View Full Version : Bài đọc Kinh Sách Thường Niên Tuần XIII
admin
15-06-2011, 05:58 PM
TUẦN XIII THƯỜNG NIÊN
CHÚA NHẬT
Bài đọc 1 1 Sm 28,3-25
Vua Sa-un thỉnh ý một bà đồng bóng
Vốn là một tín hữu trung thành của Chúa, Sa-un đã dùng quyền lực của một quân vương để phục vụ các xác tín của mình. Nhưng trong một tình trạng nguy kịch, ông sinh hốt hoảng và làm chuyện mê tín xưa ông đã tìm cách diệt trừ, là đi coi đồng bóng.
Lời Chúa trong sách Sa-mu-en quyển 1.
3 Ông Sa-mu-en đã qua đời, toàn thể Ít-ra-en đã cử hành tang lễ cho ông và chôn cất ông ở Ra-ma, thành của ông. Vua Sa-un trục xuất các người đồng bóng và thầy bói ra khỏi xứ.
4 Người Phi-li-tinh tập hợp lại và đến đóng trại ở Su-nêm. Vua Sa-un tập hợp toàn thể Ít-ra-en, và họ đóng trại ở Ghin-bô-a.5 Vua Sa-un thấy trại của người Phi-li-tinh thì sợ và tim ông đập mạnh.6 Ông thỉnh ý Đức Chúa nhưng Đức Chúa không trả lời, dù bằng giấc mộng, bằng thẻ u-rim, hay qua trung gian ngôn sứ.7 Vua Sa-un bảo triều thần : "Hãy tìm cho ta một bà đồng bóng, để ta thỉnh ý bà ấy." Triều thần nói với vua : "Thưa có một bà đồng bóng ở Ên Đo."
8 Vua Sa-un cải trang, mặc áo khác rồi ra đi, có hai người cùng đi với vua. Đang đêm, họ đến nhà người đàn bà, và vua nói : "Xin bà ngồi đồng mà bói cho tôi, và hãy gọi lên cho tôi người tôi sẽ nói cho bà biết."9 Người đàn bà nói với vua : "Này chính ông biết điều vua Sa-un đã làm : vua đã diệt trừ các người đồng bóng và các thầy bói trong xứ. Vậy tại sao ông lại gài bẫy hại tôi để làm cho tôi phải chết ? "10 Vua Sa-un lấy Đức Chúa mà thề với bà ấy : "Có Đức Chúa hằng sống, tôi xin thề rằng bà sẽ không mắc lỗi trong việc này."11 Người đàn bà nói : "Tôi phải gọi ai lên cho ông ? " Vua trả lời : "Bà gọi ông Sa-mu-en lên cho tôi."
12 Người đàn bà trông thấy ông Sa-mu-en và rú lên. Người đàn bà nói với vua Sa-un : "Tại sao ngài lại đánh lừa tôi ? Ngài là vua Sa-un ! "13 Vua nói với bà : "Đừng sợ ! Bà đã trông thấy gì ? " Người đàn bà trả lời vua Sa-un : "Tôi đã trông thấy một thần linh đang từ đất đi lên."14 Vua hỏi : "Hình dáng thế nào ? " Bà đáp : "Một cụ già đi lên, mình quấn áo choàng." Vua Sa-un biết đó là ông Sa-mu-en, liền sấp mặt sát đất mà lạy.15 Ông Sa-mu-en hỏi vua Sa-un : "Tại sao ngài lại gọi tôi lên mà quấy rầy tôi ? " Vua Sa-un trả lời : "Tôi lâm vào cảnh rất ngặt nghèo. Người Phi-li-tinh đang giao chiến với tôi, và Thiên Chúa đã rời khỏi tôi : Người không trả lời tôi nữa, dù qua trung gian ngôn sứ, hay qua giấc mộng. Vậy tôi đã gọi ông, để ông cho tôi biết tôi phải làm gì."16 Ông Sa-mu-en nói : "Tại sao ngài thỉnh ý tôi, trong khi Đức Chúa đã rời khỏi ngài và đã trở nên thù địch với ngài ?17 Đức Chúa đã hành động như Người đã dùng tôi mà phán : Đức Chúa đã giật vương quyền ra khỏi tay ngài và ban cho một người khác là Đa-vít.18 Bởi vì ngài đã không nghe tiếng Đức Chúa và đã không trút cơn thịnh nộ của Người xuống A-ma-lếch, cho nên hôm nay Đức Chúa đã xử với ngài như thế.19 Cùng với ngài, Đức Chúa sẽ trao cả Ít-ra-en nữa vào tay người Phi-li-tinh. Ngày mai, ngài và các con trai ngài sẽ ở với tôi. Cả quân đội Ít-ra-en nữa, Đức Chúa cũng sẽ trao vào tay người Phi-li-tinh."
20 Lập tức vua Sa-un ngã sóng sượt xuống đất : vua quá sợ hãi vì lời ông Sa-mu-en nói. Hơn nữa, vua không còn sức, vì suốt ngày suốt đêm hôm ấy đã không ăn gì.21 Người đàn bà đến bên vua Sa-un và thấy vua quá kinh hoàng thì nói với vua : "Ngài coi, nữ tỳ ngài đã nghe theo ngài. Tôi đã liều mạng và vâng nghe những lời ngài truyền cho tôi.22 Vậy bây giờ, xin ngài cũng vui lòng nghe theo nữ tỳ ngài : tôi xin dọn cho ngài miếng bánh, và xin ngài ăn để có sức tiếp tục lên đường."23 Vua từ chối và nói : "Ta sẽ không ăn đâu." Các người theo hầu cũng như người đàn bà nài nỉ vua, nên vua nghe theo họ. Vua trỗi dậy từ dưới đất và ngồi lên giường.24 Người đàn bà có một con bê béo trong nhà. Bà vội vàng làm thịt, lấy bột mà nhồi, rồi nướng bánh không men.25 Bà dọn ra trước mặt vua Sa-un và trước mặt các người theo hầu vua. Họ ăn rồi đứng dậy và ra đi ngay đêm ấy.
Xướng đáp x. 1 Sb 10,13.14
X Vua Sa-un chết vì đã thất trung với Đức Chúa, chẳng tuân giữ lời Đức Chúa truyền.
* Đức Chúa đã chuyển trao vương quyền cho ông Đa-vít.
Đ Vì Ông Sa-un lại còn kiếm một mụ đồng bóng mà thỉnh vấn nữa. *
Bài đọc 2
Chúng tôi rao giảng Đức Ki-tô cho đến tận cùng cõi đất
Trích bài giảng của đức giáo hoàng Phao-lô VI tại Ma-ni-la (29-11-1970).
Khốn thân tôi nếu tôi không rao giảng Tin Mừng , vì tôi đã được chính Đức Ki-tô sai đi. Tôi là tông đồ và tôi cũng là chứng nhân. Mục đích càng xa, sứ mệnh càng khó thì tình yêu Đức Ki-tô lại càng thôi thúc tôi mạnh mẽ hơn. Tôi phải rao giảng danh của Người : Đức Giê-su là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa hằng sống. Chính Người đã tỏ cho chúng ta thấy Thiên Chúa vô hình, chính Người là Trưởng Tử sinh ra trước mọi loài thọ tạo, và chính trong Người mà tất cả tồn tại. Người là Thầy và là Đấng cứu chuộc nhân loại. Vì chúng ta, Người đã sinh ra, đã chết và đã sống lại.
Chính Người là trung tâm của lịch sử và của muôn vật muôn loài. Người biết và yêu mến chúng ta ; Người là bạn đồng hành của chúng ta trên đường đời, là con người của khổ đau và hy vọng. Chắc chắn Người sẽ lại đến, và sau cùng sẽ là Đấng xét xử chúng ta ; Người đưa cuộc đời chúng ta đến chỗ viên mãn và làm cho chúng ta được hạnh phúc muôn đời, như lòng chúng ta tin tưởng.
Tôi sẽ không ngớt nói về Người ; chính Người là ánh sáng, là sự thật ; hơn nữa, Người còn là đường, là sự thật và là sự sống. Người là bánh, là nước nguồn làm cho chúng ta không còn đói khát nữa. Người là mục tử, là thủ lãnh, là gương mẫu, là nguồn trợ lực, là anh của chúng ta. Như chúng ta và còn hơn chúng ta, Người đã nên bé nhỏ nghèo khó, chịu nhục nhã, phải vất vả và nhọc nhằn, bị áp bức và khổ đau. Vì chúng ta, Người đã nói, đã làm các phép la, đã lập một vương quốc mới ; nơi đó, sự bình an là nguyên lý của đời sống chung ; nơi đó, những ai có tâm hồn trong sạch và những người sầu khổ sẽ được ngợi khen và được an ủi, những ai khao khát sự công chính sẽ được thoả lòng ; nơi đó, kẻ tội lỗi có thể nhận được ơn tha thứ và mọi người nhận ra nhau là anh em.
Đấng ấy chính là Đức Giê-su Ki-tô mà anh em đã nghe nói đến và chắc chắn phần đông anh em thuộc về Người vì anh em là Ki-tô hữu. Vậy thưa anh chị em Ki-tô hữu, tôi xin nhắc lại danh Người cho anh em. Tôi xin loan báo danh đó cho mọi người : Đức Giê-su Ki-tô là khởi nguyên và tận cùng, là An-pha và Ô-mê-ga, là vua của thế giới mới, là nguyên lý nhiệm mầu và tối hậu giải thích lịch sử nhân loại và vận mệnh chúng ta. Chính Người là Đấng trung gian và có thể nói Người là chiếc cầu nối liền đất với trời. Chính Người là Con Người hoàn hảo nhất, tuyệt vời hơn hết mọi người, vì Người là Con Thiên Chúa, vĩnh cửu vô biên, và là con Đức Ma-ri-a, Đấng diễm phúc hơn mọi phụ nữ, Đấng là mẹ của Người theo thể xác, là mẹ của chúng ta vì chúng ta hiệp thông với Thánh Thần của thân thể mầu nhiệm là Hội Thánh.
