View Full Version : Con Người Trong Cầu Nguyện: Lạy Thầy, Xin Dạy Chúng Con Cầu Nguyện
admin
05-05-2011, 08:45 PM
BÀI GIÁO LÝ NGÀY THỨ TƯ (7A 17)
Công trường Thánh Phêrô, buổi yết kiến ngày thứ tư, 04.05.2011
CON NGƯỜI TRONG CẦU NGUYỆN:
LẠY THẦY, XIN DẠY CHÚNG CON CẦU NGUYỆN.
ĐỨC THÁNH CHA BENEDICTUS XVI
Anh Chị em thân mến,
hôm nay tôi muốn được bắt đầu một loạt các bài giáo lý mới. Sau những bài giáo lý về các Giáo Phụ, các nhà đại thần học thời Trung Cổ, các phụ nữ cao cả, giờ dây tôi muốn được chọn một chủ đề đang nằm trong tâm thức tất cả chúng ta, đó là chủ đề về cầu nguyện, một cách đặc biệt là cầu nguyện Kitô giáo. Đó là cách cầu nguyện mà Chúa Giêsu đã dạy chúng ta và Giáo Hội tiếp tục dạy chúng ta.
Thật vậy, chính trong Chúa Giêsu mà con người trở thành có khả năng đến gần Chúa với mối liên hệ Cha con sâu đậm và thân tình.
Cùng với các môn đệ tiên khởi, với lòng khiêm nhường và tin cậy chúng ta hãy hướng về Vị Thầy và xin Người:
- “Lạy Thầy, xin Thầy dạy chúng con cầu nguyện” (Lc 11, 1).
Trong những bài giáo lý tới, chúng ta đi sát gần vào Thánh Kinh, truyền thống cao cả các Giáo Phụ, các Vị Sư Phụ về đàng thiêng liêng, sát gần hơn bên cạnh phụng vụ, bởi vì chúng ta muốn được học hỏi sống nhiệt tình hơn nữa mối liên quan chúng ta với Chúa, như là một “Học đường cầu nguyện”.
Bởi vì chúng ta biết rằng cầu nguyện, không phải là những gì chúng ta đã biết được hết, cần phải học hỏi cầu nguyện, như là luôn luôn học hỏi được những gì mới mẻ trong nghệ thuật nầy, ngay cả những người đã tiến xa trong đời sống thiêng liêng cũng cảm thấy mình cần nhập vào trường của Chúa Giêsu để học biết được cầu nguyện một cách chính đáng.
Chúng ta nhận được nơi Chúa bài học tiên khởi qua mẫu gương của Người. Phúc Âm diễn tả cho chúng ta là Chúa Giêsu đối thoại thân tình và không ngừng với Chúa Cha. Đó là một sự hiệp thông sâu đậm của Đấng đến trong thế gian, không phải để làm theo ý muốn của mình, mà ý muốn của Chúa Cha, Đấng đã sai Người đến để cứu độ con người.
1 - Trong bài giáo lý đầu tiên nầy, như là để dẫn nhập, tôi muốn được trình bày một vài khuôn mẫu cầu nguyện hiện diện trong các nền văn hoá cổ truyền, để cho thấy rằng thế nào, luôn luôn trên thực tế và bất cứ ở đâu chúng ta đều quy hướng về Thiên Chúa.
a) Chúng ta khởi đầu với Ai Cập thời cổ, ví dụ. Ở đây một người mù, trong khi xin thần thánh trả lại cho mình được sáng mắt, nói lên một điều gì đó mà ai là con người cũng phải có, như là lời đơn sơ mộc mạc của một con người đang trong tình trạng đau khổ, anh cầu nguyện như sau:
- “Trái tim con ao ước được thấy Ngài...Ngài là Đấng đã làm cho con thấy được bóng tối, xin Ngài hãy tạo dựng ánh sáng cho con. Ước gì con được thấy Ngài ! Xin Ngài hãy cúi xuống trên con khuôn mặt mến yêu của Ngài” (A. Barucq - F. Daumas, Hymmes et prières de l'Égypte ancienne, Paris 1990, trad. it. in Preghiera dell'umanità, Brescia 1993, p. 30).
Ước gì con thấy được Ngài, đó là nhân cội của lời cầu nguyện !
b) Trong các tôn giáo miền Lưỡng Hà (Mesopotamia) nổi bật lên tư tưởng về tội lỗi cổ và làm tê liệt, tuy niên không thiếu hy vọng được Thiên Chúa cứu độ và giải thoát.
Chúng ta có thể định giá được lời van xin của một tín hữu của các tôn giáo cổ xưa đó, được thốt lên như sau:
- “Lạy Chúa là Đấng nhân từ ngay cả đối với lỗi lầm hệ trọng, xin Chúa tha tội cho con...Lạy Chúa, xin Chúa hãy nhìn xem đầy tớ Chúa đã kiệt sức, xin Chúa hãy cho thổi một luồn gió mát trên nó: xin Chúa đừng chậm trễ tha thứ cho nó. Xin Chúa hãy nhẹ bớt đi hình phạt nghiêm khắc của Chúa. Xin Chúa cởi trói cho con, làm cho con có thể thở trở lại được; xin Chúa hãy cắt đứt dây xiềng của con, tháo gỡ con khỏi những dây trói buộc” (M.- J. Seux, Hymes et prières aux Dieux de Babylone et d'Assyrie, Paris 1976, trad. it. in Preghiere dell'umanaità, op. cit., p. 37).
Đó là những phát biểu cho thấy con người, trong việc tìm kiếm Chúa, đã có trực giác được, mặc dầu còn diễn tả một cách lộn xộn, một đàng tội lỗi của mình, đàng khác đang trông đợi lòng nhân từ và tốt lành của Chúa.
c) Giữa tôn giáo ngoại đạo của Hy Lạp (đối với Do Thái giáo) chúng ta có được một sự tiến triển đáng lưu ý về vấn đề cầu nguyện: cầu nguyện, mặc dầu vẫn là những lời khẩn cầu để được Chúa giúp đỡ, để có được đặc ân trên trời trong mọi cuộc sống hằng ngày và để có được các điều tốt lành vật chất, càng ngày càng quy hướng hơn về những lời nguyện xin không phải nhằm lợi thú, mà là để cho người tín hữu có được mối tương quan sâu đậm với Chúa và trở nên tốt lành hơn.
Ví dụ như nhà đại hiền triết Platon, ghi lại một lời cầu nguyện của vị thầy của mình, Socrate, được chính đáng xem là nhà đại triết gia đã thiết lập nên tư tưởng tây phương. Socrate cầu nguyện như sau:
- “Xin Chúa cho con được đẹp đẽ trong nội tâm. Cho con biết xem người giàu có là người khôn ngoan và tiền của mà ông ta có thể chiếm hữu chỉ là số lượng mà sự khôn ngoan có thể lấy và cầm giữ. Con không xin gì hơn nữa” (Opere I, Fedro 279c, trad. it. P. Pucci, Bari 1966).
Ông ao ước được đẹp đẽ và khôn ngoan nhứt là trong nội tâm, chớ không phải giàu có tiền của.
Trong các tuyệt tác văn chương đối với mọi thời đại, chúng ta có các bi kịch Hy Lạp. Ngay cả ngày hôm nay, là những bi kịch sau hai mươi lăm thế kỷ, đã được đọc, suy ngẫm và trình diễn, trong đó có những lời nguyện nói lên lòng ước muốn biết được Thiên Chúa và thờ lạy vẻ uy nghiêm của Người. Một trong những bi kịch đó được diễn tả lên như sau:
- “Hỡi Đấng nâng đỡ mặt đất, mà trên mặt đất Chúa có ngai của Chúa, Chúa là ai cũng vậy, khó mà biết được, lạy Đấng Zeus, Chúa là lề luật của thiên nhiên hay của tư tưởng loài người hay chết cũng vậy, con hướng về Chúa: bởi vì, bằng cách tác động trong thinh lặng, Chúa hướng dẫn các biến chuyển nhân loại theo công lý” (Euripide, Troiane, 884-88, trad. it. G. Mancini, in Preghiere dell'umanità, op. cit., p. 54).
d) Nơi các người Roma cũng vậy, là những người đã thiết lập nên đại Đế Quốc, trong đó Kitô giáo được sinh ra và được truyền bá trong những thời tiên khởi, cầu nguyện mặc dầu được liên kết với duy ích chủ nghĩa và nói một cách tổng quát với lời nguyện xin được Thiên Chúa bảo trợ trong đời sống cộng đồng dân sự, một đôi khi lời cầu nguyện cũng được mở ra một cách đáng phục cho lòng nhiệt huyết nhân đức cá nhân, được hoán chuyển thành lời ngợi khen và tạ ơn Chúa.
Điều đó đã được minh chứng bởi một văn sĩ Phi Châu thuộc Roma vào thế kỷ II sau Thiên Chúa Giáng Sinh, đó là văn sĩ Apuleio. Trong các tác phẩm của ông, ông cho biết sự không thoả mãn của nhiều người đương thời về tôn giáo cổ truyền và ước muốn có được một mối liên quan chính đáng đối với Chúa. Trong tác phẩm tuyệt tác của ông, dưới tựa đề Le metamorfosi (Các cuộc biến đổi hình dạng) một tín hữu cầu nguyện với một nữ chúa bằng những lời sau đây:
- “Chúa là thánh, trong mọi thời đại Chúa là vị cứu độ dòng giống nhân loại. Chúa, trong lòng đại lượng của Chúa, luôn đưa tay giúp đỡ nhân loại hay chết, Chúa ban cho người khốn cùng trong lúc âu lo tình yêu thương êm dịu mà một người mẹ có thể có được. Không có ngày đêm, hay một thời gian ngắn ngủi nào, ngắn ngủi đến đâu cũng vậy, mà Chúa không ban các ơn lành của Chúa cho” (Apulcio di Madaura, Metamorfosi IX %; TRAD: IT: C. Annaratone, in Preghiere dell'umanità, op. itc.,p 79).
Cũng trong thời gian đó hoàng đế Marco Aurelio - ông cũng là một triết gia suy tư về hoàn cảnh con người - xác nhận cần phải cầu nguyện để thiết lập một sự cộng tác sung mãn giữa động tác của Thiên Chúa và việc làm của con người. Ông viết trong tác phẩm Ricordi (Những Kỷ Niệm) như sau:
- “Ai nói với anh rằng các vị thần không giúp đỡ chúng ta, ngay cả trong những gì tuỳ thuộc vào chúng ta ? Vậy anh hãy bắt đầu cầu nguyện với các ngài, và anh sẽ thấy” (Dictionnaire de Spiritualité XII/2, col.2213).
Lời khuyên của vị hoàng đế triết gia đó đã được nhiều thế hệ trước Chúa Kitô đem ra thục hiện. Điều đó cho thấy rằng đòi sống con người không có cầu nguyện, mở rộng cuộc sống của chúng ta ra cho mầu nhiệm của Chúa, sẽ trở thành vô ý nghĩa và mất định hướng.
Thật vậy, mỗi khi cầu nguyện, chân lý tạo vật con người được nói lên, một đàng cho thấy kinh nghiệm yếu hèn và thiếu thốn của mình, bởi đó con người xin Trời giúp đỡ. Và đàng khác, lời cầu nguyện cũng có phẩm giá phi thường, bởi vì cầu nguyện là chuẩn bị cho mình đón nhận Mạc Khải của Thiên Chúa, khám phá ra mình có khả năng đi vào được mối thông hiệp với Chúa.
2 - Các bạn thân mến, trong các ví dụ về cầu nguyện của nhiều thế hệ và các nền văn minh khác nhau nầy, thể hiện lên cho chúng ta thấy ý thức rằng thực thể con người có điều kiện tạo vật của mình và sự tuỳ thuộc của mình vào một Đấng Khác, cao cả hơn mình và là nguồn mạch của mọi điều tốt đẹp.
Con người ở mọi thời đại đều cầu nguyện, bởi vì con người không thể không tự hỏi mình ý nghĩa của cuộc sống mình là gì? Điều đó vẫn còn chưa sáng tỏ và làm cho mình thất vọng, nếu không được đặt liên quan với mầu nhiệm Thiên Chúa và đồ án của Người trên thế giới.
Đời sống con người là một mối đan kết giữa thiện và ác, giữa đau khổ không đáng phải có, niềm vui và sự đẹp đẽ, tự nhiên và không thể cầm chế được thúc đẩy chúng ta xin Thiên Chúa ban cho ánh sáng đó và sức mạnh nội tâm trợ lực chúng ta trên mặt đất và hé mở cho chúng ta hy vọng vượt qua bên kia lằn mức của sự chết.
Các tôn giáo dân ngoại vẫn còn là một lời cầu khẩn từ mặt đất, đang đợi một lời nói từ Trời. Một trong những triết gia ngoại giáo, sống giữa thời đại Kitô giáo, Proclo di Costantinopoli, phát biểu lên tiếng nói của lòng mong đợi nầy, trong khi ông nói rằng:
- “Hỡi Đấng Không Thể Nhận Biết Được, không ai chứa đựng Ngài. Tất cả những gì chúng tôi nghĩ đều thuộc về Ngài. Những việc ác và điều thiện của chúng tôi đều ở nơi Ngài, mọi hơi thở của chúng tôi đều tuỳ thuộc vào Ngài, hỡi Đấng Không Thể Tả Được, Đấng mà linh hồn chúng tôi cảm nhận Ngài hiện diện, trong khi chúng tôi dâng lên Ngài bài thánh ca trong thinh lặng” (Hymni, ed. E. Vogt, Wiesbaden 1957, in Preghiere dell'umanità, op. cit., p. 61).
Trong các ví dụ về cầu nguyện trong nhiều nền văn hoá khác nhau, mà chúng ta đã duyệt xét qua, chúng ta có thể thấy được một nhân chứng có tầm vóc tôn giáo và lòng ao ước Thiên Chúa được khắc ghi trong tâm hồn mỗi con người, được đáp ứng thoả mãn và diễn tả hoàn hảo trong Cựu Ước và Tân Ước.
Thật vậy, Mạc Khải thanh tẩy và đem ước vọng khởi thuỷ về Thiên Chúa đến hoàn hảo, bằng cách ban cho con người, trong cầu nguyện, có được khả năng giao tiếp sâu đậm với Cha trên trời.
Khởi đầu cuộc hành trình của chúng ta vào “Trường Học Cầu Nguyện”, chúng ta hãy xin Chúa soi sáng tâm hồn và con tim chúng ta, để cho mối tương quan với Người trong lúc cầu nguyện luôn luôn là mối tương quan mãnh liệt, đầy yêu thương và bền bĩ.
Một lần nữa chúng ta hãy nói với Người:
- “Lạy Thầy, xin Thầy dạy chúng con cầu nguyện” (Lc 11, 1).
Phỏng dịch từ nguyên bản Ý ngữ: Nguyễn Học Tập.
(Thông tấn www.vatican.va, 04.05.2011).
admin
05-05-2011, 08:56 PM
Cầu nguyện là nói chuyện với Thiên Chúa
Cầu nguyện là nói chuyện với Thiên Chúa. Nhưng nó không phải là việc ngẫu nhiên, mà cần phải tập cầu nguyện, hầu như để luôn luôn chiếm hữu được trở lại nghệ thuật này. Cả những người rất tấn tới trong đời sống thiêng liêng cũng luôn luôn cảm thấy nhu cầu theo học nơi trường của Chúa Giêsu để tập cầu nguyện đích thật.
Đức Thánh Cha Biển Đức XVI đã khẳng định như trên trước hơn 25.000 tín hữu và du khách hành hương tham dự buổi tiếp kiến chung tại quảng trường thánh Phêrô sáng thứ tư 4-5-2011.
Trong số hàng trăm phái đoàn tham dự cũng có phái đoàn 50 tín hữu Việt Nam do cha Nguyễn Đức Vượng dòng Đaminh, cha sở giáo xứ Các Thánh Tử Đạo Việt Nam Arlington, Virginia Hoa Kỳ, hướng dẫn.
Trong bài huấn dụ Đức Thánh Cha đã bắt đầu loạt bài giáo lý mới về lời cầu nguyện, là một đề tài mọi người đều lưu tâm, đặc biệt là lời cầu nguyện kitô, nghĩa là lời cầu nguyện mà Chúa Giêsu và Giáo Hội tiếp tục dậy dỗ chúng ta. Đức Thánh Cha nói:
Thật thế, chính nơi Chúa Giêsu mà con người có khả năng đến gần Thiên Chúa với sự sâu xa và thân tình của tương quan hiền phụ và con thảo. Như vậy, cùng với các môn đệ tiên khởi chúng ta hãy khiêm tốn tin tưởng hướng tới Thầy và xin Người: ”Lạy Chúa, xin dậy chúng con cầu nguyện” (Lc 11,1). Bài học đầu tiên là chính gương sống của Chúa Giêsu. Các Phúc Âm cho chúng ta thấy Chúa Giêsu liên lỉ đối thoại thân tình với Thiên Chúa Cha: đó là một sự kết hiệp sâu xa của người đã đến trần gian không phải để làm theo ý mình, mà là để làm theo ý Thiên Chúa Cha, Đấng đã gửi Người đến để cứu rỗi nhân loại.
Tiếp đến Đức Thánh Cha đã đơn cử một số thí dụ về lời cầu nguyện trong các nền văn hóa cổ xưa để cho thấy con người luôn luôn hướng về Thiên Chúa như thế nào.
Chẳng hạn bên Ai Cập, lời cầu của một người mù xin thần linh cho ông ta được sáng mắt cho thấy lời cầu đơn sơ và thuần túy là lời xin từ phía người đau khổ. Ông mù cầu nguyện như sau: ”Tim tôi ước ao trông thấy Ngài... Ngài đã làm cho tôi thấy tối tăm, xin hãy tạo dựng ánh sáng cho tôi. Ước chi tôi đựơc trông thấy Ngài! Xin hãy ghé mặt yêu thương của Ngài xuống trên tôi” (A. Baruq - F. Daumas, Hymnes et prières de l;Egypte ancienne, Paris 1980, trad. it. in Preghiere dell'umanità, Brescia 1993, tr.30).
Trong các tôn giáo vùng Medopotamia, tuy trong lời cầu nguyện người ta ý thức được sự nghiêm trọng của lỗi lầm làm tê liệt, nhưng lời cầu cũng không thiếu niềm hy vọng được Thiên Chúa cứu chuộc và giải thoát. Thí dụ lời cầu của một tín hữu như sau: ”Ôi Thiên Chúa là Đấng nhân từ cả đối với lỗi lầm trầm trọng nhất, xin xá giải tội lỗi của con... Lậy Chúa, xin hãy nhìn xem tôi tớ kiệt lực của Ngài và thổi làn gió mát nhẹ của Ngài trên nó: đừng chậm trễ tha thứ cho nó.. Xin hãy làm vơi nhẹ sự trừng phạt nghiêm minh của Ngài. Xin làm cho con lại thở được và thoát các dây trói; xin hãy bẻ gẫy xiềng xích của con, xin hãy cởi các dấy trói buộc cho con” (M. J Seux, HYmnes et prières aux Dieux de Babylone et d'Assyrie, Paris 1976, trd.it. in Preghiere dell'umanità, op. cit., tr.37). Các kiểu diễn tả này cho thấy con người trực giác được một đàng là tội lỗi của mình, đàng khác là lòng lành và sự xót thương của Thiên Chúa.
Bên trong tôn giáo của Hy lạp cổ, người ta chứng kiến một sự tiến triển rất ý nghĩa: tuy tiếp tục là các lời kêu cứu thần linh trợ giúp trong các trạng huống khác nhau của cuộc sống thường ngày, và để được các lợi ích vật chất, các lời cầu từ từ hướng tới các cầu xin vô vị lợi hơn, cho phép con người đào sâu tương quan với Thiên Chúa và trở nên tốt lành hơn. Chẳng hạn đại triết gia Platone ghi lại lời cầu của Socrate thầy mình như sau: ”Xin cho con xinh đẹp ở bên trong. Ước chi con coi là giầu có người khôn ngoan và chỉ có số tiền mà người khôn ngoan có thể lấy và đem theo. Con không xin gì khác nữa” (Opere I. Fedro 279c, trd.it. P. Pucci, Bari 1966). Nghĩa là ông muốn được xinh đẹp trong nội tâm và khôn ngoan, chứ không muốn tiền bạc.
Đức Thánh Cha nói thêm trong bài huấn dụ về lời cầu nguyện:
Trong các tuyệt tác của nền văn chương thuộc mọi thời đại có các bi kịch hy lạ. Cả ngày nay nữa, sau 25 thế kỷ, chúng được đọc, suy gẫm và diễn lại, và trong đó có các lời cầu diễn tả ước muốn hiểu biết Thiên Chúa và thờ lậy sự cao cả của Ngài.
Cả nơi người Roma đã xây dựng một đế quốc rộng lớn, trong đó một phần lớn Kitô giáo tiên khởi nảy sinh và phố biến, tuy có trộn lẫn với quan niệm vụ lợi và gắn liền với việc xin thần linh phù trợ cuộc sống của cộng đoàn dân sự, lời cầu nguyện cũng rộng mở cho các lời khấn cầu đáng ca ngợi xin cho lòng đạo đức cá nhân, biến trở thành lời chúc tụng và cảm tạ. Thí dụ như lời cầu của ông Apuleio, một tác giả Phi châu sống vào thế kỷ thứ II sau công nguyên. Trong các bút tích của mình ông bầy tỏ sự không thỏa mãn của các người đồng thời đối với tôn giáo cổ truyền, và ước mong có một tương quan đích thật hơn với Thiên Chúa. Trong tuyệt tác tựa đề ”Các sự biến hình”, có một tín hữu hướng tới một nữ thần với các lời sau đây: ”Ngài thực là thánh, ngài cứu vớt nhân loại trong mọi lúc; trong sự quảng đại của ngài ngài luôn trợ giúp con người phải chết; ngài cống hiến cho những kẻ bần cùng đang gặp khốn khó lòng yêu mến hiền dịu của một bà mẹ. Không có một ngày, một đêm, một lúc nào, cho dù có ngắn ngủi tới mấy đi nữa, mà ngài lại không đổ tràn đầy trên nó các ân huệ của ngài” (Apuleio di Madaura, Metamorfosi IX,25, trad. it., C. Annaratone, in Preghiere dell'umanità, op, cit., tr. 79)
Trong cùng thời đó hoàng đế Marco Aurelio, là một triết gia suy tư về điều kiện là người, khẳng định sự cần thiết phải cầu nguyện để thiết lập một sự cộng tác phong phú giữa hoạt động của thần linh và hoạt động của con người. Ông viết trong tác phẩm “Các kỷ niệm”: ”Ai đã nói với bạn rằng các thần linh không trợ giúp chúng ta, cả trong điều tùy thuộc nơi chúng ta? Vậy hãy bắt đầu cầu khấn các ngài đi, và bạn sẽ thấy” (Dictionnaire de Spiritualité XII/2, col. 2213). Và Đức Thánh Cha giải thích ý nghĩa lời khuyên này của hoàng đế như sau:
Nhiều thế hệ con người trước Chúa Kitô đã thực thi lời khuyên này của hoàng đế triết gia. Nó chứng minh cho thấy rằng cuộc sống con người mà không có lời cầu nguyện, là điều mở cuộc sống chúng ta ra cho mầu nhiệm của Thiên Chúa, thì trở thành vô ý nghĩa và không có điểm quy chiếu. Thật vậy, trong mỗi một lời cầu luôn luôn diễn tả sự thật của bản tính con người, một đàng sống kinh nghiệm sự yếu đuối và bất xứng, và vì thế xin Trời trợ giúp, đàng khác nó lại có được một phẩm giá ngoại thường, bởi vì nó đang chuẩn bị mình đón nhận Mạc Khải của Thiên Chúa, nó khám phá ra mình có khả năng bước vào sự hiệp thông với Thiên Chúa.
Rồi Đức Thánh Cha kết luận bài huấn dụ như sau:
Các bạn thân mến, trong các thí dụ về lời cầu nguyện của nhiều thời đại và nền văn minh này, nổi bật lên ý thức con người có về điều kiện là thụ tạo và sự tùy thuộc của nó đối với Một Đấng Khác, cao hơn nó và là suối nguồn của mọi sự thiện. Con người thuộc mọi thời đại cầu nguyện, bởi vì nó không thể làm gì khác hơn là tự hỏi xem đâu là ý nghĩa cuộc sống. Nó tối tăm và không an ủi, nếu không được đặt trong tương quan với mầu nhiệm của Thiên Chúa và chương trình của Ngài đối với thế giới. Cuộc sống con người là một giao thoa giữa thiện và ác, khổ đau vô tội, niềm vui và vẻ đẹp. Nó thúc đẩy chúng ta xin Thiên Chúa ban ánh sáng và sức mạnh nội tâm cứu giúp chúng ta trên trần gian này, và rộng mở chúng ta cho một niềm hy vọng vượt ngoài ranh giới của cái chết.
Trong các thí dụ lời cầu của các nền văn hóa khác nhau, chúng ta có thể thấy một chứng tá của chiều kích tôn giáo và ước muốn Thiên Chúa ghi sâu trong trái tim của mọi người. Chúng nhận được sự thành toàn và diễn tả tràn đầy trong Thánh Kinh Cựu và Tân Ước. Mạc Khải thanh tẩy và đem khát vọng Thiên Chúa của con người nguyên thủy tới sự tràn đầy, bằng cách cống hiến cho nó khả năng của một tương quan sâu xa hơn với Thiên chúa Cha trên trời, trong lời cầu nguyện. Chúng ta hãy xin Chúa soi sáng trí tuệ và con tim chúng ta để tương quan của chúng ta với Người trong lời cầu nguyện luôn trọn vẹn, yêu thương và liên lỉ hơn.
Đức Thánh Cha đã chào tín hữu bằng nhiều thứ tiếng khác nhau. Chào các bạn trẻ, các người đau yếu và các cặp vợ chồng mới cưới Đức Thánh Cha nói tháng năm là tháng dân kitô kính Đức Mẹ, vừa mới bắt đầu. Ngài xin người trẻ mỗi ngày noi gương và học nơi trường của Mẹ Maria Rất Thánh để biết chu toàn ý muốn của Thiên Chúa. Đức Thánh Cha xin các anh chị em đau yếu biết chiêm ngưỡng Mẹ và tiếp nhận giá trị cứu rỗi của mọi khổ đau kết hiệp với khổ đau của Chúa Kitô chịu đóng đanh. Ngài xin Mẹ che chở các cặp vợ chồng mới cưới để bầu khí Thánh Gia Nagiarét luôn ngự trị trong gia đình họ.
Buổi tiếp kiến đã kết thúc với Kinh Lạy Cha và phép lành tòa thánh Đức Thánh Cha ban cho mọi người.
Linh Tiến Khải
http://www.oecumene.radiovaticana.org/vie/Articolo.asp?c=484286
admin
12-05-2011, 09:24 PM
BÀI GIÁO LÝ NGÀY THỨ TƯ (7A 18).
Công trường Thánh Phêrô, buổi yết kiến ngày thứ tư, 11.05.2011.
CON NGƯỜI TRONG CẦU NGUYỆN:
LÒNG AO ƯỚC THIÊN CHÚA ĐÃ ĐƯỢC KHẮC GHI VÀO TÂM KHẢM CON NGƯỜI.
ĐỨC THÁNH CHA BENEDICTUS XVI
Anh Chị Em thân mến,
hôm nay tôi muốn được tiếp tục suy nghĩ làm thế nào cầu nguyện và ý nghĩa tôn giáo có liên hệ đến con người trong lịch sử của mình.
Chúng ta đang sống trong thời đại đang tỏ hiện những dấu chứng thế tục hoá.
Thiên Chúa dường như biến mất khỏi chân trời của nhiều người hay trở thành một thực thể, mà đối với thực thể đó con người trở thành dững dưng.
Nhưng đồng thời, chúng ta cũng thấy được
- có nhiều dấu chỉ cho thấy sự thức dậy của tư tưởng tôn giáo,
- một sự khám phá mới về tính cách quan trọng của Thiên Chúa đối với đời sống con người,
- một sự đòi hỏi thiêng liêng cần phải có, cần phải vượt thắng nhãn quan thuần vật chất của đời sống con người.
Nhìn vào dòng lịch sử gần đây, dự đoán của những ai ở thời Thần Cảm Thuyết (Illuminisme) đã bị đổ vỡ, khi họ tiên báo sự tan biến đi của các tôn giáo và đề cao vượt bậc lý trí tuyệt đối, tách rời khỏi đức tin, một lý trí có thể có khả năng xua đuổi đi các tín điều tôn giáo và có thể có khả năng làm tan biến đi “thế giới thần thánh”, trao trả lại cho con người tự do, phẩm giá và tự lập của mình đối với Thiên Chúa.
Kinh nghiệm của thế kỷ vừa qua, với hai cuộc Thế Chiến thảm đạm, đã đặt vào khủng hoảng sự tiến bộ đó của lý trí tự lập, mà con người không có Thiên Chúa có thể đứng ra bảo đảm được.
1 - Sách Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo xác nhận:
- “Qua công cuộc sáng tạo, Thiên Chúa kêu gọi mọi vật từ hư không đến hiện hữu... Ngay cả khi mất đi đặc tính giống Thiên Chúa do tội lỗi, còn người vẫn còn là hình ảnh của Đấng Tạo Hoá. Con người vẫn còn giữ lòng ao ước đối với Đấng kêu gọi mình đến hiện hữu. Tất cả các tôn giáo đều chứng minh sự tìm kiếm thiết yếu nầy của con người” (n. 2566).
Chúng ta có thể nói - như những gì tôi đã bày tỏ ra trong buổi giáo lý vừa rồi- rằng không có một nền văn minh lớn lao nào, từ thời cổ xưa cho đến thời đại chúng ta, mà không phải là nền văn minh tôn giáo.
Con người, tự bản tính của mình, là con người có tôn giáo, là “homo religiosus” cũng như “homo sapiens” (con người có trí khôn ngoan) và “homo faber” (con người kiến tạo, làm việc):
- “Lòng ao ước Thiên Chúa - sách Giáo Lý xác nhận - đã được khắc ghi vào tâm khảm con người, bởi vì con người được Thiên Chúa dựng nên và cho Thiên Chúa” (n. 27).
Hình ảnh Thiên Chúa đã được in sâu vào trong thực thể của con người và con người cần tìm gặp được một ánh sáng để trả lời cho những câu hỏi liên quan đến ý nghĩa thâm sâu của thực thể, câu trả lời mà con người không thể tìm được nơi chính mình, trong tiến bộ của khoa học thực nghiệm.
Con người tôn giáo “homo religiosus” không phải chỉ được phát hiện ra trong thế giới cổ xưa, con người đó đi qua suốt dòng lịch sử nhân loại.
Về vấn đề nầy, khoảng đất màu mỡ của kinh nghiệm con người đã thấy phát hiện lên nhiều hình thức tôn giáo, để tìm cách
- đáp ứng lại lòng ao ước muốn được trọn hảo và hạnh phúc,
- đáp ứng lại nhu cầu được cứu độ,
- trả lời cho sự tìm kiếm ý nghĩa.
Con người của thời đại “điện toán”, cũng như của thời ăn lông ở lỗ, tìm kiếm trong kinh nghiệm tôn giáo
- các con đường để vượt thắng được sự hạn hẹp của mình
- và để bảo đảm cho sự mạo hiểm tạm bợ trần thế của mình.
Đàng khác, cuộc sống không có một chân trời siêu việt có lẽ không có một ý nghĩa đầy đủ và hạnh phúc mà mọi người chúng ta đều hướng đến, tự nhiên được quy hướng về tương lai, đến một ngày mai chưa được thực hiện.
Công Đồng Vatican II trong Bản Tuyên Bố Nostra aetate đã nhấn mạnh điều vừa kể, tóm lược như sau:
- “Con người chờ đợi ở các tôn giáo khác nhau câu trả lời về các bí ẩn của hoàn cảnh sống con người (- và tôi là ai?-), ý nghĩa và cùng đích của cuộc sống chúng ta, điều thiện và tội lỗi, nguyên nhân và mục đích của sự đau khổ, con đường để đi đến được hạnh phúc đích thực, cái chết, cuộc phán xét và án phạt sau khi chết, sau cùng là điều bí ẩn khôn tả đang bao vậy sự hiện hữu của chúng ta, từ đâu chúng ta có xuất xứ và chúng ta đang hướng về đâu” (n. 1).
Con người biết rằng tự mình không thể giải đáp được nhu cầu căn bản phải biết của mình. Bao nhiêu lần ảo tưởng và hiện nay vẫn còn ảo tưởng rằng mình có thể tự túc được, con người có kinh nghiệm mình không đủ được cho mình. Mình cần phải mở rộng mình ra với một Người Khác, với một điều gì khác hay một người nào khác, có thể cho mình những gì mình còn thiếu, nhận thấy mình cần phải vượt ra khỏi mình để hướng về Đấng có thể lấp đầy trương độ và chiều sâu lòng ao ước của mình.
2 - Con người mang nơi mình
- một sự khao khát vô tận,
- một nỗi nhớ nhung về bất tận,
- một cuộc tìm kiếm vẻ đẹp,
- lòng ao ước tình yêu,
- một nhu cầu có được ánh sáng và chân lý.
Tất cả những điều đó đang thúc đẩy con người hướng về Đấng Tuyệt Đối, con người mang nơi mình lòng ước muốn Thiên Chúa.
Một cách nào đó, con người biết được mình có thể quay về Chúa, biết rằng mình có thể cầu nguyện được.
Thánh Tôma d'Aquino, một trong những nhà thần học cao cả nhứt lịch sử, định nghĩa cầu nguyện là
- “cách diễn tả lòng ao ước, mà con người có đối với Chúa”.
Mối thu hút hướng về Chúa, mà Chúa đã đặt trong con người, là linh hồn của cầu nguyện, được thể hiện ra kế đến dưới nhiều hình thức và nhiều phương thể, tuỳ theo lịch sử, thời gian, thời điểm, ân phúc van xin và ngay cả tội lỗi của mỗi người cầu nguyện.
Thật vậy, lịch sử con người đã biết được có nhiều hình thức cầu nguyện, bởi vì con người phát hiện ra nhiều phương thức để mở rộng mình ra với Đấng Trổi Thượng, khiến cho chúng ta có thể nhận ra được cầu nguyện như là một kinh nghiệm hiện diện trong mỗi tôn giáo và văn hoá.
Thật vậy, Anh Chị Em thân mến, như chúng ta đã thấy thứ tư tuần rồi, cầu nguyện không phải bị liên hệ vào một bối cảnh nào đặc biệt, mà đã được ghi khắc vào tâm khảm của mỗi con người và mỗi nền văn minh.
Dĩ nhiên, khi chúng ta nói đến cầu nguyện như là kinh nghiệm của con người như là con người, của “homo orans” (con người cầu nguyện), chúng ta cần chú ý đó là thái đô nội tâm, trước khi là một chuỗi các động tác và thể thức thực hành. Đó là
- một cách để đặt mình trước mặt Chúa,
- trước khi thực hiện các động tác phượng tự hay thốt lên bằng lời nói.
Cầu nguyện có trung tâm của mình và gốc rễ của mình đâm chặt sâu thẳm vào trong con người.
Bởi đó không dễ gì có thể phân tích, giải thích được, và cũng vì lý do đó, cầu nguyện có thể bị hiểu lầm và bị đánh lừa.
Ngay cả trong ý nghĩa nầy, chúng ta có thể hiểu được câu nói: cầu nguyện là điều khó khăn.
Thật vậy, cầu nguyện là
- nơi chốn tuyêt hảo của việc ban cho nhưng không,
- của động lực hướng về Đấng Vô Hình, Đấng Bất Ngờ và Khôn Tả.
Bởi đó kinh nghiệm của cầu nguyện đối với tất cả chúng ta là
- một sự thử thách,
- một “ân sủng” cần phải nài xin,
- là một ơn ban của Đấng mà chúng ta quy hướng đến để van xin.
3 - trong cầu nguyện, ở mọi thời đại trong lịch sử, con người nhận thức được mình và hiện trạng của mình trước mặt Chúa,
- khởi đầu từ Chúa và theo thánh ý Chúa,
- cảm nhận mình là tạo vật cần được giúp đỡ, tự mình không có khả năng tự lo lấy để hoàn hảo cuộc sống của mình và đáp lại hy vọng của mình.
Triết gia Ludwig Wittgenstein nhắc nhở rằng
- “cầu nguyện là cảm nhận được ý nghĩa của thế giới ở bên ngoài thế giới”.
Trong động tác tương giao với Đấng ban cho chúng ta ý nghĩa của cuộc sống, với Chúa, cầu nguyện là cách diễn tả cá biệt trong cử chỉ mình quỳ gối xuống.
Là một cử chỉ mang nơi mình một giá trị hoàn toàn song tưởng (ambivalenza).
Thật vậy,
- tôi có thể bắt buộc tôi quỳ xuống - trong tình trạng khốn cùng và nô lệ - ,
- nhưng tôi cũng có thể tự nhiên quỳ gối xuống, để nói lên lằn mức hạn hẹp của tôi và như vậy, tỏ ra cho thấy tôi cần có một Đấng Khác. Trước mặt Người, tôi thú nhận giới hạn của tôi, nhu cầu của tôi, “tôi là người tội lỗi”.
Trong kinh nghiệm cầu nguyện,
- tạo vật con người diễn tả ra cảm nhận ý thức về chính mình, tất cả những gì mình có thể gặt hái được bằng cuộc sống của mình
- và đồng thời, quy hướng tất cả con người mình về với Đấng mà mình đang ở trước mặt, quy hướng linh hồn mình về Đấng Mầu Nhiệm, mà mình mong đợi đáp ứng thoả mãn được những ước vọng sâu thẳm nhứt và trợ giúp mình vượt thắng được tình trạng thiếu thốn của đời sống mình.
Trong thái độ nhìn vế Đấng Khác đó, trong cử chỉ hướng đến “bên kia” đó, đó chính là bản thể của cầu nguyện, như là kinh nghiệm đối với một thực thể vượt lên trên những gì có thể cảm nhận được và hiện hữu chóng qua.
Tuy nhiên chỉ có nơi Thiên Chúa, Đấng mạc khải chính mình, con người mới gặp được, thực hiện hoàn hảo những gì con người đang tìm kiếm.
Cầu nguyện là sự mở rộng và nâng cao tâm hồn lên Chúa, và như vậy trở thành là mối tương quan cá nhân với Người.
Và như vậy,
- ngay cả con người có quên đi Đấng Sáng Tạo nên mình,
- Thiên Chúa hằng sống và chân thật không ngừng là Đấng trước tiên kêu gọi con người vào cuộc gặp gỡ mầu nhiệm trong cầu nguyện.
Như sách Giáo Lý xác nhận:
- “Bước khởi đầu tình yêu đó của Thiên Chúa trung tín, luôn luôn thể hiện trước trong cầu nguyện. Bước đi của con người luôn luôn là câu trả lời. Dần dần Thiên Chúa mạc khải chính Người và mạc khải con người cho chính con người, như vậy cầu nguyện cho chúng ta thấy được như là lời kêu gọi lẫn nhau, một biến cố giao ước.
Qua lời nói và động tác, biến cố đó có liên hệ đến cả con tim. Điều đó được mạc khải suốt cả chiều dài lịch sử cứu độ” (n. 2567).
Anh Chị Em thân mến, chúng ta hãy học biết làm sao để dừng lại nhiều hơn trước mặt Chúa, là Đấng mạc khải chính Người nơi Chúa Kitô.
Chúng ta hãy học biết nhận ra trong thinh lặng, trong nội tâm sâu thẳm của chính chúng ta, lời Người đang kêu gọi chúng ta và hướng dẫn chúng ta vào sâu thẳm cuộc đời chúng ta, đến tận nguồn mạch sự sống, nguồn mạch cứu độ, để làm cho chúng ta vượt qua khỏi giới hạn của cuộc đời mình và rộng mở mình theo chiều kích của Thiên Chúa, cho mối tương quan với Người, là Tình Yêu bất tận. Amen.
Cám ơn Anh Chị Em.
Phỏng dịch từ nguyên bản Ý ngữ: Nguyễn Học Tập.
(Thông tấn www.vatican.va (http://www.vatican.va), 11.05.2011).
admin
19-05-2011, 07:57 PM
BÀI GIÁO LÝ NGÀY THỨ TƯ (7A 19)
Công trường Thánh Phêrô, buổi yết kiến ngày thứ tư, 18.05.2011.
CẦU NGUYỆN TRONG TINH THẦN THÁNH KINH
ĐỨC THÁNH CHA BENEDICTUS XVI
Anh Chị Em thân mến,
trong hai buổi giáo lý vừa qua, chúng ta đã suy nghĩ đến cầu nguyện như là trạng thái phổ quát, mặc dầu với nhiều hình thức khác nhau, cầu nguyện vẫn luôn luôn hiện hữu trong mọi thời đại.
Hôm nay, tôi muốn được khởi đầu một cuộc hành trình Thánh Kinh về chủ đề nầy, cầu nguyện giúp chúng ta sống sâu đậm hơn cuộc đối thoại giữa Thiên Chúa và con người, làm cho lịch sử cứu rỗi trở nên sống động, cho đến thượng đỉnh, đến lời nói quyết định là Chúa Giêsu Kitô.
Cuộc hành trình nầy sẽ hướng dẫn chúng ta dừng lại trên một vài văn bản quan trọng và một vài nét mặt khuôn mẫu của Cựu Ước và Tân Ước.
Abraham, vị Đại Tổ Phụ, người cha của mọi tín hữu
- “Ông (Abraham) nhận được cắt bì như dấu hiệu chứng thực rằng: nhờ tin mà ông được trở nên công chính, trước khi được cắt bì. Như vậy, ông là cha của mọi kẻ tin, mà không được cắt bì, và vì tin nên được kể là công chính. Ông cũng là cha của những người được cắt bì, nhưng không phải chỉ được cắt bì, mà còn dõi bước tổ phụ chúng ta là Abraham, trên đường đức tin, đức tin của ông đã có trước khi được cắt bì” (Rom 4,11-12).
- “Bởi vậy, vì tin mà người ta được hưởng lời Chúa hứa ; như vây, lời hứa là ân huệ Thiên Chúa ban không, và có giá trị cho toàn thể dòng dõi ông Abraham, nghĩa là không phải chỉ cho những ai giữ Lề Luật, mà còn cho những ai có lòng tin như ông. Ông là tổ phụ chúng ta hết thảy. như có lời chép : “Ta đã đặt ngươi làm tổ phụ nhiều dân tộc”. Ông là tổ phụ chúng ta trước mặt Thiên Chúa, Đấng ông tin tưởng, Đấng làm cho kẻ chết được sống và khiến những gì không có hoá có” (Rom 4, 16-17),
và là người sẽ tặng cho chúng ta khuôn mẫu cầu nguyện đầu tiên, trong biến cố ông can thiệp cho thị xã Sodoma và Gomorra.
Và tôi cũng muốn mời gọi Anh Chị Em hãy lợi dụng cuộc hành trình mà chúng ta sẽ thực hiện trong những bài giáo lý tới để học hỏi và hiểu biết Thánh Kinh hơn nữa, mà tôi hy vọng là Anh Chị Em có trong nhà, và trong tuần lễ, hãy dừng lại đọc và suy niệm trong lúc cầu nguyện, để biết được lịch sử tuyệt diệu của mối liên quan giữa Thiên Chúa và con người, giữa Chúa là Đấng loan báo cho chúng ta và con người là người đáp ứng lại, là người cầu nguyện.
1 - Bản văn đầu tiên mà chúng ta muốn dừng lại để suy nghĩ là bản văn trong chương 18 Sách Sáng Thế Ký, trong đó thuật lại lối hành xử man dại đến tột đỉnh của cư dân Sodoma và Gomorra, đến nỗi cần phải có một sự can thiệp của Thiên Chúa để có một động tác hành xử công chính và chận đứng lại điều ác đang phá hoại các thị xã đó.
Và ở đây Abraham xen vào với lời cầu nguyện làm trung gian bào chữa của mình. Thiên Chúa quyết định mạc khải cho ông biết điều gì sẽ xảy ra và cho ông biết tính cách hệ trọng của sự ác và các hậu quả kinh khủng của nó, bởi vì Abraham là người được Chúa tuyển chọn, được tuyển chọn để trở thành một đại dân tộc và làm cho lời chúc lành của Chúa đến được cả thế giới.
Sứ mạng của Abraham là sứ mạng cứu độ, phải đối kháng lại tội lỗi đã xâm chiếm tràn ngập thực tại con người. Qua Abraham, Thiên Chúa muốn hướng dẫn nhân loại trở về với đức tin, đức vâng lời, với công chính.
Giờ đây, người thân hữu nầy của Thiên Chúa, mở rộng mình ra trước thực trạng và nhu cầu của thế giới, cầu nguyện cho những kẻ sắp bị án phạt và cầu xin cho họ được cứu thoát.
Abraham lập tức đặt thành vấn đề với tất cả tình trạng khẩn trương hệ trong trước mắt. Ông liền xin Chúa:
- “Chẳng lẽ Chúa tiêu diệt người lành một trật với kẻ dữ sao? Giả sử như trong thành có năm mươi người lành, chẳng lẽ Chúa tiêu diệt họ thật sao? Chẳng lẽ Chúa chẳng dung thứ cho thành đó vì năm mươi người lành trong đó sao? Chúa làm như vậy, chắc không được đâu ! Giết chết người lành một trật với kẻ dữ, coi người lành cũng như kẻ dữ, chắc không được đâu ! Đấng xét xử trần gian, lại không xét xử công minh sao?” (Gen 18, 23-25).
Với những lời vừa kể, với lòng can đảm phi thường, Abraham đặt trước mặt Chúa việc cần thiết phải tránh của cách hành xử công lý tổng thể “quơ đũa cả nắm". Nếu thị xã có tội, thì đúng phải lên án phạt tội trạng của nó và giáng hình phạt, nhưng, vị đại tổ phụ xác nhận, có lẽ đó là phạt vạ một cách bất công, một cách không phân biệt đối với mọi cư dân. Nếu trong thị xã có những người vô tội, những người đó không thể bị đối xử như những kẻ tội phạm.
Chúa là một vị quan toà chính trực, không thể hành động như vậy. Abraham nói một cách chính đáng với Chúa
Nhưng nếu chúng ta đọc kỹ hơn văn bản, chúng ta còn nhận thức được lời van xin của Abraham còn nghiêm trọng và sâu sắc hơn nữa. Bởi lẽ ngài không chỉ giới hạn xin tha cho những người vô tội. Abraham xin tha thứ cho toàn thể thị xã, bằng cách kêu gọi sự công chính của Chúa, bỏi lẽ ông nói với Chúa:
- “Chẳng lẽ Chúa không tha thứ cho thành đó, vì năm mươi người lành trong thành đó sao?” (Gen 18, 24b).
Hành động như vừa kể, Abraham tạo ra một tư tưởng mới về công chính.
Công chính không chỉ giới hạn phạt vạ tội nhân, như là những gì con người vẫn hành xử cho đến lúc đó, mà là một nền công chính khác, công chính của Thiên Chúa, tìm điều lành và tạo ra điều lành bằng tha thứ, hoán cải tội nhân, cải hoá và cứu thoát anh ta.
Như vậy, qua lời cầu nguyện của mình, Abraham không đòi hỏi công chính chỉ nhằm “có vay có trả”, mà là một động tác can thiệpgiải thoát, đặc tâm lưu ý đến người vô tội, nhưng giải thoát khỏi tội lỗi cả những kẻ bất lương gian manh.
Tư tưởng của Abraham xem ra có vẻ nghịch thường, có thể được đúc kết như sau: dĩ nhiên không thể đối đãi với người vô tội như những kẻ bất lương, tội nhân. Điều đó là điều bất công. Nhưng cần phải đối xử với phạm nhân như người vô tội, đặt họ vào một động tác công chính “cao hơn”, bằng cách cống hiến cho họ có một cơ hội được cứu thoát. Bởi vì nếu các tội nhân chấp nhận sự tha thứ của Thiên Chúa và cáo thú tội mình để mình được giải thoát, họ sẽ không tiếp tục hành động bất lương nữa, và như vậy họ cũng sẽ trở thành người công chính, không cần phải bị phạt vạ.
2 - Đây là lời kêu gọi công chính mà Abraham nói lên trong sự can thiệp của mình, một lời van xin dựa trên sự chắc chắn rằng Thiên Chúa là Đấng nhân từ.
Abraham không van xin Chúa một điều gì ngược lại bản tính của Người. Ông gỏ cửa trái tím Chúa vì biết được thực sự ý muốn của Người.
Chắc chắn Sodoma là một thi xã to lớn, năm mươi người là một con số ít ỏi, nhưng công lý của Thiên Chúa và sự tha thứ của Người không phải là điều thể hiện ra sức mạnh của điều thiện, mặc dầu có vẻ như nhỏ bé và yếu ớt, hơn sự dữ sao ?
Sự tiêu diệt Sodoma phải chận đứng được điều dữ trong thị xã, nhưng Abraham biết Thiên Chúa có những phương thức và dụng cụ khác để chận đứng sự dữ lan tràn.
Chính sự tha thứ làm gián đoạn vòng xoán của tội lỗi, và Abraham, trong cuộc đối thoại với Chúa, van xin chính điều đó.
Và khi Thiên Chúa chấp nhận tha thứ cho thị xã, nếu trong đó có năm mươi người lương thiện, lời cầu nguyện của Abraham bắt đầu đi xuống, hướng về các vực thẩm lòng khoan hồng của Chúa.
Abraham - như chúng ta còn nhớ - làm cho con số người thiện cần thiết để được giải thoát dần dần càng lúc càng giảm đi : nếu không có năm mươi, có lẽ bốn mươi lăm cũng đủ và rồi càng lúc càng xuống thấp hơn cho đến mươi người, bằng cách tiếp tục các lời van xin của mình, làm cho ông trở thành gan dạ hơn: nếu có thể tìm được bốn mươi...ba mươi...mười:
- “Ông lại thưa một lần nữa: “Giả như trong thành tìm được bốn mươi người thì sao?...Ông nói: “Xin Chúa đừng giận cho con nói tiếp: “Giả như ở đó có ba mươi người thì sao?...Ông nói: “Con xin mạn phép thưa với Chúa: “Giả như tìm được hai mươi người thì sao ? Ông nói: “Xin Chúa đừng giận cho con nói một lần nầy nữa thôi: “Giả sử tìm được mười người thì sao?” (Gen 18, 29.30.31.32).
Con số càng trở nên nhỏ hơn, càng mạc khải và cho thấy lòng nhân từ của Thiên Chúa, Đấng nhẫn nại lắng nghe lời cầu nguyện, đón nhận và đáp lại đối với mọi lời van xin:
- “Ta sẽ tha...Ta sẽ không tiêu diệt...Ta sẽ không làm” (cfr. id.).
Như vậy nhờ lời can thiệp của Abraham, Sodoma sẽ được giải thoát, nếu trong thành có được dầu chỉ muời người tốt lành vô tội thôi.
Đó là sức mạnh của lời cầu nguyện. Bởi vì qua sự can thiệp, lời cầu nguyện với Chúa để cứu giải người khác, lòng ước muốn giải thoát đối với người tội lỗi, mà Chúa vẫn nuôi trong lòng mình được thể hiện và diễn tả ra.
Thật vậy, sự dữ không thể được chấp nhận, mà phải được phát hiện và tiêu diệt qua sự trừng phạt: sự tàn phá thành Sodoma nói lên động tác đó.
Nhưng Tthiên Chúa không muốn cho kẻ bất chính phải chết đi, đúng hơn Người muốn cho anh ta hối cải và sống:
- “Chẳng lẽ Ta lại vui thích vì kẻ gian ác phải chết - sấm ngôn của Thiên Chúa là Chúa Thượng - Ta lại không muốn cho nó bỏ đường tội lỗi của nó mà được sống sao” (Ez 18, 23).
- “Ngươi hãy nói với chúng: “Ta lấy mạng sống Ta mà thề - sấm ngôn của Thiên Chúa là Chúa Thượng - Ta chẳng vui gì khi kẻ gian ác phải chết, nhưng vui khi nó thay đổi đường lối để được sống. Hãy trở lại, hãy từ bỏ đường lối xấu xa của các người mà trở lại. Sao các ngươi lại muốn chết, hỡi nhà Israel ?” (Ez 33, 11).
Lòng ước muốn của Chúa luôn luôn là tha thứ, cứu thoát, ban cho đời sống, biến đổi sự dữ thành điều thiện.
Đúng vậy, chính lòng ao ước nầy của Chúa là trong lời cầu nguyện, trở thành ước muốn của con người và được diễn ta ra bằng lời nói của sự trung gian.
Với lời van xin của mình, Abraham đang cho mượn tiếng nói của mình và tâm hồn mình, để nói lên thánh ý Chúa: lòng ao ước của Thiên Chúa là lòng nhân từ, tình yêu thương và ý chí giải thoát.
Và lòng ao ước nầy của Chúa đã gặp được nơi Abraham và trong lời cầu nguyện của ngài cơ hội để có thể diễn tả ra một cách thực tế trong lòng lịch sử con người, để hiện diện nơi đâu cần có ân sủng.
Với lời cầu nguyện, Abraham đang làm cho lòng ao ước của Thiên Chúa có được tiếng nói, không phải là tiếng nói phá nát tiêu diệt, mà là tiếng nói giải thoát Sodoma, tiếng nói ban đời sống cho người tội lỗi hối cải.
3 - Đó là điều Chúa muốn, và cuộc đối thoại của Nguời với Abraham là một sự thể hiện kéo dài và không thể sai lầm được tình yêu thương nhân hậu của Người.
Việc cần thiết tìm đươc những người công chính trong thị xã càng lúc càng trở nên ít đòi buộc hơn và sau cùng chỉ cần có mươi người để cứu được toàn dân trong đó.
Tại sao Abraham ngừng lại ở con số mười người. Bản văn không nói rõ. Có lẽ đây là con số nhân cội của một cộng đồng tối thiểu (ngay cả ngày hôm nay, mười người là số lượng phải có cho cuộc cầu nguyện công cộng Do Thái).
Dù sao cũng là một con số thật ít ỏi, một phần tử nhỏ bé của điều thiện để từ đó khởi sự cứu thoát được tội ác to lớn.
Nhưng rồi mười người công chính cũng không kiếm được ở Sadoma và Gomorra, và các thị xã bị huỷ hoại.
Một cơn huỷ hoại được minh chứng một cách nghịch thường cho thấy lời cầu nguyện trung gian của Abraham cần thiết như thế nào. Bởi vì chính lời cầu nguyện đó đã mạc khải cho chúng ta biết ý muốn cứu thoát của Thiên Chúa: Thiên Chúa sẵn sàng tha thứ, muốn tha thứ, nhưng hai thị xã vừa kể vẫn đóng kín mình trong một trạng thái bất chính hoàn toàn và tê lệt, không có được cả ít người ngay chính, để từ đó khởi đầu hoán chuyển ác thành thiện.
Bởi vì chính con đường cứu giải đó, mà chính Abraham đứng ra kêu xin: được giải thoát, không có nghĩa đơn sơ là trốn khỏi hình phạt, mà là được giải thoát khỏi sự ác đang ở nơi mình.
Không phải hình phạt là điều phải được loại bỏ, mà đúng hơn la tội lỗi, là thái độ khước từ Chúa và tình yêu, đó chính là thái độ đã mang nơi mình hình phạt.
Tiên tri Geremia sẽ nói với dân chúng bội nghịch:
- “Sự gian ác của ngươi phải sửa trị ngươi, hành vi phản bội của người sẽ trừng phạt ngươi.Ngươi phải biết, người phải thấy rằng: lìa bỏ Chúa, Thiên Chúa của ngươi không còn kính sợ Người, thì thật là xấu xa và cay đắng - sấm ngôn của Thiên Chúa các đạo binh, là Chúa Thượng” (Ger 2, 19).
Khỏi buồn phiền và cay đắng đó là điều mà Chúa muốn cứu thoát con người, bằng cách giải thoát con người khỏi tôi lỗi. Nhưng cần phải có một sự thay đổi nội tâm, một nhúm điều tốt lành nào đó, một sự khởi đầu để từ đó bắt đầu thay đổi ác thành thiện, ghen ghét thành tình thương, trả thù thành tha thứ.
Bởi đó trong thị xã cần có những người chân chính, và Abraham tiếp tục lập đi lập lại: “có lẽ chúng ta có thể tìm được...". “Ở đó”, ở trong thực trạng bị bệnh hoạn, cần phải có được mầm mống của sự thiện có khả năng chữa lành và đem lại sự sống.
Đó cũng là một lời nói, nói với chúng ta: ưóc gì trong các thị xã của chúng ta có được mầm mống sự thiện, ước gì chúng ta cố gắng làm hết sức có thể, để không phải chỉ có mười người công chính, để thực sự làm cho các thị xã của chúng ta thực sự sống và sống còn và để cứu chúng ta khỏi trạng thái cay đắng nội tâm nầy đó là sự khiếm diện của Thiên Chúa.
Trong thực trạng bệnh tật của Gomorra và Sodoma mầm móng sự thiện đó không tìm đâu ra được.
Nhưng lòng nhân từ của Thiên Chúa đối với dân Người còn được mở rộng ra hơn nữa.
Tiên tri Geremia sẽ nói cho chúng ta biết, nếu để cứu thoát Sodoma cần có mười người công chính, nhân danh Đấng Toàn Năng, chỉ cần một người công chính thôi cũng đủ để giải thoát Giêrusalem:
- “Hãy rảo quanh đường phố Giêrusalem mà xem cho biết.Trên các quảng đường thành phố ấy, hãy tìm xem có gặp được một người, một người biết thi hành luật pháp, biêt sống chân thật, Ta sẽ dung tha cho cả thành” (Ger 5, 1).
Con số còn xuống thấp hơn nữa, lòng tốt lành của Thiên Chúa càng được tỏ ra cao cả hơn. Nhưng điều đó cũng chưa đủ, lòng nhân từ dồi dào của Thiên Chúa cũng không tìm được điều mình muốn, và như vậy Giêrusalem bị ngã gục dưới sự vây hảm của kẻ địch.
Cần phải có chính Thiên Chúa trở thành người công chính đó. Đó là mầu nhiệm Nhập Thể để bảo đảm có được một người công chính. Chính Người làm cho mình trở thành con người. Người công chính từ đó luôn luôn chúng ta có được, bởi vì đó là chính Người: như vậy cần phải có Thiên Chúa trở thành người công chính đó.
Thật là vô tận và bất ngờ tình yêu của của Thiên Chúa được tỏ hiện hoàn hảo, khi Con Thiên Chúa trở thành người. Đấng Công Chính quyết định, Đấng Vô Tội hoàn hảo, Đấng sẽ đem lại cho thế gian sự cứu rỗi, bằng cách chết trên thập giá, trong khi tha thứ và can thiệp cho những người “vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23, 34).
Như vậy, lời cầu nguyện của mỗi người đều có được lời đáp ứng lại, như vậy mọi việc cầu bàu can thiệp của chúng ta đều sẽ được lắng nghe tất cả
Anh Chị Em thân mến, lời van xin của Abraham, tổ phụ chúng ta trong đức tin, dạy chúng ta hãy luôn luôn mở rộng tâm hồn mình ra hơn nữa trước lòng nhân từ sung mãn của Thiên Chúa, bởi vì trong kinh nguyện hằng ngày chúng ta hãy biết ao ước sự cứu rỗi nhân loại và van xin với lòng bền chí và tin cậy vào Chúa là Đấng Cao Cả trong tình yêu thương.
Cám ơn Anh Chi Em.
Phỏng dịch từ nguyên bản Ý ngữ: Nguyễn Học Tập.
(Thông tấn www.vatican.va (http://www.vatican.va), 18.05.2011).
admin
26-05-2011, 08:09 PM
BÀI GIÁO LÝ NGÀY THỨ TƯ (7A 20).
Công trường Thánh Phêrô, buổi yết kiến ngày thứ tư, 25.05.2011.
ĐOẠN LỊCH SỬ CỦA TỔ PHỤ GIACOB:
CẦU NGUYỆN LÀ CUỘC CHIẾN ĐẤU CỦA ĐỨC TIN VÀ CHIẾN THẮNG CỦA LÒNG BỀN CHÍ.
ĐỨC THÁNH CHA BENEDICTUS XVI
Anh Chị Em thân mến,
hôm nay tôi muốn được cùng với Anh Chị Em suy nghĩ về một bản văn của Sách Sáng Thế Ký, kể lại một giai đoạn khá đặc biệt lịch sử của Tổ Phụ Giacob.
Đoạn văn không phải dễ chú giải, nhưng quan trọng cho đời sống đức tin và cầu nguyện của chúng ta. Đó là cuộc “vật lộn” với Thiên Chúa về Yabboq, mà chúng ta vừa mới nghe một đoạn (Gen 32,23-33).
1 - Như Anh Chị Em còn nhớ, Giacob đã tước đoạt đi tước vị con trai đầu lòng đối với người anh sinh đôi của mình, bằng một dĩa canh đậu và kế đến là đã lường gạt cha là Isaac, khi Isaac đã quá già, bằng cách lợi dụng sự mù loà của ông để nhận được lời chúc lành (dành cho người con trưởng nam).
Giacob trốn thoát khỏi cơn giận của Esau, lánh nạn ở nhà một người bà con, Labbano.
Ông lập gia đình, trở nên giàu có và giờ đây đang chuẩn bị để trở về nguyên quán, sẵn sàng đối phó với người anh, sau khi đã chuẩn bị một một vài điều tiên liệu cần thiết.
Nhưng khi mọi chuyện đều sẵn sàng cho cuộc gặp gỡ nầy, sau khi đã cho các người cùng đồng hành vượt qua bờ suối phân chia lãnh địa với Esau, Giacob ở lại một mình. Thình lình bị một kẻ không quen biết tấn công, mà ông phải chiến đấu với suốt đêm. Chính cuộc chiến đấu tay đôi, một chống một đó - chúng ta đọc được trong chương 32 Sách Sáng Thế Ký - trở thành kinh nghiệm về Thiên Chúa cho Giacob.
Đêm tối là thời điểm thuận tiện để hành động lén lút, như vậy là thời điểm tốt đẹp nhứt cho Giacob, để đi vào lãnh địa của người anh, mà không bị khám phá và có lẽ cũng có thể có ảo tưởng bất ngờ bắt được Esau.
Nhưng chính Giacob lại là người bất ngờ bị một cuộc tấn công mà mình không có chuẩn bị trước.
Giacob liền dùng mưu kế để tìm cách thoát khỏi tình trạng nguy hiểm đó. Ông nghĩ rằng mọi chuyện mình đã có thể nắm trong tay, nhưng giờ đây lại phải chạm trán với một cuộc chiến đấu bí ẩn, lợi dụng lúc ông đơn độc một mình và không có cách gì có thể tổ chức một cuộc phòng thủ thoả đáng.
Bất lực, giữa đêm tối, Tổ Phụ Giacob phải chiến đấu với một ai đó.
Bản văn không nói rõ căn tính của kẻ tấn công đó là ai, chỉ dùng một cách nói Do Thái để ám chỉ “một người” một cách tổng quát, “một người, một người nào đó”, tức là một cách diễn tả phổ quát, chung chung, bất định, muốn giữ trong bí mật danh tánh kẻ tấn công.
Trời tối, Giacob không thể thấy rõ đối thủ của mình và cho cả người đọc, cả chúng ta cũng vậy, đối thủ đó vẫn là người không được biết. Một kẻ nào đó đang chiến đấu chống lại Tổ Phụ và đây là yếu tố duy nhứt chắc chắn được tác giả bản văn ghi lại.
Chỉ sau cùng, khi cuộc đấu tranh vào phần kết thúc và “người nào đó” đã biến mất, chỉ có lúc đó Giacob mới gọi tên người đó và có thể nói là mình đã vật lộn với Chúa.
Biến cố xảy ra trong đêm tối và như vậy khó lòng mà nhận thức được không những căn tính của kẻ tấn công Giacob, mà cũng khó biết được cuộc “vật lộn” biến chuyển như thế nào.
Đọc bản văn, khó mà có thể xác nhận được ai là một trong hai đối thủ đã thắng thế. Các động từ được dùng thường không có chủ từ để được xác định minh bạch, và các động tác được diễn ra cũng dường như nghịch thường. Như vậy, nhiều khi tưởng đâu là một trong hai đối thủ thắng thế, thì động tác kế đến lập tức lại chối bỏ và cho thấy người khác thắng thế.
Thật vậy lúc khởi đầu dường như Giacob là kẻ tay trên và đối phương - được bản văn kể - đối phương “không thể thắng được”, hay vì vậy, mới đánh vào khớp xương đùi làm cho Giacob bị trật xương:
- “Thấy không thắng được ông, người đó bèn đánh vào khớp xương đùi của ông, và khớp xương đùi của Giacob bị trật đang khi ông vật lộn với người đó” (Gen 32, 26).
Đến đây, thì chúng ta tưởng Giacob phải bị thua trận, nhưng người phía bên kia lại yêu cầu Giacob thôi, để cho ông ta ra đi. Nhưng vị Tổ Phụ từ chối, bằng cách đặt điều kiện:
- “Tôi không buông ông ra, nếu ông không chúc phúc cho tôi” (Gen 32,27).
Người đã dùng gian trá để lường gạt lời chúc phúc dành cho con trai đầu lòng thuộc về người anh, giờ đây kỳ vọng ở người không quen biết lời chúc phúc đó, mà mình bắt đầu nhận ra được diện mạo của Thiên Chúa, nhưng vẫn chưa được thực sự biết Người.
2 - Như vậy đối thủ, mà có vẻ như bị Giacob đánh bại, thay vì thuân thủ theo lời đòi hỏi của vị Tổ Phụ, lại hỏi tên ngài:
- “Ngươi tên là gì ?”
Và vị Tổ Phụ trả lời:
- “Giacob” (Gen 32, 28).
Ở đây cuộc chiến đấu (hay “vật lộn ") có một biến chuyển quan trọng. Bởi vì biết được tên họ của một người nào mặc nhiên hàm chứa một loại quyền năng trên con người của người đó, bởi vì tên họ trong tâm thức Thánh Kinh, chứa đựng thực thể sâu đậm nhứt của con người, nói lên bí ẩn và định mệnh của đương sự.
Như vậy biết được tên là biết được thực chất của người đó và điều đó cho phép người được biết có thể thống trị đương sự.
Như vậy, trả lời cho câu hỏi của người không quen biết, Giacob cho biết tên của mình, tức là đang đặt mình vào tay đối phương mình. Đó là một hình thức đầu hàng, uỷ thác hoàn toàn mình cho người kia.
Nhưng trong thái độ đầu hàng vừa kể, một cách nghịch thường Giacob cũng lại trở thành kẻ chiến thắng, bởi lẽ Tổ Phụ nhận đưọc một danh xưng mới, cùng với việc đối phương nhìn nhận sự chiến thắng của Giacob, bởi lẽ đương sự tuyên dương ngài:
- “Người ta sẽ không gọi tên ngươi là Giacob nữa, nhưng là Israel, vì ngươi đã đấu với Thiên Chúa và với người ta, và ngươi đã thắng” (Gen 32,29).
" Giacob” là tên gọi nhắc đến vấn đề trong quá khứ của vị Tổ Phụ, trong ngôn ngữ Do Thái, có nghĩa là “gót chân”, làm cho người đọc nhớ lại lúc Giacob được sinh ra, lúc ra khỏi dạ mẹ, Giacob nắm lấy gót chân của ngưới anh sinh đôi:
- “Sau đó, đứa em ra, nắm lấy gót chân của Esau, người ta đặt tên nó là Giacob” (Gen 25, 26),
như là một triệu chứng tiên đoán sự việc qua mặt làm cho người anh phải chịu thiệt thòi, lúc anh ta lớn lên.
Bởi đó tên Giacob cũng có nghĩa là “lường gạt, chiếm đoạt, cướp lấy”.
Giờ đây, trong cuộc chiến đấu, “vật lộn”, vị Tổ Phụ nói lên cho đối phương của mình, một động tác đầu hàng, thực thể lường gạt của chính mình, chiếm giựt của chính mình, nhưng người kia, chính là Thiên Chúa, biến đổi thực thể tiêu cực đó thành tích cực: Giacob, kẻ lường gạt trở thành Israel. Thiên Chúa đã cho ngài một danh hiệu mới, nói lên một căn tính mới.
Nhưng cũng vậy, ở đây đoạn tường thuật vẫn giữ lưỡng nghĩa mình muốn, bởi vì ý nghĩa có thể của tên Israel cũng là “Thiên Chúa mạnh mẽ, Thiên Chúa toàn thắng”.
Như vậy, Giacob là kẻ thắng thế, đã thắng - chính đối thủ của ngài đã xác định như vậy - nhưng căn tính mới của ngài nhận được từ đối thủ, xác nhận và nhân chứng sự chiến thắng của Thiên Chúa.
