PDA

View Full Version : Bài đọc Kinh Sách Tháng Tám


admin
09-07-2011, 03:20 PM
THÁNG 8

Ngày 1 tháng 8
Thánh An-phong Ma-ri-a Li-gô-ri, giám mục, tiến sĩ Hội Thánh
Lễ nhớ

Thánh nhân sinh năm 1696 tại Na-pô-li. Người từ bỏ nghề luật sư để làm linh mục, rồi sau lại nhận trách nhiệm giám mục để loan báo tình yêu của Chúa Ki-tô. Người đi giảng không mỏi mệt, siêng năng giải tội và rất nhân từ với các tội nhân. Người đã lập Dòng Chúa Cứu Thế nhằm mục đích loan báo Tin Mừng cho dân các miền quê (1732). Người đã giảng dạy luân lý và viết nhiều tác phẩm về đời sống thiêng liêng. Người qua đời năm 1787 .

Bài đọc 2

Lòng yêu mến Đức Ki-tô
Trích tác phẩm của thánh An-phong về cách tỏ lòng yêu mến Đức Ki-tô.
Tất cả sự trọn lành thánh thiện của linh hồn hệ tại lòng yêu mến Đức Giê-su Ki-tô là Thiên Chúa chúng ta, là sự thiện tuyệt đối và và Đấng cứu chuộc chúng ta. Đức ái liên kết và bảo toàn mọi nhân đức làm cho con người trở nên trọn lành.
Chẳng lẽ Thiên Chúa lại không đáng cho chúng ta hết lòng yêu mến sao ? Từ muôn thuở Người đã yêu thương chúng ta. Người như muốn nói với chúng ta : “Hỡi con người, hãy suy xét : chính Ta đã yêu con trước. Lúc con chưa mở mắt chào đời, và cả khi trời đất chưa có, Ta đã yêu con rồi. Ta hiện hữu là Ta yêu con.”
Thiên Chúa thừa biết là ân huệ thu hút con người, nên Thiên Chúa đã muốn ban nhiều đặc ân để thúc bách họ yêu mến Người : “Con người dễ sa vào lưới nào, thì Ta muốn dùng lưới ấy mà chinh phục ho : lưới dò tình yêu.” Mọi tặng ân Thiên Chúa ban cho con người đều nhằm mục đích đó. Thiên Chúa ban cho họ có linh hồn có trí nhớ, trí hiểu và lòng muốn để nên hình ảnh của Người, ban cho họ thân xác có giác quan. Thiên Chúa cũng đã tạo dựng trời đất với bao nhiêu sự vật. Người đã làm nên tất cả vì yêu thương con người, để mọi tạo vật đó phục vụ con người, còn con người thì yêu mến Thiên Chúa vì bao nhiêu ân huệ Chúa ban.
Không những Thiên Chúa muốn ban cho chúng ta các tạo vật tốt đẹp kia, mà Người còn đi xa hơn nữa : để lôi kéo chúng ta yêu mến Người, Người đã ban trót cả mình Người cho chúng ta. Chúa Cha hằng hữu đã yêu mến chúng ta đến nỗi đã ban tặng chính Con Một Người. Khi thấy tất cả chúng ta mà phải chết và bị mất hết ân sủng vì tội lỗi, thì Người làm gì ? Người đã thương chúng ta vô cùng, hay đúng hơn, theo kiểu nói của thánh Phao-lô, Người đã thương chúng ta quá đỗi, nên đã sai Con yêu dấu đến đền tội cho chúng ta, phục hồi cho chúng ta sự sống đã mất vì tội lỗi.
Người đã ban Con của Người cho chúng ta. Để tha tội cho chúng ta, Người đã không tha chết cho Con của Người. Đồng thời, Người cũng rộng ban mọi sự tốt lành như : ân sủng, tình yêu và thiên đàng. Bởi chưng những ân huệ đó chắc chắn đều không quý bằng chính Con của Người. Thánh Phao-lô viết : Đến như chính Con Một, Thiên Chúa cũng chẳng tha, nhưng đã trao nộp vì hết thảy chúng ta. Một khi đã ban Người Con đó, lẽ nào Chúa chẳng rộng ban tất cả cho chúng ta ?

Xướng đáp Tv 144 (145),19-20 ; 1 Ga 3,9
X Kẻ kính sợ Chúa, Người cho toại nguyện, nghe tiếng họ kêu than, và ban ơn giải cứu.
* Chúa gìn giữ mọi kẻ mến yêu Người.
Đ Phàm ai đã được Thiên Chúa sinh ra thì không phạm tội, vì mầm sống của Thiên Chúa ở lại trong người ấy. *

Lời nguyện
Lạy Chúa, Chúa không ngừng ban cho Giáo Hội những khuôn mẫu luôn luôn mới của đời sống Ki-tô hữu. Xin cho chúng con hằng noi gương thánh giám mục An-phong mà nhiệt thành cộng tác với Chúa trong công trình cứu độ, để mai sau được Chúa ân thưởng cùng với thánh nhân. Chúng con cầu xin...

