về tình hình tổng quát về những quốc gia mà họ hiện diện phục vụ, trong đó có Việt-Nam. Báo cáo thường niên năm 1970 rất đáng chú ý, vì nó tóm tắt tình hình những năm thập niên 1960 và trước đó dẫn đến tình hình chính trị-kinh tế - xã hội vào năm 1970. Có thể nói: tình hình được ghi lại với những nhận xét phê bình rất chính xác cũng cho thấy kết cục vào năm 1975 với các biến cố mà ai ai trong chúng ta cũng đã cảm nghiệm.
Bản báo cáo chi tiết khá dài. BTGH chỉ xin chuyển ngữ phần nói về tình hình Miền Nam Việt-Nam và Giáo Hội và tạm thời bỏ qua hoạt động của các Vị thừa sai MEP, dù có khá nhiều chi tiết thú vị (xin kính gửi vào một dịp khác)
TÌNH HÌNH TỔNG QUÁT.
“Hội nghị “ Paris
Việc mở ra những cuộc hội đàm Paris lẽ ra đã có thể hé cho chúng ta thấy một kết cục tương đối gần cho cuộc xung đột Việt-Nam, cho dù những tranh luận ban đầu về hình dáng chiếc bàn hội nghị đã cho thấy trước rằng mọi sự sẽ chẳng trơng tru và rằng những cuộc tranh luận sẽ kéo dài và gay gắt. Sau mười lăm tháng đàm phán, hội nghị nầy được sắp đặt trong một cuộc đối thoại những người điếc, và chúng ta buộc phải nhận định rằng không có bất cứ một tiến triển nào và còn hơn thế nữa, chúng ta không hiểu làm thế nào để những người đối thoại có thể ra khỏi bế tắc được.
Ở đây, Miền Nam Việt-Nam, dân chúng không hề có ảo tưởng về lối thoát cho một hội nghị như thế. Chỉ cần đọc báo để có thể nhận ra dân chúng rất ít quan tâm đến hội nghị Paris. Những bài báo thuật lại diễn tiến các cuộc nói chuyện chỉ là một bài trình bày các lý lẽ được nêu lên, để từ đó rút ra kết luận lúc nào cũng giống nhau:”không có gì thay đổi, mỗi bên đều giữ lập trường của mình”.
Trong khi ấy, chiến sự tiếp tục và còn cả vượt qua biên giới Việt-Nam để lan sang nước Lào ban đầu, rồi sau đó sang cả nước Cam-bốt và chúng ta thấy xuất hiện lại trên báo chí từ ngữ “Đông Dương” vốn từ một ít năm qua đã biến mất khỏi từ vựng Việt-Nam.
Cuộc xung đột mở rộng.
Cuộc xung đột mở rộng sang các quốc gia láng giềng là điều được thấy trước. Đã từ nhiều năm qua, Việt-Cộng và Quân Miền Bắc đã sử dụng đường đi băng qua đất đai Lào và Cam-bốt. Họ đã tổ chức tại những nơi đó những căn cứ đóngquân và tiếp tế, biết rất rõ rằng Hoa Kỳ sẽ phải tôn trọng sự trung lập của hai quốc gia nầy và rằng các toán quân Hoa Kỳ sẽ không vượt qua biên giới mà không gây ra phản ứng bất lợi trong dư luận Mỹ. Dư luận nầy, cũng như dư luận các quốc gia Châu Âu, họ đã có được bằng việc tuyên truyền chậm chạp nhưng chắc chắn. Chúng ta đụng đến bi kịch của cuộc chiến có tínch cách lật đổ nầy. Người Mỹ thấy mình ở trong tình huống buộc phải rút lui các toán quân của mình khỏi Việt-Nam, bởi vì dư luận dân chúng nước họ đòi hòi điều đó. Qúa ý thức về sức mạnh thực sự của vũ khí họ, người Mỹ không bao giờ hiểu rằng cuộc chiến nầy trước hết là một cuộc chiến tâm lý, trong đó sức mạnh của vũ khí trở nên vô hiệu. Để bỏ mặc khía cạnh tâm lý của một chiến trang hiện đại một cách có hệ thống, phải nên lo sợ rằng mọi xung đột mà người Mỹ dính vào, sẽ trở nên bất lợi cho họ, dẫu cho những vũ khí gần như bất khả chiến bại mà họ có.
Trong vụ việc Cam-bốt, quâ đội Mỹ và Nam Việt-Nam dù vậy cũng đã vượt qua biên giới, do tân chính phủ Cam-bốt kêu gọi vì mong tống khứ sự hiện diện của những đội quân cộng-sản trên lãnh thổ của mình. Đúng như điều mà các thủ lãnh Việt-cộng và Bắc Việt chờ đợi, phản ứng của dư luận Hoa Kỳ hết sức mau chóng, buộc tổng thống Nixon phải giới hạn trong thời ian và không gian việc can thiệp bằng các đội quân của ông.