Đức Giê-su Ki-tô ! Anh em hãy nhớ : Người là Đấng chúng tôi hằng rao giảng cho anh em luôn mãi. Chúng tôi muốn cho danh Người vang dội đến tận cùng cõi đất và đến muôn muôn đời.
Xướng đáp 2 Tm 1,10 ; Ga 1,16 ; Cl 1,16-17
X Đấng cứu độ chúng ta là Đức Ki-tô Giê-su đã tiêu diệt thần chết, và đã dùng Tin Mừng mà làm sáng tỏ phúc trường sinh bất tử.
* Từ nguồn sung mãn của Người, tất cả chúng ta đã lănh nhận hết ơn này đến ơn khác.
Đ Tất cả đều do Thiên Chúa tạo dựng, nhờ Người và cho Người. Người có trước muôn loài muôn vật, và tất cả đều tồn tại trong Người. *
Thánh Thi “Lạy Thiên Chúa”
Lời nguyện
Lạy Chúa, Chúa đã dủ lòng thương nhận chúng con làm nghĩa tử để chúng con trở thành con cái ánh sáng, xin đừng để chúng con sa vào cảnh tối tăm lầm lạc nhưng gìn giữ chúng con luôn rạng ngời ánh sáng chân lý Chúa. Chúng con cầu xin…
admin
15-06-2011, 05:59 PM
THỨ HAI
Bài đọc 1 1 Sm 31,1-4 ; 2 Sm 1,1-16
Vua Sa-un chết thê thảm
Vua Sa-un lúc đầu trung thành với Thiên Chúa, nhưng sau đó bất tuân nên bị Chúa ruồng bỏ. Tuy nhiên lúc nào Đa-vít cũng xem ông như người được Thiên Chúa xức dầu và chọn lựa để cứu thoát dân Người. Điều này lý giải cách Đa-vít xử sự với Sa-un.
Lời Chúa trong sách Sa-mu-en quyển 1.
31 1 Người Phi-li-tinh giao chiến với Ít-ra-en. Người Ít-ra-en chạy trốn trước mặt người Phi-li-tinh và bị tử thương ngã gục trên núi Ghin-bô-a.2 Người Phi-li-tinh bám sát vua Sa-un cùng các con trai vua, và chúng giết ông Giô-na-than, ông A-vi-na-đáp và ông Man-ki Su-a, các con vua Sa-un.3 Áp lực của mặt trận dồn về phía vua Sa-un. Lính bắn cung nhận ra vua. Vua rất run sợ khi thấy lính bắn cung.4 Vua Sa-un bảo người hầu cận : "Rút gươm ra và đâm ta đi, kẻo bọn không cắt bì ấy đến đâm ta và ngạo ta." Nhưng người hầu cận không dám vì quá sợ. Vua Sa-un mới lấy gươm ra và lao vào mũi gươm.
1 1 Sau khi vua Sa-un chết, ông Đa-vít đánh thắng người A-ma-lếch trở về, và ở lại Xích-lắc hai ngày.2 Sang ngày thứ ba, có một người từ trại, từ bên vua Sa-un đến, áo quần xé rách, đầu thì rắc đất. Khi đến gần ông Đa-vít, anh ta sấp mình xuống đất và sụp lạy.3 Ông Đa-vít hỏi anh : "Anh từ đâu đến ? " Anh trả lời ông : "Tôi đã chạy thoát từ trại Ít-ra-en."4 Ông Đa-vít nói với anh : "Chuyện gì đã xảy ra ? Kể lại cho tôi đi ! " Anh nói : "Dân đã bỏ chiến trường mà chạy trốn ; nhiều người trong dân tử trận, cả vua Sa-un và con vua là ông Giô-na-than cũng đã chết."
5 Ông hỏi người thanh niên đưa tin cho ông : "Làm sao anh biết được vua Sa-un và con vua là ông Giô-na-than đã chết ? "6 Người thanh niên đưa tin cho ông trả lời : "Tình cờ tôi ở trên núi Ghin-bô-a và thấy vua Sa-un đang tựa vào cây giáo của vua, có chiến xa và kỵ binh bám sát vua.7 Vua quay lại, thấy tôi và gọi tôi. Tôi thưa : "Dạ, tôi đây ! "8 Vua hỏi tôi : "Ngươi là ai ? " Tôi thưa : "Tôi là người A-ma-lếch."9 Vua bảo tôi : "Ngươi hãy đứng bên ta và kết liễu đời ta, vì ta bị choáng váng, mặc dầu sinh lực vẫn còn nguyên vẹn nơi ta."10 Vậy tôi đứng bên vua và kết liễu đời vua, vì biết rằng vua sẽ không sống được sau khi thất trận. Tôi đã lấy huy hiệu trên đầu vua và cái vòng trên cánh tay vua và đem lại đây cho chúa thượng."
11 Ông Đa-vít nắm lấy áo mình mà xé ra, tất cả những người ở với ông cũng vậy.12 Họ cử hành tang lễ, khóc lóc và ăn chay cho đến chiều để tỏ lòng thương tiếc vua Sa-un và ông Giô-na-than, con vua, thương tiếc dân Đức Chúa và nhà Ít-ra-en, vì những người này đã ngã gục dưới lưỡi gươm.
13 Ông Đa-vít hỏi người thanh niên báo tin cho ông : "Ngươi quê ở đâu ? " Anh đáp : "Tôi là con một người ngoại kiều A-ma-lếch."14 Ông Đa-vít nói với anh : "Ngươi không sợ sao mà dám tra tay sát hại người Đức Chúa đã xức dầu tấn phong ? "15 Ông Đa-vít gọi một trong các đầy tớ và nói : "Lại gần mà giết nó đi." Người này đâm anh ta và anh ta chết.16 Ông Đa-vít bảo anh ta : "Máu ngươi đổ xuống đầu ngươi, vì chính miệng ngươi đã cáo tội ngươi, khi ngươi nói : ‘Chính tôi đã kết liễu cuộc đời của người Đức Chúa đã xức dầu tấn phong’."
Xướng đáp x. 2 Sm 1,21.19
X Hỡi núi đồi Ghin-bô-a, ước gì trên các ngươi chẳng còn mưa rơi sương đọng.
* Vì tại đó, các anh hùng của Ít-ra-en đã gục ngã thảm thương.
Đ Ước gì Chúa thăm viếng mọi núi đồi của Ít-ra-en : nhưng tại Ghin-bô-a, Người đừng ghé lại. *
Bài đọc 2
Chính Người là Thiên Chúa chúng ta, còn chúng ta là dân Người lãnh đạo
Trích bài giảng của thánh Âu-tinh, giám mục.
Những lời chúng ta vừa hát diễn tả niềm tin của chúng ta : chúng ta là đoàn chiên của Thiên Chúa, vì chính Người là Đức Chúa, Thiên Chúa chúng ta, Đấng đã dựng nên chúng ta. Người là Thiên Chúa chúng ta, còn chúng ta là dân Người lãnh đạo, là đoàn chiên tay Người dẫn dắt. Nếu mục tử là người phàm, thì chiên họ có không phải chính họ đã làm ra, chiên họ chăn không phải chính họ đã tạo thành. Còn Chúa, Thiên Chúa chúng ta, vì Người vừa là Thiên Chúa vừa là Đấng sáng tạo, nên Người đã làm ra cho mình những con chiên Người có và những con chiên Người chăn. Không ai khác có thể tập hợp những con chiên mà chính Người chăn dắt, cũng không ai khác chăn dắt được những con chiên mà chính Người tập họp.
Vậy một khi hát lên bài thánh ca ấy mà tuyên xưng mình là chiên của Người, là dân Người lãnh đạo, là đoàn chiên tay Người dẫn dắt, chúng ta hãy nghe xem Người nói gì với chúng ta là chiên của Người. Trước đây Người nói với mục tử, còn bây giờ Người nói với chiên. Những lời Người nói trước đây, chúng tôi nghe mà run sợ, còn anh em nghe thì lại an lòng. Vậy những lời Người nói hôm nay thì sao ? Chẳng lẽ bây giờ đến lượt chúng tôi được an lòng, còn anh em lại phải run sợ ? Chắc chắn là không ! Trước hết cho dù chúng tôi có là mục tử, thì người mục tử không phải chỉ run sợ khi nghe điều Chúa nói với các mục tử, mà cả khi nghe điều Chúa nói với chiên nữa. Nếu người mục tử nghe điều Chúa nói với chiên mà vẫn bình thản, thì quả thật người ấy chẳng lo lắng gì đến chiên nữa. Kế đến, như chúng tôi đã nói nhiều lần với anh em yêu quý, có hai điều khiến chúng tôi phải quan tâm : một mặt chúng tôi là Ki-tô hữu, mặc khác chúng tôi là người lãnh đạo. Là người lãnh đạo chúng tôi được kể vào hàng mục tử, nếu chúng tôi là người tốt. Là Ki-tô hữu, cả chúng tôi nữa, chúng tôi cũng là chiên như anh em. Vậy dù Chúa nói với mục tử hay nói với chiên, thì chúng tôi cũng phải nghe tất cả với lòng run sợ, và phải luôn để tâm lo lắng.