Ngày 2 tháng 8
Thánh Êu-xê-bi-ô, giám mục Vec-se-li

Thánh nhân sinh khoảng đầu thế kỷ thứ IV tại Xác-đi-ni-a. Từ năm 345 đến 371, người làm giám mục Véc-se-li. Người đã bị đày sang Đông phương vì nhất định trung thành với tín điều Đức Giêsu là Thiên Chúa, tín điều đã được công đồng Ni-xê-a xác định. Khi lưu đày trở về (361), người đã quyết định sống chung với các giáo sĩ, chia sẻ hoạt động mục vụ. Người đi tiên phong về điểm này. Ngwời qua đời ở Véc-se-li năm 371.

Bài đọc 2

Tôi đã chạy hết chặng đường, đã giữ vững đức tin
Trích thư của thánh Êu-xê-bi-ô, giám mục Véc-se-li.
Anh em thân mến, tôi được biết anh em vẫn bình yên khoẻ mạnh như tôi hằng mong ước. Tôi bỗng thấy mình như được cất lên, đưa qua một vùng đất thật xa để đến với anh em, như xưa ngôn sứ Kha-ba-cúc đã được thiên thần đưa đến với ngôn sứ Đa-ni-en. Khi được thư của mỗi người trong anh em và qua những lá thư ấy, nhận ra tâm hồn thánh thiện và lòng yêu mến của anh em, tôi vừa mừng vừa khóc, rất háo hức muốn đọc, nhưng đọc không nổi vì nước mắt cứ giàn giụa. Khóc cũng muốn khóc, mà đọc cũng muốn đọc. Bên nào cũng muốn được thoả lòng yêu mến trước, bù lại lòng mong ước bấy lâu. Tôi cứ vừa khóc vừa đọc như thế ngày này qua ngày khác, tưởng chừng như mình đang được trò chuyện với anh em và quên hết những nỗi nhọc nhằn trước đây. Tôi được tràn ngập vui mừng khi nhớ đến một đàng là đức tin bền vững của anh em, đàng khác là đức ái, đàng khác nữa là những thành quả anh em đã thực hiện. Nhờ biết bao điều tốt đẹp tuyệt vời ấy, tôi vui mừng đến nỗi tưởng như mình bỗng được ở giữa anh em, chứ không còn bị lưu đày nữa.
Anh em thân mến, tôi vui mừng vì đức tin của anh em, vui mừng vì nhờ tin mà anh em được cứu độ, vui mừng vì những thành quả anh em đã thực hiện được không những ở nơi anh em sống, mà còn cả ở những nơi xa nữa. Như người làm vườn đem một nhánh ghép vào cây đang sai trái nên không bị chặt, không bị quăng vào lửa, thì cũng vậy, chúng tôi thiết tha mong muốn không những đem thân mình phục vụ anh em là những người đã được thánh hiến, mà còn sẵn sàng thí mạng sống mình để anh em được cứu độ.
Mặt khác, chúng tôi đã phải nhọc công xoay xở mới viết được lá thư này, phải không ngừng cầu xin Thiên Chúa cầm chân mấy anh lính gác lâu giờ, xin Người cho người trợ tế đem được về cho anh em nhiều lời thăm hỏi chúng tôi viết hơn là những tin tức thầy kể về những nỗi nhọc nhằn của chúng tôi. Vì thế, tôi tha thiết xin anh em luôn thức tỉnh giữ vững đức tin, duy trì mối hoà thuận, cầu nguyện chuyên chăm và không ngừng nhớ đến chúng tôi, để Chúa thương giải thoát Hội Thánh Người đang long đong khốn khổ khắp nơi, và để chúng tôi có ngày thoát khỏi cảnh áp bức này mà hân hoan vui mừng với anh em.
Tôi cũng nhân danh lòng thương xót của Thiên Chúa mà nài xin anh em hãy hiểu rằng : trong lá thư này, tôi muốn chào thăm từng người một. Vì hoàn cảnh cấp bách, tôi không thể viết cho từng người như tôi vẫn quen làm trước đây. Trong thư này, thưa anh chị em và các con yêu quý, tôi muốn nói chuyện với mọi người cả nam lẫn nữ. Xin mọi người già trẻ lớn bé vui nhận lời chào thăm của chúng tôi, và chuyển lời chúng tôi kính thăm các anh em ở ngoài cộng đoàn nhưng vẫn dành cho chúng tôi lòng quý mến.

