View Full Version : Ngoài Giáo Hội, không có ơn cứu rỗi - Lịch sử và giải thích
admin
18-11-2006, 12:53 PM
Bernard Sesboüé
NGOÀI GIÁO-HỘI, KHÔNG CÓ ƠN CỨU RỖI
LỊCH SỬ MỘT CÔNG-THỨC và CÁC VẤN ĐỀ GIẢI THÍCH.
P. David Roure
<O:p</O:p
Với sự chính xác, mô phạm và đầu óc tổng hợp vốn được mọi người tán đồng đánh giá cao, Cha Bernard Sesboué, nhà thần học Dòng Tên và đồng chủ tịch Công-giáo Nhóm Dombes, tấn công đề tài nầy hết sức mạnh mẽ. Vấn đề ở đây không hơn không kém chỉ là tiền tới việc lượng giá một công-thức vừa mang tính tín lý và thần học trong những công thức được biết đến nhiều nhất trong Kitô-giáo, nhưng đồng thời cũng bị phản đối nhất từ một ít thập niên qua: NGOÀI GIÁO HỘI, KHÔNG CÓ ƠN CỨU RỖI (Extra ecclesia nulla salus). Cha Sesboué không muốn che đậy sự khó khăn bởi vì, ngay từ những hàng chữ đầu tiên trong lời nhập của Ngài, Ngài đặt đốI đầu nhau một cách khiêu khích hai lập trường của Giáo Huấn tiên nghiệm có vẻ như đối nghịch nhau. Trước hết, đó là Công Đồng Florentinô năm 1442 khẳng định:”[Giáo Hội Rất thánh thiện Roma] tin vững vàng, tuyên xưng và rao giảng rằng không có ai ở ngoài Giáo Hội Công-giáo, không chỉ có những người ngoại giáo, mà cả những người Do Thái và những người bè rối và ly giáo, có thể trở nên những người tham dự vào sự sống đời đời, nhưng sẽ vào “lửa đời đời sắm sẵn cho ma qủy và các thần ác của nó” (Mt 25, 41)” (trg 8).
Khoảng năm trăm năm sau, Công Đồng Vaticanô II sẽ không còn sử dụng, một cách cố ý, công thức nỗi tiếng nầy và sẽ nói trong Hiến Chế Tín Lý ÁNH SÁNG MUÔN DÂN (Lumen gentium):”những ai chưa đón nhận Phúc Âm được xấp đặt bằng nhiều cách khác nhau vào dân Chúa […], những kẻ không biết đến Phúc Âm của Đức Kitô và Giáo Hội của Người mà không do lỗi của họ, tuy thế vẫn tìm kiếm Thiên Chúa với một tâm hồn chân thành và dưới ảnh hưởng của ân sủng, vẫn nỗ lực hoàn tất trong các hành vi của họ Thánh ý Chúa như họ biết được nó nhờ lương tâm họ mách bảo, thì cũng có thể được hưởng sự cứu rỗi đời đời”(trg 8). Và, trong Hiến Chế VUI MỪNG và HY VỌNG (Gaudium et Spes) :” Điều ấy không chỉ giá trị cho những ai tin vào Đức Kitô, nhưng còn cho tất cả những người thiện chí, trong tâm hồn những kẻ nầy, một cách vô hình, ân sủng hành động. Quả thật, bởi vì Đức Kitô đã chết cho mọi người và vì ơn gọi cuối cùng của con người thật sự là duy nhất, nghĩa là linh thiêng, chúng ta phải để ý rằng Thánh Linh trao ban cho mọi người khả năng được liên kết vớI mẩu nhiệm Phục Sinh, theo một cách thế mà Thiên Chúa biết” (trg 9). Như vậy làm sao cắt nghĩa, biện minh sự mâu thuẫn biểu kiến nầy của Giáo Huấn Giáo Hội?
admin
18-11-2006, 12:54 PM
Đâu là lời giải thích ngày nay khả dĩ nhất cho công thức nói trên?