Vậy thưa anh em, chúng ta hãy nghe xem Chúa sửa dạy các con chiên hư đốn ra sao, và Người hứa gì với chiên của Người. Người phán : Phần các ngươi, hỡi chiên của Ta. Trước hết, thưa anh em, nếu có ai nghĩ rằng thật là hạnh phúc khi được thuộc vê đoàn chiên của Thiên Chúa, thì người ấy sẽ tràn ngập một niềm vui lớn lao ngay cả lúc phải khóc lóc buồn sầu hay gặp cảnh gian truân. Quả thật, khi nói về Đấng không ngủ cũng không hề chợp mắt để gìn giữ Ít-ra-en thì có lời thưa rằng : Người là Đấng chăn dắt Ít-ra-en. Vậy Người thức để canh phòng cho ta khi ta thức, Người vẫn thức cả khi ta ngủ. Nếu nhờ mục tử là người phàm mà đoàn vật của ai đó được an toàn, thì chúng ta cũng được an toàn hơn biết bao nhờ được Thiên Chúa dẫn dắt, không những vì Người chăn dắt chúng ta, mà còn vì Người là Đấng đã dựng nên chúng ta nữa.
Kinh Thánh chép : Phần các ngươi, hỡi chiên của Ta, Chúa là Thiên Chúa phán : Này chính Ta sẽ xét xử giữa chiên với chiên, giữa cừu với dê. Thử hỏi những con dê trong đoàn chiên của Thiên Chúa làm gì ở đây ? Tuy được ở trong cùng một đồng cỏ, trong cùng những suối nước, nhưng những con dê được chỉ định ở bên trái lại trà trộn với những con ở bên phải. Bây giờ phải chịu như vậy đã, sau mới tách chúng ra. Sở dĩ như vậy là có ý luyện cho chiên biết nhẫn nại để noi gương nhẫn nại của Thiên Chúa. Quả thế, chính Người sẽ tách chúng ra : những con này ở bên trái, những con kia ở bên phải.
Xướng đáp Ga 10,27-28 ; Ed 34,15
X Chiên của tôi thì nghe tiếng tôi ; tôi biết chúng và chúng theo tôi. Tôi ban cho chúng sự sống đời đời.
* Không bao giờ chúng phải diệt vong, và không ai cướp chúng khỏi tay tôi được.
Đ Chính Ta sẽ chăn dắt chiên của Ta, chính Ta sẽ cho chúng nằm nghỉ, - sấm ngôn của Đức Chúa. *
Lời nguyện
Lạy Chúa, Chúa đã dủ lòng thương nhận chúng con làm nghĩa tử để chúng con trở thành con cái ánh sáng, xin đừng để chúng con sa vào cảnh tối tăm lầm lạc nhưng gìn giữ chúng con luôn rạng ngời ánh sáng chân lý Chúa. Chúng con cầu xin…
THỨ BA
Bài đọc 1 2 Sm 2,1-11 ; 3,1-5
Ông Đa-vít được xức dầu phong vương tại Khép-rôn
Phải khá vất vả vua Sa-un mới thống nhất đất nước, nhưng sau khi ông chết thì hai vua lại tranh dành quyền lực với nhau. Đa-vít sẽ thắng, và thắt chặt hơn nữa các mối tương quan giữa các chi tộc Ít-ra-en. Năm mươi năm sau, đất nước sẽ bị chia cắt, và phen này thì vĩnh viễn.
Lời Chúa trong sách Sa-mu-en quyển 2.
2 1 Sau đó, ông Đa-vít thỉnh ý Đức Chúa : "Con có nên đi lên một trong các thành Giu-đa không ?" Đức Chúa phán với ông : "Cứ lên." Ông Đa-vít nói : "Con phải lên đâu ?" Người phán : "Lên Khép-rôn."2 Ông Đa-vít lên đó, cùng với hai bà vợ, là bà A-khi-nô-am người Gít-rơ-en, và bà A-vi-ga-gin, vợ ông Na-van người Các-men.3 Còn những người đi theo ông, ông Đa-vít cũng đưa họ lên, mỗi người cùng với gia đình mình, và họ ở các thành vùng Khép-rôn.4 Người Giu-đa kéo đến, và tại đó, họ xức dầu tấn phong ông Đa-vít làm vua nhà Giu-đa.
Người ta báo tin cho vua Đa-vít rằng : “Người Gia-vét miền Ga-la-át đã chôn cất vua Sa-un.” 5 Vua Đa-vít sai sứ giả đến với người Gia-vét miền Ga-la-át và nói với họ : "Xin Đức Chúa chúc phúc cho anh em, vì anh em đã làm việc nghĩa ấy với chúa thượng của anh em là vua Sa-un, và đã chôn cất vua.6 Giờ đây, xin Đức Chúa lấy tình thương và lòng thành tín mà đối xử với anh em. Cả tôi nữa, tôi cũng sẽ lấy lòng tốt như vậy mà đối xử với anh em, vì anh em đã làm điều ấy.7 Giờ đây, anh em hãy mạnh bạo lên, hãy tỏ ra là những người can đảm, vì chúa thượng của anh em là vua Sa-un đã chết. Còn tôi thì nhà Giu-đa đã xức dầu tấn phong làm vua của họ.
8 Ông Áp-ne là con ông Ne và là tướng chỉ huy quân đội vua Sa-un, đã rước ông Ít-bô-sét, con vua Sa-un, đưa sang Ma-kha-na-gim,9 và tôn làm vua miền Ga-la-át, dân A-su-ri, miền Gít-rơ-en, Ép-ra-im, Ben-gia-min và toàn thể Ít-ra-en.10 Ông Ít-bô-sét, con vua Sa-un, được bốn mươi tuổi khi lên làm vua Ít-ra-en, và trị vì hai năm. Chỉ có nhà Giu-đa theo vua Đa-vít.11 Thời gian vua Đa-vít làm vua tại Khép-rôn, cai trị nhà Giu-đa, là bảy năm sáu tháng.
3 1 Chiến tranh kéo dài giữa nhà Sa-un và nhà Đa-vít. Vua Đa-vít ngày càng mạnh thêm, còn nhà Sa-un thì ngày càng yếu đi.
2 Tại Khép-rôn, vua Đa-vít đã sinh được những người con trai : con đầu lòng là Am-nôn, do bà A-khi-nô-am người Gít-rơ-en ;3 người thứ hai là Ki-láp, do bà A-vi-ga-gin, vợ ông Na-van người Các-men ; người thứ ba là Áp-sa-lôm, do bà Ma-a-kha, ái nữ của Tan-mai, vua Gơ-sua ;4 người thứ tư là A-đô-ni-gia, do bà Khác-ghít ; người thứ năm là Sơ-phát-gia, do bà A-vi-tan ;5 người thứ sáu là Gít-rơ-am, do bà Éc-la, vợ vua Đa-vít. Đó là những người con trai vua Đa-vít đã sinh được tại Khép-rôn.
Xướng đáp St 49,10.8
X Vương trượng sẽ không rời khỏi Giu-đa, gậy chỉ huy sẽ không lìa đầu gối nó,
* cho đến khi sứ giả của Thiên Chúa đến, người mà muôn dân nao nức đợi chờ.
Đ Giu-đa, con sẽ được anh em con ca tụng, anh em cùng cha với con sẽ sụp xuống lạy con. *
Bài đọc 2
Nếu tôi muốn làm đẹp lòng người đời thì tôi không phải là tôi tớ của Đức Ki-tô
Trích bài giảng của thánh Âu-tinh, giám mục.
Điều khiến chúng tôi tự hào là lương tâm làm chứng cho chúng tôi. Có những người xét đoán bừa bãi, gièm pha, to nhỏ, lẩm bẩm kêu ca, tìm cớ nghi ngờ điều mình chẳng thấy, thậm chí làm lung lay cả điều mình không thể nghi ngờ. Với những con người nhu thế thì chúng tôi còn gì để đối lại, ngoài lời chứng của lương tâm chúng tôi ? Quả vậy, thưa anh em, ngay cả khi chúng tôi muốn làm đẹp lòng người ta, chúng tôi không tìm vinh dự cho mình, và cũng chẳng được phép tìm vinh dự ấy, nhưng phải nhắm đến ơn cứu độ của họ. Như thế, nếu chúng tôi sống ngay thẳng, họ sẽ không lạc lối khi đi theo chúng tôi. Nếu chúng tôi bắt chước Đức Ki-tô, thì họ vẫn phải bắt chước Đức Ki-tô. Thật vậy, chính Người là Đấng chăn dắt đoàn chiên của mình, và chỉ một mình Người chăn dắt cùng với tất cả những ai đang tận tâm chăn dắt đoàn chiên, vì hết thảy mọi người chăn đều ở trong Người.
Vậy chúng tôi không tìm lợi ích cho mình, khi muốn làm đẹp lòng người đời, nhưng chúng tôi muốn tìm được niềm vui nơi họ, nghĩa là chúng tôi vui khi thấy họ yêu thích sự thiện ; mà như thế là vì lợi ích của họ, chứ không phải vì danh giá của chúng tôi. Thánh Tông Đồ đã cảnh cáo chúng tôi : Nếu tôi muốn làm đẹp lòng người đời, thì tôi không phải là tôi tớ của Đức Ki-tô. Đó là điều hiển nhiên. Và người cũng đã nhắc nhở chúng tôi : Anh em hãy làm đẹp lòng mọi ngươi trong mọi hoàn cảnh, cũng như tôi, tôi làm đẹp lòng mọi người trong mọi hoàn cảnh. Và đây cũng là điều hiển nhiên. Hai lời trên đều rõ ràng, lắng đọng, trong sáng, không chi khuấy đục. Còn bạn, bạn cứ việc gặm cỏ và uống nước, nhưng đừng giẫm nát cỏ và cũng đừng làm đục nước.