Và đến khi Giacob hỏi tên đối thủ của mình, đối phương từ chối không nói ra, nhưng mạc khải chính mình bằng một động tác không thể sai lầm được, bằng cách chúc phúc cho.
Lời chúc lành mà vị Tổ Phụ đã van xin lúc khởi đầu cuộc chiến, bây giờ được ban cho. Và không phải là lời chúc phúc chớp lấy được bằng lường gạt, mà là lời chúc phúc được Chúa ban tặng cho nhưng không.
Giacob có thể đón nhận được, bởi vì từ nay chỉ có một mình, không có hộ vệ, không có gian dối và lường gạt. Giacob phó thác mình bất động, chấp nhận đầu hàng và tuyên xưng sự thật về chính mình.
Như vậy sau cuộc “vật lộn”, nhận được phép lành, vị Tổ Phụ sau cùng có thể nhận ra được người phía bên kia, đó là Thiên Chúa của lời chúc phúc:
- “Thật sự, tôi đã thấy Thiên Chúa, mặt đối mặt, vậy mà mạng sống tôi vẫn còn được tha” (Gen 32, 31)
Và bây giờ ngài có thể đi qua bờ suối, mang một danh xưng mới, mà “được thắng” bởi Thiên Chúa và cũng được đánh dấu vĩnh viễn, đi khập khiểng vì vết thương đã nhận.
3 - Việc giải thích của các nhà chú giải Thánh Kinh đối với đoạn đang đề cập thật là đa diện. Một cách đặc biệt các học giả nhận biết trong đoạn có nhiều ngụ ý và các yếu tố văn chương nhiều loại khác nhau, cũng như đây là đoạn ghi lại những gì được lưu truyền trong dân chúng.
Nhưng các yếu tố đó được các tác giả quy về đàng thiêng liêng và được đặt vào bối cảnh đoạn tường thuật Thánh Kinh, các yếu tố đó thay đổi ý nghĩa và bản văn mở trương độ rộng rãi hơn.
Biến cố cuộc “vật lộn” ở Yabboq dâng hiến cho người tín hữu như là bản văn thực dụng trong đó dân tộc Israel nói về nguồn gốc của chính mình và nói lên những đường nét cá biệt tương giao giữa Thiên Chúa và con người. Bởi đó, như chính sách Giáo Lý Giáo Hôi Công Giáo xác nhận:
- “Truyền thống thiêng liêng của Giáo Hội đã nhận thấy trong đoạn tường thuật nầy biểu tượng của việc cầu nguyện như là cuộc chiến đấu của đức tin và chiến thắng của lòng bền chí” (n. 2573).
Bản văn Thánh Kinh nói cho chúng ta về cuộc tìm kiếm Thiên Chúa lâu dài trong đêm, cuộc chiến đấu để biết được tên và thấy được diện mạo Người.
Đó là đêm tối của cầu nguyện với lòng quyết định và bền chí xin Chúa chúc lành cho và một danh xưng mới, một thực thể mới, kết quả của lòng sám hối và tha thứ.
Đề tài của Giabob bên bờ suối Yabboq như vậy trở thành cho người tín hữu định chuẩn để hiểu được mối tương quan với Chúa có được trong cầu nguyện phương thức tối cao để thể hiện ra.
Câu nguyện đòi buộc phải
- có sự lòng tin cậy,
- sự gần gũi, như là thân giáp thân một cách tượng trưng, không phải với một Thiên Chúa thù địch, mà là với một Thiên Chúa chúc lành, vẫn luôn luôn bí nhiệm, dường như không thể nào đụng chạm đến được.
Bởi đó tác giả của đoạn tường thuật đã dùng biểu tượng một cuộc chiến đấu, trong đó đòi buộc phải có
- sức mạnh của tâm hồn,
- lòng bền chí, bất lay chuyển để đạt được điều mình mong ước.
Và nếu đối tượng của lòng ước muốn là mối tương quan với Thiên Chúa, sự chúc phúc của Người và tinh yêu thương của Người, thì cuộc chiến không còn có gì khác hơn là phải được kết thúc bằng thượng đỉnh
- trong việc dâng hiến chính mình cho Chúa,
- trong nhận biết sự yếu hèn của chính mình,
- đạt đến thượng đỉnh bằng cách giao phó mình vào đôi tay nhân từ của Chúa.
Anh Chị Em thân mến, cả cuộc sống của chúng ta giống như là đêm dài chiến đấu và cầu nguyện, cuộc sống mà chúng ta phải dùng trong ao ước và trong van xin lời chúc phúc của Chúa.
Lời chúc phúc đó chúng ta không thể cướp giựt hay chiến thắng dựa vào sức mạnh của chính chúng ta, mà cần phải khiêm nhường lãnh nhận từ nơi Người, như là ơn nhưng không, làm cho sau cùng chúng ta có thể nhận ra được diện mạo của Chúa.
Và khi điều đó xảy ra, cả cuộc sống chúng ta thay đổi, chúng ta nhận được một danh xưng mới và lời chúc phúc của Chúa.
Còn hơn nữa, Giacob, nhân được danh xưng mới, trở thành Israel, ngài cũng đổi tên mới cho địa danh nơi mình “vật lộn” với Chúa, đã cầu nguyện với Chúa. Ngài gọi nơi đó là Panuel, có nghĩa là “Dung Nhan của Chúa”.
Với danh xưng đó, ngài nhận biết nơi đó đầy sự hiện diện của Chúa, làm cho địa danh đó trở nên thiêng thánh, như để đặt lên đó kỷ niệm cuộc gặp gỡ huyền bí với Chúa.
Ai để mình được Chúa chúc phúc cho, giao phó mình cho Người, để cho Người thay đổi mình, là làm cho thế giới được chúc phúc.
Xin Chúa giúp chúng ta chiến đấu một trận chiến tốt lành cho đức tin,
- “Anh hãy đi đầu trong cuộc thi đấu về đức tin, giành cho được sự sống đời đời; chính vì sự sống đời đời ấy, anh đã được Thiên Chúa kêu gọi và anh đã nói lên lời tuyên xưng cao đep trước mặt nhiều nhân chứng” (1 Tm 6, 12).
- “Tôi đã đấu trong cuộc thi đấu cao đẹp, đã chạy hết chặng đường, đã gìữ vững đức tin” (2 Tm 4, 7),
và trong lời cầu nguyện của chúng ta, chúng ta hãy xin ơn chúc lành của Người, xin người đổi mới chúng ta trong khi chờ đợi được thấy dung nhan Người.
Phỏng dịch từ nguyên bản Ý ngữ: Nguyễn Học Tập.
(Thông tấn www.vatican.va, 25.05.2011).
admin
02-06-2011, 10:05 PM
BÀI GIÁO LÝ NGÀY THỨ TƯ (7A 21)
Công trường Thánh Phêrô, buổi yết kiến ngày thứ tư, 01.06.2011.
LỜI CẦU NGUYỆN TRUNG GIAN CỦA MÔISEN
Anh Chị Em thân mến,
đọc Cựu Ước, một khuôn mặt nổi bật giữa các khuôn mặt khác, đó là khuôn mặt của Môisen, nổi bật như là con người cầu nguyện.
Môisen, vị đại ngôn sứ và người lãnh đạo của thời Xuất Hành, đã hành xử phận vụ trung gian của mình giữa Thiên Chúa và Israel, bằng cách làm cho mình trở thành phát ngôn viên các lời và giới răn của Chúa với dân chúng, hướng dẫn họ đến tự do của miền Đất Hứa. Ngài dạy họ sống trong vâng lời và tin cậy vào Chúa trong thời lữ hành lâu dài trong sa mạc, nhưng theo tôi nghĩ, nhứt là cũng bằng cách dạy họ cầu nguyện. Môisen
- cầu nguyện cho vua Pharaon, khi Thiên Chúa, bằng các án phạt gây thương tích lở lói, đang có ý muốn hoán cải tâm hồn dân Ai Cập (Ex 8-10);
- xin Chúa chữa cho người chị Maria khỏi bệnh phong hủi (Nm 12, 9 - 13);
- can thiệp cho dân chúng, khi họ phản loạn, hoảng sợ, khi được nghe những gì các thám thính viên kể lại (Nm 14, 1- 19);
- cầu nguyện khi lửa sắp cháy lan đến, thiêu huỷ nơi dân đang cấm trại (Nm 11, 1-2);
- cầu nguyện, khi rắn độc giết hại hàng loạt dân chúng (Nm 21, 4-9);
- thưa lại với Chúa và phản đối, khi cảm nhận được sứ mạng trở thành quá nặng nề cho mình (Nm 11, 10-15);
- thấy được Chúa và nói chuyện với Người, “mặt giáp mặt ", như mình đang nói chuyện với một người bạn thân (Ex 24, 9-17; 33,7-23; 34, 1-10.28-35).
1 - Ngay cả khi dân chúng, ở núi Sinai, xin ông Aaron đúc con bò vàng, Môisen cầu nguyện, bằng cách tỏ ra cho thấy một cách tuyệt với phận vụ trung gian của chính mình.
Biến cố được thuật lại ở chương 32 Sách Xuất Hành và cũng được Sách Đệ Nhị Luật, chương 9 tường thuật lại song song.
Và về biến cố nầy tôi muốn được dừng lại suy tư trong bài giáo lý hôm nay, và nhứt là về lời cầu nguyện của Môisen, mà chúng ta gặp được trong Sách Xuất Hành.
Dân Do Thái lúc đó đang ở dưới chân núi Sinai, trong khi Môisen ở trên núi, đang đợi Chúa ban cho bia đá Lề Luật. Ngài ăn chay bốn mươi đêm ngày liên tiếp (Ex 24, 18; Dt 9, 9). Con số bốn mươi có giá trị biểu tượng và nói cho biết có đuợc kinh nghiệm hoàn toàn; trong khi đó thì ăn chay cho thấy rằng đời sống từ Thiên Chúa mà đến, chính Chúa nâng đỡ ngài. Thật vậy, động tác ăn uống mặc nhiên hàm chứa động tác đón nhận lấy lương thực để nâng đỡ chúng ta; bởi đó, ăn chay, bằng cách khước từ thức ăn, trong trường hợp nầy, ám chí một ý nghĩa tôn giáo. Đó là để nói lên con người không phải chỉ sống nhờ bánh, mà còn nhờ những lời từ miệng Chúa phán ra (Dt 8, 3).
Ăn chay, Môisen muốn cho thấy ngài đang đợi ơn Lề Luật được Chúa ban cho, như là nguồn mạch của sự sống. Lề Luật nói lên ý muốn của Chúa và nuôi dưỡng tâm hồn con người, làm cho con người hội nhập vào giáo ước với Đấng Tối Cao, nguồn mạch sự sống, chính là sự sống.
Nhưng trên núi, đang lúc Thiên Chúa ban Lề Luật cho Môisen, thì ở dưới chân núi dân chúng vi phạm Lề Luật đó. Không có khả năng chờ đợi và trong lúc vị trung gian vắng mặt, dân chúng Do Thái xin ông Aaron:
- “xin ông làm cho chúng tôi một vị thần để dẫn đầu chúng tôi, vì chúng tôi không biết chuyện gì xảy ra cho ông Môisen nầy, là người đưa chúng tôi lên từ đất Ai Cập” (Ex 32, 1).
Mỏi mệt trên một cn đường với một Thiên Chúa vô hình, giờ đây ông Môisen, người trung gian, cũng mất dạng, dân chúng xin cho có được một sự hiện diện của Thiên Chúa có thể động chạm đến được. Và họ đã cảm nhận được nơi con bò được Aaron đúc bằng kim loại nóng chảy, môt vị chúa có thể đến gần được, điều khiển được, vừa với tầm mức con người.
Đó là mối cám dỗ lôn luôn hiện diện trong cuộc hành trình đức tin: tránh né Thiên Chúa bí nhiệm bằng cách cấu tạo nên một vị chúa có thể hiểu biết được, thích hợp với lược đồ của chính mình, với dự án của mình.
Những gì xảy ra ở Sinai cho thấy cả sự điên rồ và khoe khoang ảo tưỏng của yêu sách đó, như những gì Thánh Vịnh 106 cho thấy:
- “Họ đổi Chúa vinh quang lấy hình bò ăn cỏ” (Ps 106, 20).
Bởi đó Thiên Chúa phản ứng và ra lệnh cho Môisen xuống núi, bằng cách cho Môisen biết những gì dân chúng đang làm, ra lệnh cho ngài và kết thúc bằng những lời nầy:
- “Bây giờ cứ để mặc Ta, cứ để cơn thịnh nộ của Ta bừng lên phạt chúng và Ta sẽ tiêu diệt chúng. Nhưng Ta sẽ làm cho ngươi thành một dân lớn” (Ex 32, 10).
Như những gì đối với Abraham về thị trấn Sodoma và Gomorra, giờ đây Thiên Chúa mạc khải cho Môisen biết điều Người có ý định làm, như thể là Người không muốn ra tay tác động, mà không có sự đồng thuận của Môisen (Am 3, 7). Người phán
- “Hãy để cho cơn giận của Ta bừng cháy lên ! ".
Trên thực tế, câu “hãy đế cho cơn giận Ta bừng cháy lên” nầy là câu được nói ra để cho Môisen can thiệp và van xin Người đừng làm như vậy.
Bằng cách đó Thiên Chúa tỏ ra cho biết lòng ước muốn của Người luôn luôn là cứu độ.
Như đối với hai thị trấn thời Abraham, hình phạt và sư huỷ diệt, trong đó cơn giận của Chúa được tỏ ra như là điều khước từ sự dữ, bằng cách cho thấy tình trạng nặng nề của tội lỗi đã vấp phạm, cũng vậy, lời van xin cua vị trung gian can thiệp được hiểu cho thây ý muốn tha thứ của Thiên Chúa.
Đó là ơn cứu độ của Thiên Chúa, van xin lòng nhân từ của Chúa, nhưng đồng thời cũng tố cáo cho biết sự thật của tội lỗi, của sự ác đang hiện diện.
Như vậy, môt khi người lỗi phạm nhận thức được và khước từ điều ác của mình, có thể để cho mình được tha thứ và được Chúa hoán chuyển.
Lời cầu nguyện can thiệp trung gian, trong thực tại hư nát của con người lỗi phạm, khiến cho lòng nhân từ của Chúa tác động có được tiếng nói trong lời van xin của người cầu nguyện và được thể hiện qua người trung gian nơi đâu cần được cứu độ.
2 - Lời van xin của Môisen được đặt tất cả trọng tâm vào lòng trung thành và ơn ban của Chúa.
Môisen đề cập trước tiên đến lịch sử cứu độ mà Thiên Chúa đã khởi đầu với việc dân Do Thái ra khỏi Ai Cập, để kế đến là nhắc lại lòi hứa Chúa đã hứa với các Tổ Phụ.
Chúa đã hành động cứu thoát, bằng cách giải thoát dân Người khỏi ách nô lệ Ai Cập, như vậy thì tại sao - Môisen hỏi Chúa
- “Dân Ai Cập lại phải nói : “Chính vì ác tâm mà Người đã đưa chúng ta, để giết chúng trong miền núi và tiêu diệt chúng khỏi mặt đất ?” (Ex 32, 12).
Công trình cứu độ đã được khởi sự, cần phải được hoàn tất. Nếu Thiên Chúa làm cho dân Người bị tiêu diệt, điều đó có thể được giải thích như là dấu chứng bất lực của Thiên Chúa làm cho hoàn tất đồ án cứu độ. Chúa không thể cho phép điều đó xảy ra. Chúa là Thiên Chúa tốt lành giải thoát, Đấng bảo đảm cho đời sống, là Thiên Chúa nhân lành và tha thứ, cho cuộc giải thoát khỏi tội lỗi sát hại giết chết.
Và như vậy, Môisen kêu xin lên Thiên Chúa, kêu xin đến đời sống nội tại của Thiên Chúa chống lại lời tuyên án bên ngoài.
Môisen lý luận với Chúa, nếu những người được Chúa chọn bị tiêu diệt đi, mặc dầu cho họ có tội đi nữa, Thiên Chúa có thể được coi như là Đấng không có khả năng thắng nổi tội lỗi.
Và đó là điều không thể chấp nhận được !
Môisen đã có kinh nghiệm thiết thực Thiên Chúa là Đấng cứu độ, ông được sai đi như là người trung gian của cuộc Thiên Chúa giải phóng. Và giờ đây với lời cầu nguyện, Môisen nói lên hai mối lo âu của mình,
- lo âu cho số phận của dân chúng mình,
- nhưng đồng thời cũng lo âu cho vinh dự mà Thiên Chúa phải có, vì chân lý đối với tên của Người.
Thật vậy vị can thiệp trung gian muốn cho dận Israel được sống còn, bởi vì là đàn chiên đã được uỷ thác cho mình, nhưng cũng vì trong sự giải thoát đó nói lên thực thể của Thiên Chúa.
Tình yêu thương đối với anh em và tình yêu thương đối với Chúa hội nhập đươn kết trong lời cầu nguyện can thiệp trung gian, không thể tách rời nhau được.
Môisen là người can thiệp trung gian, là người bị căng thẳng giữa hai tình yêu, mà trong lời cầu nguyện được chồng chất lên nhau thành một lòng ao ước tốt lành duy nhứt.
3 - Kế đến, Môisen kêu gọi lòng thành tín của Thiên Chúa, bằng cách nhắc lại cho Người các lời hứa của Người:
- “Xin Chúa nhớ đến các tôi tớ Ngài là Abraham, Isaac và Israel; Ngài đã lấy chính danh Ngài mà thề với các vị ấy rằng: Ta sẽ làm cho dòng dõi các ngươi đông đức như sao trên trời, và sẽ ban cho dòng dõi các ngươi tất cả miền đất ấy, là miền đất Ta đã hứa; chúng sẽ được thừa hưởng miền đất ấy đến muôn đời” (Ex 32, 13).
Môisen nhắc lại lịch sử nền tảng lúc khởi đầu, lịch sử các Tổ Phụ của dân tộc và đến sự kiện họ được tuyển chọn, hoàn toàn nhưng không, trong đó chỉ có một mình Chúa là Đấng có sáng kiến.
Không phải vì họ có công trạng gì, dân chúng đã nhận được lời hứa, nhưng là lời hứa do lòng tự do lựa chọn của Chúa và của tình yêu thương của Người (Dt 10, 15).
Và giờ đây, Môisen xin Chúa tiếp tục trung thành trong lịch sử tuyển chọn và giải thoát của Người, bằng cách tha thứ cho dân Người. Vị can thiệp trung gian không biện hộ cho tội lỗi của dân chúng, không liệt kê ra các công trạng của dân cũng như của mình, mà chỉ kêu gọi lòng rộng lương ban nhưng không của Thiên Chúa.
Chúa là một Thiên Chúa tự do, hoàn toàn là tình yêu, không ngừng tìm kiếm những ai tách rời khỏi Người. Người luôn luôn trung thành với mình và hiến tặng cho ngưòi tội lỗi có cơ hội để trở về với Người và với lòng tha thứ, người đó sẽ trở nên công chính và và có khả năng trở thành thành tín.
Môisen cũng xin Chúa hãy tỏ ra mình mạnh hơn cả tội lỗi và sụ chết, và với lời cầu nguyện của ngài, Môisen tạo nên sự mạc khải đó của Chúa.
Can thiệp cho sự sống, vị trung gian liên đới với dân chúng, đang ao ước được cứu độ như chính Thiên Chúa muốn, Môisen từ chối viễn ảnh trở thành một dân mới đẹp lòng Chúa. Câu nói mà Chúa đã nói với Môisen:" về phần ngươi, Ta sẽ làm cho ngươi trở thành một dân lớn ", người bạn của Chúa không màng đến. Trái lại Môisen sẵn sàng nhận lấy nơi mình không những tội lỗi của dân chúng mình, mà cả các hậu quả của những tội lỗi đó.
Bởi đó, sau khi đã phá huỷ con bò vàng, Môisen trở lên ngọn núi để một lần nữa xin cho Israel đưọc cứu tthoát, ngài nói với Chúa:
- “Giờ đây, ước gì Ngài miễn chấp tội họ ! Bằng không xin Ngài xoá tên con ra khỏi quyển sách Ngài đã viết” (Ex 32, 32).
Với lời cầu nguyện, bằng cách ao ước điều Chúa ao ước, vị can thiệp trung gian luôn luôn đi vào hiểu biết sâu xa hơn về Thiên Chúa và về lòng nhân từ của Người, trở thành có khả năng của một tình yêu đến mức tận hiến hoàn toàn chính mình.
Nơi Môisen, đang ở trên núi, mặt đối mặt với Chúa và làm rung gian cho dân ngài, dâng hiến chính cả mình, “xin xoá bỏ tên con ", các Giáo phụ nhận ra đó là tiền hình ảnh của Chúa Kitô, Đấng ở trên cao ngọn thập giá, thực sự trước Thiên Chúa, không phải như là một người bạn, mà là người Con. Và không những Người dâng hiến chính mình, “xin xoá tên con ", mà với trái tim bị đâm thâu, làm cho mình bị xoá đi, Người trở thành, nói như Thánh Phaolồ, tội lỗi, “mang lấy nơi mình” tội lỗi của chúng ta để làm cho chúng ta được cứu độ.
Sự trung gian của Chúa Giêsu không phải chỉ là liên đới, mà còn trở thành đồng nhứt với chúng ta, mang lấy tất cả chúng ta trong thân thể Người.
Và như vậy, cả cuộc sống con người và Chúa Con của Người là tiếng kêu van lên nơi trái tim Thiên Chúa, là sự tha thứ, là sự tha thứ hoán cải và canh tân.
Tôi nghĩ rằng chúng ta phải suy nghĩ về thực thế vừa kể.
Chúa Kitô đang ở trước mặt Thiên Chúa và cầu nguyện cho tôi. Lời cầu nguyện của Người đồng thời cho tất cả, đồng thời cho cả cho tôi. Người cầu nguyện cho tôi, đã chịu đau khổ và đang chịu đau khổ cho tôi, đồng hoá với tôi bằng cách nhận lấy thể xác và linh hồn nhân loại. Và Người kêu gọi chúng ta hãy hội nhập vào thực thể của Người, làm cho chúng ta trở thành một thân thể và một linh hồn với Người, bởi vì trên ngọn Thánh Giá không phải Người đã mang lấy các lề luật mới, bia đá, mà đã mang lấy chính con người của Người, thân thể và máu Người, như là giao ước mới.
Như vậy Người làm cho chúng ta trở thành đồng máu mủ với Người, thành một thân thể với Người, đồng nhứt với Người.
Người mời gọi chúng ta hãy hội nhập vào trạng thái đồng nhứt đó, hiệp nhứt với Người trong mong ước của chúng ta trở thành một thân thể, một tâm hồn duy nhứt với Người.
Chúng ta hãy cầu nguyện để cho sự đồng nhứt đó biến đổi chúng ta, canh tân chúng ta, bởi vì tha thứ là canh tân, là hoán cải.
Tôi muốn được kết thúc buổi giáo lý hôm nay bằng lời của thánh Phaolồ nói với các tín hữu Roma:
- "Ai sẽ buộc tội những người Thiên Chúa đã chọn? Chẳng lẽ Thiên Chúa, Đấng làm cho nên công chính? Ai sẽ kết án họ? Chẳng lẽ Chúa Giêsu Kitô, Đấng đã chết, hơn nữa, đã sống lại, và đang ngự bên hữu Thiên Chúa mà chuyển cầu cho chúng ta? Ai có thể tách chúng ta ra khỏi tình yêu của Chúa Kitô? (...) cho dầu là sự chết hay sự sống, thiên thần hay ma vương quỷ lực (...) hay bất cứ một loài thọ tạo nào khác, không có gì tách đuợc chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa thể hiện nơi Chúa Kitô Giêsu, Chúa chúng ta" (Rm 8, 33-35.38-39).
Phỏng dịch từ nguyên bản Ý ngữ: Nguyễn Học Tập.
(Thông tấn www.vatican.va (http://www.vatican.va), 01.06.2011).
admin
16-06-2011, 09:24 PM
BÀI GIÁO LÝ NGÀY THỨ TƯ (7A 23)
Công trường Thánh Phêrô, buổi yết kiến ngày thứ tư, 15.06.2011.
LỜI CẦU NGUYỆN CỦA TIÊN TRI ELIA
Anh Chị Em thân mến,
trong lịch sử dân Do Thái thời cổ, các tiên tri đã có ảnh hưởng quan trọng với lời giảng dạy và cầu khẩn của mình.
Giữa các vị đó, nổi bật lên diện mạo của Elia, được Chúa kêu gọi để hướng dẫn dân chúng đến sám hối.
Tên của Elia có nghĩa là “Chúa là Thiên Chúa của tôi” và cùng với ý nghĩa đó là những gì Elia đã thực hiện hoán cải trong cuộc sống của mình; cả cuộc sống đều được dâng hiến để thúc đẩy dân chúng nhận biết Chúa là Thiên Chúa duy nhứt .
Về Elia sách Huấn Ca (Siracide) viết:
- “Rồi ông Elia xuất hiện, ông là vị ngôn sứ chẳng khác nào ngọn lửa, lời của ông tựa đuốc cháy bừng bừng” (Sir 48, 1).
Với ngọn lửa đó, Israel tìm lại được con đường của mình hướng về Chúa.
Trong phận vụ của mình, tiên tri Elia cầu nguyện với Chúa, xin Người cho con bà goá, đã cho mình trú ngụ, được sống lại (cfr. 1 Re 17, 17-23).
Elia lớn tiếng kêu lên Chúa về nỗi mệt nhọc và âu lo của mình, trong khi ngài đang lẩn trốn trong sa mạc, bởi vì nữ hoàng Gezabele đang tìm kiếm giết ngài (cfr. 1 Re 19, 1-4).
Nhưng nhứt là trên núi Carmelo nói lên cho chúng ta thấy tất cả mãnh lực lời cầu nguyện can thiệp của ngài, khi đứng trước toàn dân Israel, ngài nguyện cầu lên Chúa xin Chúa tỏ mình ra và hoán cải tâm hồn dân chúng. mà hôm nay chúng ta muốn dừng lại
Đó là biến cố được tường thuật lại trong chương 18 sách các Vua quyển I, mà hôm nay chúng ta muốn được dừng lại để suy niệm.
1 - Chúng ta đang ở trong vương quốc phía Bắc, thế kỷ IX trước Thiên Chúa Giáng Sinh, thời vua Acab, trong một khoảng thời gian đang xảy ra tình trạng tổng hợp thần linh (sincretismo).
Bên cạnh Chúa, dân chúng còn thờ cả thần Baal, thần tượng mà họ tin tưởng là sẽ ban cho ơn mưa móc và từ đó họ cũng cho là vị thần có quyền làm cho ruộng đất trở nên phì nhiêu và có quyền ban đời sống cho con người và súc vật.
Mặc dầu họ vẫn có ý theo Chúa, Thiên Chúa vô hình và bí nhiệm, dân chúng cũng tìm kiếm sự an toàn trong một vị thần có thể hiểu được và tiên đoán trước được, mà từ vị thần đó họ kỳ vọng là sẽ có được dồi dào sung mãn bằng cách dâng lễ vật.
Israel đang nhường bước cho việc tôn thờ thần tượng, đó cũng là cơn cám dỗ vẫn tiếp diễn nơi người tín hữu, bằng cách tin tưởng rằng mình có thể “làm tôi hai chủ” (cfr. Mt 6, 24; Lc 16, 13). Và như vậy có thể có được những bước đi dễ dàng hơn, trên các nẻo đường đầy thử thách của đức tin vào Đấng Toàn Năng, bằng cách đặt lòng tin tưởng của mình vào một vị thần bất lực, do con người tạo nên.
Chính để lột mặt nạ của thái độ điên khùng, lường gạt đó mà tiên tri Elia đã cho quy tựu dân chúng Isarel trên núi Carmelo và đặt họ trước việc phải lựa chọn:
- “Nếu Chúa là Thiên Chúa, hãy theo Người; còn nếu là Baal thì cứ theo nó !” (1 Re 18, 21).
Và vị tiên tri, người mang đến cho dân tình yêu của Chúa, không để cho dân mình trơ trọi một mình trước việc phải lựa chọn đó, ngài giúp đỡ dân bằng cách chỉ cho dân dấu chứng mạc khải sự thật. Bởi đó Elia cũng như các môn đồ của Baal đều tổ chức một buổi tế lễ và cầu nguyện. Và Vị Chúa thật sẽ tỏ mình ra bằng ngọn lửa thiêu đốt của lễ hiến tế.
Cuộc đối đầu giữa tiên tri Elia và các môn đồ của Baal được bắt đầu như vậy, mà trên thực tế là cuộc đọ sức giữa Chúa của Israel, Thiên Chúa của sự giải thoát và đời sống và thần tượng câm nín, không có gì đáng kể, không làm được gì, điều tốt lành cũng như điều dữ (cfr. Ger 10, 5)..
Đó cũng là cuộc khởi đầu đọ sức giữa hai thái độ hoàn toàn khác nhau để hướng về Chúa và cầu nguyện.
Thật vậy, các môn đồ tiên tri của thần Baal la hét, náo động, nhảy múa, quay cuồng, đi vào một trạng thái mê hồn đến nỗi gây thương tích, ấn vết sẹo lên mình:
-”...họ dùng gươm giáo rạch mình đến chảy máu” (1 Re 18, 28).
Họ chỉ cậy vào sức mình để kêu gọi vị thần của mình, uỷ thác cho chính khả năng mình để đánh động sự trả lời đáp ứng.
Như vậy chúng ta thấy rõ được tính cách lường gạt của vị thần: vị thần đó được con người nghĩ ra như là một cái gì đó mà con người có thể xếp đặt, quản trị bằng chính sức mạnh của mình. Đó là vị thần mà con người có thể đạt đến được khởi đầu từ chính do con người và sức sống của con người.
Việc thờ phượng thần tượng
- thay vì mở rộng tâm hồn của mình đến Đấng Cao Cả, đến một mối tương quan giải thoát, cho phép con người có thể ra khỏi khoảng không gian hạn hẹp ích kỷ của mình, để đến được chiều kích yêu thương và ban tặng cho nhau,
- thì lại làm cho con người bị đóng kín trong vòng độc đoán và thất vọng trong động tác tìm kiếm thực thể đích thực của mình.
Sự lường gạt đó trở thành to lớn đến nỗi, trong khi thờ phượng thần tượng, con người bị bó buộc phải dùng đến những động tác tối đa, trong toan tính ảo tưởng bắt buộc thần tượng phải chiều theo ý mình.
Bởi đó các tiên tri môn đồ của Baal không ngần ngại đến độ làm hại mình, tạo ra các vết thương trên thân thể.
Thật là một động tác thảm đạm đáng buồn cười. Để có được một lời đáp ứng, một dấu chứng đời sống từ thần tượng mình, họ lại làm cho thân thể mình vấy máu, bao trùm sự chết lên mình một cách tượng trưng.
2 - Cách cầu nguyện của tiên tri Elia hoàn toàn khác hẵn.
Ngài kêu gọi dân chúng đến gần, như vậy là để cho họ cũng góp phần tham dự vào động tác và lời van xin của ngài.
Mục đích của cuộc thách thức mà Elia đưa ra cho các môn đồ của Baal đó là đem dân chúng đang tản lạc theo thần tượng trở về với Chúa. Bởi đó ngài muốn dân chúng Israel cùng hiệp nhứt với ngài, trở thành là những người cùng tham dự và là những nhân vật chính trong lời cầu nguyện của ngài và đó là những gì đang xảy ra.
Kế đến vị tiên tri xây dựng lên một bàn thờ, bằng cách dùng, như là những gì văn mạch ghi lại:
-”...mười hai phiến đá, theo số các chi tộc con cháu Giacob, người đã được Chúa phán bảo rằng: “Tên ngươi sẽ là Israel” (1 Re 18, 31).
Các tảng đá đó tượng trưng cho cả dân tộc Israel và là ký ức rõ ràng cho lịch sử của dân được tuyển chọn, được yêu chuộng hơn và của sự giải thoát mà dân chúng Israel đã là đối tượng.
Động tác phụng tự của tiên tri Elia có tầm mức quyết định: bàn thờ là nơi thánh nói lên sự hiện diện của Chúa, và giờ đây nhờ trung gian của vị tiên tri, bàn thờ được biểu thị là đang được đặt trước mặt Chúa, trở thành “bàn thờ”, nơi để dâng lên và hiến tế.
Nhưng biểu tượng cần phải trở nên thực thể, đó là Israel phải nhận ra được Thiên Chúa đích thực và tìm lại được căn tính của mình là dân của Chúa.
Bởi đó Elia xin Chúa hãy tỏ mình ra, và mười hai tảng đá đó phải làm cho Israel nhớ lại sự thật của mình, cũng được dùng để nhắc cho Chúa nhớ lại lòng trung thành của Người, mà vị tiên tri đã nói đến trong lời cầu nguyện của ngài.
Các lời cầu nguyện của Elia thật súc tích ý nghĩa và đầy đức tin:
- “Lạy Chúa, Thiên Chúa của Abraham, Isaac và Israel ! Ước chi hôm nay trong Israel người ta biết rằng Ngài là Thiên Chúa và con là tôi tá Ngài. Cũng vì lời Ngài phán mà con đã làm tất cả các việc nầy. Xin đáp lời con, lạy Chúa, xin đáp lời con, để dân nầy nhận biết Ngài là Chúa, Thiên Chúa thật, và Ngài đã khiến họ thay lòng đổi dạ” (1 Re 18,36-37); (cfr. 2, 36-37).
Elia thưa với Chúa, bằng cách gọi Người là Chúa các Tổ Phụ, nhắc lại một cách mặc nhiên những lời Chúa hứa và lịch sử của dân được tuyển chọn và giao ước, là những gì kết hợp không thể nào chia tách được Chúa với dân Người.
Việc Chúa can dự vào lịch sử con người đến nỗi từ nay danh tánh của Người được liên kết không thể nào phân chia được đối với danh tánh các Tổ Phụ.
Và vị tiên tri thốt lên Thánh Danh đó để Chúanhớ lại và tỏ ra mình vẫn trung thành. nhưng cũng để cho Israel cảm nhận được Chúa gọi mình bằng tên và mình tìm lại được lòng trung thành của mình với Người.
Danh Thánh được Elia thốt lên làm cho chúng ta hơi bất ngờ. Đó là thay vì dùng thể thức xưng hô quen thuộc:
- “Chúa của Abraham, của Isaac và của Giacob”,
ngài lại dùng cách xưng hô không mấy quen thuộc:
- “Chúa của Abraham, của Isaac và của Israel”.
Việc thay tên “Giacob” bằng “Israel” nhắc lại cuộc vật lộn của Giacob trên khúc sông Yabboq cùng với việc đổi tên mà nhà tường thuật đã ghi lại rõ:
- “Ông Giacob đặt tên cho nơi đó là Penuel, “vì - ông nói - tôi đã thấy Thiên Chúa mặt đối mặt, mà tôi đã được tha mạng” 8 Gen 32, 31),
và [liên quan đến biến cố đó, tôi đã đề cập đến ở một trong những bài giáo lý vừa qua.]
Sự thay đổi đó có một ý nghĩa quan trọng trong lời van xin của tiên tri Elia. Vị tiên tri đang cầu nguyện cho vương quốc phía Bắc, mà trước kia được gọi là Israel, khác với Giuđa là vương quốc phía Nam. Nhưng giờ đây dường như dân chúng quên đi danh tánh căn nguyên của mình và mối tương quan đặc sủng với Chúa, cầu nguyện như vậy, “Israel” , khiến cho dân chúng lại được nghe đến danh tánh của mình trong khi được nghe tuyên xưng danh Chúa, Chúa là Thiên Chúa của Tổ Phụ và là Thiên Chúa của dân:
- “Lạy Chúa (...) Israel, hôm nay xin Chúa hãy biết rằng Chúa là Thiên Chúa Israel”.
3 - Dân chúng mà tiên tri Elia cầu nguyện cho đã được đặt trở lại trước sự thật của mình, và vị tiên tri cũng xin sự thật của Chúa cũng được thể hiện ra.
Ngài xin Chúa can thiệp để hoán cải Israel, tước bỏ họ khỏi sự lường gạt của thần tượng và như vậy đưa họ đến sự giải thoát.
Lời van xin của ngài là kết quả dân chúng phải được biết rõ ràng ai là Thiên Chúa của mình, và để họ có được sự lựa chọn quyết định đi theo một mình Người, là Thiên Chúa thật.
Chỉ có như vậy, Thiên Chúa mới được nhận biết thực thể của Người là gì, là Đấng Tuyệt Đối và Tối Cao, không ai có thể đặt Người bên cạnh những thần tượng khác. Làm như vậy, là hành động chối bỏ Người là Đấng Tuyệt Đối, bằng cách tương đối hoá Người.
Đó là đức tin làm cho dân Israel là dân của Chúa, đó là đức tin đã được tuyên bố trong văn bản Shema' Israel:
- “Nghe đây, hỡi Israel ! Chúa, Thiên Chúa của chúng ta là Chúa duy nhứt. Hãy yêu mến Chúa, Thiên Chúa của anh em, hết lòng hết dạ, hết sức anh em” (Dt 6, 4-5).
Trước đặc tính tuyệt đối của Thiên Chúa, người tín hữu phải đáp ứng lại bằng tình yêu tuyệt đối, hoàn toàn, đòi buộc dấn thân cả mạng sống, hết sức lực của mình, cả trái tim mình.
Chính đối với con tim của dân mình mà vị tiên tri, với lời cầu nguyện của mình, đang van xin cho họ được hoán cải:
- “Lạy Chúa, xin Chúa đáp lời con, xin Chúa đáp lời con, để dân nầy nhận biết Ngài là Chúa, Thiên Chúa thật, và Ngài đã khiến họ thay lòng đổi dạ” (1 Re 18, 37).
Elia với động tác trung gian của mình, xin Chúa điều mà chính Chúa muốn, đó là tỏ Người ra với tất cả lòng nhân từ của Người, trung thực với chính thực thể của mình là Chúa của sự sống, Đấng tha thứ, hoán cải và thay đổi.
Và đó là điều xảy ra:
- “Bấy giờ lửa của Chúa ập xuống, thiêu rụi của lễ, củi, đá và bụi, cả nước trong mương cũng hút cạn luôn. Toàn dân thấy vậy liền phủ phục sát đất và nói: “Chúa quả là Thiên Chúa ! Chúa quả là Thiên Chúa !” (1 Re 18, 38-39).
Lửa, đây là yếu tố quan trọng và kinh khủng, có lên hệ với những lần Thiên Chúa tỏ mình ra trong bụi gai đang rực lửa và những lần trên núi Sinai. Giờ đây đươc dùng để tỏ ra tình yêu của Thiên Chúa đáp lại lời cầu nguyện và để tỏ mình ra với dân Người.
Baal, thần câm nính và bất lực, không đáp ứng lại lời van nài của các tiên tri của hắn. Trái lại Thiên Chúa đáp ứng lại và với một cách không thể sai lầm được, đó là không những thiêu rụi của lễ, mà còn hút cạn cả nước, mà trước đó đã được đổ ra chung quanh bàn thờ.
Israel không còn có thể nghi ngờ nữa được; lòng nhân ái của Chúa đã đến gặp sự yếu hèn của họ, các nỗi nghi ngờ, lòng thiếu đức tin của họ.
Giờ đây Baal, thần tượng vô ích, đã bị thắng, và dân chúng, mà trước kia có vẻ đã mất định hướng, đã tìm lại được con đường chân lý và tìm lại được chính mình.
Anh Chị Em thân mến, dòng lịch sử đã qua đó nói lên cho chúng ta những gì ? Hiện tại của lịch sử đó là gì?
a) Trước tiên đó là vấn đề ưu tiên của điều răn thứ nhứt: thờ phượng một mình Thiên Chúa.
Ở đâu Thiên Chúa biến mất đi, ở đó con người rơi vào vòng nô lệ của thần tượng,
- như những gì đã cho thấy trong thời đại chúng ta, đó là những thể chế độc tài toàn trị;
- như những gì đã chứng minh cho thấy nhiều hình thức khác nhau của hư vô chủ nghĩa làm cho con người lệ thuộc vào thần tượng , biến con người thành nô lệ.
b) Kế đến, mục đích trước tiên của lời cầu nguyện là sự hối cải: lửa của Chúa hoán cải con tim chúng ta và làm cho có khả năng thấy được Chúa và như vậy sống như ý Chúa muốn và cho người khác.
c) Điều thứ ba, đó là các Giáo Phụ nói cho chúng ta biết rằng đoạn lịch sử vừa kể của một vị tiên tri là đoạn lịch sử tiên tri, nếu - các Vị nói - đây là hình bóng của tương lai, của tương lai Chúa Kitô, thì đó là một bước đi trong con đường hướng về Chúa Kitô.
Các Vị nói cho chúng a rằng ở đây chúng ta thấy được ngọn lửa thật của Chúa, tình yêu hướng dẫn Chúa Kitô cho đến thập giá, đến việc hiến tặng tất cả Người cho chúng ta.
Như vậy, thờ phượng Thiên Chúa đích thực, đó là hiến dâng chính mình cho Chúa và cho người khác.
Chắc chắn, lửa của Chúa, lửa tình yêu nóng cháy, chuyển hoá, thanh tẩy, nhưng chính vì như vậy mà không thiêu huỷ, trái lại đúng hơn là tạo nên chân lý của thực thể chúng ta, tái tạo lại con tim chúng ta.
Và như vậy, sống nhờ ơn lửa của Chúa Thánh Thần, của tình yêu Thiên Chúa, chúng ta là những người thờ phượng trong tinh thần và sự thật.
Cám ơn Anh Chị Em.
Phỏng dịch từ nguyên bản Ý ngữ: Nguyễn Học Tập.
(Thông tấn www.vatican.va (http://www.vatican.va), 15.06.2011).
admin
24-06-2011, 10:59 AM
BÀI GIÁO LÝ NGÀY THỨ TƯ (7A 24)
Công trường Thánh Phêrô, buổi yết kiến ngày thứ tư, 22.06.2011.
CẦU NGUYỆN TRONG THÁNH VỊNH
ĐỨC THÁNH CHA BENEDICTUS XVI
Anh Chị Em thân mến,
trong những bài giáo lý trước, chúng ta đã cùng nhau dừng lại trước một vài khuôn mặt của Cựu Ước có ý nghĩa đặc biệt cho việc suy tư của chúng ta về cầu nguyện.
Tôi đã đề cập đến Abraham đã can thiệp cho các thị xã ngoại quốc, đến Giacob mà trong đêm vật lộn đã nhân được lời chúc phúc, đến Moisen đã van xin sự tha thứ cho dân mình và đến Elia đã cầu nguyện cho Israel được sám hối trở lại.
Với bài giáo lý hô nay, tôi muốn được bắt đầu một khoản đường mới: thay vì bình luận những bối cảnh cá biệt của các nhân vật, chúng ta sẽ đi vào “quyển sách cầu nguyện” tuyệt hảo, đó là sách Thánh Vịnh.
Trong những bài giáo lý tới, chúng ta sẽ đọc và suy niệm một vài Thánh Vịnh trong các Thánh Vịnh đẹp nhứt và được yêu chuộng nhứt đối với truyền thống cầu nguyện của Giáo Hội.
Hôm nay tôi muốn được giới thiệu các Thánh Vịnh đó, bằng cách nói về sách Thánh Vịnh một cách tổng quát.
1 - Sách Thánh Vịnh được trình bày như là một “ thể thức” cầu nguyện, một tổng góp gồm một trăm năm mươi Thánh Vịnh, mà truyền thống Thánh Kinh hiến tặng cho các tín hữu để những Thánh Vịnh đó trở thành lời cầu nguyện của họ, của chúng ta, phương thức mà chúng ta hướng về Chúa và liên kết mình với Chúa.
Trong quyển sách nầy, chúng ta gặp được cách diễn tả tất cả kinh nghiệm của con người dưới nhiều khía cạnh, phương diện khác nhau, và cả chuổi các tâm tình liên hệ với cuộc sống con người. Trong các Thánh Vịnh, đan kết và diễn tả ra nỗi vui mừng và sự đau khổ, lòng khao khát Thiên Chúa và lòng tin cậy vào Chúa, sự nhận thức được tình trạng bất xứng của mình, niềm hạnh phúc và cảm nhận bị bỏ rơi, lòng tin cậy vào Chúa và sự đơn độc khổ sở, cảm thấy chứa tràn sức sống và nỗi sợ hãi sự chết.
Tất cả thực thể của người tín hữu đều đổ dồn vào những lời cầu nguyện đó, mà dân Israel trước kia và Giáo Hội kế đến đón lấy như là phương thức trung gian hàng đầu trong mối thân giao với Thiên Chúa duy nhứt và như là đáp ứng không thoả đáng của mình trước động tác Người mạc khải chính mình Người cho trong lịch sử.
Như là những lời cầu nguyện, các Thánh Vịnh là những phương thức con người diễn tả ra tâm hồn và đức tin của mình, trong đó mọi người đều có thể nhận ra được mình và cũng trong đó người nầy có thể thông hiệp với người khác về kinh nghiệm cá biệt mình có đươc lúc đến gần bên Chúa, nơi mà mỗi người đều được kêu gọi.
Và cả rắc rối của cuộc sống được quy tựu vào trong phương thức diễn tả phức tạp của nhiều thể văn chương khác nhau: các bài thánh ca, những lời than van, những lời cầu khẩn cá nhân và tập thể, các bài ca tạ ơn, các Thánh Vịnh đền tội, các Thánh Vịnh khôn ngoan và còn nhiều loại khác nữa có thể gặp được trong các sáng tạo thi phú đó,
Mặc dầu với nhiều cách diễn tả như vừa kể, chúng ta có thể thấy được hai lãnh vực tổng hợp lời cầu nguyện trong sách Thánh Vịnh: lời van xin, nối kết với tiếng than van và lời ngợi khen. Cả hai trương độ có liên hệ với nhau và dường như không thể nào tách rời nhau được. Bởi vì lời van xin được đánh động bằng lòng tin chắc chắn rằng Thiên Chúa sẽ đáp ứng. Và điều đó mở cho lời ca ngợi khen và cảm tạ. Lời ca ngợi khen và tâm tình cảm tạ được thoát xuất từ kinh nghiệm của sự cứu thoát đã nhận được, được giả định trước một sự cần được giúp đỡ mà lời van xin đã nói đến.
Trong lời van xin, người cầu nguyện than van và nói lên tình trạng âu lo, hiểm nguy, tuyệt vọng của mình, hay như trong các Thánh Vịnh đền tội, người van xin thú nhận lỗi lầm, tội lỗi của mình, bằng cách xin cho mình được tha thứ.
Người van xin nói lên với Chúa tình trạng cần thiết của, mình trong lòng tin cậy sẽ được lắng nghe, bởi đó trong lời nói của anh đã hàm chứa lòng biết ơn Chúa như là Đấng tốt lành, Đấng ao ước điều tốt lành và “yêu quý sự sống” (Ps 1, 26), sẵn sàng giúp đỡ, cứu thoát và tha thứ.
Như vậy, ví dụ như Thánh Vinh 31 cầu nguyện:
- “Con ẩn náu bên Ngài, lạy Chúa, xin đừng để con phải thất vọng bao giờ (...) Lưới kẻ thù xin gỡ con ra khỏi, vì nơi con trú ẩn chính là Ngài” (Ps 31, 2.5).
Như vậy, ngay trong lời than van, một lời ngợi khen nào đó đã được thể hiện, tiên báo trong hy vọng rằng Chúa sẽ can thiệp và lời ca ngợi khen đó được thốt lên minh bạch khi sự cứu thoát của Chúa trở thành hiên thực.
Cùng với một phuơng thức tương tợ trong các Thánh Vịnh tạ ơn và ngợi khen, tưỏng nhớ đến ân lành đã nhận được hay bằng chiêm ngưỡng sự cao cả lòng quảng đại của Chúa, con người cũng nhận ra sự bé mọn của mình và cần nhờ được cứu thoát, đó là những gì đã hiện hữu ngay tại nền tảng của lời van xin.
Như vậy con người thú nhận hoàn cảnh thọ tạo của chính mình, được đánh dấu không thể tránh được bằng sự chết, hay con người thọ tạo mang nơi mình lòng ao ước được sống tự căn nguyên. Bởi đó tác giả Thánh Vịnh, trong Thánh Vịnh 86 đã kêu lên:
- “Lạy Chúa là Thiên Chúa con thờ, con hết lòng cảm tạ, Thánh Danh Ngài con mãi mãi tôn vinh, vì tình Chúa thương con như trời như biển, Ngài đã kéo con ra khỏi vực thẩm âm ty” (Ps 86, 12-13).
Như vậy trong lời nguyện Thánh Vịnh, lời van xin và ngợi khen đươn kết nhau và hoà tan nhau thành một bài ca duy nhứt tán tụng ân sủng muôn đời của Chúa, Đấng cúi xuóng trên sự mỏng dòn của chúng ta.
2 - Chính để cho dân chúng tín hữu cùng hợp nhau vào bài ca nầy, mà sách Thánh Vịnh được ban cho dân Israel và cho Giáo Hội.
Thật vậy, các Thánh Vịnh dạy chúng ta cầu nguyện.
Trong các Thánh Vịnh, Lời Chúa trở thành lời cầu nguyện - và đó là những lời của tác giả Thánh Vinh được cảm hứng mạc khải cho - cũng trở thành lời của người cầu nguyện đang nguyện cầu bằng Thánh Vịnh.
Đó là nét đẹp và đặc tính cá biệt của quyển sách Thánh Kinh nầy: các lời cầu guyện được chứa đựng trong đó, khác với các lời cầu nguyện khác mà chúng ta gặp được trong Thánh Kinh, là những lời cầu nguyện không được đưa hội nhập vào một bối cảnh tường thuật nào, để xác nhận ý nghĩa cá biệt và vai trò tác động.
Các Thánh Vịnh được ban tặng cho người tín hữu chính như là bản văn cầu nguyện, chỉ có mục đích duy nhứt là trở thành lời cầu nguyện của ai dùng để cầu nguyện lên Chúa.
Bởi vì các Thánh Vịnh là Lời Chúa, ai cầu nguyện bằng Thánh Vịnh là người đang nói chuyện với Chúa bằng chính những lời Chúa đã ban cho chúng ta, nói với Người bằng những lời mà chính Người
ban cho chúng ta.
Như vậy cầu nguyện với Thánh Vịnh là học hỏi cầu nguyện.
Thánh Vịnh là một trường học dạy cầu nguyện.
Điều vừa kể cũng tương tợ như khi đứa trẻ bắt đầu học nói, nghĩa là học diễn tả các cảm giác, xúc động, nhu cầu của mình bằng lời nói, mà cậu ta không có được tự bẩm sinh, nhưng là những gì cậu học theo cha mẹ của mình và theo những ai sống gần mình.
Điều mà cậu bé muốn diễn tả ra là những gì câu đã sống chính mình, nhưng phươg thức để diễn tả là cách diễn tả của những người khác. Và như vậy cậu dần dần học hỏi, thu tóm làm của mình. Các lời nhận được từ cha mẹ trở thành ngôn từ của cậu và qua các ngôn từ đó cậu cũng học được cách suy nghĩ và cảm nhận; cậu hội nhập được vào cả thế giới về quan niệm và lớn lên trong thế giới đó, cậư liên lạc được với thực tại, với những người khác và với Chúa.
Ngôn tư của cha mẹ cậu sau cùng rồi trở thành ngôn từ của cậu, câu nói năng bằng ngôn từ đã nhận được từ những người khác, mà giờ đây đã trở thành ngôn ngữ của cậu.
Cũng vậy, đó là những gì xảy đến với lời cầu nguyện bằng các Thánh Vịnh. Thánh Vịnh được ban tặng cho chúng ta để chúng ta học biết cách nói chuyện với Chúa, để giao tiép với Chúa, để nói với Người về chúng ta chính bằng ngôn ngữ của Người, tìm được ngôn từ để gặp gỡ được với Chúa.
Và qua ngôn ngữ đó, chúng ta cũng có thể biết được và đón nhận đươc định chuẩn hành động của Người, đến được gần với mầu nhiệm của các tư tưởng Người và các phương hướng của Người:
- “Thật vậy, tư tưởng của Ta không phải là tư tưởng của các ngươi, và đường lối của các ngươi không phải là đường lối của Ta - sấm ngôn của Chúa - Trời cao hơn đất chứng nào, thì đường lối của Ta cũng cao hơn đường lối của các ngươi chừng ấy” (Is 55, 8-9),
như vậy giúp cho chúng ta luôn luôn được lớn lên trong đức tin và trong tình thương.
Như lời nói của chúng ta không phải chì lời nói, mà là những lời chỉ dạy cho chúng ta một thế giới thực hữu và thế giới quan niệm; cũng vậy, những lời cầu nguyện trong Thánh Vịnh cũng dạy chúng ta tâm hồn của Thiên Chúa, bởi đó không những chúng ta có thể nói chuyện với Chúa, mà chúng ta cũng học biết đưọc Thiên Chúa là ai và, bằng cách phải nói chuyện với Chúa thế nào, chúng ta cũng học biết được thực thể của con người, thực thể của chính chúng ta.
3 - Liên hệ với vấn đề đang bàn, rất có ý nghĩa tên gọi mà truyền thống Do Thái đã đặt cho sách Thánh Vịnh. Thánh Vinh được gọi là t' hillim, từ ngữ Do Thái có nghĩa là “ngợi khen”, và từ căn nguyên từ ngữ đó, chúng ta có được danh từ “Halleluyah”, theo ý nghĩa từ chữ có nghĩa là “Hãy ngợi khen Chúa”. Như vậy, Thánh Vịnh, quyển sách cầu nguyện, mặc dầu đa diện và phức tạp với nhiều thể văn chương khác nhau và với mối liên hệ giữa ngợi khen và van xin, nhưng tựu trung là một quyển sách ngợi khen, dạy chúng ta biết cám ơn Chúa, ngợi khen sự cao cả ân sủng của Người, nhận biết vẻ đẹp các công trình của Người và vinh danh Thánh Danh Người.
Đó là thái độ đáp ứng thoả đáng việc Chúa mạc khải chính Người cho và kinh nghiệm về lòng tốt lành của Người.
Dạy chúng ta cầ nguyện, các Thánh Vịnh dạy chúng ta rằng ngay cả trong thất vọng, trong đau khổ,, sự hiện diện của Chúa vẫn còn, nguồn mạch của những gì tuyệt hảo và an ủi. Bởi đó chúng ta có thể khóc, khẩn cầu, can thiêp, than van, nhưng trong nhận thức được rằng chúng ta đang đi hướng về ánh sáng, nơi mà lời ngợi khen sẽ có thể trở thành quyết định vĩnh viễn, như những gì Thánh Vịnh 36 dạy chúng ta:
- “Chúa quả là nguồn sống, nhờ ánh sáng của Chúa, chúng con được nhìn thấy ánh sáng” (Ps 36, 10).
3 - Nhưng ngoài ra tên chung vừa kể của quyển sách, truyền thống Do Thái còn đặt cho nhiều tựa đề cá biệt cho các Thánh Vịnh, mà phần lớn các tựa đề đó được gán cho vua David đặt ra.
Một khuôn mặt có tầm vó nhân bản và thần học khá quan trọng, David là một nhân vật phức tạp, đã trải qua nhiều kinh nghiệm căn bản của cuộc sống. Lúc còn trẻ ông làm mục tử cho đoàn chiên của cha, trải qưa những lúc thăng trầm và đôi khi các biến cố thảm đạm, David trở thành vua, mục tử chăn dắt dân Chúa.
Là người của hoà bình, ông đã chiến đấu nhiều trận giặc, là người không biết mệt mỏi và can cường tìm kiếm Chúa, nhưng đã phản bội lại tình yêu của Chúa và đây là đặc điểm: nhưng luôn luôn vẫn là người tìm kiếm Chúa, mặc dầu nhiều lần đã vất phạm tội trọng; là con người khiêm nhường và biết hối cải, David đã đòn nhận sự tha thứ của Chúa, kể cả hình phạt của Chúa. Ông đã chấp nhận định mệnh đuợc đánh dấu bằng đau khổ.
Như vậy, David đã là một vi vua, với tất cả những yếu hèn của mình, “như lòng Chúa muốn” (1 Sam 13, 14), nghĩa là say mê cầu nguyện, một nguời biết được van xin và ngợi khen là gì.
Như vậy mối liên quan giữa các Thánh Vịnh với vị vua lừng danh nầy của Israel là điều quan trọng, bởi vì ông là diện mạo của vị cứu tinh. Được Thiên Chúa xức dầu cho, một cách nào đó nơi ông cũng ẩn hiện hình bóng mầu nhiệm Chúa Kitô.
Một điều khác cũng không kém quan trọng và có ý nghĩa, đó là phương thức và thường xuyên các lời của Thánh Vịnh được lấy lại trong Tân Ước, điều đó cho thấy và nhấn mạnh đến giá trị ngôn sứ được mớm ý cho bởi mối tương quan giữa sách Thánh Vịnh và khuôn mặt ngôn sứ của David.
Nơi Chúa Giêsu, mà trong cuộc sống trần gian Người đã cầu nguyện bằng các Thánh Vịnh, các Thánh Vịnh có được sự thực hiện hoàn hảo của mình và nói cho chúng ta biết ý nghĩa trọn hảo và sâu đậm.
Các lời cầu nguyện Thánh Vịnh, mà qua đó Chúa Giêsu thưa với Chúa Cha, nói cho chúng ta biết về Người, nói cho chúng ta biết về Chúa Con, hình ảnh của Thiên Chúa vô hình, Đấng mạc khải cho chúng ta trọn vẹn Diện Mạo Chúa Cha:
- “Thánh Tử là hình ảnh Thiên Chúa vô hình, là Trưởng Tử sinh ra mọi loài thọ tạo” (Col 1, 15).
Như vậy người tín hữu Chúa Kitô, khi cầu nguyện bằng Thánh Vịnh, là cầu nguyện lên Chúa Cha trong Chúa Kitô và với Chúa Kitô.
Các lời ca đó mang lấy một viễn ảnh mới, mà chúng ta có được trong mầu nhiệm phục sinh chìa khoá để có thể giải thích.
Như vậy chân trời của người cầu nguyện được mở ra đến một thực tại bất ngờ, mỗi Thánh Vịnh có được một ánh sáng mới trong Chúa Kitô và Thánh Vịnh có thể trở nên sáng chiếu với tất cả sự giàu có vô tận của mình.
Anh Chị Em thân mến, như vậy chúng ta hãy cầm lấy quyển sách nầy trong tay, chúng ta hãy để cho Chúa dạy chúng ta thưa chuyện với Người.
Chúng ta hãy để cho sách Thánh Vịnh giúp chúng ta và cùng đi với chúng ta hằng ngày trên cuộc hành trình cầu nguyện.
Chúng ta cũng hãy xin, như các môn đệ Chúa Giêsu.
- “Thưa Thầy, xin dạy chúng con cầu nguyện” (Lc 11, 1),
bằng cách mở rộng tâm hồn ra và đón nhận lời cầu nguyện của Vị Thầy, nơi Người mọi lời cầu nguyện đều được trở nên trọn hảo.
Như vậy, được làm cho trở thành con cái nơi Chúa Con, chúng ta có thể nói chuyện với Chúa Cha, bằng cách gọi Người “Lạy Cha chúng con”. Cám ơn Anh Chị Em.
Phỏng dịch từ nguyên bản Ý ngữ: Nguyễn Học Tập.
(Thông tấn www.vatican.va (http://www.vatican.va), 22.06.2011).
admin
04-08-2011, 06:00 PM
BÀI GIÁO LÝ NGÀY THỨ TƯ (7A 25)
Công trường Tự Do, Castel Gandolfo, buổi yết kiến ngày thứ tư, 03.08.2011.
ĐỌC THÁNH KINH
ĐỨC THÁNH CHA BENEDICTUS XVI,
Anh Chị Em thân mến,
Tôi rất vui mừng được gặp Anh Chị Em ở đây, giữa công trường ở Castel Gandolfo và được bắt đầu lại, tiếp tục các buổi yết kiến đã bị gián đoạn trong tháng bảy.
Tôi muốn được tiếp tục lại chủ đề mà chúng ta đã bắt đầu, đó là chủ đề “học đường cầu nguyện” và ngay cả hôm nay, mặc dầu hơi khác một chút, những không đi tách xa khỏi chủ đề. Tôi muốn được đề cập sơ qua một vài khía cạnh thiêng liêng cá biệt và thực tế, mà tôi nghĩ rằng hữu ích, không những đối với những ai đang sống - tách rời khỏi thế giới một chút - trong khoảng thời gian nghỉ hè, như chúng ta, mà cả đối với người đang dấn thân chuyên cần trong công việc hàng ngày.
Khi chúng ta có được một khoảng thời gian rảnh rỗi trong công việc của mình, một cách đặc biệt trong những lúc nghỉ ngơi, thường chúng ta hay cầm lấy một quyển sách, mà mình muốn đọc.
Chính đây là khía cạnh tiên khởi, mà tôi muốn dừng lại nói chuyện và cùng với Anh Chị Em suy nghĩ.
Mỗi người chúng ta đều cần có được một khoảng thời gian và không gian để tập trung tư tưởng, suy tư và được yên ổn...
Cám ơn Chúa như vậy !
Thật vậy, nhu cầu vừa kể cho thấy không phải chúng ta được dựng nên chỉ để làm việc, mà còn để suy nghĩ, duyệt xét lại, hay một cách đơn sơ để theo dõi bằng tâm thức và bằng con tim một câu chuyện được nghe thuật lại, một sự kiện lịch sử để đắm chìm đồng hoá mình trong đó, nói một cách nào đó, “để tan biến mình đi”, để rồi tìm gặp lại được mình sung mãn hơn.
Dĩ nhiên nhiều quyển sách để đọc mà chúng ta cầm lấy trong tay trong mùa nghỉ hè, thường là những quyển sách làm cho chúng ta giải khuây. Và đó là điều tự nhiên.
Nhưng có nhiều người, nhứt là những người nếu có được thời gian khuây khoả và thư giản dài hơn, họ chuyên cần đọc một điều gì đó nghiêm chĩnh hơn.
Trong trường hợp vừa kể, tôi muốn được đưa ra một đề nghị tại sao không khám phá ra một vài quyển sách trong Thánh Kinh, mà thường thường ít khi chúng ta biết đến? Hay đó chỉ là những quyển sách mà cchúng ta chỉ được nghe một vài đoạn trong Phụng Vụ, nhưng chưa bao giờ chúng ta đọc hết quyển ?
Thật vậy, nhiều tín hữu Chúa Kitô không bao giờ đọc Thánh Kinh, và bởi đó họ có một hiểu biết rất hạn hẹp và phiến diện.
Thánh Kinh, như tên gọi, là một Sách gồm tóm các quyển sách, là một “tiểu thư viện”, được xây dựng nên trong vòng một thế kỷ. Một vài quyển trong “các quyển sách nhỏ” để tạo thành thư viện đó, dường như không hề được biết đến đối với phần đông dân chúng, ngay cả đối với những Kitô hữu tốt lành.
- Một vài quyền thật ngắn gọn, như sách Tobia, một quyển tường thuật chứa đựng ý nghĩa rất cao đẹp về gia đình và về hôn nhân.
- hay quyển Ester, trong đó Nữ Hoàng Do Thái, bằng đức tin và lời cầu nguyện, đã cứu thoát dân mình khỏi bị diệt chủng,
- hay còn ngắn hơn nữa, quyển sách Rut, một thiếu phụ ngoại quốc biết được Thiên Chúa và cảm nhận được ơn quan phòng của Người.
Những quyển sách bé nhỏ đó có thể đọc hết sách khoảng một tiếng đồng hồ.
Đòi buộc nhiều công sức hơn, và đó là những quyển tuyệt tác, như
- sách Giob, đề cập đến vấn đề quan trọng đối nỗi đau khổ của người vô tội;
- sách Quèlet, làm cho chúng ta đặc tâm chú ý đến tính cách hiện đại trong việc bàn luận về ý nghĩa của cuộc sống và thế giới;
- sách Diễm Ca (Cantico dei cantici), thi văn tuyệt vời, biểu hiệu cho tình yêu của con người.
Như vậy, như Anh Chị Em thấy, đó là những quyển sách thuộc Cựu Ước.
Còn Tân Ước?
Dĩ nhiên, Tân Ước được biết đến nhiều hơn, và các cách hành văn cũng ít khác biệt nhau hơn. Nhưng đẹp biết bao đọc Phúc Âm suốt hết và khám phá ra, cả sách Tông Đồ Công Vụ và các Thư cũng được khuyên nên đọc.
Để kết thúc, các bạn thân mến, hôm nay tôi muốn được gợi ý các bạn nên có trong tay, trong lúc nghỉ hè hay những lúc giải khuây thư thà, quyển Thánh Kinh, để thưởng thức một cách mới mẻ, đọc suốt qua một vài quyển trong đó, những quyển ít được biết đến cũng như những quyển quen thuộc, như Phúc Âm, và đọc liên tiếp.
Làm như vậy, những giây phút giải khuây thư thả trở thành, còn hơn nữa làm cho văn hoá được sung mãn hơn,
- thức ăn thiêng liêng có khả năng nuôi nấng sự hiểu biết của chúng ta về Thiên Chúa
- và thành cuộc đối thoại với Người, lời cầu nguyện lên Người.
Tôi nghĩ rằng đó là cách dùng thời gian nghỉ ngơi một cách tốt đẹp, cầm lấy một quyển sách Thánh Kinh trong tay, như vậy chúng ta
- có được một chút sảng khoái thư thả
- và đồng thời, đi vào khoảng không gian bao la của Lời Chúa, làm cho sâu đậm hơn mối tiếp xúc của chúng ta với Đấng Vĩnh Cửu. Đó chính là mục đích của thời gian rảnh rổi mà Thiên Chúa ban cho chúng ta.
Phỏng dịch từ nguyên bản Ý Ngữ: Nguyễn Học Tập.
(Thông tấn www.vatican.va (http://www.vatican.va), 03.08.2011).
admin
11-08-2011, 09:31 PM
BÀI GIÁO LÝ NGÀY THỨ TƯ (7A 26)
Điện Tông Đồ Castel Gandolfo, buổi yết kiến ngày thứ tư 10.08.2011
ĐỜI SỐNG TU VIỆN: CHÚA NÓI VỚI CHÚNG TA TRONG THINH LẶNG.
ĐỨC THÁNH CHA BENEDICTUS XVI
Anh Chị Em thân mến,
Ở mỗi thời đai có những người nam và người nữ tận hiến đời sống mình dành cho cầu nguyện, như các tu sĩ nam nữ, đã thiết lập cộng đồng mình ở những nơi xinh đẹp đặc biệt, ở đồng quê, trên các ngọn đồi, trong các thung lũng núi, bên bờ hồ hay bờ biển hay nhiều khi ngay cả trên các hải đảo nhỏ.
Các nơi chốn vừa kể kết hợp hai yếu tố rất quan trọng cho đời sống chiêm niệm:
- vẻ đẹp của tạo vật làm cho chúng ta tưởng nghĩ đến Đấng Tạo Hoá
- và thinh lặng, được bảo đảm bằng việc cách xa các thị xã và các đường giao thông nhộn nhịp.
Sự thinh lặng là điều kiện môi trường, giúp chúng ta tập trung ý chí dễ dàng hơn, lắng nghe tiếng Chúa và suy niệm.
Chính trạng thái hưởng được thinh lặng, để cho mình, chúng ta có thể nói như vậy, “được tràn ngập” thinh lặng, chuẩn bị sẵn cho mình để cầu nguyện.
Vị đại tiên tri Elia, trên núi Oreb - tức là trên núi Sinai - đã chứng kiến những trận dông bão, kế đến là động đất, và sau cùng là sấm chớp với lửa, nhưng ngài không nhận ra được tiếng Chúa trong đó. Ngài nhận ra tiếng Chúa, trái lại, trong một làn gió hiu hiu:
- “Người nói với ông : “Hãy ra ngoài và đứng trên núi, trước mặt Chúa. Kìa Thiên Chúa đang đi qua", gió to bão lớn xẻ núi non, đập vỡ đá tảng trước nhan Chúa, nhưng Chúa không ở trong cơn gió bão. Sau đó là động đất, nhưng Thiên Chúa không ở trong trận động đất. Sau động đất là lửa, nhưng Chúa cũng không ở trong lửa. Sau cùng có tiếng gió hiu hiu. Vừa nghe tiêng đó, ông Elia lấy áo choàng che mặt, rồi ra ngoài đứng ở cửa hang. Bấy giờ có tiếng hỏi ông: “Elia, ngươi làm gì ở đây ?” (1 Re 19, 11-13).
Chúa nói trong thinh lặng, nhưng phải biết lắng nghe Người.
Bởi đó các tu viện là những ốc đảo, trong đó Thiên Chúa nói với con người, và trong đó có hành lang (chiostro), nơi biểu tượng, bởi vì đó là một nơi đóng kín, nhưng mở rộng hướng về trời.