Xướng đáp Lc 12,35-36 ; Mt 24,42
X Anh em hãy thắt lưng cho gọn, cầm đèn cho sẵn.
* Hãy làm như những người đợi chủ đi ăn cưới về.
Đ Anh em hãy canh thức, vì anh em không biết ngày nào Chúa của anh em đến. *

Lời nguyện
Lạy Chúa, xin cho chúng con hằng noi gương can đảm của thánh giám mục Êu-xê-bi-ô mà tuyên xưng Ðức Ki-tô là Thiên Chúa, để khi giữ vững đức tin thánh nhân đã rao truyền, chúng con được tham dự vào sự sống của Ðức Ki-tô Con Chúa, Ðấng hằng sống và hiển trị cùng Chúa, hiệp nhất với Chúa Thánh Thần đến muôn thuở muôn đời.


Ngày 2 tháng 8
Thánh Phê-rô Giu-li-a-nô Ê-ma, linh mục

Thánh nhân sinh tại thành La Muy-rơ bên Pháp năm 1811. Sau khi chịu chức linh mục và lo việc mục vụ được vài năm, người vào hiệp hội Đức Ma-ri-a. Với lòng tôn sùng mầu nhiệm Thán Thể rất đặc biệt, người thành lập các tu hội nam nữ chuyên lo sùng kính bí tích Thánh Thể và lập ra nhiều tổ chức rất thích hợp cho giáo dân thuộc đủ mọi giai cấp, để cổ vỏ lòng sùng kính ấy. Người qua đời ngày 1 tháng 8 năm 1868 tại tỉnh nhà.

Bài đọc 2

Bí tích Thánh Thể, bí tích ban sự sống
Trích tác phẩm "Chúa hiện diện đích thực" của thánh Phê–rò Giu-li-a-nô Ẽ-ma, linh mục.
Bí tích Thánh Thể là sự sống của mọi người. Bí tích Thánh Thể ban cho họ nguyên lý sự sống. Để cử hành tiệc thánh của Giáo Hội, mọi người có thể họp nhau lại, bất chấp họ thuộc dân tộc hay ngôn ngữ nào. Bí tích Thánh Thể ban cho họ luật sống, hơn nữa luật bác ái mà bí tích này là nguồn mạch. Vì vậy, bí tích này tạo ra một mối dây chung ràng buộc các tín hữu, một sự liên hệ trong Đức Ki-tô. Mọi người cùng ăn một bánh, cùng là khách đồng bàn của Chúa Giê-su, Đấng tạo ra một mối đồng tâm huynh đệ có tính siêu nhiên liên kết họ với nhau. Xin hãy đọc sách Công vụ Tông Đồ. Đoạn sách đó quả quyết rằng đông đảo Ki-tô hữu đầu tiên, người Do- thái mới vào đạo cũng như dân ngoại mới lãnh phép rửa từ nhiều miền khác nhau mà đến, chí có một lòng một ý. Tại sao vậy ? Bởi vì họ chuyên cần nghe các Tông Đồ giảng dạy và kiên trì dự lễ bẻ bánh.
Bí tích Thánh Thể quả là sự sống của linh hồn và của xã hội loài người, cũng như mặt trời là sự sống của vạn vật và trái đất. Không có mặt trời, trái đất sẽ khô cằn ; mặt trời làm cho trái đất xinh tươi, tô điểm và làm cho nên phong phú, đem lại sự “hữu hiệu, sức mạnh và vẻ đẹp cho muôn loài. Trước những sự kiện lạ lùng đó, chúng ta không nên lấy làm lạ khi thấy các dân ngoại tôn kính mặt trời như chúa tể trần gian. Thật vậy, vầng ô vâng lời và tùng phục Mặt Trời tối cao, Ngôi Lời của Thiên Chúa là Đức Giê-su Ki–tô, Đấng chiếu soi mọi người đến trong thế gian. Qua bí tích Thánh Thể, bí tích ban sự sống, chính Người hành động trong thâm tâm con người. Linh hồn diễm phúc của tín hữu khám phá ra kho tàng ẩn dấu này, đẩy lùi được cơn khát nhờ nguồn suối ban sự sống, và được ăn bánh trường sinh này. Nhờ vậy, các gia đình được củng cố và các dân nước nên vững mạnh.
Hơn nữa, cộng đồng Ki-tô hữu còn là gia đình. Mối dây ràng buộc các phần tử trong gia đình đó, là Chúa Giê-su Thánh Thể. Chính Người la gia trưởng dọn bàn ăn cho gia đình. Tình huynh đệ Ki-tô hữu được công bố trong bữa Tiệc Ly cùng một lúc với tình phụ tử của Đức Ki-tô ; Chính Người gọi các Tông Đồ là những người con nhỏ, nghĩa là các con bé bỏng yêu quý của mình, và truyền cho các ông phải yêu thương nhau như chính Người đã yêu thương các ông.
Tại bàn tiệc thánh, mọi người đều là những trẻ nhỏ cùng lãnh một của ăn, và bởi đấy thánh Phao-lô kết luận họ làm thành một gia đình, một thân thể, vì mọi người cùng chia sẻ một tấm bánh là Chúa Giê-su Ki-tô. Thánh Thể thông ban sức mạnh cho cộng đoàn Ki-tô hữu, để tuân giữ luật trọng kính và yêu thương tha nhân. Chúa Giê-su Ki-tô truyền cho các môn đệ phải trọng kính và yêu thương anh em mình. Vì thế, chính Người đồng hoá với họ, bởi lẽ khi họ làm điều gì cho một anh em nhỏ nhất của Người là họ làm cho chính Người. Chính Người trao ban thân mình cho mỗi người trong họ, khi họ rước lễ.

