PDA

View Full Version : Bài đọc Kinh Sách Thường Niên Tuần III


admin
15-06-2011, 08:18 AM
TUẦN III THƯỜNG NIÊN

CHÚA NHẬT

Bài đọc 1 Đnl 18,1-22

Các thầy Lê-vi. Các ngôn sứ giả
Dưới đây là một loạt những chỉ thị về cách sống của các thầy Lê-vi. Tất cả đều thấm nhuần ý thức về Thiên Chúa, về sự hiện diện của Thiên Chúa giữa con người. Phần thứ hai của bài đọc mời ta đề cao cảnh giác đối với những việc có tính cách ma thuật.
Lời Chúa trong sách Đệ Nhị Luật.
1 Các tư tế Lê-vi, toàn thể chi tộc Lê-vi, sẽ không được chung phần và hưởng gia nghiệp với Ít-ra-en: họ sẽ sống nhờ các lễ hoả tế dâng Đức Chúa và nhờ gia nghiệp của Người. 2 Họ không có gia nghiệp giữa các chi tộc anh em: chính Đức Chúa là gia nghiệp của họ, như Người đã phán với họ.
3 Đây là quyền lợi các tư tế được hưởng trên dân, trên những người dâng bò hay chiên dê làm lễ hy sinh: người ta sẽ biếu tư tế một cái vai, hai cái hàm và cái dạ dày. 4 Anh (em) phải biếu tư tế sản phẩm đầu mùa lấy từ lúa mì, rượu mới, dầu tươi của anh (em), và từ lông chiên dê mới xén. 5 Thật vậy, Đức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), đã chọn họ trong mọi chi tộc, để họ và con cái họ ứng trực và phụng sự mọi ngày nhân danh Đức Chúa.
6 Nếu một thầy Lê-vi từ bất cứ một thành nào của anh (em) trong toàn cõi Ít-ra-en, nơi họ đang cư ngụ, đến nơi Đức Chúa chọn, mỗi khi họ muốn, 7 thì họ sẽ được phụng sự nhân danh Đức Chúa, Thiên Chúa của họ, như mọi anh em của họ là các thầy Lê-vi khác đang ứng trực tại đó trước nhan Đức Chúa ; 8 họ sẽ được ăn một phần bằng phần của những người kia, không kể tiền bán của cải cha ông để lại.
9 Khi vào đất mà Đức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), ban cho anh (em), thì anh (em) đừng học đòi những thói ghê tởm của các dân tộc ấy: 10 giữa anh (em), không được thấy ai làm lễ thiêu con trai hoặc con gái mình, không được thấy ai làm nghề bói toán, chiêm tinh, tướng số, phù thuỷ, 11 bỏ bùa, ngồi đồng ngồi cốt, chiêu hồn. 12 Thật vậy, hễ ai làm điều ấy thì là điều ghê tởm đối với Đức Chúa, và chính vì những điều ghê tởm ấy mà Đức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), đã trục xuất các dân tộc ấy cho khuất mắt anh (em). 13 Anh (em) phải sống trọn hảo với ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của anh (em). 14 Các dân tộc anh (em) sắp trục xuất ấy thì nghe những thầy chiêm tinh, thầy bói, còn anh (em) thì Đức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), không cho làm như vậy. 15 Từ giữa anh (em), trong số các anh em của anh (em), Đức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), sẽ cho xuất hiện một ngôn sứ như tôi để giúp anh (em) ; anh (em) hãy nghe vị ấy. 16 Đó chính là điều mà anh (em) đã xin với Đức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), tại núi Khô-rếp, trong ngày đại hội ; anh (em) đã nói: "Chúng tôi không dám nghe tiếng Đức Chúa, Thiên Chúa của chúng tôi nữa, chúng tôi không dám nhìn ngọn lửa lớn này nữa, kẻo phải chết." 17 Bấy giờ Đức Chúa phán với tôi: "Chúng nói phải. 18 Từ giữa anh em của chúng, Ta sẽ cho xuất hiện một ngôn sứ như ngươi để giúp chúng, Ta sẽ đặt những lời của Ta trong miệng người ấy, và người ấy sẽ nói với chúng tất cả những gì Ta truyền cho người ấy. 19 Kẻ nào không nghe những lời của Ta, những lời người ấy nói nhân danh Ta, thì chính Ta sẽ hạch tội nó. 20 Nhưng ngôn sứ nào cả gan nhân danh Ta mà nói lời Ta đã không truyền cho nói, hoặc nhân danh những thần khác mà nói, thì ngôn sứ đó phải chết."
21 Có khi anh (em) sẽ tự hỏi: "Làm sao chúng tôi biết được lời nào là lời Đức Chúa đã không phán?" 22 Nếu điều ngôn sứ nói nhân danh Đức Chúa không ứng nghiệm, không xảy ra, thì không phải là lời Đức Chúa đã phán ; ngôn sứ đã nói càn, anh (em) không phải sợ ngôn sứ ấy.

Xướng đáp Đnl 18,18 ; Lc 20,13b ; x. Ga 6,14b
X Từ giữa anh em của chúng, Ta sẽ cho xuất hiện một ngôn sứ để giúp chúng, Ta sẽ đặt những lời của Ta trong miệng Người.
* Người sẽ nói với chúng tất cả những gì Ta đã truyền.
Đ Ta sẽ phái người Con yêu dấu của Ta. Đây là vị ngôn sứ phải đến thế gian. *

Bài đọc 2

Đức Ki-tô luôn hiện diện trong Hội Thánh
Trích Hiến chế Thánh Công đồng của Công đồng Va-ti-ca-nô II về Phụng Vụ.
Đức Ki-tô luôn hiện diện trong Hội Thánh, nhất là qua các cuộc cử hành phụng vụ. Người hiện diện trong thánh lễ vì trong con người của thừa tác viên, chính Đấng giờ đây dâng mình nhờ thừa tác vụ của các linh mục, cũng là chính Đấng xưa kia đã dâng mình trên cây thập giá ; Người hiện diện cách đặc biệt dưới hình bánh và hình rượu trong bí tích Thánh Thể. Người hiện diện nhờ hiệu năng của Người trong các bí tích ; do đó, ai làm phép rửa là chính Đức Ki-tô làm phép rửa. Người hiện diện trong lời của Người, vì chính Người nói, khi người ta đọc Kinh Thánh trong Giáo Hội. Cuối cùng, Người hiện diện khi Hội Thánh khẩn cầu và đọc thánh vịnh, như chính Người đã hứa: Ở đâu có hai ba người họp lại nhân danh Thầy thì có Thầy ở đấy giữa họ.
Thực ra, trong công việc trọng đại khiến Thiên Chúa được tôn vinh cách hoàn hảo và loài người được thánh hoá đó, Đức Ki-tô luôn kết hợp với Hội Thánh là Hiền Thê rất yêu dấu của mình ; còn Hội Thánh thì kêu cầu Người như Chúa mình và nhờ Người mà tôn thờ Cha hằng hữu.
Vậy, thật là đích đáng khi coi phụng vụ là việc Đức Giê-su Ki-tô thi hành chức vụ linh mục. Trong tác vụ này, việc thánh hoá con người được biểu lộ qua những dấu hiệu khả giác, đồng thời được thể hiện theo cách thức riêng của mỗi bí tích, và toàn bộ việc thờ phụng công khai được cử hành do thân thể mầu nhiệm của Đức Giê-su Ki-tô gồm đầu và các chi thể.
Vì thế, mọi việc cử hành phụng vụ hiểu như là việc của Đức Ki-tô linh mục, và của thân mình Người là Hội Thánh thì đều là hành động thánh thiêng tột bực ; không một hành động nào khác của Hội Thánh có hiệu lực bằng, xét về cả danh nghĩa lẫn mức độ.
Khi cử hành phụng vụ trần thế, chúng ta được nếm cảm trước phụng vụ trên trời đang được cử hành trong thành thánh Giê-ru-sa-lem, nơi chúng ta hướng về như lữ khách. Nơi đó, Đức Ki-tô đang ngự bên hữu Thiên Chúa, là thừa tác viên phục vụ đền thánh và lều trại đích thật ; cùng với toàn thể đạo binh trên trời, chúng ta ca ngợi vinh quang Thiên Chúa ; khi tưởng nhớ các thánh, chúng ta hy vọng sẽ được thông phần và hợp đoàn với các ngài ; chúng ta mong đợi Đấng Cứu Độ là Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta cho đến khi nguồn sống của chúng ta xuất hiện và chúng ta sẽ xuất hiện với Người trong vinh quang.
Theo truyền thống của các Tông Đồ, bắt nguồn từ ngày Đức Ki-tô sống lại, ngày bát nhật nào Hội Thánh cũng cử hành mầu nhiệm Vượt Qua. Từ đó, ngày này được gọi một cách chí lý là ngày của Chúa hay Chúa nhật. Trong ngày này, các Ki-tô hữu phải họp nhau lại, để khi nghe lời Thiên Chúa và tham dự thánh lễ, họ tưởng nhớ cuộc thương khó, sự phục sinh và lên trời của Đức Ki-tô ; đồng thời cảm tạ Thiên Chúa đã cho họ tái sinh để nhận lãnh niềm hy vọng sống động, nhờ Đức Giê-su Ki-tô đã từ cõi chết sống lại. Vì thế, Chúa nhật là ngày lễ hàng đầu cần phải được trình bày và khắc ghi vào lòng sùng mộ của các tín hữu, sao co ngày đó cũng trở thành ngày vui và ngày nghỉ cho họ. Các cuộc cử hành khác, nếu không thật sự quan trọng thì không được lấn át ngày Chúa nhật, vì Chúa nhật là nền tảng và nòng cốt của cả năm phụng vụ.