Việc can thiệp nầy vừa châm dứt thì người ta báo cho chúng ta những kết quả gây ngạc nhiên: phá hủy các căn cứ quân sự quan trọng, tịch thu rất nhiều vũ khí, quân trang và kho lương thực tiếp tế. Một cái giáng nặng nề đối với tổ chức hậu cần của Việt-cộng và Bắc Việt và đúng là như thế. Tuy nhiên, tôi luôn có cảm tưởng rằng các sử gia quân sự sẽ phán xét nhgiêm khắc chiếc thuật của sự can thiệp nầy của người Mỹ ở Cam-bốt, không phải như một sự can thiệp như nó vốn là, mà theo cách nó đã diễn ra. Khởi từ biên giới Việt-Nam, các toán quân Mỹ không tiến sâu quá 30 cây số bên torng lãnh thổ Cam-bốt. Họ đã phá huỷ các căn cứ quân sự trên lãnh thổ nầy, đã có lúc hy vọng tóm gọn bộ chỉ huy Việt-cộng, những đã chẳng được gì. Bộ chỉ huy cùng với phần lớn các toán quân đã biến mất, mang theo những vật dụng qua trọng nhất, chỉ để lại tại chỗ những đơn vị chiến đấu nhỏ có trách nhiệm làm chậm bước tiến của các toán quân Nam Việt và Hoa Kỳ. Trong khi chiến thuật quân sự tốt lẽ ra đoì hỏi rằng, bằng hành quân bằng hải quân và trực thăng vận, các toán quân can thiệp phải đến trên sông Mêkông, rào chắn chắc chắn để ngăn kẻ địch rút lui và rằng căn cứ hành quân phải nằm là sông Mêkông theo hướng biên giới Việt-Nam, chứ không phải là làm ngược lại. Nhưng sông Mêkông thì ở cách xa biên giới Việt-Nam cả trăm cây số, trong khi dư luận Hoa Kỳ chỉ chấp nhận ba chục cây số. Kết quả của cuôc can thiệp bị cắt cụt nầy là sự phân tán Việt-cộng và bộ đội Bắc Việt trên toàn lãnh thổ Cam-bốt, với tất cả những gì sẽ xảy ra sau nầy.
admin
18-11-2006, 01:43 PM
Những vùng an toàn.
Với việc mở rộng ra, cuộc xung đột Đông-Dương nới rộng sự xiết chặt ở Miền Nam Việt-Nam. Sự kiện là việc tập trung quân Việt-cộng hình như bớt quan trọng hơn và chiến sự ít dữ dội hơn là các năm trước. Có một việc mà chúng ta phải nhận thấy, đó là sự nới rộng đáng kể các khu vực an toàn, cho phép sửa chữa và đưa vào sử dụng lại những con đường đã bị đóng từ nhiều năm qua. Nhiều anh em đồng sự của chúng tôi ở Huế đến dự các cuộc tĩnh tâm hàng linh mục tại Đàlạt và Kontum bằng đường bộ. Hành trình một ngàn tới một ngànb hai trăm cây số, điều tuyệt đối không thể có một năm trước đó. Cũng vậy, ”tam giác sắt” nỗi tiếng ở Tây Bắc Sàigòn gần như hoàn toàn được giải tỏa và đem dân tị nạn từ cam-bốt về lên sinh sống ở đó.
Đã hẳn an ninh chưa hoàn hảo và sẽ là mạo hiểm, thậm chí là nguy hiểm khi đi lại trên một số con đường sau khi mặt trời lặn. Những toán Việt-cộng lui tới, thỉnh thoảng ra tay để chứng minh sự hiện diện của họ và làm cho dân chúng luôn ở trong tâm trạng lo sợ. Nhưng chúng ta có thể nhận thấy một tiến bộ thực sự trong vấn đề an ninh.
Khó khăn nội bộ.
Là hậu quả của tình trạng chiến tranh, các vấn đề vốn nằm im từ mấy năm qua, nay bùng dậy, gây nên một số xáo trộn, nhất là trong các tỉnh thành.
Các sinh viên - nhiều tỉnh có trường Đại học, nhưng đặc biệt hơn cả là Sàigòn – năm nầy xảy ra nhiều biến động do các cuộc biểu tình và đình công của sinh viên. Nguồn gốc của những tình trạng bất ổn nầy là việc cảnh sát bắt giữ thủ lãnh sinh viên và một số bạn bè của anh ta, có thiện cảm với chủ nghĩa cộng sản và vì họ công khai tán đồng chấm dứt tình trạng thù địch ở Việt-Nam.
Những người trẻ bị bắt giữ nầy có thực sự là những người có cảm tình với chủ nghĩa cộng sản chăng? gười ta đã nói như vậy. Điều đó có được chứng minh không? Toi6 không biết. Nhưng rõ ràng là có một phong trào mạnh mẽ nhằm chấm dứt tình trạng thù địch trong bọn họ.
Với đa số trong họ, tương lai đã bị bịt kín. Khi đã tốt nghiệp và có được bằng cấp rồi, họ sẽ bị động viên vô thời hạn với mọi rủi ro khó lường. Hẳn nhiên, những thành phần hưởng đặc quyền xuất thân từ các tầng lớp chỉ huy và trưởng giả không phải nhập ngũ và còn được đi du học. Những người nầy sẽ gây dựng cơ nghiệp và định cư ở nước ngoái luôn.
Song đối với đa số không có khả năng ra đi, thì sẽ bị gọi nhập ngũ. Người ta hiểu rằng những người trẻ nầy khát mong được mau quay về với cuộc sống bình thường, nơi họ có thể làm công việc theo sở thí`ch và tạo dựng cơ nghiệp.
Sự bất bình nầy, mà người ta cảm nhận nó lớn lên từ nhiều năm qua, nay có dịp bùng nổ. Những cuộc đình công, những cuộc diễu hành, biểu tình trong các đường phố tỉnh thành va tất nhiên, những đụng độ với cảnh sát và các lực lượng an ninh. Đã có những cuộc bắt bớ, thẩm vấn... dễ dàng dẫn đến ngờ vực và sau đó là bạo lực. Bầu khí bất bình nầy mà không bị những kẻ thừa cơ nước đục thả câu thì mới là lạ!
admin
18-11-2006, 01:46 PM
Những sự kiện nầy hé cho ta thấy tuổi trẻ Việt-Nam ý thức khi đối diện với các biến cố. Đó là điểm mấu chốt, vì cho tới bấy giờ, lớp người trẻ nầy rất bất định.
Các thương phế binh - Người ta nói rằng chiến tranh Việt-Nam ít nguy hiểm chết chóc hơn giao thông ở Mỹ và Châu Âu, rằng một trân đánh nhau ở đây gây ít tử vong hơn là một kỳ nghỉ cuối tuần ở Mỹ hoặc ở Châu Âu. Tuy vậy, cuộc chiến nầy đã gây ra thương vong cho rất nhiều người. Với 25 năm kéo dài, con số thương phế binh gia tăng mỗi năm.