Xướng đáp x. 1 Cr 10,17 ; Ga 6,58a
X Tuy nhiều người, chúng ta cũng chỉ là một tấm bánh, một thân thể, bởi vì mọi người cùng chia sẻ một tấm bánh.
* Đây là bánh từ trời xuống.
Đ Chúa đã nuôi chúng ta bằng lúa mì tinh hảo. *

Lời nguyện
Lạy Thiên Chúa, Chúa đã làm cho lòng thánh Phê-rô Giu-li-a-nô bừng cháy lên lửa yêu mến lạ lùng đối với mầu nhiệm Mình và Máu Ðức Ki-tô, Con Chúa. Xin cho chúng con lãnh nhận được ơn phúc dồi dào của bàn tiệc thánh Chúa ban như xưa chính thánh nhân đã lãnh nhận. Chúng con cầu xin...

Ngày 4 tháng 8
Thánh Gio-an Ma-ri-a Vi-a-nê, linh mục
Lễ nhớ

Thánh nhân sinh năm 1786 tại Ly-ông. Sau biết bao khó khăn gian khó người làm linh mục và được giao phó nhiệm vụ làm cha sở họ Ác-xơ thuộc giáo phận Ben-le. Người quả là vị mục tử gương mẫu : hoàn toàn lo việc loan báo lời Thiên Chúa, giải tội, cầu nguyện và hãm mình. Có nhiều lúc, khuôn mặt người rạng rỡ khác thường, nhờ tình yêu bắt nguồn từ bí tích Thánh Thể mà người đem hết lòng sốt sắng để vừa cử hành, vừa thờ phượng. Người qua đời năm 1859.

Bài đọc 2

Cầu nguyện và yêu mến : phận sự cao quý của con người
Trích bài giáo huấn của thánh Gio-an Ma-ri-a Via-nê.
Các con thân mến, kho tàng của người Ki-tô hữu không phải ở dưới đất này, nhưng ở trên trời. Thế thì lòng trí của chúng ta phải hướng đến nơi có kho tàng của chúng ta.
Con người có một bổn phận cao đẹp là cầu nguyện và yêu mến… Các con cầu nguyện, các con yêu mến : đó là hạnh phúc của con người trên trần gian.
Cầu nguyện không là gì khác hơn là kết hiệp với Thiên Chúa. Khi có tâm hồn trong sạch và gắn bó với Thiên Chúa, ta thấy nơi mình một thứ hương thơm ngây ngất, một luồng sáng rực rỡ chói chan. Trong mối kết hiệp mật thiết này, Thiên Chúa và linh hồn tựa hai khối sáp nóng chảy hoà vào nhau, không thể tách rời nhau nữa. Thiên Chúa kết hiệp với thụ tạo bé nhỏ của Người : đẹp đẽ biết bao ! Hạnh phúc này không sao hiểu thấu.
Xưa kia chúng ta chẳng xứng đáng cầu nguyện, nhưng Thiên Chúa đã thương cho chúng ta được thưa chuyện với Người. Lời cầu nguyện của ta là hương thơm rất đẹp lòng Người.
Các con thân mến, trái tim các con nhỏ hẹp, nhưng lời cầu nguyện sẽ khiến nó mở rộng và có sức yêu mến Thiên Chúa… Cầu nguyện là nếm trước hạnh phúc trời cao, là làm cho phúc lộc thiên đàng tuôn đổ. Không bao giờ cầu nguyện mà không thấy dịu êm. Cầu nguyện là mật chảy vào hồn, biến tất cả nên êm ái ngọt ngào. Buồn phiền cực nhọc sẽ biến tan khi cầu nguyện sốt sắng, tựa tuyết tan dưới ánh mặt trời.
Cầu nguyện làm cho thời gian đi rất mau, khiến ta không cảm thấy lâu. Đúng vậy : hồi các cha sở vùng Bơ-rét-xơ bị bệnh hầu hết, cha phải đi khắp vùng. Cha vừa đi vừa cầu nguyện với Thiên Chúa nhân lành. Nói thật với các con là cha chẳng thấy lâu gì cả.
Cha biết có những người đắm chìm trong cầu nguyện như cá trong nước. Họ thuộc trọn về Thiên Chúa nhân lành. Họ không bị chia trí. Ôi, cha mến những tâm hồn quảng đại này quá ! Thánh Phan-xi-cô Át-xi-di và thánh Cô-lê-ta trong thấy Chúa và chuyện vãn với Người như chúng ta vẫn trò chuyện với nhau. Còn chúng ta biết bao lần chúng ta đến nhà thờ mà chẳng biết mình đến để làm gì, cũng chẳng biết mình muốn xin gì ! Thế mà khi đến nhà ai thì ta lại biết rõ mình đến để làm gì... Có những người như nói với Thiên Chúa nhân lành rằng : “Con đến nói mấy câu cho xong chuyện đây…” Cha thường nghĩ rằng : Khi đến tôn thờ Chúa, chúng ta sẽ được mọi điều như sở nguyện, với điều kiện là lời cầu xin của chúng ta đi đôi với đức tin sống động và một tấm lòng thật trong trắng.