Xướng đáp
X Là tư tế, Đức Ki–tô cầu nguyện cho chúng ta ; là thủ Iãnh, Người cầu nguyện trong chúng ta ; là Thiên Chúa, Người nghe chúng ta cầu nguyện. Vậy,
* chúng ta hãy nhận ra tiếng nói của mình nơi Đức Ki-tô, và tiếng nói của Người trong chúng ta.
Đ Khi chúng ta cầu nguyện cùng Thiên Chúa, chúng ta đừng tách khỏi Con của Người. *

Thánh Thi “Lạy Thiên Chúa”

Lời nguyện
Lạy Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, xin hướng dẫn chúng con biết hành động theo thánh ý Chúa, để nhờ kết hợp với Con Một Chúa, là Đức Giê-su Ki-tô, chúng con đem lại hoa quả dồi dào là việc lành phúc đức. Chúng con cầu xin…

admin
15-06-2011, 08:19 AM
THỨ HAI

Bài đọc 1 Đnl 24,1-25,4

Người thân cận và người ngoại kiều.
Đây là bộ luật chi phối nếp sống của người Ít-ra-en. Bộ luật này phán ánh tinh thần tôn trọng sự sống và nhân vị mỗi người.
Lời Chúa trong sách Đệ Nhị Luật.
24 1 Nếu một người đàn ông đã lấy vợ và đã ăn ở với nàng rồi, mà sau đó nàng không đẹp lòng người ấy nữa, vì người ấy thấy nơi nàng có điều gì chướng, thì sẽ viết cho nàng một chứng thư ly dị, trao tận tay và đuổi ra khỏi nhà.2 Ra khỏi nhà người ấy, nếu nàng đi lấy chồng khác,3 mà người chồng sau lại ghét bỏ nàng, viết cho nàng một chứng thư ly dị, trao tận tay và đuổi ra khỏi nhà, hoặc nếu người chồng sau đã lấy nàng làm vợ mà chết,4 thì người chồng đầu tiên đã đuổi nàng đi không thể lấy nàng làm vợ một lần nữa, sau khi nàng đã ra ô uế. Đó là điều ghê tởm trước nhan Đức Chúa ; anh (em) không được làm cho miền đất mà Đức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), ban cho anh (em) làm gia nghiệp, phải mang tội.
5 Khi một người đàn ông mới cưới vợ, thì người ấy không phải đi lính, và người ta sẽ không bắt làm công tác nào ; người ấy sẽ được miễn, được ở nhà một năm, và sẽ là niềm vui cho người vợ đã cưới.
6 Không được giữ cối xay bột làm đồ cầm, dù chỉ một nửa trên, vì như thế là giữ chính mạng người làm đồ cầm.
7 Nếu thấy ai bắt cóc một người anh em mình trong hàng con cái Ít-ra-en, hành hạ và bán người đó đi, thì kẻ bắt cóc phải chết. Anh (em) phải khử trừ sự gian ác, không cho tồn tại giữa anh (em).
8 Về bệnh phung cùi, anh (em) hãy ý tứ giữ cẩn thận và thi hành tất cả những gì các tư tế Lê-vi chỉ dẫn cho anh em ; anh em hãy lo thực hành như tôi đã truyền cho họ. 9 Hãy nhớ cách Đức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), đã xử với bà Mi-ri-am trên đường, khi anh em ra khỏi Ai-cập.
10 Khi anh (em) cho người đồng loại vay cái gì, thì không được vào nhà người ấy mà bắt đồ cầm. 11 Anh (em) sẽ đứng ngoài, và người mà anh (em) cho vay sẽ mang đồ cầm ra ngoài cho anh (em). 12 Nếu người ấy nghèo, anh (em) sẽ không đi ngủ mà còn giữ đồ cầm của người ấy. 13 Anh (em) phải đem trả lại đồ cầm cho người ấy khi mặt trời lặn ; người ấy sẽ đắp áo choàng của mình mà ngủ, sẽ chúc phúc cho anh (em) ; anh (em) sẽ là người công chính trước nhan Đức Chúa, Thiên Chúa của anh (em).
14 Anh (em) không được bóc lột người làm thuê nghèo khó bần cùng, dù người ấy là một người anh em của anh (em) hay là một ngoại kiều ở trong đất nước của anh (em), trong các thành của anh (em). 15 Chính ngày hôm ấy, anh (em) phải trả công cho họ, đừng để mặt trời lặn mà không trả công, vì họ nghèo khổ và nóng lòng mong đợi được trả công ; như vậy họ sẽ không kêu lên Đức Chúa tố cáo anh (em), và anh (em) sẽ không mang tội.
16 Cha sẽ không bị xử tử vì con, và con sẽ không bị xử tử vì cha: mỗi người sẽ bị xử tử về tội của mình.
17 Anh (em) không được làm thiệt hại đến quyền lợi của ngoại kiều và cô nhi, không được giữ áo của người goá bụa làm đồ cầm. 18 Anh (em) hãy nhớ mình đã làm nô lệ bên Ai-cập, và ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của anh (em), đã giải thoát anh (em) ra khỏi đó. Vì vậy tôi truyền cho anh (em) thực hành điều đó.
19 Khi anh (em) gặt lúa trong ruộng mình, mà bỏ sót một bó lúa trong ruộng, thì không được quay lại mà lấy; bó lúa ấy dành cho ngoại kiều và cô nhi quả phụ; như vậy, ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của anh (em), sẽ chúc phúc cho anh (em) trong mọi việc tay anh (em) làm.
20 Khi hái ô-liu, thì anh (em) không được trở lại tìm trái sót; những trái đó dành cho ngoại kiều và cô nhi quả phụ.
21 Khi hái nho, thì anh (em) không được mót lại; những trái còn sót dành cho ngoại kiều và cô nhi quả phụ.
22 Anh em hãy nhớ mình đã làm nô lệ bên đất Ai-cập. Vì vậy, tôi truyền cho anh (em) thực hành điều đó.
25 1 Khi người ta có chuyện tranh chấp với nhau, thì họ sẽ đi hầu toà, và toà sẽ phân xử cho họ: toà sẽ công bố người công chính là công chính, kẻ có tội là có tội.2 Nếu người có tội đáng phải đòn, thẩm phán sẽ cho nọc ra mà đánh trước mặt mình, tội đáng bao nhiêu thì đánh bấy nhiêu đòn.3 Quan toà được cho đánh bốn mươi đòn, nhưng không được cho đánh thêm, sợ rằng đánh thêm sẽ bị trọng thương, và người anh em của anh (em) sẽ bị nhục trước mặt anh (em).
4 Anh (em) không được bịt mõm con bò đang đạp lúa.