Anh Chị Em thân mến, ngày mai chúng ta mừng lễ nhớ đến Thánh Nữ Chiara ở Assisi. Bởi đó tôi thích được nhắc nhớ lại một trong những “hành lang đóng kín” đó của tinh thần trìu mến đặc biệt đối với gia đình Phanxicô và đối với tất cả các tín hữu Chúa Kitô: đó là một tu viện bé nhỏ Thánh Damiano, ở một nơi không xa lắm bên dưới thị trấn Assisi, giữa những hàng cây ô liu hướng về đền thờ Me Thánh Maria Các Thiên Sứ (Santa Maria degli Angeli).
Chính tại ngôi thánh đường nhỏ bé nầy, mà Thánh Phanxicô tu chính lại sau cuộc trở lại của mình, Chiara và các chị em đồng môn đầu tiên của mình thiết lập cộng đồng tu viện, sống bằng lời cầu nguyện và bằng các việc làm nhỏ bé. Các chị được gọi là “Các Tiểu Muội Khó Nghèo”, và “phương thức sống” của các chị cũng chính là cách sống của Tiểu Đệ. Đó là
- “Tuân giữ Thánh Phúc Âm của Chúa Giêsu Kitô chúng ta” (Regola di S. Chiara, I, 2),
- “tuân giữ tình đoàn kết đức bác ái tương trợ” (ivi, X, 7)
- và nhứt là tuân giữ đức khó nghèo và khiêm nhường mà Chúa Giêsu và Mẹ Chí Thánh của Người đã sống” (ivi, XII, 13).
Bầu không khí thinh lặng và vẻ đẹp của nơi mà cộng đồng tu viện đang sống - vẻ đẹp đơn sơ và khắc khổ - tạo nên như một phản ảnh của sự hoà hợp thiêng liêng mà chính cộng đồng tìm cách thực hiện. Khắp đó đây trên thế giới đều có các ốc đảo tinh thần đó hiện diện, một vài ốc đảo rất cổ xưa, đặc biệt ở Âu Châu, những ốc đảo khác xuất hiện mới đây, các ốc đảo khác nữa đã được các cộng đồng mới trùng tu lại.
Nhìn các sự việc dưới nhãn quan thiêng liêng, các nơi chốn tinh thần đó là rường cột của thế giới !
Và không phải vô tình mà nhiều người, nhứt là trong các thời gian nghỉ ngơi, đến viếng các nơi đó và dừng lại ở đó một vài ngày: linh hồn, tạ ơn Chúa, cũng có các nhu cầu của mình !
Như vậy, chúng ta nhớ đến Thánh Nữ Chiara. Nhưng chúng ta cũng nhớ đến chân dung các Thánh đã nhắc nhở chúng ta về việc quan trọng biết hướng tầm mắt mình “đến các sự việc trên trời”, như Thánh Nữ Edith Stein, Thánh Nữ Teresa Benedetta Thánh Giá, nữ tu dòng kín Carmelo, đồng bổn mạng của Âu Châu, được cử hành hôm qua.
Và hôm nay, 10 tháng 8, chúng ta đừng quên Thánh Lorenzo, vị Phó Tế và tử đạo, với lời chúc mừng đặc biệt cho dân chúng Roma mà từ lâu họ vẫn tôn kính ngài như một trong những bổn mạng của họ.
Và sau cùng, chúng ta hãy hướng tầm mắt chúng ta đến Đức Trinh Nữ Maria, xin Mẹ dạy chúng ta biết yêu mến thinh lặng và cầu nguyện.
Phỏng dịch từ nguyên bản Ý Ngữ: Nguyễn Học Tập.
(Thông tấn www.vatican.va, 10.08.2011).
admin
18-08-2011, 05:59 AM
BÀI GIÁO LÝ NGÀY THỨ TƯ (7A 27)
Điện Tông Đồ Castel Gandolfo, buổi yết kiến ngày thứ tư, 17.08.2011.
CẦU NGUYỆN BẰNG TÂM TRÍ
ĐỨC THÁNH CHA BENEDICTUS XVI
Anh Chị Em thân mến,
chúng ta còn đang trong ánh sáng ngày Lễ Đức Mẹ Lên Trời, như tôi đã nói, là một ngày Lễ của niềm hy vọng.
Mẹ Maria đã đến Thiên Đàng và đó là cùng đích của chúng ta, bởi vì tất cả chúng ta đều có thể đến được Thiên Đàng.
Câu hỏi được đặt ra là làm sao Mẹ Maria đã đến đó được. Mẹ Maria, Phúc Âm nói, là người
- “đã tin rằng Thiên Chúa sẽ thực hiện những gì Người đã nói” (Lc 1, 45).
Như vậy Mẹ Maria đã tin, phó thác mình cho Chúa, bằng ý chí của mình đã đi vào trong Chúa và như vậy Mẹ đã ở trong con đường trực tiếp nhứt, trong con đường hướng về Thiên Đàng.
Tin, phó thác cho Chúa, đi vào ý muốn của Người: đó là địa chỉ thiết yếu.
1 - Hôm nay tôi không muốn đề cập đến cuộc hành trình đức tin nầy, mà chỉ muốn nói đến một khía cạnh nhỏ bé của cuộc sống cầu nguyện, cuộc sống tiếp xúc với Chúa, tức là nói đến suy niệm.
Suy niệm là gì?
Suy niệm là “ghi nhớ” những gì Chúa đã làm và không quên đi bao nhiêu ân lành của Người:
- “Chúc tụng Chúa đi, hồn tôi hỡi, chớ bỏ quên đi mọi ân huệ của Người” (Ps 103, 2).
Thường thì chúng ta chỉ thấy những điều tiêu cực, chúng ta cũng nên nhớ trong ký ức mình cả những gì tích cực, các ân huệ mà Chúa đã ban cho chúng ta, biết chú tâm đến những dấu chỉ tích cực thoát xuất từ Chúa và ghi lại trong ký ức điều đó.
Như vậy, chúng ta đang nói đến một cách cầu nguyện, mà truyền thống Kitô giáo gọi là “cầu nguyện bằng tâm trí” (orazione mentale).
Thường thì chúng ta biết cầu nguyện bằng lời nói, dĩ nhiên là cả tâm linh và trái tim cũng phải hiện diện trong động tác cầu nguyện đó.
Nhưng hôm nay chúng ta đề cập đến một cuộc suy niệm không bằng lời nói, mà là một động tác tâm hồn chúng ta tiếp xúc với con tim của Chúa. Và đây là mẫu gương rất thiết thực của Mẹ Maria. Thánh Luca tác giả Phúc Âm, nhiều lần lập lại rằng
- “Còn bà Maria hằng ghi nhớ mọi kỷ niệm ấy và suy đi nghĩ lại trong lòng” (Lc 2, 19).
- “Riêng mẹ Người thì hằng ghi nhớ tất cả những điều ấy trong lòng” (Lc 2, 51).
Ghi nhớ và không quên, Mẹ Maria chú tâm vào những gì Chúa đã nói với Mẹ và đã làm. Và suy niệm, tức là tiếp xúc với nhiều sự việc khác nhau, làm cho trở nên sâu đậm hơn trong lòng mình.
Mẹ là Đấng “đã tin vào lời Thiên Sứ báo cho” và làm cho mình trở thành dụng cụ để cho Lời vĩnh cửu của Đấng Tối Cao có thể nhập thể.
Mẹ cũng đón nhận vào con tim của mình biến cố phi thường của việc sinh ra con người - Thiên Chúa đó, Mẹ đã suy niệm, đã dừng lại suy nghĩ về những gì Thiên Chúa đã làm nơi Mẹ, để đón nhận ý muốn của Chúa vào đời sống mình và đáp ứng lại ý muốn đó.
Mầu nhiệm nhập thể Con Thiên Chúa và đặc tính làm mẹ của Mẹ Maria là những gì cao cả cần phải có một tiến trình chuyển hoá nội tâm. Bởi lẽ đó không phải chỉ là những gì thể chất mà Thiên Chúa đã tác động nơi Mẹ, mà là một điều gì đòi buộc phải có cuộc ghi chú vào nội tâm từ phía Mẹ Maria, khiến cho Mẹ tìm hiểu sâu đậm hơn bằng trí khôn, giải thích ý nghĩa, hiểu được các biến chuyển và những gì hàm chứa trong biến cố.
Như vậy, ngày qua ngày, trong thinh lặng của cuôc sống hằng ngày, Mẹ Maria tiếp tục gìn giữ trong tâm hồn mình các biến cố lạ lùng kế tiếp, mà Mẹ là chứng nhân, cho đến cuộc thử thách cực điểm của Thập Giá và Phục Sinh.
Mẹ Maria đã sống đầy đủ cuộc sống của mình,
- chu toàn các bổn phận hằng ngày của mình, sứ mạng làm mẹ của mình,
- nhưng Mẹ cũng biết gìn giữ nơi mình một khoảng không gian nội tại để suy nghĩ lời và ý muốn của Chúa, về những gì đã xảy ra nơi Mẹ, về các mầu nhiệm cuộc sống Con của Mẹ.
2 - Trong thời đại chúng ta, chúng ta bị hấp thụ bởi bao nhiêu hoạt động và chuyên lo trách nhiệm. Các lo lắng, các vấn đề, thường có khuynh hướng lấp đầy tất cả các thời điểm của một ngày, không còn có giây phút nào dừng lại để suy nghĩ và nuôi dưỡng đời sống thiêng liêng, tiếp xúc được với Chúa.
Mẹ Maria dạy chúng ta cần phải tìm ra được trong những ngày tháng của chúng ta, với tất cả các hoạt động, giây phút để tập trung chú ý trong thinh lặng và suy niệm về những gì Chúa muốn huấn dạy chúng ta, phải hiện diện và hành động thế nào trong thế giới và trong đời sống chúng ta.
Đó là phải biết dừng lại đôi chút và suy niệm.
Thánh Augustino so sánh việc suy niệm về các mầu nhiệm của Chúa như là là động tác hấp thụ thức ăn và ngài dùng một động từ mà cả truyền thống Kitô giáo đều tiếp tục dùng. “nhai lại” (ruminare). Các mầu nhiệm của Chúa cần phải được tiếp tục làm gióng tiếng lên nơi chính chúng ta, để trở thành quen thuộc với chúng ta, hướng dẫn đời sống chúng ta, nuôi nấng chúng ta như những gì thức ăn cần thiết để nâng đỡ chúng ta.
Thánh Bonaventura, khi đề cập đến các lời của Thánh Kinh, ngài cách nói rằng:
- “các lời của Thánh Kinh cần phải luôn luôn được nhai lại, để có thể gắn chặt các lời đó với các áp dụng nóng cháy của tâm hồn” (Coll. In hex, ed. Quaracchi 1934, p. 218).
Như vậy, suy niệm có nghĩa là tạo nên một tình trạng tập trung tư tưởng trong thinh lặng nội tâm, để suy nghĩ, đồng hoá các mầu nhiệm đức tin của chúng ta và những gì Thiên Chúa tác động nơi chúng ta, chớ không phải chỉ là những gì đến rồi lại đi.
Chúng ta có thể thực hiện động tác “nhai lại” đó bằng nhiều phương thức, ví dụ
- bằng cách lấy một đoạn ngắn Thánh Kinh, nhứt là các Phúc Âm, Tông Đồ Công Vụ, các Thư của các Thánh Tông Đồ,
- hay một trang sách của một tác giả về đàng thiêng liêng làm cho chúng ta đến được gần, làm cho các thực thể của Thiên Chúa hiên diện trong cuộc sống ngày nay của chúng ta;
- chúng ta cũng có thể làm cho mình được Cha cáo giải hay một vị linh hướng làm cố vấn cho để đọc và suy niệm về những gì đã đọc, dừng lại suy niệm trên đó, tìm cách hiểu những gì đã đọc, hiểu những điều đó muốn nói gì với chúng ta, muốn nói gì trong tình thế hiện tại, mở rộng tâm hồn chúng ta đối với những gì Chúa muốn nói và dạy bảo chúng ta;
- lần chuỗi Thánh Mân Côi cũng là một lời cầu nguyện suy niệm. Trong khi lặp lai Kinh Mừng Maria, chúng ta được mời gọi suy nghĩ lại và suy niệm về mầu nhiệm mà chúng ta đã tuyên xưng;
- chúng ta cũng có thể dừng lại suy niệm về một vài kinh nghiệm siêu nhiên làm cho chúng ta bị đánh động nhứt, về những lời đã gây nên ấn tượng nơi chúng ta, khi tham dự Thánh Thể ngày Chúa Nhật.
Như vậy, Anh Chị Em thấy, có nhiều cách để suy niệm và như vậy để liên lạc với Chúa và làm cho chúng ta đến gần Chúa.
Và đó là phương thức đi trên con đường đến Chúa.
Các bạn thân mến, việc kiên trì dành thời giờ cho Chúa là một yếu tố căn bản để lớn lên trên đàng thiêng liêng.
Chính Thiên Chúa sẽ ban cho chúng ta hương vị các mầu nhiệm của Người, các lời của Người, sự hiện diện và động tác của Người, làm cho chúng ta cảm nhận được thật là tuyệt diệu khi Chúa nói với chúng ta. Người sẽ làm cho chúng ta hiểu được một cách sâu đậm hơn Người muốn gì nơi chúng ta.
Sau cùng đó chính là cùng đích của việc suy niệm; đó là càng phó thác chúng ta hơn nữa vào tay Chúa, với lòng tin cậy và yêu mến.
Chúng ta chắc chắn rằng chỉ có làm theo thánh ý Chúa, rồi chúng ta sẽ thực sự hạnh phúc.
Phỏng dịch tư nguyên bản Ý Ngữ: Nguyễn Học Tập.
(Thông tấn www.vatican.va, 17.08.2011).
admin
01-09-2011, 07:34 PM
BÀI GIÁO LÝ NGÀY THỨ TƯ (7A 28)
Điện Tông Đồ Castel Gandolfo, buổi yết kiến ngày thứ tư 31.08.2011
CẦU NGUYỆN TRONG NGHỆ THUẬT
ĐỨC THÁNH CHA BENEDICTUS XVI
Anh Chị Em thân mến,
trong khoản thời gian nầy, đã nhiều lần tôi thường nhắc nhở mỗi Kitô hữu cần phải tìm được một thời gian dành cho Chúa, để cầu nguyện, giữa bao nhiêu bận rộn hằng ngày của chúng ta.
Chính Chúa ban cho chúng ta nhiều cơ hội để nhớ đến Người.
Hôm nay tôi muốn được vắn tắt dừng lại trước một trong những phương thế có thể dẫn chúng ta đến Chúa và có thể giúp chúng ta gặp gỡ Người. Đó là con đường diễn tả nghệ thuật, một phần của “via pulchritudinis” (con đường của vẻ đẹp), mà tôi đã đề cập đến nhiều lần và con người ngày nay cần phải dành lại được ý nghĩa sâu đậm của nó.
1 - Có lẽ một đôi khi Anh Chị Em có dịp đứng trước một bức tượng điêu khắc, trước một bức tranh, trước một vài câu của một bài thơ, hoặc trước một đoạn nhạc. Chúng ta cảm thấy mình thật xúc động, cảm nhận được một niềm vui tươi, tức là cảm thấy mình không phải đang đứng trước những gì chỉ là vật chất, một khối cẩm thạch hay một cục đồng, một mảnh vải với nét vẻ, những dòng chữ hay một tập hợp hỗn tạp các âm thanh, nhưng là đứng trước một cái gì cao cả hơn, một cái gì “biết nói”, có khả năng làm rung động tâm hồn, chuyển đến cho mình một sứ điệp làm nâng cao tâm hồn lên.
Một tác phẩm nghệ thuật là kết quả của khả năng sáng tạo con người, tự hỏi mình trước thực thể thấy được, tìm cách khám phá ra ý nghĩa sâu đậm và tìm cách truyền đạt ý nghĩa đó bằng ngôn ngữ của hình ảnh, màu sắc, âm thanh.
Nghệ thuật có khả năng diễn tả ra và làm thể hiện nhu cầu của con người bằng cách vượt qua cả những gì thấy được, nói lên lòng khao khát và tìm kiếm những gì vô tận.
Nói đúng hơn, nghệ thuật như là cánh cửa mở ra về phía vô tận, về vẻ đẹp và chân lý vượt qua bên kia những gì là cuộc sống thường nhật. Một tác phẩm nghệ thuật có thể mở tầm mắt của tâm hồn và con tim ra, thúc đẩy chúng ta hướng lên cao.
2 - Nhưng còn có cả những cách diễn tả nghệ thuật là những con đường đích thực hướng chúng ta đến Chúa, Nét Đẹp Tối Thượng.
Nói đúng hơn các cách diễn tả nghệ thuật đó là một trợ lực giúp chúng ta tăng trưởng lên mối tương giao với Người, trong kinh nguyện.
Đó là những tác phẩm được đức tin làm cho phát sinh ra và diễn tả ra đức tin. Một ví dụ mà chúng ta có thể có được khi chúng ta có dịp đến viếng một đại thánh đường “gothique”, chúng ta bị thu hút bởi các đường nét vươn lên cao ngất trời, lôi kéo tầm mắt và tâm thần của chúng ta vút lên cao. Nhưng cũng cùng lúc đó, chúng ta cảm nhận thấy mình nhỏ bé hay ao ước được trở nên hoàn hảo...
Hay khi chúng ta vào một thánh đường theo lối kiến trúc “romana”, tự nhiên chúng ta cảm thấy mình được mời gọi hãy tập trung tư tưởng và cầu nguyện.
Chúng ta cảm nhận được trong các ngôi thánh đường tuyệt vời đó như là nơi tích chứa đức tin của bao nhiêu thế hệ.
Hay khi chúng ta có dịp được nghe một đoạn thánh nhạc làm rung động các sợi dây con tim chúng ta, tâm hồn mình như được mở rộng ra và được trợ lực quy hướng về Chúa.
Tôi còn nhớ lại một buổi hoà tấu nhạc của Johann Sebastian Bach ở Muenchen (Bayer), do Leonard Bernstein điều khiển. Vào phần cuối của bản hoà tấu, một trong những “Cantate” (Bài Hát), tôi cảm thấy, không phải bằng suy luận, nhưng trong tận con tim, rằng những gì tôi được nghe, đã chuyển đạt đến cho tôi chân lý, chân lý của vị nhạc sĩ tuyệt đỉnh, khiến cho tôi cám ơn Chúa. Bên cạnh tôi lúc đó có một vị giám mục hệ phái Luther ở Muenchen, tôi tự nhiên thốt lên với ngài:
- “Nghe những điệu nhạc vừa kể, ai cũng hiểu được. Đúng vậy ! Thật là chính đức tin mãnh liệt như vậy và vẻ đẹp của điệu nhạc thể hiện lên không thể chối cãi có Thiên Chúa hiện diện thật”.
Biết bao nhiêu lần cácbức tranh hay các bức hoạ trang hoàng trong các ngôi thánh đường, kết quả đức tin của người nghệ sĩ, trong hình ảnh diễn tả, trong các màu sắc, trong ánh sáng, thúc đẩy chúng ta hướng tâm trí về Chúa và làm phát sinh nơi chúng ta lòng ước muốn đạt đến được Nguồn Mạch của mọi vẻ đẹp.
Điều mà vị nghệ sĩ lỗi lạc Marc Chagall viết vẫn còn rất xác đáng, rằng các hoạ sĩ qua bao nhiêu thế kỷ đã nhúng cây cọ của mình vào trong mẫu tự đầy màu sắc đó, đó là Thánh Kinh.
Như vậy, biết bao nhiêu lần các cách diễn tả nghệ thuật có thể là cơ hội làm cho chúng ta nhớ đến Chúa, giúp chúng ta cầu nguyện hay ngay cả giúp chúng ta hoán cải con tim !
Paul Claudel, thi sĩ thời danh, nhà soạn kịch và nhà ngoại giao người Pháp, trong Đại Thánh Đường Notre Dame de Paris, năm 1826, chính trong lúc đang nghe hát bản thánh ca Magnificat trong dịp Lễ Giáng Sinh, cảm nhận được có Chúa hiện diện. Trước đó ông vào thánh đường không phải vì có đức tin, mà ông vào chính là để tìm lý lẽ bác bẻ chống lại các tín hữu Kitô giáo, nhưng ơn Chúa đã tác động trong trái tim ông.
3 - Các bạn thân mến, tôi xin mời các bạn hãy khám phá ra con đường nầy cũng để cầu nguyện, cho mối tương quan sống động của chúng ta đối với Chúa.
Thành phố và thôn xóm trên khắp thế giới đang chứa đựng các kho tàng nghệ thuật diễn tả đức tin và nhắc nhớ chúng ta tương quan với Chúa.
Như vậy, việc thăm viếng các nơi nghệ thuật, không phải chỉ để làm sung mãn hơn kiến thức văn hoá - dĩ nhiên là cả kiến thức đó nữa - nhưng nhứt là những cuộc viếng thăm có thể trở thành
- cơ hội ân sủng, cơ hội kích thích tăng cường thêm mối liên hệ và đối thoại của chúng ta với Chúa, - cơ hội cho chúng ta ngừng lại chiêm ngắm - chuyển tiếp từ thể diện bên ngoài đến thực thể sâu đậm bên trong mà tác phẩm muốn diễn tả.
Ánh sáng của vẻ đẹp đánh động chúng ta, dường như “đả thương” đến nội tâm chúng ta và mời gọi chúng ta hãy vưon lên cao, hướng về Chúa.
Tôi xin được kết thúc bằng một lời nguyện của Thánh Vịnh 27:
- “Một điều con kiếm con xin, là luôn luôn đưọc ở trong đền Chúa của con mọi ngày trong suốt cuộc đời, để chiêm ngưỡng Chúa tuyệt cao sang, ngắm xem thánh điện huy hoàng” (Ps 27, 4).
Hy vọng xin Chúa giúp chúng ta chiêm ngắm được vẻ đẹp của Chúa, trong thiên nhiên cũng như trong nghệ thuật, như vậy một khi được ánh sáng dung nhan Người chạm đến, chúng ta cũng có thể trở thành ánh sáng cho người thân cận của chúng ta.
Cám ơn Anh Chị Em.
Phỏng dịch từ nguyên bản Ý Ngữ: Nguyễn Học Tập.
(Thông tấn www.vatican.va, 31.08.2011).
admin
08-09-2011, 05:32 PM
BÀI GIÁO LÝ NGÀY THỨ TƯ (7A 29)
Công trường Thánh Phêrô, buổi yết kiến ngày thứ tư, 07.09.2011
CẦU NGUYỆN TRONG THỬ THÁCH
ĐỨC THÁNH CHA BENEDICTUS XVI
Anh Chị Em thân mến,
hôm nay chúng ta lấy lại các Buổi Yết Kiến ở Công Trường Thánh Phêrô và “ học đường cầu nguyện”, mà chúng ta đang sống với nhau trong Các Bài Giáo Lý Ngày Thứ Tư.
Tôi muốn được khởi đầu suy niệm đối với một vài Thánh Vịnh, mà như tôi đã đề cập đến tháng trong tháng sáu vừa qua, các Thánh Vịnh chung nhau tạo thành “ quyển sách cầu nguyện” tuyệt hảo.
Thánh Vịnh trước tiên mà tôi muốn dừng lại suy niệm đó là Thánh Vịnh than thở và cầu khẩn van xin, chứa đầy niềm tin tưởng thâm sâu, ói đến lòng tin chắc chắn sự hiện diện của Thiên Chúa là nền tảng của lời cầu nguyện, phát khởi từ hoàn cảnh cùng cực khó khăn trong đó người cầu nguyện đang gặp phải.
Đó là Thánh Vịnh thứ 3, mà truyền thống Do Thái gán cho vua Đavit, trong hoàn cảnh ông đang trốn chạy lẩn tránh đứa con Assalone:
- “Thánh Vịnh của vua Đavit, khi vua chạy trốn con mình là Absalon" (Ps 3, 1).
Đây là một biến cố thảm đạm và đau khổ trong đời sống của nhà vua, khi con của vua chiếm đoạt ngai vua của mình và bắt buộc vua phải rời bỏ Giêrusalem để thoát chết (cfr. 2 Sam 15ss).
Như vậy hoàn cảnh nguy hiểm và âu lo mà vua Đavit đang trải qua lúc đó là bối cảnh của lời cầu nguyện nầy và giúp chúng ta hiểu được tâm tình cầu nguyện lúc đó, nói lên cho chúng ta như là hoàn cảnh đặc thù trong đó tác giả Thánh Vịnh thốt lên lời cầu nguyện.
1 - Trong tiếng kêu van của tác giả Thánh Vịnh, mọi người chúng ta đều có thể nhận thức được tâm tình đau khổ, cay đắng cùng với lòng tin cậy vào Chúa, mà theo những gì Thánh Kinh thuật lại, đó là trạng thái đã cùng đồng hành với vua Đavit trong cuộc trốn chạy ra khỏi thành phố mình.
Thánh Vịnh khởi đầu bằng lời van xin lên Chúa:
- “ Lạy Chúa, thù địch con đông vô kể, người nổi dậy chống con thật quá nhiều! Quá nhiều kẻ nói về con: “Chúa Trời đâu cứu hắn !” (Ps 3, 2-3).
Cách diễn tả của người cầu nguyện nói lên tình trạng bằng những lời nói thật thảm đạm.
Đến cả ba lần người cầu nguyện thốt lên trạng thái đông đảo của những kẻ thù địch, “ đông vô số kể”, “thật quá nhiều”, “quá nhiều”, mà trong nguyên bản Do Thái ngữ đều phát xuất từ một từ ngữ gốc. Và như vậy để cho thấy hơn nữa mối nguy hiểm thật to tác, bằng cách lập đi lập lại, như là để nhấn mạnh làm cho Chúa không thể không để ý đến.
Cách nhấn mạnh đến con số đông đảo kẻ thù địch được dùng để nói lên tác giả Thánh Vịnh cảm nhận thấy mức chênh lệch tuyệt đối giữa người cầu nguyện và những kẻ bách hại mình. Mức chênh lệch đó biện minh và được coi là nền tảng tại sao lời van xin cứu cấp gắp rút được thốt lên: những kẻ đàn áp thật quá đông, họ đang ở thế thượng phong, trong khi đó thì người cầu nguyện chỉ có một mình và không cựa quậy được, đang là mồi ngon cho những kẻ đàn áp.
Tuy nhiên, từ ngữ đầu tiên mà tác giả Thánh Vịnh (tức là người đang cầu nguyện) thốt lên đó là “ lạy Chúa”, tiếng thét kêu cứu của anh được khởi đầu bằng kêu cứu đến Chúa.
Đoàn lũ đông đảo đang doạ nạt và nổi dậy chống lại anh, làm cho anh khiếp sợ, khiến cho sự đoạ nạt càng trở nên to lớn hơn và khủng khiếp hơn nữa.
Nhưng người cầu nguyện không để mình bị nhãn quang của sự chết đó lướt thắng. Anh vẫn giữ chặt mối liên hệ với Thiên Chúa của sự sống và bởi đó anh thốt lên tiếng kêu van Người trước nhứt, để xin được giúp đỡ.
Những những kẻ thù địch cũng tìm cách làm gãy đổ đi mối liên hệ đó với Chúa và làm cho rạn nứt lòng tin của nạn nhân họ. Họ tìm cách nói xiêng nói xỏ rằng Thiên Chúa không can thiệp, bằng cách cho rằng Chúa cũng không thể cứu được nạn nhân.
Điều đó cho thấy cuộc tấn công đối với nạn nhân không phải chỉ là tấn công thể chất, mà còn đụng chạm đến cả tầm mức thiêng liêng:
- “ Chúa cũng không thể cứu được hắn ta” (Ps 3, 3).
Như vậy, nguyên cội trọng điểm của tác giả Thánh Vịnh cũng bị tấn công.
Đó là cơn cám dỗ tận cùng, mà người tín hữu bị đặt dưới áp lục thử thách. Đó là cơn cám dỗ làm mất đức tin, sự tin cậy vào Thiên Chúa đang gần gũi bên mình.
Người công chính lướt thắng cả sự thử thách cuối cùng, vẫn vững chắt trong đức tin, trong chân lý và trong sư tin cậy hoàn toàn vào Chúa. Và chính như vậy mà người tín hữu gặp được sự sống và chân lý.
Tôi nghĩ rằng ở đây tác giả Thánh Vịnh đá động rất nhiều đến cá nhân chúng ta. Trong bao nhiêu vấn đề, chúng ta bị cám dỗ nghĩ rằng có lẽ Thiên Chúa cũng không cứu giúp tôi, không quen biết tôi, có lẽ Người không có khả năng chăng.
Cơn cám dỗ chóng lại đức tin là là cuộc tấn công cuối cùng của kẻ thù địch.
Và đó là điều chúng ta phải kháng cự, chống trả lại, như vậy chúng ta gặp được Chúa và gặp được sự sống.
2 - Người cầu nguyện trong Thánh Vịnh chúng ta đang suy niệm được kêu gọi hãy đáp lại bằng đức tin đối với các cuộc tấn công của ma quỉ: kẻ thù địch, như tôi đã đề cập, chối bỏ rằng Thiên Chúa có thể giúp anh ta. Trái lại người cầu nguyện van xin Chúa, gọi Người bằng tên, “ lạy Chúa”, và rồi thưa chuyện với Người bằng cách dùng đại danh từ ở ngôi thứ hai số ít “tu” (lạy Chúa), để nói lên một mối liên hệ chắc chắn, bền bĩ và giữ chặt nơi mình chắc chắn rằng Chúa sẽ đáp ứng:
- “ Nhưng lạy Chúa, chính Chúa là khiên che thuẫn đỡ, là vinh dự của con, là Đấng cho con được ngẩng đầu bất khuất. Con vừa cất tiếng kêu lên Chúa, Chúa liền đáp lại từ núi thánh của Chúa” (Ps 3, 4-5).
Đến đây thì thị kiến đối với các kể thù địch biến mất, bởi vì ai tin vào Chúa, thì chắc chắn rằng Chúa là thân hữu của mình.
Chỉ còn lại một mình đại danh từ “ Tu” (lạy Chúa) đối với Chúa, từ ngữ “đông vô số kể”, “quá nhiều” giờ đây được hiện thực lại chỉ có một Đấng, nhưng là Đấng cao trọng hơn nhiều và quyền thế hơn nhiều đối với nhiều kẻ thù địch.
Thiên Chúa là cứu giúp, bênh vực, giải thoát, như là khiên che thuẫn đỡ bảo vệ ai tin cậy vào Người. Và Người làm cho ngẩng đầu lên, một cử chỉ của sự khải hoàn, chiến thắng.
Con người không còn trơ trọi một mình, kẻ thù không phải là những kẻ không thể bị đánh bại như chúng làm cho anh có cảm tưởng trước đó, bởi vì Thiên Chúa lắng nghe tiếng kêu cứu của người bị áp bức và đáp ứng từ nơi Người đang hiện diện, từ núi thánh.
Con người kêu cứu trong âu lo, trong nguy hiểm, trong đau khổ; con người kêu xin giúp đỡ và Thiên Chúa đáp ứng lại.
Trạng thái đan kết giữa tiếng kêu cứu nhân loại và sự đáp ứng của Chúa là hiện trạng của lời cầu nguyện và là chìa khoá giúp cho chúng ta đọc hiểu được cả lịch sử cứu rỗi.
Tiếng kêu van xin diễn tả nhu cầu cần được giúp đỡ và kêu gọi đến lòng trung thành của phía bên kia.
Kêu cứu van xin là diễn tả ra đức tin vào sự gần gũi và sẵn sàng lắng nghe của Chúa. Cầu nguyện diễn tả chắc chắn rằng Chúa hiện diện, mà mình đã có kinh nghiệm và tin chắc vào sự đáp ứng giải thoát sẽ thể hiện hoàn hảo.
Đó là điều quan trọng: trong lời cầu nguyện của chúng ta là điều quan trọng, xác nhận hiện hữu và chắc chắn rằng Thiên Chúa hiện diện.
Như vậy, tác giả Thánh Vịnh đang cảm nhận mình bị sự chết bao vây, tuyên xưng đức tin của mình vào Thiên Chúa của sự sống, như là khiên che thuẫn đỡ bao bọc chung quanh mình bằng một sự bảo vệ không gì có thể làm cho mình bị tổn thương được.
Ai trước đó nghĩ rằng mình đã bị thua trận mất mác rồi, giờ đây có thể ngẩng đầu lên, bởi vì có Chúa cứu mình. Người cầu nguyện bị hăm doạ và phỉ báng, giờ đây đang ở trong vinh quang,bởi vì Thiên Chúa là niềm vinh quang của anh.
3 - Sự đáp ứng của Thiên Chúa, đón nhận lời cầu nguyện, làm cho tác giả Thánh Vịnh được hoàn toàn vững mạnh.
Sự sợ hãi cũng tiêu tan và tiếng kêu van giờ đây trở nên yên tĩnh trong bình an, trong trạng thái yên lành nội tâm :
- “ Con nằm xuống và con thiếp ngủ, rồi thức dậy, vì Chúa đỡ nâng con. Con chẳng còn phải sợ lũ người đông vô số đang vây quanh con” (Ps 3, 6-7).
Người cầu nguyện, mặc dầu đang ở giữa nguy hiểm và trận chiến, vẫn có thể thiếp ngủ yên lành, trong một thái độ không thể sai lầm được, đó là tin tưởng phó thác mình.
Chung quanh anh các kẻ thù địch đang đóng trại, đang bao vây anh và bọn chúng thật đông đảo, nổi lên chống lại anh, nhạo báng anh và tìm cách làm cho anh ngã đổ xuống. Nhưng trái lại anh vẫn thiếp đi, ngủ yên lành và thanh thản, bởi vì anh chắc chắn có Thiên Chúa hiện diện.
Và lúc anh thức dậy vẫn còn gặp Chúa đang ở bên cạnh anh, như là người canh giữ vẫn tỉnh thức:
- “ Xin Đấng gìn giữ bạn đừng để bạn lỡ chân trật bước, xin Ngưòi chớ ngủ quên. Đấng gìn giữ Israel, lẽ nào chợp mắt ngủ quên cho đành” (Ps 121, 3-4).
Thiên Chúa vẫn nâng đỡ anh, vẫn đang nắm tay anh, không bao giờ bỏ anh.
Sự sợ hãi đối với sự chết đã bị lướt thắng bởi sự hiện diện của Đấng không chết.
Và chính trong đêm tối, đầy dẫy những sự sợ hãi di truyền, đêm tối đau khổi cô đơn và đợi chờ trong áy náy lo lắng, giờ đây được thay đổi, điều khiến chúng ta liên tưởng đến sự chết trở thành sự hiện diện của Đấng vĩnh cửu.
Thay cho viễn tượng cuộc tấn công của kè thù, tấn công đại thể và vũ bảo, được thay thế lại bằng sự hiện diện vô hình của Thiên Chúa, với tất cả tất cả uy lực không ai có thể đánh bại được. Và chính động tác hướng về Người mà một lần nữa tác giả Thánh Vịnh, sau khi nói lên lòng tin cậy của mình, cất tiếng lên cầu nguyện với Người:
- “ Lạy Chúa, xin trỗi dậy, cứu lấy con, lạy Chúa của con” (Ps 3, 8a).
Những kẻ đàn áp “ nổi dậy” (Ps 3, 2) chống nạn nhân của họ, nhưng người sẽ “trỗi dậy” chính là Chúa, và “trỗi dậy” để đánh dẹp chúng.
Thiên Chúa sẽ cứu người cầu nguyện, bằng cách đáp ứng lại tiếng kêu cứu của anh. Bởi đó tác giả Thánh Vịnh kết thúc với nhãn quan của sự giải thoát khỏi nguy hiểm giết chóc và khỏi ý đồ làm cho anh bị tiêu diệt.
Sau tiếng kêu cứu Chúa hãy trỗi dây để cứu thoát mình, người cầu nguyện diễn tả cuộc chiến thắng của Chúa: các kẻ thù đich, bằng áp bức bất công và tàn bạo của chúng, là biểu tượng của những gì chống lại Thiên Chúa và chống lại đồ án cứu rỗi của Người, đều sẽ bị thất bại.
Bị đả thương nơi miệng, họ không thể tấn công bằng bạo lực tàn phá của họ nữa và họ cũng không thể lèo lái sự dữ nghi ngờ về sự hiện diện và động tác của Thiên Chúa. Ngôn từ vô nghĩa và phạm thượng của họ bị bác bỏ và bị làm cho im tiếng nhờ việc can thiệp cứu độ của Chúa:
- “ Mọi kẻ thù con, Chúa đánh vỡ mặt, bọn gian ác Chúa đập gãy răng” (Ps 3, 8 bc).
Như vậy, tác giả Thánh Vịnh có thể kết thúc lời cầu nguyện của mình bằng một câu có tính cách phụng vụ, được cử hành, để cảm tạ và ngợi khen Thiên Chúa của sự sống:
- “ Chúa là nguồn ơn cứu độ, xin ban phúc lộc cho dân Chúa” (Ps 3, 9).
Anh Chị Em thân mến, Thánh Vịnh 3 đã trình bày cho chúng ta một lời van xin đầy lòng tin cậy và đầy an ủi.
Cầu nguyện bằng Thánh Vịnh nầy, chúng ta có thể lấy tâm tình của tác giả Thánh Vịnh làm tâm tình của chúng ta, hình ảnh của người công chính bị bách hại, chúng ta có thể thấy được thể hiện nơi Chúa Giêsu.
Trong đau khổ, trong nguy hiểm, trong nỗi đắng cay của việc người khác không hiểu đươc mình và làm tổn thương đối với mình, các lời của Thánh Vịnh mở trái tim chúng ta ra cho sự chắc chắn đầy an ủi của đức tin.
Thiên Chúa luôn ở gần chúng ta - ngay cả trong những lúc khó khăn, trong những vấn đề, trong những lúc tăm tối của cuộc sống - Người vẫn lắng nghe, đáp ứng và giải thoát trong phương thức của Người.
Nhưng chúng ta cần nhận biết sự hiện diện của Người và chấp nhận các con đường của Người, như vua Đavit trong cuộc trốn chạy đầy tủi nhục khỏi đứa con Absalon của vua, như người công chính bị bách bại trong Sách Khôn Ngoan, và sau cùng như Chúa Giêsu trên đồi Golgota.
Và khi, dưới mắt của ma quỉ, có lẽ như Thiên Chúa không can thiệp và Chúa Con khỏi chết đi, chính lúc đó thể hiện ra cho tất cả các tín hữu niềm vui đích thực và sự thực hiện quyết định sự cứu rỗi.
Xin Chúa ban cho chúng ta đức tin, xin Chúa đến giúp chúng ta trong sự yếu hèn của chúng ta và làm cho chúng ta có khả năng tin và cầu nguyện trong mỗi nỗi âu lo, trong những đêm tối đau khổ nghi ngờ và trong các ngày dài đăng đẳng của đau khổ, ban cho chúng ta biết phó thác với lòng tin cậy vào Người, là “ thuẫn đỡ” và “niềm vinh quang” của chúng ta.
Cám ơn Anh Chị Em.
Phỏng dịch từ nguyên bản Ý Ngữ : Nguyễn Học Tập.
(Thông tấn www.vatican.va (http://www.vatican.va), 07.09.2011).
admin
16-09-2011, 08:02 PM
BÀI GIÁO LÝ NGÀY THỨ TƯ (7A 30)
Thính phòng Phaolồ VI, buổi yết kiến ngày thứ tư 14.09.2011.
"LẠY CHÚA CỦA CON, LẠY CHÚA CỦA CON, TẠI SAO CHÚA BỎ CON ?”, Thánh Vịnh 22 (21).
ĐỨC THÁNH CHA BENEDICTUS XVI
Anh Chị Em thân mến,
trong bài giáo lý ngày hôm nay, tôi muốn được đề cập đến một Thánh Vịnh có liên hệ mật thiết với Kitô Luận, liên tiếp được nhắc đến trong cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu, trong cả hai chiều hướng bị hèn hạ hoá và được vinh quang, liên quan đến sự chết và đời sống.
Đó là Thánh Vịnh 22 (Ps 22), theo truyền thống Do Thái, 21 theo truyền thống Hy Lạp - Latinh, là một lời cầu nguyện khẩn xin và đánh động, đầy ý nghĩa nhân loại và sung mãn về thần học, khiến cho Thánh Vịnh đang được nói đến là một trong những Thánh Vịnh được dùng để cầu nguyện nhiều nhứt và được nghiên cứu nhiều nhứt trong Sách Thánh Vịnh.
1- Thánh Vịnh diễn tả ra diện mạo của một con người vô tội, bị bách hại và địch thù bao vây, muốn giết anh.
Và anh cậy nhờ đến Chúa trong một lời than khóc đau đớn, trong tâm tình vững chắc của đức tin, rộng mở mình ra một cách bí nhiệm đến thái độ ngợi khen Chúa.
Lời cầu nguyên, trước thực tại đầy âu lo của hiện tại và ký ức đầy an ủi của quá khứ tuần tự thay phiên nhau, làm cho người cầu nguyện nhận thức được tình trạng vô vọng của mình, nhưng anh không muốn từ bỏ niềm hy vọng.
Tiếng kêu cứu khởi thuỷ là tiếng kêu lên Chúa có vẻ như đang ở thật xa vời, không đáp ứng lại và có vẻ như bỏ rơi anh:
- “Lạy Chúa của con, lạy Chúa của con, tại sao Chúa bỏ con? Dù con thảm thiết kêu gào, ơn cứu độ nơi nào xa vời! Ngày kêu Chúa, không lời đáp ứng, đêm van nài mà cũng chẳng yên” (Ps 22, 2-3).
Thiên Chúa lặng thinh, và đó là những gì làm cho tan nát lòng người cầu nguyện, không ngừng kêu lên Chúa, nhưng không được một câu trả lời nào.
Ngày lại ngày, đêm lại đêm tiếp nối nhau, người cầu nguyện không biết mệt cứ tìm kiếm một lời nói, một sự giúp đỡ nào đó, mà chẳng thấy được gì hết. Thiên Chúa dường như xa lắc xa lơ, đã quên mất anh rồi, Thiên Chúa vắng mặt.
Lời cầu nguyện van xin mong được lắng nghe và có được một câu trả lời, thúc đẩy để có được cuộc tiếp xúc, liên lạc, tìm một mối tương giao có thể đem đến cho anh niềm an ủi nâng đỡ và cứu thoát.
Nhưng Thiên Chúa không trả lời, lời kêu cứu bị mất đi trong khoảng không và nỗi cô đơn trở thành hết chịu nổi.
Dầu vậy, người cầu nguyện trong Thánh Vịnh của chúng ta, trong lời kêu cứu của mình, đã gọi Chúa bằng “Chúa của con”, nói lên lòng tin cậy tột đỉnh và đức tin.
Mặc cho những gì xảy ra bên ngoài, tác giả Thánh Vịnh không tin rằng mối liên kết của mình với Chúa bị hoàn toàn gián đoạn, và trong khi anh nói lên tại sao dường như có một thái độ bỏ lơ không thể hiểu được, anh xác nhận rằng “Thiên Chúa của anh” không thể bỏ bê anh được.
Như chúng ta biết lời kêu van khởi đầu Thánh Vịnh
- “Lạy Chúa của con, lạy Chúa của con, tại sao Chúa bỏ con?” đều được ghi lại trong Phúc Âm Thánh Matthêu, Thánh Marco, như là tiếng kêu được Chúa Giêsu đang hấp hối thốt lên trên thập giá (Mt 27, 46; Mc 15, 34). Tiếng kêu đó nói lên tất cả nỗi thất vọng của Đấng Cứu Thế, Con Thiên Chúa, đang đương đầu với thảm cảnh của sự chết, một thực tại hoàn toàn nghịch lại với Thiên Chúa của sự sống.
Bị bỏ rơi dường như bởi tất cả các người thân của mình, bị các môn đệ phản bội và chối từ, bị bao vây bởi những kẻ phỉ báng, nhục mạ Người. Chúa Giêsu đang bị đè bẹp dưới sức nặng của một sứ mạng mà Người phải trải qua bằng sự khinh bỉ và bị tiêu diệt.
Bởi đó Người kêu lên Chúa Cha, và sự đau khổ của Người được thốt lên bằng các lời của Thánh Vịnh.
Nhưng tiếng kêu van của Người không phải là tiếng kêu tuyệt vọng, tiếng kêu của tác giả Thánh Vịnh cũng vậy.
Trong tiếng kêu lên của mình, tác giả Thánh Vịnh đang bước đi trên một con đường đầy phiền não, nhưng sau cùng là con đường được mở ra trong viễn ảnh ngợi khen, trong niềm tin cậy vào sự chiến thắng của Chúa.
Theo thói quen Do Thái, trích dẫn phần khởi đầu của một Thánh Vịnh hàm chứa việc ám chỉ liên quan đến cả bài thơ Thánh Vịnh. Lời cầu nguyện đau khổ làm nát lòng của Chúa Giêsu, mặc dầu vẫn mang tính chất đau khổ khôn tả, vẫn mở rộng ra lòng chắc chắn đến vinh quang:
- “Nào Đấng Kitô lại chẳng phải chịu khổ hình như vậy, rồi mới vào trong vinh quang của Người sao?” (Lc 24, 26).
Đó là những gì Chúa Phục Sinh sẽ nói lên cho các môn đệ trên đường Emmaus.
Trong cuộc khổ nạn của Người, vâng theo lệnh Chúa Cha, Chúa Giêsu trải qua cơn bị bỏ rơi và sự chết, để đạt đến sự sống và ban sự sống đó cho mọi tín hữu.
2 - Tiếp theo lời kêu van đầu tiên, trong Thánh Vịnh của chúng ta, là nỗi đau khổ đối nghịch, kỷ niệm nhớ lại dĩ vãng:
- “Xưa tổ phụ vẫn hoài cậy Chúa, họ cậy trông, Ngài đã hộ trì. Van nài liền được cứu nguy, đã không thất vọng mỗi khi cậy Ngài” (Ps 22, 5-6).
Thiên Chúa mà ngày hôm nay tác giả Thánh Vịnh cảm nhận thấy xa vời như vậy, nhưng đó là Thiên Chúa nhân từ mà Israel đã luôn luôn có kinh nghiệm trong lịch sử mình.
Dân tộc mà người cầu nguyện cũng là thành phần, dân tộc đó đã là đối tượng tình yêu của Chúa và có thể chứng nhân cho lòng trung thành của Người. Khởi đầu từ các tổ phụ, kế đến bên Ai Cập và trong cuộc lữ hành lâu dài trong sa mạc, rồi trong cuộc định cư trên đất hứa phải đối đầu với các dân háo chiến tấn công và kẻ thù, cho đến thời gian đen tối bị đày. Tất cả lịch sử Thánh Kinh là cả một tiếng kêu van xin giúp đỡ của dân và những lời đáp ứng cứu thoát của Thiên Chúa.
Tác giả Thánh Vịnh nhắc lại đức tin không lay chuyển của cha ông mình, “đã tin cậy” - câu nói được lập lại đến ba lần - mà không bao giờ bị thất vọng.
Nhưng giờ đây, chuỗi các lời van xin với lòng tin cậy và lời đáp ứng của Chúa đang bị gián đoạn. Tình trạng của tác giả Thánh Vịnh có vẻ như là chối bỏ cả lịch sử giải thoát, khiến cho thực tại lúc đó càng trở nên xót xa hơn nữa.
Nhưng Thiên Chúa không thể nào dối gạt, và bởi đó lời cầu nguyện trở lại nói lên tình trạng nặng nề của người cầu nguyện, khiến cho Thiên Chúa phải động lòng thương và can thiệp, như Người đã làm trong quá khứ.
Tác giả Thánh Vịnh cho mình là
- “thân sâu bọ, chớ đâu phải người, con bị người mắng chửi dễ duôi” (Ps 22, 7).
- “Thấy con ai cũng chê cười, lắc đầu bĩu môi, buông lời mĩa mai” (Ps 22, 8).
Và cảm thấy mình bị tổn thương đến tận trong đức tin, họ nói:
- “Nó cậy Chúa, mặc Người cứu nó ! Người có thương giải gỡ đi nào” (Ps 22, 9).
Dưới những lời mĩa mai và khinh thị, dường như người bị bắt bớ đàn áp mất đi cả phẩm giá con người của mình,
- như Người Đầy Tớ đau khổ được diễn tả trong Sách Tiên Tri Isaia (cfr. Is 52,14; 53, 2b-3),
- như người công chính bị đàn áp trong Sách Khôn Ngoan (cfr. Sap 2, 12-20),
- như Chúa Giêsu trên núi Calvario (cfr. Mt 27, 39-43),
tác giả Thánh Vịnh cảm thấy mối tương quan của mình với Chúa bị đặt thành vấn đề, bởi sự vắng mặt bên ngoài của Người.
Nhưng Thiên Chúa vẫn hiện diện chăm sóc người cầu nguyện với sự gần gũi và âu yếm không thể chối cãi của Người.
Tác giả Thánh Vịnh nhắc lại cho Chúa điều đó:
- “Đưa con ra khỏi thai bào, vòng tay mẹ ẳm, Chúa trao an toàn.Chào đời, con được dâng cho Chúa, được Chúa là Cha tự sơ sinh” (Ps 22, 10-11).
Chúa là Thiên Chúa sự sống, làm cho được mình sinh ra, đón nhận đứa trẻ sơ sinh và chăm sóc cho chú bé với tình thương yêu của người cha.
Nếu trước kia, tác giả Thánh Vịnh nhắc lại lòng trung thành của Chúa trong lịch sử dân tộc, thì giờ đây người cầu nguyện nhắc lại chính lịch sử của mình liên quan với Chúa, nhắc nhớ lại thời điểm có ý nghĩa đặc biệt lúc khởi đầu cuộc đời của mình.
Và vì đó, mặc cho những gì thất vọng của hiện tại, tác giả Thánh Vịnh nhận biết một sự gần gũi và một tình yêu thương của Chúa sâu đậm như vậy, đến nỗi bây giờ có thể lớn tiếng thét lên, trong một tiếng tuyên xưng trọn hảo đức tin và tạo nên hy vọng
- “từ trong dạ mẹ, Chúa là Chúa của con” (Ps 22, 11b).
3 - Tiếng than van giờ đây trở thành lời kêu xin đầy buồn thảm:
- “Xin Chúa đừng đứng xa con, bởi vì mối lo âu bên mình, không ai giúp con” (Ps 22, 12).
Chỉ có một trạng thái gần gũi, mà tác giả Thánh Vịnh cảm nhận được và làm cho mình khiếp sợ, đó là sự gần gũi của những kẻ thù địch.
Như vậy cần có Chúa, xin Chúa hãy làm cho Người trở thành gần gũi và trợ giúp, bởi vì kẻ địch đang bao vây người cầu nguyện, chúng đang xiết chặt quanh anh. Và họ là những kẻ lực lưỡng, như sư tử xé nát con mồi bằng tiếng gầm thét và phanh thây
- “Quanh con cả đàn bò bao kín, thú Ba-san ùa đến bủa vây : há mồm đe doạ gớm thay, khác nào sư tử xé thây vang gầm" (Ps 22, 13-14).
Mối lo âu biến nhận thức mối nguy hiểm không còn được trung thực nữa, làm cho trở nên to lớn hơn. Đối phương tỏ ra không có cách gì thắng nổi, chúng trở thành thú dữ và rất nguy hiểm, trong khi đó thì tác giả Thánh Vịnh chỉ là một con sâu bọ, bất lực và không được ai giúp đỡ.
Nhưng những hình ảnh đó được dùng trong Thánh Vịnh cũng được dùng để nói lên khi con người trở nên bạo lực và tấn công người anh em, một cái gì đó là thú vật đã cưỡng chế trên anh ta, dường như nhân tính anh ta không còn nữa. Bạo lực luôn luôn chứa đựng một cái gì đó là súc vật và chỉ có Chúa can thiệp cứu thoát mới có thể trả lại cho con người nhân tính của con người.
Giờ đây, đối với tác giả Thánh Vịnh là đối tượng của cuộc tấn công tàn bạo, dường như không còn có con đường nào nữa để thoát thân và sự chết bắt đầu chiếm hữu lấy anh:
- “Tưởng mình như tan dần ra nước, toàn thân con xương cốt rã rời (...) nghe cổ họng khô ran như ngói, lưõi với hàm dính lại cùng nhau (...) áo mặc ngoài, chúng đem chia chác, còn áo trong chúng bắt thăm luôn” (Ps 22, 15.16.19).
Với những hình ảnh ảm đạm mà chúng ta gặp lại được trong các bài tường thuật về cuộc khổ nạn của Chúa Kitô, chúng ta thấy được cảnh tượng tan nát thân thể của người bị kết án, sức nóng nực không thể chịu đựng nổi làm cho người hấp hối trở nên khổ sở, mà chúng ta biết được trong lời van xin của Chúa Giêsu:
- “Tôi khát” (Jn 19, 28),
và cùng với nổi khổ đó còn thêm thái độ của những kẻ cai ngục, như là những tên lính dưới thập giá, họ phân chia nhau y phục của nạn nhân, bởi vì cho rằng nạn nhân đã chết (cfr. Mt 27, 35; Mc 15, 24; Lc 23, 24; Jn 29, 23-24).
Với tất cả những gì đang xảy ra vừa kể, chúng ta hiểu được lời kêu cứu khẩn thiết xin cứu giúp lại vang lên:
- “Lạy Chúa là sức mạnh con nương nhờ, cứu mau lạy Chúa, xin đừng đứng xa (...) Xin cứu mạng con” (Ps 22, 20.22a).
Và đó là tiếng kêu làm cho các tầng trời mở ra, bởi lẽ là tiếng tuyên xưng một đức tin, một niềm tin cậy chắc chắn vượt qua bên kia mọi nghi nan, mọi tình trạng tối tăm và mọi điều thất vọng.
Là lời than van được biến đổi, nhường chỗ lại cho lời ngợi khen trong vìệc được đón nhận cứu thoát:
- “Chúa đã trả lời con. Con nguyện sẽ loan truyền danh Chúa cho anh em tất cả được hay và trong đại hội dân Ngài, con xin dâng tiến một bài tán dương” (Ps 22, 20c-23).
Như vậy Thánh Vịnh mở ra lời chúc tụng tạ ơn, mở rộng ra cho đến bài ca trọng thể cuối cùng loan báo cho cả cộng đồng dân tộc, các tín hữu của Chúa, đến cả cộng đồng phụng vụ và các thế hệ tương lai:
- “Hỡi những ai kính sợ Chúa, hãy ca tụng Người đi ! Hỡi toàn thể giống nòi Giacob, nào hãy tôn vinh Người ! Dòng dõi Israel tất cả, nào một dạ khiếp oại !
Bởi vì Chúa đã chẳng coi thường, chẳng khinh miệt kẻ nghèo hèn khốn khổ, cũng không đành ngoảnh mặt làm ngơ, nhưng đã thương nghe lời cầu cứu.
Chịu ơn Người, tôi dâng lời ca tụng, ngày đại hội toàn dân. Điều khẩn nguyền tôi xin giữ trọn trước mặt những ai kính sợ Người.
Kẻ nghèo hèn được ăn uống thoả thuê, người tìm Chúa sẽ dâng lời ca tụng. Cầu chúc họ vui sống ngàn đời.
Toàn thế giới muôn người nhớ lại và trở về cùng Chúa. Mọi dân tộc dưới trần phủ phục trước Tôn Nhan.
Bởi vì Chúa nắm quyền vương đế, Người thống trị chư dân.
Mọi kẻ ngủ yên trong lòng đất sẽ bái lạy một mình Người, phàm những ai trở về cát bụi sẽ cùng phủ phục trước Thánh Nhan.
Phần tôi, tôi nguyện sẽ sống cho Chúa, con cháu tôi sẽ phụng sự Người. Thiên hạ sẽ nói về Thiên Chúa cho thế hệ tương lai, truyền tụng cho hậu sinh đức công chính của Người, rằng: “Thiên Chúa đã làm như vậy” (Ps 22, 24-32).
Chúa đã chạy đến cứu giúp, đã cứu thoát người nghèo khổ và đã tỏ hiện cho thấy diện mạo nhân từ của Người.
Cái chết và sự sống đan kết nhau trong môt mầu nhiệm bất khả phân ly, và sự sống đã chiến thắng, Thiên Chúa của sự cứu thoát đã tỏ ra là Chúa không ai có thể hành động ngược lại được. Mọi biên giới của mặt đất sẽ hân hoan chúc tụng Người và trước Thánh Nhan Người mọi gia đình dân tộc sẽ quỵ phục.
Đó là sự chiến thắng của đức tin, có thể biến đổi sự chết thành ân huệ của đời sống, vực thẳm của đau khổ thành nguồn mạch hy vọng.
Anh Chị Em rất thân mến, Thánh Vịnh nầy đã hướng dẫn chúng ta lên đồi Golgota, dưói chân thập giá Chúa Giêsu, để sống lại cuộc khổ nạn của Người và chia xẻ niềm vui sung mãn phục sinh.
Như vậy chúng ta hãy để cho mình được ánh sáng mầu nhiệm phục sinh chinh phục, mặc cho trong sự khiếm diện bề ngoài của Chúa, cả trong sự thinh lặng của Chúa.
Và như các môn đệ trên đường Emmaus, chúng ta hãy học biết chuẩn nhận được thực tại xác thực ngay cả bên kia những gì thể hiện ra bên ngoài, bằng cách nhận biết rằng con đường để được vinh thăng chính là con đường đi trong bị hạ nhục và đời sống được tỏ rạng hoàn hảo trong sự chết, trong thập giá.
Như vậy bằng cách đặt lại tất cả lòng tin cậy và hy vọng của chúng ta vào Thiên Chúa là Cha, trong mỗi nỗi lo âu, cả chúng ta nữa, chúng ta cũng có thể cầu nguyện với đức tin.
Và tiếng kêu cứu, xin giúp đỡ của chúng ta sẽ trở thành lời hát ngợi khen.
Cám ơn Anh Chị Em.
Phỏng dịch từ nguyên bản Ý Ngữ: Nguyễn Học Tập.
(Thông tấn www.vatican.va, 14.09.2011).
admin
06-10-2011, 10:35 PM
BÀI GIÁO LÝ NGÀY THỨ TƯ (7A 32)
Công trường Thánh Phêrô, buổi yết kiến ngày thứ tư, 05.10.2011.
CHÚA LÀ MỤC TỬ TÔI, TÔI CHẲNG THIẾU THỐN GÌ
ĐỨC THÁNH CHA BENEDICTUS XVI
Anh Chị Em thân mến,
hướng về Chúa trong lời cầu nguyện hàm chứa động tác hoàn toàn tin cậy, trong xác tín mình trông cậy vào Thiên Chúa, Đấng tốt lành,
- “Đấng nhân hậu và từ bi, hay nén giận, giàu lòng nhân nghĩa và thành tín” (Ex 34,6-7; Ps 86,15; Gl 2,13; Gn 4,2; Ps 103,8; Ne 9,17).
Bởi đó hôm nay tôi muốn được cùng Anh Chị Em suy niệm về một Thánh Vịnh đầy niềm tin cậy, trong đó tác giả Thánh Vịnh với lòng chắc chắn thanh thoảng của mình được dẫn dắt và bảo vệ, được bảo đảm khỏi mọi nguy hiểm, bởi vì Chúa là Vị Mục Tử của mình.
Thánh Vịnh đó là Thánh Vịnh 23 - theo truyền thống hy-lạp la-tinh là Thánh Vịnh 22 - một bản văn ai cũng biết và được mọi người đều quý mến.
1 - “ Chúa là mục tử của tôi, tôi không thiếu thốn gì”, lời cầu nguyện tươi đẹp được khởi đầu như vậy, làm cho chúng ta liên tưởng đến bối cảnh cuộc sống du mục và kinh nghiệm nhận biết lẫn nhau giữa chủ chăn và các con chiên của đoàn chiên mình.
Hình ảnh vừa kể nói lên cho chúng ta bầu không khí tin cậy phó thác, thân tình, âu yếm yêu thương: người mục tử biết các con chiên của mình, từng con một, goi chúng bằng tên từng con và chúng đi theo anh, bởi vì chúng nhận biết anh và tin cậy vào anh:
- “Người giữ cửa mở cửa cho anh vào, và chiên nghe tiếng của anh. Khi đã cho chiên ra hết, anh đi trước và chiên đi theo sau, vì chúng nhận biết tiếng của anh" (Jn 10,3-4).
Người mục tử đặc tâm chăm sóc chiên, gìn giữ chúng như là của quý giá, sẵn sàng bênh vực chúng, bảo đảm cho chúng mọi điều tốt đẹp, cho chúng được sống yên ổn.
Không có gì có thể thiếu thốn, nếu có người mục ử ở với chiên. Tác giả Thánh Vịnh gợi lại kinh nghiệm đó, bằng cách gọi Chúa là mục tử của mình và để cho mình được Người dẫn dắt đến đồng cỏ yên ổn:
- “Trong đồng cỏ xanh tươi, Người cho tôi nằm nghỉ. Người đưa tôi tới dòng nước trong lành và bổ sức cho tôi. Người dẫn tôi trên đường ngay nẻo chính vì danh dự của Người” (Ps 23,2-3).
Bối cảnh diễn ra trước nhãn quan chúng ta là những đồng cỏ xanh tươi và những dòng nước trong lành, những ốc đảo an lành mà hướng đến đó người mục tử đang dẫn dắt đoàn chiên của mình, biểu tượng những nơi chốn của đời sống mà Chúa đang dẫn dắt tác giả Thánh Vịnh, khiến cho anh cảm thấy mình như những con chiên đang nằm trên cỏ, bên cạnh dòng suối nước, trong trạng thái nghỉ ngơi, không có gì phải căng thẳng tâm tư hay sống trong tình trạng báo động. Trái lại, chiên đang sống trong tin cậy và yên ổn, bởi vì nơi chốn là chỗ chắc chắn, có nước mát và có người mục tử canh chừng trông coi.
Và chúng ta đừng quên rằng bối cảnh đang được tác giả Thánh Vịnh diễn tả ra được đặt trong miền đất phần lớn là sa mạc, với mặt trời nóng cháy, nơi mà người mục tử bán du mục trung đông sống với đoàn chiên của mình trên cảnh đồng khô cỏ cháy đang bao quanh các làng mạc.
Nhưng người mục tử biết ở đâu có thể tìm ra cỏ và nước mát, thiết yếu cho đời sống. Người mục tử biết dẫn chiên đến ốc đảo trên sa mạc, trong đó “linh hồn” được làm cho sảng khoái mát mẻ và nhờ đó có thể lấy lại được sức mạnh và nghị lực mới, để tiếp tục cuộc hành trình.
Như tác giả Thánh Vịnh diễn tả, Chúa dẫn dắt đến “đồng cỏ” và “mạch nước yên lành”, nơi mà tất cả đều đầy dẫy sung mãn, tất cả đều được ban cho no đầy thịnh soạn.
Nếu Chúa là mục tử, ngay cả trong sa mạc, nơi thiếu thốn hết mọi điều và nơi của sự chết, chiên không gì phải nghi ngờ rằng chắc chắn ở đó có đời sống hiện diện, khiến cho mình có thể nói “ tôi không thiếu thốn gì”.
Thật vậy, người mục tử luôn luôn mang trong tâm hồn mình điều tốt lành cho đoàn chiên, thích ứng nhịp sống của mình và các nhu cầu của mình thế nào cho phù hợp với các nhu cầu của các con chiên mình; đi đứng và sống với chúng, dẫn dắt chúng đi trên các nẻo đường “chính đáng”; có nghĩa là sống làm sao cho thích hợp với chúng, lưu tâm đến các đòi hỏi của chúng chớ không phải của mình.
Cuộc sống an lành của đoàn chiên là điều ưu tiên đối với người mục tử và vì đó đoàn chiên vâng theo sự dẫn dắt của anh.
Anh Chị Em thân mến, chúng ta cũng vậy, như tác giả Thánh Vịnh, nếu chúng ta đi theo sau “ Vị Mục Tử Tốt Lành”, dầu cho các cuộc hành trình của đời sống chúng ta có khó khăn, khúc mắc hay dai dẵng bao nhiêu, thường khi ngay cả trong những vùng sa mạc thiêng liêng, không có nước và với một mặt trời có nóng cháy về mặt lý trí, dưới sự dẫn dắt của Vị Mục Tử Nhân Lành, Chúa Kitô, chúng ta cũng chắc chắn là mình đang đi trên những con đường “ngay chính” và chắc chắn rằng Chúa đang hướng dẫn chúng ta và luôn luôn ở bên cạnh chúng ta, không để cho chúng ta thiếu thốn gì.
Bởi đó tác giả Thánh Vịnh có thể xác nhận một tình trạng yên ổn và an ninh, không cò gì phải nghi ngờ và lo sợ:
- “Lạy Chúa, dù qua thung lũng âm u, con sợ gì nguy khốn, vì có Chúa ở cùng. Còn cây gậy Ngài bảo vệ, con vững dạ an tâm” (Ps 23,4).
Ai đi theo Chúa, dù cho trong các thung lũng tối tăm của đau khổ, của nghi ngờ và của tất cả các vấn đề của con người, vẫn có thể cảm thấy mình vững bụng.
Chúa ở với con, đó là điều chúng ta chắc chắn, điều nâng đỡ chúng ta. Sự tối tăm của đêm tối làm cho ai nấy cũng phải rung sợ; với những bóng tối luôn luôn biến dạng của nó, làm cho con người khó mà phân biệt được những gì hiểm nguy; sự thinh lặng của nó chứa đầy những tiếng động khó lòng mà giải mật được.
Nếu đoàn chiên bước đi sau mặt trời lặn, khi khả năng trông thấy được không còn chắc chắn, đoàn chiên trở thành bối rối, bất ổn là điều dĩ nhiên. Bởi lẽ có cái nguy là có thể bị vấp ngã hay đi ra xa và bị thất lạc. Ngoài ra còn có mối lo âu là có thể bị những kẻ tấn công ẩn nấp trong bóng tối.
Để nói về “ thung lũng tối tăm”, tác giả Thánh Vịnh dùng cách diễn tả gợi ý nói lên bóng tối của sự chết, bởi đó thung lũng phải đi qua là nơi chốn đầy âu lo, doạ nạt đáng sợ, đầy nguy hiểm của cái chết.
Tuy vậy, người cầu nguyện vẫn an lòng vững bước tiến qua, không sợ sệt, bởi vì anh biết có Chúa ở với mình. Câu nói “vì có Chúa ở cùng” là một lời tuyên xưng lòng tin cậy bất lay chuyển, và tổng hợp đức tin quyết liệt. Có Chúa ở gần bên làm biến đổi thực tại, thung lũng tối tăm mất hết mọi hiểm nguy, trút bỏ hết mọi hăm doạ.
Giờ đây đoàn chiên có thể bước đi yên lành, với tiếng động quen thuộc của cây gậy đánh động chống lên đất báo hiệu cho sự hiện diện đầy bảo đảm của người mục tử.
2 - Hình ảnh đầy bảo đảm nâng đỡ nầy kết thúc phần đầu của Thánh Vịnh và nhưòng chỗ lại cho một bối cảnh khác.
Chúng ta vẫn còn đang ở trong sa mạc, nơi người mục tử đang cùng sống với đoàn chiên của mình, nhưng giờ đây chúng ta được dẫn vào dưới chiếc lều của anh, được mở ra để tiếp đón khách:
- “ Chúa dọn sẵn cho con bữa tiệc ngay trước mặt quân thù. Đầu con, Chúa xức đượm dầu thơm, ly rượu đầy tràn chan chứa” (Ps 23,5).
Bây giờ thì Thiên Chúa được diễn tả như là Đấng đón nhận người cầu nguyện, với những dấu chứng tiếp đón quảng đại và đầy đặc tâm lưu ý. Chúa dọn cho “bữa ăn” như là một bữa tiệc, từ ngữ trong Do Thái ngữ, theo ý nghĩa nguyên thuỷ, cho biết đó là da súc vật được trải xuống đất và trên đó được đặt lên các thức ăn cho bữa ăn thông thường.
Cử chỉ đó nói lên không những là động tác chia sẻ cho thức ăn, mà chia sẻ cho cả đời sống. Một động tác hiến tặng cho sự thông hiệp và tình thân hữu, nói lên các mối liên hệ và bày to tình liên đới.
Kế đến là cử chỉ tặng dầu thơm xức lên đầu cho người khách, giúp cho người khách đỡ mỏi mệt bởi cơn nắng bỏng trên sa mạc, làm cho da thịt tươi mát lại và êm dịu lại, khiến cho tinh thần được vui tươi hơn bằng mùi thơm của dầu.
Sau cùng là chén rượu đầy ắp càng làm cho buổi tiếp đón có tính cách là một buổi lễ ăn mừng, với rượu ngon là dấu chỉ chia sẻ cho lòng rộng lượng dồi dào của gia chủ.