Xướng đáp 2 Cr 4,17 ; 1 Cr 2,9
X Một chút gian truân tạm thời trong hiện tại sẽ mang lại cho chúng ta
* cả một khối vinh quang vô tận, tuyệt vời.
Đ Điều mắt chẳng hề thấy, tai chẳng hề nghe, lòng người không hề nghĩ tới, đó là điều Thiên Chúa đã dọn sẵn cho những ai yêu mến Người : *

Lời nguyện
Lạy Thiên Chúa toàn năng và nhân hậu, Chúa đã làm cho thánh linh mục Gio-an Ma-ri-a nên một tấm gương tuyệt vời về lòng tận tuỵ hy sinh của người mục tử. Vì lời thánh nhân cầu thay nguyện giúp, xin cho chúng con hằng noi theo lòng bác ái của người mà cố gắng đem nhiều anh em về với Ðức Ki-tô để muôn đời cùng nhau hưởng nguồn vinh phúc. Chúng con cầu xin...

admin
09-07-2011, 03:21 PM
Ngày 5 tháng 8
Cung hiến thánh đường Ðức Ma-ri-a

Vương cung thánh đường Đức Bà Cả được đức giáo hoàng Xít-tô III (421-440) cho xây dựng ở Rô-ma trên đường Ét-ki-li-nô, để tôn kính thánh Mẫu của Chúa Giê-su. Lúc ấy, tước hiệu này vừa được công đồng Ê-phê-xô dùng để ca tụng Đức Ma-ri-a (431). Đây là một trong những thánh đường cổ kính đầu tiên của Tây Phương mang tước hiệu kính Đức Mẹ.

Tc Tin Mừng ÐC

Kinh Sáng
ÐC: Thánh Ma-ri-a, Ðức Mẹ Chúa Trời,
Mẹ trọn đời trinh khiết.
Mẹ có phúc hơn mọi người phụ nữ,
và Ðấng Mẹ đã cưu mang
cũng thật là có phúc.

Kinh Chiều
ÐC: Thánh Ma-ri-a, Ðức Mẹ Chúa Trời,
cầu cho chúng con là kẻ có tội,
bây giờ và trong lúc lâm chung.