Xướng đáp x. Mc 12,32-33 ; Hc 35,4b-5a
X Thưa Thầy, Thầy nói rất đúng. Thiên Chúa là Đấng duy nhất ;
* yêu mến Thiên Chúa hết lòng và yêu người thân cận như chính mình, là điều quý hơn mọi lễ toàn thiêu và hy lễ.
Đ Làm việc bố thí là dâng lễ ngợi khen, từ bỏ gian tà thì đẹp lòng Đức Chúa. *

Bài đọc 2

Sự thánh thiện của hôn nhân và gia đình
Trích Hiến chế Vui Mừng và Hy vọng của Công đồng Va-ti-ca-nô II về Hội Thánh trong thế giới ngày nay.
Bởi giao ước hôn nhân, người nam và người nữ không còn là hai, nhưng chỉ là một xương một thịt. Họ phục vụ và giúp đỡ lẫn nhau bằng sự kết hợp mật thiết trong con người và hành động của họ. Họ cảm nghiệm và hiểu được sự hiệp nhất với nhau ngày một đầy đủ hơn. Sự kết hợp mật thiết ấy, vốn là sự tận hiến của hai người cho nhau, cũng như sự lợi ích của con cái đòi hỏi hai vợ chồng phải hoàn toàn trung tín và thúc b ách họ sống hiệp nhất bất khả phân ly. Chúa Ki-tô ban phúc lành chan chứa cho tình yêu phong phú ấy, một tình yêu phát xuất từ nguồn mạch là tình yêu Thên Chúa, và được gầy dựng theo mẫu mực của sự kết hợp giữa Chúa Ki-tô với Hội Thánh. Quả vậy, cũng như xưa kia Thiên Chúa đã gặp gỡ dân Người bằng giao ước yêu thương và trung tín, thì nay Đấng cứu độ loài người và Phu Quân của Hội Thánh cũng gặp gõ đôi vợ chồng Ki-tô hữu qua bí tích hôn phối. Người còn ở với họ, để như chính Người đã yêu mến Hội Thánh và phó mình cho Hội Thánh, thì hai vợ chồng qua việc hiến thân cho nhau cũng yêu mến nhau bằng một mối tình chung thuỷ cho đến trọn đời. Tình yêu của vợ chồng đích thực được tình yêu của Thiên Chúa nâng cao, được quyền năng cứu chuộc của Đức Ki-tô và hoạt động cứu độ của Hội Thánh hướng dẫn và làm cho thêm phong phú, để hai vợ chồng được hướng dẫn cách hữu hiệu đến cùng Thiên Chúa, cũng như được nâng đỡ và thêm sức để hoàn thành nhiệm vụ cao cả là làm cha làm mẹ. Bởi đó, vợ chồng Ki-tô hữu được củng cố và như được thánh hiến bằng một bí tích riêng biệt để lãnh nhận các bổn phận và phẩm giá của bậc sống mình. Do sức mạnh của bí tích này, họ chu toàn bổn phận hôn nhân và gia đình, họ được thấm nhần tinh thần của Đức Ki-tô để làm cho tất cả đời sống của họ đầy tràn lòng tin, cậy, mến, và như thế họ càng ngày càng tiến gần tới sự trọn lành riêng của họ và thánh hoá lẫn nhau, qua đó họ cùng nhau tôn vinh Thiên Chúa. Do đó, được cha mẹ hướng dẫn bằng gương sáng và kinh nguyện gia đình, con cái và tất cả những ai sống trong khuôn khổ gia đình sẽ gặp được con đường nhân ái, cứu độ và thánh thiện dễ dàng hơn. Còn vợ chồng là những người đã lãnh nhận phẩm giá và chức vụ làm cha làm mẹ, phải chăm lo chu toàn bổn phận giáo dục, nhất là về phương diện tôn giáo, vì bổn phận này trước hết là của họ. Con cái là những phần tử sống động trong gia đình cũng góp phần riêng vào sự thánh hoá cha mẹ. Chúng sẽ đáp lại công ơn cha mẹ với lòng biết ơn, với tâm tình hiếu thảo và tin cậy, sẽ cứ đạo làm con mà phụng dưỡng cha mẹ trong nghịch cảnh cũng như tuổi già cô quạnh.

Xướng đáp Ep 5,32.25b.33b
X Mầu nhiệm này thật là cao cả. Tôi muốn nói về Đức Ki-tô và Hội Thánh.
* Đức Ki-tô yêu thương Hội Thánh và hiến mình vì Hội Thánh.
Đ Mỗi người trong anh em hãy yêu vợ như chính mình, còn vợ thì hãy kính sợ chồng. *


Lời nguyện
Lạy Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, xin hướng dẫn chúng con biết hành động theo thánh ý Chúa, để nhờ kết hợp với Con Một Chúa, là Đức Giê-su Ki-tô, chúng con đem lại hoa quả dồi dào là việc lành phúc đức. Chúng con cầu xin…

THỨ BA

Bài đọc 1 Đnl 26,1-19

Ông tổ tôi là một người A-ram.
Để luôn tưởng nhớ giao ước giữa Thiên Chúa với dân Người, dân của Người phải nhắc cho nhau nhớ ngày Đức Chúa cho mình được trở nên dân thánh của Người.
Lời Chúa trong sách Đệ Nhị Luật.
1 Khi anh (em) vào đất mà Đức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), ban cho anh (em) làm gia nghiệp, khi anh (em) chiếm hữu và ở đất đó,2 thì hãy lấy một phần mọi nông sản đầu mùa anh (em) thu hoạch được từ miền đất của anh (em), mà Đức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), ban cho anh (em). Anh (em) hãy để những thứ ấy vào giỏ, rồi đi đến nơi Đức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), chọn cho Danh Người ngự.3 Anh (em) sẽ đến với tư tế tại chức trong những ngày đó và sẽ thưa với ông:
"Hôm nay tôi xin trình với Đức Chúa, Thiên Chúa của ông, rằng tôi đã vào miền đất mà Đức Chúa đã thề với cha ông chúng tôi là Người sẽ ban cho chúng tôi."
4 Tư tế sẽ nhận lấy giỏ từ tay anh (em) và đem đặt trước bàn thờ Đức Chúa, Thiên Chúa của anh (em).5 Bấy giờ, anh (em) sẽ lên tiếng thưa trước tôn nhan Đức Chúa, Thiên Chúa của anh (em) rằng:
"Ông tổ tôi là người A-ram phiêu bạt, đã xuống Ai-cập và trú ngụ tại đó cùng với một số người ít ỏi ; tại đó, người đã trở thành một dân tộc lớn, mạnh và đông".6 Người Ai-cập đã ngược đãi, hành hạ chúng tôi và đặt ách nô lệ trên vai chúng tôi.7 Bấy giờ chúng tôi đã kêu lên cùng Đức Chúa, Thiên Chúa của cha ông chúng tôi ; Người đã nghe tiếng chúng tôi, đã thấy cảnh khổ cực, lầm than, áp bức chúng tôi phải chịu.8 Đức Chúa đã dang cánh tay mạnh mẽ uy quyền, đã gây kinh hồn táng đởm và thực hiện những dấu lạ điềm thiêng, để đưa chúng tôi ra khỏi Ai-cập.9 Người đã đưa chúng tôi vào đây, ban cho chúng tôi đất này, đất tràn trề sữa và mật.10 Và bây giờ, lạy Đức Chúa, này con xin dâng sản phẩm đầu mùa của đất đai mà Ngài đã ban cho con."
Anh (em) sẽ đặt lễ vật trước tôn nhan ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của anh (em), rồi anh (em) sẽ phủ phục trước tôn nhan ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của anh (em).11 Anh (em) sẽ liên hoan cùng với các thầy Lê-vi và người ngoại kiều sống giữa anh (em), vì mọi điều tốt mà Đức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), đã ban cho anh (em) và gia đình anh (em).
12 Năm thứ ba, tức là năm nộp thuế thập phân, sau khi anh (em) đã trích ra một phần mười hoa lợi mà đem cho thầy Lê-vi, người ngoại kiều và cô nhi quả phụ, và họ đã được ăn uống no nê trong các thành của anh (em),13 thì anh (em) sẽ đến thưa trước tôn nhan Đức Chúa, Thiên Chúa của anh (em):
"Con đã lấy của thánh hiến đem ra khỏi nhà và thật sự con đã cho thầy Lê-vi, cho người ngoại kiều và cô nhi quả phụ, theo như tất cả mệnh lệnh ĐỨC CHÚA đã truyền cho con, mà không vi phạm, không quên mệnh lệnh nào của ĐỨC CHÚA. 14 Con đã không ăn của đó khi có tang, đã không lấy một phần của đó khi con bị ô uế, đã không dùng mà cúng người chết. Con đã nghe tiếng Đức Chúa, Thiên Chúa của con, đã làm theo mọi điều Ngài truyền cho con.15 Từ thánh điện của Ngài, từ trời cao, xin Ngài nhìn xuống, xin chúc phúc cho dân Ngài là Ít-ra-en, cho đất đai mà Ngài đã ban cho chúng con, như Ngài đã thề với cha ông chúng con, đất tràn trề sữa và mật."
16 Hôm nay, Đức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), truyền cho anh (em) đem ra thực hành các thánh chỉ và quyết định này. Anh (em) phải hết lòng hết dạ tuân giữ và đem ra thực hành các điều ấy.
17 Hôm nay, anh (em) đã làm cho Đức Chúa tuyên bố rằng Người sẽ là Thiên Chúa của anh (em), rằng anh (em) phải đi theo đường lối của Người, giữ các thánh chỉ, mệnh lệnh, quyết định của Người, và nghe tiếng Người.18 Hôm nay, Đức Chúa đã khiến anh (em) tuyên bố rằng anh (em) sẽ là dân thuộc quyền sở hữu của Người như Người đã phán với anh (em), và rằng anh (em) sẽ giữ mọi mệnh lệnh của Người,19 rằng Người sẽ cho anh (em) vượt mọi dân tộc Người đã tạo dựng, xét về vinh dự, danh tiếng và vinh quang, rằng anh (em) sẽ là một dân thánh hiến cho Đức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), như Người đã phán.