Thức ăn, dầu thơm, rượu là những món quà làm cho sống và vui tươi, bởi vì những món quà đó vượt qua bên kia lằn mức những gì thiết yếu cần thiết và diễn tả ra đặc tính sung mãn của tình yêu thương.
Thánh Vịnh 104, trong khi nói lên lòng tốt lành quan phòng của Chúa, đã thốt lên:
- “Chúa khiến mọc cỏ xanh nuôi sống đoàn gia súc, làm tốt tươi thảo mộc cho người thế hưởng dùng. Từ ruộng đất họ kiếm ra cơm bánh, chế rượu ngon cho phấn khởi lòng người, xức dầu thơm cho gương mặt sáng tươi, nhờ cơm bánh mà no lòng chắc dạ” (Ps 104,14-15).
Tác giả Thánh Vịnh trở thành đối tượng được bao nhiêu người chú ý, bởi đó ông được coi như người khách lữ hành tìm được nơi trú ngụ trong một ngôi lều hiếu khách, trong khi đó thì các thù địch của ông phải dừng lại mà ngó thôi, không thể can thiệp, bởi vì người mà họ coi là con mồi của mình, đã được đặt vào nơi an lành chắc chắn, đã trở thành người khách đáng kính, bất khả xâm phạm.
Và tác giả Thánh Vịnh là chúng ta, nếu chúng ta thực sự tin vào sự hiệp thông với Chúa Kitô.
Khi Thiên Chúa mở cửa lều của Người để đón nhận chúng ta, không gì có thể làm hại chúng ta được.
3 - Kế đến, khi ngươi khách lữ hành ra đi lại, sự bảo vệ của Chúa tiếp nối dài thêm và đi theo anh trong cuộc hành trình:
- “Lòng nhân hậu và lòng trung thành của Chúa ấp ủ tôi suốt cả cuộc đời, và tôi sẽ còn được ở với Người những ngày tháng, những năm dài triền miên” (Ps 23,6).
Lòng nhân hậu và lòng trung thành của Chúa là đoàn hộ vệ cùng đi theo tác giả Thánh Vịnh đang đi ra khỏi lều và khởi đầu cuộc hành trình. Nhưng là cuộc hành trình có một ý nghĩa mới, và trở thành là cuộc hành hương hướng về Đền Thánh Chúa, nơi thánh mà người cầu nguyện muốn “cư ngụ” mãi mãi và cũng là nơi mà anh muốn “quay trở về”. Động từ do thái ngữ được dùng ở đây có nghĩa là “quay trở lại”, nhưng chỉ cần sửa đổi một chút xíu, động từ có thể trở thành “cư ngụ”. Và đó là nhưng gì các bản dịch cổ và phần lớn các bản dịch hiện đại đã làm. Nhưng cả hai ý nghĩa đều có thể tồn giữ được, quay trở về Đền Thánh Chúa và cư ngụ lại ở đó, đó là điều mà mọi người Do Thái đều ao ước. Ở gần Thiên Chúa, bên cạnh lòng tốt lành của Người đó là lòng ao ước và nỗi nhớ nhung của mọi tín hữu: được thực sự ở gần nơi có Chúa, bên cạnh Người.
Đi theo Vị Mục Tử để được đưa về nhà, đó là cùng đích của mỗi cuộc hành trình, ốc đảo trên sa mạc, lều ẩn náu tránh khỏi kẻ thù địch, nơi an lành mình có thể có kinh nghiệm được lòng tốt lành và tình yêu thương trung thành của Chúa, ngày qua ngày, trong niềm vui tươi quang đãng vĩnh viễn.
Các hình ảnh của Thánh Vịnh nầy, cùng với sự sung mãn và sâu xa của các hình ảnh đó, đã cùng đồng hành suốt dòng lịch sử và kinh nghiệm tôn giáo của dân Do Thái và đang cùng đồng hành với các Kitô hữu.
Hình ảnh người mục tử, đặc biệt nhắc lại lúc khởi đầu của thời kỳ Xuất Hành, cuộc hành trình lâu dài trong sa mạc, như là một đoàn chiên dưới sự dẫn dắt của Vị Mục Tử Thiên Chúa (cfr. Is 63,11-14; Ps 77,20-21; 78,52-54).
Và trong Đất Hứa chính nhà vua là người có bổn phận phải chăn dắt đoàn chiên của Chúa, như vua David, mục tử được Chúa chọn và chân dung của Đấng Cứu Thế (cfr. 2 Sam 5,1-2; 7,8; Ps 78 70-72).
Kế đến, sau thời kỳ lưu đày ở Babylonia, như là một cuộc Xuất Hành khác (cfr. Is 40,3-5.9-11; 43,1-21), Israel được đem trở về quê hương như là con cừu bị thất lạc và tìm lại được, được Chúa đem trở về các đồng cỏ tốt tươi và nơi được nghỉ ngơi (cfr. Ez 34,11-16.23-31).
Nhưng nơi Chúa Giêsu mà tất cả sức mạnh của Thánh Vịnh gợi cho chúng ta tưởng nhớ đến một cách hoàn hảo, có được ý nghĩa đầy đủ của nó: Chúa Giêsu là
- “Mục Tử Nhân Lành”,
- Đấng đi tìm con chiên lạc,
- Đấng biết rõ các con chiên của mình
- và hiến mạng sống mình cho chúng (cfr. Mt 18,12-14, Lc 15,4-7; Jn 10,2-4.11-18).
- Người là đường, con đường chính đáng đem chúng ta đến sự sống (cfr. Jn 14,6).
- Người là chủ nhân quảng đại đón nhận chúng ta và cứu chúng ta khỏi kẻ thù địch, bằng cách dọn bữa ăn cho chúng ta với mình và máu của Nguời (cfr. Mt 26,26-29; Mc 14,22-25; Lc 22,19-20)
- và dọn cho chúng ta bữa ăn quyết định của bữa tiệc Đấng Cứu Thế trên Trời (cfr. Lc 14,15ss; Ap 3,20; 19,9).
Người là Mục Tử Vương Giả, nhà vua hiền hậu và bao dung tha thứ, được đặt lên ngai trên gỗ vinh quang của thập giá (cfr. Jn,13-15; 12,32; 17,4-7).
Anh Chị Em thân mến, Thánh Vịnh 23 mời gọi chúng ta canh tân lại lòng tin cậy của chúng ta vào Chúa, bằng cách hoàn toàn phó thác chúng ta vào tay Người.
Như vậy, chúng ta hãy cầu xin Chúa ban cho chúng ta, cả trên những con đường khó khăn của thời đại chúng ta, được luôn luôn đi trên con đường của Người như đoàn chiên dễ dạy và biết vâng lời, xin Chúa đón nhận chúng ta vào nhà của Người, vào bàn tiệc Người, và dẫn dắt chúng ta đến “các nguồn nước yên lành”, để trong khi đón nhận ơn Chúa Thánh Thần, chúng ta có thể uống được ở các nguồn mạch, suối nước hằng sống “vọt lên đem lại sự sống đời đời” (Jn 4,14, cfr. 7,37-39).
Cám ơn Anh Chị Em.
Phỏng dịch từ nguyên bản Ý Ngữ: Nguyễn Học Tập.
(Thông tấn www.vatican.va (http://www.vatican.va), 05.10.2011).
admin
14-10-2011, 06:27 PM
BÀI GIÁO LÝ NGÀY THỨ TƯ (7A 33)
Công trường Thánh Phêrô, buổi yết kiến ngày thứ tư, 12.10.2011.
KHI CHÚA THIẾT LẬP LẠI SỐ PHẬN CỦA SION, TA TƯỞNG MÌNH NHƯ GIỮA GIẤC MƠ
ĐỨC THÁNH CHA BENEDICTUS XVI
Anh Chị Em thân mến,
trong các bài giáo lý trước, chúng ta đã suy niệm về một vài Thánh Vịnh nói lên lời than van và tin cậy.
Hôm nay tôi muốn cùng Anh Chị Em suy nghĩ đến một Thánh Vịnh đầy vui tươi lễ hội, một lời cầu nguyện trong niềm hân hoan, cất lên tiếng hát về những điều kỳ diệu của Chúa.
Đó là Thánh Vịnh 126 - theo cách xếp thứ tự hy lạp-la tinh là Thánh Vịnh 125 -, cất tiếng vang lên về những điều cao cả Thiên Chúa đã tác động cho dân Người và vẫn còn tiếp tục tác động cho mỗi tín hữu.
1 - Tác giả Thánh Vịnh, nhân danh cả dân Israel khởi đầu lời cầu nguyện của mình, bằng cách nhắc nhớ lại kinh nghiệm cứu độ đầy phấn khởi:
- “Khi Chúa thiết lập lại số phận của Sion, ta tưởng mình như giữa giấc mơ. Vang vang trên miệng câu cười nói, rộn rã trên môi khúc nhạc mừng” (Ps 126,1-2a).
Thánh Vịnh cho biết là động tác “thiết lập lại số phận”, nghĩa là thiết lập lại tình trạng nguyên thuỷ, trong tất cả những gì tích cực trước đó.
Như vậy, khởi đầu từ một tình trạng đau khổ và đầy nhu cầu cần thiết, Thiên Chúa đáp ứng lại bằng động tác cứu độ và đem người cầu nguyện trở về lại hoàn cảnh trước đó, nói đúng hơn được làm cho trở thanh sung mãn hơn và thay đổi thành tốt đẹp hơn.
Đó là những gì đã xảy ra cho ông Giob, khi Chúa cho ông lại tất cả những gì đã bị mất đi, tăng thêm lên gấp đôi cho ông và rộng tay ban cho ông lời chúc lành cao cả hơn nữa:
- “Vậy Thiên Chúa đã khôi phục tài sản cho ông Giob, khi ông chuyển cầu cho các bạn của mình, Chúa đã tăng gấp đôi những gì ông Giob đã có trước kia. Tất cả anh em, chị em ông, tất cả bạn bè cũ lại tìm đến ông; họ đã cùng ăn bánh trong nhà ông. Họ chia buồn và an ủi ông về tất cả tai hoạ, mà Chúa đã giáng xuống trên ông. Mỗi người tặng ông một đồng bạc và một chiếc nhẫn vàng. Thiên Chúa giáng phúc cho những năm cuối đời ông Giob nhiều hơn trước kia. Ông có mười bốn ngàn con chiên, sáu ngàn lạc đà, một ngàn đôi bò và một ngàn lừa cái. Ông sinh được bảy con trai và ba con gái” (Gb 42,10-13), và là những gì dân Israel đã có được kinh nghiệm trong khi trở về quê hương từ cuộc lưu đày ở Babylon.
Chính bằng liên tưởng đến giai đoạn kết thúc cuộc lưu đày trên đất ngoại quốc mà Thánh Vịnh nầy muốn nói lên để giải thích: từ ngữ diễn tả “thiết lập lại số phận của Sion” được truyền thống đọc và hiểu như là “làm cho các tù nhân của Sion được trở về”.
Thật vậy, cuộc hồi hương từ nơi lưu đày là một phương thức diễn tả mỗi động tác can thiệp cứu độ của Chúa, bởi lẽ biến sụp đổ của Giêrusalem và cuộc đày ải ở Babylon là những kinh nghiệm khủng khiếp, tàn phá đối với dân được tuyển chọn, không những về phương diện chính trị và xã hội, mà còn liên quan đến cả lãnh vực tôn giáo và thiêng liêng. Biến cố mất đi đất đai, biến cố tàn lụn nền quân chủ vua Đavid và việc Đền Thờ bị huỷ hoại có thể được coi như là những gì chối bỏ đi các lời hứa của Chúa. Dân chúng của Giao Ước, bị phân tán thất lạc đi giữa các dân ngoại, đau đớn tự hỏi mình về một một Thiên Chúa dường như đã bỏ rơi họ.
Bởi đó, biến cố kết thúc thời gian lưu đày và cuộc hồi hương được dân chúng kinh nghiệm như là một cuộc ngoạn mục trở về lại với đức tin, với lòng tin cậy, thông hiệp lại với Chúa.
Đó là một cuộc “thiết lập lại số phận”, mặc nhiên hàm chứa thái độ hoán cải tâm hồn, tha thứ, tìm lại được tình thân hữu với Chúa, nhận thức ra lòng nhân từ của Người và từ đây có thể ngợi khen Người trở lại (cfr. Ger 29,12-14; 30,18-20; 33,6-11; Ez 39,25-29).
Đây thật là một kinh nghiệm tràn đầy hân hoan, nụ cười và tiếng kêu khải hoàn, quá đẹp đến nỗi làm cho người cầu nguyện tưởng mình đang “giữa giấc mơ”.
Các động tác can thiệp của Chúa thường khi được thể hiện dưới những hình thức bất ngờ, vượt lên phía bên kia những gì con người có thể tưởng tượng được. Đó là lý do tại sao tác giả Thánh Vịnh thốt lên trạng thái tuyệt vời và vui tươi trong lời ca ngợi khen: “Chúa đã làm những điều vĩ đại”. Đó là những gì các dân nước thốt lên và dân Israel tuyên xưng:
_ “Bấy giờ trong dân ngoại, người ta bàn tán : “Việc Chúa làm cho họ vĩ đại thay !” Việc Chúa làm cho ta ôi vĩ đại ! Ta thấy mình chan chứa một niềm vui” (Ps 126,2b-3).
Thiên Chúa làm những điều tuyệt diệu trong lịch sử con người.
Bằng động tác cứu độ, Người mạc khải Người cho tất cả như là Thiên Chúa toàn năng và nhân hậu, là nơi ẩn náu cho người bị đàn áp, là Đấng không quên tiếng kêu than của người nghèo khổ (Ps 9,10.13), là Đấng yêu chuộng sự công chính và lề luật, mà tình yêu của lề luật đó đang đầy tràn khắp mặt đất:
- “Chúa yêu thích điều công minh chính trực, tình thương Chúa chan hoà mặt đất” (Ps 33, 5).
Bởi đó trước sự kiện giải phóng dân Israel, mọi dân nước đều nhận ra những điều vĩ đại và tuyệt vời mà Thiên Chúa đã thực hiện cho dân Người và chúc tụng Thiên Chúa trong thực thể của Đấng Cứu Độ. Và Israel làm tiếng dội của những gì các dân nước tung hô, lấy lại bằng cách lặp lại những lời tung hô đó, nhưng là lấy lại với tư cách là nhân vật chính, như là chủ thể trực tiếp của động tác Thiên Chúa:
- “Chúa đã làm cho chúng ta những điều cao cả” “cho chúng ta” hay còn chính xác hơn “với chúng ta”, immanu^ trong Do Thái ngữ, và như vậy bằng cách xác nhận mối liên hệ đặc sủng mà Chúa giao hảo với dân chúng được chọn của Người và mối liên hệ đặc sủng đó chúng ta có thể gặp được trong danh xưng Emmanuel:
- “...người ta sẽ gọi tên con trẻ là Emmanuel, nghĩa là Thiên Chúa ở cùng chúng ta” (Mt 1,23).
“Thiên Chúa ở cùng chúng ta”, đó là tên mà Chúa Giêsu được gọi, nói lên tuyệt đỉnh và trọn hảo sự kiện Thiên Chúa tỏ mình ra cho con người.
Anh Chị Em thân mến, trong lời cầu nguyện của chúng ta, chúng ta nên thường xuyên lưu ý, trong các biến cố cuộc sống chúng ta, Thiên Chúa đã bảo vệ, hướng dẫn, trợ giúp chúng ta như thế nào và ngợi khen Người về tất cả những gì Người đã và đang làm cho chúng ta.
Chúng ta cần đặc tâm lưu ý hơn nữa về những gì tốt đẹp mà Chúa ban cho. Chúng ta luôn luôn chú tâm đến những vấn đề, những khó khăn và dường như chúng ta không muốn nhận ra những điều tốt đẹp đến từ Thiên Chúa.
Sự lưu tâm đó trở thành lòng biết ơn, đó là điều rất quan trọng đối với chúng ta và tạo ra cho chúng ta được ký ức về điều tốt đẹp, trợ lực cho chúng ta trong những cơn u tối.
Thiên Chúa thực hiện những điều vĩ đại, và ai có kinh nghiệm - đặc tâm hiểu biết đối với lòng tốt lành của Chúa - sẽ là người tràn đầy niềm vui.
Trên âm điệu vui mừng lễ lạc đó, tác giả kết thúc phần đầu của Thánh Vịnh. Được cứu thoát và trở về quê hương từ chốn lưu đày là một biến cố như sống trở lại: cuộc giải thoát làm cho nụ cười được mở ra, nhưng đồng thời cũng còn đang trong thái độ mong chờ thực hiện được những gì mình mong ước và mình đang cầu khẩn.
Đây là phần thứ hai của Thánh Vịnh chúng ta.
2 - “Lạy Chúa, xin thiết lập lại số phận của chúng con, như các suối của miền Negreb. Ai gieo trong nước mắt, sẽ gặt trong vui mừng. Ra đi trong nức nở, mang theo hạt giống để rải gieo, sẽ trở về đầy vui sướng, mang theo gánh lúa vàng” (Ps 126,4-6).
Nếu trong lúc khởi đầu lời cầu nguyện của mình, tác giả Thánh Vịnh hân hoan nói lên niềm vui của số phận đã được Chúa thiết lập lại, giờ đây anh còn xin một điều gì đó, cần còn phải được thực hiện.
Nếu chúng ta áp dụng Thánh Vịnh nầy vào biến cố từ chốn lưu đày trở về quê hương, điều trái nghịch phiến diện vừa kể có thể giải thích được bằng kinh nghiệm lịch sử, xảy ra cho Israel, trở về trong quốc gia đang gặp khó khăn, mặc dầu một phần nào đó thôi, khiến cho người cầu nguyện khẩn nài thêm nữa, xin Chúa can thiệp để tái lập lại hoàn hảo tình trạng ước muốn cho dân chúng.
Nhưng Thánh Vịnh còn đi xa hơn nữa những gì chỉ liên quan đến lịch sử, để mở rộng ra những chiều kích rộng lớn hơn, chiều kích thần học.
Kinh nghiệm đầy hy vọng của cuộc giải thoát khỏi Babylon đang còn phải được hoàn tất, “đã” được thực hiện, nhưng “còn phải” được đánh dấu bằng tính chất hoàn hảo quyết định.
Như vậy, trong khi vui mừng cử hành mừng cuộc giải phóng đã nhận được, lời cầu nguyện mở ra trước mắt miền đất khô cằn và cho thấy việc thực hiện hoàn hảo đang còn mong đợi. Bởi đó tác giả Thánh Vịnh dùng những hình ảnh cá biệt, với tính cách phức tạp của chúng, hướng dẫn tâm hồn người đọc đến thực trạng bí nhiệm của ơn cứu rỗi, trong đó đang đươn kết ơn đã nhận được và ơn còn đang mong đợi, đời sống và sự chết, niềm vui mơ ước và nước mắt khổ hạnh.
a) Hình ảnh đầu tiên nói đến các suối khô cạn trong sa mạc Negreb, mà với các cơn mưa sẽ được đầy tràn nước tuôn trào, đem lại đời sống cho miền đất khô cằn và làm cho đâm hoa kết quả. Như vậy lời cầu xin của tác giả Thánh Vịnh là thiết lập lại số phận của dân chúng và cuộc trở về quê hương từ cuộc lưu đày hãy là như nguồn nước, đảo lộn và không ai có thể ngăn cản được, có khả năng biến đổi sa mạc thành một miền đồng bằng mênh mông đầy cỏ xanh và bông hoa.
b) Hình ảnh thứ hai được di chuyển từ các vùng đồi núi và đá sỏi của miền Negreb, đến các cánh đồng nơi dân quê trồng trọt để tìm được thức ăn.
Để nói về ơn cứu độ, ở đây tác giả Thánh Vịnh nhắc lại kinh nghiệm, mà mỗi năm đều được lặp lại trong thế giới nông nghiệp: thời điểm khó khăn và mệt nhọc lúc gieo vãi và kế đến là niềm vui nức lòng lúc mùa gặt.
Một cuộc gieo vãi kéo theo nước mắt, bởi vì liệng bỏ đi những gì còn có thể trở thành bánh, đặt mình trước một sự chờ đợi không có gì chắc chắn. Người dân quê làm việc, chuẩn bị đất đai, gieo rắc hạt giống, nhưng như dụ ngôn người gieo giống nói cho chúng ta biết, không biết hạt giống đó rơi vào đâu, có bị chim trời ăn mất không, có bị khô héo không, có mọc rễ đâm cây được không, có trở thành bông lúa không (cfr. Mt 13,3-9; Mc 4,2-9; Lc 8,4-8).
Gieo vãi hạt giống là một động tác tin tưởng và hy vọng, cần thiết cho việc làm của con người, nhưng rồi sau đó phải đi vào khoảng thời gian chờ đợi bất lực, bởi vì người dân quê biết rằng có nhiều yếu tố quyết định liên quan đến công cuộc gặt hái tốt đẹp và mối nguy dẫn đến thất bại luôn luôn như hiện diện chờ chực ở ngưỡng cửa.
Dầu vậy, năm nầy qua năm khác, người dân quê vẫn lặp lại động tác của mình và gieo hạt giống mình. Và khi hạt giống trở thành cây lúa, và cánh đồng chứa đầy thợ gặt, đây là lúc vui sướng của người đứng trước một phép lạ phi thường. Chúa Giêsu biết rõ kinh nghiệm đó và Người nói với các môn đệ mình:
- “Nước Thiên Chúa giống như chuyện một người vãi hạt giống xuống đất. Đêm hay ngày, người ấy có thức hay ngủ, thì hạt giống vẫn nẩy mầm và mọc lên, bằng cách nào thì người ấy không biết” (Mc 4,26-27).
Mầu nhiệm ẩn giấu của đời sống, là những “điều kỳ diệu vĩ đại” của ơn cứu độ mà Thiên Chúa tác động trong lịch sử con người và bí ẩn của những điều đó, con người không biết được. Sự can thiệp của Thiên Chúa, khi nào được thể hiện hoàn hảo, cho thấy có một chiều kích mãnh liệt, như các ngọn suối Negreb và như các hạt giống trong cánh đồng, hạt giống cũng cho thấy chiều kích không theo thể thức tỷ lệ những việc Chúa làm: không có tầm mức tỷ lệ giữa sự mệt nhọc lúc gieo giống và niềm vui đại hải của mùa gặt, giữa mối âu lo chờ đợi viễn tượng đầy an ủi của các vựa lúa đầy ắp, giữa các hạt giống bé nhỏ gieo xuống đất và những đống lúa to lớn ánh vàng dưới mặt trời.
Đến mùa gặt, mọi chuyện đều thay đổi, tiếng than khóc đã chấm dứt, để lại chỗ cho tiếng thét vang vui mừng phấn khởi.
3 - Tác giả Thánh Vịnh có ý liên tưởng đến tất cả những gì vừa kể, để nói về ơn cứu độ, sự giải thoát, việc thiết lập lại số phận, biến cố trở về sau cuộc lưu đày.
Cuộc lưu đày ở Babylon, như mọi trạng thái đau khổ và khủng hoảng khác, với màn đêm tăm tối khổ đau do các mối ngờ vực và trạng thái bên ngoài xa rời Thiên Chúa gây nên, trên thực tế, Thánh Vịnh chúng ta nói lên như là một cuộc gieo giống.
Trong mầu nhiệm Chúa Kitô, dưới ánh sáng của Tân Ước, sứ điệp nói rõ ràng và minh nhiên hơn nữa: người tín hữu trải qua trạng thái tối tăm đó cũng giống như hạt lúa giống rơi xuống đất và chết đi, nhưng là chết đi để đem lại cho nhiều hoa quả (cfr. Jn 12,24).
Hoặc lấy lại một hình ảnh khác được Chúa Giêsu ưa thích, trạng thái đó của người tín hữu giống như người phụ nữ trong những cơn đau dạ của cuộc sinh đẻ, cần thiết để đạt đến được niềm vui đã đem ra ánh sáng một đời sống mới (cfr. Jn 16,21).
Anh Chị Em thân mến, Thánh Vịnh nầy dạy chúng ta rằng, trong lời cầu nguyện của chúng ta, chúng ta luôn luôn phải mở rộng tâm hồn ra cho niềm hy vọng và vững tin vào Chúa.
Lịch sử của chúng ta, mặc dầu thường khi được đánh dấu bằng đau khổ, không chắc chắn, những lúc bị khủng hoảng, vẫn là một lịch sử cứu độ và “thiết lập lại số phận”.
Nơi Chúa Giêsu, mọi cuộc lưu đày của chúng ta đều chấm dứt và mọi giọt nước mắt được lau khô; trong mầu nhiệm thập giá của Người, của sự chết được biến đổi thành sự sống, như hột lúa giống bị rách nát ra trong lòng đất và trở thành chùm lúa.
Đối với chúng ta cũng vậy, việc khám phá nầy đối với Chúa Giêsu là niềm vui to lớn của câu trả lời “đúng vậy” (ưng thuận) của Thiên Chúa, trong việc hoán cải lại số phận chúng ta.
Nhưng cũng như những người - từ Babylon trở về đầy hân hoan - đã phải gặp lại miền đất nghèo nàn, bị huỷ hoại, cũng như khó khăn của người gieo giống, nên họ đau khổ khóc lên, bởi vì không biết được rồi sau cùng sẽ có được mùa gặt hay không. Chúng ta cũng vậy, sau công cuộc khám phá trọng đại ra Chúa Giêsu Kitô - cuôc sống của chúng ta, chân lý, cuộc hành trình - bằng cách đi vào thửa ruộng của đức tin, trong “miền đất của đức tin”, chúng ta cũng thường gặp phải một cuộc sống đen tối, nặng nhọc, khó khăn, một mùa gieo giống đầy nước mắt, nhưng chúng ta chắc chắn ánh sáng của Chúa Kitô sau cùng, thực sự sẽ cho chúng ta mùa gặt trọng đại.
Chúng ta cũng cần phải học biết điều đó cả trong những đêm tối tăm, đừng quên rằng có ánh sáng, rằng Chúa đã ở giữa cuộc đời chúng ta và chúng ta có thể gieo vãi với lòng đầy tin tưởng rằng tiếng phán “đồng ý” của Chúa có mãnh lực hơn tất cả chúng ta.
Điều quan trọng là đừng quên ký ức nầy về sự hiện diện của Chúa trong đời sống chúng ta, đừng quên niềm vui sâu đậm nầy là Chúa đã đi vào đời sống chúng ta, bằng cách giải thoát chúng ta. Đó là lòng biết ơn về việc khám phá ra Chúa Giêsu Kitô, Đấng đã đến vì chúng ta.
Lòng biết ơn đó biến đổi thành hy vọng, đó là ngôi sao hy vọng ban cho chúng ta lòng tin cậy, đó là ánh sáng, bởi vì chính các đau khổ của lúc gieo giống là khởi điểm cho cuộc sống mới, cho niềm vui trọng đại và quyết định của Thiên Chúa.
Phỏng dịch từ nguyên bản Ý Ngữ: Nguyễn Học Tập.
(Thông tấn www.vatican.va (http://www.vatican.va), 12.10.2011).
admin
22-10-2011, 05:59 AM
BÀI GIÁO LÝ NGÀY THƯ TƯ (7A 34)
Công trường Thánh Phêrô, buổi yết kiến ngày thứ tư 19.10.2011.
MUÔN ĐỜI CHÚA VẪN TRỌN TÌNH THƯƠNG.
ĐỨC THÁNH CHA BENEDICTUS XVI
Anh Chị Em thân mến,
hôm nay tôi muốn được cùng với Anh Chị Em suy niệm về một Thánh Vịnh, tổng hợp cả lịch sử cứu độ mà Cựu Ước minh chứng cho chúng ta.
Chúng ta đang đề cập đến một Thánh Vịnh trong đại, ngợi khen Thiên Chúa trong nhiều hình thức, được lặp đi lặp lại tỏ ra lòng tốt lành của Người trong lịch sử con người, đó là Thánh Vịnh 136 - hay 135 theo truyền thống hy lạp - la tinh.
1 - Lời cầu nguyện trọng thể để cảm tạ, được biết đến dưới danh hiệu “ Hallel Cao Cả”. Đây là Thánh Vịnh, theo truyền thống, được hát lên vào phần kết thúc bữa ăn tối Lễ Vượt Qua và có lẽ cũng được Chúa Giêsu cầu nguyện trong Bữa Tiệc Ly cùng với các môn đệ, mà dường như các tác giả Phúc Âm có liên tưởng đến:
- “ Hát Thánh Vịnh xong Chúa Giêsu và các môn đệ ra núi Ô-liu" (Mt 26,30; Mc 14,16)
Như vậy viễn ảnh của lời hát ngợi khen chiếu sáng lên con đường đầy khó khăn hướng về đồi Golgota.
Cả Thánh Vịnh 136 được khai triển dưới hình thức một lời kinh cầu, được nhấn mạnh bằng cách lặp đi lặp lại:
- “ muôn đời Chúa vẫn trọn tình thương”.
Dọc theo cấu trúc của Thánh Vịnh, nhiều việc can thiệp lạ lùng của Chúa trong lịch sử con người được liệt kê ra và Người vẫn tiếp tục can thiệp cho lợi ích dân Người.
Và mỗi lần tuyên xưng một động tác cứu độ của Chúa, sau đó là câu đáp ứng của cộng đoàn bằng lời xướng kinh khởi đầu (vừa trích dẫn), nói lên lý do chính đáng của lời kinh chúc tụng ngợi khen, tình yêu thương muôn đời của Chúa. Đó là tình yêu thương, mà theo từ ngữ Do Thái được dùng, hàm chứa cả lòng trung tín, nhân hậu, tốt lành, ân sủng và lòng âu yếm.
Đó là lý do liên kết cả Thánh Vịnh, được lặp đi lặp lại dưới hình thức như nhau, trong khi các lần can thiệp đúng lúc và thực tiễn của Người: việc tạo dựng, việc cứu thoát trong thời kỳ xuất hành, biến cố ban cho đất đai, sự giúp đỡ quan phòng và bền vững của Chúa cho dân Người và cho mọi tạo vật.
Sau ba lần kêu gọi hãy cám tạ Chúa (Tv 136,1-3), Thánh Vịnh cất tiếng lên để ca ngợi Chúa như là Đấng làm những điều lạ lùng:
- “Chỉ có Người làm nên những kỳ công vĩ đại..." (Tv 136,4),
mà một trong những kỳ công đó là công cuộc sáng tạo: trời, đất, các tinh tú:
- “ Tầng trời cao, Chúa tạo dựng tài tình..., trải mặt đất nầy trên dòng nước bao la..., đặt trăng sao hướng dẫn ban đêm..." (Tv 136,5-9).
Thế giới được dựng nên không phải chỉ là bối cảnh, trên đó động tác cứu độ của Chúa được thực hiện, mà chính là khởi đầu của động tác kỳ diệu đó.
Với công trình tạo dựng, Thiên Chúa tỏ ra tất cả lòng tốt lành và sự đẹp đẻ của Người, với đời sống được nảy sinh, Người tỏ cho thấy lòng tốt lành của Người, từ đó thoát xuất ra mọi động tác cứu độ khác.
Trong Thánh Vịnh của chúng ta, lấy lại tư tưởng của chương I Sách Sáng Thế Ký, thế giới được dựng nên và được phối hợp trong tất cả các yếu tố chính của nó, bằng cách nhấn mạnh một cách đặc biệt đến các vì tinh tú, mặt trời, mặt trăng, các vì sao, những tạo vật tuyệt vời tuần hoàn cai quản ngày và đêm.
Ở đây Thánh Vịnh không nói đến việc tạo dựng con người, nhưng con người vẫn luôn luôn hiên diện, mặt trời và mặt trăng là để cho con người, để nói lên thời gian cho con người, nhắc nhở con người liên hệ với Đấng Tạo Hoá, nhứt là để chỉ cho con người các thời gian dành cho phụng vụ.
Và chính Lễ Vượt Qua được nói lên liền sau đó, khi nói về việc Thiên Chúa tỏ mình ra trong lịch sử,
- khởi đầu bằng biến cố trọng đại của việc giải thoát khỏi chế độ nô lệ ở Ai Cập,
- rồi đến biến cố xuất hành, bằng cách kể lại những yếu tố có ý nghĩa nhứt; cuộc giải thoát khỏi Ai Cập với cuộc đau thương của các con đầu lòng Ai Cập;
- ra khỏi Ai Cập, đến biến cố vượt qua Biển Đỏ,
- cuộc hành trình trong sa mạc cho đến lúc vào đất hứa (Tv 136,10-20).
Chúng ta đang ở vào thời điểm khởi đầu của lịch sử Do Thái. Thiên Chúa đã mạnh mẽ can thiệp, để đem dân Người đến miền tự do, qua trung gian của Môisen, sứ giả của Người, Thiên Chúa hiện diện trước mặt Pharaon cho thấy tất cả sự cao cả của Người và sau cùng, Người đã bẻ gãy sức đối kháng của Ai Cập bằng đại hoạ khủng khiếp với cái chết của các con trưởng nam của họ. Như vậy Israel có thể rời bỏ Xứ của Nô Lệ, cùng với vàng của những kẻ đàn áp mình:
- “ Con cái Israel đã làm theo lời ông Môisen; họ đã xin người Ai Cập những đồ bạc, đồ vàng và áo xống; Thiên Chúa cho dân được cảm tình của người Ai Cập, chúng làm như lời họ xin, và họ đã tước được của cải người Ai Cập” (Xh 12,35-36),
ra đi “ giơ tay đắc thắng” (Xh 14,8) trong dấu hiệu khải hoàn của cuộc chiến thắng.
Cũng vậy, ở Biển Đỏ, Thiên Chúa tác động với lòng đại lượng đầy quyền lực. Trước mặt dân chúng Israel đang khiếp sợ khi đoàn quân Ai Cập đuổi theo, đến nỗi than thân trách phận vì đã bỏ Ai Cập ra đi,
- “ Khi Pharaon tới gần, con cái Israel ngước mắt lên thì thấy người Ai Cập tiến đến sau lưng họ. Con cái Israel kinh hãi, liền lên tiếng kêu cầu Chúa. Ho nói với ông Môisen: “Bên Ai Cập không có đủ mồ chôn hay sao, mà ông lại đưa chúng tôi vào chết trong sa mạc? Ông làm gì chúng tôi vậy, khi ông đưa chúng tôi ra khỏi Ai Cập? Đó chẳng phải là điều chúng tôi từng nói với ông bên Ai Cập sao? Chúng tôi đã bảo: “Cứ để mặc chúng tôi làm nô lệ Ai Cập ! Thà làm nô lệ Ai Cập, còn hơn chết trong sa mạc !" (Xh 14,10-12).
Và Thiên Chúa, như Thánh Vịnh chúng ta thuật lại:
- “ đã chia Biển Đỏ ra làm hai (...) đã chôn vùi Pharaon và quân đội của ông ta" (Tv 136,13-15).
Hình ảnh Biển Đỏ “ bị chia làm hai” dường như gợi cho liên tưởng đến hình ảnh biển như là con ác thú khổng lồ bị chia cắt làm hai và như vậy làm cho nó trở thành vô hại.
Sức mạnh của Thiên Chúa chiến thắng nguy hiểm của các sức mạnh trong thiên nhiên và sức mạnh quân sự được con người dàn trận ra: biển có vẻ như chặn đường dân Chúa. Sức mạnh của Thiên Chúa để cho Israel vẫn có đường khô để đi qua và đóng lại trên người Ai Cập làm cho họ phải chết đuối:
- “ Thiên Chúa của ngươi đã giang cánh tay mạnh mẽ uy quyền..." (cfr. Đnl 5,15; 7,19; 26,8)
nói lên tất cả sức mạnh cứu độ.
Kẻ đàn áp bất công đã bị bại trận, bị nước cuốn đi, trong khi dân Chúa “ đi ngang qua ở giữa” để tiếp tục cuộc hành trình của mình tiến đến tự do....
2 - Về cuộc hành trình vừa kể, giờ đây Thánh Vịnh của chúng ta đề cập đến, bằng cách nhắc lại qua một câu văn ngắn ngủi chuyến lữ hành của Israel hướng về đất hứa:
- “ Chúa dẫn đưa dân Người qua sa mạc..." (Tv 136,16)
Mấy lời ít ỏi vừa kể chứa đựng một kinh nghiệm bốn mươi năm, một khoảng thời gian quyết định để cho Israel, để mình được Chúa hướng dẫn, học hỏi được bìết sống trong đức tin, trong vâng lời và dễ dạy đối với lề luật Chúa.
Đó là những năm đầy khó khăn, được đánh dấu bằng cuộc sống khổ cực trong sa mạc, nhưng đồng thời cũng là những năm hạnh phúc, liên hệ thân tình với Chúa, sống trong tình tin cậy con cái; đó là cuộc sống của thời “ thơ ấu”, như tiên tri Giêrêmia đã cho biết, khi ngài nói với Israel, nhân danh Chúa, bằng những phương thức diễn tả đầy âu yếm và thương nhớ:
- “ Ta nhớ lại lòng trung nghĩa của ngươi, lúc ngươi còn trẻ, tình yêu của ngươi, khi ngươi mới hứa hôn, lúc ngươi theo Ta trong sa mạc, trên vùng đất chẳng ai gieo trồng" (Gr 2,2).
Thiên Chúa như người mục tử của Thánh Vịnh 23, mà chúng ta đã có dịp suy niệm trong một bài giáo lý, trong suốt bốn mươi năm đã hướng dẫn dân Người, đã dạy dỗ và yêu thương, dẫn dắt đên tận miền đất hứa, lướt thắng cả những cuộc chống đối và thù nghịch của các dân thù địch, muốn cản trở cuộc hành trình giải thoát:
- “ sát hại bao lãnh chúa hùng cường (...) tiêu diệt những quân vương hiển hách (...) vua Seon của dân Amorrei (...) và vua Og miền Basan nữa” (Tv 136,17-20).
Trong tiến trình nối tiếp xảy ra các “ công trình kỳ diệu” mà tác giả Thánh Vịnh chúng ta liệt kê ra, chúng ta đạt đến ơn quyết định được ban cho, đó là việc thực hiện lời Chúa đã hứa với các Tổ Phụ :
- “ Người ban đất cho họ làm gia sản, muôn đời Chúa vẫn trọn tình thương. Gia sản cho tôi tớ Người là Israel, muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương” (Tv 136,21-22).
Trong biến cố cử hành mừng tình thương muôn ngàn đời của Thiên Chúa, giờ đây dân Israel nhớ lại ơn ban cho đất đai, một ân huệ mà dân chỉ phải lãnh nhận, chớ không cần phải chiếm cứ, sống trong thái độ tiếp tục đón nhận biết ơn và cảm tạ.
Dân Israel nhận lãnh đất đai nơi đó họ cư ngụ như là “ gia sản”, từ ngữ nói lên một cách tổng quát trạng thái có được một của cải từ một người khác, một quyền tư hữu, một cách đặc biệt, liên quan đến gia sản của cha ông để lại. Một trong những đặc tính cá biệt của Thiên Chúa là “ban cho”, và giờ đây, vào phần kết thúc của con đường xuất hành, Israel là chủ thể thừa tự, như là một đứa con, đi vào Xứ Sở của lời hứa được thực hiện.
Thời gian lữ hành lang thang đã chấm dứt, dưới các chiếc lều, đánh dấu một cuộc sống bấp bênh, tạm bợ. Giờ đây khởi đầu thời gian hạnh phúc vững bền, vui mừng để xây cất nhà cửa, trồng trọt vườn nho, sống trong an ninh (cfr. Đnl 8,7-13).
Nhưng đây cũng là thời điểm của cơn cám dỗ tôn thờ thần tượng, của cơn bị gây ô nhiễm liên hệ với các dân ngoại, thời gian tự cho mình tự túc đầy đủ làm cho mình quên đi Nguồn Gốc của ơn được ban cho. Bởi đó tác giả Thánh Vịnh đề cập đến việc thay đổi trở nên đê tiện và đến các kẻ thù nghịch, thực thể của sự chết, trong đó Thiên Chúa một lần nữa, mạc khải mình là Đấng Cứu Độ.
- “ Chúa đã nhớ đến ta giữa cảnh nhục nhằn, muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương, gỡ ta thoát khỏi tay thù địch, muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương” (Tv 136,23-24).
3 - Đến đây chúng a có thể tự hỏi làm sao chúng ta có thể làm cho Thánh Vịnh nầy cũng trở thành lời cầu ngguyện của chúng ta, làm sao chúng ta có thể làm cho trở nên là của chúng ta được?
Điều quan trọng là bối cảnh của Thánh Vịnh, từ lúc khởi đầu cho đến lúc cuối: đó là việc sáng tạo. Chúng ta sẽ trở lại biến cố nầy: công cuộc sáng tạo như là ơn trọng đại được Chúa ban cho, mà nhờ đó chúng ta sống, trong đó Người mạc khải Người với lòng tốt lành và cao cả.
Như vậy, lưu tâm đến công trình sáng tạo như là ơn Chúa cho, là một đỉnh điểm chung cho tất cả chúng ta.
Kế đến, tiếp theo là lịch sử cứu độ. Dĩ nhiên chúng ta có thể nói đến biến cố cứu độ nầy khỏi Ai Cấp, đến thời gian trong sa mạc, đến biến cố vào Thánh Địa và những vấn đề khác nữa, rất xa xôi đối với chúng ta, không phải là lịch sử của chúng ta.
Nhưng chúng ta nên lưu ý đến cấu trúc nền tảng của lời cầu nguyện nầy (trong Thánh Vịnh). Cấu trúc nền tảng, đó là Israel nhớ lại lòng tốt lành của Chúa. Trong dòng lịch sử đó, có nhiều thung lũng tối tăm, có nhiều đoạn đường khó khăn phải vượt qua và chết chóc, nhưng Israel vẫn nhớ rằng Thiên Chúa tốt lành và họ có thể sống sót trong thung lũng tối tăm đó, trong thung lũng của sự chết đó, bởi vì Thiên Chúa nhớ đến họ. Israel có trí nhớ đến lòng tốt lành của Chúa, đến sức mạnh của Người, lòng nhân từ của Người có giá trị muôn đời.
Điều nầy cũng quan trọng đối với chúng ta: nhớ đến lòng tốt lành của Chúa. Ký ức trở thành sức mạnh của niềm hy vọng.
Ký ức nói với chúng ta: có Thiên Chúa, Thiên Chúa tốt lành, lòng nhân từ của Người vô hạn. Như vậy, ký ức mở ra cho chúng ta, ngay cả trong thời điểm tối tăm của một thời gian, con đường hướng về tương lai, là ánh sáng và là vì sao hướng dẫn chúng ta.
Chúng ta cũng có ký ức về điều tốt lành, về tình yêu thương nhân lành, vô tận của Chúa.
Lịch sử Israel đã là một ký ức cho cả chúng ta, như Thiên Chúa tỏ mình Người ra thế nào, đã tạo dựng nên dân Người như thế nào.
Kế đến Thiên Chúa đã trở nên người, một con người như chúng ta: đã sống với chúng ta, đã chịu đau khổ với chúng ta, đã chết cho chúng ta. Thiên Chúa vẫn còn ở với chúng ta trong Phép Bí Tích và trong Lời Người. Đó là một dòng lịch sử, một ký ức về lòng tốt lành của Chúa, bảo đảm cho chúng ta lòng tốt lành của Người, tình yêu thương của Người vẫn mãi mãi đến muôn ngàn đời.
Và kế đến trong hai ngàn năm lịch sử nầy của Giáo Hội, luôn luôn vẫn được lặp lại lòng tốt lành của Chúa.
Sau thời gian tăm tối cơn bách hại của Đức Quốc Xã và Cộng Sản, Chúa đã giải thoát chúng ta, đã tỏ ra rằng Người tốt lành, Người có sức mạnh, lòng nhân từ của Người muôn đời vẫn có giá trị.
Và, như trong dòng lịch sử chung, tập thể, chính ký ức về lòng tốt lành nầy của Thiên Chúa trợ giúp chúng ta, trở thành vì sao của niềm hy vọng chúng ta.
Cũng vậy, mỗi người có dòng lịch sử cứu rỗi cá nhân của mình, và chúng ta phải nhận thực là gia sản dòng lịch sử nầy, luôn luôn có ký ức về những gì trọng đại Chúa đã làm cả cho cuộc đời của tôi: lòng nhân từ của Chúa có giá trị muôn đời.
Và nếu hôm nay tôi đang ở trong đêm tối, ngày mai Người sẽ giải thoát tôi, bởi vì lòng nhân từ của Người có giá trị muôn đời.
4 - Chúng ta hãy trở lại Thánh Vịnh, bởi vì trong phần kết thúc,Thánh Vịnh trở lại cuộc sáng tạo của Chúa, bằng những lời nầy:
- “ Người ban lương thực cho tất cả chúng sinh, muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương” (Tv 136,25).
Lời cầu nguyên của Thánh Vịnh được kết thúc bằng một lời mời gọi chúc tụng:
- “ Hãy tạ ơn Thiên Chúa cửu trùng, muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương” (Tv 136,26).
Thiên Chúa là Cha tốt lành và tiên liệu quan phòng, ban gia sản cho con cái mình và rộng lượng ban thức ăn cho tất cả để sống.
Thiên Chúa là Đấng đã dựng nên trời đất và các ánh sáng to lớn, là Đấng đi vào lịch sử con ngưòi, để đem đến ơn cứu rỗi cho tất cả con cái Người, là Thiên Chúa làm cho cả vũ trụ đầy tràn sự hiện diện tốt lành, chăm lo cho đời sống và ban cho thức ăn.
Sức mạnh vô hình của Đấng Tạo Hoá là Thiên Chúa được hát lên trong Thánh Vịnh, mạc khải mình ra trong nhãn quang nhỏ bé của bánh, mà Người ban cho chúng ta, nhờ đó Người làm cho chúng ta được sống.
Như vậy bánh hằng ngày tượng trưng và tổng hợp nói lên tình yêu thương của Thiên Chúa như là Cha, và mở ra cho chúng ta điều đã đươc thực hiện trong Tân Ước, đó là “ bánh của sự sống”, Thánh Thể, cùng đồng hành với chúng ta trong cuộc sống người tín hữu, tiên báo cho niềm hân hoan quyết định bàn tiệc Đấng Cứu Thế trên Trời.
Anh Chị Em thân mến, lời chúc tụng ngợi khen của Thánh Vịnh 136 làm cho chúng ta lần bước trở lại những giai đoạn quan trọng trong lịch sử cứu rỗi, cho đến mầu nhiệm phục sinh, trong đó động tác cứu độ của Chúa thể hiện đến thượng đỉnh.
Như vậy với niềm hân hoan biết ơn, chúng ta hãy chúc tụng Đấng Tạo Hoá, Đấng Cứu Thế và người Cha trung tín,
- “yêu thương thế gian đến nỗi đã ban cho Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống đời đời” (Ga 3,16).
Khi thời gian đã đến lúc, Con Thiên Chúa nhập thể làm người để ban đời sống, để cứu độ mỗi người chúng ta, và hiến tặng mình như bánh trong mầu nhiệm Thánh Thể, để làm cho chúng ta được hội nhập vào giao ước của Người, là giao ước làm cho chúng ta trở thành con cái.
Cùng thêm vào những gì vừa kể là lòng nhân từ của Chúa và đặc tính cao cả tuyệt vời “ tình yêu thương muôn đời” của Người.
Tôi muốn được kết thúc bài giáo lý nầy, lấy lại các lời của Thánh Gioan, được viết lên trong Thư I, làm như là lời của tôi và chúng ta phải đặc tâm lưu ý trong lời cầu nguyện của chúng ta:
- “ Anh em hãy xem Chúa Cha yêu thương chúng ta chừng nào. Người yêu thương đến nỗi cho chúng ta được gọi là con Thiên Chúa, và thục sự chúng ta là con Thiên Chúa” (1 Ga 3,1).
Cám ơn Anh Chị Em.
Phỏng dịch từ nguyên bản Ý Ngữ: Nguyễn Học Tập.
(Thông tấn www.vatican.va,19.10.2011) (http://www.vatican.va,19.10.2011%29).
admin
27-10-2011, 09:48 PM
BÀI GIÁO LÝ NGÀY THỨ TƯ (7A 35) Thính phòng Phaolồ VI, buổi yết kiến ngày thứ tư, 26.10.2011.
(Chuẩn bị chuyến công du hành hương ở Assisi)
AI HÀNH TRÌNH HƯỚNG VỀ CHÚA, KHÔNG THỂ KHÔNG CHIẾU TOẢ RA HOÀ BÌNH;
AI KIẾN TẠO HOÀ BÌNH, KHÔNG THỂ KHÔNG ĐẾN GẦN CHÚA.
ĐỨC THÁNH CHA BENEDICTUS XVI
Anh Chị Em thân mến,
hôm nay cuộc Yết Kiến quen thuộc mang một đặc tính cá biệt, bởi vì chúng ta đang ở vào ngày áp của Ngày suy nghĩ, đối thoại và cầu nguyện cho hoà bình và công lý trên thế giới, được cử hành ngày mai ở Assisi, năm thứ hai mươi lăm sau cuộc gặp gỡ lịch sử đầu tiên được Đức Chân Phước Gioan Phaolồ II triệu tập.
Tôi muốn được gọi ngày hôm đó dưới danh nghĩa là “Ngày của những người hành hương chân lý, hành hương hoà bình", để nói lên ý nghĩa mà chúng ta trọng thể muốn tái diễn lại, cùng với các thành phần của các tôn giáo khác nhau, và cả với những người không có tín ngưỡng, nhưng thành thật đang đi tìm chân lý, trong việc phát huy những gì tốt đẹp cho nhân loại và kiến tạo hoà bình.
Như tôi đã có dịp đề cập đến,
- “Ai hành trình hướng về Chúa, không thể không chiếu toả ra hoà bình; ai kiến tạo hoà bình, không thể không đến gần Chúa".
1 - Như người tín hữu Chúa Kitô, chúng ta xác tín rằng cộng tác cao quý nhứt là chúng ta có thể góp phần cho việc kiến tạo hoà bình là lời cầu nguyện.
Đó là lý do tại sao hôm nay chúng ta gặp nhau lại với tư cách là Giáo Hội ở Roma, cùng với các người hành hương hiện diện tại Roma, để nghe Lời Chúa, để cầu xin Chúa với đức tin xin Chúa ban cho ơn hoà bình. Xin Chúa soi sáng trí khôn và tâm hồn chúng ta, hướng dẫn chúng ta thành những người xây dựng công lý và hoà giải trong các thực trạng hằng ngày của chúng ta và trong thế giới.
Trong đoạn sách ngôn sứ Zaccaria mà chúng ta vừa nghe, lập lại hoàn hảo niềm hy vọng và ánh sáng:
- “Người sẽ quét sạch chiến xa khỏi Ephraim và chiến mã khỏi Giêrusalem; cung nỏ chiến tranh sẽ bị Người bẻ gãy, và Người sẽ công bố hoà bình cho muôn dân. Người thống trị từ biển nầy qua biển nọ, từ sông Cả đến tận cùng cõi đất” (Zc 9,10).
Thiên Chúa tuyên hứa sự cứu độ, mời gọi “vui mừng hoan hỷ ", bởi vì sự cứu độ đó đang được thể hiện. Thiên Chúa là Đấng Chính Trưc và Toàn Thắng (Zc 9,9).
Nhưng Đấng được ngôn sứ công bố không phải là một vì vua, được thể hiện ra với quyền lực con người, với sức mạnh của vũ khí, không phải là vì vua thống trị bằng quyền lực chính trị và quân sự, mà là một vì vua cai trị bằng đức khiêm nhường và hiền lành trước mặt Chúa và trước mặt mọi người, là một vì vua khác hẵn đối với các đại đế thế gian:
- “Và kìa Đức Vua của ngươi đang đến với ngươi, Người là Đấng Chính Trực, Đấng Toàn thắng, khiêm tốn ngồi trên lưng lừa, một con lừa con vẫn còn theo mẹ” (Zc, id.).
Người hiện diện trước dân trên lưng thú vật thông thường của dân chúng, của dân nghèo, trái với chiến xa quân đội của các đại đế quyền năng thế giới. Người là đức vua làm tan biến đi các chiến xa bẻ gãy các cung nỏ chiến đấu, sẽ công bố hoà bình cho các dân tộc (Zc 9,10).
Nhưng vị vua đó là ai, mà Zaccaria đề cập đến?
Chúng ta đi đến Bethlem một chút và nghe lại những gì thiên sứ nói với các mục đồng đang thức đêm để canh giữ đoàn chiên của họ. Thiên sứ loan báo một niềm vui mừng, hân hoan cho cả dân tộc qua dấu chỉ khó nghèo, đó là một hài nhi được quấn trong một tấm khăn, được đặt nằm trong máng cỏ (Lc 2,8-12).
Và đông đảo các thiên sứ trên trời cất tiếng hát lên:
- “Vinh danh Thiên Chúa trên trời cao và bình an dưới thế cho người Chúa thương” (Lc 2,14), cho những người thiện tâm.
Biến cố sinh ra của đứa trẻ đó, là Chúa Giêsu, đem đến lời loan báo hoà bình cho thế giới.
Nhưng chúng ta cũng đi đến những giai đoạn cuối cùng cuộc đời Chúa Kitô, khi Người vào thành Giêrusalem, được đoàn lũ dân chúng mừng rỡ đón rước như ngày lễ hội. Lời loan báo của tiên tri Zaccaria về biến cố một vì vua khiêm nhường và hiền lành đại lượng được gợi nhớ lại trong tâm tư các môn đệ Chúa Giêsu, một cách đặc biệt sau các biến cố khổ nạn, tử nạn và phục sinh, tức là Mầu Nhiệm Phục Sinh, khi các vị nhìn lại bằng cặp mắt đức tin thời điểm đầy hân hoan, lúc Thầy đi vào Thị Xã Thánh. Ngài cởi trên lưng một con lừa mẹ, mượn được của ai đó (Mt 21, 2-7), chớ không phải trên một chiếc xe nguy nga, cũng không cởi ngựa như những nhân vật quan trọng. Người không vào Giêrusalem, được đoàn quân hùng mạnh hộ tống với xe cộ và kỵ mã. Người là một vị vua khó nghèo, là vị vua của những người khó nghèo của Thiên Chúa. Trong bản văn hy lạp, chúng ta có từ ngữ praesis, có nghĩa là hiền lương, tốt lành; Chúa Giêsu là vua của những anawim, của những người có tâm hồn tự do khỏi lòng ham hố quyền lực và giàu có vật chất, khỏi ý chí và lòng ham muốn thống trị trên người khác.
Chúa Giêsu là vua của bao nhiêu người có tự do nội tâm, làm cho họ có khả năng vượt thắng được tính tham lam, ích kỷ chủ nghĩa của thế gian, vì họ biết rằng chỉ có Chúa là gia sản giàu có của mình.
Chúa Giêsu là vị vua khó nghèo giữa những người khó nghèo, hiền hậu tốt lành giữa những người muốn được hiền hậu tốt lành.
Với phương thức đó, Người là vua của hoà bình, nhờ quyền lực của Thiên Chúa, là quyền lực của những gì tốt lành, là quyền lực của tình yêu thương.
Người là vị vua làm biến đi các chiến xa và ngựa để đấu trận, là Đấng bẻ gãy cung nỏ của giặc giã, là vị vua thực hiện hoà bình trên Thánh Giá. nối kết đất với trời và bắt một nhịp cầu huynh đệ giữa tất cả mọi người.
Thánh Giá là cung nỏ mới của hoà bình, dấu chứng của hoà giải, của tha thứ và hiểu biết, là dấu chứng nói lên tình yêu thương mạnh hơn mọi vũ lực và mọi đàn áp, mạnh hơn sự chết: sự dữ bị đánh bại bằng điều thiện, bằng tình thương yêu.
2 - Đó là vương quốc mới của hoà bình, trong đó Chúa Kitô là vua, là vương quốc được trải rộng ra khắp mặt đất.
Tiên tri Zaccaria loan báo rằng vị vua hiền hậu tốt lành, hoà bình đó sẽ thống trị
- “từ biển nầyqua biển nọ, từ sông Cả đến tận cùng cõi đất” (Zc 9, 10),
vương quốc mà Chúa Kitô khánh thành có tầm vóc bao quát đến tất cả mọi người. Chân trời của vị vua khó nghèo, hiền hậu nhân từ nầy không phải thuộc lằn mức đất đai, ranh giới Quốc Gia, mà là lằn mức thế giới. vượt qua bên kia mọi lằn ranh chủng tộc, ngôn ngữ, văn hoá. Người tạo nên hiệp thông, đoàn kết.
Chúng ta thấy được thực hiện ở đâu lời loan báo đó?
Trong mạng lưới to tác của các cộng đồng Thánh Thể, trải rộng ra khắp mặt đất bừng sáng ngời lời tiên báo của tiên tri Zaccaria. Đó là một tấm khảm to lớn các cộng đồng, trong đó sự hy sinh yêu thương của vị vua nhân từ hiền hậu và hoà bình nầy được làm cho thể hiện lên. Đó là tấm khảm diễn tả “Vương Quốc Hoà Bình” của Chúa Giêsu, từ biển đến biển, cho đến tận cùng trái đất. Đó là vô số các “hải đảo hoà bình” đang chiếu toả hoà bình. Trên thực tế, khắp nơi, trong mọi nền văn hoá, từ những đô thị lớn với các dinh thự cao ốc của chúng, cho đến những làng mạc bé nhỏ với nhũng căn nhà khiêm tốn của mình, từ những thánh đường chính toà to lớn đến những nhà nguyện nhỏ bé, Người đến, làm cho mình hiện diện, và trong việc thông hiệp với Người, cả những con người cũng hiệp nhứt với nhau thành một thân thể duy nhứt, vượt thắng mọi phân chia, ganh đua, hận thù.
Chúa đến trong Thánh Thể để cất đi chúng ta ra khỏi cá nhân chủ nghĩa, khỏi những cá biệt của chúng ta làm cho chúng ta loại trừ người khác, để làm cho chúng ta trở thành một thân thể duy nhứt, một vương quốc hoà bình duy nhứt trong thế giới phân chia.
Nhưng làm sao chúng ta có thể xây dựng được vương quốc hoà bình nầy, mà Chúa Kitô là vua?
Giới răn mà Người để lại cho các Tông Đồ của Người và, qua các vị, cho tất cả chúng ta là:
- “Anh em hãy đi khắp nơi và làm cho tất cả trở thành môn đệ...Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28, 19).
Như Chúa Giêsu, các sứ giả hoà bình của vương quốc Người phải khởi hành thượng lộ, phải đáp ứng lại lời mời gọi của Người. Họ phải ra đi, nhưng không phải với quyền lực của chiến tranh hay với mãnh lực của quyền bính. Trong đoạn Phúc Âm mà chúng ta đã nghe, Chúa Giêsu phái bảy mươi hai môn đệ đi vào cánh đồng gặt rộng lớn là thế giới, kêu gọi các vị hãy nguyện xin Chúa của mùa gặt để không bao giờ thiếu thợ gặt trong cánh đồng của Người (Lc 10, 1-3), nhưng Ngưòi không sai các vị đi với các phương tiên của quyền lực, mà “như các con chiên giữa bầy sói” (Lc 10, 3), không bị gậy, giày dép (Lc 10, 4).
Thánh Gioan Kim Khẩu (Gioanni Crisostomo), qua một trong những Bài Giảng của ngài, đã giải thích:
- “Khi nào chúng ta còn là những con chiên, chúng ta sẽ thắng, ngay cả khi chúng ta bị nhiều sói dữ bao vây, chúng ta sẽ vượt thắng chúng. Nhưng nếu chúng ta trở thành sói, chúng ta sẽ bị thất bại, bởi vì chúng ta thiếu đi sự trợ lực của mục tử” (Omelia 33, 1 PG 57, 389).
Người tín hữu Chúa Kitô không được để lòng mình sa ngã theo cơn cám dỗ trở thành chó sói giữa các chó sói, không phải bằng quyền lực, bằng sức mạnh, bằng bạo lực mà vương quốc hoà bình của Chúa Kitô được trải rộng ra, mà bằng việc hy sinh chính mình, bằng tình yêu thương đến độ cuối cùng, ngay cả đối với kẻ thù địch.
Chúa Kitô không chiến thắng thế gian bằng sức mạnh của vũ khí, mà bằng mãnh lực của Thánh Giá, là đảm bảo đích thực cho sự toàn thắng.
Đó như là kết quả cho những ai muốn trở thành môn đệ Chúa, người được Chúa sai đi, sẵn sàng ngay cả cho khổ nạn và tử đạo, mất mạng sống của chính mình vì Người, để cho sự thiện, tình yêu thương, hoà bình chiến thắng trong thế gian.
Chúng ta có thể nói đó là điều kiện, khi đi vào mọi hoàn cảnh thực tế:
- “Bình an cho nhà nầy” (Lc 10, 5).
3 - Trước Đền Thờ Thánh Phêrô, có hai tượng lớn Thánh Phêrô và Phaolồ, được nhận ra một cách dễ dàng:
- Thánh Phêrô cầm chìa khoá trong tay,
- trong khi đó thì Thánh Phaolồ cầm trong tay một thanh gươm.
Đối với những ai không biết lịch sử của vị sau cùng nầy, họ có thể nghĩ rằng ngài là một nhà lãnh đạo to tác, đã hướng dẫn những đạo quân hùng mạnh, đã chinh phục các dân tộc và quốc gia bằng thanh gươm, làm cho mình trở nên thời danh và giàu có bằng máu của người khác.Nhưng thực tế hoàn toàn trái ngược: thanh gươm mà ngài cầm trong tay là dụng cụ mà Thánh Phaolồ bị xử tử, mà ngài chịu tử đạo và đổ máu của chính mình ra.
Trận chiến không phải là chiến trận của vũ lực, của chiến tranh, mà là trận chiến tử đạo vì Chúa Kitô. Vũ khí độc nhứt của ngài đó chính là lời loan báo:
- “Chúa Giêsu Kitô và Kitô chịu đóng đinh” (1 Cor 2, 2).
Lời giảng dạy của ngài không dựa trên
- “những bài thuyết giảng có tính cách thuyết phục của trí khôn ngoan, mà dựa trên sự mạc khải của Chúa Thánh Thần và quyền năng của Người” (1 Cor 2,4).
Thánh Phaolồ đã hy sinh cuộc sống mình để đem đến sứ điệp hoà giải và và hoà bình của Phúc Âm, tiêu hao mọi nghị lực của ngài để làm cho sứ điệp đó vang lên đến tận cùng trái đất.
Và đó chính là sức mạnh của ngài; ngài không tìm kiếm một đời sống yên ổn, tiện nghi, tránh xa khỏi các điều khó khăn, những điều đối nghịch, nhưng là tiêu hao chính mình vì Phúc Âm; ngài đã hy sinh tất cả chính mình không dành dụm một điều gì và như vậy ngài trở thành sứ giả hoà bình và hoà giải của Chúa Kitô.
Thanh gươm mà Thánh Phaolồ cầm lấy trong tay cũng gợi lại sức mạnh của chân lý, thường khi là sức mạnh có thể làm tổn thương, có thể gây đau đớn.
Vị Thánh Tông Đồ vẫn trung thành với chân lý đến tận cùng, ngài đã phục vụ chân lý, đã phải đau khổ vì chân lý, đã trao mạng sống mình vì chân lý.
Điều hợp lý đó cũng có giá trị đối với chúng ta, nếu chúng ta muốn là những sứ giả đem vương quốc hoà bình đến, vương quốc mà tiên tri Zaccaria đã loan báo và được Chúa Kitô thực hiện: chúng ta phải sẵn sàng trả giá bằng chính con người của mình, sẵn sàng chính mình chịu đau khổ đối với thái độ không hiểu biết, khước từ, bách hại.
Không phải thanh gươm của người xâm chiếm, chiếm lấy được hoà bình, mà là thanh gươm của con người đau khổ, của những ai biết hy sinh mạng sống mình.
Anh Chị Em thân mến, như người tín hữu Chúa Kitô,chúng ta muốn xin Chúa ban cho ơn hoà bình, chúng ta muốn xin Người làm cho chúng ta trở thành dụng cụ hoà bình của Người trong một thế giới đang còn rách nát vì ghen ghét, chia rẻ, ích kỷ, chiến tranh.
Chúng ta muốn van xin Người cho buổi gặp gỡ ngày mai ở Assisi (miền Trung Ý Quốc, quê hương của Thánh Phanxicô) tạo được điều kiện thuận tiện để đối thoại giữa những người thuộc các tôn giáo khác nhau và đem lại một tia sáng chiếu soi tâm trí của tất cả mọi người, để cho
- oán thù nhường bước cho lòng tha thứ,
- chia tách nhường bước cho hoà giải,
- ghen ghét nhường bước cho tình yêu,
- bạo lực nhường bước cho lòng hiền hậu, tốt lành
- và trên thế giới có được hoà bình ngự trị.
Amen.
Phỏng dịch từ nguyên bản Ý Ngữ: Nguyễn Học Tập.
(Thông tấn www.vatican.va, 26.10.2011).
admin
11-11-2011, 05:05 AM
BÀI GIÁO LÝ NGÀY THỨ TƯ (7A 37)
Công trường Thánh Phêrô, buổi yết kiến ngày thứ tư, 09.11.2011
TRONG THÁNH CHỈ CỦA CHÚA LÀ HẠNH PHÚC CỦA CON, CON SẼ KHÔNG QUÊN LỜI CHÚA.
(Thánh Vịnh 119 (118).
ĐỨC THÁNH CHA BENEDICTUS XVI
Anh Chị Em thân mến,
trong các bài giáo lý vừa qua, chúng ta đã suy niệm đến một vài Thánh Vịnh, là những mẫu gương cá biệt cho lời cầu nguyện thở than, tin cậy, ngợi khen.
Trong bài giáo lý hôm nay, tôi muốn được dừng lại ở Thánh Vịnh 119 theo truyền thống Do Thái, 118 theo truyền thống Hy Lạp - La Tinh: là một Thánh Vịnh thật đặc biệt, độc nhứt trong loại Thánh Vịnh chưa từng có.
Trước tiên độc nhứt do chiều dài của Thánh Vịnh: thật vậy, Thánh Vịnh gồm có 176 câu thơ, được chia thành 22 điệp khúc, trong mỗi điệp khúc có 8 câu thơ. Và Thánh Vịnh đặc biệt còn được viết theo thứ tự mẫu tự: nghĩa là được viết theo thứ tự mẫu tự Do Thái, gồm có 22 chữ. Mỗi điệp khúc đáp ứng lại một mẫu tự, mà với chữ đó bắt đầu lời đầu tiên của 8 câu thơ.
Đây là một cấu trúc đặc sắc và đầy công phu, trong đó tác giả Thánh Vịnh đã phải dùng hết tài năng của mình.
1 - Nhưng điều quan trọng đối với chúng ta chính là chủ đề chính yếu của Thánh Vịnh nầy. Vì đây là một bài ca trọng đại và cao cả đối với Torah của Chúa, tức là đối với Lề Luật, từ ngữ được dùng với ý nghĩa rộng rãi và đầy đủ ám chỉ lời dạy bảo, giáo huấn, định hướng đời sống.
Torah là mạc khải, là Lời Chúa kêu gọi con người và thấy nên nơi con người câu trả lời vâng phục trong tin cậy và bằng tình yêu thương quảng đại.Cả Thánh Vịnh nầy đều tràn ngập tình yêu thương Lời Chúa, để nói lên vẻ đẹp, mãnh lực cứu độ, khả năng ban cho niềm vui tươi và đời sống.
Lề Luật Chúa không phải là gông cùm nặng nề của nô lệ, mà là ân sủng giải thoát và đem lại hạnh phúc:
- “Con vui thích với thánh chỉ của Chúa, con sẽ không quên lời Chúa phán” (Ps 119,16),
như lời tác giả Thánh Vịnh xác quyết. Và kế đến
- “Trên đường mệnh lệnh Chúa, xin dẫn con đi, vì đó là hạnh phúc của con” (Ps 119,35).
Còn nữa:
- “Con yêu chuộng luật pháp Chúa biết bao, suốt ngày cứ suy đi gẫm lại” (Ps 119,97).
Lề luật của Chúa, Lời Ngài, là tâm điểm đời sống của người cầu nguyện, trong đó người cầu nguyện tìm được sự an ủi, người cầu nguyện lấy đó để suy niệm, ôm ấp giữ lấy trong lòng mình:
- “Lời Chúa, lòng con ấp ủ, để chẳng bao giờ bội nghĩa bất trung” (Ps 119,11).