Sau khi nhận được những chăm sóc cho tình trạng của mình và nhận được một khoản trợ cấp hưu dưỡng khiêm nhường, những thương phế binh nầy được cho giải ngũ. Mặc dù các trung tâm giáo dục lại đã có nhiều cố gắng để bảo đảm việc đào tạo nghề nghiệp và một việc làm cho hàng trăm thương phế binh, thì con số của họ đông đến mức không thể lo xuể cho nhu cầu của từng cá nhân. Phần lớn trong họ trở về với gia đình và sống được chăng hay chớ. Điều kiện sinh sống của các thương phế binh nầy rất bấp bênh và rất đông trong họ sống lầm than khốn khổ.
Sống ở thành phố, mở ra buôn bán vặt vãnh, dù chỉ là một sạp nhỏ trước mặt nhà, cũng trở thành mối bận tâm to lớn. Họ hy vọng với việc buôn bán nhỏ nầy sẽ thoát cảnh lầm than và dựng xây tổ ấm gia đình Nhưng rồi! Thành phố đầy dẫy những người như thế, nhất là những kẻ bỏ nông thôn về thành thị để tìm được chút an ninh. Các chỗ đều được giữ: tìm được một mái nhà, kể cả trong các khu phố tồi tàn, đòi hỏi phải có rất nhiều tiền bạc. Các thương phế binh nầy cho rằng họ tuyệt vọng; vì thế họ tự tổ chức để bảo vệ quyền lợi của họ và đòi chính phủ cung cấp chỗ ở mà họ không thể kiếm được. Chính phủ đã cố gắng nhiều để thoả mãn đòi hỏi của họ bằng việc cho họ những vùng đất bên ngoài các thành thị và xây chọ những căn hộ. Giải pháp nầy không làm vừa lòng các thương phế binh. Cái mà họ ước mong, là được ở trung tâm thành thị để có thể buôn bán nhỏ lẽ. Vì họ có tổ chức và đại diện cho một lực lượng nhất định, họ chuyển qua hành động. Điều mà chính phủ không thể hoặc không muốn cho họ, nay họ thủ đắc bằng sức mạnh. Họ chiếm cứ bất cứ chỗ nào sẵn gặp, cả ở trong các khu phố lẫn vỉa hè và những dãi đất để trống nhằm nới rộng đường xá và họ xây những ngôi nhà nhỏ bằng gỗ lợp tôn với thời gian mau kỷ lục, mà họ và gia đình chiếm cứ. Chính phủ đã phải sử dụng vũ lực để giữ một số khu phố dân cư và thương mại, nhưng vì không có các phương tiện thích hợp, chính phủ đã phải chịu đựng những ngôi nhà như thế trong những khu vực thành thị. Với vấn nạn các thương phế binh nầy, những kẻ thừa cơ lợi dịp không bao giờ chịu bỏ qua!
Các dân tị nạn từ Cam-bốt - cùng với các biến cố ở Cam-bốt là một gánh nặng mới sắp đè lên vai Miền Nam Việt-Nam: gánh nặng tiếp nhận và tái định cư trên phần đất của mình những người thoát khỏi Cam-bốt. Có bao nhiêu người tị nạn mới nầy? Khoảng hơn 200. 000. Trước vấn nạn mới nầy, chính quyền Nam Việt trước hết nghĩ tới việc giới hạn cuộc di cư và người ta nói chỉ có 50. 000 dân tị nạn. Nhưng trước những bước quanh của các biến cố : sự thâm nhập của việt-cộng và quân Bắc Việt trên toàn lãnh thổ Cam-bốt, chính phủ hiểu rằng tốt hơn hết là không nên giới hạn cuộc di cư nầy, nhưng tiếp nhận tất cả những ai xin trở về lại Miền Nam Việt-Nam. Quả thật đó là cách thức duy nhất ngăn không để cho lớp dân chúng nầy rơi vào tay Việt-cộng và quân Bắc Việt, có thể tuyển mộ binh sĩ và củng cố lực lượng của họ một cách đáng kể. Thật vậy, lớp dân chúng người Việt nầy có đủ loại tuổi vì chưa hề nhập ngũ, trở thành mồi béo bở cho kẻ xâm lăng. Bởi vì người ta đã phá huỷ các căn cứ hậu cần của Việt-cộng ở Cam-bốt, nên nhất thiết cũng phải lấy đi dự trữ nhân lực có thể rơi vào tay họ.
Cách nay ít năm, Miền Nam đã phải thu nhận một cuộc di cư với hơn 800. 000 dân tị nạn từ Miền Bắc, chuẩn bị nhận thêm 200. 000 người nữa đến từ Cam-bốt, và điều nầy sẽ đặt ra một số vấn nạn không thể tránh nỗi trong nền kinh tế của đất nước, vốn đã đuối hẳn sau 25 năm chiến tranh.
admin
18-11-2006, 01:46 PM
Kinh tế
Cuộc chiến kéo dài vô tận nầy không phải là không đánh mạnh vào nền kinh tế đất nước. Điều đáng ngạc nhiên, là sau 25 năm chiến tranh, vẫn không xảy ra nạn đói kém trên đất nước. Các thương gia có thể bán tất cả các mặt hàng tiêu thụ, những mặt hàng nhập khẩu thì đắt đỏ vì chịu thuế nhập rất nặng, nhưng các sản phẩm nội địa lại có giả rất phải chăng. Tuy nhiên, vào năm 1969, Văn Phòng Thống Kê của chính phủ Việt-nam tố giác một sự đi xuống trong nền kinh tế đất nước. Sự đi xuống nầy đặc biệt do các biến cố năm 1968 đã đụng chạm nặng nề không chỉ các vùng nông thôn, mà cả các thành thị. Hãy nhớ lại rằng tành phố Huế đã bị phá hủy 80%;Sàigòn có nhiều khu phố bị hư hại nặng nề, trong đó có một số khu phố công nghiệp. Dù ở lãnh vực công nghiệp hoặc nông nghiệp, sản xuất đều xuống thấp một cách nghiêm trọng trong khi giá cả tiếp tục leo thang.