Xướng đáp 1 Pr 2,98.10 ; x. Đnl 7,7.8
X Anh em là dân Chúa tuyển chọn. Xưa anh em chưa phải là một dân, nay anh em là dân của Thiên Chúa.
* Xưa anh em chưa được hưởng lòng thương xót, nay anh em đã được Chúa xót thương.
Đ Đức Chúa đã đem lòng quyến luyến mà chọn anh em, và giải thoát anh em khỏi cảnh nô lệ. *

Bài đọc 2

Biết lấy chi đền đáp Chúa bây giờ vì mọi ơn lành Người đã ban cho?
Trích bản Giải thích tu luật của thánh Ba-xi-li-ô Cả, giám mục.
Lời lẽ nào diễn tả được cho cân xứng những hồng ân của Thiên Chúa. Những hồng ân ấy nhiều vô kể và cao cả vô cùng, đến nỗi chỉ một ơn thôi cũng đủ cho chúng ta phải tìm mọi cách mà đền đáp Thiên Chúa là Đấng thi ân.
Nhưng có một ơn mà chúng ta không thể bỏ qua, và chẳng ai có lương tri cùng hiểu biết lại có thể im lặng không nói đến, dù không tài nào nói cho cân xứng. Đó là ơn Thiên Chúa đã dựng nên con người theo hình ảnh giống Thiên Chúa, ban cho vinh dự được hiểu biết chính Người, phú bẩm cho trí khôn trổi vượt hơn hết mọi loài, cho có khả năng vui hưởng vẻ đẹp khôn tả của vườn địa đàng, và đặt làm chủ mọi loài trên trái đất. Nhưng con người đã bị con rắn lừa gạt mà sa ngã phạm tội, và vì tội nên phải chết và phải đau khổ. Tuy nhiên Thiên Chúa không bỏ rơi con người. Trước hết Người đã ban lề luật để giúp đỡ họ, chỉ định các thiên thần để gìn giữ và săn sóc họ, sai các ngôn sứ đến sửa trị nết xấu và dạy đường nhân đức, dùng lời răn đe để ngăn chận và hãm dẹp khuynh hướng xấu, lấy lời hứa mà khích lệ họ hăng hái làm việc lành, báo trước số phận cuối cùng của hai hạng tốt xấu qua nhiều nhân vật khác nhau, để cảnh cáo những người khác. Nhưng nếu sau những việc đó và nhiều việc như thế mà chúng ta vẫn ngoan cố thì Người cũng không ngoảnh mặt đi.
Thật vậy, lòng nhân lành của Chúa đã không bỏ rơi chúng ta, và chúng ta cũng không xoá được tình yêu của Người đối với chúng ta, cho dù chúng ta có khờ dại mà khinh chê những vinh dự Người dành cho chúng ta và làm nhục Đấng đã làm ơn cho mình. Hơn nữa, chúng ta đã được gọi về từ cõi chết, và nhờ chính Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta, sự sống được hoàn lại cho chúng ta. Trong vấn đề này, ngay cả lý do thi ân cũng làm cho chúng ta phải thán phục hơn: Vì Đức Giê-su Ki-tô vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ, trở nên phàm nhân sống như người trần thế.
Và Người đã mang lấy những bệnh tật của chúng ta, đã gánh chịu những đau khổ của chúng ta, đã phải mang thương tích cho chúng ta được chữa lành ; cũng vậy, Người đã chuộc chúng ta cho khỏi bị nguyền rủa vì lề luật, khi vì chúng ta, chính Người trở nên đồ bị nguyền rủa, và đã chuốc lấy cái chết nhục nhã để đưa chúng ta đến cuộc sống vinh quang. Người đã không lấy việc trả lại sự sống cho những kẻ đã chết làm đủ, mà còn ban cho họ được vinh dự được thông phần thiên tính của Người ; lại chuẩn bị cho họ được nghỉ ngơi đời đời, một sự nghỉ ngơi mang lại niềm vui lớn lao vượt trên mọi điều người ta có thể suy tưởng.
Vậy, biết lấy chi đền đáp Chúa bây giờ, vì mọi ơn lành Người đã ban cho, Người tốt lành đến nỗi không đòi chúng ta phải đền đáp, nhưng nếu chúng ta yêu mến Người vì những gì Người đã ban cho thì Người lấy thế làm đủ. Tôi xin được thổ lộ tâm tình là khi hồi tưởng lại những điều đó, tôi rơi vào một nỗi khiếp sợ và ngỡ ngàng kinh khủng, sợ rằng vì vô tâm hay quá để ý đến những chuyện phù phiếm mà xa lìa tình yêu Thiên Chúa, tôi làm cớ cho Chúa Ki-tô phải xấu hổ và nhục nhã.

Xướng đáp Tv 102 (103),2.4 ; Gl 2,200
X Chúc tụng Chúa đi, hồn tôi hỡi, chớ khá quên mọi ân huệ của Người.
* Chúa cứu ngươi khỏi chôn vùi đáy huyệt, bao bọc ngươi bằng ân nghĩa với lượng hải hà.
Đ Con Thiên Chúa đã yêu mến tôi và hiến mạng vì tôi. Chúc tụng Chúa đi, hồn tôi hỡi. *

Lời nguyện
Lạy Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, xin hướng dẫn chúng con biết hành động theo thánh ý Chúa, để nhờ kết hợp với Con Một Chúa, là Đức Giê-su Ki-tô, chúng con đem lại hoa quả dồi dào là việc lành phúc đức. Chúng con cầu xin…

admin
15-06-2011, 08:21 AM
THỨ TƯ

Bài đọc 1 Đnl 29,1-5.9-28

Những đòi buộc của Giao ước
Các bài đọc ngày hôm nay và những ngày kế tiếp thuật lại các truyền thống liên quan đến cái chết của ông Mô-sê : hôm nay, trong một diễn từ quan trọng, ông nhắc đến những kỳ công Thiên Chúa đã thực hiện, và ông nặng lời nguyền rủa những người vi phạm Lề Luật.
Lời Chúa trong sách Đệ Nhị Luật.
1 Ông Mô-sê triệu tập toàn thể Ít-ra-en và nói với họ:
“Chính anh em đã thấy những gì ĐỨC CHÚA đã làm trước mắt anh em, tại đất Ai-cập, chống lại vua Pha-ra-ô, cùng mọi bề tôi và cả nước vua ấy,2 đó là các thử thách lớn lao mắt anh (em) từng thấy, là các dấu lạ điềm thiêng lớn lao ấy.3 Nhưng cho đến ngày hôm nay, Đức Chúa đã không cho anh em lòng để biết, mắt để thấy, tai để nghe.
4 Ta đã dẫn các ngươi bốn mươi năm trong sa mạc, mà áo các ngươi mặc đã không rách, dép chân các ngươi đi đã không mòn.5 Của ăn của các ngươi không phải là bánh, thức uống của các ngươi không phải là rượu và đồ uống có men, để các ngươi biết rằng Ta là Đức Chúa, Thiên Chúa của các ngươi.
9 Hôm nay, tất cả anh em đứng trước tôn nhan Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em: nào là những người đứng đầu các chi tộc của anh em, nào là các kỳ mục, ký lục của anh em, mọi người phái nam trong Ít-ra-en,10 nào là đàn bà con trẻ của anh em, nào là người ngoại kiều ở trong trại của anh (em), từ người chặt củi cho đến người múc nước cho anh (em).11 Anh (em) sắp gia nhập giao ước của Đức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), giao ước có kèm theo lời thề nguyền, là giao ước mà Đức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), lập với anh (em) hôm nay,12 để đặt anh (em) lên làm dân của Người, còn chính Người sẽ là Thiên Chúa của anh (em), như Người đã phán với anh (em) và như Người đã thề với cha ông anh (em), là Áp-ra-ham, I-xa-ác và Gia-cóp.13 Không phải chỉ riêng với anh em mà tôi lập giao ước này, có kèm theo lời thề nguyền này,14 nhưng còn với kẻ có mặt ở đây với chúng ta, và hôm nay đang đứng trước tôn nhan Đức Chúa, Thiên Chúa chúng ta, cũng như với kẻ không có ở đây với chúng ta hôm nay.
15 Chính anh em biết chúng ta đã sống bên đất Ai-cập làm sao và đã băng qua lãnh thổ các dân tộc mà anh em đã đi qua như thế nào.16 Anh em đã thấy ở giữa chúng các đồ gớm ghiếc và các ngẫu tượng của chúng, là gỗ, đá, bạc, vàng.
17 Giữa anh em, đừng có người nào, nam hay nữ, đừng có dòng họ hay chi tộc nào hôm nay trở lòng với Đức Chúa, Thiên Chúa chúng ta, mà đi phụng thờ các thần của những dân tộc ấy. Giữa anh em, đừng có thứ rễ sinh trái độc và quả đắng.18 Nếu kẻ nào, khi nghe các lời thề nguyền này, lại tự chúc phúc cho mình trong lòng mà nói: "Tôi sẽ được bình an, cho dù tôi cứ sống theo lòng chai dạ đá của tôi" ; như thể đất được tưới không khác gì đất khô cằn ;19 nếu kẻ nào làm thế thì Đức Chúa sẽ không muốn tha cho nó ; bấy giờ cơn giận và lòng ghen tương của Đức Chúa sẽ bốc lên phạt người ấy, tất cả lời thề nguyền chép trong sách này sẽ đổ xuống trên nó, và Đức Chúa sẽ xoá tên nó không còn dấu vết trong thiên hạ.20 Đức Chúa sẽ tách nó ra khỏi mọi chi tộc Ít-ra-en, cho nó phải mang hoạ, chiếu theo mọi lời thề nguyền của giao ước chép trong sách Luật này.
21 Khi thấy các vết thương của miền đất này và những bệnh tật Đức Chúa giáng xuống trên đó, thì thế hệ tương lai, tức là con cái anh em đứng lên sau anh em, và người nước ngoài đến từ một miền đất xa xôi, sẽ nói:22 "Cả miền đất chỉ là diêm sinh, muối và lửa, không ai gieo vãi, không chi nảy chồi, không cọng cỏ nào mọc lên, giống như cảnh tàn phá ở Xơ-đôm, Gô-mô-ra, Át-ma và Xơ-vô-gim, những thành mà Đức Chúa đã phá đổ trong cơn thịnh nộ và lôi đình của Người.23 Và mọi dân tộc sẽ nói: "Vì sao Đức Chúa đã xử như thế với miền đất này? Vì sao cơn thịnh nộ lớn lao này đã bừng cháy?24 Người ta sẽ trả lời: "Ấy là vì họ bỏ giao ước của Đức Chúa, Thiên Chúa của cha ông họ, giao ước Người đã lập với họ, khi Người đưa họ ra khỏi đất Ai-cập.25 Họ đã đi phụng thờ các thần khác và sụp xuống lạy các thần ấy, những thần mà họ không biết và Người đã chẳng phân chia cho họ.26 Đức Chúa đã nổi cơn thịnh nộ với miền đất này, và giáng xuống tất cả lời nguyền rủa chép trong sách này.27 Trong cơn thịnh nộ, lôi đình và giận dữ lớn lao, Đức Chúa đã bứng họ đi khỏi đất đai của họ và ném họ vào một miền đất khác, như ngày hôm nay.28 Có những điều Đức Chúa, Thiên Chúa chúng ta, giữ kín cho mình ; nhưng những điều này được mặc khải cho chúng ta và con cháu chúng ta đến muôn đời, để chúng ta đem ra thực hành những lời của Luật này.”