<O:p</O:p
Để trả lời cho câu hỏi kép nầy bao gồm mũi nhọn của vấn nạn mà Ngài dũng cảm đương đầu, Cha B, Sesboué sẽ cống hiến phần đầu và cũng là phần dài nhất cuốn sách của Ngài (250 trang) cho lịch sử những giải thích công thức qua các thế kỷ. Trước hết (chương 2), Ngài cho thấy sự xuất hiện của công thức nầy trong thời Thượng Cổ, từ Origène và Cyprianô thành Carthage, với một lưu âm đặc biệt với Thánh Augustinô (trg 59 – 68). Một mặt, Augustinô nhìn nhận như là chi thể của Thân Thể Chúa Kitô tất cả mọi người công chính đến trên trái đất từ Abel tới Chúa Giêsu (đó là mở đầu chủ đề Giáo Hội từ Abel (Ecclesia ab Abel), mà Yves Conger triển khai trong một bài viết lỗi lạc vào năm 19520. Mặt khác, sau khi Chúa Kitô sinh ra, Ngài “loại trừ khả năng thuộc về Giáo Hội một cách vô hình và có thể đạt đến ơn cứu rỗi, đối với những người bè rối hoặc ly giáo”(trg 65). Chìm sâu trong khủng hoảng theo học thuyết ban tặng (donatiste) Augustinô là nguồn gốc của một trong những cái nhìn cứng rắn đầu tiên về công thức trong sự “bất khả” - mà Cha Sesboué lấy làm tiếc – “xem xét một mối liên hệ mang tính cứu rỗi có thể với Chúa Kitô nơi những người không thuộc về cơ chế hữu hình của Giáo Hội” (trg 67). Một sự cứng rắn như thế sẽ đi đến chỗ quá khích với những nhà thần học theo sau, kể từ Fulgence thành Ruspe (467 – 532), và nhất là tư tưởng nầy sẽ được chính-thức-hóa bởi vì nó sẽ khá mau chóng được Giáo Huấn Giáo Hội lấy lại, hoặc từ các Tông Thư hay từ các công đồng miền diễn ra cuối thế kỷ thứ VI, như là công đồng Tôlêđô vào năm 693. Nhưng đặc biết chính là vào thời Trung Cổ mà đã có sự thông qua và công thức nầy thật sự được công nhận như là một khẳng định của Giáo Huấn Giáo Hội. Cách trình bày công thức nghiêm nhặt nhất chính là câu của công đồng Sau đó, Cha Sesboué phân tích “sự tiến hoá có thể nhận biết được” (trg 206) đã xãy ra vào thượng bán thế kỷ XX, đúng ra là cho đến Công Đồng Vatican II và dọn đường cho Công Đồng nầy. “Câu châm ngôn không còn được vẫy vẫy một cách ngông nghênh. Càng ngày người ta càng thấy nó bị gây khó bởi sự loại trừ trong cách phát biểu công thức của nó”(trg 206). Các nhà thần học chuộng một lối phát biểu tích cực của câu châm ngôn hơn, như ví dụ H. de Lubac, người mà vào năm 1938, trong cuốn sách đầu tiên và rất hay do ông viết có tựa đề Đạo Công-giáo (trg 186) nói về “ơn cứu rỗi bởi Giáo Hội”. Trong sự tiến hóa về thần học nầy, Bernard Sesboué trao một vị trí lớn hơn cho vị linh mục Dòng Tên mặc cho các nhà thần học khác cùng thời kỳ có thể không đồng ý, như là Karl Rahner hoặc Charles Journet, chẳng hạn. Dù vậy, H. de Lubac chăm chú trên vấn nạn trong một nghiên cứu quan trọng xuất bản vào năm 1955 (và dịch sang tiếng Pháp năm 1960) về “sự thuộc về Giáo Hội theo như giáo lý của Tông thư Mystici Corporis Christi” (Mình Mầu Nhiệm Chúa Kitô). Và chẳng phải là Karl Rahner, vào năm 1951, ngay trong lần xuất bản đầu tiên của tập thứ ba bộ sách đồ sộ của Ngài, Giáo Hội của Ngôi Lời Nhập Thể, viết một chương dài hơn 50 trang, tựa đề:”Ngoài Giáo Hội, không có ơn cứu rỗi”, trong chương ấy, sau một phân tích lịch sử, Karl Rahner trình bày một tổng luận thần học? Tại sao lại chỉ trao rất ít vị trí cho hai tác giả nầy (nhất là Journet) mặc dù họ không phảI là những nhà thần học thứ yếu của thế kỷ trước?<O:p</O:p
admin
18-11-2006, 12:55 PM
Tiếp đến (chương 7). B Sesboué cho thấy bước ngoặt, ”không thể chối cãi được mà còn “căn bản” (trg 241 - tạo sao bỏ trong ngoặc kép những từ nầy?) được theo ngay trong khi diễn ra Công đồng Vatican II kết thúc với những biểu thị công thức của các hiến chế ÁNH SÁNG MUÔN DÂN và VUI MỪNG và HY VỌNG đã trích dẫn. Như Cha Sesboué đã nói, kể từ giờ phút then chốt trong đời sống Giáo Hội chúng ta, Giáo Hội “không còn bị ngự trị bởi một thái độ chỉ trích hoặc phán xét tiêu cực nữa, nhưng bởi sự phân tích đầy ân cần và tích cực của tất cả mọi giá trị và cả của những yếu tố mặc khải có thể còn nằm nằm ngoài Giáo Hội. Sự xét đoán trước có thiện chí đã trở thành quy định” (trg 242) [….. ]