Nếu trong tổng thể quốc gia các đổ nát được vực dậy và hoạt động kinh tế lấy lại dòng chảy của nó;nếu trong một số lãnh vực, người ta thấy một sự đi lên, thì trong lãnh vực nông nghiệp cũng như thế, vốn quan trọng nhất ở Miền Nam, các điều kiện khí hậu bất lợi và các biện pháp khai quang đã ảnh hưởng rất lớn đến mùa màng.
Mặc cho diện tích trồng trọt tăng nhẹ, nông thôn trồng lúa năm 1969 vẫn thiếu hụt lương thực và chính phủ đã phải nhập khẩu gạo từ các nước láng giềng. Tình hình còn tệ hại hơn đối với cao-su, bị hạ xuống 30% sản lượng trong khi diện tích trồng cây cao su chỉ giảm 8,7%.
Việc tăng cường hoạt động quân sự đã ảnh hưởng lớn đền khai thác lâm nghiệp, một nguồn thu nhập quan trọng cho nền kinh tế đất nước. Hầu như tất cả các sản phẩm lâm nghiệp đều sa sút đáng kễ: củi đốt, than và gỗ làm hàng mộc.
Chăn nuôi heo và gà vịt ghi nhận những bước tiến. Những học viện tôn giáo, như Dòng Chúa Cứu Thế ở Đàlạt, các Sư Huynh Trường Đạo và các Nữ Tu Dòng Mến Thánh Giá ở Thủ Đức, đã tung ra từ một it1 năm qua những cách nuôi heo và gà vịt công nghiệp, khiến cho khách tham quan phải ca ngợi và dùng làm trung tâm đào tạo cho những nhà chăn nuôi trẻ tuổi.
Cũng có tăng trưởng trong khu vực ngư nghiệp, do gia tăng số ngư dân và đội tàu đánh bắt ngày càng được cơ-khí-hóa. Đội tàu nầy tăng lên hơn 6. 000 đơn vị trong năm nầy. Khu vực kỹ nghệ đã hoàn toàn chịu các biến cố năm 1968. Phần đông các nhà máy được xây dựng trên ngoại vi và ngoại ô các thành thị. Nhiều nhà máy bị phá hủy do trúng bom đạn. Những nhà máy nầy hoàn toàn được xây dựng lại và nay đã hoạt động hết công suất. Nhưng trong năm cuối nầy, sản xuất đã hạ xuống 9%;chỉ những sản phẩm hoá chất phát triển mạnh;kỹ nghệ hàng thực phẩm cũng ghi nhận một số tiến bộ. Trong lãnh vực giao thi6ng chuyên chở, được hàng không và đường biển duy trì sự phát triển mở rộng. Một nỗ lực đáng kể trong năm cuối nầy để mở lại và tu bổ đường sá. Chuyên chở bằng đường bộ, vốn sút giảm trog thời gia qua, nay đã lấy lại nhịp độ sinh hoạt đều đặn.
Giá cả tiếp tục tăng vào năm 1969, nhất là với các mặt hàng thực phẩm: báo cáo của Cục Thống Kê cho thấy mức tăng 32, 2%. Kể từ khi báo cáo đưộc công bố, mức tăng không ngừng tiến triển. Các tấng lớp chịu ãnh hưởng việc tăng giá nầy nhất chính là những người có thu nhập thấp, các viên chức hành chánh mà lương không theo kịp đà tăng giá cả. Để trị liệu cho sự mất cân đối giữa giá cả và lương, chính phủ tổ chức cho các nhân viên những quầy hàng mậu dịch phục vụ họ những mặt hàng thực phẩm không chịu thuế. Các nhân viê nầy có thể tìm được trong những quầy hàng nầy các mặt hàng với giá thấp hơn ngoài thị trường
admin
18-11-2006, 01:47 PM
GIÁO HỘI MIỀN NAM VIỆT-NAM.
Trong các báo cáo trước đây, chúng tôi chủ yếu trình bày các khó khăn của Giáo Hội Việt-Nam. Năm nay, lợi dụng việc công bố các thống kê địa phận, cúng tôi muốn qua một vài con số nói lên sức sống của Giáo Hội Việt-Nam.
DÂN SỐ CÔNG GIÁO
Kể từ thống kê cuối cùng năm 1967, dân số Công-giáo ở Miền Nam đã tăng thêm 100. 500 tín hữu, nâng con số tín hữu Công giáo hiện nay lên 1. 721. 000 trên dân số tổng quát khoảng 16. 500. 000. hai phần ba số dân Công giáo sống trong 8 giáo phận Miền nam, với một tỷ lệ rất cao ở các địa phận Sàigòn và Xuân Lộc. Mười địa phận ở Miền Trung chỉ chiếm một phần ba dân số Công giáo. Việc tín hữu Công giáo tập trung đông hơn ở miền nam là do tái định cư những người dân Côngg-iáo tị nạn từ Bắc Việt khoảng 15 năm trước đây. Nhiều tỉnh Miền Trung do không có an ninh đủ, nên dân di cư đã thâm nhập trong miền nam. Nếu các địa phận ghi nhận một sự gia tăng tín hữu Công giáo, thì các địa phận như Vĩnh Long ở Miền Nam, địa phận Huế, Kontum và Quinhơn ở Miền Trung lại có sự sút giảm. Sự giảm sút nầy duy nhất do việc người dân rời bỏ các vùng bất an để tìm đến những chốn an ninh và dễ sống hơn. Sự kiện càng rõ rệt hơn đối với Huế, với việc phá hủy thành phố và những vụ sát hại do Việt-cộng năm 1868: dân chúng đã di tản xuống phía nam.