Xướng đáp x. Gl 3,13-14 ; x. Đnl 8,14b
X Đức Ki-tô đã trở nên kẻ bị nguyền rủa vì chúng ta, để phúc !ành dành cho ông Áp-ra-ham cũng được ban xuống cho dân ngoại ; và
* để nhờ đức tin, chúng ta nhận được ơn Thiên Chúa đã hứa tức là Thần Khí.
Đ Thiên Chúa đã đưa chúng ta ra khỏi đất Ai-cập, khỏi cảnh nô lệ. *

Bài đọc 2

Ở đâu tội lỗi đã lan tràn, Ơû đó ân sủng càng chứa chan gấp bội
Trích bài giảng của thánh Bê-na-đô, viện phụ, về sách Diễm Ca.
Những kẻ ốm đau sẽ được nơi an toàn bảo đảm và nghỉ ngơi vững chắc ở đâu, nếu không phải ở trong thương tích của Đấng Cứu Độ? Đấng ấy càng có quyền năng cứu độ thì tôi càng yên tâm ở lại nơi đó. Thế gian có gầm lên, xác thịt có dồn ép, ma quỷ có bày mưu, tôi cũng sẽ không quỵ ngã, vì tôi được đặt trên nền tảng đá cứng. Tôi đã phạm tội nặng nê, lương tâm xao xuyến, nhưng tôi không bị xáo độngõ, vì tôi nhớ đến các thương tích của Chúa, bởi lẽ Người đã bị đâm vì chúng ta phạm tội. Cái gì có thể đưa tới chỗ chết mà cái chết của Đức Ki-tô không giải gỡ được? Vậy nếu tâm trí tôi nghĩ đến phương thuốc thần kỳ và hiệu nghiệm như thế thì tôi chẳng còn phải sợ gì nữa về cơn bệnh trầm trọng.
Và vì thế thật sai lầm khi có kẻ nói: Sự gian ác của tôi quá lớn, tôi không đáng được tha, như thể người ấy không phải là chi thể của Đức Ki-tô, cũng chẳng thông phần vào công ngihệp cảu Người, khiến người ấy có thể nhận lấy những gì thuộc về Đức Ki-tô và bảo là của mình, giống như chi thể nhận lấy cái thuộc về đầu làm của mình.
Phần tôi, điều gì tôi thiếu do lỗi của tôi thì tôi tin tưởng dựa vào lượng hải hà của Chúa, vì Người chan chứa tình thương, và nơi Người không thiếu những lỗ hổng cho tình thương ấy trào ra. Bọn lính đóng đinh chân tay Người và dùng lưỡi đòng mở cạnh sườn Người ra ; và qua kẽ hở này tôi được nếm mật ong từ hốc đá chảy ra, nếm dầu từ tảng đá cứng nhất, nghĩa là nếm thử và nhìn coi Chúa tốt lành biết mấy.
Khi Người suy tưởng về sự bình an thì tôi lại không biết. Quả vậy, ai đã biết tư tưởng của Chúa? Ai làm cố vấn cho Người. Nhưng mũi đinh đóng vào Người lại trở thành chìa khoá mở ra cho tôi, để tôi nhìn ra ý Chúa. Qua lỗ hổng, tôi thấy gì? Mũi đinh kêu lên, vết thương kêu lên rằng nơi Đức Ki-tô, Thiên Chúa thực sự hoà giải thế gian với mình. Lưỡi đòng đã đâm thấu tâm hồn Người và đụng tới trái tim Người, để Người biết cảm thương những nỗi yếu hèn của chúng ta.
Qua những vết thương trên thân thể Người, chúng ta thấy lộ ra điều ẩn giấu nơi trái tim Người, thấy hiện tỏ mầu nhiệm tình thương lớn lao của Người và lòng trắc ẩn của Thiên Chúa chúng ta, Đấng tự chốn cao vời đã viếng thăm ta. Làm sao lòng trắc ẩn ấy lại không hiện tỏ qua những vết thương? Lạy Chúa là Đấng dịu dàng, hiền lành và giàu lòng trắc ẩn, ở đâu lòng trắc ẩn ấy bừng lên cho bằng nơi các vết thương của Ngài? Quả vậy, không ai có tình thương cao cả hơn người hy sinh mạng sống cho những kẻ bị lên án tử.
Bởi thế công trạng của tôi là tình thương của Chúa. Tôi không thiếu công trạng bao lâu Thiên Chúa không thiếu tình thương. Nếu Chúa giàu lòng trắc ẩn thì tôi càng nhiều công trạng. Vậy nếu tôi biết mình nhiều tội lỗi thì sao? Thật ra, ở đâu tội lỗi đã lan tràn, ở đó ân sủng càng chứa chan gấp bội. Và nếu tình thương Chúa trải qua muôn ngàn thế hệ, thì tôi cũng ca tụng tình thương Chúa cho đến muôn đời. Chẳng lẽ tôi lại ca tụng đức công chính của tôi sao? Lạy Chúa, tôi sẽ chỉ nhớ đến đức công chính của Ngài mà thôi. Đó là đức công chính của con, bởi Thiên Chúa đã đặt Ngài làm đức công chính cho con.