Hạnh phúc của tác giả Thánh Vịnh được nảy sinh bằng nghe Lời Chúa, bằng cách ấp ủ giữ lấy trong tâm hồn, suy niệm và mến yêu Lời Chúa, chính như Mẹ Maria, “gìn giữ và suy niệm trong lòng” những lời được nói với Mẹ và những biến cố tuyệt diệu trong đó Chúa mạc khải mình cho Mẹ, mời gọi Mẹ hãy biết đồng thuận chấp nhận với đức tin:
- “Còn bà Maria thì hằng ghi nhớ mọi kỷ niệm ấy, và suy đi, nghĩ lại trong lòng” (Lc 2,19).
- “Sau đó, Người đi xuống cùng với cha mẹ, trở về Nazareth, và hằng vâng phục các ngài. Riêng Mẹ Người thì hằng ghi nhớ tất cả những điều ấy trong lòng” (Lc 2,51).
Nếu Thánh Vịnh của chúng ta khởi đầu bằng cách tuyên báo
- “Phúc thay...ai đi trong Lề Luật Chúa” (Ps 119,1b)
- và "... ai gìn giữ các lời dạy bảo của Người “(Ps 119,2a),
thì chính Mẹ Maria là ngưòi thực hiện hoàn hảo hình ảnh người tín hữu được tác giả Thánh Vịnh diễn tả. Thật vậy, chính Mẹ, là người "có phúc đích thực”, được bà Elisabeth tuyên bố,
- “vì đã tin rằng Chúa sẽ thực hiện những gì Người đã nói với em” (Lc 1,45).
Và chính cho Mẹ và cho đức tin của Mẹ mà Chúa Giêsu đã minh chứng cho, khi một người thiếu phụ thốt lên “Phúc thay dạ đã cưu mang Thầy và cho Thầy bú mớm”, thì Chúa Giêsu đáp:
“Đúng hơn phải nói rằng: “Phúc Thay kẻ lắng nghe và tuân giữ lời Thiên Chúa” (Lc 11,27-28).
Dĩ nhiên Mẹ Maria là nguời được chúc phúc, bởi vì dạ Mẹ đã cưu mang Đấng Cứu Thế, nhưng nhứt là bởi vì Mẹ đã lắng nghe Lời Chúa loan báo cho, bởi vì Mẹ biết chăm chỉ lắng nghe và thương yêu gìn giữ Lời Người.
2 - Như vậy cả Thánh Vịnh 119 được diễn đạt chung quanh Lời hằng sống và chúc phúc nầy.
Nếu chủ đề chính yếu của Thánh Vịnh là “Lời” và “Lề Luật” Chúa, chung quanh hai từ ngữ nầy gấn như tất cả các từ ngữ đồng nghĩa khác đều quy tựu hướng về, như “sắc lệnh”, “nghị định”, “lệnh truyền”, “các lời giảng dạy”, “lời hứa”, “phán đoán” , và kế đến là bao nhiêu động từ có liên hệ với, như tuân giữ, gìn giữ, thấu hiểu, hiểu biết, yêu mến, suy đi nghĩ lại, sống.
Cả mẫu tự Do Thái được dần dần diễn tả ra qua 22 đoạn thi phú của Thánh Vịnh nầy, và cả những từ ngữ nói lên mối tương quan tin cậy của người tín hữu vào Chúa, trong đó chúng ta gặp được lời ngợi khen, lòng cảm tạ, tin cậy, cả lời khẩn xin và than van, nhưng luôn luôn vẫn chứa đầy lòng tin chắc chắn vào ân sủng của Chúa và vào quyền năng của lời Chúa.
Ngay cả những câu thơ đưọc diễn tả nhiều hơn, nói lên nỗi đau khổ và tư tưởng tăm tối vẫn rộng mở ra cho niềm hy vọng và tràn đầy đức tin:
- “Đời sống con bị nhận xuống bùn đen, xn cho con đưoc sống theo lời của Chúa” (Ps 119,25).
Người tín hữu lớn tiếng kêu lên:
- “Dầu con như bầu da gác bếp, con cũng chẳng quên thánh ý Chúa” (Ps 119,83).
Lòng trung thành của anh, mặc dầu đang bị đặt vào cơn thử thách, anh vẫn gặp được sức mạnh trong Lời Chúa:
- “Con sẽ đối đáp với những người lăng nhục, vì con tin cậy ở Lời Chúa” (Ps 119,42).
Anh vẫn vững vàng xác quyết, ngay cả trước viễn ảnh đầy âu lo của sự chết, các lời khiến dạy của Chúa là định điểm chuẩn định của anh và của niềm hy vọng anh vào vinh quang chiến thắng:
- “Một chút nữa là chúng diệt con trên đất nầy, nhựng con chẳng bỏ huấn lệnh của Chúa” (Ps 119,87).
Lề Luật Chúa, đối tượng lòng yêu thương say mê của tác giả Thánh Vịnh và của mọi người tín hữu, là nguồn mạch của sự sống.
Lòng ước muốn thấu hiểu được, tuân giữ, quy hướng tất cả đời sống mình vào đó, đó là đặc tính của con người công chính và trung thành với Thiên Chúa, “suy đi ngẫm lại suốt ngày đêm”, như Thánh Vịnh 1,2 (Ps 1,2) nói lên.
Là Lề Luật, Lề Luật của Chúa, cần phải” đặt lên trái tim”, ai trong chúng ta cũng biết văn bản Shema của Sách Đệ Nhị Luật:
- “Hãy nghe đây Israel...Những huấn dạy mà Ta ban cho ngươi hôm nay, hãy gắn chặt chúng vào tâm tư ngươi. Ngươi hãy lập lại cho con cái ngươi, ngươi hãy đề cập đến khi ngươi ở trong nhà ngươi, khi ngươi đi ngoài đường, khi ngươi nằm ngủ và khi ngươi chỗi dậy" (6,4.6-7).
3 - La trung tâm điểm của cuộc sống, Lề Luật của Chúa đòi buộc phải nghe bằng trái tim, lắng nghe không phải bằng vâng phục nô lệ, mà bằng thái độ của con cái tuân giữ, tin cậy, ý thức.
Lắng nghe Lời Chúa là gặp gỡ cá nhân mình với Thiên Chúa của sự sống, cuộc gặp gỡ phải được diễn tả ra bằng những chọn lựa thiết thực, trở thành lộ trình và đi theo.
Khi được hỏi phải làm gì để có được cuộc sống đời đời, Chúa Giêsu chỉ cho biết con đường tuân giữ Lề Luật, nhưng còn bằng cách làm sao để cho cuộc tuân giữ đó trở thành trọn hảo:
- “Anh chỉ còn thiếu một điều, là hãy đi bán những gì anh có mà cho người nghèo, anh sẽ được một kho tàng trên trời. Rồi hãy đến mà theo Ta "(Ma 10,21).
Thực hiện hoàn hảo Lề Luật là theo Chúa Giêsu, đi trên con đường Chúa Giêsu, cùng đi chung với Chúa Giêsu.
Như vậy Thánh Vịnh 119 hướng dẫn chúng ta đến gặp Chúa và định hướng cho chúng ta hướng về Phúc Âm. Trong đó có một câu thơ mà tôi bây giờ muốn dừng bước lại để suy tư, đó là câu 57:
- “Chúa là phần của con, con quyết tâm tuân giữ các lời Chúa” (Ps 119,57).
Cả trong những Thánh Vịnh khác, người cầu nguyện xác nhận rằng là “phần” của mình, là gia sản của mình:
- “Lạy Chúa, Chúa là phần gia nghiệp con được hưởng, là chén phúc lộc dành cho con” (Ps 16,5)
Và người tín hữu trong Thánh Vịnh 73 tuyên bố:
- “Chúa là tảng đá của trái tim tôi, là phần của tôi mãi mãi” (Ps 73,23b).
Còn nữă, trong Thánh Vịnh 142, tác giả Thánh Vinh kêu lên Chúa:
- “Chúa là nơi ẩn náo cho con, là gia sản của con trong miền đất những người hằng sống” (Ps 142,6b).
Đến đây thì từ ngữ “phần” gợi lên biến cố phân chia miền đất hứa giữa các chi tộc Israel, trong khi đó các người thuộc chi tộc Leviti không được cấp cho một phần đất nào, bởi vì phần của họ chính là Thiên Chúa. Hai bản văn của Sách Pentateuco (Năm quyển sách đầu trong Cựu Ước) đã nêu rõ vấn đế, bằng cách dùng từ ngữ liên hệ:
- “Thiên Chúa nói với Aaron: “Con không có một gia sản trong đất đai của chúng và sẽ không có phần nào cho con giữa chúng. Ta là phần của con và là gia sản của con ở giữa dân Israel” (Nm18,20)
Sách Đệ Nhi Luât tuyên bố:
- “Vì thế chi tộc Levi không đươc chung phần và hưởng gia nghiệp với anh em mình, chính Chúa là gia nghiệp của họ, như Chúa, Thiên Chúa của anh em đã phán với họ” (Dt 10,9; cfr. Dt 18,2; Gs 13,33; Ez 44,28),
Các vị tư tế, thuộc về họ tộc Levi, không thể là chủ nhân của đất đai trong Xứ Sở, mà Chúa đã ban cho dân chúng làm gia sản, để thực hiện lời hứa với Abraham (Gen 12,1-7).
Quyền chiếm hữu được đất đai, yếu tố thiết yếu cho cuộc sống bền vững và có thể sống còn, là dấu chỉ được Chúa chúc phúc, bởi lẽ sự kiện vừa kể hàm chứa việc có thể xây cất nhà cửa, nuôi nấng con cái lớn lên, trồng trọt trên các cánh đồng và sống nhờ hoa trái của đất đai.
Tuy nhiên các thầy Lêvi, những vị trung gian giữa lãnh vực thiêng thánh và lời Chúa chúc phúc, không có quyền chiếm hữu, như những người Do Thái khác, dấu chỉ bề ngoài của việc chúc phúc và nguồn mạch để sống còn đó.
Hoàn toàn tận hiến cho Chúa, các thầy phải hoàn toàn sống nhờ Người, phó thác mình cho tình yêu thương quan phòng của Người và cho lòng rộng rãi của anh em, không được có gia sản, bởi vì Chúa là phần gia sản của các thầy. Thiên Chúa là đất đai của các thầy, làm cho các thầy được sống đầy đủ.
4 - Giờ đây người cầu nguyện Thánh Vịnh 119 áp dụng cho mình thực tế vừa kể: “Chúa là phần của tôi ". Tình yêu thương của anh đối với Chúa và đối với Lời của Người làm cho anh có sự lựa chọn tuyệt đối, có được Chúa như là của cải tốt lành duy nhứt và cũng gìn giữ Lời Người như là ơn ban quý báu, quý báu hơn mọi di sản, hơn mọi việc chiếm hữu đất đai.
Thật vậy câu thơ của chúng ta có thể dịch được bằng hai cách và có thể dưới hình thức sau đây:
- “Lạy Chúa, phần của con, con đã nói, đó là gìn giữ Lời Chúa".
Hai cách dịch không tương phản nhau, mà trái lại bổ túc cho nhau: tác giả Thánh Vịnh đang xác quyết rằng phần của mình là Thiên Chúa, nhưng gìn giữ các lời của Chúa cũng là gia sản của mình, như anh sẽ nói ra sau đó ở câu 111:
- “Thánh ý Chúa là gia nghiệp mãi mãi của con, vì đó là hoan lạc của lòng con” (Ps 119,111).
Đó là niềm hạnh phúc của tác giả Thánh Vịnh, của anh, cũng như của các thầy Levi, Lời Chúa được ban cho như là phần gia sản.
Anh Chị Em thân mến,
những câu thơ vừa kể cũng rất quan trọng đối với tất cả chúng ta hiện nay.
Trước tiên là đối với các Linh Mục, được kêu gọi chỉ để sống cho Chúa và cho Lời của Người, không có những bảo chứng nào khác, bỏi lẽ các Vị chỉ có Người như là của cải duy nhứt và nguồn mạch duy nhứt để sống.
Dưới ánh sáng nầy, chúng ta có thể hiểu được việc tự do lựa chon đời sống độc thân cho Nước Trời, cần phải đươc khám phá ra vẻ đẹp và sức mạnh của ơn kêu gọi đó.
Nhưng những câu thơ trên cũng quan trọng đối với tất cả các tín hữu, dân Chúa chỉ thuộc về một mình Người, “vương quốc của các tư tế” dành cho Chúa:
- “Còn anh em, anh em là giống nòi được tuyển chọn, là hàng tư tế vương giả, là dân thánh, dân riêng của Thiên Chúa, để loan truyền những kỳ công của Người, Đấng đã gọi anh em ra khỏi miền u tối, vào nơi đầy ánh sáng diệu huyền” (1 Pt 2,9; cfr. Ap 1 6; 5,10),
tất cả chúng ta được kêu gọi để thấu hiểu tận nguồn gốc Phúc Âm, nhân chứng đời sống được Chúa Ki Tô đem đến, “Vị Tư Tế” mới và quyết định, Đấng đã hiến mình, hy sinh mình để cứu độ thế gian (cfr. Ebr 2,17; 4,14-16; 5,5-10;9,11ss).
Chúa và Lời Người: đó là “địa sở” của chúng ta, trong đó chúng ta sống vui tươi trong thông hiệp và hân hoan.
Chúng ta hãy để cho Chúa đặt vào tâm khảm mình tình yêu nầy đối với Lời Người và ban cho trung tâm đời sống chúng ta Người và thánh ý của Người.
Chúng ta hãy nguyện xin cho lời cầu nguyện của chúng ta và cả cuộc sống chúng ta được soi sáng bằng Lời Chúa, ngọn đèn cho những bước chúng ta phải đi và ánh sáng cho cuộc hành trình của chúng ta, như Thánh Vịnh 119 đã nói lên:
- “Lời Chúa là ngọn đèn soi cho con bước, là ánh sáng chỉ đường con đi” (Ps 119,105),
như vậy con đường chúng ta đi là con đường vững chắc, trong miền đất của loài người.
Và chúng ta hãy xin Mẹ Maria, đã đón nhận và sinh nở ra Ngôi Lời, xin Mẹ hướng dẫn và nâng đỡ chúng ta, ngôi sao bắc đẩu chỉ cho chúng ta con đường hạnh phúc.
Như vậy, chúng ta cũng có thể vui mừng trong lời cầu nguyện của chúng ta, như ngưòi cầu nguyện trong Thánh Vịnh 16, vui mừng về những ơn ban bất ngờ của Chúa và vềgia sản mà chúng ta không có gì xứng đáng để được phần:
- “Lạy Chúa, Chúa là phần sản nghiêp con được hưởng, là chén phúc lộc dành cho con... Phần tưyệt hảo may mắn đã về con, gia sản con thật là tuyệt diệu” (Ps 16,5-6)
Phỏng dịch từ nguyên bản Ý Ngữ: Nguyễn Học Tập.
(Thông tấn www.vatican.va 09.11.2011).
admin
19-11-2011, 07:38 AM
BÀI GIÁO LÝ NGÀY THỨ TƯ (7A 38)
Công trường Thánh Phêrô, buổi yết kiến ngày thứ tư, 16.11.2011.
VỊ VUA CỨU THẾ
(Thánh Vịnh 110 (109)
ĐỨC THÁNH CHA BENEDICTUS XVI
Anh Chị Em thân mến,
hôm nay tôi muốn được kết thúc các bài giáo lý của tôi về cầu nguyện với Thánh Vịnh, bằng cách suy niệm đến một trong những Thánh Vịnh thời danh nhứt, “những Thánh Vịnh về vua chúa ", là một Thánh Vịnh mà chính Chúa Giêsu cũng đã đọc lên, các tác giả Tân Ước đã ghi lại một cách rộng rãi và được đọc trong ý nghĩa có liên hệ với Đấng Cứu Thế, với Chúa Kitô.
Đó là Thánh Vịnh 110 theo truyền thống Do Thái,109 theo truyền thống Hy Lạp - La Tinh, là một Thánh Vịnh được Giáo Hội thời cỗ và các tín hữu ở mọi thời đại rất mến chuộng.
Lời cầu nguyện nầy lúc khởi đầu có lẽ có liên hệ đến biến cố phong vương một vị vua dòng giỏi David, tuy nhiên ý nghĩa của Thánh Vịnh vượt qua bên kia những gì có liên hệ lịch sử nhất thời, để mở ra tầm mức rộng rãi hơn và như vậy trở thành Thánh Vịnh tuyên dương Đấng Cứu Thế toàn thắng, vinh hiển ngự bên hữu Chúa Cha.
- “Sấm ngôn của Thiên Chúa ngỏ cùng Chúa Thượng tôi: “Bên hữu Cha đây, Con lên ngự trị, để rồi bao địch thù, Cha sẽ đặt làm bệ dưới chân Con” (Ps 110,1).
1 - Chính Thiên Chúa đặt vua lên ngai vị vua trong vinh hiển, khiến cho ngài được ngồi bên hữu Người, một dấu chứng vinh dự cao cả nhứt và đặc ân tuyệt đối.
Như vậy vị vua được chấp nhận cho được tham dự vào địa vị chúa cả của Thiên Chúa, mà nhà vua là vị làm trung gian giữa Người với dân chúng. Địa vị chúa cả đó của vị vua được thể hiện ra trên thực tế cả bằng cuộc chiến thắng trên các kẻ nghịch, bị chính Thiên Chúa đặt dưới chân vị vua. Cuôc chiến thắng trên kẻ nghịch là cuộc chiến của chính Thiên Chúa, mà Người đã cho vị vua được dự phần. Cuộc chiến thắng của ngài trở thành nhân chứng và dấu chỉ quyền năng của Thiên Chúa.
Niềm vinh quang vương giả được nói lên ở phần đầu nầy của Thánh Vịnh đã được Tân Ước lấy lại như là lời tiên tri về Đấng Cứu Thế, bởi đó câu thơ khởi đầu là một trong những câu được các tác giả Tân Ước dùng nhiều nhứt để nói về Đấng Cứu Thế, để cho biết Đấng Cứu Thế còn hơn cả vua David, Ngài là Chúa của vua David:
- “Giữa những người Pharisêu đang tụ tập, Chúa Giêsu hỏi họ: “Các ông nghĩ sao về Đấng Kitô? Người là con của ai? ". Họ thưa: “Con của vua David ". Người hỏi: “Vậy tại sao vua David được Thiên Chúa soi sáng, lại gọi Người là Chúa Thượng, kh nói rằng: “Chúa phán cùng Chúa Thượng tôi: Bên hữu Cha đây, Con lên ngự trị, để rồi bao địch thù, Cha sẽ đặt dưới chân Con? ". Vậy nếu vua David gọi Đấng Kitô là Chúa Thượng, thì làm sao Đấng Kitô lại là con vua ấy được?” (Mt 22,41-45; cfr. Mc 12,35-37; Lc 20,41-44).
Và Thánh Phêrô lấy lại tư tưởng đó trong bài giảng ngày Lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống của ngài, trong khi ngài loan báo rằng trong biến cố Phục Sinh của Chúa Kitô đã hiện thực việc đặt lên ngôi báu nầy đối với vị vua và từ nay Chúa Kitô đang ngự bên hữu Chúa Cha, tham dự vào quyền năng chúa cả của Thiên Chúa trên thế giới (cfr. Act 2,29-35).
Thật vậy, Chúa Kitô là Chúa đã được tôn vinh lên ngôi, là Con Người được ngồi bên hữu Thiên Chúa đến trên mây trời, như chính Chúa Giêsu đã tự xác nhận mình trước mặt Đại Hội Đồng:
- “Nhưng Chúa Giêsu vẫn làm thinh. Vị Thượng Tế nói với Người: Nhân danh Thiên Chúa hằng sống, tôi truyền cho ông phải nói cho chúng tôi biết: ông có phải là Đấng Kitô con Thiên Chúa không? Chúa Giêsu trả lời: “Chính điều ngài vừa nói. Hơn nữa,tôi nói cho các ông biết: từ nay các ông sẽ thấy Con Người ngự bên hữu Đấng Toàn Năng và ngự giá trên mây trời mà đến” (Mt 26,63-64; cfr. Mc 14,61-62; Lc 22,66-69).
Chính Người là vị vua, với biến cố Phục Sinh đã hội vào niềm vinh quang của Chúa Cha (cfr. Rom 8,34; Eph 2,5; Col 3,1; Heb 8,1; 12,2), được làm cho trở nên cao cả hơn các thiên sứ, ngự trên trời trổi thượng hơn mọi quyền năng và với mọi kẻ thù địch dưới chân, cho đến kẻ thù địch cuối cùng là sự chết, đã bị Người vĩnh viễn đánh bại (cfr. Cor 15,24-26; Eph 1,20-23; Heb 1,3-4.13; 2,5-8; 10,12-13); 1 Pt 3,22).
Chúng ta hiểu ngay vị vua vừa được đề cập ngự bên hữu Thiên Chúa và tham dự vào tước vị Chúa Cả của Người, không phải là một trong những người kế vị vua David, mà chỉ có thể là Vị Vua David mới, Con Thiên Chúa đã thắng sự chết và thực sự tham dự vào vinh hiển của Thiên Chúa.
Đó là vị vua của chúng ta, Đấng ban cả sự sống cho chúng ta.
Như vậy giữa vị vua được Thánh Vịnh của chúng ta tuyên dương và Thiên Chúa có một mối liên hệ không thể tách rời được, cả hai đều cùng cai quản một quyền năng duy nhứt, đến nỗi tác giả Thánh Vịnh có thể xác quyết rằng chính Thiên Chúa trải rộng vương trượng bằng cách giao cho ngài phận vụ thống trị trên các kẻ thù địch ngài, như câu 2 nói lên:
- “Từ Sion Chúa mở rộng quyền vương đế của Ngài, giữa lòng địch quân, xin Ngài làm bá chủ” (Ps 110,2).
Hành xử quyền lực là một uỷ thác mà vị vua trực tiếp nhận được từ Thiên Chúa, một trách nhiệm mà ngài phải sống trong lệ thuộc và vâng lời. Như vậy, giữa lòng dân chúng, ngài trờ thành dấu chỉ sự hiện diện quyền năng và quan phòng của Chúa. Quyền thống trị trên quân thù, vinh quang và chiến thắng là những ơn nhận được, làm cho vị vua trở thành vị trung gian Thiên Chúa đắc thắng trên sự dữ. Ngài thống trị trên quân thù bằng cách chuyển hoá chúng, chiến thắng chúng bằng tình yêu thương của mình.
2 - Bởi đó câu thơ kế tiếp tán tụng phẩm giá cao cả của vị vua.
Trên thực tế, câu 3 làm cho chúng ta gặp phải một vài khó khăn trong việc chuyển giải. Trong nguyên bản Do Thái nói đến việc quy tựu quân lực, mà dân chúng đáp ứng lại một cách đại lượng, bằng cách quây quần bên vua trong ngày ngài được phong vương.
Bản dịch Hy Lạp LXX, có từ thế kỷ III - II trước Chúa Kitô trái lại đề cập đến tình con Thiên Chúa của vị vua, đến biến cố sinh ra của ngài hay đến biến cố sự kiện được Thiên Chúa sinh trưởng ra. Và đó là cách giải thích được cả truyền thống Giáo Hội chọn, bởi đó câu thơ được đọc lên như sau:
- “Ngày vinh quang con nắm quyền thủ lãnh, vẻ huy hoàng rực rỡ tựa thần linh. Ngay trước lúc hừng đông xuất hiện, từ lòng Cha, Cha đã sinh ra con” (Ps 110,3).
Như vậy sấm ngôn vừa kể của Thiên Chúa đối với vị vua nói lên như xác nhận một cuộc sinh ra đầy rạng rỡ và bí nhiệm, một căn nguyên bí nhiệm và không thể hiêu thấu được, có liên hệ đến vẻ đẹp vòng cầu rạng đông và vẻ đẹp tuyệt vời của những giọt sương long lanh trong ánh sáng của buổi bình minh, ánh chiếu lên trên các cánh đồng và làm cho đồng lúa trở nên màu mỡ.
Như vậy câu Thánh Vịnh diễn tả hình ảnh của vị vua, liên kết chặt chẽ với thực tại trên trời, là hình ảnh từ Thiên Chúa mà đến, hình ảnh của Đấng Cứu Thế đem đời sống Thiên Chúa đến cho dân và là vị trung gian của sự thánh thiện và ơn cứu độ.
Cũng vậy, ở đây chúng ta cũng thấy được rằng tất cả những điều đó không thể hiện được qua hình ảnh vị vua dòng tộc David, mà được thể hiện qua Chúa Giêsu Kitô, Đấng thật sự từ Thiên Chúa mà đến. Người là ánh sáng đem đời sống đến cho thế gian.
Với hình ảnh đầy cảm hứng và bí nhiệm đó, kết thúc phần đầu của Thánh Vịnh, mà tiếp đến là một sấm ngôn khác, mở ra một viễn ảnh mới, trong chiều hướng của một tầm mức tư tế có liên quan đến vương tước. Câu 4 được đọc lên như sau:
- “Chúa đã một lần thề ước và không rút lời: “Muôn thuở, Con là Thượng Tế theo phẩm trật Melchisedek” (Ps 110,4).
Melchisedek là vị thưọng tế, vua ở Salem, là vị đã chúc phúc cho Abraham và đã ban tặng cho tổ phụ bánh và rượu, sau trận đánh chiến thắng được vị tổ phụ lãnh đạo để cứu người cháu là Lot khỏi tay quân thù địch đang bắt giữ cậu (cfr. Gen 14).
Trong hình ảnh Melchisedek, vương quyền và quyền tư tế quy tụ vào nhau và giờ đây được Thiên Chúa xác nhận trong một lời tuyên bố bảo đảm cho được vĩnh viễn: vị vua mà Thánh Vịnh tuyên dương sẽ là vị tư tế vĩnh viễn, là vị trung gian cho sự hiện diện của Thiên Chúa ở giữa dân Người, nhờ lời chúc phúc được Chúa ban cho và trong động tác phụng tự Thiên Chúa tiếp nhận trả lời chúc phúc của con người.
Thư thánh Phaolồ gởi các tín hữu Do Thái đề cập rõ ràng đến câu thơ nầy của Thánh Vịnh:
- “Không phải Chúa Kitô tự tôn mình là Thượng Tế, nhưng là Đấng đã nói với Người: “Con là Con của Cha, ngày hôm nay Cha đã sinh ra Con, như là Đấng ấy đã nói ở một chỗ khác: “Con là Thượng Tế theo phẩm trật Melchisedek" (Heb 5,5-6.10; 6,19-20).
Và liên quan đến phẩm trật tư tế đó, cả chương 7, khai triển dòng suy nghĩ của Thánh Phaolồ về chức vụ tư tế của Chúa Kitô. Trong ánh sáng Thánh Vinh 110 (109), Thư gởi các tín hữu Do Thái cho chúng ta biết Chúa Giêsu là vị tư tế đích thực và vĩnh viễn, hoàn hảo hoá các đặc tính chức vụ tư tế của Melchisedek, làm cho những đặc tính đó trở nên trọn hảo.
Melchisedek, như Thư gởi các tín hữu Do Thái đề cập đến, là người “không có cha, không có mẹ, không có gia tộc” (Heb 7,3a), như vậy là tư tế không theo lề luật dòng tộc tư tế Levi.
Bởi đó ngài “mãi mãi vẫn là tư tế” (Heb 7 3c), tiền hình ảnh của Chúa Kitô, Vị Thượng Tế trọn hảo, bởi vì Người không trở nên tư tế theo lề luật đã được viết ra cho con người, mà do "quyền năng của một đời sống bất diệt,16)" (Heb 7,16).
Trong Chúa Giêsu Phục Sinh và lên trời, nơi Người đang ngự bên hữu Chúa Cha, lời tiên tri của Thánh Vịnh chúng ta được thể hiện và chức năng tư tế của Melchisedek được thực hiện hoàn hảo, bởi vì được làm cho trở nên vĩnh viễn, trở thành một thực tại không hề biết bóng xế chiều (Heb 7,24).
Và việc cung hiến bánh và rượu, được Melchisedek thực hiện thời Abraham, gặp được trạng thái thực hiện hoàn hảo trong cử chỉ Thánh Thể của Chúa Giêsu, Đấng trong bánh và rượu tặng hiến chính mình và, một khi đã chiến thắng sự chết, đem mọi tín hữu đến đời sống.
Tư tế vĩnh viễn, “thánh thiện, vẹn toàn, vô tội” (Heb 7,26). Ngài, như Thư gởi các tín hữu Do Thái con nói tiếp, “có thể cứu độ trọn hảo những ai nhờ Người mà tiến lại gần Thiên Chúa. Thật vậy, Người hằng sống để chuyển cầu cho họ” (Heb 7,25).
Sau sấm ngôn nầy của Chúa ở câu 4, cùng với lời thề hứa long trọng, bối cảnh của Thánh Vịnh thay đổi và thi sĩ, nói trực diện với vị vua, tuyên bố:
- “Thiên Chúa ở bên hữu ngài” (Ps 110,5a).
Nếu trong câu 1 vị vua ngồi bên hữu Thiên Chúa, dấu chứng cho uy thế và vinh dự của nhà vua, thì giờ đây Thiên Chúa đưọc cho biết ở bên hữu vị vua, để bảo vệ ngài với thuẩn đỡ trong trận chiến và cứu ngài khỏi mọi hiểm nguy.
Nhà vua được ở trong an toàn, Thiên Chúa là Đấng bênh vực ngài và cả hai cùng chiến đấu và cùng thắng mọi điều dữ.
3 - Như vậy những câu thơ cuối cùng của Thánh Vịnh được mở ra với nhãn quan vị vua chiến thắng, dựa vào Thiên Chúa, ngài đã nhận được từ nơi Chúa quyền năng và vinh quang (Ps 110,2), chống lại những kẻ thù địch, gạt bỏ được các đối thủ và phán xét các dân nước.
Bối cảnh được diễn tả bằng những màu sắc đậm đà, nói lên tính cách thảm đạm của chiến cuộc và cuộc chiến thắng vương giả.
Vị vua, được Thiên Chúa che chở, phá đổ mọi trở ngại và tiến bước chắc chắn đến chiến thắng.
Điều vừa kể cho chúng ta biết trên thế giới có bao nhiêu sự dữ, có một cuộc chiến liên luỹ giữa điều thiện và điều ác, và chúng ta có cảm tưởng là sự ác có quyền lực hơn.
Không, Thiên Chúa mạnh mẽ quyền lực hơn, vị vua đích thực và tư tế là Chúa Kitô, bởi vì Người chiến đấu với tất cả quyền năng của Thiên Chúa. Và mặc cho tất cả mọi sự làm cho chúng ta ngờ vực về kết quả tích cực của lịch sử, Chúa Kitô sẽ thắng và điều thiện sẽ thắng, tình yêu thương sẽ thắng chớ không phải sự ghen ghét.
Đến đây thì một hình ảnh đầy cảm hứng được đưa vào để kết thúc Thánh Vịnh của chúng ta, và đó cũng là một lời nói đầy bí ẩn:
- “Dọc đường ngài uống nước nơi mạch suối, nên sẽ ngẩng đầu thật hiên ngang” (Ps 110,7).
Đang giữa bối cảnh của trận chiến, xuất hiện hình ảnh của một nhà vua, giữa một lúc ngừng lại nghỉ ngơi, giải khát nơi một dòng nước suối, làm cho mình cảm thấy hồi sức lại và có được nghị lực mới. Như vậy vị vua có thể tiếp tục lại cuộc hành trình chiến thắng, ngẩn đầu lên, dấu chỉ của cuộc chiến thắng vĩnh viễn.
Dĩ nhiên đây là câu nói đầy bí ẩn, một câu nói đầy thách thức đối với các Giáo Phụ, khiến cho có thể giải thích bằng nhiều cách khác nhau. Ví dụ như Thánh Augustino cho rằng: dòng suối nầy là cuộc sống con người, là nhân loai, và Chúa Kitô đã uống nơi dòng suối nầy, khi Người trở thành con người, và như vậy, trong khi hội nhập vào nhân loại với cuộc sống con người, Người đã ngẩng đầu lên và giờ đây người là đầu của Thân Thể Mầu Nhiệm, là Vị Thủ Lãnh của chúng ta, là Vị Chiến Thắng vĩnh viễn (cfr. Enarratio in Psalmum CIX,20: PL 36,1462).
Các bạn thân mến, dựa theo cách giải thích của Tân Ước, truyền thống Giáo Hội rất quan tâm đến Thánh Vịnh nầy, như là một trong những bản văn có ý nghĩa nhứt về Đấng Cứu Thế.
Và một cách lỗi lạc, các Giáo Phụ vẫn đã tiếp tục quy chiếu vào đó với cách giải thích Kitô luận: vị vua mà tác giả Thánh Vịnh hát lên, nói cho cùng, là Chúa Kitô, Đấng Cứu Thế thiết lập lại Vương Quốc Thiên Chúa và chiến thắng các quyền lực thế gian. Người là Ngôi Lời, được Chúa Cha sinh ra trước khi có mọi tạo vật, trước khi hừng đông xuất hiện, Chúa Con nhập thể chết và phục sinh và được đem lên trời. Người là vị tư tế vĩnh cửu, trong mầu nhiệm bánh và rượu, ban cho ơn tha tội và hoà giải lại với Chúa. Người là vị vua ngẩn đầu chiến thắng khải hoàn lên trên sự chết bằng sự phục sinh của Người.
Một lần nữa chỉ cần nhớ lại một đoạn bài bình luận của Thánh Augustino về Thánh Vịnh, khi ngài viết:
- “Cần phải biết Con Duy Nhứt của Thiên Chúa, sắp đến giữa con người, để nhận lấy con người và trở thành con người qua bản thể được nâng cao lên của con người: Người chết đi, sống lại, lên trời, ngự bên hữu Chúa Cha và đã thực hiện đầy đủ giữa loài người những gì Người đã hứa...Như vậy, tất cả những điều đó, phải được báo tiên tri, phải được tiên báo, phải được báo cho biết như là những gì phải được xảy ra. Bởi đó, dầu cho có xảy ra bất ngờ, cũng không làm cho chúng ta kinh hải, nhưng vì được loan báo trước, sẽ là những gì được đón nhận với đức tin, niềm hân hoan và mong đợi. Trong bối cảnh của những lời hứa đó Thánh Vịnh nầy cũng có liên quan đến, là Thánh Vịnh nói tiên tri, bằng những ngôn từ thật chắc chắn và minh bạch, rằng Chúa chúng ta và Đấng Cứu Độ Giêsu Kitô, mà chúng ta không thể bao giờ ngờ vực rằng nơi Người đã thực sự loan báo Chúa Kitô” (cfr. Enarratio in Psalmum CIX,3 : PL 36,1447).
Biến cố phục sinh của Chúa Kitô như vậy trở thành thực tại, mà Thánh Vịnh mời gọi chúng ta nhìn vào đó, nhìn Chúa Kitô để hiểu được ý nghĩa đích thực của vương tước, sống trong phục vụ và hy sinh tặng hiến chính mình, trên con đường vâng lời và tình thương yêu “cho đến tận cùng” (cfr. Jn 13,1; 19,30).
Trong khi cầu nguyện bằng Thánh Vịnh nầy, chúng ta hãy nguyện xin Chúa giúp cả chúng ta cũng có thể tiến bước đi trên các con đường của Người, trong công cuộc đi theo Chúa Kitô, Đấng Cứu Thế, giúp chúng ta sẵn sàng cùng với Người leo lên núi thập giá, để cùng được đến với Người trong vinh quang và chiêm ngằm Người đang ngồi bên hữu Chúa Cha, Vị Vua chiến thắng và vị Tư Tế đại lượng ban ơn tha thứ và cứu rỗi cho tất cả mọi người.
Và cả chúng ta nữa, được ơn Chúa làm cho trở thành “dòng dõi được tuyển chọn, tư tế vuơng giả, dân thánh” (1 Pt 2,9), chúng ta có thể với lòng vui mừng đến được nguồn mạch suối cứu rỗi” (Is 12,3).
Như vậy, chúng ta có thể loan báo cho cả thế giới những điều lạ lùng mà Đấng đã kêu gọi chúng ta từ bóng tối đến được ánh sáng diệu huyền (1 Pt 2,9).
Các bạn thân mến, trong những bài giáo lý sau cùng nầy, tôi đã muốn được trình bày với các bạn một vài Thánh Vịnh, là những lời cầu nguyện quý báu mà chúng ta gặp được trong Thánh Kinh, phản ảnh lại các hoàn cảnh khác nhau của cuộc sống và những trạng thái tâm hồn khác nhau, mà chúng ta có thể có đối với Chúa.
Như vậy tôi muôn được nhắc lại cho tất cả lời mời gọi hãy cầu nguyện với Thánh Vịnh, bằng cách làm quen với
- các giờ Phụng Vụ của Giáo Hội,
- các giờ Ngợi Khen (Lodi) buổi sáng,
- các giờ Kinh Chiều (Vesperi) buổi chiều,
- giờ kinh Kết Thúc (Compieta) trước khi đi ngủ.
Mối tương giao của chúng ta với Chúa không thể nào không trở thành sung mãn hơn trong cuộc hành trình hằng ngày đến với Người và được thực hiện với niềm hân hoan cao cả hơn và tin cậy.
Cám ơn Anh Chị Em.
Phỏng dịch từ nguyên bản Ý Ngữ: Nguyễn Học Tập.
(Thông tấn www.vatican.va,16.11.2011) (http://www.vatican.va,16.11.2011)).
admin
01-12-2011, 07:10 PM
BÀI GIÁO LÝ NGÀY THỨ TƯ (7A 40)
Thính phòng Phaolồ VI, buổi yết kiến ngày thứ tư, 30.11.2011.
CẦU NGUYỆN TRONG CẢ CUỘC ĐỜI CHÚA GIÊSU.
ĐỨC THÁNH CHA BENEDICTUS XVI
Anh Chị Em thân mến,
trong các bài giáo lý sau cùng chúng ta đã suy tư đến một vài mẫu gương cầu nguyện trong Cựu Ước.
Hôm nay tôi muốn được bắt đầu nhìn đến Chúa Giêsu, đến sự cầu nguyện của Người, là thái độ xuyên suốt cả cuộc đời Người, như là một con kinh rạch thầm kín thấm nhuần tưới lên cả cuộc sống, tưới ướt các mối liên hệ, các động tác và hướng dẫn Người, càng lúc càng mãnh liệt hơn, đến động tác hy sinh toàn vẹn cả chính mình, theo đồ án tình yêu của Chúa Cha.
Chúa Giêsu cũng là vị thầy cho các lời cầu nguyện của chúng ta, đúng hơn Người là sự nâng đỡ tích cực và thân hữu cho mỗi lời cầu nguyện chúng ta lên Chúa Cha.
Thật vậy, như một lời tựa Sách Tóm Lược Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo đúc kết:
- “Cầu nguyện hoàn toàn được Chúa Giêsu mạc khải và thực hiện” (541-547).
Hướng về Người, chúng ta muốn được nhìn đến trong những bài giáo lý tới.
1 - Một thời điểm đặc biệt của cuộc hành trình nầy, đó là lời cầu nguyện tiếp nối theo sau phép rửa mà Người nhận được dưới sông Giordano.
Thánh Luca ghi lại rằng Chúa Giêsu sau khi nhận dược phép rửa, cùng với tất cả dân chúng, bởi tay Thánh Gioan Tẩy Giả, đi vào một buổi cầu nguyện rất cá nhân và kéo dài:
- “Trong khi toàn dân đã chịu phép rửa , Chúa Giêsu cũng chịu phép rửa, và đang khi Người cầu nguyện thì trời mở ra, và Thánh thần ngự xuống trên Người dưới hình dáng chim bò câu” Lc 3,21-22).
Chính thái độ “đang cầu nguyện”, trong đối thoại với Chúa Cha soi sáng cho động tác mà Người đã thực hiện cùng với bao nhiêu người trong dân chúng của mình, hối hả đổ về bờ sông Giordano.bằng thái độ cầu nguyên, Người làm cho động tác của Người, động tác chịu phép rửa, có được một đặc tính đặc biệt và cá nhân.
Thánh Gioan Tẩy Giả đã lớn tiếng kêu gọi hãy sống đích thực như là con cái của Abraham, hối cải quay về điều thiện và tác động đem lại hoa quả xứng đáng với cuộc thay đổi mới đó
- “Các anh hãy sinh hoa quả xứng đáng với lòng sám hối...Cái rìu đã đặt sẵn gốc cây, bất cứ cây nào không sinh quả tốt, đều bị chặt đi và quăng vào lửa” (Lc 3,7-9).
Một đoàn lũ đông đảo dân Do Tthái đã di chuyển đến, như Thánh Marco tác giả Phúc Âm đã nhắc đến, khi ngài viết:
- “Mọi người từ khắp miền Giudea và thành Giêrusalem kéo đến với ông. Họ thú tội và ông làm phép rửa cho họ trong sông Giordano” (Mc 1,5).
Thánh Gioan Tẩy Giả đem đến một cái gì đó thật mới mẻ: đặt mình dưới phép rửa phải nói lên đây là một khúc quanh quyết định, bỏ đi cách ăn ở có liên hệ với tội lỗi và bắt đầu một cuộc sống mới.
Chúa Giêsu cũng đón nhận lời mời gọi đó, hội nhập vào chung với đoàn người tội lỗi đang chờ đợi trên bờ sông Giordano.
Nhưng cũng như các Kitô hữu tiên khởi, nơi chúng ta cũng phát hiện lên câu hỏi:
- tại sao Chúa Giêsu tụ ý chấp nhận chịu phép rửa đền tội và sám hối rửa nầy ?
- Người không có tội để phải xưng ra, Người không có tội, như vậy Người đâu có cần gì phải sám hối. Vậy tại sao Người lại có thái độ đó?
Thánh Matthêu tác giả Phúc Âm ghi lại cử chỉ sửng sốt của Gioan Tẩy Giả, khi ngài xác quyết:
- “Chính tôi mới cần được Ngài làm phép rửa, vậy mà Ngài lại đến với tôi” (Mt 3,14).
Và Chúa Giêsu đáp lại:
- “Bây giờ cứ thế đã, vì chúng ta nên làm như vậy để giữ trọn đức công chính” (Mt 3,15).
Ý nghĩa của từ ngữ “công chính” trong thế giới Thánh Kinh là hoàn toàn chấp nhận ý muốn của Thiên Chúa.
Chúa Giêsu cho thấy mình gần gũi với phần dân chúng của Người, đang đi theo Thánh Gioan Tẩy Giả, ý thức rằng đơn sơ chỉ coi mình là con cháu Abrahma thôi,chưa đủ, nhưng còn muốn thực hiện hoàn hảo ý muốn của Thiên Chúa, muốn dấn thân để cho thái độ của mình là một đáp ứng lại trung thành với giao ước mà Chúa ban cho Abraham.
Như vậy, Người xuống dưới sông Giordano , Chúa Giêsu không tội lỗi, cho thấy lòng liên đới của mình với những ai nhận biết các tôi lỗi mình, lựa chọn con đường hối cải và thay đổi cuộc sống; làm cho mọi người hiểu biết rằng là thành phần dân Chúa có nghĩa là hội nhập vào nhãn quang mới của đời sống, sống theo ý Chúa muốn.
2 -Trong cử chỉ vừa kể, Chúa Giêsu tiên báo trưóc thập giá, khởi đầu hoạt động của Người bằng cách đứng vào chỗ những người tội lỗi, đảm nhận trên vai mình gánh nặng lỗi lầm của cả nhân loai, thực hiện ý muốn Chúa Cha..
Tập trung tư tưởng mình vào cầu nguyện, Chúa Giêsu cho thấy mối liên hệ thân tình với Chúa Cha trên Trời, cảm nhận được tình phụ tử của Người, đón nhận vẻ đẹp đòi buộc tình yêu thương của Người, và trong cuộc hàn huyên với Chúa Cha, Chúa Giêsu được xác nhận về sứ mạng của Người.
Trong các lời vọng xuống từ trời
- “Con là Con của Cha, ngày hôm nay, Cha đã sinh ra Con” (Lc 3,22)
có ý nghĩa tiên báo trước về mầu nhiệm Phục Sinh, về thập giá và sống lại.
Lời Chúa Cha xác nhận Người là “Con của Cha, Con yêu dấu”, bằng cách nhắc lại Isaac, người con rất yêu qúy, mà người cha Abrahamđã sẵn sàng hy sinh, theo lệnh của Thiên Chúa truyền cho (Gen 22,1-14).
Chúa Giêsu không phải chỉ là Con của vua David , thuộc dòng tộc vua cứu thế, hay Người Tôi Tớ mà Thiên Chúa yêu chuộng, Người còn là Con Một, người Con yêu dấu, giống như Isaac, mà Chúa Cha ban tặng để cứu độ thế gian.
Trong khoảng thời gian trong đó, qua động tác cầu nguyện, Chúa Giêsu sống sâu đậm tình con cái của chính mình và kinh nghiệm phụ tử của Chúa Cha:
- “Con là Con của Cha, hôm nay Cha đã sinh ra Con” (Lc 3,22b),
Chúa Thánh Thần ngự xuống
-”...và Thánh Thần ngự xuống trên Người dưới hình dáng chim bò câu” (Lc 3,22a),
hướng dẫn Người trong sứ mạng của Người và Người sẽ ban phát Chúa Thánh Thần cho sau khi Người được vươn lên trên thập giá (Jn 1,32-34; 7,37-39) để soi sáng động tác của Giáo Hội.
Trong cầu nguyện, Chúa Giêsu sống tiếp xúc không gián đoạn với Chúa Cha, để thực hiện đến cùng đồ án tình thương cho con người.
Đàng sau biến cố cầu nguyện khác thường nầy còn có cả cuộc đời Chúa Giêsu sống trong một gia đình liên hệ sâu đậm với truyền thống tôn giáo dân Do Thái. Điều đó nói lên các liên tưởng mà chúng ta có thể gặp được trong các Phúc Âm:
- biến cố cắt bì (Lc 2,21)
- việc tiến dâng Chúa Giêsu trong đền thờ (L 2,22-24),
- cũng như việc giáo dục và huấn dạy ở Nazareth, tại tư gia (Lc 2,39-40; 2,51-52).
Đó là khoản thời gian lối ba mươi năm (Lc 3,23), một khoản thời gian lâu dài và nghỉ ngơi, mặc dầu với những kinh nghiệm tham dự vào các cuộc lễ lạc tôn giáo công cộng, như những cuộc hành hương ở Giêrusalem (Lc 2,41).
Thuật lại cho chúng ta biến cố Chúa Giêsu lúc mưòi hai tuổi trong đền thờ, ngồi giữa các bậc sư phụ (Lc 2,42-52), tác giả Phúc Âm Luca cho chúng ta thấy Chúa Giêsu cầu nguyện thế nào sau biến cố phép rửa ở Giordano. Chúa Giêsu có thói quen cầu nguyện thân tình với Chúa Cha, đó là thói quen có gốc rễ trong các truyền thống, trong cách sống của gia đình Người, trong các kinh nghiệm được sống trong gia đình.
Câu trả lời của cậu bé mười hai tuổi cho Mẹ Maria và Thánh Giuse đã cho thấy tình con cái đó đối với Thiên Chúa, mà tiếng từ trời nói lên cho biết sau phép rửa:
- “Sao cha mẹ lại tìm con? Cha mẹ không biết là con có bổn phận ở nhà của Cha con sao?” (Lc 2,49).
Ra khỏi nước dưới sông Giordano, không phải Chúa Giêsu m ới khởi đầu lời cầu nguyện của Người, nhưng Người vẫn nối tiếp mối liên hệ liên tục, quen thuộc với Chúa Cha. Và trong mối hiệp nhứt thân tình nầy với Chúa Cha, mà Chúa Giêsu thực hiện sự chuyển hoá từ cuộc sống ẩn dật ở Nazareth đến sứ mạng công cộng của Người.
Giáo huấn của Chúa Giêsu về cầu nguyện dĩ nhiên là
- do cách cầu nguyên mà Người học biết được trong gia đình,
- nhưng nguồn gốc sâu xa và thiết yếu đó là do chính vì Người là Con Thiên Chúa, do mối liên hệ độc nhứt của Người với Chúa Cha.
Sách Tổng Lược Giáo Lý của Giáo Hội Công Giáo trả lời cho câu hỏi: Chúa Giêsu học được cầu nguyện từ ai? như sau:
- “Chúa Giêsu, theo tâm thức con người của Người, đã học được cầu guyện từ Mẹ Người và từ truyền thống Do Thái. Nhưng lời cầu nguyện của Người thoát xuất từ một suối nguồn bí nhiệm, bởi vì Người là Con hằng hữu của Thiên Chúa, trong bản tính nhân loại thánh thiện của Người, Người hướng về Cha Người lời cầu nguyện nghĩa tử (con cái) hoàn hảo” (541).
Trong lời tường thuật Phúc Âm, các bối cảnh cầu nguyện của Chúa Giêsu luôn luôn được đặt giữa cuộc gặp gỡ giữa truyền thống dân tộc Người và nhũng gì mới lạ của mối tương giao cá nhân duy nhứt với Thiên Chúa,
- “Nơi hoang vắng (Mc 1,35; Lc 5,16) nơi mà Người thường rút lui về đó,
- “trên núi, nơi Người đi lên để cầu nguyện (Lc 6,12; 9,28),
- “ban đêm, lúc mà Người có được yên tĩnh riêng rẽ (Mc 1,35; 6,46-47; L 6,12).
Tất cả những yếu tố đó nhắc lại những thời điểm con đường mạc khải của Chúa trong Cựu Ước, cho chúng ta biết sự tiếp nối của đồ án cứu rỗi.
Nhưng đồng thời cũng ghi lại nhũng thời điểm quan trọng đặc biết đối với Chúa Giêsu, là Đấng có ý thức hội nhập vào đồ án đó, hoàn toàn trung thành với ý muốn của Chúa Cha.
3 - Cũng vậy, luôn luôn chúng ta phải biết học hỏi hơn nữa hội nhập vào dòng lịch sử nầy, mà trong đó Chúa Giêsu là thượng đỉnh,
- phải biết cải tiến trước mặt Chúa quyết định cá nhân của chúng ta mở rộng mình ra trước ý muốn của Ngươi,
- xin Chúa ban cho chúng ta sức mạnh để làm cho ý muốn của chúng ta hoà hợp với thánh ý Người, trong cả đời sống chúng ta biết vâng phục tình thương của người dành cho chúng ta.
Lời cầu nguyện của Chúa Giêsu có liên hệ đến tất cả mọi giai đoạn sứ mạng Người và mọi ngày của Người. Mệt nhọc không cản trở được lời cầu nguyện của Người.
Đúng hơn, các Phúc Âm cho chúng ta thấy rõ thói quen của Chúa Giêsu là trải qua một phần của đêm tối để cầu nguyện. Tác giả Phúc Âm Marco thuật lại một trong những đêm đó, sau một ngày nặng nề cho việc hoá bánh và cá ra nhiều, ngài viết:
- “Lập tức Chúa Giêsu bắt các môn đệ xuống thuyền qua bờ bên kia về phía thành Bethsaida trước, trong lúc Ngài giải tán đám đông. Sau khi từ biệt các ông, Người lên núi cầu nguyện. Chiều đến, chiếc thuyền đang ở giữa biển hồ, chỉ còn một mình Người ở trên đất” (Mc 6,45-47).
Khi các quyết định có tính cách khẩn cấp và phức tạp, lời cầu nguyện của Người trở nên lâu dài hơn và nồng nhiệt hơn. Ví dụ như lúc đến gần việc phải tuyển chọn Mười Hai Tông Đồ, Thánh Luca nhấn mạnh đến thời gian dài ban đêm để cầu nguyện chuẩn bị của Chúa Giêsu:
- “Trong những ngày ấy, Chúa Giêsu đi ra núi cầu nguyện và Người đã thức suốt đêm cầu nguyên cùng Thiên Chúa. Đến sáng, Người kêu các môn đệ lại, chọn lấy mười hai ông và gọi là Tông Đồ” (Lc 6,12-13)
Nhìn vào cầu nguyện của Chúa Giêsu, chắc phải nảy ra trong chúng ta một câu hỏi:
- tôi phải cầu nguyện thế nào?
- Chúng tôi phải cầu nguyện thế nào?
- Thời gian bao lâu tôi dành cho mối tương quan với Chúa?
- Ngày nay chúng ta có được giáo dục đầy đủ để cầu nguyện hay không?
- Ai có thể là thầy dạy chúng ta?
Trong Huấn Dụ Mục Vụ Verbum Domini tôi đã có nói đến việc cầu nguyện trong lúc đọc Thánh Kinh. Thu gop những gì thoát xuất ra từ Đại Hội Thượng Hội Đồng Giám Mục , tôi đã đặt nặng một cách đ ặc biệt về phương thức cá biệt của việc đọc lời Chúa (Lectio divina):
- lắng nghe,
- suy niệm,
- giữ thinh lặng trước mặt Chúa đang nói,
là môt nghệ thuật, mà chúng ta có thể học được bằng cách bền bĩ thực hành.
Chắc chắn cầu nguyện là một ơn Chúa ban, tuy nhiên đòi buộc phải được đón nhận; là động tác của Thiên Chúa, nhưng đòi buộc phải chuyên cần và tiếp tục, nhứt là tiếp nối và bền bĩ là những yếu tố quan trọng.
Chính kinh nghiệm gương mẫu của Chúa Giêsu cho thấy lời cầu nguyện của Người, đươc đánh động bằng tình Cha con của Chúa Cha và bởi sự hiệp thông với Chúa Thánh Thần, được trỏ nên sâu đậm trong một động tác kéo dài và trung kiên, cho đến Vườn Ô Liu và trên Thập Giá.
Ngày hôm nay người Kitô hữu được mời gọi hãy là nhân chứng cho cầu nguyện, chính bởi vì thế giới của chúng ta thường khi đóng kín đối với chân trời thiên thánh và đối với đời sống hy vọng hướng dẫn con người đến gặp được Thiên Chúa.
Trong tình thân hữu sâu đậm với Chúa Giêsu, sống trong Người và sống với Người tình liên hệ con cái với Chúa Cha , qua lời cầu nguyện trung thành và bền bĩ của chúng ta, chúng ta có thể mở ra được những cánh cửa sổ hướng về Trời của Chúa.
Nói đúng hơn, trong khi di trên con đường cầu nguyện, không phân biệt về phương diện nhân loai, chúng ta có thể giúp người khác cũng bước đi được: bởi vì thật ra ngay cả lời cầu nguyện Kitô giáo cũng mở những lộ trình trong khi cầu nguyện.
Anh Chị Em thân mến, chúng ta hãy giáo huấn mình có được một mối liên hệ sâu đậm với Chúa, có được một thái độ cầu nguyện không phải khi có khi không, mà bền bĩ đầy tin cậy, có khả năng soi sáng nhãn quan chúng ta, như Chúa Giêsu dạy chúng ta.
Chúng ta hãy xin Người cho chúng ta khả năng loan báo cho những người chung quanh chúng ta, cho những ai chúng ta gặp được ngoài đường phố, niềm hân hoan được gặp Chúa, ánh sáng chiếu soi cho đời sống chúng ta.
Cám ơn Anh Chị Em.
Phỏng dịch từ nguyên bản Ý Ngữ: Nguyễn Học Tập.
(Thông tấn www.vatican.va,30.11.2011).
"]
admin
09-12-2011, 04:49 AM
BÀI GIÁO LÝ NGÀY THỨ TƯ (7A 41)
Thính phòng Phaolồ VI, buổi yết kiến ngày thứ tư, 07.12.2011.
HÒN NGỌC BÀI THÁNH CA HOAN HỶ
ĐỨC THÁNH CHA BENEDICTUS XVI
Anh Chị Em thân mến,
hai tác giả Phúc Âm Thánh Matthêu và Luca (Mt 11,25-30; Lc 10,21-22) đã để lại cho chúng ta một “ hòn ngọc” về lời cầu nguyện của Chúa Giêsu, mà thường được gọi là bài Thánh Ca Hoan Hỷ hay Thánh Ca Hoan Hỷ Đấng Cứu Thế.
Đó là một lời cầu nguyện thắm thiết và chúc tụng, như chúng ta vừa được nghe.
Trong bản văn nguyên thuỷ Hy Lạp của Phúc Âm, động từ khởi đầu bài Thánh Ca nầy, nói lên thái độ của Chúa Giêsu trong lúc Người cất tiếng lên Chúa Cha là động từ exomologoumai, thường được dịch là “dâng lời chúc tụng":
- “Lúc ấy Chúa Giêsu dâng lời chúc tụng: “Lạy Cha là Chúa Tể trời đất, con ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu không cho bậc khôn ngoan thông thái biết những điều nầy, nhưng lại mặc khải cho những kẻ bé mọn" (Mt 11,25); (Lc 10,21).
Nhưng trong các bản văn Tân Ước động từ vừa kể thường được dùng để ám chỉ hai điều:
- điều thứ nhứt là “biết đến sâu đậm” - ví dụ, Gioan Tẩy Giả đòi buộc phải ý thức nhận biết sâu đậm đến tận cùng các tội lỗi của mình ai đến với ngài để cho mình được rửa tội (Mt 3,6):
- điều thứ hai là “cùng đồng thuận”,
Như vậy cách diễn tả mà Chúa Giêsu dùng để khởi đầu lời cầu nguyện của Người (exomologoumai) chứa đựng ý nghĩa “cảm nhận hiểu biết sâu đậm”, hoàn toàn biết được, động tác của Chúa Cha và đồng thời cũng nói lên Người "hoàn toàn, ý thức và hân hoan đồng thuận” với phương thức hành động đó, với đồ án của Chúa Cha.
Bài Thánh Ca Hoan Hỷ là thượng đỉnh của cuộc hành trình cầu nguyện, trong đó chúng ta thấy được rõ ràng lòng hiệp thông sâu đậm và thân tình của Chúa Giêsu với đời sống Chúa Cha trong Chúa Thánh Thần và nói lên tình nghĩa tử con cái Thiên Chúa của Người.
1 - Chúa Giêsu hướng về Chúa Cha bằng cách gọi Người bằng “ Cha”,
Từ ngữ đó nói lên Chúa Giêsu biết và xác tín chắc chắn mình là “Con”, thông hiệp thân tình và bền vững với Chúa Cha.
Đó là trung tâm điểm và nguồn mạch mọi lời cầu nguyện của Người.
Điều đó chúng ta thấy được rõ ràng trong phần cuối lời bài Thánh Ca, làm sáng tỏ cả bản văn.
Chúa Giêsu nói:
- “Cha Ta đã giao mọi sự cho Ta. Và không ai biết người Con là ai, trừ Chúa Cha, cũng như không ai biết được Chúa Cha là ai, trừ người Con, và kẻ mà người Con muốn mặc khải cho” (Lc 10,22).
Như vậy, Chúa Giêsu xác nhận rằng chỉ có “ người Con” thật sự biết được Chúa Cha.
Mỗi sự hiểu biết giữa người với người - tất cả chúng ta đều có kinh nghiệm trong các mối tương giao con người với nhau - đều đòi buộc phải có một sự liên hệ, một liên hệ nội tâm nào đó giữa người biết và người được biết. Ở một tầm mức sâu đậm hơn, không thể biết được, nếu không có một mối liên hệ sống với nhau.
Trong bài Thánh Ca Hoan Hỷ, như trong cả lời cầu nguyện của Người, Chúa Giêsu cho thấy biết được Thiên Chúa thật sự đòi buộc phải có mối thông hiệp với Chúa Cha: bởi vì chỉ có khi nào thông hiệp được với người bên kia, mới bắt đầu biết được người đó. Đối với Chúa cũng vậy, chỉ có khi nào tôi có được một sự tiếp xúc thực sự, thông hiệp thực sự, tôi mới cũng có thể biết được Chúa.
Như vậy sự hiểu biết thực sự được dành cho “Chúa Con”, Con Một luôn luôn ở trong cung lòng Chúa Cha
- “Thiên Chúa chưa bao giờ ai thấy cả, nhưng Con Một vốn là Thiên Chúa và là Đấng hằng ở trong cung lòng Chúa Cha, chính Người đã tỏ cho chúng ta biết” (Jn 1,18),
luôn luôn hoàn toàn hiệp nhứt với Chúa Cha.
Chỉ có Chúa Con thực sự biết được Chúa Cha, bởi vì Người thông hiệp thân tình với đời sống Chúa Cha, chỉ có Chúa Con có thể mặc khải thực sự Thiên Chúa là ai.
Danh tánh “ Cha” được tiếp nối bằng tước hiệu “Chúa Tể trời đất”, Chúa Giêsu, với cách diễn tả vừa kể, gồm tóm lại đức tin vào việc sáng tạo và nói lên những lời nói đầu tiên trong Thánh Kinh:
- “Từ nguyên thuỷ Thiên Chúa dựng nên trời và đất” (Gen 1,1).
Trong khi cầu nguyện, Chúa Giêsu nhắc lại điều trọng đại được Thánh Kinh thuật lại về lịch sử tình yêu thương của Thiên Chúa đối với con người, được khởi đầu bằng động tác sáng tạo.
Chúa Giêsu hội nhập mình vào dòng lịch sử tình yêu đó, và Người là thượng đỉnh và hoàn hảo của dòng lịch sử đó.
Trong kinh nghiệm cầu nguyện của Người, Thánh Kinh được chiếu sáng tỏ rõ hơn và sống lại trương độ trọn hảo của mình: đó là
- loan báo mầu nhiệm Thiên Chúa
- và sự đáp ứng của con người được hoán chuyển.
Nhưng qua thành ngữ diễn tả “Chúa Tể trời và đất”, chúng ta cũng có thể biết được nơi Chúa Giêsu, Đấng Mặc Khải Chúa Cha, con đường được mở ra lại cho con người, để con người có thể đến được với Thiên Chúa.
2 - Bây giờ chúng ta hãy đặt câu hỏi: Chúa Con muốn mặc khải các mầu nhiệm Thiên Chúa cho ai ?
Lúc khởi đầu bài Thánh Ca, Chúa Giêsu diễn tả niềm hân hoan của Người, bởi vì ý muốn của Chúa Cha là giữ kín những điều đó đối với các kẻ thông thái khôn ngoan và mặc khải cho những kẻ bé mọn:
- “Lạy Cha là Chúa Tể trời đất, con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu kín không cho bậc khôn ngoan thông thái biết những điều nầy, nhưng lại mặc khải cho những kẻ bé mọn. Vâng, lạy Cha, vì đó là điều đẹp ý Cha” (Lc 10,21).
Trong cách diễn tả đó của lời cầu nguyện, Chúa Giêsu cho thấy Người thông hiệp với quyết định của Chúa Cha, Đấng tỏ ra các mầu nhiệm của Người cho những ai có tâm hồn đơn sơ: điều đó cho thấy ý muốn của Chúa Con cũng là một với ý muốn của Chúa Cha.
Mạc khải của Thiên Chúa không xảy ra theo phương thức hữu lý của trần thế, theo đó thì những người thông thái và uy quyền có những hiểu biết quan trọng và họ loan truyền cho dân chúng đơn sơ và bé mọn.
Thiên Chúa dùng phương thức hoàn toàn khác biệt: các chủ thể đón nhận nhũng gì Người loan báo cho chính là “những kẻ bé mọn”, Đó là ý muốn của Chúa Cha và Chúa Con chia sẻ với niềm hân hoan. Sách Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo cho biết:
- “Cử chỉ cúi mình của Người: “Dạ lạy Cha”, nói lên tâm tình sâu thẳm của mình, thái độ hội nhập vào việc đồng thuận với Chúa Cha, như là tiếng dội “Xin vâng” của Mẹ Người trong lúc thụ thai Người và như là khởi đầu những gì Người sẽ nói với Chúa Cha trong lúc hấp hối. Cả lời cầu nguyện của Chúa Giêsu và thái độ thân tình hiệp ý con tim nhân loại người với “mầu nhiệm của...ý muốn Chúa Cha (Ef 1,9)” n.(2603).
Từ đó thoát xuất ra lời khẩn cầu mà chúng ta nguyện xin lên Thiên Chúa trong Kinh Lạy Cha chúng con, “vâng ý Cha dưới đất cũng như trên trời”,
Điều đó có nghĩa là cùng với Chúa Kitô và trong Chúa Kitô, chúng ta cũng xin được hội nhập đồng thuận với ý muốn của Chúa Cha, như vậy chúng ta cũng trở thành con cái Người.
Trong tạm thời, Chúa Giêsu trong bài Thánh Ca Hoan Hỷ nầy nói lên ý muốn lôi cuốn vào lòng hiểu biết nghĩa tử của Người tất cả những ai mà Chúa Cha muốn cho tham dự vào sự hiểu biết đó và những ai đón nhận ân sủng nầy, đó là “những kẻ bé mọn”,
3 - Nhưng “ những kẻ bé mọn” nghĩa là gì ?
Điều “ bé mọn” nào là điều mở rộng cho con người được hội nhập vào tình con cái thân tình với Thiên Chúa và biết đón nhận ý muốn của Người?
Thái độ nào là thái độ nền tảng của lời cầu nguyện chúng ta?
Chúng ta hãy nhìn đến “Bài Giảng Trên Núi”, trong đó Chúa Giêsu xác quyết:
- “Phúc cho ai có tâm hồn trong sạch, vì họ sẽ được thấy Chúa” (Mt 5,8).
Chính sự trong sạch của tâm hồn là điều cho phép nhận biết được dung nhan của Thiên Chúa nơi Chúa Giêsu, có tâm hồn đơn sơ như tâm hồn của trẻ thơ, không cậy tài ỷ thế của kẻ đóng kín nơi mình, cho rằng mình không cần đến bất cứ ai, ngay cả Thiên Chúa cũng vậy.
Cũng rất lý thú ghi nhận cơ hội lúc Chúa Giêsu cất tiếng bài Thánh Ca nầy lên Chúa Cha.
Trong tường thuật của Phúc Âm Thánh Matthêu đó là niềm hân hoan vui tươi, mặc cho có những cuộc chống đối và khước từ, có “những kẻ bé mọn” đón nhận lời của Người và rộng mở mình ra cho cho ân sủng đức tin vào Người.
Thánh Ca Hoan Hỷ, thật vậy, đã được kể ra, mà trước đó thái độ tương phản giữa lời khen ngợi của Thánh Gioan Tẩy Giả, một trong những kẻ bé mọn đã nhận biết tác động của Thiên Chúa nơi Chúa Giêsu (cfr. Mt 11,2-19) và lời quở trách đối với thái độ cứng tin của các thị xã bên bờ hồ, “nơi đã xảy ra phần lớn các phép lạ” (Mt 11,20-24).
Như vậy niềm hoan hỷ được Thánh Matthêu có liên quan đến các lời mà qua đó Chúa Giêsu xác nhận hiệu lực của lời nói và hành động của Người:
- “Các anh hãy đi và thuật lại cho ông Gioan những điều mắt thấy tai nghe: Người mù xem thấy, kẻ què được đi, người cùi được sạch, kẻ điếc được nghe, người chết sống lại, kẻ nghèo được nghe Tin Mừng. Và phúc thay cho kẻ nào không vấp ngã vì tôi” (Mt 11,4-6).
Thánh Luca cũng trình bày bài Thánh Ca Hoan Hỷ có liên quan đến thời điểm phát triển việc loan báo Phúc Âm.
Chúa Giêsu đã sai đi “bảy mươi hai môn đệ” (Lc 10,1) và các ngài ra đi với một cảm giác lo sợ cho việc có thể bất thành công sứ mạng của các ngài. Thánh Luca cũng nhấn mạnh đến thái độ khước từ gặp được trong các thị trấn, trong đó Chúa Giêsu đã giảng dạy vàthực hiện các dấu lạ.
Nhưng nhóm bảy mươi hai trở về đầy hân hoan, bởi vì sứ mạng của các ngài đã gặp được thành công. Các ngài đã nhận thấy rằng, với quyền năng của lời Chúa Giêsu, các bất hạnh của con người đã bị lướt thắng. Và Chúa Giêsu chia xẻ lòng thoả mãn của các ngài, “cũng trong chính lúc đó”, trong chính thời điểm đó, Người hân hoan vui mừng.
4 - Còn hai yếu tố nữa, tôi muốn được nhận mạnh. Tác giả Phúc Âm Luca khởi đầu lời cầu nguyện của Chúa Giêsu với lời ghi chú:
- “Chúa Giêsu hân hoan vui mừng trong Chúa Thánh Thần” (Lc 10,21).
Chúa Giêsu hân hoan vui mừng,
- khởi đầu từ nội tâm của chính mình, trong những gì mà Người có được sâu thẩm nhứt trong tâm hồn: niềm thông hiệp duy nhứt về sự hiểu biết và tình yêu mến của Người đối với Chúa Cha, đó là trạng thái tràn đầy Chúa Thánh Thần.
Bằng cách lôi cuốn chúng ta vào tình nghĩa tử của Người, Chúa Giêsu cũng mời gọi chúng ta hãy mở rộng chúng ta ra cho ánh sáng của Chúa Thánh Thần, bởi vì như Thánh Tông Đồ Phaolồ xác nhận :
- “Chúng ta không biết - cầu nguyện thế nào cho phải, nhưng chính Thánh Thần cầu thay nguyện giúp chúng ta bằng những tiếng rên siết khôn tả...theo các đồ án của Thiên Chúa” (Rom 8,26-27) và mặc khải cho chúng ta tình yêu thương của Chúa Cha..