TÂN TÒNG
Thống kê cho thấy co số 9. 000 tân tòng nhiều hơn năm 1967. Tất cả các địa phận ở Miền trung, ngoại trừ Quinhơn, đều có bước tiến. Trong miền Nam, các địa phận như Cần Thơ, Long Xuyên, Mỹ Tho và Vĩnh Long cho thấy một bước lùi về số dự tòng, trong khi các địa phận Đàlạt, Xuân Lộc, Banmêthuột, Đà Nẵng và Kontum gia tăng rõ rệt. Từ các con số thống kê nầy, chúng ta không nên rút ra kết luận rằng một địa phận đang mở rộng thì việc tông đồ thực hiện nhiều hơn là các địa phận có bước lùi: nguyên nhân chính trước hết là sự di chuyển thường xuyên do tình trạng chiến tranh.
Khi đọc các thống kê nầy, ta cần ghi lại một sự kiện, đó là con số linh mục gia tăng không theo tỷ lệ tăng dân số Công giáo. Điều đó có nguy cơ đặt ra một số vấn đề trong tương lai. Quả vậy, chỉ có 34 linh mục được truyền chức so với mức tăng tín hữu 100. 500 người.
HÀNG GIÁO SĨ.
1. 917 linh mục làm việc trong 14 giáo phận Miền Nam Việt-Nam. Hàng giáo sĩ nầy chủ yếu là người Việt, vì có tất cả 1. 517 linh mục triều và 224 linh mục Dòng so với 176 linh mục ngoại quốc. Đại đa số các giáo sĩ lo việc mục vụ trong 829 giáo xứ. Một số linh mục triều và Dòng làm giáo sư Đại học và Trung học. Cũng phải kể đến sự hiện diện của 4 linh mục người Hoa phụ trách cùng với các linh mục ngoại guốc những cộng đoàn người Việt gốc Hoa. Một linh mục trong số đó phụ trách đào tạo các chủng sinh gốc Hoa.
TU SĨ
Đa số các tu sĩ thuộc 14 Dòng và học viện là người Việt. Trong cáo báo cáo trước đây, chúng tôi đã chỉ ra việc lập nhiều tỉnh dòng Việt-Nam với các bề trên miền người Việt. Đối với 224 linh mục Dòng người Việt, chỉ có 176 tu sĩ người Châu Âu;từ con số nầy, phải bỏ bớt 83 linh mục Hội Thừa Sai Paris (MEP). Con số các sư huynh là 427 người Việt so với 23 người ngoại quốc. Phải lưu ý rằng trong phần đông các học viện, con số các sư huynh cao hơn nhiều so với con số các linh mục. Nếu sự kiệnđó là bình thường đối với các dòng chiêm niệm, thì ít bình thường hơn đối với các dòng hoạt động, ngoại trừ Dòng Salêdiêng vốn là các nhà giáo dục chuyên môn cho Giới Trẻ.
Tất cả các học viện tu sĩ nầy hiện nay đều “hiện đại hoá” và học cách lồng ghép vào tốt hơn trong Giáo Hội Việt-Nam để nên hiệu quả hơn. Những kinh nghiệm lý thú được áp dụng.
HỌC VIỆN CÁC TU SĨ
Trên sáu học viện của các tu sĩ làm việc ở Việt Nam, có hai học viện thuộc quyền Giáo Hoàng;còn lại thuộc quyền địa phận. Sáu. Chín học viện của các sư huynh giảng dạy, chỉ có các tu sĩ Dòng Thánh Gioan Thiên Chúa làm việc ở bệnh viện. Tất cả có 542 tu sĩ. Tám học viện trực thuộc địa phận được các Đại Diện Tông toà lập ra để đào tạo các giáo viên và giáo lý viên cho các trường giáo xứ, nơi họ đã giúp ích hết sức to lớn. Sự phát triển đáng kể của việc giảng dạy ở Việt-Nam đã đầy họ vào trong việc dạy cấp trung học, thu hút những người giỏi nhất trong số nhữn người giỏi. Càng ngày càng khó cung cấp nhân sự cho các trường ở giáo xứ và rất nhiều mục tử lấy làm tiếc nuối về việc ấy.
NỮ TU
Giáo Hội Việt-Nam có không ít hơn 10 dòng nữ trực thuộc Giáo hoàng và ba chục dòng trực thuộc giáo phận, nâng ti63ng số nữ tu người Việt lên 6. 068 cùng với 152 nữ tu người nước ngoài. Các nhà tập ghi nhận con số 1. 069 tập sinh.
Với 18 tu viện của họ, các nữ tu Dòng Mến Thánh Giá vượt các tu viện khác. Trong dịp kỷ niệm 300 năm thành lập do Đức Cha Lambert de la Motte, các nữ tu đã làm chúng tôi thán phục trong một cuộc triể lãm rộng lớn về kết quả của các sinh hoạt đa dạng của họ, nhất là trong lãnh vực giáo dục giới trẻ nữ người Việt.
Ngoài các nữ tu Dòng kín Carmel hoàn toàn chiêm niệm, các hội dòng nữ khác chủ yếu hoạt động. Các nữ tu nầy lo việc giảng dạy và có các trường tiểu học và trung học. Nhiều dòng chăm lo các cháu cô nhi nhỏ. Chúng tôi cũng thấy các nữ tu làm việc trong các trung tâm bệnh xá. Họ phụ trách 41 bệnh viện, 239 trạm xá, 36 nhà trẻ, 9 trại phong và 29 nhà dưỡng lão.
Chúng tôi không thể nói về các nữ tu mà không nói đến nhiều dòng ra đời những năm sau nầy trong Giáo Hội Việt-Nam, tuy chưa nhiều, nhưng họ làm việc rất hiệu quả và bắt đầu tuyển chọn tại chỗ.
admin
18-11-2006, 01:48 PM
VIỆC DẠY HỌC CÔNG GIÁO
Trong báo cáo năm trước, chúng tôi đã lưu ý tầm quan trọng của việc giảng dạy mà Giáo Hội phân bố trong tổng thể giáo dục Việt-Nam. Đây là một vái con số khẳng định điều nầy.