Xướng đáp Is 53,5 ; 1 Pr 2,24
X Người đã bị đâm vì chúng ta đã phạm tội, bị nghiền nát vì chúng ta lỗi lầm, Người đã chịu sửa phạt để chúng ta được bình an.
* Người đã phải mang thương tích cho chúng ta được chữa lành.
Đ Tội lỗi của chúng ta, chính Người đã mang vào thân thể mà đưa lên cây thập giá, để một khi đã chết đối với tội, chúng ta sống cuộc đời công chính. *

Lời nguyện
Lạy Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, xin hướng dẫn chúng con biết hành động theo thánh ý Chúa, để nhờ kết hợp với Con Một Chúa, là Đức Giê-su Ki-tô, chúng con đem lại hoa quả dồi dào là việc lành phúc đức. Chúng con cầu xin…

THỨ NĂM

Bài đọc 1 Đnl 30,1-20

Lời hứa ban ơn tha thứ
Nghe lời Thiên Chúa là đi vào con đường hạnh phúc, thịnh vượng, con đường sự sống. Lời của Thiên Chúa "luôn ở gần, ngay trong miệng, ngay trong lòng."
Lời Chúa trong sách Đệ Nhị Luật.
1 Vậy khi tất cả những điều ấy xảy đến cho anh (em), tức là lời chúc phúc và lời nguyền rủa tôi đã đưa ra cho anh (em) chọn, anh (em) sẽ để tâm suy niệm những điều ấy, giữa các dân tộc, nơi mà Đức Chúa đã đuổi anh (em) đến ;2 anh (em) sẽ trở về cùng Đức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), anh (em) và con cái anh (em) sẽ nghe tiếng Người, hết lòng hết dạ, theo mọi điều tôi truyền cho anh (em) hôm nay.3 Đức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), sẽ đổi vận mạng anh (em), sẽ chạnh lòng thương và sẽ lại tập trung anh (em) về từ mọi dân, từ nơi mà Đức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), đã phân tán anh (em).4 Dù anh (em) có bị đuổi xa đến tận chân trời, thì Đức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), cũng sẽ tập trung anh (em) từ đó về, và từ đó Người sẽ đón anh (em).5 Đức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), sẽ đưa anh (em) về đất mà cha ông anh (em) đã chiếm hữu, để anh (em) chiếm hữu đất ấy ; Người sẽ làm cho anh (em) được hạnh phúc và đông đúc hơn cha ông anh (em).
6 Đức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), sẽ cắt bì tâm hồn anh (em) và tâm hồn dòng dõi anh (em), để anh (em) yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), hết lòng hết dạ, ngõ hầu anh (em) được sống.7 Đức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), sẽ giáng mọi lời nguyền rủa này trên quân thù anh (em), những kẻ ghét và bắt bớ anh (em).8 Phần anh (em), anh (em) sẽ trở lại và nghe tiếng Đức Chúa, sẽ đem ra thực hành mọi mệnh lệnh của Người mà tôi truyền cho anh (em) hôm nay.9 Đức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), sẽ cho anh (em) thành công trong mọi công việc tay anh (em) làm, cho anh (em) sinh nhiều con cái, gia súc anh (em) sinh sôi nảy nở, đất đai anh (em) sinh nhiều hoa trái, để anh (em) được hạnh phúc. Thật vậy, Đức Chúa sẽ lấy làm vui vì hạnh phúc của anh (em), cũng như Người đã lấy làm vui vì hạnh phúc của cha ông anh (em),10 miễn là anh (em) nghe tiếng Đức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), mà giữ những mệnh lệnh và thánh chỉ Người, ghi trong sách Luật này, miễn là anh (em) trở về với Đức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), hết lòng hết dạ.
11 Quả thế, mệnh lệnh tôi truyền cho anh (em) hôm nay đây, không vượt quá sức lực hay ngoài tầm tay anh (em).12 Mệnh lệnh đó không ở trên trời, khiến anh (em) phải nói: "Ai sẽ lên trời lấy xuống cho chúng tôi và nói cho chúng tôi nghe, để chúng tôi đem ra thực hành?13 Mệnh lệnh đó cũng không ở bên kia biển, khiến anh (em) phải nói: "Ai sẽ sang bên kia biển lấy về cho chúng tôi và nói cho chúng tôi nghe, để chúng tôi đem ra thực hành?14 Thật vậy, lời đó ở rất gần anh (em), ngay trong miệng, trong lòng anh (em), để anh (em) đem ra thực hành.
15 Coi đây, hôm nay tôi đưa ra cho anh (em) chọn: hoặc là được sống, được hạnh phúc, hoặc là phải chết, bị tai hoạ.16 Hôm nay tôi truyền cho anh (em) phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), đi theo đường lối của Người, và tuân giữ các mệnh lệnh, thánh chỉ, quyết định của Người, để anh (em) được sống, được thêm đông đúc, và Đức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), chúc phúc cho anh (em) trong miền đất anh (em) sắp vào chiếm hữu.17 Nhưng nếu anh (em) trở lòng và không vâng nghe, lại bị lôi cuốn và sụp xuống lạy các thần khác và phụng thờ chúng,18 thì hôm nay tôi báo cho anh (em) biết: chắc chắn anh (em) sẽ bị diệt vong, sẽ không được sống lâu trên đất mà anh (em) sắp sang qua sông Gio-đan để vào chiếm hữu.19 Hôm nay, tôi lấy trời đất làm chứng cáo tội anh (em): tôi đã đưa ra cho anh (em) chọn được sống hay phải chết, được chúc phúc hay bị nguyền rủa. Anh (em) hãy chọn sống để anh (em) và dòng dõi anh (em) được sống,20 nghĩa là hãy yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), nghe tiếng Người và gắn bó với Người, vì như thế anh (em) sẽ được sống, sống lâu mà ở lại trên đất Đức Chúa đã thề với cha ông anh (em), là ông Áp-ra-ham, ông I-xa-ác và ông Gia-cóp, rằng Người sẽ ban cho các ngài."

Xướng đáp G 29,13-14a ; Mt 7,7b
X Các ngươi sẽ tìm Ta, và các ngươi sẽ thấy, bởi vì các ngươi sẽ hết lòng kiếm Ta.
* Ta sẽ cho các ngươi được gặp - sấm ngôn của Đức Chúa - Ta sẽ dẫn các ngươi từ chốn lưu đày về.
Đ Chúa Giê-su nói : Anh em cứ tìm thì sẽ thấy, cứ gõ cửa thì sẽ được mở cho. *

Bài đọc 2

Hãy mến Chúa và bước đi trong đường lối của Người
Trích bài giảng của đức cha Gio-an, giám mục Na-pô-li.
Chúa là nguồn ánh sáng và ơn cứu độ của tôi, tôi còn sợ người nào?
Ai biết mình được soi sáng cách nào, được soi sáng bởi đâu, và khi được soi sáng thì thành người thế nào, quả thật người đó là một đầy tớ tuyệt vời. Người đó nhìn thấy ánh sáng, nhưng không phải ánh sáng lúc chiều tà, mà là ánh sáng mắt phàm không thấy. Tâm trí nào được ánh sáng này soi chiếu thì không sa vòng tội lỗi, không vấp ngã vì tật xấu thói hư.
Thật vậy, xưa Chúa nói với người Do Thái: Các ông hãy bước đi, bao lâu các ông còn có ánh sáng. Người nói về ánh sáng nào, nếu không phải về chính Đấng đã nói: Tôi là ánh sáng đến thế gian để những người thấy thì không thấy, còn những người mù lại được thấy ánh sáng toả ra. Vậy chính Chúa là ánh sáng soi chiếu chúng ta, là mặt trời soi đường công chính, là Đấng làm cho Hội Thánh Công Giáo của Người ở khắp nơi toả sáng ra, và vị Ngôn sứ là hình ảnh của Hội Thánh đã thốt lên: Chúa là nguồn ánh sáng và ơn cứu độ của tôi, tôi còn sợ người nào? Ai nhìn thấy quê hương từ xa thì chấp nhận nghịch cảnh, không buồn sầu vì những thử thách mau qua, kiên định trong Thiên Chúa ; tâm hồn có nặng trĩu ưu phiền, cũng vẫn chấp nhận, và nhờ khiêm nhường mà nên kiên nhẫn. Ánh sáng chân thật ấy, ánh sáng chiếu soi mọi người đến thế gian này, luôn hiến thân cho những kẻ biết kính sợ Chúa, tràn ngập lòng tri ai, ở bất cứ nơi nào, và tỏ mình ra cho ai, là do Con Thiên Chúa muốn.
Kẻ ngồi trong chốn tối tăm và trong bóng tử thần, tức là trong tối tăm của sự dữ và trong bóng tội lỗi thì, khi ánh sáng bừng lên, kẻ ấy gớm ghét bản thân, hạ mình xuống, sám hối ăn năn, hổ thẹn và nói: Chúa là nguồn ánh sáng và ơn cứu độ của tôi, tôi còn sợ người nào? Thưa anh em, đó là ơn cứu độ lớn lao. Mà một khi được cứu độ như thế, người ta không còn sợ bệnh tật, không sợ mệt mỏi, không thấy đau đớn nữa. Vậy chúng ta phải kêu lên và nói ra một cách hoàn hảo và đầy đủ, không phải chỉ bằng miệng lưỡi mà còn bằng tâm trí rằng: Chúa là nguồn ánh sáng và ơn cứu độ của tôi, tôi còn sợ người nào? Nếu chính Người soi sáng, chính Người cứu độ thì tôi còn sợ chi ai? Tôi có bị những đam mê đen tối xúi giục thì Chúa vẫn là nguồn ánh sáng của tôi. Những đam mê ấy có thể đến, nhưng không thể thành công, vì dù có tấn công tâm hồn chúng ta, chúng cũng không thắng được. Tôi có bị mù quáng vì những dục vọng, thì Chúa vẫn là nguồn ánh sáng của tôi. Vậy sức mạnh của chúng ta là chính Đấng đã hiến thân cho chúng ta, và chúng ta tự hiến thân cho Người. Hãy chạy đến với lương y khi anh em còn có thể, kẻo khi muốn lại không đến được.