Chắc chắn bạn cũng đã nghe Chúa Giê-su Ki-tô, Thầy các Tông Đồ nói rằng : Ánh sáng của anh em phải chiếu giãi trước mặt thiên hạ, để họ thấy những công việc tốt đẹp anh em làm, mà tôn vinh Cha của anh em, Đấng ngự trên trời, nghĩa là Đấng đã làm cho anh em được như thế, vì chúng ta là dân Người lãnh đạo, là đoàn chiên tay Người dẫn dắt. Vậy phải ngợi khen Đấng đã làm cho bạn nên tốt, nếu bạn là người tốt, chứ không phải ngợi khen bạn, vì tự bản thân bạn chỉ có thể là xấu. Sao bạn lại muốn bẻ quặt chân lý, vì khi làm được điều gì tốt, bạn muốn được khen ; còn khi làm điều gì xấu, thì bạn lại muốn Chúa bị chê trách.
Vậy hẳn Đấng đã nói : Ánh sáng của anh em phải chiếu giãi trước mặt thiên hạ, thì chính Người cũng nói trong bài giảng ấy : Khi làm việc lành phúc đức, anh em phải coi chừng, chớ có phô trương công đức cho thiên hạ thấy. Bởi vậy, nếu bạn thấy những lời khen trên kia của các thánh Tông Đồ là mâu thuẫn, thì những lời trong Tin Mừng, bạn cũng thấy như vậy. Nhưng nếu bạn không khuấy động nước là lòng bạn, thì nơi đây bạn sẽ nhận ra sự bình an trong Kinh Thánh, và bạn sẽ có được sự bình an khi đọc Kinh Thánh.
Vậy, thưa anh em, không những chúng ta phải lo sống tốt lành, mà còn phải lo cư xử tử tế trước mặt người đời nữa ; cũng không phải chỉ lo cho có lương tâm ngay thẳng, nhưng còn phải tuỳ theo mức yếu đuối của mình và tuỳ theo khả năng làm chủ bản tính con người của mình mỏng giòn, mà cố tránh đừng làm điều gì khiến người anh em yếu đuối nghĩ xấu về chúng ta, kẻo trong khi được ăn cỏ tươi và uống nước trong, chúng ta lại giẫm nát đồng cỏ của Thiên Chúa, khiến cho kẻ yếu đuối phải ăn cỏ nát và uống nước đục.
Xướng đáp Pl 2,2.3-4 ; 1 Tx 5,14.15
X Anh em hãy làm cho niềm vui của tôi được trọn vẹn, là hãy có cùng một cảm nghĩ, cùng một lòng mến ; hãy lấy lòng khiêm nhường mà coi người khác hơn mình.
* Mỗi người đừng tìm lợi ích cho riêng mình, nhưng hãy tìm lợi ích cho người khác.
Đ Anh em hãy nâng đỡ người yếu đuối, và kiên nhẫn với mọi người ; hãy luôn luôn cố gắng làm điều thiện cho nhau cũng như cho mọi người. *
Lời nguyện
Lạy Chúa, Chúa đã dủ lòng thương nhận chúng con làm nghĩa tử để chúng con trở thành con cái ánh sáng, xin đừng để chúng con sa vào cảnh tối tăm lầm lạc nhưng gìn giữ chúng con luôn rạng ngời ánh sáng chân lý Chúa. Chúng con cầu xin…
admin
15-06-2011, 06:00 PM
THỨ TƯ
Bài đọc 1 2 Sm 4,2 ; 5,7
Khởi đầu triều đại vua Đa-vít
Điều ngôn sứ Sa-mu-en loan báo cho vua Đa-vít, nay Thiên Chúa thực hiện : Vua có một tư tưởng chính trị lớn khi mở đầu triều đại, đó là chinh phục một thành mới, sẽ trở thành thủ đô, độc lập đối với tất cả các chi tộc, chẳng bao lâu sẽ trở thành biểu tượng của cộng đoàn.
Lời Chúa trong sách Sa-mu-en quyển 2.
4 2 Người con vua Sa-un có hai tướng cướp, một thằng tên là Ba-a-na, một thằng tên là Rê-kháp. Chúng là con ông Rim-môn người thành Bơ-ê-rốt, và thuộc chi tộc Ben-gia-min, vì cả Bơ-ê-rốt cũng được kể như thuộc Ben-gia-min.3 Người Bơ-ê-rốt đã trốn đến Ghít-ta-gim và là ngoại kiều ở đó cho đến ngày nay.4 Ông Giô-na-than, con vua Sa-un, có một con trai bại hai chân. Nó được năm tuổi khi người ta từ Gít-rơ-en đến báo tin về vua Sa-un và ông Giô-na-than. Vú nuôi mang nó đi trốn, nhưng trong lúc chị hoảng hốt chạy trốn, nó ngã và bị què. Nó tên là Mơ-phi-bô-sét.
5 Các con ông Rim-môn người Bơ-ê-rốt, là Rê-kháp và Ba-a-na, đã lên đường và đã đến nhà vua Ít-bô-sét vào lúc nóng nực nhất trong ngày. Vua đang nằm ngủ trưa.6 Chúng vào tận trong nhà, như để xúc lúa mì, đâm vào bụng vua, rồi Rê-kháp và Ba-a-na, anh nó, trốn thoát.7 Khi chúng vào nhà thì vua đang nằm trên giường tại phòng ngủ, chúng đâm chết vua rồi chặt đầu. Rồi chúng mang đầu vua và đi theo đường A-ra-va suốt đêm.8 Chúng đem đầu vua Ít-bô-sét đến cho vua Đa-vít tại Khép-rôn và nói với vua : "Đây là đầu của Ít-bô-sét, con vua Sa-un, kẻ thù của ngài, người đã tìm hại mạng sống ngài. Hôm nay Đức Chúa đã cho đức vua là chúa thượng tôi trả thù vua Sa-un và dòng dõi vua ấy."
9 Vua Đa-vít trả lời Rê-kháp và Ba-a-na, anh nó, là những người con ông Rim-môn người Bơ-ê-rốt ; vua nói : "Có Đức Chúa hằng sống, Đấng đã giải thoát ta khỏi mọi cảnh ngặt nghèo !10 Kẻ đưa tin cho ta rằng vua Sa-un đã chết, và coi mình là người đưa tin mừng, thì ta đã túm lấy và giết đi ở Xích-lắc, để thưởng công nó đã đem tin mừng.11 Phương chi khi những kẻ ác ôn đã giết một người công chính trong nhà người ấy, trên giường người ấy ! Há bây giờ ta lại không hỏi tội các ngươi về máu tay các ngươi đã đổ ra, và không khử trừ các ngươi khỏi mặt đất sao ? "12 Vua Đa-vít ra lệnh cho đầy tớ. Họ giết chúng, chặt tay chặt chân, rồi treo gần hồ Khép-rôn. Còn đầu vua Ít-bô-sét thì họ đem đi và chôn trong mộ ông Áp-ne tại Khép-rôn.
5 1 Toàn thể các chi tộc Ít-ra-en đến gặp vua Đa-vít tại Khép-rôn và thưa : "Chúng tôi đây là cốt nhục của ngài.2 Ngay cả trước kia, khi ông Sa-un làm vua cai trị chúng tôi, chính ngài đã chỉ huy các cuộc hành quân của Ít-ra-en. Đức Chúa đã phán với ngài : "Chính ngươi sẽ chăn dắt Ít-ra-en, dân Ta, chính ngươi sẽ là người lãnh đạo Ít-ra-en."3 Toàn thể kỳ mục Ít-ra-en đến gặp vua tại Khép-rôn. Vua Đa-vít lập giao ước với họ tại Khép-rôn, trước nhan Đức Chúa. Rồi họ xức dầu tấn phong Đa-vít làm vua Ít-ra-en.
4 Vua Đa-vít được ba mươi tuổi khi lên làm vua, và trị vì bốn mươi năm.5 Tại Khép-rôn, vua trị vì Giu-đa bảy năm sáu tháng. Tại Giê-ru-sa-lem, vua trị vì toàn thể Ít-ra-en và Giu-đa ba mươi ba năm.
6 Vua và người của vua tiến về Giê-ru-sa-lem đánh người Giơ-vút là dân bản xứ. Chúng nói với vua Đa-vít : "Ông sẽ không vào đây được, vì người mù người què sẽ đẩy lui ông." Nghĩa là : "Ông Đa-vít sẽ không vào đây được."7 Vua Đa-vít đã chiếm được đồn luỹ Xi-on, đó là Thành vua Đa-vít.
Xướng đáp Tv 2,2.6.1
X Vua chúa trần gian cùng nổi dậy, vương hầu khanh tướng rập mưu đồ chống lại Đức Chúa, chống lại Đấng Người đã xức dầu phong vương.
* Chính Ta đã đặt vị quân vương Ta tuyển chọn lên trị vì Xi-on, núi thánh của Ta.
Đ Sao chư dân lại ồn ào náo động ? Sao vạn quốc dám bày kế viển vông ? *
Bài đọc 2
Xin làm cho triều đại Cha mau đến
Trích sách Đường trọn lành của thánh Tê-rê-xa, trinh nữ.