Bài đọc 2

Ca ngợi thánh Ma-ri-a, Đức Ma-ri-a Chúa Trời
Trích bài giảng của thánh Sy-ri-lô A-lê-xan-ri-a, tại công đồng Ê-phê-xô.
Đáp lời mời của Đấng trọn đời đồng trinh là thánh Ma-ri-a Đức Mẹ Chúa Trời, các nghị phụ đã hoan hỉ tề tựu nơi đây. Tôi thấy hội nghị thật vui mừng và phấn khởi. Vì thế, dù đang nặng lòng với nhiều nỗi phiền muộn, tôi cũng rất mừng được thấy các nghị phụ hiện diện nơi đây. Lúc này ứng nghiêm nơi chúng ta lời thánh ca êm dịu của vua Đa-vít : Ngọt ngào êm dịu lắm thay, anh em đang sống vui vầy bên nhau.
Kính lạy Chúa Ba Ngôi cực thánh nhiệm mầu. Chúa đã triệu tập mọi người chúng con lại trong ngôi thánh đường này, thánh đường dâng kính thánh Ma-ri-a Đức Mẹ Chúa Trời.
Kính chào Thánh Ma-ri-a, Đức Mẹ Chúa Trời. Mẹ là kho tàng đáng kính của cả hoàn vũ, là ngọn đèn không tắt, là triều thiên ân thưởng đức khiết trinh, là vương trượng tượng trưng cho giáo lý chân truyền, là đền thờ không hư nát, là nơi cư ngụ cho Đấng không nơi nào có sức chứa đựng, là mẹ mà vẫn là trinh nữ. Chính nhờ Mẹ mà Đấng ngự đến nhân danh Đức Chúa đã được xưng tụng là diễm phúc như Tin Mừng viết.
Kính chào Mẹ. Nơi cung lòng khiết tinh thánh thiện, Mẹ đã cưu mang Đấng vô biên, Đấng mà các tầng trời không chứa nổi. Nhờ Mẹ, Ba Ngôi chí thánh được tôn vinh và phụng thờ. Nhờ Mẹ, cây thập giá cao quý được kính tôn và thờ lạy trên kháp địa cầu. Nhờ Mẹ, trời cao nhảy mừng. Nhờ Mẹ, các thiên thần và tổng lãnh thiên thần hân hoan. Nhờ Mẹ, ma quỷ chạy trốn. Nhờ Mẹ, tên quỷ cám dỗ bị tống khứ ra khỏi trời. Nhờ Mẹ, thọ sinh sa ngã được cất nhắc về trời. Nhờ Mẹ, toàn thể thụ tạo vẫn nô lệ tà thần, nay nhận ra chân lý. Nhờ Mẹ, những người tin được lãnh nhận ơn thánh tẩy và dầu hoan lạc. Nhờ Mẹ, các cộng đoàn Hội Thánh được thiết lập trên khắp địa cầu. Nhờ Mẹ, các dân ngoại được ăn năn trở lại.
Con phải nói gì nữa đây ? Nhờ Mẹ mà ánh sáng của Con Một Thiên Chúa bừng lên chiếu soi những ai ngồi nơi tăm tối và trong bóng tử thần. Nhờ Mẹ, các ngôn sứ đã loan báo tương lai. Nhờ Mẹ, các sứ đồ đã rao giảng cho muôn dân biết ơn cứu độ. Nhờ Mẹ, kẻ chết được chỗi dậy. Nhờ Mẹ, các vua chúa được trị vì nhân danh Ba Ngôi cực thánh.
Vậy ai có thể ca ngợi Đức Ma-ri-a cho xứng đáng ? Mẹ là Đấng rất đáng ngợi khen. Chính Mẹ vừa là mẹ, vừa là trinh nữ. Ôi lạ lùng biết bao ! Tôi kinh ngạc sững sờ. Nào có ai nghe nói người xây dựng đền thờ lại bị cấm không được ở trong đền thờ chính mình đã kiến tạo ? Ai dám che trách Đấng cất nhắc nữ tỳ của mình lên làm mẹ ? Này đây vạn vật đang mừng rỡ hân hoan. Xin cho chúng con được sùng bái và thờ lạy Thiên Chúa duy nhất, được uý kính và phụng thờ Ba Ngôi bất khả phân ly khi chúng con ca ngợi Đức Mẹ trọn đời đồng trinh là đền thờ của Thiên Chúa, đồng thờ ca ngợi Người Con và Đấng Phu Quân tinh tuyền của Mẹ, Chúa là Đấng vinh hiển muôn đời. A-men.

Xướng đáp x. Lc 1,48
X Hãy vui mừng với tôi, hỡi tất cả những người yêu mến Chúa, vì từ hồi tấm bé tôi đã đẹp lòng Đấng chí tôn.
* Tôi đã được phúc cưu mang và sinh hạ Con Thiên Chúa làm người.
Đ Phận nữ tỳ hèn mọn, Người đoái thương nhìn tới ; từ nay, hết mọi đời sẽ khen tôi diễm phúc. *

Lời nguyện
Lạy Chúa, xin thứ tha tội lỗi, và ban ơn cứu độ cho chúng con, không phải bởi chúng con đã làm gì nên công trạng, nhưng chính là nhờ lời chuyển cầu của Thánh Mẫu Ðức Ki-tô, Con Chúa, Chúa chúng con, Ðấng hằng sống và hiển trị cùng Chúa, hiệp nhất với Chúa Thánh Thần đến muôn thuở muôn đời.


Ngày 6 tháng 8
Chúa Hiển Dung
Lễ kính

Bốn mươi ngày trước lễ Suy tôn thánh giá, lễ Hiển Dung nhắc cho các tín hữu nhớ rằng Chúa Ki-tô đã muốn "chuẩn bị tâm hồn các môn đệ khỏi vấp phạm vì khổ hình thập giá". Nhưng đồng thời lễ này cũng loan báo cho mọi tín hữu biết mình được nhận làm con cái Thiên Chúa, nhờ Con Thiên Chúa là Đức Giê-su, và loan báo ánh sáng diệu kỳ một ngày kia sẽ rạng ngời nơi toàn thân thể nhiệm mầu, tức là Hội Thánh.