Xướng đáp Kn 9,10.4a
X Lạy Chúa, xin gửi Đức Khôn Ngoan Ngài tới, xin phái đến từ toà cao vinh hiển, để phù trì và đồng lao cộng khổ với con,
* cho con biết điều đẹp ý Ngài.
Đ Xin rộng ban cho con Đức Khôn Ngoan hằng ngự bên toà Chúa. *

Lời nguyện
Lạy Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, xin hướng dẫn chúng con biết hành động theo thánh ý Chúa, để nhờ kết hợp với Con Một Chúa, là Đức Giê-su Ki-tô, chúng con đem lại hoa quả dồi dào là việc lành phúc đức. Chúng con cầu xin…

admin
27-07-2011, 10:03 PM
THỨ SÁU

Bài đọc 1 Đnl 31,1-15.23

Những lời trăn trối của ông Mô-sê
Ông Mô-sê cắt đặt ông Giô-suê làm người kế vị mình. Ông giới thiệu ông Giô-suê với dân và hứa rằng Đức Chúa sẽ đi trước mặt dân để dẫn đưa vào đất hứa.
Lời Chúa trong sách Đệ Nhị Luật.
1 Ông Mô-sê đến nói những lời này với toàn thể Ít-ra-en.2 Ông bảo họ: "Hôm nay tôi đã được một trăm hai mươi tuổi, tôi không thể đi ra đi vào được nữa, và Đức Chúa đã bảo tôi: "Ngươi sẽ không được sang qua sông Gio-đan kia.3 Chính Đức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), sẽ dẫn đầu anh (em) sang qua sông, Người sẽ tiêu diệt các dân tộc ấy cho khuất mắt anh (em), để anh (em) chiếm đất của chúng. Chính ông Giô-suê sẽ dẫn đầu anh (em) sang qua sông, như Đức Chúa đã phán.4 Đức Chúa sẽ xử với chúng như đã xử với các vua người E-mô-ri là Xi-khôn và Ốc, và với đất nước của chúng: Người đã tiêu diệt chúng.5 Đức Chúa sẽ trao các dân tộc ấy cho anh (em), và anh (em) sẽ xử với chúng theo như tất cả mệnh lệnh tôi đã truyền cho anh (em).6 Mạnh bạo lên, can đảm lên! Đừng sợ, đừng run khiếp trước mặt chúng, vì chính Đức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), đi với anh (em) ; Người sẽ không để mặc, không bỏ rơi anh (em)."
7 Rồi ông Mô-sê gọi ông Giô-suê lại, và nói với ông trước mặt toàn thể Ít-ra-en: "Mạnh bạo lên, can đảm lên! Chính anh sẽ cùng với dân này vào đất Đức Chúa đã thề với cha ông họ rằng Người sẽ ban cho họ ; chính anh sẽ cho họ hưởng đất ấy làm gia nghiệp.8 Chính Đức Chúa đi phía trước anh, chính Người sẽ ở với anh ; Người sẽ không để mặc, không bỏ rơi anh. Đừng sợ, đừng hãi!"
9 Ông Mô-sê viết luật này và trao cho các tư tế, con cái Lê-vi, là những người sẽ kiệu Hòm Bia Giao Ước của Đức Chúa, và cho tất cả các kỳ mục Ít-ra-en.10 Ông Mô-sê truyền cho họ rằng: "Sau bảy năm, vào thời kỳ có năm tha nợ, trong dịp lễ Lều,11 khi toàn thể Ít-ra-en đến để ra trình diện Đức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), ở nơi Người chọn, anh (em) phải đọc luật này trước toàn thể Ít-ra-en, cho họ nghe.12 Anh (em) hãy tập hợp dân, đàn ông, đàn bà, trẻ con và người ngoại kiều ở trong các thành của anh (em), để họ nghe và để họ học cho biết kính sợ Đức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), và lo đem ra thực hành mọi lời của luật này.13 Con cái họ, là những kẻ không biết, sẽ nghe và học cho biết kính sợ Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em, mọi ngày anh em sống trên đất mà anh em sắp qua sông Gio-đan để chiếm hữu."
14 Đức Chúa phán với ông Mô-sê: "Đây sắp đến ngày ngươi phải lìa đời. Hãy gọi Giô-suê đến, và các người hãy đứng ở Lều Hội Ngộ để Ta truyền lệnh cho nó." Ông Mô-sê và ông Giô-suê ra đứng ở Lều Hội Ngộ.15 Đức Chúa xuất hiện trong Lều, trong cột mây và cột mây đứng ở cửa Lều.
23 Đức Chúa truyền lệnh cho ông Giô-suê, con ông Nun, Người phán: "Mạnh bạo lên, can đảm lên! Chính ngươi sẽ đưa con cái Ít-ra-en vào đất mà Ta đã thề hứa với chúng ; và Ta sẽ ở với ngươi."

Xướng đáp Đnl 31,6.7b-8 ; Cn 3,26
X Mạnh bạo lên, can đảm lên, vì chính Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em đi với anh em.
* Chính Người đi phía trước, chính Người sẽ ở với anh em. Anh em đừng sợ hãi !
Đ Đức Chúa sẽ ở bên anh em, giữ chân anh em khỏi sa vào cạm bẫy. *

Bài đọc 2

Các kỳ công của Thiên Chúa
Trích bài chú giải thánh vịnh của thánh Gio-an Phi-sơ, giám mục, tử đạo.
Trước hết, Thiên Chúa đã làm nhiều điềm thiêng dấu lạ để giải thoát dân Ít-ra-en cho khỏi làm tôi Ai Cập: Người đã cho họ qua Biển Đỏ không ướt chân, và dùng lương thực bởi trời là man-na và chim cút nuôi họ trong sa mạc, đã cho nước từ tảng đá rất cứng vọt ra tràn trề cho những kẻ mệt lả được uống, cho họ chiến thắng những kẻ thù gây hấn với họ, bắt sông Gio-đan chảy ngược dòng trong một thời gian, phân chia đất đã hứa cho họ theo số các chi tộc và các thị tộc. Dù Thiên Chúa đã ban cho họ những ơn ấy một cách thân tình và rộng rãi như vậy, nhưng là những người vô ơn bạc nghĩa hầu như quên hẳn mọi sự đó, họ đã chối bỏ và khinh chê việc thờ phượng Thiên Chúa mà hơn một lần sa vào tội gớm ghê là tôn thờ ngẫu tượng.
Cả chúng ta nữa, khi chúng ta còn là dân ngoại, bị lôi cuốn mãnh liệt vào việc thờ cúng các ngẫu tượng câm thì Thiên Chúa đã cắt chúng ta ra khỏi cây ô-liu hoang dại ngoại giáo và đã tháp chúng ta vào cây ô-liu đích thật là dân Do Thái, và sau khi đã cắt tỉa những nhánh tự nhiên, Người đã cho chúng ta được thông ơn của Người như thông một gốc rễ và một dòng nhựa. Cuối cùng, đến như chính Con Một Thiên Chúa cũng chẳng tha, nhưng đã trao nộp vì hết thảy chúng ta, trao nộp Người làm hiến lễ, làm hy lễ dâng lên Thiên Chúa như hương thơm ngào ngạt để cứu chuộc chúng ta cho thoát khỏi mọi điều bất chính, và để thanh luyện chúng ta, khiến chúng ta thành dân riêng của Người.
Dù tất cả những điều đó không phải là những lý chứng mà là dấu chỉ chắc chắn về tình thương cao cả và lòng rộng rãi của Người đối với chúng ta, nhưng là những con người rất mực vô ơn và vượt quá mọi giới hạn của sự bạc nghĩa, chúng ta không đếm xỉa gì đến tình yêu của Người, lại còn coi nhẹ và dường như khinh bỉ Đấng là tác giả và người ban phát bấy nhiêu ơn lành cho chúng ta. Lòng thương xót đặc biệt của Người đối với các tội nhân cũng chẳng thúc đẩy chúng ta điều chỉnh cuộc sống và cách ăn ở của chúng ta theo huấn lệnh rất thánh của Người.
Những điều đã được viết ra trong thời trước ấy thành văn bản ghi nhớ đến muôn đời thật là thích hợp để giúp mọi kẻ sau này mang danh Ki-tô hữu không ngớt lời ca tụng Thiên Chúa, khi nhận thấy lòng khoan dung lớn lao của Người đối với chúng ta.