Nếu muốn xin một điều gì với một nhân vật quan trọng và có thế giá, thử hỏi có người nào ngớ ngẩn và vô tâm đến nỗi trước đó không đắn đo suy nghĩ xem phải nói thế nào cho đẹp lòng người ấy, để người ấy không cảm thấy chán hay bực mình ? Người xin phải xét xem cần xin điều gì và lý do nào thúc đẩy họ xin điều đó, nhất là khi họ xin một điều hệ trọng như chính Đức Giê-su tốt lành đã dạy chúng ta. Tôi cho đó là điều đáng suy nghĩ. Lạy Chúa, chẳng lẽ Chúa chẳng gom tất cả vào một lời và dạy chúng con nói : “Lạy Cha, xin ban cho chúng con điều thích hợp với chúng con.” Vì đối với Chúa là Đấng hiểu thấu tất cả, thì cần gì phải nói thêm nữa.
Ôi ! Lạy Đấng khôn ngoan hằng hữu ! Giữa Ngài với Chúa Cha, nói như thế là đủ, đó cũng chính là điều Ngài đã cầu khẩn ở vườn Cây Dầu. Ngài đã biểu lộ tình yêu và nỗi lo sợ khi phó mình vâng theo ý Chúa Cha. Phần chúng con, lạy Chúa, Chúa biết rõ chúng con chưa tuân phục ý Chúa Cha như Ngài đâu ; vì thế, chúng con cần phải xin những điều chính đáng và xét xem những điều ấy có thích hợp hay không, để nếu như không thích hợp thì đừng xin. Con người chúng con là như thế đó, nghĩa là khi Chúa không cho chúng con những gì chúng con muốn, thì chúng con dùng tự do của mình mà từ chối điều Chúa ban tặng, ngay cả khi đó là điều tốt nhất. Nếu đó không phải là tiền mặt chúng con nắm chắc trong tay thì chúng con e rằng sẽ chẳng bao giờ giàu lên được.
Vậy, Chúa Giê-su tốt lành yêu cầu chúng ta đọc lên những lời sau đây để xin cho triều đại Người mau đến với chúng ta : Nguyện Danh Thánh hiển vinh, triều đại Cha mau đến. Này chị em hãy xem sự khôn ngoan tuyệt vời của Thầy chúng ta. Tôi cho rằng đã đến lúc phải tìm hiểu ý nghĩa của việc cầu nguyện cho vương quốc. Nhưng Chúa uy linh cao cả đã thấy rằng chúng ta không thể thánh hoá, ca ngợi, tán dương và tôn vinh danh thánh Chúa Cha hằng hữu, vì con người nhỏ bé của chúng ta không làm được công việc đó cho phải đạo, trừ phi Chúa uy linh cao cả phù giúp đỡ nâng mà ban cho chúng ta vương quốc của Người ngay ở đời này, nên Chúa Giê-su tốt lành đã đặt hai lời cầu xin liền với nhau. Tôi muốn nói ra đây tư tưởng của tôi để chị em hiểu điều chúng ta cầu xin. Chúng ta cần phải nhấn mạnh và ra sức làm đẹp lòng Đấng có thể ban ơn đó cho chúng ta. Nếu chị em chưa mãn nguyện với những suy nghĩ của tôi thì về phía chị em, xin chị em cứ việc suy nghĩ. Thầy chúng ta cho phép như vậy, với điều kiện là chúng ta phải hết lòng tuân phục các lời giáo huấn của Hội Thánh như tôi đang làm đây.
Vậy tôi cho rằng điều cao quý nhất trong Nước Trời, đó là được siêu thoát khỏi những sự đời này, đó là niềm thanh tịnh, là vinh phúc nơi con người chúng ta, là niềm vui trước niêm vui của mọi người, là sự bình an vĩnh viễn, là lòng mãn nguyện khi thấy mọi người tôn kính, ngợi khen, chúc tụng danh Chúa. Nơi đó, Người không còn bị xúc phạm, vì ai nấy đều yêu mến Người. Chính linh hồn cũng chỉ còn biết yêu mến Người và không thể ngừng yêu mến Người vì đã biết Người. Đó là cách chúng ta phải yêu mến Người ở đời này. Tuy hiện nay chúng ta chưa yêu mến Người cách hoàn hảo và hồn nhiên, nhưng chúng ta sẽ yêu mến Người cách trọn hảo hơn nếu chúng ta thật sự biết Người.
Xướng đáp
X Đấng đã biết cho con cái mình của lành của tốt, lại thúc giục chúng ta cứ xin, cứ tìm, cứ gõ cửa.
* Càng bền chí tin tưởng, trông cậy vững vàng, ước mong tha thiết, ơn lành ta nhận được càng phong phú dồi dào.
Đ Thường ta phải than van hơn nhiều lời, khóc lóc hơn lý sự. *
Lời nguyện
Lạy Chúa, Chúa đã dủ lòng thương nhận chúng con làm nghĩa tử để chúng con trở thành con cái ánh sáng, xin đừng để chúng con sa vào cảnh tối tăm lầm lạc nhưng gìn giữ chúng con luôn rạng ngời ánh sáng chân lý Chúa. Chúng con cầu xin…
THỨ NĂM
Bài đọc 1 2 Sm 6,1-13
Rước Hòm Bia về Giê-ru-sa-lem
Thành Giê-ru-sa-lem đón nhận Hòm Bia Giao Ước. Từ nay thành là nơi Thiên Chúa ngự, nơi toàn thể dân Ít-ra-en tiến về hành hương, mở đầu cho sứ mạng thành đô Hội Thánh Chúa Ki-tô, tức là Giê-ru-sa-lem mới, vượt ra ngoài mọi ranh giới của chủng tộc và quốc gia.
Lời Chúa trong sách Sa-mu-en quyển 2.
1 Vua Đa-vít lại quy tụ toàn thể tinh binh Ít-ra-en : ba mươi ngàn người.2 Từ Ba-a-lê Giu-đa, vua Đa-vít lên đường và cùng đi với toàn dân đang ở với vua, để đưa Hòm Bia Thiên Chúa từ đó lên, Hòm Bia mang danh Đức Chúa các đạo binh, Đấng ngự trên các thần hộ giá.3 Người ta đặt Hòm Bia Thiên Chúa lên một cỗ xe mới và mang đi từ nhà ông A-vi-na-đáp ở trên đồi. Các con ông A-vi-na-đáp là Út-da và Ác-giô điều khiển cỗ xe mới.4 Họ đưa xe đi từ nhà ông A-vi-na-đáp ở trên đồi, trên xe có Hòm Bia Thiên Chúa, còn ông Ác-giô đi trước Hòm Bia.5 Vua Đa-vít và toàn thể nhà Ít-ra-en vui đùa trước nhanĐức Chúa, với mọi thứ nhạc cụ bằng gỗ trắc bá, với đàn cầm đàn sắt, trống con, chũm choẹ, thanh la.
6 Khi đoàn người tới sân lúa Na-khôn, thì ông Út-da giơ tay ra về phía Hòm Bia Thiên Chúa và giữ lại, vì bò trượt chân.7 Đức Chúa nổi cơn thịnh nộ với ông Út-da, và Thiên Chúa đánh phạt ông tại chỗ vì lầm lỗi đó. Ông chết tại đó, bên Hòm Bia Thiên Chúa.8 Vua Đa-vít buồn bực vì Đức Chúa đã đột phá hại ông Út-da. Người ta gọi nơi ấy là Pe-rét Út-da cho đến ngày nay.
9 Ngày hôm đó, vua Đa-vít sợĐức Chúa, ông nói : "Hòm Bia Đức Chúa đến với tôi thế nào được ? "10 Vua Đa-vít không muốn đưa Hòm Bia Đức Chúa về với mình trong Thành vua Đa-vít, nên cho chuyển hướng sang nhà ông Ô-vết Ê-đôm, người thành Gát.11 Hòm Bia Đức Chúa ở nhà ông Ô-vết Ê-đôm người thành Gát, ba tháng, và Đức Chúa giáng phúc cho ông Ô-vết Ê-đôm cùng cả nhà ông.
12 Người ta báo tin cho vua Đa-vít rằng : "Vì Hòm Bia Thiên Chúa, Đức Chúa đã giáng phúc cho nhà ông Ô-vết Ê-đôm cùng tất cả những gì thuộc về ông." Vua Đa-vít liền đi và rước Hòm Bia Thiên Chúa từ nhà ông Ô-vết Ê-đôm lên Thành vua Đa-vít, trong niềm hân hoan.13 Khi những người khiêng Hòm Bia của Đức Chúa đi được sáu bước, thì vua sát tế một con bò và một con bê béo.14 Vua Đa-vít quấn ê-phốt vải gai, nhảy múa hết sức mình trước nhanĐức Chúa. 15 Vua Đa-vít và toàn thể nhà Ít-ra-en rước Hòm Bia Đức Chúa lên giữa tiếng hò reo với tiếng tù và.16 Khi Hòm Bia Đức Chúa vào Thành vua Đa-vít, bà Mi-khan, con gái vua Sa-un, từ cửa sổ nhìn xuống thấy vua Đa-vít nhảy múa quay cuồng trước nhanĐức Chúa, thì sinh lòng khinh dể.17 Người ta đưa Hòm Bia Đức Chúa đặt vào chỗ đã dọn giữa lều vua Đa-vít đã dựng sẵn. Vua Đa-vít dâng lên trước nhan Đức Chúa những lễ toàn thiêu và những lễ kỳ an.18 Khi đã hoàn tất việc dâng các lễ toàn thiêu và lễ kỳ an, vua Đa-vít nhân danh Đức Chúa các đạo binh chúc phúc cho dân.19 Rồi vua phân phát cho toàn dân, cho tất cả đám đông Ít-ra-en, đàn ông cũng như đàn bà, mỗi người một cái bánh ngọt, một phần thịt và một cái bánh nho. Rồi toàn dân ai nấy về nhà mình.