Bài đọc 1 2 Cr 3,7 – 4,6

Vinh quang của Giao Ước Mới trong Đức Ki-tô
Lời Chúa trong thư thứ hai của thánh Phao-lô Tông đồ gửi tín hữu Cô-rin-tô.
3 7 Nếu việc phục vụ Lề Luật, thứ Lề Luật chỉ đưa đến sự chết và được khắc ghi từng chữ trên những bia đá, mà được vinh quang đến nỗi dân Ít-ra-en không thể nhìn mặt ông Mô-sê được vì mặt ông chói lọi vinh quang, dù đó chỉ là vinh quang chóng qua, 8 thì việc phục vụ Thần Khí lại không được vinh quang hơn sao ? 9 Vì việc phục vụ án chết mà còn được vinh quang như thế, thì việc phục vụ sự công chính lại chẳng vinh quang hơn lắm sao ? 10 So với vinh quang tuyệt vời này, thì vinh quang xưa kia chẳng vinh quang là gì. 11 Thật vậy, nếu cái chóng qua mà còn được vinh quang, thì cái còn mãi lại chẳng vinh quang hơn sao ?
12 Vì có một niềm hy vọng như thế mà chúng ta thật vững dạ an lòng. 13 Chúng ta không làm như ông Mô-sê lấy màn che để dân Ít-ra-en khỏi thấy khi nào cái chóng qua kia chấm dứt. 14 Nhưng trí họ đã ra mê muội. Thật vậy, cho đến ngày nay, khi họ đọc Cựu Ước, tấm màn ấy vẫn còn chưa được vén lên, vì chỉ trong Đức Ki-tô, tấm màn ấy mới được vứt bỏ. 15 Phải, cho đến nay, mỗi khi họ đọc sách ông Mô-sê, tấm màn ấy vẫn che phủ lòng họ. 16 Nhưng khi người ta quay lại với Chúa, thì tấm màn ấy được cất đi. 17 Chúa là Thần Khí, và ở đâu có Thần Khí của Chúa, thì ở đó có tự do. 18 Tất cả chúng ta, mặt không che màn, chúng ta phản chiếu vinh quang của Chúa như một bức gương ; như vậy, chúng ta được biến đổi nên giống cũng một hình ảnh đó, ngày càng trở nên rực rỡ hơn, như do bởi tác động của Chúa là Thần Khí.
4 1 Bởi thế, vì Thiên Chúa đoái thương giao cho chúng tôi việc phục vụ, nên chúng tôi không sờn lòng nản chí. 2 Trái lại, chúng tôi khước từ những hành động ám muội, đáng xấu hổ, và không dùng mưu mô mà xử trí, cũng không xuyên tạc lời Thiên Chúa : nhưng chúng tôi giải bày sự thật, và bằng cách đó, chúng tôi để cho lương tâm mọi người phê phán trước mặt Thiên Chúa. 3 Tin Mừng chúng tôi rao giảng có bị che khuất, thì chỉ bị che khuất đối với những người hư mất, 4 đối với những kẻ không tin. Họ không tin, vì tên ác thần của đời này đã làm cho tâm trí họ ra mù quáng. 5 Bởi chúng tôi không rao giảng chính mình, mà chỉ rao giảng Đức Ki-tô Giê-su là Chúa ; còn chúng tôi, chúng tôi chỉ là đầy tớ của anh em, vì Đức Giê-su. 6 Quả thật, xưa Thiên Chúa đã phán : Ánh sáng hãy bừng lên từ nơi tối tăm ! Người cũng làm cho ánh sáng chiếu soi lòng trí chúng tôi, để tỏ bày cho thiên hạ biết vinh quang của Thiên Chúa rạng ngời trên gương mặt Đức Ki-tô.

Xướng đáp 1 Ga 3,1.2
X Anh em hãy xem Chúa Cha yêu chúng ta dường nào : Người yêu đến nỗi cho chúng ta được gọi là con Thiên Chúa,
* và thực sự chúng ta là con Thiên Chúa.
Đ Chúng ta biết rằng khi Đức Ki-tô xuất hiện, chúng ta sẽ nên giống như Người, vì Người thế nào, chúng ta sẽ thấy Người như vậy. *