Xướng đáp Tv 67 (68),27 ; 95 (96),1
X Hãy họp nhau mà chúc tụng Thiên Chúa.
* Chúc tụng Chúa, hỡi dòng dõi It-ra-en.
Đ Hát lên mừng Chúa một bài ca mới ; hát lên mừng Chúa, hỡi toàn thể địa cầu. *

Lời nguyện
Lạy Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, xin hướng dẫn chúng con biết hành động theo thánh ý Chúa, để nhờ kết hợp với Con Một Chúa, là Đức Giê-su Ki-tô, chúng con đem lại hoa quả dồi dào là việc lành phúc đức. Chúng con cầu xin…

THỨ BẢY

Bài đọc 1 Đnl 32,48-52 ; 34:1-12

Ông Mô-sê qua đời
Nhìn thấy Đất Hứa mà không được vào : Phần thưởng duy nhất của ông Mô-sê là đã hoàn thành sứ mạng. Người kế vị ông là Giô-suê, nhưng Đức Chúa vẫn tiếp tục dẫn đầu dân của Người.
Lời Chúa trong sách Đệ Nhị Luật.
32 48 Chính ngày đó, Đức Chúa phán với ông Mô-sê rằng:49 "Ngươi hãy lên ngọn núi kia của dãy A-va-rim, lên ngọn núi Nơ-vô, ở đất Mô-áp, đối diện với Giê-ri-khô, và hãy nhìn xem đất Ca-na-an mà ta ban cho con cái Ít-ra-en làm sở hữu.50 Rồi ngươi hãy chết trên ngọn núi ngươi sắp lên, và hãy về sum họp với gia tộc ngươi, cũng như A-ha-ron, anh ngươi, đã chết tại núi Ho và đã về sum họp với gia tộc.51 Bởi vì giữa con cái Ít-ra-en, các ngươi đã không trung thành với Ta tại mạch nước Mơ-ri-va ở Ca-đê, trong sa mạc Xin, và bởi vì các ngươi đã không biểu lộ sự thánh thiện của Ta giữa con cái Ít-ra-en,52 nên ngươi chỉ được thấy đất ấy từ xa, chứ không được vào đó, vào đất Ta ban cho con cái Ít-ra-en."
34 1 Từ đồng bằng Mô-áp, ông Mô-sê lên núi Nơ-vô, tới Pít-ga, đối diện với Giê-ri-khô, và ĐỨC CHÚA cho ông xem thấy tất cả miền đất: miền Ga-la-át cho đến Đan, 2 tất cả Náp-ta-li, miền đất Ép-ra-im và Mơ-na-se, tất cả miền đất Giu-đa cho đến Biển Tây, 3 miền Ne-ghép, vùng sông Gio-đan, thung lũng Giê-ri-khô là thành Chà Là, cho đến Xô-a. 4 ĐỨC CHÚA phán với ông: "Đây là miền đất Ta đã thề hứa với Áp-ra-ham, I-xa-ác và Gia-cóp, khi nói: "Ta sẽ ban đất ấy cho dòng dõi ngươi. Ta đã cho ngươi thấy tận mắt, nhưng ngươi sẽ không được qua đó."
5 Ông Mô-sê, tôi trung của ĐỨC CHÚA, qua đời tại đó, trong đất Mô-áp, theo lệnh ĐỨC CHÚA. 6 Ông được mai táng trong thung lũng, ở miền đất Mô-áp, đối diện với Bết Pơ-o. Cho đến ngày hôm nay, không ai biết mộ ông ở đâu. 7 Khi chết, ông Mô-sê thọ một trăm hai mươi tuổi, mắt không mờ, khí lực không giảm. 8 Con cái Ít-ra-en khóc ông Mô-sê trong đồng bằng Mô-áp ba mươi ngày; rồi những ngày than khóc thọ tang ông Mô-sê chấm dứt. 9 Ông Giô-suê, con ông Nun, đã được đầy thần khí khôn ngoan, vì ông Mô-sê đã đặt tay trên ông. Con cái Ít-ra-en nghe ông và làm như ĐỨC CHÚA đã truyền cho ông Mô-sê.
10 Trong Ít-ra-en, không còn xuất hiện một ngôn sứ nào như ông Mô-sê, người mà ĐỨC CHÚA biết rõ, mặt giáp mặt. 11 ĐỨC CHÚA đã sai ông thực hiện mọi điềm thiêng dấu lạ tại nước Ai-cập, phạt Pha-ra-ô cùng tất cả bề tôi và cả nước. 12 Ông Mô-sê đã biểu dương tất cả sức mạnh bàn tay ông và gây tất cả nỗi kinh hoàng lớn lao trước mắt toàn thể Ít-ra-en.

Xướng đáp Ga 1,14bc.16a.17 ; Hc 24,23
X Ngôi Lời đã cư ngụ giữa chúng ta, đầy tràn ân sủng và sự thật. Từ nguồn sung mãn của Người, tất cả chúng ta đã lãnh nhận hết ơn này đến ơn khác. Quả thế, Iề Luật đã được Thiên Chúa ban cho ông Mô-sê ;
* còn ân sủng và sự thật, thì nhờ Đức Giê-su Ki-tô mà có.
Đ Thiên Chúa đã ban Lề Luật cho ông Mô-sê, và nhà Gia-cóp đã nhận làm gia nghiệp. *

Bài đọc 2

Mầu nhiệm sự chết [COLOR=Navy]
Trích Hiến chế Vui Mừng và Hy vọng của Công đồng Va-ti-ca-nô II về Hội Thánh trong thế giới ngày nay.
Điều bí ẩn nhất về thân phận con người là sự chêt. Không những con người băn khoăn day dứt vì thân xác phải đau khổ và hao mòn dần, mà còn hơn nữa băn khoăn vì sợ phải bị tiêu diệt vĩnh viễn. Con người xét đoán thật đúng theo linh tính của lòng mình, khi khiếp sợ và lẩn tránh sự huỷ diệt hoàn toàn và ra đi vĩnh viễn của bản thân. Con người chống lại sự chết vì mang trong mình mầm mống của vĩnh cửu không thể bị thu gọn lại trong vật chất mà thôi. Mọi cố gắng lớn lao của kỹ thuật, dù rất hữu ích, cũng không thể xoa dịu nổi mối lo âu của con người: cuộc sống thể xác có kéo dài đến mấy cũng không thoả mãn được khát vọng sống mãi vẫn hằng tiềm ẩn sâu xa trong lòng người.
Khi mọi trí tưởng tượng đều bất lực trước sự chết thì Hội Thánh, nhờ được mặc khải chiếu soi, khẳng định rằng con người đã được dựng nên để đạt tới cùng đích hạnh phúc, sau khi vượt qua giới hạn cuộc đời khổ ải. Hơn nữa, đức tin Ki-tô giáo còn dạy rằng sự chết về thể xác mà lẽ ra con người đã có thể tránh nếu không phạm tội, vẫn có thể được khắc phục, khi nhờ Đấng Cứu Tinh quyền năng và lân tuất, con người lấy lại được ơn cứu độ đã mất do lỗi của mình. Quả vậy, Thiên Chúa đã và đang kêu gọi con người hết mình gắn bó với Người, nhờ tham dự vào sự sống thần linh bất diệt. Chiến thắng ấy, Đức Ki-tô đã đạt được khi sống lại, nhờ giải thoát con người cho khỏi chết bằng cái chết của mình. Vậy, bằng những luận chứng vững chắc, đức tin Ki-tô giáo đem lại câu trả lời cho bất cứ ai đang băn khoăn suy nghĩ về số phận tương lai của mình, đồng thời cũng cung cấp cho khả năng thông hiệp với các anh em thân mến đã lìa đời trong Đức Ki-tô, khi cho chúng ta hy vọng rằng họ đã đạt được sự sống đích thật nơi Thiên Chúa.
Quả vậy, người Ki-tô hữu cần phải chống lại sự dữ ngay cả khi chịu đựng gian nan thử thách, và phải chấp nhận cả cái chết nữa. Nhưng vì được dự phần vào mầu nhiệm Vượt Qua, được nên đồng hình đông dạng với cái chết của Đức Ki-tô, được củng cố nhờ đức cậy, họ tiến lên đón nhận ơn phục sinh.
Điều nói trên đây không chỉ có giá trị đối với các tín hữu của Đức Ki-tô, mà còn có giá trị đối với tất cả mọi người thành tâm thiện chí, những người được ơn thánh tác động vô hình trong tâm hồn. Quả vậy, vì Đức Ki-tô đã chết cho mọi người, và ơn gọi cuối cùng của mọi người chỉ là một, nghĩa là ơn được Thiên Chúa kêu gọi, nên chúng ta phải tin chắc rằng Chúa Thánh Thần ban cho mọi người khả n%u