Trong 14 địa phận, Giáo Hội Việt-Nam có 1. 030 trường tiểu học gồm 254. 409 học sinh Công giáo và 97. 374 học sinh ngoài Công-giáo. Ở Trung học, Giáo Hội có 226 trường với 83. 827 học sinh Công giáo và 70. 101 học sinh ngoài Công giáo. Để làm việc nầy, đã sử dụng 8. 117 giáo sư Công giáo và 1. 742 giáo sư ngoài Công giáo. Trong việc giảng dạy nầy tất cả chưa phải là đã hoàn hảo, đó là điều khỏi cần bàn cãi. Nhưng việc dạy học trong các trường Công-giáo thì nghiêm chỉnh hơn và kỹ luật chặt chẽ hơn là trong các trường khác và điều đó giải thích lý do tại sao nhiều người ngoài Công giáo vẫn thích được cho con cái theo học các trường Công-giáo. Rõ ràng là qua các trường tiiểu học và trung học, Giáo Hội có được ảnh hưởng tốt trên giới trẻ Việt-Nam.
Có mặt trong việc giảng dạy các cấp tiểu học và trung học, Giáo Hội cũng hiện diện trong các trường cao hơn. Hiện diện trong các Đại học công lập, là nhờ có nhiều linh mục giảng dạy trong các phân khoa khác nhau, cũng như một số khá quan trọng các giáo sư Công giáo. Từ nhiều năm qua, Giáo Hội có riêng Đại học Đàlạt và sẽ mở một đại học thứ hai tại Sàigòn [Đại học Minh Đức, khai giảng khóa đầu năm 1971. ND]
ĐẠI HỌC ĐÀ-LẠT
Hãy nói chính xác hơn về trường Đại học nầy, do Cha Mais sống và dạy học ở đó, cung cấp cho.
Được sáng lập đã 15 năm nhờ Đức Cha Ngô-Đình-Thục để trước tiên trở thành một phân khoa sư phạm, nhằm đào tạo các giáo sư dạy trung học. Chính phủ trao học bổng cho các sinh viên và họ được đào tạo như trong một trường cao đẳng. Trong những điều kiện giảng dạy như thế, ảnh hưởng Kitô-giáo tác động một cách khá trực tiếp. Các giáo sư đa số là linh mục và người Công giáo đạo đức. Co số sinh viên tương đối giới hạn. Những biến cố gây nên sự sụp đổ chế độ sẽ biến đổi Đại học nầy. Không còn nhận được sự nâng đỡ trực tiếp từ chính phủ, Đại học Đàlạt, dưới sự điều hành của Cha Lập, bei61n đổi mau chóng. Khoa sư phạm trở thành chi nhánh phụ và chẳng bao lâu các phân khoa được thiết lập và nhiều nghành cử nhân được giảng dạy.
Trước hết là Văn khoa với cử nhân Pháp văn, triết học, văn chương Việt-Nam và tiếng Anh. Sau đó thành lập một phân khoa khoa học nay đang phát triển. Cha Lập cũng sáng lập Trường Chính Trị kinh Doanh thu hút rất đông sinh viên.
Để hoà thành việc giảng dạy các phân khoa mới mẻ nầy, phải chiêu mộ một số lớn giáo sư. Chung chung, các giáo sư đến từ đại học Sàigòn và bằng cấp của Đại học Đàlạt vì thế mà được chính phủ công nhận.
Tất cả những thay đổi nầy biển cải sâu xa Đại Học Đàlạt và đặc biệt nhất trong sự toả rạng ảnh hưởng Kitô-giáo của nó. Con số ngoài Công giáo gia tăng đáng kể, hình như hiện tại chiếm đến 80%. Những khả năng ảnh hưởng trực tiếp bằng phương tiện cơ sở theo nghĩa đen gần như không còn nửa, phần đông các giáo sư không phải là người Công giáo. Đại học vì thế tách khỏi Giáo Hội. Dường như một tiến hoá như thế trở thành điều tốt đẹp cho Đại học Đàlạt, tuy nó luôn là cơ quan-chứng nhân của Giáo Hội Việt-Nam bên cạnh dân tộc Việt và ở cả hai phương diện. Nhân chứng cho sự giúp đỡ mà người Công giáo Việt-Nam cố gắng mang đến cho sự phát triển đất nước, nó biểu thị sự hiện diện của Giáo Hội trong các môi trường đại học. Kế đó, về phương diện cá thể và đó hẳn là điều quan trọng nhất, Đại học nầy trở thành một nơi gặp gỡ và tiếp cận cho một số rất đông các giáo sư, hằng tháng lên Đàlạt để giảng dạy. Tất nhiên là các một số linh mục thường trực ở đó không thể không gặp gỡ tất cả các giáo sư nầy và thiết lập một cuộc đối thoại giữa họ với nhau.
Nếu ảnh hưởng trực tiếp trên sinh viên, qua việc giảng dạy, hiện hữu chẳng là bao, thì ngược lại, sự tiếp xúc bên ngoài nhà trường với họ lại hết sức dễ dàng. Buồn thay! Do ngập đầu trong việc dọn giáoán, các giáo sư không phải luôn luôn có thời giờ để lợi dụng khả năng nầy. Các linh mục giáo sư sống ở trong Đại học biết rằng khả năng tiếp cận là hết sức to lớn, nhưng lầy làm tiếc vì quá bận rộn với bài vở và không thể dành nhiều hơn nữa thời giờ cho các bạn trẻ để nói chuyện về các khó khăn cũng như tham gia vào một số các sinh hoạt của họ.
admin
18-11-2006, 01:48 PM
DẠY GIÁO LÝ
Khởi đầu mỗi thập niên dường như được đánh dấu đối với Giáo Hội Việt-Nam bằng một nhận thức về tầm quan trọng của giáo lý và bằng một nỗ lực tìm tòi.