- Kế đến trong Phúc Âm Thánh Matthêu, sau bài Thánh Ca Hoan Hỷ, chúng ta gặp được một trong những lời kêu gọi đầy phiền muộn của Chúa Giêsu:
- “ Hãy đến với Ta, tất cả anh em vất vả và bị áp bức, Ta sẽ cho nghỉ ngơi hồi dưỡng” (Mt 11,28).
Chúa Giêsu kêu gọi hãy đến với Người là nguồn khôn ngoan đích thực, đến với Người là Đấng “ hiền lành và khiêm nhượng trong lòng”, Người đề nghị “ách của Người”, tức là con đường của Phúc Âm, không phải là chủ thuyết cần phải học hỏi hay một đề nghị luân lý, mà là một Con Người (Persona) để đi theo. Chính Người là Con Một thông hiệp hoàn hảo với Chúa Cha.
Anh Chị Em thân mến, trong tạm thời chúng ta đã nếm được sự sung mãn lời cầu nguyện nầy của Chúa Giêsu.
Chúng ta cũng vậy, với ơn Chúa Thánh Thần của Người, chúng ta có thể hướng về Chúa, trong kinh nguyện,với lòng tin cậy phó thác của những đứa con, kêu xin Người bằng danh tánh Cha “Abba”, Nhưng chúng ta phải có tâm hồn của những kẻ bé mọn, của “những kẻ có tâm hồn khó nghèo” (Mt 5,3), để nhân biết mình không phải là kẻ tự mãn mình tự đầy đủ, chúng ta không thể tự xây dựng cuộc sống chúng ta, nhưng cần phải có Chúa, chúng ta cần gặp được Người, lắng nghe Người, hầu chuyện với Người.
Lời cầu nguyện mở rộng chúng ta ra để đón nhận ơn của Chúa, đức khôn ngoan của Người, chính là Chúa Giêsu, để chu toàn ý muốn của Chúa Cha trên cuộc sống chúng ta và như vậy có thể gặp được bồi dưỡng trong những khổ nhọc cuộc hành trình của chúng ta.
Cám ơn Anh Chị Em.
Phỏng dịch từ nguyên bản Ý Ngữ: Nguyễn Học Tập.
(Thông tấn www.vatican.va, 07.12. 2011).
admin
12-12-2011, 02:21 PM
ĐTC Bênêđictô XVI – Bài Thánh Thi Vui Mừng và Lời Cầu Nguyện của Chúa Giêsu
“Chúng ta cũng thế, nhờ Ơn Chúa Thánh Thần chúng ta có thể hướng về Thiên Chúa trong Cầu Nguyện với Niềm Tin Tưởng của Những Người Con Thảo.”
Dưới đây là bản dịch bài Giáo Lý Thứ Hai Mươi về Cầu Nguyện của Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI được ban hành trong buổi triều yết chung ngày Thứ Tư mùng 7 tháng 12, năm 2011 tại Đại Sảnh Phaolô VI. Hôm nay Đức Thánh Cha tiếp tục loạt bài Giáo Lý về Cầu Nguyện của Chúa Giêsu bằng cách suy niệm về bài cầu nguyện Cảm Tạ của Người.
Anh chị em thấn mến,
Các Thánh Sử Matthêu và Luca (x. Mt 11:25-30 và Lc, 10:21-22) đã truyền lại cho chúng ta một “viên ngọc” cầu nguyện của Chúa Giêsu, thường được gọi là Bài Thánh Thi Vui Mừng hoặc Niềm Hân Hoan Thiên Sai. Đây là một kinh nguyện tạ ơn và ngợi khen, như chúng ta vừa nghe. Trong bản Hy Lạp nguyên thủy của các sách Tin Mừng, từ mở đầu bài thánh thi này, trong đó diễn tả thái độ của Chúa Giêsu dành cho Chúa Cha, là exomologoumai, thường được dịch là “ngợi khen” (Mt 11:25 và Lc 10:21). Nhưng trong các bản văn của Tân Ước động từ này ám chỉ hai điều chính: thứ nhất là “thú nhận” – thí dụ, Thánh Gioan Tẩy Giả đã yêu cầu những người đến cho ngài làm phép rửa thú nhận tội lỗi của họ (x. Mt 3:6), thứ nhì là “đồng ý”. Như vậy, cách diễn tả mà Chúa Giêsu dùng để mở đầu lời cầu nguyện của Người bao gồm việc hoàn toàn thú nhận hành động của Thiên Chúa Cha, và đi đôi với thú nhận này là sự đồng ý hoàn toàn, có ý thức và vui vẻ của Người với cách hành động ấy, tức là với kế hoạch của Chúa Cha. Bài Thánh Thi Vui Mừng là kết quả của một cuộc hành trình cầu nguyện, trong đó nêu rõ sự hiệp thông sâu xa và mật thiết của Chúa Giêsu với đời sống của Đức Chúa Cha trong Chúa Thánh Thần và mặc khải vai trò làm Con Thiên Chúa của Người.
Chúa Giêsu gọi Thiên Chúa là “Cha.” Thuật ngữ này diễn tả ý thức và sự chắc chắn của Chúa Giêsu về việc làm “Chúa Con” của Người trong sự hiệp thông mật thiết và không ngừng với Chúa Cha, và đây là điểm chính yếu cùng là nguồn gốc của tất cả việc cầu nguyện của Chúa Giêsu. Chúng ta thấy rõ điều này trong phần kết luận của Thánh Thi là phần soi sáng toàn thể lời Chúa Giêsu: “Cha Thầy đã trao phó mọi sự cho Thầy; và không ai biết Chúa Con là ai, trừ Chúa Cha, cũng như không ai biết Chúa Cha là ai, trừ Chúa Con, và những người mà Chúa Con muốn mặc khải cho” (Lc 10:22). Như thế, Chúa Giêsu đã xác nhận rằng chỉ có “Chúa Con” mới thực sự biết Chúa Cha. Mọi sự hiểu biêt giữa con người – như tất cả chúng ta kinh nghiệm trong quan hệ của loài người – đòi hỏi một sự liên hệ, một sự kết hợp nội tâm giữa người biết và người được biết, ở một mức độ sâu xa nhiều hoặc ít: chúng ta không thể biết nhau mà không có sự hiệp thông. Trong bài Thánh Thi Vui Mừng, cũng như trong tất cả các lời cầu nguyện của Người, Chúa Giêsu cho thấy sự hiểu biết thật về Thiên Chúa bao hàm việc hiệp thông với Ngài: chỉ bằng cách hiệp thông với người khác mà tôi mới bắt đầu biết họ; thì với Thiên Chúa cũng thế: chỉ khi nào tôi có một liên hệ thật sự với Ngài thì tôi cũng biết Ngài. Vì vậy, sự hiểu biết thật được dành cho “Chúa Con”, Con Một Thiên Chúa là Đấng hằng ở trong cung lòng Chúa Cha (x. Ga 1:18), trong sự hiệp nhất hoàn hảo với Ngài. Chỉ có Chúa Con mới thật sự biết Thiên Chúa, qua việc ở trong sự hiệp thông mật thiết với Đấng Tự Hữu; chỉ một mình Chúa Con mới có thể thực sự mặc khải cho chúng ta biết Thiên Chúa là ai.
Danh hiệu “Cha” được kèm theo bởi một danh hiệu thứ hai, “Chúa trời đất.” Với cách diễn tả này, Chúa Giêsu tóm tắt niềm tin vào việc tạo dựng và lặp lại những lời đầu tiên của Thánh Kinh: “Đầu tiên Thiên Chúa dựng nên trời đất” (St 1:1). Trong lời cầu nguyện, Người nhớ lại câu chuyện cả thể trong Thánh Kinh về lịch sử tình yêu mà Thiên Chúa dành cho nhân loại, là điều được bắt đầu bằng việc tạo dựng. Chúa Giêsu đi vào câu chuyện tình yêu này, trong đó Người vừa là tột đỉnh và vừa là sự hoàn thành của nó. Trong kinh nghiệm về cầu nguyện của Người, Thánh Kinh được soi sáng và làm cho sống động đến mức tối đa: Việc loan báo mầu nhiệm của Thiên Chúa và sự đáp trả của người được biến đổi. Nhưng trong thuật ngữ “Chúa trời đất,” chúng ta cũng nhận ra Chúa Giêsu như Đấng Mặc Khải về Chúa Cha, đã mở ra cho con người khả năng tiếp cận Thiên Chúa.
Giờ đây chúng ta hãy tự hỏi: Chúa Con muốn mặc khải những mầu nhiệm của Thiên Chúa cho ai? Ở đầu bài Thánh Thi Chúa Giêsu diễn tả niềm vui của Người, vì Thánh Ý của Chúa Cha là che giấu không cho những người khôn ngoan thông thái biết những điều này và mặc khải cho những kẻ bé mọn (x. Lc 10:21). Trong lời cầu nguyện này của Người, Chúa Giêsu tỏ lộ sự hiệp thông của Người với quyết định của Chúa Cha, là Đấng mặc khải những bí ẩn của Mình cho những người có tâm hồn đơn giản: Ý của Chúa Con hợp làm một với Ý của Chúa Cha. Việc mặc khải của Thiên Chúa không theo lý luận của thế gian, là lý luận cho rằng chính những người có học và quyền thế mới là những người có kiến thức quan trọng và truyền kiến thức ấy lại cho những người đơn sơ, bé nhỏ. Thiên Chúa đã dùng một phương thế hoàn toàn khác. Những người nhận được sự truyền thông của Ngài lại chính là “những kẻ bé mọn”. Đây là Thánh Ý Chúa Cha, và Chúa Con vui mừng chia sẻ với Ngài. Sách Giáo Lý của Hội Thánh Công Giáo nói rằng: “Lời kêu lên của Người,”Vâng, lạy Cha” bày tỏ sự sâu thẳm của trái tim Người, việc tuân hành “điều đẹp lòng” Chúa Cha vọng lại tiếng “Xin Vâng” của Mẹ Người lúc chịu thai Người, và ám chỉ điều Người sẽ thưa cùng Chúa Cha trong cơn hấp hối của Mình. Toàn thể lời cầu nguyện của Chúa Giêsu được chứa đựng trong việc trái tim nhân loại của Người yêu thương tuân hành mầu nhiệm của Thánh Ý Chúa Cha (Êph 1:9)” (2603).
Từ đó phát sinh ra lời cầu xin mà chúng ta thưa cùng Thiên Chúa trong Kinh Lạy Cha: “Ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời”: cùng với Đức Kitô và trong Đức Kitô, chúng ta cũng xin được hòa hợp với Thánh Ý Chúa Cha, và nhờ đó trở nên con cái Ngài. Vì thế, trong Bài Thánh Thi Vui Mừng này Chúa Giêsu bày tỏ Ý muốn bao gồm trong sự hiểu biết về Thiên Chúa như con thảo của Người tất cả những ai Chúa Cha muốn cho tham dự vào đó; và những người đón nhận hồng ân này là “những kẻ bé mọn”.
Nhưng “bé mọn” hay đơn giản nghĩa là gì? “Sự bé mọn” mở lòng con người ra cho sự mật thiết với Thiên Chúa và đón nhận Thánh Ý của Ngài là gì? Thái độ nào phải là thái độ cơ bản cho việc cầu nguyện của chúng ta? Chúng ta hãy nhìn vào “Bài Giảng Trên Núi,” trong đó Chúa Giêsu quả quyết: “Phúc cho những ai có tâm hồn trong sạch, vì họ sẽ được thấy Thiên Chúa” (Mt 5:8). Chính sự trong sạch của tâm hồn là điều cho phép chúng ta nhận ra dung mạo Thiên Chúa trong Đức Chúa Giêsu Kitô, có một tâm hồn đơn sơ như tâm hồn trẻ em, không có sự tự phụ của những kẻ chỉ biết đến mình mà nghĩ rằng họ không cần đến ai, kể cả Thiên Chúa.
Cũng nên chú ý ghi nhận hoàn cảnh mà trong đó Chúa Giêsu dâng bài Thánh Thi này lên cùng Chúa Cha. Trong tường thuật Tin Mừng của Thánh Matthêu, đó chính là niềm vui, vì bất kể sự phản kháng và chối từ của nhiều người, vẫn có “những kẻ bé mọn” đón nhận lời Người và mở lòng ra lãnh nhận hồng ân đức tin vào Người. Thực ra, bài Thánh Thi Vui Mừng được đi trước bởi sự tương phản giữa lời khen ngợi Thánh Gioan Tẩy Giả, một trong những “kẻ bé mọn” là người đã nhận ra Thiên Chúa hoạt động trong Ðức Chúa Giêsu Kitô (x. Mt 11:2-19), và lời khiển trách lòng cứng tin của các thành quanh Biển Hồ, “là nơi hầu hết những việc cả thể của Người đã xảy ra” (x. Mt 11:20-24). Cho nên, niềm hân hoan được Thánh Matthêu nhìn thấy trong tương quan với những lời mà trong đó Chúa Giêsu nhắc đến hiệu quả của những lời nói và việc làm của Người: “Hãy về kể lại cho ông Gioan những điều mắt anh em thấy và tai anh em nghe: Người mù được thấy, người què được đi, người phong hủi được sạch, người điếc được nghe, người chết sống lại, và người nghèo được nghe giảng Tin Mừng. Phúc cho người nào không vấp phạm vì Tôi.” (Mt 11:4-6).
Thánh Luca cũng trình bày Thánh Thi Vui Mừng trong tương quan với một thời điểm phát triển của việc công bố Tin Mừng. Chúa Giêsu đã sai “72 môn đệ” ra đi (Lc 10:1), và các ông ra đi với một cảm giác lo sợ rằng sứ vụ của mình có thể bị thất bại. Thánh Luca cũng nhấn mạnh đến sự chối từ đã gặp phải trong các thành là những nơi Chúa đã rao giảng và đã làm những dấu lạ cả thể. Nhưng 72 môn đệ trở về đầy niềm vui, bởi vì sứ vụ của các ông đã thành công, các ông đã làm chứng rằng với quyền năng của lời Chúa Giêsu, các sự dữ của con người bị chính phục. Và Chúa Giêsu chia sẻ sự hài lòng của họ: “cùng một giờ ấy,” tại thời điểm đó, Người đã vui mừng.
Hiện vẫn còn hai yếu tố mà tôi muốn nhấn mạnh đến. Thánh Sử Luca giới thiệu lời cầu nguyện với nhận xét: “Chúa Giêsu vui mừng trong Chúa Thánh Thần” (Lc 10:21). Chúa Giêsu vui mừng tận đáy lòng về điều thầm kín nhất của Người: sự hiệp thông và hiểu biết duy nhất cùng tình yêu của Người dành cho Chúa Cha, sự sung mãn của Chúa Thánh Thần. Bằng cách lôi kéo chúng ta vào việc làm Con của Người, Chúa Giêsu cũng mời gọi chúng ta mở lòng ra đón nhận ánh sáng của Chúa Thánh Thần, bởi vì – như Thánh Phaolô Tông Đồ quả quyết – “(Chúng ta) không biết phải cầu nguyện thế nào như chúng ta phải cầu nguyện, nhưng chính Thần Khí cầu bầu cho chúng ta, bằng những tiếng rên siết khôn tả… theo Ý của Thiên Chúa” (Rm 8:26-27) và Người mặc khải cho chúng ta tình yêu của Chúa Cha. Trong Tin Mừng Thánh Matthêu, sau Thánh Thi Vui Mừng, chúng ta tìm thấy một trong những lời mời gọi tha thiết nhất của Chúa Giêsu: “Hãy đến cùng Thầy, hỡi tất cả những ai lao khổ và gồng gánh nặng nề, Thầy sẽ cho nghỉ ngơi” (Mt 11:28). Chúa Giêsu yêu cầu chúng ta đến cùng Người, vì Người là sự Khôn Ngoan thật, đến cùng người, vì Người “hiền lành và khiêm nhường trong lòng.” Người ban cho chúng ta “cái ách của Người”, con đường khôn ngoan của Tin Mừng không phải là một học thuyết hay một hệ thống luân lý, nhưng là một Người mà chúng ta phải đi theo: Chính Người, Con Một Thiên Chúa trong sự hiệp thông hoàn hảo với Chúa Cha.
Anh chị em thân mến, chúng ta đã nếm thử một chút sự phong phú của lời cầu nguyện của Chúa Giêsu. Chúng ta cũng thế, với ơn Chúa Thánh Thần, chúng ta có thể hướng về Thiên Chúa trong cầu nguyện với lòng tin tưởng của những người con thảo, gọi Ngài với danh hệu Cha, “Abba!”. Nhưng chúng ta phải có tâm hồn của những kẻ bé mọn, “người có lòng nghèo trong khó” (Mt 5:3), để nhận ra rằng chúng ta không thể tự túc, rằng chúng ta không thể một mình tự xây dựng đời mình, rằng chúng ta cần Thiên Chúa, chúng ta cần phải gặp Ngài, lắng nghe Ngài và thưa chuyện với Ngài. Cầu nguyện mở lòng chúng ta ra đón nhận hồng ân của Thiên Chúa, là Sự Khôn Ngoan của Ngài, chính là Chúa Giêsu, để làm tròn Thánh Ý Chúa Cha trong cuộc đời mình và để tìm thấy sự nghỉ ngơi trong những khó nhọc của cuộc hành trình của mình. Cám ơn.
Phaolô Phạm Xuân Khôi
http://vietcatholic.com/News/Html/94609.htm
admin
16-12-2011, 07:45 AM
BÀI GIÁO LÝ NGÀY THỨ TƯ (7A 42)
Thính phòng Phaolồ VI, buổi yết kiến ngày thứ tư,14.12.2011.
LỜI CẦU NGUYỆN TRƯỚC ĐỘNG TÁC ƠN LÀNH VÀ CHỮA TRỊ CỦA THIÊN CHÚA.
ĐỨC THÁNH CHA BENEDICTUS XVI
Anh Chị Em thân mến,
hôm nay tôi muốn được cùng với Anh Chị Em suy nghĩ về lời cầu nguyện của Chúa Giêsu có liên quan đến động tác chữa trị lạ lùng của Người.
Trong các Phúc Âm nhiều trường hợp khác nhau được đề cập đến, trong đó Chúa Giêsu cầu nguyện trước động tác tốt lành và chữa trị của Chúa Cha, tác động qua con người của Người. Đó là một lời cầu nguyện, một lần nữa, cho thấy mối liên hệ duy nhứt về hiểu biết và thông hiệp của Người với Chúa Cha, trong khi Chúa Giêsu để cho mình bị liên hệ với lòng thông cảm nhân loại cao cả với các bạn hữu của mình, ví dụ như với Lazzaro và với gia đình của anh, hay với nhiều người nghèo khổ và bệnh tật mà Người muốn giúp đỡ thực sự.
1 - Một trường hợp có ý nghĩa đó là dịp chữa lành người câm và điếc (Mc 7,32-37).
Câu chuyện do Thánh Marco thuật lại - mà chúng ta vừa mới được nghe - cho thấy động tác chữa trị của Chúa Giêsu liên kết với mối liên hệ đậm đà của Người với người thân cận - với bệnh nhân - cũng như với Chúa Cha.
Bối cảnh phép lạ được tường thuật lại với đầy đủ chi tiết như sau:
- “Người kéo riêng anh ta ra khỏi đám đông, đặt ngón tay vào lỗ tai anh, và nhổ nước miếng mà bôi vào lưỡi anh. Rồi Người ngước mắt lên trời, rên một tiếng và nói : “Ephrata”, nghĩa là “hãy mở ra” (Mc 7,33-34).
Chúa Giêsu muốn cho cuộc chữa trị được thực hiện ở nơi “riêng ra, khỏi đám đông”.
Điều đó không chỉ có ý nghĩa là biến cố phép lạ phải được giữ kín khỏi đoàn lũ dân chúng, để tránh cho họ khỏi có những lời bàn luận giải thích hạn hẹp hay sai trái về con người Chúa Giêsu.
Thái độ lựa chọn đem bệnh nhân ra một nơi riêng tư, khiến cho trong lúc chữa trị Chúa Giêsu và người điếc và câm ở riêng ra một mình, gần gủi với nhau trong một mối tương quan đặc biệt.
Với một cử chỉ, Chúa Giêsu chạm đến tai và lưỡi người bệnh, hay nói rõ hơn là những cơ quan cá biệt cơn bệnh của anh. Cường độ chú tâm của Chúa Giêsu được thể hiện trong các động tác bất thường của cuộc chữa trị. Người dùng đến chính các ngón tay của mình, đến nỗi cả nước miếng của mình.
Và cả điều tác giả Phúc Âm ghi lại lời nói nguyên thuỷ của Chúa “Ephrata”, hay “Hãy mở ra”, cho thấy đặc tính cá biệt của biến cố.
Nhưng tâm điểm của biến cố nầy, đó là Chúa Giêsu trong lúc tác động chữa trị, đã tìm cách tiếp xúc trực tiếp với Chúa Cha.
Thật vậy, đoạn tường thuật cho biết Người
- “ngước mắt lên trời, rên lên một tiếng” (Mc 7,34).
Cử chỉ chú ý đến bệnh nhân, cử chỉ Chúa Giêsu chăm lo cho anh, tất cả đều có liên hệ sâu đậm với thái độ cầu nguyện của Người lên Chúa Cha. Tiếng rên lên được diễn tả bằng một động từ, mà trong Tân Ước nói lên lòng ao ước một điều gì đó tốt lành, nhưng chưa có được:
- “Thật vậy, chúng ta biết rằng cho đến bây giờ muôn loài thọ tạo còn rên siết và quằn quại như sắp sinh nở” (Rom 8,23).
Như vậy, toàn phần đoạn tường thuật cho thấy thái độ liên quan chia sẻ con người với bệnh nhân làm cho Chúa Giêsu cất lên lời cầu nguyện. Như vậy, một lần nữa chúng ta thấy được tình liên hệ độc nhứt của Người với Chúa Cha, căn tính Con Một của Người. Nơi Người, qua con người của Người tác động chữa trị và tốt lành của Chúa Cha được thể hiện.
Không phải vô cớ mà lời bàn tán của dân chúng sau phép lạ nhắc lại biến cố sáng tạo ở đầu Sách Sáng Thế Ký:
- “Ông ấy làm việc gì cũng tốt đẹp hết” (Mc 7,37).
Trong động tác chữa trị của Chúa Giêsu, lời cầu nguyện chiếm phần quan trọng thật rõ ràng, với động tác ngước mắt nhìn lên trời của Người.
Sức mạnh đã chữa khỏi người điếc và câm chắc chắn đã được gây nên bởi lòng thương hại đối với anh, nhưng sức mạnh đó thoát xuất từ lời cầu khẩn đối với Chúa Cha. Hai mối tương quan đó hội ngộ với nhau: mối tương quan con người thương hại với con người hội nhập vào mối tương quan với Thiên Chúa, và như vậy đưa đến việc chữa lành bệnh.
2 - Trong đoạn Phúc Âm Thánh Marco tường thuật lại cuộc sống lại của Lazzaro, cũng sức mạnh chính tác động đó được minh chứng một cách rõ ràng (Jn 11,1-14).
Ở đây cũng vậy đan kết nhau, một phần mối liên hệ của Chúa Giêsu với một người bạn và sự đau khổ của anh một đàng, và đàng khác, mối liên hệ nghĩa tử giữa Chúa Giêsu và Chúa Cha. Động tác tham dự theo nhân tính của Chúa Giêsu vào biến cố Lazzaro có nhiều chi tiết cá biệt. Trong đoạn tường thuật tình thân hữu với anh được lập đi lập lại nhiều lần, cũng như với hai chị em Marta và Maria.
Chính Chúa Giêsu cũng xác nhận:
- “Lazzaro, bạn của chúng ta đang ngủ yên giấc; tuy vậy, Thầy đi đánh thức anh ấy dậy” (Jn 11,11).
Tình thương mến chân thành đối với người bạn cũng được hai người chị em của Lazzaro được thấy rõ, cả những người Do Thái cũng nói đến:
- “Hai cô cho người đến nói với Chúa Giêsu: “Thưa thầy, người Thầy thương mến đang bị đau nặng” (Jn 11,3).
- “Người Do Thái mới nói: “Kìa xem, ông ta thương Lazzaro biết mấy” (Jn 11,36).
Tình yêu thương đó được thể hiện trong nỗi xúc động sâu xa của Chúa Giêsu trước nỗi đau đớn của Marta và Maria và của tất các bạn hữu của Lazzaro, đưa đến cơn bật khóc nức nở - sâu đậm con người - khi Người tiến đến gần ngôi mộ:
- “Thấy cô (Maria) khóc và những người Do Thái đi với cô cũng khóc, Chúa Giêsu thổn thúc trong lòng và xao xuyến. Người hỏi : “Các ngươi để xác anh ấy ở đâu ?”. Họ trả lời: “Thưa Thầy, mời Thầy đến mà xem. Chúa Giêsu liền khóc” (Jn 11,33-35).
Tình thân hữu nầy, lòng tham dự chia xẻ và lòng xúc động của Chúa Giêsu trước nỗi đau khổ của những người thân và những người quen biết với Lazzaro được nối kết, trong cả đoạn tường thuật, với mối liên hệ không ngớt và đầy nồng độ với Chúa Cha.
Ngay từ lúc khởi đầu, biến cố được Chúa Giêsu đặt liên hệ với căn tính, sứ mạng và niềm vinh quang đang đợi Người. Bởi đó khi nghe tin Lazzaro bị đau liệt, Người giải thích:
- “Nghe vậy, Chúa Giêsu bảo: “Bệnh nầy không đến nỗi chết đâu, nhưng là dịp để bày tỏ vinh quang của Thiên Chúa: qua bệnh nầy, Con Thiên Chúa được tôn vinh” (Jn 11,4),
Và rồi ngay cả tin người bạn chết đi được Chúa Giêsu với lòng đau xót sâu xa của con người, nhưng luôn luôn vẫn được đặt liên hệ với mối tương quan với Chúa Cha và với sứ mạng mà Người được giao phó cho, Chúa Giêsu nói:
- “Lazzaro đã chết. Thầy mừng cho anh em, vì Thầy đã không có mặt ở đó, để anh em tin (Jn 11,14-15).
Giây phút cầu nguyện công khai lên Chúa Cha của Chúa Giêsu trước ngôi mộ, là thời điểm tháo gỡ giải thích tự nhiên cho cả biến cố, nhằm nói lên mối liên kết lưỡng diện thân hữu với Lazzaro và tình liên hệ nghĩa tử với Chúa Cha.
Cũng vậy, ở đây hai mối liên kết đi song đôi với nhau:
- “Chúa Giêsu ngước mắt lên và nói: “Lạy Cha, con cảm tạ Cha, vì Cha đã nhận lời con” (Jn 11,41): một lời nói đầy hân hoan.
Câu nói vừa kể cho chúng ta thấy Chúa Giêsu không có một giây phút nào ngừng nghỉ trong lời cầu nguyện cho đời sống của Lazzaro. Lời cầu nguyện liên tục đó đã tăng trưởng thêm mối liên hệ với người bạn và đồng thời cũng nói lên quyết định của Chúa Giêsu vẫn luôn hiệp thông với ý muốn của Chúa Cha, với đồ án tình yêu, mà trong đó cơn bệnh và cái chết của Lazzaro được hiểu như là thời điểm, trong đó vinh quang của Thiên Chúa được thể hiện ra.
3 - Anh Chị Em thân mến, đọc đoạn tường thuật vừa kể mỗi người chúng ta được mời gọi hãy hiểu rằng trong lời cầu nguyện van xin Chúa, chúng ta đừng nên chờ đợi sẽ được thực hiện tức khắc những gì chúng ta van xin, theo ý muốn của chúng ta, nhưng chúng ta hãy phó thác mình vào ý muốn Chúa Cha. Hãy biết đọc và hiểu mỗi biến cố trong nhãn quan niềm vinh quang của Người, theo đồ án tính yêu thương của Người, thường là những gì mầu nhiệm bí ẩn đối với đôi mắt chúng ta.
Bởi đó, trong lời cầu nguyện, van xin, chúc tụng và tạ ơn chúng ta hãy biết hoà tan mình, ngay cả khi chúng ta nghĩ rằng Chúa không đáp ứng, hoà hợp vào với những chờ đợi thực tế của mình.
Phó thác mình vào tình yêu của Chúa, Đấng luôn luôn đi trước và đồng hành với chúng ta, đó là thái độ căn bản cuộc đối thoại chúng ta với Người.
Sách Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo chú giải như sau lời cầu nguyện của Chúa Giêsu trong đoạn thuật lại về sự sống lại của Lazzaro:
- “Được khởi đầu bằng lời tạ ơn, lời cầu nguyện của Chúa Giêsu mạc khải cho chúng ta phải cầu xin thế nào trước khi ơn phước đó được ban cho, Chúa Giêsu liên kết với Đấng ban cho và trong các ơn phước ban cho, xin Người ban tặng cho chính Người. Đấng ban cho quý báu hơn ơn phước được ban; Người là “Kho Báu” và trái tim của Con của Người ở nơi Người. Ơn phước được ban cho là “được ban thêm cho” (cfr. Mt 6,26; 6,33) (2604).
Tôi nghĩ rằng điều vừa kể rất quan trọng: trước khi ơn phước được ban cho, chúng ta hãy liên kết gắn liền với Đấng ban ơn cho, người ban cho quý báu hơn quà tặng.
Đối với chúng ta cũng vậy, bên kia những gì Chúa ban cho chúng ta, khi chúng ta cầu xin, ơn phước lớn nhứt mà Người có thể ban cho chúng ta, đó là tình bằng hữu của Người,sự hiện diện của Người, tình thương yêu của Người.
Lời cầu nguyện mà Chúa Giêsu cất tiếng lên, khi tảng đá lấp lối vào mộ Lazzaro được dời đi, diễn tả tiếp nối một khai triển lạ lùng và bât ngờ. Thật vậy, sau khi cám ơn Chúa Cha, Chúa Giêsu thêm vào:
- “Phần con, con biết Cha hằng nhậm lời con, nhưng vì dân chúng đứng quanh đây, nên con đã nói để họ tin là Cha đã sai con” (Jn 11,42).
Với lời cầu nguyện của Người, Chúa Giêsu muốn hướng dẫn đến đức tin, đến lòng tin cậy phó thác hoàn toàn vào Thiên Chúa và muốn cho thấy rằng Thiên Chúa là Đấng đã rất thương yêu con người và thế gian đến nỗi phải sai chính Con Một của mình (Jn 3,16).
Người là Thiên Chúa của sự sống, Thiên Chúa đem đến niềm hy vọngvà có khả năng đảo ngược những tình thế bất khả thi đối với con người.
Như vậy lời cầu nguyện tin cậy của một người tín hữu là một minh chứng sống động
- sự hiện diện nầy của Chúa trong thế gian,
- sự chú tâm lo lắng của Người cho con người,
- động tác của Người để thực hiện đồ án cứu rỗi.
Hai lời cầu nguyện của Chúa Giêsu được suy niệm hôm nay, đi theo việc chữa trị người điếc và câm và cuộc sống lại của anh Lazzaro, mạc khải cho chúng ta biết sự liên hệ sâu đậm giữa tình yêu mến Chúa và thương yêu người thân cận cũng phải hội nhập vào lời cầu nguyện của chúng ta.
Nơi Chúa Giêsu, Thiên Chúa thật và con người thật, việc chú tâm đến người khác, nhứt là người đó là người đang có nhu cầu và đau khổ, lòng cảm xúc trước đau khổ của một gia đình thân hữu, khiến cho Người hướng về Chúa Cha, trong mối liên hệ nền tảng hướng dẫn cả cuộc sống Người
Nhưng cũng ngược lại, sự hiệp thông với Chúa Cha, việc đối thoại liên tục với Người, thúc đẩy Chúa Giêsu chú tâm một cách đặc biệt đến các trạng thái hiện thực của con người, để đem đến cho sự an ủi và tình yêu của Thiên Chúa.
Sự giao tiếp với con người hướng dẫn chúng ta đến giao tiếp với Thiên Chúa và sự liên hệ với Chúa hướng dẫn chúng ta một lần nữa đến người thân cận.
Anh Chị Em thân mến,
lời cầu nguyện của chúng ta mở cửa ra cho Thiên Chúa, Đấng dạy chúng ta biết kiên trì thoát ra khỏi chính con người chúng ta, để có khả năng làm cho mình trở nên người thân cận với người khác, nhứt là trong những cơn thử thách, để đem đến cho anh em đó sự an ủi, hy vọng và ánh sáng.
Nguyện xin chúa ban cho chúng ta có khả năng biết nồng nhiệt cầu nguyện,
- để tăng cường thêm mối tương quan cá nhân với Chúa Cha,
- mở rộng tâm hồn chúng ta ra trước những nhu cầu của những ai ở bên cạnh chúng ta
- và cảm nhận được vẻ tốt đẹp chúng ta là “những đứa con trong Chúa Con” chung với bao nhiêu anh em khác.
Cám ơn Anh Chị Em.
Phỏng dịch từ nguyên bản Ý- Ngữ: Nguyễn Học Tập.
(Thông tấn www.vatican.va,14.12.2011).
admin
23-12-2011, 07:34 PM
BÀI GIÁO LÝ NGÀY THỨ TƯ (7A 43)
Thính phòng Phaolồ VI, buổi yết kiến ngày thứ tư, 21.12.2011.
LỄ GIÁNG SINH: HÔM NAY ĐẤNG CỨU ĐỘ ĐƯỢC SINH RA CHO CHÚNG TA.
ĐỨC THÁNH CHA BENEDICTUS XVI,
Anh Chị Em thân mến,
tôi vui mừng được đón nhận Anh Chị Em trong Buổi Yết Kiến Chung một ít ngày trước khi cử hành Lễ Giáng Sinh của Chúa.
Lời chào hỏi mở ra trên miệng chúng ta trong những ngày nầy là “Mừng Giáng Sinh ! Chúc Mừng những ngày Lễ Giáng Sinh tốt đẹp !”, Chúng ta hãy làm thế nào, cho ngay cả trong xã hội hiện đại của chúng ta, lời chúc trao đồi nhau không mất đi giá trị tôn giáo sâu đậm của nó, và cuộc lễ không bị những hình ảnh bên ngoài hấp thụ mất đi, nhưng trái lại giá trị tôn giáo đó đánh động được đến những đường dây của con tim.
Dĩ nhiên, những dấu hiệu bên ngoài là những gì tốt đẹp và quan trọng, tuy nhiên đừng để cho chúng làm cho chúng ta lơ đãng đi, trái lại giúp chúng ta sống được Giáng Sinh trong ý nghĩa đích thực của dịp Lễ, ý nghĩa thiên thánh và Kitô giáo, để cho niềm vui của chúng ta không chỉ là niềm vui phiến diện, nhưng là niềm vui sâu đậm.
1 - Qua Phụng Vụ, Giáo Hội hướng dẫn chúng ta đi vào Mầu Nhiệm Nhập Thể trọng đại.
Thật vậy, Giáng Sinh không phải đơn sơ chỉ là dịp giáp năm ngày sinh nhật của Chúa Giêsu, mặc dầu cũng là ngày đó, nhưng còn là những gì hơn nữa, đó là ngày cử hành Mầu Nhiệm đã ghi dấu và tiếp tục ghi dấu lên lịch sử nhân loại - chính Thiên Chúa đã đến để ở giữa chúng ta (cfr. Jn 1,14), đã trở thành một trong những con người như chúng ta - một Mầu Nhiệm có liên quan đến đức tin và cuộc sống của chúng ta; một Mầu Nhiệm mà chúng ta thực sự sống trong các dịp cử hành phụng vụ, nhứt là trong Thánh Lễ.
Có thể có ai đó đặt câu hỏi làm thế nào bây giờ tôi có thể sống được biến cố đó, đã xa xưa trong thời gian?
Làm sao tôi có thể tham dự một cách có lợi ích cuộc sinh ra của Con Thiên Chúa, đã xảy ra trên hai ngàn năm qua ?
Trong Thánh Lễ Nửa Đêm Giáng Sinh, chúng ta sẽ lập lại như là điệp khúc của Thánh Vịnh những lời nầy:
- “Hôm nay Đấng Cứu Độ được sinh ra cho chúng ta”,
Trạng từ chỉ thời gian vừa kể, “hôm nay”, vẫn còn được lặp lại nhiều lần trong cả các dịp cử hành Giáng Sinh và nói lên biến cố Chúa Giêsu sinh ra và nói lên ơn cứu độ mà sự Nhập Thể của Con Thiên Chúa đến để đem lại cho chúng ta.
Trong Phụng Vụ, biến cố đó đã vượt qua các giới hạn không gian và thời gian, và trở thành hiện thực. Hậu quả của biến cố vẫn còn tồn tại, mặc cho những ngày, những năm và những thế kỷ đã trôi qua.
Cho biết rằng Chúa Giêsu sinh ra “hôm nay”, Phụng Vụ không phải dùng một câu nói vô ý nghĩa, nhưng
- nói lên để nhấn mạnh biến cố Giáng Sinh nầy có liên hệ và thẩm thấu vào cả dòng lịch sử,
- vẫn còn là một thực thể cả cho ngày hôm nay, mà chúng ta có thể đạt đến được trong Phụng Vụ.
Đối với chúng ta là người tín hữu, cử hành Lễ Giáng Sinh, canh tân lại nơi chúng ta lòng xác tín rằng Thiên Chúa thực sự đang hiện diện giữa chúng ta, vẫn còn là “thịt” và không chỉ xa xôi đối với chúng ta.
Mặc dầu Người đang ở cùng Chúa Cha, Người vẫn ở gần bên chúng ta.
Thiên Chúa, nơi đứa trẻ sinh ra ở Bethlem đó, đã đến gần con người; chúng ta có thể gặp được Người ngày “hôm nay”, ngày hôm nay đó không bao giờ trở thành xế chiều, khuất bóng.
Tôi muốn được nhấn mạnh về điểm vừa kể, bởi vì con người thời nay, con người của “cảm quan”, của của những gì thực nghiệm ghi nhận được, khó có thể mở rộng mình ra cho các chân trời và hội nhập vào thế giới của Thiên Chúa.
Dĩ nhiên, việc cứu rỗi nhân loại được xảy ra trong một thời điểm chính xác và có thể được xác định trong lịch sử: trong biến cố Chúa Giêsu Nazareth.
Nhưng Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa, là chính Thiên Chúa,
- không những đã nói chuyện với con người,
- đã cho con người thấy những dấu chứng lạ lùng,
- đã hướng dẫn con người suốt cả dòng lịch sử cứu rỗi,
- mà còn trở thành người và ở lại với con người.
Đấng Vô Cùng đã hội nhập vào những giới mức của thời gian và không gian, để làm cho ngày “hôm nay” con người có thể gặp gỡ được Người.
Các bản văn phụng vụ Lễ Giáng Sinh giúp chúng ta hiểu được các biến cố cứu rỗi, được Chúa Giêsu thực hiện, vẫn luôn luôn hiện đại, có liên quan đến mỗi người và tất cả mọi người.
Khi chúng ta lắng nghe hay chúng ta đọc lên trong các cuôc cử hành phụng vụ lời tuyên bố nầy
- “Hôm nay Đấng Cứu Độ đã được sinh ra cho chúng ta”,
không phải chúng ta đang dùng một thành ngữ qui ước vô nghĩa, mà là chúng ta muốn hiểu rằng ngày “hôm nay” Thiên Chúa ban tặng Người cho chúng ta; ngay từ giờ đây Thiên Chúa ban cho mỗi người trong chúng ta có thể nhận biết đươc Người và đón nhận Người, như các mục tử lúc đó đã làm ở Bethlem, bởi vì Người cũng sinh ra trong đời sống chúng ta và canh tân, soi sáng, hoán cải đời sống chúng ta bằng Ơn Sủng của Người, bằng sự hiện diện của Người.
Như vậy, Giáng Sinh, trong khi tưởng nhớ đến biến cố Chúa Giêsu sinh ra trong xác thịt, bởi Mẹ Maria - và nhiều bản văn phụng vụ làm sống lại dưới mắt chúng ta biến cố nầy hay biến cố kia, là một biến cố đầy hiệu lực đối với chúng ta.
Đức Thánh Giáo Hoàng Lêo Cả, trong khi nói về ý nghĩa thâm sâu của Lễ Giáng Sinh, đã mời gọi các tín hữu của Ngài bằng những lời sau đây:
- “Chúng ta hãy vui mừng lên trong Chúa, các con thân mến, và chúng ta hãy mở rộng tâm hồn mình với niềm vui thanh khiết hơn, bởi vì đã xuất hiện cho chúng ta ngày mà đối với chúng ta có ý nghĩa là việc cứu độ mới, cuộc chuẩn bị đã có từ ngàn xưa, hạnh phúc bất diệt. Thật vậy, trong chu kỳ lặp lại hằng năm mầu nhiệm cao cả cứu rỗi chúng ta, được Chúa hứa ban cho từ lúc đầu và được thực hiện vào thời cánh chung, mầu nhiệm cứu rỗi đó được tồn tại vô tận” (Sermo 22, I Nativitate Domini,2,1: PL. 54,193).
Cũng vẫn Thánh Lêo Cả, ở một bài giảng khác trong các Bài Giảng Giáng Sinh của Ngài, đã xác nhận:
- “Hôm nay vị Tác Giả của thế giới đã được sinh ra từ dạ một trinh nữ: Đấng đã tạo dựng nên mọi sự đã làm cho mình trở thành con của một phụ nữ do chính ngài dựng nên. Hôm nay Ngôi Lời Thiên Chúa đã hiện ra mặc lấy xác thịt và, trong khi mắt con người chưa bao giờ được thấy, Người đã làm cho mình có thể làm cho con người đụng chạm đến được. Hôm nay các mục đồng được tiếng các thiên sứ báo cho biết rằng Đấng Cứu Độ đã được sinh ra trong bản thể thân xác và linh hồn của chúng ta” (Sermo 26, In Nativitate Domini,6,1: PL 54,213).
2 - Còn một khía cạnh thứ hai, mà tôi muốn được đề cập qua một cách ngắn gọn: đó là biến cố ở Bethlem cần phải được chiêm ngắm dưới ánh sáng Mầu Nhiệm Phục Sinh: bởi vì biến cố nầy cũng như biến cố kia đều là thành phần của công trình cứu độ duy nhứt của Chúa Kitô.
Người mừng Lễ Phục Sinh như là cuộc chiến thắng trên tội lỗi và sự chết: đây là dấu chỉ sau cùng, khi vinh quang của Con Người - Thiên Chúa chiếu toả lên, như ánh sáng ban ngày.
Lễ Giáng Sinh được Người mừng như là khởi điểm Thiên Chúa đi vào lịch sử, làm cho mình trở nên con người, để đem con người trở lại với Thiên Chúa. Dấu chỉ vừa kể, chúng ta có thể nói, như là dấu chỉ thời điểm khởi đầu, khi hừng đông vừa ló dạng.
Và chính như hừng đông đi trước và báo cho biết trước ánh sáng của ban ngày, cũng vậy Giáng Sinh đã loan báo trước Thập Giá và vinh quang của Phục Sinh.
Như vậy cả hai khoảng thời gian của năm, trong đó hai đại lễ được xếp đặt, ít nhứt ở một vài phần đất trên thế giới, có thể giúp chúng ta hiểu được khía cạnh vừa kể.
Thật vậy, trong khi Lễ Phục Sinh ở vào thời điểm khởi đầu mùa xuân, khi mặt trời bắt đầu lướt thắng sương mù dày đặc và lạnh lẽo, canh tân lại mặt đất, Lễ Giáng Sinh được xảy ra chính vào thời điểm khi mùa đông bắt đầu, khi ánh sáng và sức nóng của mặt trời không còn có khả năng làm thức tỉnh thiên nhiên. Thiên nhiên bị cơn lạnh lẽo bao phủ, nhưng dưới lớp bao phủ đó đời sống đang đầy nhịp đập và sự chiến thắng của mặt trời và hơi nóng đang bắt đầu trở lại lần nữa.
Các Giáo Phụ đã luôn luôn nhận ra biến cố sinh ra của Chúa Kitô trong ánh sáng thoát xuất từ cả công trình cứu độ của Người, mà thượng đỉnh là Mầu Nhiệm Phục Sinh.
Nhập Thể của Con Thiên Chúa được coi không phải chỉ là khởi đầu và điều kiện của sự cứu rỗi, mà còn là chính sự hiện hữu của Mầu Nhiệm cứu rỗi chúng ta. Thiên Chúa trở thành người, sinh ra bé thơ như chúng ta, nhận lấy xác thịt của chúng ta để thắng sự chết và tôi lỗi. Hai văn bản đầy ý nghĩa của Thánh Basilio diễn giải thật rõ ràng cho chúng ta điều đó. Thánh Basilio nói với các tín hữu:
- “Thiên Chúa nhận lấy xác thịt chính là để tiêu diệt sự chết tiềm ẩn trong đó. Như là những kháng chất chống độc dược, một khi được hấp thụ vào kháng chất sẽ tiêu diệt các hiệu quả của độc dược, và như các bóng tối của một ngôi nhà bị tan biến đi dưới ánh sáng mặt trời, cũng vậy sự chết đang ngủ trên bản tính con người cũng bị sự hiện diện của Thiên Chúa tiêu diệt. Và như nước đá vẫn còn cứng trong nước cho đến khi nào đêm tối vẫn còn, nhưng liền tan biến đi dưới sức nóng của mặt trời, cũng vậy sự chết đã ngự trị cho đến khi Chúa Kitô đến, nhưng vừa khi ân sủng Thiên Chúa Cứu Độ xuất hiện và mặt trời công chính mọc lên, “đêm tối bị niềm vinh quang nuốt trửng đi” (1 Cor 15,54), bởi vì sư chết không thể cùng chung sống với Sự Sống” (Omelia della nascità di Cristo,2: PG 31,1461).
Trong Giáng Sinh chúng ta gặp được cử chỉ âu yếm và tình yêu thương của Thiên Chúa, Đấng đang cúi mình xuống trên các giới hạn của chúng ta, trên các nỗi yếu đuối, trên tội lỗi của chúng ta và hạ mình xuống đến với chúng ta.
Thánh Phaolồ xác nhận rằng Chúa Giêsu Kitô,
- “vốn dĩ là Thiên Chúa, mà không nghĩ phải nhất quyết duy tri địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân sống như người trần thế” (Phil 2,6-7)
Nhìn vào hang đá Bethlem: Thiên Chúa đã hạ mình đến nỗi được đặt nằm trong máng cỏ, đó là dấu chỉ tiên báo trước tình trạng hạ mình của Người vào thời điểm của cuộc khổ nạn.
Thượng đỉnh của tình yêu thương giữa Thiên Chúa và con người được thể hiện qua máng cỏ ở Bethlem và mồ chôn ở Giêrusalem.
Anh Chị Em thân mến, chúng ta hãy sống vui tươi lên, Lễ Giáng Sinh sắp đến ! Chúng ta hãy sống biến cố diệu huyền nầy: Con Thiên Chúa còn sinh ra “hôm nay”, Thiên Chúa thực sự ở sát gần bên mỗi người chúng ta và muốn gặp chúng ta, muốn đem chúng ta đến với Người.
Người là ánh sáng thật, làm cho tản mác và tan biến đi các bóng tối đang quấn lấy cuộc sống chúng ta và nhân loại.
Chúng ta hãy sống Giáng Sinh của Chúa, bằng cách nhìn vào cuộc hành trình của tình yêu thương vô bờ bến của Người. Người đã nâng cao chúng ta lên đến với Người, qua Mầu Nhiệm Nhập Thể, Khổ Nạn, Tử nạn và Phục Sinh của Con Người, bởi vì như Thánh Augustino xác nhận:
- “trong (Chúa Kitô) bản tính Thiên Chúa của Con Một đã được làm cho tham dự vào số phận hay chết của chúng ta, để cho chúng ta được tham dự vào bản tính bất diệt của Người” (Epistola 187,6,20: PL 33,839-840).
Nhất là chúng ta hãy chiêm ngắm và sống Mầu Nhiệm nầy trong khi cử hành Thánh Thể, trung tâm điểm của Lễ Thánh Giáng Sinh, trong đó Chúa Giêsu làm cho mình trở thành hiện diện đích thực, đích thực Bánh bởi trời xuống, Chiên đích thực được hiến tế để cứu rỗi chúng ta.
Tôi xin chúc Anh Chị Em và gia quyến cử hành Giáng Sinh Kitô giáo đích thực, để cả những trao đổi chúc mừng nhau trong ngày đó trở thành cách thể hiện niềm hân hoan vui tươi được biết rằng Thiên Chúa đang ở gần chúng ta và muốn cùng chúng ta bước đi cuộc hành trình của cuộc sống.
Cám ơn Anh Chị Em.
Phỏng dịch từ nguyên bản Ý Ngữ: Nguyễn Học Tập.
(Thông tấn www.vatican.va,21.12.2011) (http://www.vatican.va,21.12.2011%29).
admin
29-12-2011, 06:08 AM
Gia đình là trường dạy cầu nguyện và ý thức về Thiên Chúa (http://gpnt.net/diendan/showthread.php?t=16664)
BÀI GIÁO LÝ NGÀY THỨ TƯ (7A 44)
Thính phòng Phaolồ VI, buổi yết kiến ngày thứ tư, 28.12.2011.
CẦU NGUYỆN VÀ GIA ĐÌNH Ở NAZARETH
ĐỨC THÁNH CHA BENEDICTUS XVI
Anh Chị Em thân mến,
cuộc gặp gỡ hôm nay được diễn ra trong bầu không khí Giáng Sinh, đầy tràn niềm vui đầm ấm thân tình đối với biến cố sinh ra của Đấng Cứu Thế.
Chúng ta vừa mới cử hành mầu nhiệm nầy, mà âm hưởng đang lan rộng ra trong phụng vụ của tất cả những ngày nay. Đây là mầu nhiệm đầy ánh sáng, mà con người ở mọi thời đại có thể đón nhận được trong đức tin và trong lời cầu nguyện.
Chính bằng lời cầu nguyện mà chúng ta trở thành có khả năng đến gần với Chúa trong mối liên kết thân tình và sâu đậm.
Bởi đó bằng cách giữ hiện diện chủ đề lời cầu nguyện, mà tôi đang khai triển trong các bài giáo lý trong thời gian nầy, hôm nay tôi muốn được mời gọi Anh Chị Em hãy cùng suy nghĩ xem lời cầu nguyện thế nào đã là phần của đời sống Thánh Gia Thất ở Nazareth. Thật vậy, ngôi nhà ở Nazareth là một học đường cầu nguyện, nơi đó con người học hỏi biết lắng nghe, suy niệm, thâm thấu vào ý nghĩa sâu đậm biến cố Con Thiên Chúa tỏ mình ra, bằng cách noi gương Mẹ Maria, Thánh Giuse và Chúa Giêsu.
1 - Chúng ta vẫn còn nhớ diễn từ của Người Đầy Tớ Chúa Phaolồ VI, trong chuyến viếng thăm Nazareth của ngài. Đức Giáo Hoàng đã nói rằng
- “dưới mái học đường Thánh Gia Thất, chúng ta hiểu được tại sao chúng ta phải có một kỷ luật thiêng liêng, nếu chúng ta muốn đi theo giáo lý Phúc Âm và trở thành môn đệ Chúa Kitô”, Và ngài nói tiếp: “trước tiên mái học đường đó dạy chúng ta sự thinh lặng. À ! như vậy, nếu nảy sinh trở lại nơi chúng ta lòng ngưỡng mộ sự thinh lặng, bầu không khí đáng quý chuộng và cần thiết cho tinh thần: trong khi chúng ta đang bị trấn áp bởi bao nhiêu âm thanh ầm ĩ, các tiếng động và tiếng nói inh ỏi trong cuộc sống náo động và ồn ào của thời đại chúng ta. À! hỡi sự thinh lặng ở Nazareth, xin dạy cho chúng tôi biết vững chắc trong các tư tưởng tốt lành, chú tâm vào đời sống nội tâm, sẵn sàng biết lắng nghe những cảm hứng mật của Thiên Chúa và những lời khuyến khích của các bậc sư phụ chính đáng” (Discorso a Nazareth,5 gennaio 1964).
Chúng ta có thể rút ra được một vài ghi chú về cầu nguyện, về mối tương quan với Chúa của Thánh Gia Thất trong các đoạn Phúc Âm tường thuật về thời niên thiếu của Chúa Giêsu.
Chúng ta có thể khởi đầu bằng biến cố dâng hiến Chúa Giêsu vào đền thánh. Thánh Luca kể lại rằng Mẹ Maria và Thánh Giuse
- “khi đã đến ngày lễ thanh tẩy của các ngài theo luật Moisen, bà Maria và ông Giuse đem con lên Giêrusalem, để tiến dâng cho Chúa” (Lc 2,22).
Như mọi gia đình Do Thái tôn trọng lề luật, song thân Chúa Giêsu lên đền thờ để hiến dâng cho Chúa đứa con đầu lòng và dâng của lễ. Được thúc đẩy bởi lòng trung thành với các lời truyền dạy, các vị khởi hành từ Bethlem và đi đến Giêrusalem cùng với Chúa Giêsu, vừa mới trọn bốn mươi ngày, và thay vì bằng một con chiên tròn một tuổi, các vị dâng tặng phẩm vật của những gia đình đơn sơ khó nghèo, đó là một cặp chim bồ câu. Cuộc hành trình của Thánh Gia Thất là cuộc hành hương đức tin, hành hương với phẩm vật, tượng trưng cho lời cầu nguyện và cuộc gặp gỡ với Chúa, mà Mẹ Maria và Thánh Giuse đã nhận ra được nơi Chúa Giêsu.
Việc chiêm ngắm Chúa Kitô nơi Mẹ Maria là một mẫu gương khó ai có thể vượt qua được.
Khuôn mặt của Chúa Giêsu thuộc về Mẹ một cách đăc biệt, bởi vì khuôn mặt đó đã thành hình trọng dạ Mẹ, nhận lấy được nơi Mẹ cả những nét giống nhân loại.
Ngắm nhìn Chúa Giêsu chắc chắn không ai đã dành thời gian bền bĩ chiêm ngắm như Mẹ Maria. Cái nhìn của con tim Mẹ đối với Người đã quy hướng tập trung lên Người, ngay từ lúc được Truyền Tin, khi Mẹ mang thai Người bởi động tác của Chúa Thánh Thần; trong những tháng kế tiếp dần dần Mẹ cảm nhận được sự hiện diện của Người, cho đến ngày sinh ra, khi đôi mắt Mẹ có thể gắn chặt trên khuôn mặt của con mình bằng tình mẹ âu yếm, khi Mẹ quấn tả con và đặt con trong máng cỏ.
Những kỷ niệm về Chúa Giêsu, được khắc ghi vào tâm não Mẹ, ấn dấu lên mỗi thời điểm trong cuộc sống của Mẹ Maria. Mẹ sống với đôi mắt gắn chặt vào Chúa Kitô và thu tóm làm kho tàng mỗi lời nói của Người. Thánh Luca cho biết:
- “Còn bà Maria thì hằng ghi nhớ mọi kỷ niệm ấy. và suy đi nghĩ lại trong lòng” (Lc 2,19).
Và đó là những gì Thánh Luca diễn tả ra thái độ của Mẹ Maria trước Mầu Nhiệm Nhập Thể. Thái độ đó trải dài ra trong suốt cuộc sống của Mẹ: ghi nhớ những điều đó và suy nghĩ lại trong lòng.
Thánh Luca tác giả Phúc Âm nói cho chúng ta biết được tâm hồn của Mẹ Maria,
- đức tin của Mẹ (Lc 1,45),
- niềm hy vọng và đức vâng lời của Mẹ (Lc 1,38),
- nhứt là nội tâm và lòng bền tâm cầu nguyện của Mẹ (Lc 1,46-56),
- lòng tự do gắn chặt vào Chúa Kitô của Mẹ (Lc 1,55).
Tất cả những điều đó, thoát xuất từ Chúa Thánh Thần, Đấng ngự xuống trên Mẹ (Lc 1,35), như sẽ ngự xuống trên các Tông Đồ theo lời hứa của Chúa Kitô (Act 1,8).
Hình ảnh nầy của Mẹ Maria mà Thánh Luca hiến tặng cho chúng ta, nói lên hình ảnh Đức Mẹ như là mẫu gương của mỗi tín hữu biết gìn giữ và so sánh mình với lời nói và động tác của Chúa Giêsu, động tác so sánh luôn luôn để tiến thêm lên trong hiểu biết về Chúa Giêsu.
2 - Theo vết chân của Đấng Chân Phước Giáo Hoàng Gioan Phaolồ II (Lett. ap. Rosarium Virginis Mariae) chúng ta có thể nói rằng cầu nguyện bằng chuỗi Mân Côi rút lấy mẫu gương của mình chính từ Mẹ Maria, bởi vì trong đó gồm động tác suy niệm các mầu nhiệm Chúa Kitô, cùng hợp nhứt thiêng liêng với Mẹ của Chúa.
Khả năng của Mẹ Maria biết sống bằng cái nhìn của Thiên Chúa, chúng ta có thể nói, thật là lan rộng lôi cuốn.
Người đầu tiên có kinh nghiệm về điều vừa nói, đó là Thánh Giuse. Tình yêu thương khiêm nhường và chân tình của ngài đối với người vợ đính hôn của mình và quyết tâm của ngài kết hợp đời sống của mình với đời sống của Mẹ Maria đã lôi cuốn và làm cho cả ngài cũng hội nhập vào, mà trước đó ngài cũng đã là người công chính (Mt 1,19). đời sống thân tình đặc biệt với Chúa.
Thật vậy, với Mẹ Maria và nhứt là sau đó với Chúa Giêsu, Thánh Giuse bắt đầu một cách liên hệ mới với Thiên Chúa, đón nhận Người vào chính đời sống của mình, hội nhập vào đồ án cứu rỗi của Người, thi hành ý muốn của Người.
Sau khi tuân theo chỉ thị của Thiên Sứ với lòng tin cậy,
- “,..đừng ngại đón Maria vợ ông về” (Mt 1,20),
Thánh Giuse đã đón Mẹ Maria về với mình và chia xẻ đời sống mình với Mẹ. Thánh Giuse thực sự đã hiến tặng tất cả mình cho Mẹ Maria và Chúa Giêsu. Đó là điều đã hướng dẫn ngài đến sự trọn hảo của của động tác đáp lại ơn gọi đã nhận được.
Như chúng ta biết, Phúc Âm không còn giữ lại một lời nào về Thánh Giuse. Cuộc sống của ngài là một sự hiện diện trong thinh lặng, nhưng thinh lặng trong trung thành, bền bĩ và tác động.
Chúng ta có thể tưởng tượng được cả Thánh Giuse, cũng như vị hiền thê của ngài và trong trạng thái hoà hợp thân tình với nàng, đã sống những năm của thời bé thơ và niên thiếu của Chúa Giêsu, nếm lấy, chúng ta có thể nói như vậy, sự hiện diện của Người trong gia đình.
Thánh Giuse đã thực hiện hoàn hảo vai trò người cha của mình, dưới mọi phương diện.
Chắc chắn đã huấn dạy Chúa Giêsu biết cầu nguyện, cùng với Mẹ Maria.
Một cách cá biệt, chính ngài đã dẫn dắt Chúa Giêsu đến hội đường, trong các nghi thức ngày sabat, cũng như đến Giêrusalem trong dịp các đại lễ Do Thái.
Thánh Giuse, theo truyền thống Do Thái, đã hướng dẫn các buổi cầu nguyện tại gia hằng ngày, sáng, chiều và tối, cũng như trong các dịp lễ tôn giáo.
Như vậy, trong nhịp sống các ngày ở Nazareth, giữa ngôi nhà đơn sơ và xưởng làm việc của Thánh Giuse, Chúa Giêsu đã học hỏi được, biết luân phiên giữa cầu nguyện và làm việc, và dâng lên Chúa Cha cả sự mệt nhọc để kiếm được cơm bánh cho gia đình.
3 - Và sau cùng, một giai đoạn khác cho thấy Thánh Gia Thất ở Nazareth quây quần bên nhau trong một biến cố cầu nguyện.
Chúa Giêsu, như chúng ta đã nghe, lúc lên mười hai tuổi cùng đi với song thân mình lên Giêrusalem. Giai đoạn vừa kể được đặt trong bối cảnh của một cuộc hành hương, như Thánh Luca đã nhấn mạnh:
- “Hằng năm cha mẹ Chúa Giêsu trẩy hội đến Giêrusalem mừng Lễ Vượt Qua. Khi Người được mười hai tuổi, cả gia đình cùng lên đền, như người ta thường làm trong ngày lễ” (Lc 2,41-42).
Cuộc hành hương là một thể thức diễn tả tôn giáo, sống bằng cầu nguyện và đồng thời cũng ăn uống. Đây là dịp Lễ Vượt Qua và tác giả Phúc Âm cho chúng ta biết là gia đình Chúa Giêsu sống theo phưong thức đó mỗi năm, để tham dự các nghi thức trong Thị Trấn thánh.
Gia đình Do Thái, cũng như gia đình Kitô giáo,
- cầu nguyện trong bầu không khí riêng tư thân tình của gia đình,
- nhưng cũng cầu nguyện chung với cộng đồng, bằng cách nhận biết mình là thành phần Dân Chúa đang lữ hành và cuộc hành hương diễn tả chính động tác lữ hành nầy của Dân Chúa.
Lễ Vuợt Qua là trung tâm điểm và thượng đỉnh của biến cố lữ hành nầy và có liên quan đến tầm mức gia đình và tầm mức phụng vụ công cộng.
Trong biến cố Chúa Giêsu lúc mười hai tuổi, những lời nói đầu tiên của Chúa Giêsu cũng được ghi lại:
- “Sao cha mẹ lại tìm con? Cha mẹ không biết con có bổn phận ở nhà của Cha con sao?” (Lc 2,49).
Sau ba ngày tìm kiếm, song thân Chúa Giêsu gặp lại được Người trong đền thờ, đang ngồi giữa các vị sư phụ, trong khi lắng nghe và đặt câu hỏi với các vị ấy (Lc 2,46).
Trước câu hỏi tại sao Chúa Giêsu hành xử như vậy đối với cha mẹ Người, Chúa Giêsu trả lời rằng Người làm như vậy chỉ vì phận sự của Chúa Con, nghĩa là phận sự phải có đối với Chúa Cha.
Như vậy Chúa Giêsu cho biết ai là Cha đích thực của Người, đâu là nơi chốn thực sự của Người. Người không làm điều gì lạ thường, không vâng lời. Người vẫn ở tại nơi mà Người phải là Người Con, nghĩa là bên cạnh Chúa Cha, và nhấn mạnh ai là Cha của Người.
Từ ngữ “Cha” được nhấn mạnh đến trong câu trả lời nầy và cho thấy rõ mầu nhiệm Kitô luận.
Như vậy từ ngữ vừa kể làm sáng tỏ ra mầu nhiệm, là chìa khoá để mở ra hiểu được mầu nhiệm Chúa Kitô, là Chúa Con và cũng là chìa khoá mở ra mầu nhiệm của chúng ta, những Kitô hữu, là những đứa con trong Chúa Con.
Đồng thời Chúa Giêsu cũng dạy chúng ta phải là những đứa con như thế nào, chính là ở cùng với Chúa Cha trong cầu nguyện.
Mầu nhiệm Kitô luận, mầu nhiệm sống đời sống Kitô hữu được thân tình liên kết với nhau, được đặt trên nền tảng cầu nguyện.
Một ngày kia Chúa Giêsu sẽ dạy các môn đệ, bằng cách nói với các vị: khi cầu nguyện, anh em hãy nói :
- “Lạy Cha”,
Và dĩ nhiên anh em không phải chỉ nói bằng lời nói, mà hãy nói bằng chính đời sống của mình, anh em hãy học biết luôn luôn hơn nữa, hãy nói bằng đời sống của mình: “Lạy Cha", và như vậy anh em sẽ là những đứa con đích thực trong Chúa Con, những Kitô hữu đích thực.
Ở đây, khi Chúa Giêsu còn hoàn toàn được hội nhập vào Thánh Gia Thất ở Nazareth, chúng ta cần lưu ý ảnh hưởng nào có thể đánh động trong tâm hồn Mẹ Maria và Thánh Giuse khi nghe được từ miệng Chúa Giêsu lời nói “Cha” vừa kể và mạc khải cho biết, bằng cách nhấn mạnh ai là Cha; cũng như đánh động tâm hồn Mẹ Maria và Thánh Giuse thế nào, khi nghe từ miệng Chúa Giêsu lời nói nầy với ý thức Con Một của mình: bởi đó Người đã muốn ở nán lại ba ngày trong đền thờ, là “nhà của Chúa Cha”,
Từ lúc đó trở đi, chúng ta có thể tưởng tưọng được đời sống trong Thánh Gia Thất sẽ còn tràn đầy hơn nữa bằng lời cầu nguyện, bởi vì từ trái tim thơ bé của Chúa Giêsu - rồi đến thanh thiếu niên và thanh xuân - không ngừng nghỉ nữa loan truyền và ảnh hưởng đến trái tim của Mẹ Maria và Thánh Giuse ý nghĩa sâu thẩm nầy của mối tương quan với Chúa Cha.
Biến cố nầy nói lên cho chúng ta trạng thái đích thực, bầu không khí được ở với Chúa Cha.
Như vậy Thánh Gia Thất ở Nazareth là khuôn mẫu của Giáo Hội, trong đó chung quanh sự hiện diện của Chúa Giêsu và nhờ trung gian của Người, chúng ta được sống mối liên hệ con cái với Chúa Cha, làm biến đổi cả các mối liên hệ giữa con người với nhau.
Anh Chị Em thân mến, qua những phương diện khác nhau vừa kể, trong ánh sáng Phúc Âm, mà tôi đã đề cập qua một cách ngắn gọn, Thánh Gia Thất là hình ảnh Giáo Hội gia đình, được mời gọi hãy cầu nguyện chung với nhau.
Gia đình là Giáo Hội tại gia và phải là mái trường tiên khởi để học hỏi cầu nguyện.
Trong gia đình, trẻ thơ, ngay từ lúc tuổi còn non yếu, có thể học biết, nhận thức được ý nghĩa về Chúa, nhờ vào lời dạy bảo và gương mẫu của cha mẹ: đó là sống trong bầu không khí được ấn tín có Chúa hiện diện.
Một nền giáo dục Kitô giáo đích thực không thể thiếu kinh nghiệm cầu nguyện được. Nếu trong gia đình không được học hỏi cầu nguyện, kế đến sẽ khó khăn hơn để lấp đầy được khoản trống nầy.
Và như vậy, trong tạm thời, tôi xin mời gọi Anh Chị Em hãy biết khám phá ra vẻ đẹp của động tác cùng nhau cầu nguyện trong gia đình, dưới mái học đường Thánh Gia Thất ở Nazareth.
Như vậy trở thành một tâm hồn duy nhứt và một linh hồn duy nhứt, một gia đình đích thực.
Cám ơn Anh Chị Em.
Phỏng dịch từ nguyên bản Ý Ngữ: Nguyễn Học Tập.
(Thông tấn www.vatican.va, 28.12.2011).
admin
05-01-2012, 11:00 PM
BÀI GIÁO LÝ NGÀY THỨ TƯ (8 A 1).
Thính phòng Phaolồ VI, buổi yết kiến ngày thứ tư, 04.01.2012.
LỄ GIÁNG SINH CỦA CHÚA: MẦU NHIỆM NIỀM HÂN HOAN VÀ ÁNH SÁNG.
ĐỨC THÁNH CHA BENEDICTUS XVI
Anh Chị Em thân mến vui mừng đón nhận Anh Chị Em trong Buổi Yết Kiến Chung Đầu Tiên nầy của năm mới và tôi hết lòng gởi đến Anh Chị Em và gia quyến những lời chúc mừng thân tình hết lòng của tôi.
Nguyện xin Thiên Chúa, trong dịp Chúa Kitô, Con của Người sinh ra, đã làm cho cả thế gian tràn ngập đầy hân hoan, hãy thiết định các động tác và thời gian trong hoà bình.
Chúng ta đang ở vào Mùa Phụng Vụ Giáng Sinh, khởi đầu từ chiều 24 tháng 12 với đêm canh thức ngày áp và kết thúc dịp cử hành Lễ Chúa Giêsu chịu Phép Rửa.
Thời gian của các ngày ngắn gọn, nhưng tràn đầy những dịp cử hành và mầu nhiệm, quy tựu tất cả vào hai biến cố trọng thể của Chúa: đó là biến cố Lễ Giáng Sinh và Lễ Ba Vua.
Chính tên của hai dịp Lễ nói lên cho chúng ta biết diện mạo của hai ngày Lễ đó.