20 Khi vua Đa-vít trở về để chúc phúc cho nhà mình, bà Mi-khan, con gái vua Sa-un, ra đón vua và nói : "Vua Ít-ra-en hôm nay thật là danh giá, khi để hở hang trước mắt các nữ tỳ của tôi tớ mình, như một đứa vô danh tiểu tốt để hở hang ! "21 Vua Đa-vít nói với bà Mi-khan : "Trước nhanĐức Chúa, Đấng đã chọn tôi thay vì thân phụ bà và cả nhà thân phụ bà, để đặt tôi làm người lãnh đạo dân Đức Chúa là Ít-ra-en, trước nhan Đức Chúa tôi sẽ vui đùa.22 Tôi sẽ còn hạ mình hơn thế nữa, tôi sẽ coi mình là thấp hèn ; nhưng đối với các nữ tỳ mà bà nói, đối với chúng, tôi sẽ được danh giá."23 Và bà Mi-khan, con gái vua Sa-un, không có con cho đến ngày chết.
Xướng đáp x. Tv 131 (132),8.9 ; Tv 23 (24),7.9
X Lạy Chúa, xin đứng dậy để cùng với hòm bia oai linh Chúa ngự về chốn nghỉ ngơi.
* Ước chi hàng tư tế của Ngài mặc lấy sự công chính, kẻ hiếu trung với Ngài được cất tiếng hò reo.
Đ Hỡi cửa đền, hãy cất cao lên, cao lên nữa, hỡi cửa đền cổ kính, để Đức Vua vinh hiển ngự vào. *
Bài đọc 2
Tôi sẽ tiến về lều thánh cao sang
Trích bài giảng của thánh Giê-rô-ni-mô, linh mục, giải thích thánh vịnh 41 cho tân tòng.
Như nai rừng mong mỏi tìm về suối nước trong, hồn con cũng trông mong được gần Ngài, lạy Chúa. Vậy như nai kia khát mong tới suối nước thế nào, thì nai của chúng ta (tức là tân tòng), sau khi đã rời khỏi Ai-Cập và thế gian, đã dìm chết Pha-ra-ô trong biển và đã tiêu diệt cả đạo quân của ông trong phép rửa, nghĩa là sau khi đã giết chết tên quỷ rồi, cũng khát mong tới các mạch suối của Hội Thánh, Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần như vậy.
Chúa Cha được ví như suối nước, vì có lời viết trong sách ngôn sứ Giê-rê-mi-a rằng : Chúng đã bỏ Ta là mạch suối trường sinh để làm những hồ nứt rạn, không giữ được nước. Còn về Chúa Con thì chúng ta đọc thấy ở một chỗ khác câu này : Chúng chê bỏ nguồn mạch sự khôn ngoan. Cuối cùng về Chúa Thánh Thần, liền có ba lời trình bày sau đây : Ai uống nước tôi cho thì nơi người ấy mọc lên mạch nước đem lại sự sống đời đời. Thánh Gio-an giải thích đó là lời của Chúa Cứu Thế nói về Chúa Thánh Thần. Các bản văn trên đã chứng minh hết sức rõ ràng : ba nguồn suối trên của Hội Thánh là mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi.
Đó là những nguồn suối mà linh hồn người tín hữu khát khao. Đó là những nguồn suối mà linh hồn người tân tòng mong mỏi khi nói : Linh hồn tôi khao khát Chúa Trời là Chúa Trời hằng sống. Thật vậy, không phải linh hồn chỉ muốn thấy Chúa một cách hời hợt, nhưng càng ước ao mãnh liệt và bừng cháy lửa khát khao. Trước khi chịu phép rửa, các dự tòng thường trao đổi với nhau và nói : Bao giờ con được đến, vào bệ kiến Tôn Nhan. Điều họ cầu xin nay đã được thực hiện, họ đã đến và đứng trước nhan Thiên Chúa, đã ra trước bàn thờ, trước mầu nhiệm của Đấng Cứu Thế.
Sau khi đã rước Mình Thánh Chúa và được tái sinh trong mạch nước ban sự sống, họ mạnh dạn nói với nhau : Tôi sẽ tiến về đền thánh cao sang, đến tận nhà Thiên Chúa. Nhà Thiên Chúa là Hội Thánh, nghĩa là lều thánh cao sang, vì ở đó rộn rã tiếng reo mừng tán tạ, giữa sóng người trẩy hội tưng bừng.
Vậy giờ đây, sau khi anh em mặc lấy Đức Ki-tô và đi theo sự hướng dẫn của chúng tôi như cá theo mồi, anh em hãy để cho lời Chúa nâng anh em lên khỏi vực thẳm thế gian này và hãy nói : nơi chúng tôi, bản chất của sự vật đã thay đổi rồi. Cá bị kéo ra khỏi biển thì cá chết, nhưng các Tông Đồ đã bắt chúng tôi như bắt cá, và đã kéo chúng tôi ra khỏi biển thế gian này, để đưa chúng tôi từ cõi chết sang cõi sống. Bao lâu chúng tôi còn ở trong thế gian, thì mắt chúng tôi như mất hút trong vực thẳm, và đời sống chúng tôi còn lây lất trong bùn nhơ ; nhưng sau khi đã được thoát khỏi những đợt sóng, chúng tôi mới nhìn thấy mặt trời, nhìn thấy ánh sáng thật. Và vì quá vui nên chúng tôi ngây ngất tự nhủ : Hãy cậy trông Thiên Chúa, tôi còn tán tụng Người, Người là Đấng Cứu Độ, là Thiên Chúa của tôi.
Xướng đáp Tv 26 (27),4
X Một điều tôi kiếm tôi xin,
* là luôn được ở trong đền Chúa tôi mọi ngày trong suốt cuộc đời,
Đ để chiêm ngưỡng Chúa tuyệt vời cao sang, ngắm xem thánh điện huy hoàng. *
Lời nguyện
Lạy Chúa, Chúa đã dủ lòng thương nhận chúng con làm nghĩa tử để chúng con trở thành con cái ánh sáng, xin đừng để chúng con sa vào cảnh tối tăm lầm lạc nhưng gìn giữ chúng con luôn rạng ngời ánh sáng chân lý Chúa. Chúng con cầu xin…
admin
15-06-2011, 06:02 PM
THỨ SÁU
Bài đọc 1 2 Sm 7,1-25
Nhà Đa-vít sẽ tồn tại đến muôn đời
Vua Đa-vít muốn xây một ngôi nhà kính Chúa, nhưng thực ra, chíh Chúa mới gầy dựng cho vua một nhà. Điều này không chỉ phản ánh lý tướng người du mục : không thể giam hãm Thiên Chúa bất cứ nơi đâu. Chính tình yêu của Người mới chuẩn bị cho con cái Nguời một nơi cư ngụ. Lời sấm của Na-than hứa cho dòng dõi Đa-vít được trường tồn, lời sấm đó sẽ xuyên qua toàn bộ lịch sử Do-thái, và sẽ được sứ thần nhắc lại trong ngày Truyền Tin.
Lời Chúa trong sách Sa-mu-en quyển 2.
1 Khi vua được yên cửa yên nhà và Đức Chúa đã cho vua được thảnh thơi mọi bề, không còn thù địch nào nữa,2 thì vua nói với ngôn sứ Na-than : "Ông xem, tôi được ở nhà bằng gỗ bá hương, còn Hòm Bia Thiên Chúa thì ở trong lều vải."3 Ông Na-than thưa với vua : "Tất cả những gì ngài ấp ủ trong lòng, xin ngài cứ đi mà thực hiện, vì Đức Chúa ở với ngài."
4 Nhưng ngay đêm ấy, có lời Đức Chúa phán với ông Na-than rằng :
5 "Hãy đi nói với tôi tớ của Ta là Đa-vít : Đức Chúa phán thế này : Ngươi mà xây nhà cho Ta ở sao ?6 Thật vậy, từ ngày Ta đưa con cái Ít-ra-en lên từ Ai-cập cho tới ngày hôm nay, Ta không hề ở trong một ngôi nhà, nhưng Ta đã nay đây mai đó trong một cái lều và trong một nhà tạm.7 Trong suốt thời gian rày đây mai đó với toàn thể con cái Ít-ra-en, có bao giờ Ta đã lên tiếng hỏi một trong các thủ lãnh Ít-ra-en mà Ta đã đặt lên chăn dắt dân Ta là Ít-ra-en : "Sao các ngươi không xây cho Ta một ngôi nhà bằng gỗ bá hương ?8 Bây giờ ngươi hãy nói với tôi tớ Ta là Đa-vít như sau : Đức Chúa các đạo binh phán thế này : Chính Ta đã cất nhắc ngươi, từ một kẻ lùa chiên ngoài đồng cỏ, lên làm người lãnh đạo dân Ta là Ít-ra-en.9 Ngươi đi đâu, Ta cũng đã ở với ngươi ; mọi thù địch ngươi, Ta đã diệt trừ cho khuất mắt ngươi. Ta sẽ làm cho tên tuổi ngươi lẫy lừng, như tên tuổi những bậc vĩ nhân trên mặt đất.10 Ta sẽ cho dân Ta là Ít-ra-en một chỗ ở, Ta sẽ định cư chúng, và chúng sẽ ở luôn tại đó, chúng sẽ không còn run sợ, và quân gian ác cũng không còn tiếp tục áp bức chúng như thuở ban đầu,11 kể từ thời Ta đặt các thủ lãnh cai quản dân Ta là Ít-ra-en. Ta sẽ cho ngươi được thảnh thơi, không còn thù địch nào nữa, Đức Chúa báo cho ngươi biết là ĐỨC CHÚA lập cho ngươi một nhà.12 Khi ngày đời của ngươi đã mãn và ngươi đã nằm xuống với cha ông, Ta sẽ cho dòng dõi ngươi đứng lên kế vị ngươi -một người do chính ngươi sinh ra-, và Ta sẽ làm cho vương quyền của nó được vững bền.13 Chính nó sẽ xây một nhà để tôn kính danh Ta, và Ta sẽ làm cho ngai vàng của nó vững bền mãi mãi.14 Đối với nó, Ta sẽ là cha, đối với Ta, nó sẽ là con. Khi nó phạm lỗi, Ta sẽ sửa phạt nó bằng roi của người phàm, bằng đòn của con người.15 Tình thương của Ta sẽ không rời khỏi nó, như Ta đã cho rời khỏi Sa-un, kẻ Ta đã bắt rời khỏi mặt ngươi.16 Nhà của ngươi và vương quyền của ngươi sẽ tồn tại mãi mãi trước mặt Ta ; ngai vàng của ngươi sẽ vững bền mãi mãi."