Năm 1960, ý tưởng những khóa sư phạm và giáo lý do các Sư Huynh Lasan hợp với các hội dòng nư chuyên giảng dạy, nhất là các nữ tu Dòng Thánh Augustinô. Năm 1961, cuối tháng 4, bắt đầu các khoá học đầu tiên do Sư Huynh Bình điều hành. Các khoá học nầy đi theo một chương trình rất cổ điển: trình bày, gặp gỡ, phụng vụ thán thể, suy tôn Lời Chúa. Trước sự phấn khởi của 200 người tham dự, các bề trên quyết định thực hiện dần dà các nguyên vọng sau đây được pah1t biểu suốt trong các kboá học:
- thành lập một cơ quan liên lạc và thông tin nghề nghiệp, giáo lý, văn hoá, sư phạm,...
- đào tạo các giáo viên nam và nữ cho các trường học Kitô-giáo
- Soạn thảo các chương trình giáo lý cho các trường Công-giáo
- Tham gia các khoá nhgiên cứu tín lý
- thiết lập một uỷ ban ấn loát giáo lý
- Quyết tâm bảo đảm sự sinh tồn hằng năm của các khoá giáo lý
Từ các nguyện ước nầy còn lại những gì 10 năm sau? - Hình như các anh chị em giảng dạy bận tâm đến việc bồi dưỡng sư phạm hơn là canh tân việc dạy giáo lý hay đúng hơn, vì trong thời kỳ đó, việc dạy giáo lý không được các bề trên xem là một nghành học riêng rẽ chiếm quá nhiều thời giờ của các nam nữ tu sĩ, cho nên người ta mong được đào tạo sư phạm tốt nhất và nhờ đó việc dạy giáo lý sẽ khá lên theo cách nghề dạy nghề. Và như vậy là hai điều nguyện ước đầu có tính cách chung chung đã được thực hiện, dần dà nhưng một cách đáng khâm phục, trong nước Việt Nam còn chiến tranh. Ở Đàlạt có mở một trường cao đẳng để đào tạo giáo viên nam và nữ cho trường Đạo, chi nhánh của Đại học Công giáo. Công thức nầy đòi phải duyệt xét lại, vì nhà trường không thể cung cấp hoặc chí it1 là bảo đảm cho sinh viên ra trường một công việc với mức lương khả dĩ. Trái lại, các giai đoạn bồi dưỡng sư phạm với công thức mềm dẽo hơn, đối với ac1c giáo viên nam và nữ muốn hoàn chỉnh việc đào tạo của họ trong các kỳ nghỉ hè, lại thành công rất lớn. Khoá bồi dưỡng đầu tiên ở Thủ Đức quy tụ 100 người tham dự. Năm nay ở Sàigòn, khoá thứ 15 về sư phạm và giáo dục có 500 người và khoá thứ 18 về tân toán học cho trung học bồi dưỡng cho 300 thầy giáo. Từ năm 1965, tập san “Giáo Dục” đáp ứng nguyệ ước thứ nhất của năm 1961. Do đó ý tưởng đào tạo chuyên nghiệp đối với các giáo viên được áp đặt. Năm nay Viện Khoa Học Giáo Dục Sàigòn có trụ sở ở 223 Nguyễn Tri Phương, Chợ Lớn và người ta thích lập lại câu nói của Gaston Bachelard: ” Ai không tiếp tục học, thì không xứng đáng dạy học”.
Điều ước thứ ba: biên tập một chươg trình giáo lý, được thực hiện với việc ra mắt vào năm 1962 một chương trình giáo lý cho năm năm đầu tiên, do Cha Dòng Chúa Cứu Thế Trần Hữu Thanh biên soạn. Mỗi năm có một tập sách được in cho trẻ em và một cuốn cho giáo viên được in ronéo, công việc rất phong phú, song chỉ là của một người, cựu sinh viên các Học viện Louvain và Paris, lẽ ra là của một ê-kíp. Được các bề trên bổ nhiệm công tác khác, Cha Thanh không thể cải tiến và biến cải công việc xuất sắc những năm 1962-1963 nầy.
Kể từ năm 1963, là sự im lặng. Năm 1967, ấn bản giáo lý toàn quốc hết sạch, nẩy ra hy vọng một cuộc acnh tân dưới sự điều hành của Cha Nghi, nhưng tiếc thay, do thiếu thời giờ và người cộng tác, ấn bản giáo lý mới chỉ giống như một mặt tiền ngôi nhà được tô trắng lại một chút mà thôi.
Một trong các lý do sâu xa nhất giải thich tại sao các năm 1962-1963 nầy chỉ là “lửa rơm”, ấy là các khoá học về giáo lý nầy, mặc cho thiện chí của những người đứng ra tổ chức, chỉ khép kín : các nam nữ tu sĩ học để dùng cho mội trường trường học của họ, vốn là một môi trường được ưu đãi. Ở Việt-Nam, sự thiếu thốn lớn lao của việc dạy đạo trải rộng trong các giáo xứ và những trường học nhỏ của giáo xứ;vần đề nầy bắt đầu trước hết từ các cha quản xứ và các cha phó. Các khoá học 1961 – 1962 đã không thể làm dấy lên được phong trào canh tân mạnh mẽ, trong khi các linh mục coi xứ lại không biết hoặc coi thường các khoá học nầy. Không phải chúng ta đánh giá thấp các linh mục quản xứ khi khẳng định rằng các vị phụ trách các giáo xứ qúa chú tâm về việc cai quản hơn là công tác dạy giáo lý và rao giảng Phúc Âm. Moị canh tân công việc dạy giáo lý đòi hoỉ phải có ý thức căn bản. Ý thức hiện tại của hàng giám mục, cùng với những đòi hòi về công tác tổ chức và thành lập các ban lo việc dạy giáo lý, chỉ có cơ may đi đến được một cuộc canh tân thật sự nếu như chính các linh mục trong giáo phận cũng ý thức được sự thiếu thốn lớn lao của việc dạy Đạo và làm cho nó trở thành vấn đề căn bản cho thập niên mới nầy [ 1970s. ND]
KHỞI ĐẦU MỘT CUỘC CANH TÂN
Trở về từ Công Đồng Chung, các giám mục của chúng ta bận tâm cho việc tổ chức lại giáo phận của các Ngài. Hình như khoảng năm 1968 thì mới ưu tư về một mục vụ giảng dạy giáo lý mới thật sự buộc làm. Trong nhiều giáo phận, cũng chỉ là những ý hướng lành thánh, do thiếu nhân sự có trình độ khả năng: người ta đòi một linh mục vốn công việc đã ngập đầu phải phụ trách luôn việc giảng dạy giáo lý cho toàn giáo phận. Tuy nhiên trong các giáo phận Sàigòn và Đà Nẵng, phong trào dạy và học giáo lý lại đầy hứa hẹn.
admin
18-11-2006, 01:48 PM
Giáo phận Đà-nẵng.