Lễ Giáng Sinh cử hành sự kiện lịch sử Chúa Giêsu sinh ra ở Bethlem.
Lễ Ba Vua, được sinh ra như là ngày Lễ Đông Phương, nói lên một sự kiện, mà nhứt là một phương diện của Mầu Nhiệm: Thiên Chúa mạc khải mình ra trong bản thể nhân loại của Chúa Kitô và đó là ý nghĩa của động từ Hy Lạp “epiphaino”, làm cho mình thấy được. Viễn ảnh đó Lễ Ba Vua (Epiphania) nhắc lại một loạt nhiều biến cố, có cùng một túc từ là Chúa tỏ mình ra:
- một cách cá biệt là biến cố thờ lạy của các nhà Chiêm Tình, nhận biết nơi Chúa Giêsu là Đấng Cứu Thế đang được mong đợi,
- nhưng đàng khác cũng bao gồm ý nghĩa Phép Rửa dưới sông Giordano cùng với biến cố Thiên Chúa tỏ mình ra - tiếng của Thiên Chúa từ trời cao - và cả biến cố phép lạ trong Tiệc Cưới ở Cana, như là “dấu chỉ” tiên khởi được Chúa Kitô thực hiện.
Một lời xướng kinh tuyệt đẹp của Phụng Vụ các Giờ Kinh liên kết ba biến cố vừa kể với chung quanh đề tài tiệc cưới giữa Chúa Kitô và Giáo Hội:
- “Hôm nay Giáo Hội hiệp nhứt với Vị Hôn Phu Thiên Quốc của mình, bởi vì dưới sông Giordano Chúa Kitô đã rửa sạch các tội mình, các nhà Chiêm Tinh cùng nhau chạy đến với tặng vật hôn lễ vương triều, và các thực khách vui mừng khi thấy nước được hoá thành rượu” (Antifona delle Lodi).
Chúng ta gần như có thể nói được rằng trong Lễ Giáng Sinh chúng ta nhấn mạnh đến phương diện Thiên Chúa ẩn che mình trong hoàn cảnh khiêm tốn của con người, trong Hài Nhi ở Bethlem.
Trong Lễ Ba Vua, trái lại, chúng ta nói rõ lên sự mạc khải của Người, Thiên Chúa tỏ mình ra qua chính bản thể nhân loại nầy.
1 - Trong Bài Giáo Lý hôm nay, tôi muốn được nhắc lại một cách ngắn gọn một vài chủ đề của chính việc cử hành Giáng Sinh của Chúa, để mỗi người trong chúng ta có thể múc lấy để uống nơi nguồn suối bất tận của Mầu Nhiệm nầy và đem lại hoa trái cho đời sống.
Trước tiên chúng ta có thể tự hỏi đâu là phản ứng khởi đầu phải có trước động tác phi thường nầy của Thiên Chúa biến mình thành một hài nhi, trở nên người phàm?
Tôi nghĩ rằng phản ứng đầu tiên không thể nào là phản ứng khác hơn, là vui mừng, hân hoan. “Tất cả chúng ta hãy vui mừng lên, bởi vì một Đấng Cứu Độ được sinh ra trong thế gian”, đó là những gì Thánh Lễ Nửa Đêm khởi đầu, và chúng ta vừa nghe các lời Thiên Sứ nói với các mục đồng:
- “Nầy, tôi báo cho anh em một tin mừng trọng đại” (Lc 2,10).
Đó là chủ đề khai mở Phúc Âm.
Và chủ đề kết thúc Phúc Âm chính là lời Chúa Giêsu Phục Sinh khiển trách các Tông Đồ, vì các ngài đang buồn rầu:
- “Người hỏi các ông: “Các anh vừa đi, vừa trao đổi với nhau chuyện gì vậy ?”, Các ông dừng lại, vẻ mặt buồn rầu” 8 Lc 24,17),
Đó là thái độ không thể hiểu được, bởi vì Chúa Giêsu vĩnh viễn vẫn là con người.
Nhưng chúng ta hãy tiến thêm lên một bước nữa: niềm vui tươi hân hoan đó thoát xuất từ đâu?
Tôi nghĩ rằng từ sự kinh ngạc của tâm hồn
- khi biết được rằng Thiên Chúa đang ở gần,
- biết được rằng Thiên Chúa đang nghĩ về chúng ta như thế nào,
- Thiên Chúa hành xử như thế nào trong lịch sử.
Như vậy là một niềm tươi vui hân hoan, được nảy sinh ra thoát xuất từ việc chiêm ngắm nét mặt của Hài Nhi khiêm tốn đó, bởi vì chúng ta biết rằng đó là diện mạo của Thiên Chúa hiện diện vô tận giữa loài người chúng ta, vì chúng ta và cùng với chúng ta.
Giáng Sinh là niềm vui tươi hân hoan, bởi vì chúng ta thấy được và sau cùng chúng ta chắc chắn rằng Thiên Chúa là điều thiện, là sự sống, là chân lý của con người.
Thiên Chúa hạ mình xuống đến con người, để nâng con người lên với Người.
Thiên Chúa trở thành gần gũi có thể thấy được và chạm đến được Người.
Giáo Hội chiêm ngắm mầu nhiệm không thể diễn tả nỗi nầy và các bản văn phụng vụ trong thời gian nầy đều tràn đầy kinh ngạc và niềm vui tươi.Tất cả các bài thánh ca Giáng Sinh đều diễn tả niềm hân hoan nầy.
Giáng Sinh là điểm nơi đó Trời và đất kết hợp nhau, và nhiều cách diễn tả mà chúng ta được nghe trong những ngày nầy nhấn mạnh đến sự cao cả của những gì đã xãy ra: Đấng từ xa - Thiên Chúa có vẻ thật là xa vời vợi - đã trở thành gần gũi,
- “Đấng không ai có thể đạt đến được, đã muốn trở thành động chạm đến được. Người là Đấng có trước thời gian đã bắt đầu hiện diện trong thời gian, Người là Chúa của cả vũ trụ, ẩn che địa vị cao trọng của mình, đã nhận lấy bản tính của người nô lệ” ĐTC Leo Cả tuyên bố như vậy (Sermone 2 sul Natale,2.1).
Trong Hài Nhi đó, cần hết mọi chuyện như mọi đứa trẻ khác, chính là những gì là Thiên Chúa, hằng hữu, quyền năng, thánh đức, sự sống, niềm vui, Thiên Chúa đó kết hợp với những gì là bản thể nhân loại chúng ta: yếu đuối, tội lỗi, đau khổ, chết.
2 - Thần học và đàng tu đức thiêng liêng về Giáng Sinh dùng một cách diễn tả để nói lên biến cố vừa đượcđề cập qua thành ngữ “admirabile commercium”, tức là sự trao đổi đáng kính phục giữa bản tính Thiên Chúa và nhân tính.
Thánh Atanasio ở Alexandria xác nhận:
- “Con Thiên Chúa đã trở thành người để làm cho chúng ta trở thành Thiên Chúa” (De Incarnazione,54,3: PG 25,92).
Nhưng nhứt là với Thánh Leo Cả và các bài giảng thời danh của ngài về Giáng Sinh, mà thực thể nầy trở thành đối tượng của sự suy niệm sâu xa. Thật vậy, Vị Thánh Giáo Hoàng xác nhận:
- “Nếu chúng ta kêu gọi đến lòng hiểu bết nhân từ thương yêu không thể diễn tả được của Chúa đã khiến cho Đấng Tạo Dựng nên con người trở thành con người, thì lòng hiểu biết thương yêu đó nâng cao chúng ta lên vào bản tính của Đấng mà chúng ta thờ lạy trong bản tính nhân loại của chúng ta” (Sermone 8 sul Natale : CCL 138,139).
Điểm tiên khởi của sự kiện trao đổi lạ lùng nầy được thể hiện trong nhân bản của Chúa Giêsu. Ngôi Lời đã nhận lấy bản tính nhân loại chúng ta và, để trao đổi lại, bản tính nhân loại, con người được nâng lên phẩm giá của Thiên Chúa.
Động tác trao đổi thứ hai gồm ở sự con người tham dự thiết thực và thân tình vào bản tính Thiên Chúa của ngôi Lời. Thánh Phaolồ nói rằng:
- “Nhưng khi thời gian tới hồi viên mãn, Thiên Chúa đã sai Con mình tới, sinh làm con một người đàn bà, và sống dưới Lề Luật, để chuộc những ai sống dưới Lề Luật hầu chúng ta nhận được ơn làm nghĩa tử” (Gal 4, 5).
Như vậy Giáng Sinh là Lễ trong đó Thiên Chúa đã trở thành gần gũi con người để cùng chia xẻ với con người động tác sinh ra, để mạc khải cho con người phẩm giá sâu xa hơn, đó là phẩm giá con Thiên Chúa.
Và như vậy mơ ước của con người bằng cách bắt đầu được thực hiện trên Thiên Quốc - chúng ta muốn được như Thiên Chúa - lại được thể hiện một cách bất ngờ, không phải nhờ vào sự cao cả của con người, là kẻ không thể nào có thể làm cho mình trở thành Thiên Chúa, mà lại nhờ vào sự khiêm nhường của Thiên Chúa, đi xuống và hội nhập vào tình trạng khiêm tốn của chúng ta và nâng cao chúng ta lên đến địa vị cao cả đích thực của bản thể Người.
Về chủ đề đang bàn, Công Đồng Vatican II đã nói lên như sau:
- “Thật vậy, chỉ có trong mầu nhiệm Ngôi Lời nhập thể bí nhiệm về con người gặp được ánh sáng đích thực” (Gaudium et spes,22),
nếu không điều bí nhiệm đó vẫn còn là bí nhiệm khó hiểu: tạo vật con người là gì?
Chỉ khi chúng ta thấy được Thiên Chúa đang ở với chúng ta, chúng ta mới có thể thấy được ánh sáng cho sự hiện hữu của chúng ta, hạnh phúc được làm con người và sống trong tin cậy và hân hoan vui tươi.
Và ở đâu làm cho trở thành hiện thực việc trao đổi kỳ diệu đó, để tác động lên trong đời sống chúng ta và làm cho chúng ta thực sự sống một đời sống đích thực con cái Chúa?
Điều vừa kể trở thành rất hiện thực trong Thánh Thể.
Khi chúng ta tham dự Thánh Lễ, chúng ta dâng lên Chúa những gì là của chúng ta, bánh và rượu, hoa trái của đất đai, để Người nhận lấy và biến hoá chúng khi ban lại chính Người cho chúng ta và biến Người thành thức ăn cho chúng ta, để khi nhận lấy Thân Thể Người và Máu Người, chúng ta tham dự vào đời sống Thiên Chúa của Người.
3 - Sau cùng tôi muốn được dừng lại ở một điểm khác của Lễ Giáng Sinh.
Khi Thiên Thần Chúa hiện ra với các mục đồng trong đêm Sinh Ra của Chúa Giêsu, Thánh Luca tác giả Phúc Âm ghi nhận rằng
- “vinh quang Thiên Chúa quấn lấy họ bằng ánh sáng” (Lc 2,9)
Và Lời Tựa của Phúc Âm Thánh Gioan nói về Ngôi Lời nhập thể như là ánh sáng thật đến trong thế gian, ánh sáng có khả năng chiếu soi cho mọi người (Jn 1,9).
Phụng vụ Giáng Sinh tràn ngập ánh sáng. Chúa Kitô đến làm cho tan biến bóng tối của thế gian, làm cho Đêm Thánh tràn đầy ánh sáng thiên quốc chói rạng và lan tràn trên khuôn mặt con người ánh sáng chói rạng của Chúa Cha.
Ngày hôm nay cũng vậy. Được ánh sáng Chúa Kitô quấn lấy, chúng ta không ngừng được phụng vụ Giáng Sinh mời gọi hãy để cho trí óc và con tim mình được ánh sáng của Thiên Chúa soi sáng, Đấng đã làm sáng chiếu lên diện mạo Người.
Kinh Tiền Tụng 1 Giáng Sinh tuyên bố:
- “Trong mầu nhiệm Ngôi Lời nhập thể đã hiện ra trước mắt trí nảo chúng ta ánh sáng mới sự rạng rở của Người, để nhận biết được Thiên Chúa hữu hình, nhờ Người chúng ta được cướp lấy đem về cho tình yêu của các thực thể vô hình”,
Trong Mầu Nhiệm Thiên Chúa Nhập Thể, sau khi đã phán và can thiệp vào lịch sử qua trung gian các sứ giả và các dấu chỉ, Thiên Chúa “đã hiện ra”, đã ra khỏi ánh sáng không thể thấy được của Người, để soi sáng thế giới.
Trong ngày Lễ Ba Vua long trọng, ngày 6 tháng giêng, mà chúng ta sẽ cử hành một ít ngày nữa đây, Giáo Hội đề nghị một bản văn rất có ý nghĩa của tiên tri Isaia:
- “Đứng lên, bừng sáng lên, vì ánh sáng của ngươi đã đến rồi. Vinh quang của Chúa như bình minh chiếu toả trên ngươi. Kià bóng tối bao trùm mặt đất, và mây mù phủ lấp chư dân; còn trên ngươi, Chúa như bình minh chiếu toả, vinh quang Người xuất hiện trên ngươi,Chư dân sẽ đi về phiá ánh sáng của ngươi, vua chúa hướng về ánh bình minh của ngươi mà tiến bước” (Is 60,1-3).
Đây là một lời mời gọi gởi đến Giáo Hội, đến Cộng Đồng Kitô giáo, mà cũng cả đến mỗi người trong chúng ta, hãy nhận thức sống động về sứ mạng và trách nhiệm đối với thế giới trong động tác nhân chứng và đem ánh sáng mới Phúc Âm đến cho mọi người.
Ở phần khởi đầu Hiến Chương Lumen gentium của Công Đồng Vatican II chúng ta gặp được những lời sâu đây:
- “Vì Chúa Kitô là ánh sáng cho muôn dân, Thánh Công đồng nầy, được quy tựu trong Chúa Thánh Thần, nồng nhiệt ao ước với ánh sáng của Người, đang chiếu rạng trên khuôn mặt của Giáo Hội, soi sáng cho mọi người bằng cách loan báo Phúc Âm cho mỗi tạo vật” (LG, n.1).
Phúc Âm là ánh sáng không phải để ẩn giấu, mà để đặt trên giá đèn.
Giáo Hội không phải là ánh sáng, nhưng nhận được ánh sáng từ Chúa Kitô, Giáo Hội đón nhận ánh sáng đó để được soi sáng và để loan truyền ánh sáng đó với tất cả nét chiếu rạng của ánh sáng.
Điều đó cũng phải được thực hiện trong đời sống cá nhân của chúng ta.
Một lần nữa Thánh Leo Cả đã nói lên trong đêm Giáng Sinh:
- “Hỡi người Kitô hữu, hãy nhận biết địa vị của anh và, một khi đã được làm cho tham dự vào bản thể Thiên Chúa, nếu không muốn rơi trở lại vào hoàn cảnh thảm đạm của một thời do hành vi không xứng đáng. Anh hãy nhớ xem ai là Vị Thủ Lãnh của anh và anh là phần của Thân Thể nào. Anh hãy nhớ rằng, được cứu thoất khỏi quyền lực của bóng tối, anh đã được chuyển vào ánh sáng và vào Vương Quốc của Thiên Chúa” (Sermone I sul Natale,3,2: CCL 138,88).
Anh Chị Em thân mến, Giáng Sinh là lúc dừng lại để chiêm ngắm Hài Nhi đó, Mầu Nhiệm Thiên Chúa trở thành người trong khiêm nhường và khó nghèo, mà nhứt là đón rước một lần nữa nơi chính chúng ta Hài Nhi đó, là Chúa Kitô,
- để sống chính đời sống Người, để làm cho tâm tình của Người, những suy tư của Người, các động tác của Người
- trở thành tâm tình, suy tư, động tác của chúng ta.
Như vậy cử hành Giáng Sinh là thể hiện ra niềm hân hoan, điều mới mẻ, ánh sáng mà cuộc Sinh Ra nầy đã đem đến trong cả cuộc sống chúng ta, để cho cả chúng ta cũng là những người đem niềm hân hoan, điều mới mẻ đích thực, ánh sáng của Thiên Chúa cho người khác.
Một lần nữa cho tất cả lời chúc mừng mùa Giáng Sinh, được chúc phúc bởi sự hiện diện của Thiên chúa.
Phỏng dịch từ nguyên bản Ý- Ngữ:Nguyễn Học Tập.
(Thông tấn www.vatican.va, 04.01.2012).
admin
13-01-2012, 05:01 AM
BÀI GIÁO LÝ NGÀY THỨ TƯ (8 A 2)
Thính phòng Phaolồ VI, buổi yết kiến ngày thứ tư,11.01.2012.
LỜI CẦU NGUYỆN CỦA CHÚA GIÊSU TRONG BUỔI TIỆC LY
ĐỨC THÁNH CHA BENEDICTUS XVI
Anh Chị Em thân mến,
trong cuộc hành trình của chúng ta suy nghĩ về động tác cầu nguyện của Chúa Giêsu được các Phúc Âm trình bày, hôm nay tôi muốn được suy niệm về thời điểm đặc biệt long trọng, về động tác cầu nguyện của Người trong Buổi Tiệc Ly.
1 - Bối cảnh thời điểm và tâm tình đầy xúc động trong đó Chúa Giêsu giã từ bạn hữu, đó là sự chết gần kề mà Người cảm nhận hiện đang sát gần.
Đã từ lâu, Chúa Giêsu bắt đầu nói về cuộc khổ nạn của Người, bằng cách làm cho các môn đệ càng lúc càng liên can hơn nữa vào viễn ảnh nầy.
Phúc Âm Thánh Marco thuật lại rằng ngay từ lúc khởi hành lên Giêrusalem, trong các làng mạc xa xôi miền Cesarea Philippo, Chúa Giêsu đã bắt đầu
- “dạy cho các ông biết Con Người phải chịu đau khổ nhiều, bị các kỳ mục, thượng tế cùng kinh sư loại bỏ, bị giết chết và sau ba ngày sống lại” (Mc 8,31).
Ngoài ra, chính trong những ngày chuẩn bị vĩnh biệt các môn đệ, lại là những ngày cuộc sống dân chúng được đánh dấu bằng dịp Lễ Vượt Qua đến gần, hay kỷ niệm cuộc giải thoát Israel khỏi Ai Cập. Cuộc giải thoát nầy, có được kinh nghiệm trong quá khứ và đang được mong đợi trở thành hiện thực trong hiện tại và tương lai, trở thành sống động trong các dịp cử hành Lễ Vượt Qua trong gia đình.
Buổi Tiệc Ly được đặt vào trong bối cảnh vừa kể, nhưng trong thâm sâu có một điều mới mẻ: Chúa Giêsu nhìn về cuộc khổ Nạn, Tử Nạn và Phục Sinh của Người, bởi vì Người hoàn toàn ý thức đến những biến cố đó.
Chúa Giêsu muốn sống Buổi Ăn Tối đó với các môn đệ của Người, với một đặc tính hoàn toàn đặc biệt và khác biệt với những bữa tiệc khác: đây là Bữa Ăn Tối, trong đó Người ban tặng cho Một Cái Gì hoàn toàn mới mẻ: ban tặng Chính Người.
Trong phương thức đó, Chúa Giêsu cử hành Lễ Vượt Qua của Người, thực hiện trước Thập Giá và cuộc Phục Sinh của Người.
Điều mới mẻ đó được đoạn tường thuật thời sự Buổi Tiệc Ly Phúc Âm Thánh Gioan làm sáng tỏ lên cho chúng ta, trong đó ngài không kể lại buổi cơm tối vượt qua được diễn ra như thế nào, chính vì Chúa Giêsu có ý khai trương một cái gì đó mới mẻ, cử hành Lễ Vượt Qua của Người, dĩ nhiên có liên hệ đến Cuộc Xuất Hành.
Và đối với Thánh Gioan, Chúa Giêsu chết đi trên thập giá, chính là lúc mà ở tại đền thờ Giêrusalem các con chiên vượt qua bị hiến tế.
2 - Như vậy nhân cội của Buổi Ăn Tối đó là gì ?
Đó là những động tác của việc bẻ bánh, trao bánh cho các người thân và chia sẻ ly rượu cùng với những lời đi chung với các động tác đó và trong bối cảnh cầu nguyện trong đó bữa tiệc được tổ chức: động tác thành lập Phép Thánh Thể, lời cầu nguyện cao cả của Chúa Giêsu và Giáo Hội.
Nhưng chúng ta hãy nhìn sát gần hơn thời điểm đó.
Trước hết, các truyền thống Tân Ước về động tác thành lập Phép Thánh Thể (1 Cor 11,23-25; Lc 23,14-20; Mc 14,22-25; Mt 26,26-29), bằng cách nói lên cho chúng ta lời cầu nguyện khởi đầu các động tác và lời của Chúa Giêsu trên bánh và rượu, qua hai động từ song song và bổ túc cho nhau.
Thánh Phaolồ và Thánh Luca nói về eucaristial / cảm tạ “lấy bánh, dâng lời tạ ơn, bẻ ra và trao cho các ông” (Lc 22,19).
Thánh Marco và Matthêu trái lại, nhấn mạnh đến phương diện eulogia / chúc tụng “cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng, rồi bẻ ra, trao cho các ông..." (Mc 14,22).
Cả hai từ ngữ Hy Lạp eucaristein và eulogein đều nói lên ý nghĩa từ ngữ Do Thái berakha, tức là nói lên lòi cầu nguyện trọng đại cảm tạ và chúc tụng của truyền thống Do Thái để khởi đầu các bữa tiệc.
Hai từ ngữ Hy Lạp khác nhau diễn tả hai chiều hướng liên hệ mật thiết và bổ túc cho nhau trong lời cầu nguyện nầy. Thật vậy lời cầu nguyện berakha (cảm tạ và chúc tụng) nầy trước tiên là cảm tạ và ngợi khen lên Thiên Chúa vì ân phước, quà tặng nhận được. Trong Buổi Tiệc Ly của Chúa Giêsu, đó là bánh - được biến chế từ lúa mì mà Chúa đã cho nẩy mộng và từ đất lớn lên - và rượu được biến chế ra từ trái cây chín trên cây nho.
Lời cầu nguyện chúc tụng và cảm tạ nầy được dâng lên Chúa, lại là lời chúc lành trở xuống từ Thiên Chúa trên phẩm vật và làm cho sung mãn hơn.
Lời cảm tạ, ngợi khen Chúa như vậy trở thành là lời chúc phúc và phẩm vật dâng tặng Chúa, được Đấng Toàn Năng chúc phúc và ban trở lại cho con người.
Các lời thành lập Thánh Thể được đặt trong bối cảnh cầu nguyện đó; trong đó lời ngợi khen và chúc phúc của lời cầu nguyện berakha trở thành lời chúc phúc và biến hoá bánh và rượu thành Mình và Máu Chúa Kitô.
Trước những lời lập Phép Thánh Thể là những động tác: động tác bẻ bánh và ban tặng rượu.
Ai bẻ bánh và trao chén rượu cho, trước tiên người đó là người chủ gia đình, đón nhận vào bàn ăn các thành phần gia đình. Nhưng những cử chỉ đó cũng là cử chỉ tiếp đón khách, đón nhận vào cùng bàn ăn với mính người ngoại quốc, không thuộc về thành phần gia đình.
Chính các cử chỉ nầy, trong buổi ăn tối mà Chúa Giêsu từ giả các môn đệ Người, có một ý nghĩa sâu đậm mới mẻ. Người đã cho dấu chứng thấy được việc đón nhận vào bàn tiệc trong đó Thiên Chúa ban tặng chính Người.
Trong bánh và rượu, Chúa Giêsu ban tặng và thông hiệp chính Người với chúng ta.
Nhưng tất cả những điều đó làm sao có thể thực hiện được? Làm sao trong lúc đó Chúa Giêsu có thể ban chính mình được?
Chúa Giêsu biết rằng đời sống của Người sắp bị cất lấy đi qua cuộc khổ hình thập giá, là hình phạt chém đầu đối với những ai không phải là người tự do. Đó là khổ hình mà Cicerone đã định nghĩa như là mors turpidissima crucis (cái chết rất bần tiện của thập giá).
Cùng với việc ban tặng cho bánh và rượu trong Buổi Tiệc Ly, Chúa Giêsu báo trước cái chết và sự sống lại của Người, bằng cách thực hiện điều mà Người đã nói lên trong câu chuyện Người Mục Tử Nhân Lành:
- “Ta hy sinh mạng sống mình để rồi lấy lại. Mạng sống của Ta không ai lấy đi được, nhưng chính Ta tự ý hy sinh mạng sống mình. Ta có quyền hy sinh và lấy lại mạng sống ây. Đó là mệnh lệnh của Cha Ta mà Ta đã đón nhận” (jn 10,17-18).
Như vậy, Người ban tặng trước đời sống mà sẽ bị cướp lấy đi và như vậy biến đổi cái chết tàn bạo của Người thành một động tác tự do ban tặng chính mình cho, vì những người khác và cho những người khác.
Bạo lực phải gánh chịu được chuyển đổi thành một cuộc hy sinh tích cực, tự do và có giá trị cứu rỗi.
3 - Còn một lần nữa trong lời cầu nguyện, được khởi đầu theo các nghi thức truyền thống Do Thái, Chúa Giêsu cho thấy căn tính của Người và lòng quyết tâm thực hiện sứ mạng yêu thương hoàn hảo của mình, hiến tặng mình trong vâng phục ý muốn Chúa Cha.
Tính cách đặc sắc sâu đậm của việc Người hy sinh ban tặng chính mình cho các người thuộc về Người, qua việc liên tưởng đến Thánh Thể, là thượng đỉnh của lời cầu nguyện ấn dấu lên buổi cơm tối giã từ các môn đệ Người.
Chiêm ngắm các cử chỉ và lời nói của Chúa Giêsu trong đêm đó, chúng ta thấy được rõ ràng mối tương quan thân tình và bền bĩ liên tục với Chúa Cha là nơi mà Chúa Giêsu thực hiện cử chỉ để lại cho các môn đệ Người và cho chúng ta, đó là Phép Bí Tích tình thương, il “Sacramentum caritatis".
Có đến hai lần trong nhà tiệc ly Người đã thốt lên những lời nói
- “Anh em hãy làm việc nầy để nhớ đến Thầy” (1 Cor 11,24.25).
Với việc ban tặng chính mình, Chúa Giêsu cử hành Lễ Vượt Qua, Người trở thành Con Chiên đem đến việc hoàn hảo tất cả các tế tự cổ xưa.
Bởi đó thánh Phaolồ nói với các tín hữu ở Corintô bằng cách xác nhận rằng:
- “Chúa Kitô đã chịu hiến tế làm Chiên lễ Vượt Qua cho chúng ta, Bởi đó chúng ta đừng lấy men cũ là lòng gian tà độc ác, nhưng hãy lấy bánh không men là lòng tinh tuyền và chân thật, mà ăn mừng đại lễ” (1 Cor 5,7-8).
Thánh Luca tác giả Phúc Âm còn giữ lại một yếu tố quý báu khác của các biến cố Buổi Tiệc Ly, cho phép chúng ta thấy được tầm mức sâu đậm đầy cảm động của lời cầu nguyện Chúa Giêsu cho các môn đệ Người trong đêm đó, đặc tâm lưu ý đến từng người.
Khởi đầu từ lời cầu nguyện cảm tạ và chúc phúc, Chúa Giêsu tiến đến cử chỉ ban cho Thánh Thể, ban Chính minh cho, và trong khi ban thực thể bí tích quyết định cho, Người quay về phía Phêrô. Vào lúc sắp kết thúc Bữa Ăn Tối, Người nói với ông:
- “Simon, Simon ơi, kìa Satan đã tìm kiếm anh em để được sàng như người ta sàng gạo. Nhưng Thầy đã cầu nguyện cho anh, để anh khỏi mất lòng tin. Phần anh, một khi đã trở lại, hãy làm cho anh em của anh vững mạnh" (Lc 22,31-32).
Lời cầu nguyện của Chúa Giêsu, khi cơn thử thách đến gần cả đối với các môn đệ Người, nâng đỡ nỗi yếu hèn của các ông, nâng đỡ nỗi khó khăn của các ông làm sao hiểu được con đường của Thiên Chúa trải ngang qua Mầu Nhiệm Phục Sinh của cái chết và sự sống lại, được thể hiện trước trong động tác dâng bánh và rượu.
4 - Thánh Thể là thức ăn cho người lữ hành, cũng trở thành sức mạnh cho cả những ai mệt nhọc, nản chi và mất định hướng.
Và lời cầu nguyện, nhứt là cho Phêrô, để một khi được trở lại, Phêrô làm cho anh em vững mạnh trong đức tin.
Thánh Luca tác giả Phúc Âm còn nhớ rằng chính cái nhìn của Chúa Giêsu đi tìm khuôn mặt của Phêrô, trong lúc Phêrô vừa mới tiêu hao xong ba lần chối bỏ của ông, ban cho Phêrô sức mạnh để bắt đầu lại con đường đi theo Người:
- “Nhưng ông Phêrô trả lời: “Này anh, tôi không biết anh nói gì. Ngay lúc ông còn đang nói thì gà gáy. Chúa Giêsu quay lại nhìn ông, ông sực nhớ khi Chúa Giêsu bảo ông: “Hôm nay gà chưa kịp gáy, thì anh đã chối Thầy ba lần” (Lc 22,60-61).
Anh Chị Em thân mến, tham dự Thánh Thể, chúng ta sống một cách đặc biệt lời cầu nguyện mà Chúa Giêsu đã dâng lên và còn tiếp tục dâng lên cho mỗi người chúng ta, để cho sự dữ, mà chúng ta gặp phải trong đời sống, không có quyền năng để thắng chúng ta và trái lại tác động nơi chúng ta sức mạnh chuyển đổi của cái chết và sự phục sinh của Chúa Kitô.
Trong Thánh Thể Giáo Hội đáp ứng lại lời sai bảo của Chúa Giêsu:
- “Anh em hãy làm việc nầy để nhớ đến Thầy” (Lc 22,19; 1 Cor 11,24-26),
Giáo Hội lập lại lời cầu nguyện cảm tạ và chúc phúc và cùng với lời cầu nguyện đó là những lời biến thể bánh và rượu trở nên Mình và Máu Chúa. Các Thánh Thể của chúng ta là một thực thể trong đó chúng ta được lôi cuốn vào giây phút cầu nguyện, là một trạng thái hiệp nhứt luôn luôn mới với lời cầu nguyện của Chúa Giêsu.
Ngay từ lúc khởi đầu, Giáo Hội đã hiểu các lời truyền phép (consacrazione) như là phần của lời cầu nguyện chung với Chúa Giêsu, như là phần chính của lời chúc tụng tràn đầy lòng biết ơn, mà qua đó hoa trái của đất đai và việc làm con người được Chúa ban lại cho chúng ta một lần nữa như là Mình và Máu Chúa Giêsu, như Thiên Chúa tự ban hiến chính mình trong tình yêu thương đón nhận của Chúa Con (cfr Gesù di Nazareth, II, p. 146).
Tham dự Thánh Thể, nuôi dưỡng mình bằng Thịt và Máu Chúa Con, chúng ta hãy hiệp nhứt lời cầu nguyện của chúng ta với lời cầu nguyện của Chiên Vượt Qua trong đêm thượng đỉnh của Người, để cho đời sống chúng ta khỏi phải mất đi, mặc cho yếu hèn và các lần bất trung của chúng ta, nhưng khiến cho đời sống đó được hoán chuyển.
Các bạn thân mến, chúng ta hãy cầu xin Chúa, để sau khi được chuẩn bị xứng đáng, cả với Bí Tích Hoà Giải, cho sự tham dự của chúng ta vào Thánh Thể của Người, không thể thiếu cho đời sống Kitô hữu, sẽ là cao điểm tột độ của lời cầu nguyện chúng ta.
Chúng ta hãy nguyện xin rằng, cùng hiệp nhứt sâu đậm trong chính động tác hiến dâng của Người lên Chúa Cha, xin cho chúng ta cũng có thể chuyển hoá các thập giá của chúng ta thành hy sinh, tự do và có trách nhiệm, cho Chúa và cho anh em.
Cám ơn Anh Chị Em.
Phỏng dịch từ nguyên bản Ý-Ngữ : Nguyễn Học Tập.
(Thông tấn www.vatican.va,11.01.2012).
admin
19-01-2012, 08:27 PM
BÀI GIÁO LÝ NGÀY THỨ TƯ (8A 3) Thính phòng Phaolồ VI, buổi yết kiến ngày thứ tư,18.01.2012.
TUẦN LỄ CẦU NGUYỆN CHO SỰ HIỆP NHỨT KITÔ GIÁO.
ĐỨC THÁNH CHA BENEDICTUS XVI
Anh Chị Em thân mến,
hôm nay khởi đầu Tuần Lễ Cầu Nguyện cho Sự Hiệp Nhứt Kitô Giáo, mà từ hơn một thể kỷ nay mỗi năm được người Kitô hữu cử hành trong các Giáo Hội và các Cộng Đồng Giáo Hội, để khẩn xin ơn đặc biệt mà chính Chúa Giêsu cũng đã cầu nguyện trong Buổi Tiệc Ly, trước cuộc khổ nạn của Người:
- “để tất cả nên một, như Cha ở trong Con và Con ở trong Cha, để họ cũng ở trong chúng ta. Như vậy, thế gian sẽ tin rằng Cha đã sai Con” (Jn 17,21).
Việc thực hành Tuần Lễ Cầu Nguyện cho Sự Hiệp Nhứt Kitô Giáo được Cha Paul Wattson đưa ra năm 1908, Ngài là sáng lập viên một cộng đồng Anh Giáo, sau đó hội nhập vào Giáo Hội Công Giáo.
Sáng kiến được Đức Thánh Cha Pio X ban phép lành và kế đến được Đức Thánh Cha Benedictus XV cổ võ, khuyến khích cử hành trong khắp Giáo Hội Công Giáo với Thông Điệp ngắn Romanorum Pontificum, ngày 25 thánh 2 năm 1916.
1 - Tuần lễ bát nhật cầu nguyện được khai triển và hoàn hảo hoá trong thập niên ba mươi thế kỷ vừa qua bởi Tu Viện Trưởng Couturier de Lyon, khi ngài xác nhận rằng đó là
- “lời cầu nguyên cho sự hiệp nhứt Giáo Hội như Chúa Kitô muốn và hợp theo các dụng cụ mà Người muốn”,
Trong những bản văn viết cuối cùng, Tu Viện Trưởng Couturier nhận thấy được rằng Tuần Lễ Cầu nguyện đó như là một phương thế làm cho lời cầu nguyện toàn thể của Chúa Kitô
- “đi vào và thẩm thấu được Thân Thể Kitô giáo”,
Lời cầu nguyện đó phải tăng trưởng lên cho đến khi trở thành
- “tiếng kêu lên to tác, đồng nhất của Dân Chúa "
xin Thiên Chúa ban cho ơn trọng đại đó.
Và chính trong Tuần Lễ Cầu Nguyện cho Sự Hiệp Nhứt Kitô Giáo mà ấn dấu thúc đẩy từ Công Đồng Vatican II cho việc tìm kiếm sự hiệp thông hoàn hảo giữa các môn đệ Chúa Kitô, có được mỗi năm một trong những phương thức diễn tả hiệu nghiệm nhứt của mình.
Thời điểm gặp gỡ thiêng liêng nầy, hiệp nhứt các Kitô hữu của mọi truyền thống, khiến chúng ta ý thức hơn rằng sự hiệp nhứt mà chúng ta mong tiến tới sẽ không phải chỉ là kết quả của các cố gắng chúng ta, mà đúng hơn là ân phúc được lãnh nhận từ trên cao, mà chúng ta luôn luôn phải cầu xin.
Mỗi năm các nguồn nâng đỡ cho Tuần Lễ Càu Nguyện cho Sự Hiệp Nhứt Kitô Giáo được chuẩn bị bởi một nhóm hiệp nhứt của một vùng khác nhau trên thế giới.
Tôi muốn được dừng lại ở điểm nầy.
Năm nay, các bản văn được đưa ra bởi một nhóm hổn hợp các đại diện Giáo Hội Công Giáo và các đại diện của Hội Đồng Hiệp Nhứt Ba Lan, gồm có các Giáo Hội và Cộng Đồng Giáo Hội khác nhau trong Quốc Gia Ba Lan. Kế đến tài liệu được duyệt xét lại bởi một uỷ ban hổn hợp gồm các thành viên của Thánh Bộ Phát Uy Sự Hiệp Nhứt Kitô Giáo và Thánh Bộ Đức Tin và Thành Lập Hội Đòng Hiệp Nhứt các Giáo Hội.
Cả công việc nầy được thực hiện chung thành hai giai đoạn là một dấu chứng của lòng ao ước hiệp nhứt đang năng động hoá người tín hữu Chúa Kitô và cũng là dấu chứng cho thấy ý thức rằng lời cầu nguyện là con đường tiên khởi để đạt đến sự thông hiệp viên mãn, bởi vì cùng nhau hướng về Chúa là chúng ta đang đi đến hiệp nhứt.
Chủ đề của Tuần Lễ cho năm nay - như chúng ta đã nghe - được trích từ Thư I gởi Các Tín Hữu Corinto :
- “Tất cả chúng ta sẽ được biến đổi nhờ sự chiến thắng của Chúa Kitô” (1 Cor 15,51-58).
Sự chiến thắng của Người sẽ biến đổi chúng ta.
Và đây là chủ đề được gợi ý bởi nhóm rộng lớn hiệp nhứt Ba Lan, mà tôi đã nhắc đến.
Đó là nhóm hiệp nhứt, khi nghĩ đến kinh nghiệm của chính mình dưới nhãn quan quốc gia, đã muốn nhấn mạnh đức tin Kitô Giáo là sự nâng đỡ vững mạnh như thế nào giữa những cơn thử thách và đảo lộn nghiêng ngửa, như là những gì đặc thù của Quốc Gia Ba Lan.
Sau khi được bàn cãi rộng rãi, chủ đề được chọn đặt trọng tâm vào quyền năng chuyển hoá của đức tin vào Chúa Kitô, nhứt là dưới ánh sáng của tầm quan trọng mà đức tin liên can đến lời cầu nguyện của chúng ta cho sự hiệp nhứt thấy được của Giáo Hội, Thân Thể Chúa Kitô.
Gợi hứng cho dòng suy tư nầy là những lời của Thánh Phaolồ, khi nói với Giáo Hội ở Corinto, ngài nói về về bản chất nhất thời của những gì thuộc về đời sống hiện tại của chúng ta, được đánh dấu cả bởi “thất bại” của tội lỗi và sự chết, so với những gì cuộc “chiến thắng” trên tội lỗi và sự chết của Mầu Nhiệm phục sinh Chúa Kitô đem lại cho chúng ta.
Lịch sử cá biệt của quốc gia Ba Lan, có kinh nghiệm những khoản thời gian chung sống dân chủ và tự do tôn giáo, như trong thế kỷ XVI; nhưng trong những thế kỷ cuối cùng nầy, được đánh dấu bằng xâm lăng và tan rả, nhưng cũng bằng cuộc chiến đấu trường kỳ chống lại áp bức và bằng khát vọng tự do. Tất cả những gì vừa kể đã khiến cho nhóm hiệp nhứt suy nghĩ một cách sâu đậm hơn về ý nghĩa đích thực của sự “chiến thắng” - chiến thắng là gì - và của “thất bại”,
Đối với “chiến thắng “, được hiểu theo từ ngữ chiến lợi thành công, Chúa Kitô gợi ý cho chúng ta một con đường khác đi, không đi ngang qua quyền thế và vũ lực.
Thật vậy, Người xác nhận:
- “Ai muốn làm người đứng đầu, thì phải làm người rốt hết, và làm người phục vụ mọi người” (Mt 9,35).
Chúa Giêsu nói về một cuộc chiến thắng bằng tình yêu thương đau khổ, bằng phục vụ lẫn nhau, giúp đỡ nhau, niềm hy vọng mới và trợ lực thực tế hiến tặng cho những người rốt hết, bị mọi người quên đi, bị khước từ.
Đối với mọi tín hữu Chúa Kitô, phưong thức cao cả nhứt thể hiện việc phục vụ đó chính là Chúa Kitô, ban tặng hoàn toàn chính mình, sự chiến thắng của tình yêu Người trên sự chết, trên thập giá, chói rạng lên trong ánh sáng ban mai của ngày Phục Sinh.
Chúng ta có thể tham dự vào sự “chiến thắng” chuyển đổi nầy, nếu chúng ta biết để mình cho Chúa hoán chuyển, chỉ khi nào chúng ta hành xử một cuộc sám hối trong cuộc đời chúng ta và cuộc chuyển đổi được thực hiện dưới dạng thức sám hối.
Đó là lý do tại sao nhóm hiệp nhứt Ba Lan đã nghĩ rằng đây là chủ đề thích hợp cho việc suy niệm các lời của Thánh Phaolồ:
- “Tất cả chúng ta sẽ được biến đổi, bởi cuộc chiến thắng của Chúa Kitô, Chúa chúng ta” (1 Cor 15,51-58).
2 -Sự hiệp nhứt hoàn hảo và thấy được của các tín hữu Chúa Kitô, mà chúng ta có liên hệ, đòi buộc chúng ta hãy để cho mình được biến đỏi và phù hợp càng ngày càng hoàn hảo hơn, giống hình ảnh Chúa Kitô.
Sự hiệp nhứt mà chúng ta cầu nguyện van xin đó đòi buộc một sự biến cải nội tâm, cộng đồng cũng như cá nhân.
Không phải chỉ là thái độ đầy thân thiện hay hợp tác, cần nhứt là chúng ta phải tăng cường thêm lên đức tin của chúng ta vào Thiên Chúa, vào Chúa Giêsu Kitô, Đấng đã nói và đã trở thành một người như chúng ta, cần phải hội nhập vào cuộc sống mới trong Chúa Kitô, sự chiến thắng đích thực và quyết định của chúng ta; cần cởi mở với nhau, người nầy với người khác, đón nhận tất cả những yếu tố của sự hiệp nhứt mà Thiên Chúa đã dành cho chúng ta và luôn luôn ban lại nữa cho chung ta; cần phải cấp thiết cảm nhận làm nhân chứng cho con người của thời đại chúng ta: Thiên Chúa hằng sống, đã tỏ Người ra cho chúng ta nơi Chúa Kitô.
Công Đồng Vatican II đã đặt việc tìm kiếm sự hiệp nhứt vào tâm điểm của đời sống và tác động của Giáo Hội:
- Thánh Công Đồng nầy khuyến khích tất cả các tín hữu công giáo,để cho trong khi nhận thức được các dấu chỉ thời đại, họ tham dự vào lòng hăng hái nồng nhiệt cho động tác hiệp nhứt” (Unitatis redintegratio,4),
Đức Chân Phưóc GioanPhaolồ II đã nhấn mạnh đến bản thể thiết yếu của việc chuyên cần dấn thân dó, khi ngài nói:
- “Niềm hiệp nhút nầy mà Chúa ban cho Giáo Hội Người và trong Giáo Hội đó Người muôn ôm ấp tất cả, không phải là những gì phụ thuộc, mà chính nằm ngay ở trung tâm điểm của động tác “Niềm hiệp nhứt đó cũng không có giá trị như là một đặc tính phụ thuộc của cộng đồng các môn đệ Ngưòi. Niềm hiệp nhứt đó trái lại thuộc về chinh sự hiện hữu của công đồng nầy” (Enc. Ut unum sint,9).
Phận vụ hiệp nhứt như vậy là một trách nhiệm của cả Giáo Hội và của tất cả những ai nhận được phép rửa, bởi lẽ họ chính là những người phải làm tăng trưởng lên mối thông hiệp riêng tư từng phầnđã hiện diện giữa các Kitô hữu với nhau cho đến niềm thông hiệp hoản hảo trong chân lý và bác ái.
Trong tạm thời,lời cầu nguyện cho sụ hiệp nhút không phải chỉ bị đóng khung vào Tuần Lễ Cầu Nguyện nầy, nhưng còn phải trở thành
- phần chính yếu của lời cầu nguyện chúng ta,
- của cuộc đời cầu nguyện tất cả các Kitô hữu ở mọi nơi chốn và mọi thời đại, nhứt là khi các con người của các truyền thống khác nhau gặp được nhau và làm việc chung với nhau cho cuộc chiến thắng, trong Chúa Kitô, trên những gì là tội lỗi, sự dữ, bất công, vi phạm phẫm giá con người.
3. Từ khi phong trào hiệp nhứt tân tiến được phát sinh, hơn một thế kỷ qua, luôn luôn có một ý thức rõ ràng về sự kiện của việc thiếu vắng đi niềm hiệp nhứt giữa các tin hữu Chúa Kitô là điểu cản trở cho việc loan báo Phúc Âm hữu hiệu hơn, bởi vì sự thiếu vắng đó đặt sự khả tín của chúng ta vào vòng nguy hiểm.
Làm sao chúng ta có thể làm nhân chứng có tính cách thuyết phục, nếu chúng ta chia rẻ nhau?
Dĩ nhiên những gì có liên hê đến chân lý nền tảng đức tin liên kết chúng ta hơn là chia rẻ.
Nhưng các sự phân chia vẫn có và liên quan đến những vẫn để thiết thực và luân lý, tạo nên rối loạn và bất tín nhiệm, làm yếu đi khả năng của chúng ta loan báo Lời Cứu rỗi của Chúa Kitô.
Trong ý nghĩa đó, chúng ta cần nhớ lại lời của Đức Chân Phước Gioan Phaolồ II, mà trong Thông Điệp Ut unum sint của ngài. Ngài đã đề cập đến mối nguy hại cho việc nhân chứng Kitô Giáo và việc loan báo Phúc Âm, được gây nên bởi sự thiếu hiệp nhứt (cfr. nn. 98.99).
Đây là một thách thức to tác cho việc rao giảng Phúc Âm mới, có thể là việc rao giảng đầy kết quả, nếu tất cả các tín hữu Chúa Kitô đều cùng nhau loan báo chân lý Phúc Âm của Chúa Giêsu Kitô và cùng nhau loan báo cho lòng khao khát thiêng liêng của các thời đại chúng ta.
Con đường của Giáo Hội, cũng như con đường của các dân tộc, đều ở trong tay Chúa Giêsu Phục Sinh, khải hoàn chiến thắng trên sự chết và trên bất công mà Người đã mang lấy và chịu đựng lấy nhân danh tất cả mọi người chúng ta. Người làm cho chúng ta tham dự vào cuộc chiến thắng của Người. Chỉ có Người mới có khả năng biến đổi chúng ta và làm cho chúng ta, từ là những kẻ yếu đuối và chao đảo, trở thành mạnh mẽ và can đảm trong động tác làm việc thiện. Chỉ có Người mới có thể cứu vớt chúng ta được khỏi những hậu quả tiêu cực của các việc chia cách của chúng ta.
Anh Chị Em thân mến, tôi mời gọi tất cả Anh Chị Em hãy hiệp nhứt nhau trong cầu nguyện một cách nồng nhiệt hơn trong Tuần Lễ Hiệp Nhứt nầy, để phát triển lên nhân chứng chung, tinh thần liên đới hỗ trợ và sự cộng tác giữa các tín hữu Chúa Kitô, trong khi chờ đợi một ngày tươi sáng trong đó chúng ta có thể cùng tuyên xưng đức tin được cácThánh Tông Đồ truyền lại và cùng nhau cử hành các Bí Tích chuyển đổi chúng ta vào Chúa Kitô.
Phỏng dịch từ nguyên bản Ý- Ngữ. Nguyễn Học Tập.
(Thông tấn www.vatican.va,18.01.2012).
admin
27-01-2012, 04:52 AM
BÀI GIÁO LÝ NGÀY THỨ TƯ (8A 4)
Thính phòng Phaolồ VI, buổi yết kiến ngày thứ tư, 25.01.2012.
LỜI CẦU NGUYỆN CỦA CHÚA GIÊSU VÀO GIỜ ĐƯỢC NÂNG LÊN VÀ TÔN VINH.
ĐỨC THÁNH CHA BENEDICTUS XVI
Anh Chị Em thân mến,
trong Bài Giáo Lý ngày hôm nay, chúng ta đặc tâm chú ý đến lời cầu nguyện mà Chúa Giêsu dâng lên Chúa Cha trong “Giờ” Người được nâng lên và tôn vinh (cfr Jn 17,1-26).
Như Sách Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo xác nhận :
- “Truyền thống Kitô giáo có lý mà định nghĩa rằng đó là “lời cầu nguyện linh mục” của Chúa Giêsu. Đó là lời cầu nguyện Vị Linh Mục Thượng Tế của chúng ta, không thể tách rời ra khỏi Chức Linh Mục của Người, khỏi “cuộc Vuợt Qua” (pasqua) của Người để đến với Chúa Cha, nơi mà Người hoàn toàn “được thánh hiến” cho Chúa Cha (n. 2747).
Lời cầu nguyện nầy của Chúa Giêsu có thể hiểu được trong đặc tính dồi dào cực kỳ của lời nguyện, nếu chúng ta đặt lời nguyện đó vào nền tảng bối cảnh lễ thanh tẩy của Do Thái (Yom kippúr).
Ngày hôm đó Vị Thượng Tế thực hiện đông tác thanh tẩy cho chính mình, kế đến cho hàng tư tế và sau cùng cho cả cộng đồng dân chúng.
Mục đích là trả lại cho cho dân Israel, sau những bất tuân vi phạm trong một năm, ý thức mình được hoà giải lại với Thiên Chúa, ý thức rằng mình là dân được tuyẻn chọn, “dân thánh” giữa các dân tộc khác.
Lời cầu nguyện của Chúa Giêsu được chương 17 Phúc Âm Thánh Gioan trình bày cho chúng ta, bằng cách lấy lại cấu trúc của ngày lễ đó.
Chúa Giêsu trong đêm đó hướng về Chúa Cha, trong thời điểm Người sắp hy sinh chính mình. Người là vị thượng tế và nạn nhân, cầu nguyện cho mình, cho, các tông đồ và cho tất cả những ai tin vào Người, cho Giáo Hội ở mọi thời đại:
- “Con không chỉ cầu nguyện cho những người nầy, nhưng còn cho những ai nhờ lời họ mà tin vào con, để tất cả nên một, như Cha ở trong con và con ở trong Cha, để họ cũng ở trong chúng ta. Như vậy thế gian sẽ tin rằng Cha đã sai con” (Jn 17,20)
1 - Lời cầu nguyện mà Chúa Giêsu dâng lên cho chính mình là lời van xin được vinh danh, được nâng cao lên trong “ Giờ” của Người.
Thật ra lời cầu nguyện đó còn hơn cả những gì chỉ là lời van xin và lời tuyên bố mình sẵn sàng, tự do và quảng đại, hội nhập vào đồ án của Chúa Cha, xin đồ án đó thực hiện trong việc bị nộp, chết đi và phục sinh.
“Giờ” hay thời điểm đó được khởi đầu bằng cuộc phản bội của Giuđa (Jn 13,31) và sẽ đạt đến thượng đỉnh khi Chúa Giêsu Phục Sinh lên cùng Chúa Cha (Jn 20,17).
Động tác Giuda bỏ ra đi khỏi nhà Tiệc Ly được Chúa Giêsu bình luận băng những lời nầy:
- “Khi Giuđa đi rồi, Chúa Giêsu nói: “Giờ đây, Con Người được tôn vinh, và Thiên Chúa cũng được tôn vinh nơi Người” (Jn 13,21).
Không phải vô tình mà Chúa Giêsu bắt đầu lời cầu nguyện linh mục bằng những lời nói:
- “Lạy Cha, giờ đã đến, xin Cha tôn vinh Con Cha, để Con Cha tôn vinh Cha” (Jn 17,1).
Vinh hạnh mà Chúa Giêsu nguyện xin cho mình, như là Linh Mục Thượng Tế, đó là được hội nhập vào lòng tuân phục hoàn toàn đối với Chúa Cha, đó là một sự vâng lời hướng dẫn đưa Người đến tình con cái hoàn hảo:
- “Lạy Cha, giờ đây xin Cha tôn vinh con bên Cha; xin Cha ban cho con vinh quang mà còn vẫn được hưởng bên Cha trước khi có thế gian” (Jn 17,5).
Thái độ sẵn sàng nầy và lời nguyện xin nầy là động tác tiên khởi chức linh mục mới của Chúa Giêsu, là Đấng hoàn toàn hy sinh chính mình trên thập giá. Và chính trên thập giá - động tác tuyệt đỉnh của tinh yêu - Chúa Giêsu được tôn vinh, bởi vì tình yêu là vinh hạnh đích thực, vinh hạnh của Thiên Chúa.
2 - Phần thứ hai của lời cầu nguyện nầy, đó là lúc Chúa Giêsu can thiệp cầu bàu cho các môn đệ đã ở với Người. Các vị là những người mà Chúa Giêsu có thể thưa lên Chúa Cha:
- “Con đã cho họ biết danh Cha, những kẻ Cha đã chọn từ giữa thế gian. Họ thuộc về Cha, Cha đã ban họ cho con, và họ đã tuân giữ lời Cha” (Jn 17,6).
“Tỏ danh Thiên Chúa cho con người biết” là làm thể hiện sự hiện điện của Chúa Cha giữ dân chúng, giưa nhân loại. Động tác “tỏ ra” đó, không phải chỉ là một lời nói, mà là Chúa Giêsu hiện thực - Thiên Chús ở cùng chúng ta - sự hiện diện của Thiên Chúa ở với chúng ta, là một trong những con người như chúng ta - như vậy, danh Chúa đã được thực hiện.
Điều đó có nghĩa là sự hiên diện của Thiên Chúa được thể hiện trong công cuộc nhập thể của Ngôi Lời. Trong Chúa Giêsu, Thiên Chúa hội nhập vào thể xác con người, làm cho mình đến gần một cách độc nhứt và mới mẻ. Và sự hiện diện đó đạt đến thượng đỉnh của mình trong công cuộc hy sinh mà Chúa Giêsu thực hiện trong lễ Vượt Qua của Người bằng cái chết và sống lại.
Trung tâm điểm của lời cầu nguyện nầy trong động tác can thiệp và thanh tẩy cho các môn đệ hệ tại ở lời khẩn cầu “thánh hiến” (consacrazione), mà Chúa Giêsu thưa lên Chúa Cha:
- “Họ không thuộc về thế gian cũng như con đây không thuộc về thế gian. Xin Cha thánh hiến họ trong sự thật. Lời Cha là sự thật. Như Cha đã sai con đến thế gian, thì con cũng sai họ đến thế gian. Vì họ, con xin thánh hiến chính mình con, để nhờ sự thật, họ được thánh hiến” (Jn 17,16-19).
Câu hỏi được đặt ra: “thánh hiến” có ý nghĩa gi trong trường hợp nầy ?
Trước hết cần nói rằng “Thánh hiến” (Consacrazione) hay “Thánh” (Santo) chỉ là những gì thuộc về một mình Thiên Chúa. Như vậy, thánh hiến là chuyển đưa một thực tại - con người hay sự vật - vào lãnh vực đặc tính của Thiên Chúa.
Trong động tác đó có hai phương diện bổ túc cho nhau:
- một đàng tước bỏ đi khỏi những sự vật thông thường, tách rời, “để riêng ra một bên” khỏi môi trường của đời sống con người, để hoàn toàn được hiến dâng cho Chúa,
- đàng khác, tách rời, để riêng ra, việc chuyển đổi vào bầu không khí của Chúa, có nghĩa chính là “gởi đi, sai đi", sứ mạng.
Chính vì được dâng hiến cho Chúa, thực thể, con người được thánh hiến hiện hữu “cho” người khác, được hiến tặng cho người khác. Dâng hiến cho Chúa có nghĩa là không sống nữa cho chính mình, mà cho mọi người.
Ai được thánh hiến, như Chúa Giêsu, là người được tách riêng ra khỏi trần thế và được để dành riêng ra cho Chúa, nhằm cho một phận vụ và chính vì đó mà hoàn toàn được dành cho mọi người.
Đối với các môn đệ, đó là tiếp tục sứ mạng của Chúa Giêsu, được dâng hiến cho Chúa, như vậy để được sai đi trong sứ mạng cho tất cả.
Buổi chiều ngày Lễ Vượt Qua, Chúa Phục Sinh, trong khi hiện ra cho các môn đệ, sẽ nói với các vị:
- “Bình an cho anh em, như Cha đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai anh em” (Jn 20,21).
3 - Phần thứ ba của lời cầu nguyện linh mục nầy trải dài nhãn quan cho đến lúc tận cùng của thời gian. Trong đó, Chúa Giêsu van xin lên Chúa Cha để can thiêp khẩn cầu cho tất cả những ai được dẫn nhập vào đức tin, qua sứ mạng đã được các môn đệ khai mạc và được tiếp tục trong lịch sử:
- “Con không chỉ cầu nguyện cho những người nầy, nhưng còn cho những ai nhờ lời họ mà tin vào con." (Jn 17,20).
Chúa Giêsu cầu cho Giáo Hội ở tất cả mọi thời đại, Người cầu nguyện cho cả chúng ta.
Sách GiáoLý Giáo Hội Công Giáo bình luận:
- “Chúa Giêsu đã thực hiện hoàn hảo công trình của Chúa Cha, và lời cầu nguyện của Người, cũng như việc Hiến Tế của Người, trải dài ra cho đến thời điểm cuối cùng của thời gian. Lời cầu nguyện của “Giờ” tràn ngập những thời điểm cuối cùng và đưa những thời điểm đó cho đến kết thúc tận cùng” (n. 2749)
Lời nguyện xin tâm điểm của lời cầu nguyện linh mục của Chúa Giêsu đươc dành cho các môn đệ người ở mọi thời đại đó là sự hiệp nhứt của những ai sẽ tin vào Người.
Sự hiệp nhứt đó không phải là một sản phẩm của thế gian. Sự hiệp nhứt đó chỉ thoát xuất từ sự hiệp nhứt của Thiên Chúa và đến với chúng ta qua Chúa Con và Chúa Thánh Thần.
Chúa Giêsu khẩn cầu một ân phước từ Trời đến và có hiệu quả của ân phước đó - thực tế và nhận thấy được- dưới đất. Người cầu xin để cho tất cả chỉ nên một thực thể:
- “Như Cha ở trong con và con ở trong Cha, để họ cũng ở trong chúng ta. Như vậy, thế gian sẽ tin rằng Cha đã sai con” (Jn 17,21).
Sự hiệp nhứt Kitô giáo, một đàng, là một thực thể thầm kín, tiềm ẩn trong tâm khảm các tín hữu. Nhưng đồng thời, sự hiệp nhứt đó cũng phải thể hiện ra với tất cả sự trong sáng trong lịch sử, phải thể hiện ra để thế giới tin; có mục đích thực dụng và thực tế, phải thể hiện ra để tất cả đều thật sự là một thực thể duy nhứt.
Sự hiệp nhứt của các môn đệ tương lai, bởi vì là hiệp nhứt với Chúa Giêsu - Đấng mà Chúa Cha đã sai dến trong thế gian - nên cũng là nguồn mạch nguyên thuỷ sự hữu hiệu sứ mạng Kitô giáo trên thế giới.
- “Chúng ta có thể nói rằng trong lời cầu nguyện tư tế của Chúa Giêsu việc thành lập Giáo Hội đươc thực hiện. Chính ở đây, trong động tác của buổi cơm tối cuối cùng, Chúa Giêsu thiêt lập Giáo Hội. Bởi vì Giáo Hội là gì, nếu không phải là công đồng các môn đệ, mà nhờ đức tin vào Chúa Giêsu Kitô, như là Đấng được Chúa Cha sai đến, nhận được sự hiệp nhứt và có liên hệ đến sứ mạng của Chúa Giêsu cứu độ thế giới, bằng cách dẫn đưa thế giới đến biết được Thiên Chúa?
Ở đây chúng ta gặp được một định nghĩa đích thực về Giáo Hội. Giáo Hội được sinh ra từ lời cầu nguyện của Chúa Giêsu. Và lời cầu nguyện đó không phải chỉ bằng lời, mà còn là động tác trong đó Chúa Giêsu “thánh hiến” chính mình và có nghĩa là “hy sinh chinh mình” cho đời sống thế gian (Gesù di Nazareth, II,117s).
Chúa Giêsu cầu nguyện để cho các môn đệ Người, để chỉ là một thực thể duy nhứt. Trong sức mạnh của sự hiệp nhứt đó, nhận lãnh và được gìn giữ, Giáo Hội có thể bước đi “ trong thế giới, nhưng không thuộc về thế giới” (Jn 17,16), có thể sống sứ mạng được giao phó cho, để thế gian tin vào Chúa Con và Chúa Cha, Đấng đã sai Người.
Như vậy Giáo Hội trở thành nơi, trong đó chính sứ mạng của Chúa Kitô được tiếp tục: để hướng dẫn thế giới ra khỏi băng hoại con người ra khỏi Thiên Chúa và băng hoại chính mình, thoát khỏi tội lỗi, để con người trở lại vào thế giới của Thiên Chúa.
Anh Chị Em thân mến, chúng ta đã đón nhận được một vài yếu tố đầy sung mãn của lời nguyện linh muc của Chúa Giêsu, mà tôi muốn mời gọi Anh Chị Em hãy đọc và suy niệm, bởi vì điều đó hướng dẫn chúng ta trong việc đối thoại với Chúa, dạy chúng ta cầu nguyện.
Như vậy, trong lời cầu nguyện của chúng ta, chúng ta hãy khẩn xin Chúa giúp chúng ta được hội nhập một cách hoàn hảo vào đồ án của Người trên mỗi người chúng ta, chúng ta hãy nguyện xin được “thánh hiến” cho Người, thuộc về Người mãi mãi, luôn luôn càng lúc càng hơn nữa, để có thể luôn luôn yêu thương những người khác, ở gần và ở xa.
- Xin Người cho chúng ta luôn luôn có khả năng mở rộng lời cầu nguyện của chúng ta ra đối với các tầm mức của thế giới;
- xin Chúa đừng đóng kín lời cầu nguyện của chúng ta chỉ trong việc kêu cứu đối với những vấn đề của chúng ta,
- nhưng trước mặt Chúa nhớ đến cả người thân cận, bằng cách mở rộng lòng mình ra can thiệp cho những người khác;
- chúng ta hãy van xin Chúa ân sủng được hiệp nhứt thấy được giữa các tin hữu Chúa Kitô -đó là những gì chúng ta đã mạnh mẽ van xin trong Tuần Lễ Cầu Nguyện cho Sự Hiệp Nhứt Kitô giáo.
Chúng ta hãy cầu nguyện để luôn luôn sẵn sàng đáp ứng lại ai hỏi chúng ta lý do nào chúng ta có niềm hy vọng nơi chúng ta (cfr. 1Pt 3,15).
Cám ơn Anh Chị Em.
Phỏng dịch từ nguyên bản Ý - Ngữ:Nguyễn Học Tập.
(Thông tấn www.vatican.va, 25.01.2012).
admin
03-02-2012, 07:37 AM
BÀI GIÁO LÝ NGÀY THỨ TƯ (8A 5)
Thính phòng Phaolồ VI, buổi yết kiến ngày thứ tư, 01.02.2012.
BUỔI CẦU NGUYỆN CỦA CHÚA GIÊSU TRONG VƯỜN GIÊTSÊMANI
ĐỨC THÁNH CHA BENEDICTUS XVI
Anh Chị Em thân mến,
hôm nay tôi muốn được nói về buổi cầu nguyện của Chúa Giêsu trong vườn Giêtsêmani, trong vườn cây Oliu.
Bối cảnh của đoạn Phúc Âm thuật lại buổi cầu nguyện nầy đặc biệt đầy ý nghĩa. Chúa Giêsu bắt đầu đi về phía Núi cây Oliu, sau Buổi Cơm Tối cuối cùng, trong lúc Người còn đang cầu nguyện với các môn đệ mình. Tác giả Phúc Âm Marco thuật lại:
- "Hát thánh vịnh xong, Chúa Giêsu và các môn đệ ra núi oliu” (Mc 14,26)
Có lẽ Thánh Luca có ý nói đến lời hát một vài Thánh Vịnh về “hallél”, mà qua đó tạ ơn Chúa đã giải thoát dân khỏi ách nô lệ và xin Người giúp đỡ trước những khó khăn và những hăm doạ mới hiện tại. Con đường đi đến Giêrusalem đầy dẫy khắp đó đây những phát biểu của Chúa Giêsu làm cho chúng ta cảm nhận được số phận chết của Người đang gần kề và tiên báo các môn đệ sẽ phân tán tản lạc.
1 - Đến khoảng đất trồng trọt trên Núi cây Oliu, trong đêm đó Chúa Giêsu cũng chuẩn bị một buổi cầu nguyện riêng tư. Nhưng lần nầy có một cái gì đó mới mẻ: dường như Người không muốn ở lẻ loi một mình. Nhiều lần trước, Chúa Giêsu tách riêng rẻ ra khỏi đám đông và khỏi chính các môn đệ,
- “ở trong các nơi hoang địa” (Mc 1,35),
- hoặc “đi lên núi”, thánh Marco nói (Mc 6,46).
Trái lại ở Giêtsêmani, Người mời gọi Phêrô, Giacobê và Gioan đi theo ở gần bên cạnh Người hơn. Các vị là những môn đệ mà Người đã kêu gọi ở bên cạnh Người trên núi của biến cố Biến Đổi Hình Dạng (Mc 9,2-13).
Việc gần gũi lần nầy của ba môn đệ trong buổi cầu nguyện ở vườn Giêtsêmani rất có ý nghĩa.
Cũng vậy, trong đêm đó Chúa Giêsu sẽ cầu nguyện “một mình” với Chúa Cha, bởi vì mối tương quan của Chúa Giêsu với Chúa Cha là mối tương quan duy nhứt và đặc biệt, là mối tương quan của Con Một. Đúng hơn, có lẽ chúng ta có thể nói rằng không ai có thể đến gần được Chúa Con đang hiện diện trước Chúa Cha trong căn tính tuyệt đối duy nhứt và độc nhứt đó.
Nhưng Chúa Giêsu, mặc dầu “một mình” đến nơi mà Người sẽ ngừng lại để cầu nguyện, Người cũng muốn có ba môn đệ có mặt không xa đó, trong mối tương quan chặt chẽ hơn với Người.
Đó là một sự gần gũi không gian, một thái độ yêu cầu liên đới trong thời điểm mà Người cảm thấy cái chết đến gần. Nhưng nhứt là một sự gần gũi trong lời cầu nguyện, để nói lên, một cách nào đó, sự đồng thuận hiệp nhứt với Người, trong lúc Người sắp chu toàn đến tận cùng ý muốn Chúa Cha. Và đó là một lời mời gọi mỗi môn đệ theo Người trên con đường Thánh Giá. Thánh Marco thuật lại:
- “Người đem các ông Phêrô, Giacobê và Gioan đi theo Người. Người bắt đầu cảm thấy hãi hùng xao xuyến. Người nói với các ông: “Tâm hồn Thầy buồn đến chết được. Anh em ở lại đây mà canh thức” (Mc 14,33-34).
Trong các lời nói với ba môn đệ, một lần nữa, Người diễn tả bằng ngôn từ của Thánh Vịnh, theo cách diễn tả của Thánh Vịnh 43:
- “Tâm hồn tôi phiền muộn” (Ps 43,5).
Kế đến thái độ quyết định đầy khổ nhọc “cho đến chết” nhắc lại trạng thái sống của nhiều vị được Thiên Chúa sai đi trong Cựu Ước và được thốt lên trong lời cầu nguyện của các vị. Thật vậy, không phải ít, khi bước theo sứ mạng được giao phó là gặp phải thù địch, chối từ và bách hại.
Moisen cảm nhận được một cách thảm đạm sự thử thách mà mình phải chịu, trong khi hướng dẫn dân trong sa mạc. Bởi đó ngài thưa với Chúa:
- “Một mình con, con không thể gánh cả dân nầy được nữa, vì nó nặng quá sức con. Nếu Chúa xử với con như vậy, thì thà giết con đi còn hơn, đừng để con phải khổ nữa, nếu con đẹp lòng Chúa !” (Nm 11,14-15).
Cả đối với tiên tri Elia cũng không phải dễ để tiếp tục phục vụ Chúa và phục vụ dân chúng. Trong sách Vua quyển I, Elia thuật lại:
- “Còn ông thì đi một ngày đường trong sa mạc. Ông đến ngồi dưới gốc cây kim tước. Ông xin cho được chết đi và nói: “Lạy Chúa, đủ rồi, bây giờ xin Chúa lấy mạng sống con đi, vì con chẳng hơn gì cha ông của con” (1 Re 19,4).