17 Ông Na-than đã nói lại với vua Đa-vít, đúng y như tất cả những lời ấy và tất cả thị kiến ấy.
18 Vua Đa-vít vào ngồi chầu trước nhan Đức Chúa và thưa : "Lạy Đức Chúa là Chúa Thượng, con là ai và nhà của con là gì, mà Ngài đã đưa con tới địa vị này ?19 Nhưng lạy Đức Chúa là Chúa Thượng, Ngài còn coi đó là quá ít ; Ngài lại hứa cho nhà của tôi tớ Ngài một tương lai lâu dài. Phải chăng đó là luật chung cho con người, lạy Đức Chúa là Chúa Thượng ?20 Đa-vít còn nói được gì thêm với Ngài ? Ngài biết tôi tớ Ngài, lạy Đức Chúa là Chúa Thượng !21 Vì lời Ngài đã phán và theo như lòng Ngài muốn, Ngài đã thực hiện tất cả công trình vĩ đại này, để làm cho tôi tớ Ngài được biết.22 Vì thế, lạy Đức Chúa là Chúa Thượng, Ngài thật vĩ đại : không ai sánh được như Ngài ; và không có Thiên Chúa nào khác ngoại trừ Ngài, theo như mọi điều tai chúng con đã từng được nghe.23 Dưới đất có một dân tộc nào được như dân Ngài là Ít-ra-en ? Thiên Chúa đã đến cứu chuộc dân này để làm thành dân của Ngài, đặt tên cho nó, thực hiện cho nó những điều vĩ đại và khủng khiếp, hầu xua đuổi các dân tộc và các thần của chúng cho khuất mắt dân mà Ngài đã cứu chuộc từ Ai-cập về cho mình.24 Ngài đã lập Ít-ra-en, dân Ngài, để nó thành dân Ngài mãi mãi ; còn Ngài, lạyĐức Chúa, Ngài đã trở thành Thiên Chúa của chúng.25 Giờ đây, lạy Đức Chúa là Thiên Chúa, lời Ngài đã phán về tôi tớ Ngài và nhà của nó, xin Ngài giữ mãi mãi, và xin hành động như Ngài đã phán.
Xướng đáp x. Lc 1,30-32 ; Tv 131 (132),11
X Sứ thần Gáp-ri-en nói cùng trinh nữ Ma-ri-a rằng : "Này bà sẽ thụ thai, và sinh hạ một con trai. Thiên Chúa sẽ ban cho Người ngai vàng vua Đa-vít, tổ tiên Người ;
* Người sẽ trị vì nhà Gia-cóp đến muôn đời."
Đ Đức Chúa đã thề cùng vua Đa-vít và sẽ không thất tín bao giờ ; thề rằng : "Chính con ruột của ngươi, Ta sẽ đặt lên thừa kế ngai vàng." *
Bài đọc 2
Về phần xác, Đức Giê-su Ki-tô thuộc dòng dõi Đa-vít
Trích sách của thánh Âu-tinh, giám mục, về ơn tiền định.
Ánh sáng vô cùng rực rỡ của ơn tiền định và ân sủng là Đấng Cứu Độ, chính Đấng trung gian giữa Thiên Chúa và loài người, tức là con người Đức Ki-tô. Thử hỏi bản tính nhân loại nơi Người đã có công trạng gì trước, do việc làm hay do đức tin, mà được địa vị đó ? Xin trả lời cho tôi câu hỏi này : Bởi đâu con người ấy đáng được như vậy, tức là trở nên Con Một Thiên Chúa, nhờ được Ngôi Lời đồng bản tính với Chúa Cha đảm nhận, mà thành một ngôi vị ? Trước đây Người đã làm gì tốt lành mà được như thế ? Trước đây Người đã làm gì, đã tin gì, đã xin gì để được địa vị cao sang khôn tả dường ấy ? Há chẳng phải nhờ Ngôi Lời hành động và đón nhận, mà con người ấy, từ lúc bắt đầu hiện hữu nhờ Người, thì đã bắt đầu là Con Một Thiên Chúa sao ?
Vậy ước gì chúng ta nhìn thấy nguồn ân sủng ở nơi Đức Ki-tô là Đầu của chúng ta tràn sang mọi chi thể của Người, tuỳ theo khả năng của mỗi chi thể. Ân sủng làm cho bất cứ ai trở thành Ki-tô hữu từ khi họ bắt đầu tin, cũng chính là ân sủng làm cho Con Người ấy trở thành Đức Ki-tô, ngay từ khi bắt đầu làm người ; nhờ Thánh Thần, con người được sinh lại, và cũng nhờ Thánh Thần đó, Đức Ki-tô được sinh ra ; nhờ Thánh Thần, chúng ta được tha tội và cũng nhờ Thánh Thần đó, Đức Ki-tô không hề mắc tội nào. Chắc chắn Thiên Chúa đã biết trước Người sẽ làm những điều đó, nên ơn tiền định dành cho các thánh cũng chính là ơn rạng ngời hơn cả nơi Đấng Thánh vượt trên chư thánh. Ai là người hiểu đúng chân lý lại có thể phủ nhận ơn này ? Quả thật, chúng ta biết rằng chính Chúa hiển vinh, với tư cách là con người trở thành Con Thiên Chúa, Đấng ấy đã được ơn tiền định.
Vậy Đức Giê-su đã được tiền định : Đấng sẽ là con vua Đa-vít theo xác thể thì lại là Con Thiên Chúa đầy quyền năng, theo Thần Khí thánh hoá, vì Người được sinh bởi Thánh Thần và bởi Đức Trinh Nữ Ma–ri-a. Chính vì Thiên Chúa, Ngôi Lời đón nhận một con người cách đặc biệt và khôn tả, nên đúng ra và thực sự phải nói rằng Đức Giê-su vừa là Con Thiên Chúa, vừa là con loài người : là con loài người vì là một con người đã được Ngôi Lời đón nhận ; là Con Thiên Chúa vì là Thiên Chúa, Con Một đã đón nhận một con người. Chẳng vậy, chúng ta sẽ phải tin Thiên Chúa bốn ngôi chứ không phải Ba Ngôi.
Thiên Chúa tiền định cho bản tính con người Đức Giê-su được nâng lên một cách lạ lùng, cao siêu, tuyệt vời, đến nỗi không thể nào nâng cao hơn được nữa. Cũng vậy, vì chúng ta, thần tính của Ngôi Lời không thể xuống thấp hơn được nữa, khi nhận lấy bản tính con người chúng ta với tất cả sự yếu hèn của xác thịt, cho đến độ chết trên thập giá. Vậy, cũng như chỉ có một mình Đức Ki-tô đã được tiền định để làm Đầu chúng ta, thì nhiều người trong chúng ta cũng được tiền định để làm chi thể của Người. Ở đây đừng nói đến công trạng của loài người nữa, vì chúng đã tiêu tan cả rồi do tội của A-đam ; nhưng hãy cao rao ân sủng của Thiên Chúa đang ngự trị nhờ Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta, Con Một Thiên Chúa, và là Chúa duy nhất. Vậy nếu có ai tìm được nơi Đấng là Đầu của chúng ta những công trạng có trước khiến Người được sinh ra cách lạ lùng như vậy, thì người đó mới nên tìm ở nơi chúng ta, là chi thể của Người, những công trạng có trước khiến nhiều người trong chúng ta được tái sinh.
Xướng đáp x. Gl 4,4-5 ; Ep 2,4 ; Rm 8,3
X Khi thời gian tới hồi viên mãn, Thiên Chúa đã sai Con mình tới, sinh làm con một người đàn bà và sống dưới Lề Luật ;
* để chuộc những ai sống dưới Lề Luật.
Đ Thiên Chúa giàu lòng thương xót và rất mực yêu mến chúng ta, nên đã sai chính Con mình đến mang thân xác giống như thân xác tội lỗi chúng ta. *
Lời nguyện
Lạy Chúa, Chúa đã dủ lòng thương nhận chúng con làm nghĩa tử để chúng con trở thành con cái ánh sáng, xin đừng để chúng con sa vào cảnh tối tăm lầm lạc nhưng gìn giữ chúng con luôn rạng ngời ánh sáng chân lý Chúa. Chúng con cầu xin…
THỨ BẢY
Bài đọc 1 2 Sm 11,1-17.26-27
Vua Đa-vít phạm tội
Không phải vì được Thiên Chúa tuyển lựa mà vua Đa-vít thoát khỏi tội lỗi. Chỉ vì sợ tai tiếng mà vua sa lầy : sau tội ngoại tình đến tội giết người. Che mắt người phàm thì có thể được, nhưng làm sao đánh lừa nổi Chúa là Đấng thấu suốt tâm can !