Địa phần Đà Nẵng có uỷ ban lo việc dạy giáo lý với các quy chế kể từ năm 1970; đứng đầu uỷ ban nầy là 2 nhà chuyên môn: Cha Antôn Trần-Văn-Trường, du học Châu Âu về vào các năm 1962 – 1963, được Giám mục của Ngài giải thoát cho mọi công việc khác để chuyên tâm dàn hết thời giờ cho việc dạy giáo lý;và Nữ tu Louise de Gonzaga, Dòng Thánh Phaolô: vị nữ tu nầy có hơn 10 năm kinh nghiệm giáo lý ở thành phố Marseille. Uỷ ban nầy của giáo phận Đà-nẵng đã biên soạn và thống nhất một chương trình cho bậc tiểu học và trung học. Chương trình nầy được thí nghiệm trong những nhóm tập hợp lại từ các giáo xứ khác nhau của thành phố, được trình bày và giải thích trong một loạt hội thảo với các linh mục của địa phận và cho các phụ huynh học sinh.
Uỷ ban nầy đặt ra mục tiêu hàng đầu là huấn luyện giáo lý viên. Một khoá huấn luyện đầu tiên đã được tổ chức. Cuối tháng sáu năm nay, sẽ mở hội nghị đầu tiên của giáo phận về công tác dạy giáo lý. Đức Cha Phạm-Ngọc-Chi, giám mục giáo phận Đà Nẵng, đã có một bản trình bày xuất sắc về sứ mệnh của Giáo Hội qua việc dạy Đạo.
Tổng giáo phận Sàigòn.
Ở Sàigòn, việc canh tân công tác dạy giáo lý đã bắt đầu từ ngày 28. 11. 1968 qua một cuộc điều tra gửi đến các trường học, các giáo xứ, các Dòng Tu, dưới sự phụ trách của Đức Cha Khâm, giám mục phụ tá Sài gòn. Tháng 9 năm 1969, Đức Tổng Giám Mục nhờ Cha Chính, phòng bộ toà tổng giám mục, triệu tập các vị phụ trách khác nhau để thành lập một uỷ ban mục vụ về công tác dạy Giáo lý.
Cuộc điều tra cho thấy sự nghèo nàn của việc dạy giáo lý của chúng ta, đặc biệt hơn là trong các giáo xứ, do sự thiếu tổ chức và đào tạo các giáo lý viên: những người nầy, hết sức thường xuyên, bằng lòng với việc cho học thuộc lòng các câu hỏi và thưa mà do không được giải thích, cho nên rất khó hiểu đối với các em. Tuy nhiên, một số giáo lý viên sử dụng các công trình của Cha Thanh, mà chúng ta đề cập trên đây, hoặc của Cha Marillier, được soạn thảo với sự cộng tác của một giáo dân.
Sau khi đã khởi sự công việc, Cha Chính được gọi điều hành việc tuyên úy quân đội, nên đã nhường chỗ cho Cha Nguyễn-Văn-Tuyên, vừa từ Pháp về. Dưới sự thúc đẩy của Ngài, uỷ ban mục vụ giảng dạy Giáo lý được thành lập, gồm có nhiểu tiểu ban khác nhau cho cấp tiểu học, trung học, nghe nhìn, tân tòng, người lớn. Việc ưu tiên được dành cho việc soạn thảo các chương trình dành cho cấp tiểu học và giao cho Cha Đỗ-Xuân-Quế, Dòng Đa Minh và cấp trung học dành cho Nữ tu Marie-Jean, Dòng Thánh Augustin.
Cuộc thăm viếng mới đây của Cha Paul Pilet, I. S. P. C Paris khích lệ những người có thiện chí. Trong bốn ngày, Cha Pilet điều hành một khóa giảng dạy giáo lý quy tụ khoảng một trăm linh mục, tu sĩ nam nữ và giáo dân quan tâm đến vấn đề. Các bản trình bày của kóa học nầy được báo chí Công giáo đăng tải lại.
Theo nhịp độ hiện nay của uỷ ban nầy, người ta có thể hy vọng nhìn thấy các chương trình cho cấp tiểu học được phát hành đầu năm 1971 và các chương trình cho cấp trung học vào vái tháng sau, khoảng tháng 5 năm 1971. Những chương trình nầy sẽ được thí nghiệm thời hạn một năm trong khoảng một chục trường Công-giáo.
Vấn đề dạy giáo lý nầy đi con đường của nó: tập san các tu sĩ nam nữ đã cống hiến số phát hành tháng sáu cho việc nầy. Nhiều bài viết của tập san “Sacerdos” (linh mục) nói về việc dạy giáo lý. Dần dà, các vị phụ trách giáo xứ cảm nhận được vấn đề.
Giáo Hội Việt-Nam có nhiều chuyên gia, cựu sinh viên các Học viện, đại học Châu Âu; vì thế Giáo Hội có nhân sự đủ khả năng trình độ để làm cuộc canh tân nầy. Chúng ta có quyền tin tưởng ở những kết quả tốt đẹp.
(chuyển ngữ từ EDA số 450, www. Asie, mepasie)
vBulletin v3.5.2, Copyright ©2000-2012, Jelsoft Enterprises Ltd.