Các lời của Chúa Giêsu nói với các môn đệ mà Người muốn các ông ở gần Người trong buổi cầu nguyện ở vườn Giệtsêmani cho thấy Người cảm nhận được sợ hãi và áy náy trong “Giờ” đó, kinh nghiệm được cảm thấy thật lẻ loi, trong khi đồ án của Thiên Chúa đang được thực hiện. Trong mối lo sợ và áy náy đó của Chúa Giêsu gồm tóm sự hãi hùng của con người trước cái chết của mình, cảm nhận được cái chết đang tiến đến gần không thể nào tránh được và cảm nhận sức nặng của sự dữ đang xâm chiếm cuộc sống của chúng ta.
2 - Sau lời mời gọi hãy ở lại và cầu nguyện đưọc nói lên với ba ông, Chúa Giêsu “ một mình” hướng về Chúa Cha. Tác giả Phúc Âm thuật lại
- “Người đi xa hơn một chút, sấp mình xuống đất mà cầu xin cho mình khỏi phải qua giờ ấy, nếu có thể được” (Mc 14,35).
Chúa Giêsu sấp mặt xuống đất, đó là một trạng thái cầu nguyên, nói lên sự vâng lời của Người vào ý muốn Chúa Cha, uỷ thác vào Chúa Cha với lòng đầy tin cậy nơi Người.
Đó cũng là cử chỉ được lập lại lúc khởi đầu Cử Hành Cuộc Thương Khó Thứ Sáu Tuần Thánh, cũng như trong lúc tuyên khấn của các tu sĩ và trong Phép Truyền Chức Phó Tế, Linh Mục và Giám Mục, để nói lên trong lời cầu nguyện, cả bằng thể xác, thái độ hoàn toàn phó thác cho Chúa, lòng tin cậy vào Người.
Kế đến Chúa Giêsu xin Chúa Cha, nếu có thể được, xin cho giờ đó qua khỏi Người. Không phải chỉ có sự sợ hải và lo âu của con người trước cái chết, mà mối lo âu của Chúa Con cho thấy cả khối sự dữ khủng khiếp mà mình phải lãnh nhận trên mình để vượt thắng nó, để làm cho nó không còn quyền lực.
Các bạn thân mến, chúng ta cũng vậy, trong khi cầu nguyện chúng ta cũng phải có khả năng mang đến trước mặt Chúa những khổ nhọc của chúng ta, sự đau khổ đối với những trạng huống nào đó, của những ngày nào đó, việc chuyên cần dấn thân hằng ngày để theo Người, của người Kitô hữu, và cả sức nặng của sự dữ mà chúng ta cảm nhận thấy nơi chúng ta và chung quanh chúng ta, xin Người ban cho chúng ta niềm hy vọng, xin Người làm cho chúng ta cảm nhận được sự gần gũi của Người, xin Người ban cho chúng ta một ít ánh sáng trong cuộc hành trình đời sống.
3 - Chúa Giêsus tiếp tục lời cầu nguyện của Người:
- “Abba, Cha ơi !..." (Mc 14,36a).
Chúng ta biết rõ rằng từ ngữ Do Thái “Abbà”, là ngôn ngữ được trẻ con dùng để kêu cha và như vậy để diễn tả mối tương quan giữa Chúa Giêsu và Chúa Cha, một mối tương quan âu yếm, yêu thương, tin cậy, phó thác.
Trong phần trung tâm của lời van xin, có một yéu tố thứ hai: đó là thái độ nhận thức được sự toàn năng của Chúa Cha - “ mọi sự đều có thể được đối với Cha”, được dùng để khởi đầu một lời xin, trong đó một lần nữa thể hiện ra thảm đạm ý chí con người của Chúa Giêsu trước cái chết và điều dữ - “xin cất chén nầy xa con”,
Nhưng còn lời diễn tả thứ ba trong lời nguyện của Chúa Giêsu và đó là lời xác nhận quyết định, trong đó ý muốn của con người hoàn toàn gắn chặt vào ý muốn Thiên Chúa. Thật vậy, Chúa Giêsu kết thúc lời cầu nguyện bằng mạnh dạn nói lên:
- “Nhưng xin đừng làm theo điều con muốn, mà làm điều Cha muốn” (Mc 14,36c).
Trong sự hiệp nhứt Ngôi Chúa Con, ý muốn nhân loại gặp được sự triển nở hoàn hảo trong việc phó thác hoàn toàn của “Con” cho “Cha” của Chúa Cha, được gọi bằng Abbà.
Thánh Massimo, vị Thánh Cáo Giải , xác nhận rằng từ lúc tạo dựng nên người nam và người nữ, ý muốn của con người được định hướng theo ý muốn của Thiên Chúa và chính trong tiếng “xin vâng” đối với Chúa, mà ý muốn con người được hoàn toàn tự do và được triển nở hoàn hảo.
Nhưng rất tiếc, do tội lỗi, tiếng “xin vâng” đó bị biến thành đối nghịch. Ông Adong và bà Eva đã tưởng rằng tiếng “không” đối với Chúa có thể là thượng đỉnh của tự do, là con người hoàn hảo tự chính mình.
Chúa Giêsu trên Núi cây Oliu đem ý muốn con người trở lại thành “xin vâng” hoàn hảo với Thiên Chúa, nơi Người ý muốn tự nhiên được hoàn hảo hoá trong định hướng mà Ngôi Thiên Chúa đem đến cho.
Chúa Giêsu sống cuộc sống của mình theo trung tâm Ngôi Thiên Chúa của mình. bản thể Chúa Con của mình. Ý chí nhân loại của Người bị thu hút vào chủ thể “Tôi” của Chúa Con, hoàn toàn phó thác cho Chúa Cha.
Như vậy Chúa Giêsu nói cho chúng ta rằng chỉ có khi nào ý chí nhân loại hoà hợp với ý muốn Thiên Chúa, bản thể của con người mới đạt đến cao độ đích thực, trở thành “thiên chúa” chỉ khi nào con người ra khỏi mình, chỉ khi nào thưa “xin vâng” với Chúa, con người thực hiện được lòng ước muốn của ông Adong, của tất cả chúng ta, đó là được hoàn toàn tự do.
Những gì Chúa Giêsu thực hiện ở Giêtsêmani: chuyển đổi ý chí con người vào ý muốn Thiên Chúa làm sinh ra con người đích thực và chúng ta được cứu rỗi.
4 - Sách Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo huấn dạy một cách tổng lượt như sau:
- “Buổi cầu nguyện của Chúa Giêsu trong cơn hấp hối củă người trong Vườn Giêtsêmani và các lời nói cuối cùng của Người trên Thánh Giá cho chúng ta thấy được tầm mức sâu đậm con cái của Người. Chúa Giêsu thực hiện đến kết thúc đồ án tình yêu của Chúa Cha và nhận lầy trên Người tất cả những âu lo của nhân loại, tất cả những lời van xin và những can thiệp của lịch sử cứu rỗi.
Chúa Giêsu dâng lên Chúa Cha tất cả những nhu cầu đó, được Chúa Cha đón nhận và lắng nghe, vượt cả bên kia mọi hy vọng, bằng cách làm cho người sống lại từ cõi chết (n. 543).
Thật vậy, không có ở một phần nào khác của Thánh Kinh mà chúng ta có thể thấy được sâu thẳm như vậy mầu nhiệm nội tại của Chúa Giêsu, như là ở nơi buổi cầu nguyện trên Núi cây Oliu (ĐTC Bebedetto XVI, Gesù di Nazareth, II,177).
Anh Chị Em thân mến, mỗi ngày trong lời nguyện Kinh Lạy Cha chúng ta van xin Chúa “vâng ý Cha trên trời cũng như dưới đất (Mt 6,10).
Nghĩa là chúng ta nhận biết có một ý muốn của Thiên Chúa với chúng ta và cho chúng ta, một ý muốn của Chúa trên đời sống chúng ta. Đó là ý muốn phải trở thành mỗi ngày một hơn chuẩn định điểm cho ý muốn chúng ta và cho đời sống chúng ta.
Kế đến chúng ta biết rằng ở trên trời nơi ý muốn của Thiên Chúa được thực hiện và “đất” trở thành “trời”, nơi của sự hiện diện tình yêu thương, lòng tốt lành, chân lý, vẻ đẹp Thiên Chúa, chỉ khi nào nơi đó ý muốn Thiên Chúa được thực hiện.
Trong lời cầu nguyện của Chúa Giêsu lên Chúa Cha, trong đêm kinh khủng và huy hoàng đó ở Giêtsêmani, “đất” trở nên “trời” ; “đất” của lòng ước muốn nhân loại, bị rung động bởi sợ hãi và lo lắng, được ý muốn Thiên Chúa đón nhận, như vậy ý muốn Thiên Chúa được thực hiện dưới đất.
Điều vừa kể cũng quan trọng trong lúc chúng ta cầu nguyện, chúng ta hãy học biết phó thác mình hơn nữa cho sự Quan Phòng của Chúa, xin Chúa ban cho chúng ta sức mạnh để vượt ra khỏi chình mình để canh tân lại tiếng “thưa vâng” của chúng ta, để lặp lại với Người “xin ý Cha được thể hiện”, để làm cho ý muốn của chúng ta trở nên giống ý muốn của Người.
Đó là lời cầu nguyện mà chúng ta phải thực hiện hằng ngày, bởi vì không phải luôn luôn dễ phó thác chúng ta vào ý muốn Thiên Chúa, lặp lại tiếng “xin vâng” của Chúa Giêsu, tiếng “xin vâng” của Mẹ Maria.
Những đoạn Phúc Âm tường thuật lại về Giêtsêmani cho thấy một cách đau thương ba môn đệ được Chúa Giêsu tuyển chọn để sống gần bên Người, các ông không có khả năng tỉnh thức với Người, để cùng chia sẻ buổi cầu nguyện của Người, sự liên kết của Người với Chúa Cha và họ đã bị giấc ngủ trấn áp.
Các bạn thân mến, chúng ta hãy nguyện xin Chúa cho chúng ta có khả năng tỉnh thức với Người trong kinh nguyện, tuân theo thánh ý Chúa mỗi ngày, dẫu cho có nói về Thánh Giá đi nữa, xin cho chúng ta được sống luôn luôn thân tình cao cả hơn với Chúa, để đem vào “đất” nầy một ít “trời” của Chúa.
Cám ơn Anh Chị Em.
Phỏng dịch từ nguyên bản Ý Ngữ : Nguyễn Học Tập.
(Thông tấn www.vatican.va (http://www.vatican.va), 01.02.2012).
admin
10-02-2012, 04:50 AM
BÀI GIÁO LÝ NGÀY THỨ TƯ (8A 6)
Thính phòng Phaolồ VI, buổi yết kiến ngày thứ tư, 08.02.2012.
Lời cầu nguyện của Chúa Giêsu trước khi chết (Mc và Mt)
ĐỨC THÁNH CHA BENEDICTUS XVI
Anh Chị Em thân mến,
hôm nay tôi muốn được suy nghĩ cùng Anh Chị Em về lời cầu nguyện của Chúa Giêsu trước cái chết gần kề, dừng lại ở những gì Thánh Marco và Thánh Matthêu kể lại cho chúng ta.
Hai tác giả Phúc Âm ghi lại lời cầu nguyện của Chúa Giêsu đang hấp hối không những bằng tiếng Hy Lạp đoạn tường thuật được viết ra, nhưng cả bằng tiếng Do Thái pha trộn với tiếng Aramaica.
Bằng cách đó, không những các ngài chuyển lại nội dung, mà cả âm thanh mà lời nguyện đó được thốt ra trên môi Chúa Giêsu. Chúng ta hãy lắng nghe thực sự các lời của Chúa Giêsu như thế nào lúc đó.
Đồng thời các ngài cũng diễn tả lại cho chúng ta thái độ của những người hiện diện trước sự kiện đóng đinh, họ không hiểu - và không muốn hiểu - lời cầu nguyện đó.
1 - Thánh Marco viết, như chúng ta vừa nghe:
- “Vào lúc giữa trưa, bóng tối bao phủ khắp nơi, mãi đến ba giờ sau trưa. Vào giờ thứ ba (sau trưa), Chúa Giêsu kêu lớn tiếng: “Eloi, Eloi, lemà sabactàmi ?”, Lạy Thiên Chúa, lạy Thiên Chúa của con, sao Chúa bỏ rơi con?” (Mc 15,14).
Trong cấu trúc của đoạn tường thuật, lời cầu nguyện, tiếng kêu lên của Chúa Giêsu xảy ra vào thượng đỉnh của ba giờ bóng tối, từ lúc trưa cho đến ba giờ chiều, đang phủ xuống cả mặt đất. Ba giờ bóng tối phủ xuống mặt đất, tiếp theo đoạn tường thuật trước đó về thời gian, là ba giờ khi bắt đầu cuộc đóng đinh Chúa Giêsu.
Thật vậy, Thánh Marco báo cho chúng ta :
- “Lúc họ đóng đinh Người là giờ thứ ba” (Mc 15,25).
Tổng kết các dấu chỉ thời gian của đoạn tường thuật, sáu giờ Chúa Giêsu ở trên thập giá được chia thành hai khoản thời gian bằng nhau.
Trong ba giờ đầu, từ lúc chín giờ sáng đến trưa, là khoảng thời gian của nhạo báng của các nhóm người khác nhau, bày tỏ thái độ hoài nghi của họ, cho thấy rằng họ không tin. Thánh Marco viết:
- “Kẻ qua người lại đều nhục mạ Người” (Mc 15,29).
- “Các thượng tế và kinh sư cũng chế giễu Người như vậy” (Mc 15,31),
- “Cả những kẻ chịu đóng đinh với Người cũng nhục mạ Người” (Mc 15,32)
Trong ba giờ kế tiếp, từ nửa trưa “cho đến ba giờ sau trưa”, tác giả Phúc Âm chỉ nói về bóng tối phủ xuống khắp mặt đất, bóng tối chiếm hữu hoàn toàn, không còn được đề cập đến cử động của các nhân vật hay lời nói nào.
Khi Chúa Giêsu càng lúc càng tiến gần đến cái chết, chỉ có “bóng tối phủ xuống trên toàn mặt đất”, Cả vũ trụ cũng bị liên hệ vào biến cố nầy: bóng tối bao phủ lấy con người cũng như vạn vật, nhưng ngay cả trong thời điểm tối tăm đó, Thiên Chúa vẫn hiện diện, không bỏ rơi.
Trong truyền thống Thánh Kinh, bóng tối có một ý nghĩa song tưởng (ambivalente): bóng tối được coi như là sự hiện diện và động tác của sự dữ, nhưng cũng là sự hiện diện và động tác của Thiên Chúa, Đấng có khả năng thắng mọi bóng tối. Ví dụ trong Sách Xuất Hành, chúng ta đọc được:
- “Thiên Chúa phán với ông Moisen: “Nầy Ta sẽ đến với ngươi trong đám mây dày đặc, để khi Ta nói với người, thì dân chúng cũng nghe thấy và tin vào ngươi” (Ex 19,9);
còn nữa:
- “Dân chúng đứng xa xa, còn ông Moisen thì tiến lại gần đám mây đen, nơi Thiên Chúa đang ngự” (Ex 20,21);
và trong các bài diễn văn Sách Đệ Nhị Luật, ông Moisen kể lại:
- “Núi bốc lửa cao đến tận trời, trong bóng tối mây đen mù mịt” (Dt 4,11),
- “Khi anh em nghe tiếng từ giữa bóng tối, và núi đang bốc lửa, thì tất cả anh em những người đứng đầu các chi tộc và những kỳ mục của anh em đã đến gặp tôi và nói: “Lạy Đức Chúa, Thiên Chúa chúng tôi, đã cho chúng tôi thấy Người thật vinh quang và vĩ đại, và chúng tôi đã nghe tiếng của Người từ trong đám lửa (Dt 5,23-24).
Trong bối cảnh Chúa Giêsu chịu đóng đinh, bóng tối bao trùm mặt đất và đó là những bóng tối của sự chết, mà Con Thiên Chúa đắm mình trong đó để đem lại đời sống bằng cái chết của Người.
2 - Trở lại đoạn tường thuật của Thánh Marco, trước những lời nhục mạ của nhiều hạng người khác nhau, trước bóng tối phủ xuống tràn trên tất cả, trong lúc đứng trước cái chết, Chúa Giêsu với lời kêu lớn tiếng của lời cầu nguyện mình, cho thấy rằng trước sức nặng của đau khổ và cái chết trong đó dường như chúng ta bị bỏ rơi, sự khiếm diện của Thiên Chúa, thì Người hoàn toàn chắc chắn sự gần gủi của Chúa Cha. Chúa Cha chấp nhận động tác cao cả đó của tình yêu, động tác tận hiến Chính Mình, mặc dầu không cảm nhận được, như trong các thời điểm khác.
Đọc Phúc Âm chúng ta nhớ đến những đoạn khác quan trọng trong cuộc đời trần thế của Chúa Giêsu. Chúa Giêsu đã thấy kết hợp các dấu chỉ sự hiện diện của Chúa Cha và lòng chấp thuận của Người cho cuộc hành trình tình yêu, cả với tiếng giải thích rõ của Thiên Chúa.
Như vậy, trong biến cố phép rửa dưới sông Giordano, với các tầng trời bị xé ra, tiếng của Chúa Cha được dân chúng nghe thấy:
- “Con là Con yêu dấu của Cha, Cha hài lòng về Con” (Mc 1,11).
Kế đến trong biến cố Chúa Giêsu được biến dạng, cùng với dấu chỉ đám mây, lời nói được đi kèm:
- “Đây là Con Yêu Dấu của Ta, các ngươi hãy nghe Người” (M 9,7).
Trái lại lúc đến gần cái chết của Đấng Chịu Đóng Đinh, tất cả đều bao trùm thinh lặng, không nghe được một tiếng nói nào, nhưng cái nhìn yêu thương của Chúa Cha vẫn gắn chặt trên sự dâng hiến tình yêu của Chúa Con.
Nhưng lời cầu nguyện của Chúa Giêsu có ý nghĩa gì, tiếng kêu lên hướng về Chúa Cha:
- “Lạy Chúa của con, lạy Chúa của Con, sao Chúa bỏ con?”,
đó là sự nghi ngờ về sứ mạng của mình, về sự hiện diện của Chúa Cha chăng?
Trong lời cầu nguyện vừa kể, lẽ nào không có sự nhân thức về tình trạng chính mình bị bỏ rơi chăng?
Các lời của Chúa Giêsu lên Chúa Cha là những lời khởi đầu của Thánh Vịnh 22, trong đó tác giả Thánh Vịnh nói lên tâm trạng dằn co giữa cảm nhận thấy mình trơ trọi một mình và tâm trạng nhận thức chắc chắn sự hiện diện của Thiên Chúa ở giữa dân chúng. Tác giả cầu nguyện:
- “Ngày kêu cứu Chúa, không lời đáp ứng, đêm van nài Người cũng chẳng yên. Nhưng Chúa là Đấng Thánh, ngự trên ngai giữa những lời ngợi khen của Israel” (Ps 22,3-4),
Tác giả Thánh Vịnh nói đến “lời kêu cứu” để diễn tả tất cả đau đớn của lời cầu nguyện mình trước Thiên Chúa, có vẻ như vắng mặt; trong lúc uẩn ức âu lo, lời cầu nguyện trở thành tiếng la thét lên.
Điều đó cũng là những gì xảy ra trong thời đại chúng ta đối với Chúa: trước những cảnh trạng khó khăn và đau khổ nhứt, khi có vẻ như Thiên Chúa không nghe, chúng ta đừng sợ phó thác cho Người tất cả gánh nặng mà chúng ta đang mang trong tâm hồn, chúng ta đừng sợ la lên Người nỗi đau khổ của mình, chúng ta cần phải xác tín rằng Thiên Chúa ở gần, mặc dầu bên ngoài Người có vẻ thinh lặng.
3 – Lặp lại từ trên thập giá các lời khởi đầu của Thánh Vịnh
- “Eli, Eli, lemà sabactàmi” - “Lạy Chúa, lạy Chúa, tại sao Chúa bỏ con” (Mt 27,46),
thét lên những lời của Thánh Vịnh, Chúa Giêsu cầu nguyện trong lúc cuối cùng bị con người từ chối, trong lúc bị bỏ rơi, nhưng Người cầu nguyện bằng Thánh Vịnh, trong xác tín sự hiện diện của Chúa Cha, ngay cả trong thời điểm, trong đó Người cảm nhận được thảm trạng cái chết của con người.
Nhưng nơi chúng ta nảy ra câu hỏi: làm sao một Thiên Chúa toàn năng như vậy lại không can thiệp để đưa Con mình ra khỏi cơn thử thách khủng khiếp đó ?
Điều quan trọng là chúng ta nên biết rằng lời cầu nguyện của Chúa Giêsu không phải là tiếng la thét của con người đang gặp phải niềm tuyệt vọng của cái chết, cũng không phải là tiếng la thét của những ai biết mình bị bỏ rơi.
Trong thời điểm đó, Chúa Giêsu đang dùng cả Thánh Vịnh 22, Thánh Vịnh của dân Israel đang đau khổ; với phương thức đó, Người đảm nhận nơi mình, không phải chỉ gánh nặng của dân tộc mình, mà là gánh nặng của tất cả nhân loại đang đau khổ dưới sự cưỡng bức của sự dữ và đòng thời đem tất cả những điều đó đến trái tim của chính Thiên Chúa, trong xác tín rằng tiếng kêu thét của Người sẽ được lắng nghe vào dịp Phục Sinh:
- “tiếng kêu thét trong thời điểm bị giao động tận cùng là đồng thời lòng xác tín Thiên Chúa sẽ trả lời, xác tín sự giải thoát không những cho chính Chúa Giêsu, mà cho “nhiều người” (Gesù di Nazareth II,239-240).
Trong lời cầu nguyện nầy của Chúa Giêsu gồm tóm cả lòng tin cậy và phó thác trong tay Thiên Chúa, ngay cả khi chúng ta có cảm tưởng rằng Người khiếm diện, rằng Người vẫn ở trong thinh lặng, đang đi theo một đồ án, mà đối với chúng ta không thể hiểu được.
Trong Sách Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo chúng ta đọc được như sau:
- “Trong tình yêu cứu độ luôn luôn hiệp nhứt Người với Chúa Cha, Chúa Giêsu đã đảm nhận chúng ta trong trạng thái chúng ta tách rời Thiên Chúa do tội lỗi, đến nỗi có thể nói thay cho chúng ta trên thập giá:
- “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con, tại sao Chúa lại bỏ con” (n. 603).
Sự đau khổ của Người là sự đau khổ thông hiệp với chúng ta và cho chúng ta, thoát xuất từ tình yêu thương và đã mang nơi mình sự cứu độ, sự chiến thắng của tình yêu.
Những người hiện diện lúc đó dưới thập giá không thể hiểu được và tưởng rằng tiếng kêu của Người là lời van xin đối với ngôn sứ Elia. Trong một bối cảnh đầy kích động, họ tìm cách lẫn tránh Chúa Giêsu để kéo dài cuộc sống và để xem coi Elia có đến tiếp cứu Người không. Nhưng rồi một tiếng la lớn lên kết thúc cuộc đời trần thế của Chúa Giêsu và cả sự mong đợi của họ.
Trong giây phút tận cùng, Chúa Giêsu để cho trái tim mình diễn tả sự đau khổ, nhưng đồng thời cũng để phát hiện ra sự hiện diện của Chúa Cha và sự đồng tâm của Chúa Giêsu vào đồ án cứu độ nhân loại của Người.
Cả chúng ta, chúng ta luôn luôn gặp phải và tiếp tục gặp “ngay cả ngày hôm nay” đau khổ và sự thinh lặng của Thiên Chúa - chúng ta nói lên nhiều lần trong lời cầu nguyện của chúng ta - nhưng chúng ta cũng gặp được “ngay cả ngày hôm nay” biến cố Phục Sinh, sự đáp ứng của Thiên Chúa, Đấng đã đảm nhận lấy nơi Mình những đau khổ của chúng ta, để cùng gánh lấy chung với chúng ta và cho chúng ta niềm hy vọng vững chắc rằng những bất hạnh đó sẽ bị bại trận (cfr Lett. enc. Spe salvi,15-20).
Các bạn thân mến, trong cầu nguyện, chúng ta đem đến Chúa các thập giá hằng ngày của chúng ta, trong xác tín vững chắc rằng Người hiện diện và lắng nghe chúng ta.
Tiếng kêu lên của Chúa Giêsu nhắc chúng ta nhớ thế nào trong cầu nguyện, chúng ta phải vượt lên trên biên giới “cái tôi” của chúng ta và của các vấn đề của chúng ta, mở rộng chúng ta ra đến các nhu cầu và đau khổ của người khác.
Lời cầu nguyện của Chúa Giêsu hấp hối trên thập giá dạy chúng ta cầu nguyện với tình yêu cho bao nhiêu anh chị em khác đang cảm nhận sức nặng nhọc của đời sống hằng ngày, đang sống trong những lúc khó khăn, đang đau khổ, không có được một lời nâng đỡ.
Chúng ta hãy mang tất cả những điều đó đến trái tim Chúa, như vậy anh chị em đó cũng cảm nhận được tình yêu của Chúa không bao giờ bỏ rơi chúng ta.
Cám ơn Anh Chị Em.
Phỏng dịch từ nguyên bản Ý Ngữ: Nguyễn Học Tập.
(Thông tấn www.vatican.va, 08.02.2012).
admin
17-02-2012, 04:53 AM
BÀI GIÁO LÝ NGÀY THỨ TƯ (8A 7)
Thính phòng Phaolồ VI, buổi yết kiến ngày thứ tư, 15.02.2012.
Lời cầu nguyện của Chúa Giêsu trước cái chết gần kề.
ĐỨC THÁNH CHA BENEDICTUS XVI
Anh Chị Em thân mến,
trong con đường học hỏi cầu nguyện của chúng ta, thứ tư vừa qua, tôi đã đề cập đến lời cầu nguyện của Chúa Giêsu trên Thánh Giá, được lấy ra từ Thánh Vịnh 22:
- “Lạy Chúa, lạy Chúa của con sao Chúa lại bỏ con ? ",
giờ đây tôi muốn được tiếp tục suy niệm về lời cầu nguyện của Chúa Giêsu trên Thánh Giá, trước cái chết gần kề. Tôi muốn được dừng lại hôm nay trước đoạn tường thuật mà chúng ta gặp được trong Phúc Âm Thánh Luca.
Tác giả Phúc Âm đã để lại cho chúng ta ba câu nói của Chúa Giêsu, mà hai trong ba câu đó - câu thứ nhứt và câu thứ ba - là những lời cầu nguyện hướng về Chúa Cha một cách rõ ràng.
Câu thứ hai trái lại, gồm các lời nói được nói lên cho người trộm lành, bị đóng đinh cùng với Người, thật vậy, để đáp ứng lại lời cầu nguyện của kẻ trộm. Chúa Giêsu bảo đảm với anh
- “Ta nói thật với anh, ngày hôm nay anh sẽ ở với Ta trên thiên đàng” (Lc 23,43).
Như vậy trong đoạn tường thuật của Thánh Luca hai lời cầu nguyện của Chúa Giêsu đang hấp hối lên Chúa Cha đan kết một cách có ý nghĩa với sự đón nhận lời khẩn cầu của người tội lỗi thống hối van xin với Người.
Chúa Giêsu kêu cầu Chúa Cha và đồng thời đón nhận lời cầu nguyện của người, mà thường được gọi là “người trộm thống hối” (latro poenitens).
1 - Chúng ta hãy dừng lại với ba lời cầu nguyện đó của Chúa Giêsu.
Lời cầu nguyện thứ nhứt được thốt lên liền sau khi chịu đóng đinh trên thập giá, khi lính tráng đang chia nhau y phục của Người, như là phần trang trải đối với những gì họ đã phục vụ.
Trong một ý nghĩa nào đó, với động tác vừa kể, hành động đóng đinh được coi là đã kết thúc. Thánh Luca viết
- “Khi đến nơi gọi là “Đồi Sọ", họ đóng đinh Người vào thập giá và cùng lúc với hai tên gian phi, một bên phải, một bên trái. Bấy giờ Chúa Giêsu thốt lên rằng: “Lạy Cha, xin tha cho họ vì họ không biết việc họ làm. Rồi họ lấy y phục của Người chia ra mà bắt thăm” (Lc 23,33-34).
Lời cầu nguyện thứ nhứt mà Chúa Giêsu dâng lên Chúa Cha, đó là lời cầu nguyện can thiệp: Người can thiệp cho những kẻ sát hại Người. Với thái độ đó, Chúa Giêsu chính mình đứng ra thực hiện nhưng gì Người đã giảng dạy trong bài giảng trên núi, khi Người nói:
- “Thầy nói với anh em là những người đang nghe Thầy đây: hãy yêu thương kẻ thù và làm ơn cho kẻ ghét anh em” (Lc 6,27).
Và Người cũng hứa với những ai biết tha thứ:
- “Phần thưởng của anh em sẽ lớn lao, và anh em sẽ là con Đấng Tối Cao” (Lc 6,35).
Giờ đây trên thập giá, không những Người tha thứ những kẻ sát hại Người, mà còn trực tiếp thưa với Chúa Cha để can thiệp cho họ.
Thái độ vừa kể của Chúa Giêsu gặp được cách hành xử “ bắt chước” thật cảm động trong cuộc Thánh Stephano bị ném đá, vị Thánh tử đạo tiên khởi. Thật vậy, Stephano, khi giây phút tận cùng gần kề,
- “ngài quì xuống, kêu lớn tiếng lên: “Lạy Chúa, xin đừng chấp họ tội nầy”, Nói xong rồi, ngài an nghỉ” (Act 7,60), đó là lời nói cuối cùng của Stephano.
So sánh lời cầu nguyện xin tha thứ của Chúa Giêsu và của vị Thánh Tử Đạo đầu tiên, chúng ta thấy thật là ý nghĩa.
Thánh Stephano nguyện cầu lên Chúa Phục Sinh và xin rằng việc ám sát ngài - động tác được xác định rõ ràng với cách diễn tả “tội nầy” - không bị quy trách cho những kẻ ném đá ngài.
Chúa Giêsu trên thập giá van xin cùng Chúa Cha và không những xin tha cho những kẻ đóng đinh Người, mà còn nói lên ý kiến của Người về những gì đang xảy ra. Thật vậy, theo các lời nói lên của Người, những kẻ đóng đinh Người “không biết việc họ làm” (Lc 23,34), nghĩa là Người đặt sự dốt nát, việc “không biết", như là lý do để xin Chúa Cha tha thứ cho, bởi vì điều dốt nát đó còn để con đường được mở ra cho sự sám hối, như thật ra đó là những gì được nói lên trong các lời của viên đội trưởng, khi Chúa Giêsu chết:
- “Người nầy đích thực là người công chính” (Lc 23,47), là Con Thiên Chúa.
- “Đây thật là một điều an ủi cho mọi thời đại và mọi người, sự kiện Chúa, đối với những người thực sự không biết - các kẻ sát hại Người - cũng như những người biết nhưng vẫn kết án Người, tất cả đều đặt dưới sự không thấu hiểu như là nguyên cớ để xin tha thứ - Người thấy đó như là cánh cửa có thể mở ra con đường sám hối cho chúng ta” (Gesù di Nazareth, II,233).
2 - Câu nói thứ hai của Chúa Giêsu trên thập giá được Thánh Luca ghi lại, là một câu nói đầy hy vọng.
Đó là lời đáp ứng lại lời cầu xin của một trong hai người cùng bị đóng đinh với Người.
Người trộm lành, trước mặt Chúa Giêsu, trở lại với chính mình và hối hận, nhận thức rằng mình đang ở trước mặt Con Thiên Chúa, làm cho Diện Mạo của chính Thiên Chúa được tỏ hiện, và anh cầu nguyện:
- “Lạy Chúa Giêsu, khi Chúa vào Nước của Chúa, xin nhớ đến con” (Lc 23,42).
Đáp ứng của Chúa Giêsu đối với lời cầu nguyện nầy vượt qua bên kia những gì là lời cầu nguyện van xin. Thật vậy, Người nói:
- “Ta bảo thật anh, hôm nay anh sẽ được ở với Ta trên Thiên Đàng” (Lc 23,43).
Chúa Giêsu xác tín rằng mình đang trực tiếp hiệp thông cùng Chúa Cha và đang mở lại cho con người con đường vào Thiên Đàng của Thiên Chúa.
Như vậy, qua câu trả lời nầy,Người nói lên niềm hy vọng vững chắc rằng lòng tốt lành của Thiên Chúa có thể chạm đến chúng ta ngay cả trong giây phút cuối cùng của cuộc sống và lời cầu nguyện thành thật, ngay cả sau một cuộc sống sai trái, sẽ gặp được đôi tay mở rộng của Chúa Cha tốt lành, đang đợi đứa con trở về.
3 - Nhưng chúng ta hãy dừng lại ở những lời cuối cùng của Chúa Giêsu đang hấp hối.
Tác giả Phúc Âm thuật lại:
- “Bấy giờ đã gần đến trưa và bóng tối bao phủ khắp mặt đất cho đến ba giờ chiều, bởi vì mặt trời ngưng chiếu sáng. Bức màn trướng trong đền thờ bị xé ngay chính giữa. Chúa Giêsu kêu lên lớn tiếng: “Lạy Cha, con phó thác hồn con trong tay Cha". Nói xong, Người tắt thở” (Lc 23,44-46).
Một vài khía cạnh của đoạn tường thuật nầy khác với những gì Thánh Marco và Thánh Matthêu cung hiến cho chúng ta.
Ba giờ trời tăm tối không được ghi lại trong Phúc Âm Thánh Marco, trong khi đó thì các giờ tăm tối đó có liên quan đến một chuỗi các biến cố ngày tận thế, như động đất, mồ mả mở ra, kẻ chết sống lại (Mt 27,51-53).
Trong Phúc Âm Thánh Luca các giờ tăm tối có nguyên do nhật thực, nhưng trong lúc đó cũng xảy ra biến cố màn trướng trong đền thờ bị xé ra. Diễn tả như vậy, đoạn tường thuật của Thánh Luca nói lên hai dấu chỉ, một cách nào đó song song nhau, trên trời và trong đền thờ. Trời mất đi ánh sáng, đất bị chìm ngập trong bóng tối, trong khi đó thì nơi đền thờ, nơi Thiên Chúa hiện diện, màn trướng bảo vệ thánh cung bị rách ra. Cái chết của Chúa Giêsu được thể hiện rõ ràng như là một biến cố vũ trụ và phụng vụ, nhứt là cho thấy một thời điểm phụng tự mới được bắt đầu, đền thờ không phải do con người xây cất nên nữa, bởi vì Đền Thờ đó là Thân Thể của chính Chúa Giêsu chết đi và phục sinh, quy tựu và kết hợp các dân nước trong Bí tích Mình và Máu Người.
Lời cầu nguyện của Chúa Giêsu trong giây phút đau khổ nầy- “ Lạy Cha, con phó linh hồn con trong tay Cha” - là tiếng kêu lớn của việc phó thác tuyệt đỉnh và hoàn toàn vào Thiên Chúa. Lời cầu nguyện đó nói lên lòng hoàn toàn ý thức mình không bị bỏ rơi. Lời kêu gọi được khởi đầu - “Lạy Cha” - nhắc lại lời tuyên bố đầu tiên của Người lúc còn thiếu niên, mười hai tuổi. Lúc đó Chúa Giêsu ở lại ba ngày trong đền thờ Giêrusalem, mà màn trướng bấy giờ bị rách ra. Và khi cha mẹ tỏ ra lo lắng, Chúa Giêsu trả lời:
- “Sao cha mẹ lại tìm con? Cha mẹ không biết là con có bổn phận ở nhà của Cha con sao ?” (Lc 2,49).
Từ lúc khởi đầu cho đến cuối, điều xác nhận hoàn toàn cảm nhận của Chúa Giêsu, lời nói, động tác của Người, là mối liên hệ độc nhứt với Chúa Cha.
Trên thập giá, Người sống trọn hảo, trong tình yêu, mối liên hệ con cái nầy với Thiên Chúa, thúc đẩy Người cầu nguyện.
Những lời được Chúa Giêsu thốt ra, sau lời kêu lên “ Lạy Cha", là những gì lấy lại của Thánh Vịnh 31:
- “Trong tay Ngài, con xin phó thác hồn con” (Ps 31,6).
Tuy nhiên những lời thốt lên đó không phải chỉ là trích dẫn suông, nhưng là những gì nói lên một quyết định chắc chắn. Chúa Giêsu “phó thác” mình cho Chúa Cha trong một động tác hoàn toàn từ bỏ chính mình. Những lời nầy là một lời câu cầu nguyện “uỷ thác” vào tình yêu Thiên Chúa.
Lời cầu nguyện của Chúa Giêsu trước cái chết thật thảm đạm cũng như của mỗi con người, nhưng đồng thời cũng tràn ngập lòng yên tĩnh sâu đậm, được nảy sinh ra từ lòng tin cậy vào Chúa Cha và từ ý chí giao phó mình hoàn toàn cho Người, như trong vườn Giêtsêmani, khi bước vào cuộc chiến đấu cuối cùng và vào lúc cầu nguyện đầy tâm huyết nhứt và khi “sắp bị giao nộp trong tay người ta” (Lc 9,44), mồ hôi Người trở thành “những giọt máu rơi xuống đất” (Lc 22,44), tâm hồn Người vẫn hoàn toàn vâng lời ý muốn Chúa Cha, và bởi đó “có một thiên thần từ trời hiện đến tăng sức cho Người” (Lc 22,42-43).
Giờ đây, trong những giây phút cuối cùng, Chúa Giêsu hướng về Chúa Cha bằng cách nói lên bàn tay nào là những bàn tay mà Người uỷ thác tất cả sự sống của Người.
Trước khi bắt đầu khởi hành cho chuyến đi hướng về Giêrusalem, Chúa Giêsu nhấn mạnh với các môn đệ:
- “Anh em hãy để tâm lắng nghe nhưng lời sau đây: Con Người sắp bị nộp vào tay người đời” (Lc 9,44).
Giờ đây, sự sống sắp bỏ rơi Người, Chúa Giêsu đóng ấn vào lời cầu nguyện quyết định cuối cùng của Người: Chúa Giêsu để cho mình bị nộp vào tay người đời, nhưng trong tay Chúa Cha Người đặt để linh hồn của Người; như vậy - như Thánh Gioan tác giả Phúc Âm xác nhận - mọi việc đã hoàn tất, động tác tình yêu tối thượng đã được thực hiện đến kết thúc, đến hết giới hạn và cả bên kia giới hạn.
Anh Chị Em thân mến, các lời của Chúa Giêsu trên thập giá trong những giây phút cuối cùng của cuộc sống trần gian ban tặng cho chúng ta những định hướng quan trọng lúc cầu nguyện của chúng ta, nhưng cũng mở ra một lòng tin cậy thanh thoảng và một niềm hy vọng vững chắc.
Chúa Giêsu xin Chúa Cha tha cho những kẻ đang đóng đinh Người,
- Người mời gọi chúng ta hãy có một động tác thật khó khăn để cầu nguyện cho cả những kẻ làm điều sai trái đối với chúng ta, làm thiệt hại cho chúng ta, bằng cách luôn luôn biết tha thứ, để cho ánh sáng của Chúa có thể soi sáng tâm hồn họ;
- mời gọi chúng ta sống, trong động tác cầu nguyện của mình, cũng cùng thái độ nhân lành và yêu thương mà Chúa đối xử với chúng ta: “xin tha nợ cho chúng con, như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con ", mà chúng ta nói lên hằng ngày trong kinh “Lạy Cha";
- đồng thời, Chúa Giêsu, trong giây phút tận cùng của cái chết phó thác mình hoàn toàn vào tay Chúa Cha, thông ban cho chúng ta lòng xác tín vững chắc, cho dầu các thử thách có cứng rắn đến đâu, các vấn đề có khó khăn đến đâu, đau khổ có nặng nề đến đâu, chúng ta không bị rơi ra khỏi bàn tay của Thiên Chúa, những bàn tay đó đã tạo dựng nên chúng ta, nâng đỡ chúng ta và cùng đồng hành với chúng ta trong cuộc sống, bởi vì là những bàn tay được tình yêu vô tận và trung thành hướng dẫn.
Cám ơn Anh Chị Em.
Phỏng dịch từ nguyên bản Ý Ngữ: Nguyễn Học Tập.
(Thông tấn www.vatican.va (http://www.vatican.va/), 15.02.2012).
admin
16-03-2012, 08:55 AM
“Việc tôn kính Mẹ của Chúa Giêsu trong Hội Thánh có nghĩa là học từ Mẹ để trở thành một cộng đồng cầu nguyện.”
Dưới đây là bản dịch bài Giáo Lý thứ 29 về cầu nguyện của ĐTC Bênêđictô XVI ban hành trong buổi triều yết chung ngày Thứ Tư 14 tháng 3 năm 2012 tại Quảng Trường Thánh Phêrô. Lần này ĐTC bắt đầu loạt bài giáo lý về cầu nguyện trong Sách Tông Đồ Công Vụ và các Thư của Thánh Phaolô, đặt trọng tâm bài suy niệm này vào sự hiện diện trong cầu nguyện của Đức Mẹ giữa các Tông Đồ.
<center>* * * * *</center>
Anh chị em thân mến,
Với bài Giáo Lý hôm nay, tôi muốn bắt đầu nói về việc cầu nguyện trong Sách Tông Đồ Công Vụ và các Thư của Thánh Phaolô. Như chúng ta biết, Thánh Luca đã cho chúng ta một trong bốn sách Tin Mừng, dành riêng cho cuộc đời trần thế của Chúa Giêsu; nhưng ngài cũng để lại cho chúng ta một sách được gọi là sách đầu tiên về lịch sử Hội Thánh, Sách Tông Đồ Công Vụ. Trong hai sách này, một trong những yếu tố được lập lại nhiều lần là cầu nguyện, từ cầu nguyện của Chúa Giêsu đến cầu nguyện của Đức Mẹ Maria, của các môn đệ, các phụ nữ và cộng đồng Kitô hữu. Con đường ban đầu của Hội Thánh được đánh dấu cách nhịp nhàng bằng tác động của Chúa Thánh Thần, là Đấng biến đổi các Tông Đồ thành những chứng nhân của Đức Kitô Phục Sinh cho đến đổ máu của mình, cùng việc lan tràn nhanh chóng của Lời Chúa ở Đông Phương và Tây Phương. Tuy nhiên, trước khi việc công bố Tin Mừng được lan tràn, Thánh Luca ghi lại câu chuyện Lên Trời của Chúa Phục Sinh (x. Cv 1,6-9). Chúa đã ban cho các môn đệ chương trình của Người về cuộc đời của các ngài, là hiến thân để rao giảng Tin Mừng. Người nói: “Các con sẽ nhận được quyền năng khi Chúa Thánh Thần ngự xuống trên các con. Và các con sẽ là nhân chứng của Thầy tại Giêrusalem, trong khắp xứ Giuđêa, cùng Samaria và đến tận cùng trái đất” (Cv 1:8). Ở Giêrusalem, vì sự phản bội của Giuđa Iscariot, các Tông Đồ chỉ còn mười một vị, đã họp nhau trong nhà để cầu nguyện, và chính trong cầu nguyện mà các ngài đón chờ hồng ân mà Đức Kitô Phục Sinh đã hứa là Chúa Thánh Thần.
Trong bối cảnh chờ đợi này, giữa thời gian Chúa Lên Trời và Lễ Ngũ Tuần, lần cuối cùng Thánh Luca đề cập đến Đức Mẹ Maria, Mẹ Chúa Giêsu, và các anh em của Người (câu 14). Ngài đã dành phần đầu Tin Mừng của ngài cho Đức Mẹ Maria, từ việc thiên thần truyền tin cho đến việc ra đời và thời thơ ấu của Con Thiên Chúa làm người. Chính với Đức Mẹ Maria mà cuộc đời trần thế của Chúa Giêsu bắt đầu, thì cũng với Đức Mẹ Maria mà những bước đầu tiên của Hội Thánh đã bắt đầu. Trong cả hai trường hợp, bầu khí là là bầu khí lắng nghe Thiên Chúa và suy niệm. Cho nên hôm nay tôi muốn ngừng lại ở sự hiện diện trong cầu nguyện này của Đức Trinh Nữ Maria giữa các môn đệ, là những người sẽ trở thành Hội Thánh sơ khai đầu tiên.
Đức Mẹ Maria đã âm thầm đi theo suốt cuộc hành trình của Con Mẹ trong sứ vụ công khai, ngay cả cho đến chân Thánh Giá. Và giờ đây Mẹ tiếp tục âm thầm cầu nguyện mà đi theo con đường của Hội Thánh. Trong lúc Truyền Tin trong ngôi nhà ở Nazareth, Đức Mẹ Maria đã đón chào sứ thần của Thiên Chúa; Mẹ chú tâm đến những lời của ngài; Mẹ đón nhận những lời ấy và đáp lại chương trình của Thiên Chúa, như thế bày tỏ lòng hoàn toàn sẵn sàng của Mẹ: “Này tôi là tôi tớ Chúa, xin làm cho tôi theo ý Ngài” (x. Lc 1:38). Nhờ thái độ lắng nghe nội tâm mà Đức Mẹ có thể giải thích lịch sử của mình và khiêm tốn thừa nhận rằng chính Chúa là Đấng hành động.
Trong chuyến thăm viếng người chị họ của Mẹ là bà Elizabeth, Mẹ thốt lên một kinh nguyện ngợi khen và hân hoan, mừng ân sủng của Thiên Chúa là điều tràn đầy tâm hồn và cuộc đời Mẹ, làm cho Mẹ trở thành Mẹ Chúa (x. Lc 1:46-55). Ngợi khen, tạ ơn, vui mừng: trong bài thánh thi Magnificat (Kinh Ngợi Khen), Đức Mẹ Maria không những chỉ nhìn vào những gì Thiên Chúa đã thực hiện nơi Mẹ, mà còn cả những gì Ngài đã làm và luôn làm trong lịch sử. Thánh Ambrôsiô, trong một bài chú giải nổi tiếng về kinh Magnificat, mời gọi chúng ta có cùng một tinh thần cầu nguyện khi ngài nói: “Chớ gì tâm hồn của Đức Mẹ Maria ở trong mỗi người trong anh em để ca ngợi Chúa; và chớ gì tinh thần của Đức Mẹ Maria ở trong mỗi người trong anh em để vui mừng trong Thiên Chúa” (Expositio Evangelii secundum Lucam 2 , 26: PL 15, 1561).
Ngay cả trong Phòng Tiệc Ly ở Giêrusalem, trong “căn phòng trên lầu”, nơi các môn đệ của Chúa Giêsu “thường cư ngụ” (x. Cv 1:13), Mẹ hiện diện trong bầu không khí lắng nghe và cầu nguyện, trước khi những cánh cửa mở tung ra và các ngài bắt đầu rao giảng Đức Kitô cho muôn dân, dạy họ tuân giữ tất cả những gì mà Người đã truyền (x. Mt 28:19-20). Các giai đoạn của cuộc hành trình của Đức Mẹ Maria, từ ngôi nhà ở Nazareth đến Giêrusalem, qua Thập Giá, nơi Con Mẹ trao Mẹ cho Thánh Gioan Tông Đồ, được đánh dấu bằng khả năng duy trì một bầu không khí hồi tưởng liên tục, để Mẹ có thể suy đi nghĩ lại mỗi biến cố trong thinh lặng của tâm hồn mình trước mặt Thiên Chúa (x. Lc 2:19-51) và suy niệm trước Thiên Chúa, cũng như hiểu được Thánh Ý Thiên Chúa và như thế có thể chấp nhận Thánh Ý này trong lòng. Vì vậy, sự hiện diện của Mẹ Thiên Chúa với Nhóm Mười Một, sau khi Chúa Lên Trời, không phải chỉ là một ghi chú lịch sử về một điều trong quá khứ, nhưng có một ý nghĩa có giá trị lớn lao, bởi vì Mẹ chia sẻ với các ngài những gì là gia sản quý giá nhất: ký ức sống động về Chúa Giêsu, trong cầu nguyện; và Mẹ chia sẻ sứ mệnh này của Chúa Giêsu: gìn giữ những kỷ niệm về Chúa Giêsu và như thế giữ gìn sự hiện diện của Người.
Việc đề cập cuối cùng về Đức Mẹ Maria trong hai tác phẩm của Thánh Luca xảy ra vào ngày Sabáth: ngày nghỉ ngơi sau việc tạo dựng của Thiên Chúa, ngày im lặng sau cái chết của Chúa Giêsu và mong đợi sự Phục Sinh của Người. Truyền thống kính Đức Mẹ vào ngày thứ Bảy được bắt nguồn từ biến cố này. Giữa ngày Lên Trời của Đấng Phục Sinh và ngày Lễ Hiện Xuống đầu tiên của Kitô giáo, các Tông Đồ và Hội Thánh quây quần quanh Đức Mẹ Maria để cùng Mẹ chờ đợi hồng ân Chúa Thánh Thần, mà nếu không có hồng ân ấy thì người ta không thể trở thành nhân chứng. Mẹ đã nhận được Ngài để Mẹ có thể hạ sinh Ngôi Lời Nhập Thể, thông phần với toàn thể Hội Thánh trong việc mong đợi cùng một hồng ân ấy, ngõ hầu “Đức Kitô được hình thành” (x. Gal 4,19) trong tâm hồn mỗi tín hữu. Nếu không có Hội Thánh mà không có lễ Hiện Xuống, thì cũng không có lễ Hiện Xuống mà không có Mẹ Chúa Giêsu, vì Mẹ đã sống một cách hoàn toàn độc đáo điều mà Hội Thánh trải qua mỗi ngày dưới tác động của Chúa Thánh Thần. Thánh Chrômatiô thành Aquilêia chú giải về Sách Tông Đồ Công Vụ rằng: “Hội Thánh kết hợp trong phòng trên lầu với Đức Mẹ Maria, Mẹ Chúa Giêsu, và với anh em của Người. Cho nên, một người không thể nói về Hội Thánh, trừ khi có sự hiện diện của Đức Mẹ Maria, Mẹ của Chúa ... Nơi nào mầu nhiệm Nhập Thể của Đức Kitô từ lòng Đức Trinh Nữ được rao giảng thì nơi đó có Hội Thánh của Đức Kitô, và nơi nào các Tông Đồ, là anh em của Chúa, giảng dạy, thì nơi đó người ta được nghe Tin Mừng” (Sermo 30, 1: SC 164, 135).
Công đồng Vatican II đã muốn nhấn mạnh cách đặc biệt đến mối dây liên hệ được biểu lộ rõ ràng trong việc Đức Mẹ Maria và các Tông Đồ cùng nhau cầu nguyện, ở cùng một nơi, trong lúc chờ đợi Chúa Thánh Thần. Hiến Chế Tín Lý Lumen Gentium xác định rằng: “Vì Thiên Chúa không muốn tỏ bày mầu nhiệm cứu rỗi nhân loại cách long trọng trước khi Ngài đổ tràn Thánh Thần mà Đức Kitô đã hứa, cho nên chúng ta thấy các Tông Ðồ trước ngày Hiện Xuống ‘đã kiên tâm hiệp ý cầu nguyện, cùng với các phụ nữ, với Ðức Maria, Mẹ Chúa Giêsu, và với anh em Người’ (Cv 1:14). Ðức Maria cũng tha thiết cầu xin Thiên Chúa ban Chúa Thánh Thần, là Ðấng đã bao phủ Mẹ trong ngày Truyền Tin.” (số 59). Chỗ đặc biệt của Đức Mẹ là Hội Thánh, ở đó “Mẹ được công nhận là phần tử ưu việt và tuyệt đối độc đáo..., và là kiểu mẫu và gương mẫu tuyệt vời về đức tin và đức ái của Hội Thánh” (nt., số 53).
Như thế, việc tôn kính Mẹ của Chúa Giêsu trong Hội Thánh có nghĩa là học từ Mẹ để trở thành một cộng đồng cầu nguyện: đó là một trong những đặc điểm thiết yếu trong mô tả đầu tiên về cộng đồng Kitô hữu được nêu lên trong Sách Tông Đồ Công Vụ (x. 2: 42). Thường thì cầu nguyện được định đoạt bởi những tình trạng khó khăn, những vấn đề cá nhân làm cho chúng ta chạy đến Chúa để tìm ánh sáng, sự an ủi và giúp đỡ. Đức Mẹ Maria mời gọi chúng ta mở rộng những chiều kích của cầu nguyện, hướng về Thiên Chúa không phải chỉ trong những lúc cần thiết, và không phải chỉ cho bản thân mình, nhưng còn một cách trọn vẹn, kiên trì và trung thành, với “một lòng và một linh hồn” (x. Cv 4,32).
Các bạn thân mến, cuộc đời con người trải qua những giai đoạn chuyển tiếp khác nhau, thường rất khó khân và đòi hỏi, là những điều đòi buộc phải có sự lựa chọn bắt buộc, từ bỏ và hy sinh. Mẹ Chúa Giêsu đã được Chúa đặt trong những giây phút quyết định của lịch sử cứu độ, và Mẹ đã luôn biết phải đáp ứng thế nào với một tâm hồn hoàn toàn sẵn sàng, kết quả của một mối liên hệ mật thiết với Thiên Chúa trong cầu nguyện chuyên cần và sốt sắng. Giữa Thứ Sáu tuần Thương Khó và Chúa Nhật Phục Sinh, người môn đệ Chúa yêu, và cùng với ngài toàn thể cộng đồng các môn đệ được trao phó cho Mẹ (x. Ga 19:26). Giữa ngày Chúa Lên Trời và ngày Lễ Hiện Xuống, người ta tìm thấy Mẹ cầu nguyện với và trong Hội Thánh (x. Cv 1:14). Như Mẹ Thiên Chúa và Mẹ Hội Thánh, Đức Mẹ Maria thực thi tình mẫu tử của Mẹ cho đến khi kết thúc lịch sử. Chúng ta hãy phó thác cho Mẹ mọi giai đoạn của đời sống cá nhân và Hội Thánh, kể cả giờ phút cuối cùng của chúng ta. Đức Mẹ Maria dạy chúng ta sự cần thiết của cầu nguyện, và cho chúng ta thấy rằng chỉ nhờ mối liên hệ không ngừng, mật thiết, đầy yêu thương với Con Mẹ mà chúng ta có can đảm rời “ngôi nhà của mình”, là chính mình, để đi đến tận cùng trái đất mà rao giảng Chúa Giêsu, Đấng Cứu Độ thế gian. Cám ơn anh chị em.
Phaolô Phạm Xuân Khôi chuyển ngữ
http://vietcatholic.com/News/Html/96447.htm
admin
16-03-2012, 02:52 PM
BÀI GIÁO LÝ NGÀY THỨ TƯ (8A 10)
Công trường Thánh Phêrô, buổi yết kiến ngày thứ tư 14.03.2010.
CẦU NGUYỆN TRONG SÁCH TÔNG ĐỒ CÔNG VỤ VÀ TRONG CÁC THƯ THÁNH PHAOLỒ.
ĐỨC THÁNH CHA BENEDICTUS XVI
Anh Chị Em thân mến,
với bài giáo lý hôm nay, tôi muốn được bắt đầu nói về cầu nguyện trong Sách Tông Đồ Công Vụ (Act.) và trong các Thư của Thánh Phaolồ.
Thánh Luca đã để lại cho chúng ta, như chúng ta biết, một trong bốn sách Phúc Âm, dành riêng nói về cuộc đời trần thế của Chúa Giêsu, nhưng ngài cũng để lại cho chúng ta quyển được định nghĩa là quyển sách đầu tiên về lịch sử Giáo Hội, tức là Sách Tông Đồ Công Vụ.
Trong cả hai Quyển Sách vừa kể, một trong những yếu tố thường được gặp đó chính là cầu nguyện, từ lời cầu nguyện của Chúa Giêsu đến cầu nguyện của Mẹ Maria, của các môn đệ, của các người phụ nữ và của cộng đồng Kitô giáo.
Cuộc hành trình đầu tiên Giáo Hội được diễn tả cùng đồng nhịp với động tác của Chúa Thánh Thần, chuyển đổi các môn đệ thành những nhân chứng, ngay đến cả việc đổ máu mình, và đồng nhịp với biến cố loan truyền mau chóng Lời Chúa về phía Đông và phía Tây.
Tuy nhiên, trước khi lời loan báo Phúc Âm được phổ biến, Thánh Luca ghi lại biến cố Thăng Thiên của Chúa Phục Sinh (Act 1,6-9).
Đối với các môn đệ, Chúa trao cho các vị chương trình cuộc sống của các vị được dành cho việc rao giảng Phúc Âm và nói:
- “Anh em sẽ nhận được Chúa Thánh Thần, khi Người ngự xuống trên anh em. Bấy giờ anh em sẽ là chứng nhân của Thầy tại Giêrusalem, trong khắp các miền Giuđêa, Samaria và cho đến tận cùng trái đất” (Act 1,8).
Ở Giêrusalem, khi các Tông Đồ chỉ còn lại Mười Một Người, vì sự phản bội của Giuda Iscariota, các vị quy tựu hợp nhau trong nhà để cầu nguyện và chính trong khi cầu nguyện mà các vị chờ đợi ơn đã được Chúa Kitô Phục Sinh hứa, đó là Chúa Thánh Thần.
1 - Trong bối cảnh chờ đợi đó, giữa Thăng Thiên và Hiện Xuống, Thánh Luca đề cập đến lần cuối cùng về Mẹ Maria, Mẹ Chúa Giêsu, và các người thân quyến trong gia đình :
- “Tất cả các ông đều đồng tâm nhất trí, chuyên cầu nguyện cùng với mấy người phụ nữ, với bà Maria Thân Mẫu Chúa Giêsu, và với anh em của Chúa Giêsu” (Act 1,14).
Thánh Luca đã dành phần đầu Phúc Âm ngài cho Mẹ Maria, từ lúc Thiên Thần truyền tin cho đến lúc sinh ra và thời thơ ấu của Con Thiên Chúa làm người.
Với Mẹ Maria cuộc sống trần thế của Chúa Giêsu được bắt đầu và cùng với Mẹ Maria những bước chân đầu tiên của Giáo Hội cũng được khởi đầu.
Trong cả hai thời điểm đó, bầu không khí là việc lắng nghe Lời Chúa, là tập trung chú ý.
Bởi đó, tạm thời, hôm nay tôi muốn được dừng lại trước sự hiện diện nguyện cầu của Đức Trinh Nữ trong nhóm các môn đệ, sẽ là những người cấu trúc thành Giáo Hội đang phát sinh.
Mẹ Maria đã theo dõi một cách kín đáo cuộc hành trình của Chúa Con trong cuộc đời công cộng cho đên dưới chân thập giá, và giờ đây Mẹ tiếp tục đi theo bằng cầu nguyện trong thinh lặng, con đường của Giáo Hội.
Trong lúc Truyền Tin trong căn nhà ở Nazaret, Trinh Nữ Maria đón nhận Thiên Thần Chúa, chăm chỉ đến các lời nói của ngài, đón nhận các lời nói đó và đáp ứng lại chương trình của Thiên Chúa, bằng cách tỏ ra lòng sẵn sàng của mình:
- “Vâng tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như ý Chúa muốn” (Lc 1,38).
Mẹ Maria, chính với thái độ nội tâm để lắng nghe, có khả năng đọc được lịch sử của mình, bằng cách khiêm nhường nhận biết chính Chúa tác động.
Trong lúc đi viếng người bà con Elisebeth, Mẹ Maria đã thốt lên một lời nguyện ngợi khen và hân hoan, để mừng ơn Chúa ban cho, đã làm đầy tràn tâm hồn và đời sống Mẹ, cho Mẹ trở thành Mẹ của Chúa, qua Kinh Ngợi Khen (Magnificat) (cfr Lc 1,46-55).
Ngợi khen cảm tạ và vui mừng, trong bài ca ngợi khen Magnificat, Mẹ Maria không những chỉ nhìn những gì Chúa đã tác động nơi Mẹ, mà còn cả những gì Người đã làm và còn tiếp tục làm trong lịch sử.
Thánh Ambrogio, trong một bài bình luận thời danh Lời Ca Ngợi Khen Magnificat mời gọi mọi người chúng ta hãy có cùng tinh thần trong cầu nguyện và ngài viết:
- “Ước gì trong mỗi người đều có linh hồn của Mẹ Maria để ca tung Chúa; ước gì trong mỗi người đều có tâm hồn của Mẹ Maria để vui mừng trong Chúa” (Expositio Evangelii secundum Lucam 2,26: PL 15,1561).
Cả trong nhà Tiệc Ly ở Giêrusalem, trong căn phòng ở từng trên, nơi mà các môn đệ Chúa Giêsu thường họp nhau (Act 1,13), trong một bầu không khí lắng nghe và cầu nguyện, Mẹ Maria cũng hiện diện ở đó, trước khi các cánh cửa được mở tung ra và các môn đệ bắt đầu loan báo Chúa Giêsu cho các dân nước, dạy họ tuân giữ mọi điều mà Người đã truyền dạy cho (Mt 28,19-20).
Các chặn đường cuộc hành trình của Mẹ Maria, từ căn nhà ở Nazareth đến ngôi nhà ở Giêrusalem, qua Thánh Giá nơi Con của Mẹ giao phó Tông Đồ Gioan cho Mẹ, là các chặn đường được đánh dấu bằng khả năng giữ vững lòng lòng tin cậy bền vững
- để đón nhận mỗi biến cố trong thinh lặng nơi con tim mình, trước Thiên Chúa (cfr Lc 2,19-51)
- và trong thinh lặng bằng lòng suy niệm trước Thiên Chúa ngay cả để hiểu được thánh ý Người và trở thành có khả năng đón nhận thánh ý đó vào tâm hồn mình.
Như vậy sự hiện diện của Mẹ Thiên Chúa với Nhóm Mười Một, sau khi Chúa Thăng Thiên,
- không phải chỉ là một ghi chú lịch sử đơn sơ của những gì đã qua,
- nhưng còn là một sự kiện có giá trị cao cả, bởi vì với các ngài, Mẹ Maria chia xẻ những gì rất cao quý: đó là ký ức sống động về Chúa Giêsu trong cầu nguyện: chia xẻ sứ mệnh nầy của Chúa Giêsu: đó là gìn giữ kỷ niệm đối với Chúa Giêsu và như vậy gìn giữ sự hiện diện của Người.
Dấu cuối cùng đề cập đến Mẹ Maria trong hai bản văn của Thánh Luca được đặt vào ngày thứ bảy:
- đó là ngày Thiên Chúa nghỉ ngơi sau công cuộc Sáng Tạo,
- ngày thinh lặng sau khi Chúa Giêsu chết đi và đang là thời gian trông đợi sự Phục Sinh của Người.
Chính trên giai đoạn nầy được đặt nền tảng truyền thống Thánh Maria ngày thứ bảy.
Giữa biến Thăng Thiên của Chúa Phục Sinh và Hiện Xuống Kitô giáo, các Thánh Tông Đồ và Giáo Hội quy tựu chung quanh Mẹ Maria, để cùng với Mẹ chờ đón ơn Chúa Thánh Thần, mà không có được ơn đó, không thể trở thành nhân chứng đuợc.
Mẹ đã được đón nhận Người, để sinh ra Ngôi Lời nhập thể,
Mẹ cùng chia xẻ với Giáo Hội lòng mong đợi của của chính ơn đó, để cho trong tâm hồn của mỗi tín hữu “Chúa Kitô được thành hình” (Gal 4,19).
Nếu không có Giáo Hội không có Hiện Xuống, sẽ không có Chúa Thánh Thần Hiên Xuống; cũng không có Lễ Hiện Xuống, nếu không có Mẹ Chúa Giêsu, bởi vì Mẹ đã sống một cách duy nhứt điều mà Giáo Hội có kinh nghiệm hăng ngày dưới tác động của Chúa Thánh Thần,.
Thánh Cromazio ở Aquileia đã bình luạn như sau lời ghi chú của Sách Tông Đồ Công Vụ:
- “Như vậy Giáo Hội quy tựu lại trong phòng từng trên cùng với Mẹ Maria, Mẹ Chúa Giêsu, và cùng với anh em Người. Như vậy, không thể đề cập đến Giáo Hội nếu không có Mẹ Maria hiện diện, Mẹ của Chúa...Giáo Hội của Chúa Kitô hiện diện ở đâu, nơi đó sự Nhập Thể Chúa Kitô được Đức Trinh Nữ rao giảng cho và, nơi đâu các Tông Đồ rao giảng, anh em của Chúa, nơi đó chúng ta nghe được Phúc Âm” (Sermo 30,1; SC 164,135).
2 - Công Đồng Vatican II đã muốn nhấn mạnh một cách đặc biệt mối liên hệ đó, được tỏ hiện ra cho chúng ta thấy trong cầu nguyện của Mẹ Maria và của các Tông Đồ ở cùng một nơi chốn, trong lúc chờ đợi Chúa Thánh Thần.
Hiến Chế tín lý Lumen Gentium xác nhận:
- “Vì Thiên Chúa không muốn tỏ bày mầu nhiệm cứu rỗi nhân loại cách long trọng trước khi Người đổ tràn Thánh Thần Chúa Kitô đã hứa, nên chúng ta thấy các Tông Đồ trước ngày Lễ Hiện Xuống đã kiên tâm hiệp ý cầu nguyện, cùng với các phụ nữ, với Đức Maria Mẹ Chúa Giêsu và với anh em Người (Act 1,14). và chúng ta cũng thấy được Mẹ Maria cầu xin Thiên Chúa ban Thánh Thần, là Đấng đã bao phủ Mẹ trong ngày Truyền Tin” (LG n 59).
Nơi đặc sủng dành riêng cho Mẹ Maria là Giáo Hội, Mẹ được kính chào như chi thể siêu quần hết sức đặc biệt của Giáo Hội và như mẫu mực, gương sáng phi thường của Giáo Hội ttrên phương diện đức tin và đức ái..." (id., n.53).
Tôn kính Mẹ Maria trong Giáo Hội có nghĩa là như vậy học biết được nơi Mẹ là cộng đồng cầu nguyện. Và đó là một trong những ghi chú thiết yếu trước khi diễn tả ra cộng đồng Kitô giáo được Sách Tông Đồ Công Vụ phát hoạ (Act 2,42).
Thường thi lời cầu nguyện được nói lên bởi những tình trạng khó khăn, bởi những vấn để cá nhân khiến cho con người hướng về Chúa để có được ánh sáng, an ủi và giúp đỡ.
Mẹ Maria dạy chúng ta hãy mở rộng các tầm mức của lời cầu nguyện, biết hướng về Chúa không những chỉ trong lúc cần thiết và không phải chỉ biết cầu nguyện cho chính mình, nhưng theo phương thức cùng đồng thuận, kiên trì và trung thành, bằng một con tim duy nhứt, với một tâm hồn duy nhứt:
- “Các tín hữu bấy giờ đông đảo, mà chỉ có một lòng một ý...” (Act 4,32).
Các bạn thân mến,đòi sống con người trải qua nhiều giai đoạn chuyển biến, đội khi khó khăn và đòi buộc nhiều công sức, đòi buộc phải có những sự lựa chọn không thể chần chờ, nhiều khước từ và hy sinh.
Mẹ Chúa Giêsu đã đưọc Thiên Chúa đặt trong những hoàn cảnh quyết định của lịch sử cứu rỗi và Mẹ đã luôn luôn biết đáp ứng bằng cử chỉ hoàn toàn sẵn sàng, kết quả của một mối liên hệ trưởng thành với Chúa trong kiên tâm cầu nguyện và hiểu biết.
Giữa Thứ Sáu Khổ Nạn và Chúa Nhật Phục Sinh, Mẹ đã được giao cho người môn đệ được thương mến và cùng với ngài cả cộng đồng các môn đệ (Jn 19,26).
Giữa Lễ Thăng Thiên và Lễ Hiện Xuống, Mẹ ở cùng và ở trong Giáo Hội đang cầu nguyện (Act 1,14).
Mẹ Thiên Chúa và Mẹ Giáo Hội, Mẹ Maria hành xử thiên chức làm mẹ nầy cho đến tận cùng lịch sử.
Chúng ta hãy phó thác cho Mẹ mỗi biến chuyển của đời sống cá nhân và của Giáo Hội, cả hết biến chuyển cuối cùng của chúng ta.
Xin Mẹ Maria dạy chúng con việc cần thiết của cầu nguyện và xin Mẹ chỉ cho con như là người cô đơn một mình đâu là mối liên hệ bền vững, thân tình, đầy yêu thương với Con của Mẹ, để chúng con có thể ra khỏi nhà, thoát ra khỏi chính chúng con, với lòng can đảm, để đi đến tận cùng trái đất và loan báo bất cứ ở đâu Chúa Giêsu, Đấng Cứu Độ thế giới.
Cám ơn Anh Chị Em,
Phỏng dịch từ nguyên bản Ý-Ngữ : Nguyễn Học Tập.
(Thông tấn www.vatican.va,14.03.2012) (http://www.vatican.va,14.03.2012%29).
vBulletin v3.5.2, Copyright ©2000-2012, Jelsoft Enterprises Ltd.