Lời Chúa trong sách Sa-mu-en quyển 2.
1 Lúc xuân về, thời mà các vua ra quân, vua Đa-vít sai ông Giô-áp đi, cùng với các bề tôi của vua và toàn thể Ít-ra-en. Họ giết hại con cái Am-mon và vây hãm Ráp-ba. Còn vua Đa-vít thì ở lại Giê-ru-sa-lem.
2 Vào một buổi chiều, vua Đa-vít từ trên giường trỗi dậy và đi bách bộ trên sân thượng đền vua. Từ sân thượng, vua thấy một người đàn bà đang tắm. Nàng nhan sắc tuyệt vời.3 Vua Đa-vít sai người đi điều tra về người đàn bà, và người ta nói : "Đó chính là bà Bát Se-va, con gái ông Ê-li-am, vợ ông U-ri-gia người Khết."4 Vua Đa-vít sai lính biệt phái đến đón nàng. Nàng đến với vua và vua nằm với nàng ; khi ấy nàng mới thanh tẩy sau thời kỳ ô uế. Rồi nàng trở về nhà.5 Người đàn bà thụ thai. Nàng sai người đến báo tin cho vua Đa-vít rằng : "Tôi có thai."
6 Vua Đa-vít sai người đến nói với ông Giô-áp : "Hãy sai U-ri-gia, người Khết, về gặp ta." Ông Giô-áp sai ông U-ri-gia về gặp vua Đa-vít.7 Khi ông U-ri-gia đến với vua, vua Đa-vít hỏi thăm về ông Giô-áp, về quân binh, về chiến sự.8 Rồi vua Đa-vít bảo ông U-ri-gia : "Hãy xuống nhà của ngươi và rửa chân." Ông U-ri-gia ra khỏi đền vua, có người bưng ra một phần thức ăn của nhà vua theo sau.9 Nhưng ông U-ri-gia nằm ở cửa đền vua với tất cả các bề tôi của chúa thượng ông, và ông không xuống nhà mình.
10 Người ta báo tin cho vua Đa-vít rằng : "Ông U-ri-gia đã không xuống nhà ông." Vua Đa-vít hỏi ông U-ri-gia : "Chẳng phải ngươi đi đường xa mới về ư ? Tại sao ngươi không xuống nhà của ngươi ? "11 Ông U-ri-gia thưa với vua Đa-vít : "Hòm Bia cũng như Ít-ra-en và Giu-đa đang ở lều, chủ tướng tôi là ông Giô-áp và các bề tôi của chúa thượng đang đóng trại ở ngoài đồng trống, mà tôi đây lại về nhà ăn uống và nằm với vợ tôi sao ? Tôi xin lấy mạng sống của ngài, lấy chính mạng sống của ngài mà thề : tôi sẽ không làm điều ấy ! "12 Vua Đa-vít bảo ông U-ri-gia : "Hãy ở lại đây hôm nay nữa, ngày mai ta sẽ cho ngươi đi." Ông U-ri-gia ở lại Giê-ru-sa-lem ngày hôm đó. Ngày hôm sau,13 vua Đa-vít mời ông ; ông ăn uống trước mặt vua, và vua cho ông uống say. Đến chiều, ông ra nằm giường của ông cùng với các bề tôi của chúa thượng ông, nhưng không xuống nhà mình.
14 Sáng hôm sau, vua Đa-vít viết thư cho ông Giô-áp và gửi ông U-ri-gia mang đi.15 Trong thư, vua viết rằng : "Hãy đặt U-ri-gia ở hàng đầu, chỗ mặt trận nặng nhất, rồi rút lui bỏ nó lại, để nó bị trúng thương mà chết."16 Ông Giô-áp đang thám sát thành liền để ông U-ri-gia ở chỗ ông biết là có quân hùng mạnh nhất.17 Người trong thành xông ra, giao chiến với ông Giô-áp. Một số người trong quân binh, trong các bề tôi vua Đa-vít đã ngã gục, và ông U-ri-gia, người Khết, cũng chết.
26 Vợ ông U-ri-gia nghe tin ông U-ri-gia, chồng mình, đã chết, thì làm ma cho chồng.27 Khi tang lễ đã qua, vua Đa-vít sai người đi đón nàng về nhà mình. Nàng trở thành vợ vua và sinh cho vua một con trai. Nhưng hành động của vua Đa-vít không đẹp lòng Đức Chúa.
Xướng đáp x. 2 Sm 12,9 ; Xh 20,2.13.14
X Ngươi đã dùng gươm đâm U-ri-gia, người Khít-ti ; vợ y, ngươi đã cướp làm vợ mình.
* Tại sao ngươi lại khinh dể lời Đức Chúa, mà làm điều dữ trái mắt Ta ?
Đ Ta là Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, đã đưa ngươi ra khỏi đất Ai-Cập. Ngươi không được giết người. Ngươi không được ngoại tình. *
Bài đọc 2
Hãy xưng thú tội lỗi vào thời thuận tiện
Trích bài giáo huấn của thánh Sy-ri-lô, giám mục Giê-ru-sa-lem.
Ở đây nếu có ai là nô lệ tội lỗi, thì nhờ đức tin, người ấy hãy chuẩn bị để được nhờ ơn tái sinh làm người tự do và làm nghĩa tử. Một khi đã từ bỏ ách nô lệ xấu xa của tội lỗi mà vui sướng đi theo con đường làm tôi Chúa, người ấy được coi là xứng đáng hưởng gia nghiệp Nước Trời. Qua việc thú tội, anh em hãy cởi bỏ con người cũ đã ra hư hỏng vì những ước muốn lầm lạc, để mặc lấy con người mới đã được canh tân theo hình ảnh của Đấng đã dựng nên nó. Nhờ đức tin, anh em hãy có những bảo chứng của Thánh Thần, để có thể được đón nhận vào nơi ở muôn đời. Hãy đến gần ấn tích nhiệm mầu để chủ có thể dễ dàng nhận biết anh em. Hãy nhập vào đoàn chiên thánh thiện và hiểu biết của Đức Ki-tô, để một ngày kia, khi được xếp vào bên hữu Người, anh em đạt tới sự sống dành sẵn cho anh em làm gia nghiệp.
Quả vậy, những ai đến nay vẫn còn dính bén với tội lỗi nặng nề, sẽ phải đứng bên tả Người, vì họ đã không đến với ân sủng Thiên Chúa do Đức Ki-tô ban cho trong phép rửa tái sinh. Tôi không có ý nói đến sự tái sinh của thân xác, nhưng nói đến sự tái sinh thiêng liêng của linh hồn. Thân xác được sinh ra nhờ cha mẹ, còn linh hồn được tái sinh nhờ đức tin. Thần Khí muốn thổi đâu thì thổi. Lúc đó nếu bạn xứng đáng thì sẽ được nghe lời này : Hỡi đầy tớ tài giỏi và trung thành, nghĩa là nếu Chúa thấy bạn không có vết nhơ giả dối nào trong lương tâm.
Vậy nếu có ai trong những người hiện diện nơi đây nghĩ rằng mình có thể thử thách ân sủng của Thiên Chúa. thì người đó tự lừa dối mình và không hiểu gì về sức mạnh của sự vật. Hỡi người, hãy có tâm hồn chân thành và không gian dối, vì Thiên Chúa là Đấng thấu suốt lòng dạ con người.
Thời bây giờ là thời xưng thú tội lỗi. Bạn hãy xưng thú các tội mình đã phạm, trong lời nói hay việc làm, ban đêm hay ban ngày. Hãy xưng thú tội lỗi vào thời thuận tiện, và hãy đón nhận kho báu trên trời trong ngày cứu độ.
Bạn hãy rửa sạch chiếc bình là lòng bạn để nó chứa đựng ân sủng dồi dào hơn, vì ơn tha tội được ban đồng đều cho mọi người, còn ơn thông hiệp của Thánh Thần thì dược ban theo mức độ đức tin của mỗi người. Nếu bạn khó nhọc ít, bàn sẽ nhận được ít. Nếu bạn làm việc nhiều, lương của bạn sẽ nhiều. Chính bạn đang chạy đua, vậy bạn hãy nhìn kỹ xem những gì có lợi cho bạn.
Nếu bạn có điều bất bình với ai, hãy tha thứ đi. Bạn đến để đón nhận ơn tha thứ, thì bạn cần phải tha thứ cho kẻ đã xúc phạm đến bạn.
Xướng đáp Cn 28,13 ; 1 Ga 1,9
X Kẻ giấu tội mình, sẽ không thành đạt,
* ai xưng thú và chừa tội, sẽ được Chúa xót thương.
Đ Nếu chúng ta thú nhận tội lỗi, Thiên Chúa là Đấng trung thành và công chính sẽ tha tội cho chúng ta. *
Lời nguyện
Lạy Chúa, Chúa đã dủ lòng thương nhận chúng con làm nghĩa tử để chúng con trở thành con cái ánh sáng, xin đừng để chúng con sa vào cảnh tối tăm lầm lạc nhưng gìn giữ chúng con luôn rạng ngời ánh sáng chân lý Chúa. Chúng con cầu xin…
vBulletin v3.5.2, Copyright ©2000-2012, Jelsoft Enterprises Ltd.