Chỉ sau hành trình lịch sử dài nầy, không phải là thiếu mất một sự đánh giá thần học, mà Cha Bernard Sesboue sẽ triển khai một suy tư cá nhân sẽ hướng về nhiều trục đặc trưng. Trong một thời gian ban đầu (chương 9, đối với chúng tôi là chương hay nhất của cả cuốn sách), Ngài cho thấy, ngày nay, làm thế nào mà đối thoại liên tôn có những bước tiến nhảy vọt trong những thời kỳ sau cùng này ở trong Công-giáo và từ đó vấn nạn di chuyển từ tính độc tôn loại trừ của Giáo Hội tiến tớI tính duy nhất của Chúa Kitô. Và người ta hẳn sẽ đi tới công thức:”NGOÀI CHÚA KITÔ, KHÔNG CÓ ƠN CỨU ĐỘ”. Nhưng, như Cha Sesboué khẳng định, ”tất nhiên không nên có chuyện đề xuất công thức vì chính nó, kẻo rồi lại dẫn nó tới những rắc rối y hệt công thức cổ điển nói về Giáo Hội”. Nhưng cũng không được quên công thức nơi Thánh Gioan [tông đồ thánh sử]:” ở bên ngoài Thầy các con không làm được gì” (Ga 15, 5). Trong dụ ngôn Cây Nho, ngành không thể mang trái, nếu nó bị cắt lìa khỏi cây nho, được so sánh một cách mặc nhiên với Thân Thể Chúa Kitô” (trg 279 – 280). Trong phần tiếp theo suy tư của Ngài về đề tài nầy, nhà thần học muốn phản đối “mọi ngôn từ mang tính loại trừ” và đề xuất “ một tính duy nhất [của Chúa Kitô] vì lợi ích của mọi người” (như là đề tựa của hai phụ đề). Không đưa ra đề xuất nào mới mẻ một cách căn bản về vần đề nầy (vốn sẽ - và cũng đã bắt đầu rồi- sự thách đố lớn lao của Kitô-giáo ở thế kỷ XXI), Cha Sesboué mời gọi các Kitô-hữu hãy ở một tư thế sao cho đừng xa cách so với những người cùng thời với họ. ”Xét về quan điểm Khitô-giáo, sự nhận thức của tính cách đòi hỏi quá cao của niềm xác tín rằng Chúa Giêsu-Kitô là Đấng Trung-Gian và Đấng Cứu Chuộc duy nhất của toàn thể nhân loại, phải khiến cho chúng ta đặc biệt khiêm nhường và đơn sơ. Đừng bao giờ quên rằng chúng ta có thể sai lầm ngay trong cách chúng ta cho rằng mình đúng” (trg 301).
Chương 10 ngắn ngủi đề ra việc thử đánh giá “tính kế tục của ý hướng đức tin” (trg 307 – 308) và những “yếu tố gián đoạn trong giải thích” (trg 309 – 317). Trong cuộc tìm tòi nầy thỉnh thoảng na ná như một cuộc tập dượt nguy hiểm của người làm xiếc trên dây, người ta giữ lại suy tư sau đây:”[suy tư thần học] có thể lưu ý đến sự chuyển động của thiên niên kỷ thứ hai tương-đốI-hoá công thức và làm giảm thiểu tầm vóc của nó vào những trường hợp ngày càng hạn chế. Người Kitô-hữu thế kỷ XV có thể tin cậy vào chân lý của công-thức Florence, theo điều nó nhắm sâu xa, trong khi người Kitô-hữu thế kỷ XX không còn được quyền coi nó như bất di bất dịch, không đếm xỉa gì đến luật học về giải thích mà lịch sử tiếp theo sau từ Đức Giáo Hoàng Piô IX đến Vatican II. Tách nó đứng riêng, công thức đúng trở thành một công thức một phần sai lạc” (trg 320).
Chương cuối cùng xem xét một vần đề hoàn toàn khác, và đó chính là vấn đề mà nhà nữ thần học phái Luther ở Strasbourg, Isave Parmentier, chọn giữ lại trong việc duyệt lại công trình của người đồng nghiệp trong Nhóm Dombes (Cải Cách, 11. 11. 2004): sự giống nhau mà Sesboué sắp thiết lập giữa chú giải có tính chất lịch sử - phê phán một văn bản Kinh Thánh và sự phân tích một công thức của Giáo Huấn Giáo Hội. Suy tư mới khởi đầu và độc đáo nầy mang lại kết quả và cuối cùng, dẫn đến sự thiết lập mười hai nguyên tắc thuộc phương-pháp-luận hình như rất nhiều hứa hẹn, ngay cả nếu chúng chỉ xuất hiện dưới ngòi bút của nhà thần học chúng ta dưới một hình thức manh nha trứng nước….
Paris, Éd. Desclée de Brouwer, 2004.
Esprit et Vie số 135 - 11. 2005 – 15 ngày đầu, p. 15-17.
vBulletin v3.5.2, Copyright ©2000-2012, Jelsoft Enterprises Ltd.