Bài đọc 2

Chúng con ở đây thì hay quá
Trích bài giảng lễ Chúa Hiển Dung của giám mục A-nát-ta-xi-ô Xi-nai.
Đức Giê-su đã bày tỏ mầu nhiệm này cho các môn đệ trên núi Ta-bo. Đang khi cùng đi đường, Người đã chuyện trò với các ông về Nước Trời và về cuộc quang lâm của Người. Có lẽ các ông chưa xác tín những điều Người tiên báo về Nước Trời, nên Người muốn cho các ông thâm tín tận đáy lòng và từ những việc hiện tại, các ông có thể tin vào những việc tương lai. Vì thế, trên núi Ta-bo, Người đã cho các ông thấy một quang cảnh thần diệu như hình ảnh Người đã báo trước về Nước Trời. Dường như Người muốn nói với các ông : “Để anh em khỏi mất lòng tin trong khi còn phải chờ đợi, thì ngay bây giờ, Thầy bảo thật anh em : trong số người có mặt ở đây, có những kẻ sẽ không phải nếm sự chết trước khi thấy Con Người đến hiển trị trong vinh quang của Cha Người.”
Để chứng tỏ Đức Ki-tô muốn thế nào thì có quyền làm như thế, tác giả sách Tin Mừng thêm : Sáu ngày sau, Đức Giê-su đem các ông Phê-rô, Gia-cô-bê và Gio-an là em ông Gia-cô-bê đi theo mình. Người đưa các ông đi riêng ra một chỗ, tới một ngọn núi cao. Rồi Người biến đổi hình dạng trước mặt các ông. Dung nhan Người chói lọi như mặt trời, và y phục của Người trở nên trắng tinh như ánh sáng. Và kìa các ông thấy ông Mô-sê và ông Ê-li-a hiện ra đàm đạo với Người.
Đó là những điều kỳ diệu của ngày đại lễ hôm nay ; đó là mầu nhiệm đem lại ơn cứu độ cho chúng ta, mầu nhiệm đang được thực hiện trên núi vào chính lúc này. Quả thế, cả sự chết lẫn vinh quang của Đức Ki-tô đang quy tụ chúng ta. Vậy chúng ta hãy đi sâu vào những mầu nhiệm thánh thiêng khôn tả này cùng với những người Đức Ki-tô đã tuyển chọn trong số môn đệ được Thiên Chúa dẫn lối soi đường. Để được như thế, chúng ta hãy lắng nghe tiếng nói thánh thiêng của của Thiên Chúa. Từ đỉnh núi cao, Người đang khẩn thiết kêu mời chúng ta.
Tôi dám nói là chúng ta phải mau chân tìm đến đó như Đức Giê-su. Giờ đây, trên trời, Người cũng đưa đường dẫn lối cho chúng ta. Cùng với Người, chúng ta sẽ rực sáng, và chỉ những ai có đức tin mới nhận ra, vì một cách nào đó, khuôn mặt tâm linh của chúng ta được đổi mới, được nên đồng hình đồng dạng với Người, và cũng như chính Người, chúng ta không ngừng được biến đổi hình dạng, được thông phần vào bản tính thần linh và sẵn sàng để được đưa về trời.
Chúng ta hãy chạy đến đó, phấn khởi hân hoan ; hãy vào sâu trong đám mây như các ông Mô-sê và Ê-li-a hay các ông Gia-cô-bê và Gio-an. Như ông Phê-rô, hãy say sưa chiêm ngắm cảnh tượng thần thiêng, hãy để cho cuộc biến đổi hình dạng của Chúa biến đổi con người bạn, giúp bạn siêu thoát cõi đời và xa rời trần thế. Hãy từ bỏ xác thịt, lìa xa thụ tạo và quay về với Tạo Hoá, với Đấng mà trong phút xuất thần, ông Phê-rô đã thưa lên : Lạy Ngài, chúng con ở đây, thật hay quá.
Hẳn rồi, lạy thánh Phê-rô, ở đây với Chúa Giê-su và ở đây mãi mãi thì thật hay quá. Còn gì hạnh phúc hơn, còn gì cao cả và quý báu hơn là được ở với Thiên Chúa, được nên đồng hình đồng dạng với Người và được chan hoà ánh sáng ? Hẳn rồi, mỗi khi chúng ta có Thiên Chúa ở trong mình và được biến đổi nên hình ảnh thần thiêng của Người, thì phải vui mừng kêu lên : Ở đây thật hay quá, vì ở đây, mọi sự đều sáng ngời rực rỡ ; ở đây, có niềm vui và hạnh phúc ngọt ngào ; ở đây, lòng ta được hoàn toàn bình an, thanh tĩnh và êm đềm ; ở đây, ta được nhìn thấy Đức Ki-tô ; Người chọn chỗ này làm nơi cư ngụ cùng với Chúa Cha. Vừa bước vào, Người đã nói : Hôm nay, ơn cứu độ đã đến cho nhà này ; ở đây, có Đức Ki-tô là có những kho tàng chất chứa phúc lộc đời đời ; ở đây, những hoa trái đầu mùa và những hình ảnh tiên báo đời sau được mô tả như đang hiển hiện trong một tấm gương vậy.

Xướng đáp Mt 17,2.3 ; x. Lc 9,32.34
X Dung nhan Đức Giê-su chói lọi như mặt trời.
* Được chiêm ngưỡng vinh quang của Người, các môn đệ vừa ngỡ ngàng vừa sợ hãi.
Đ Và kìa có ông Mô-sê và ông E-li-a hiện ra đàm đạo với Người. *

Thánh Thi “Lạy Thiên Chúa”

Lời nguyện
Lạy Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, khi Con Một Chúa biểu lộ dung nhan vinh hiển Người, Chúa đã dùng hai chứng nhân Cựu Ước là ông Mô-sê và ông Ê-li-a để củng cố niềm tin của các Tông Ðồ vào mầu nhiệm cứu độ và báo trước hồng ân lạ lùng Chúa sẽ ban là nhận chúng con làm nghĩa tử. Xin cho chúng con nghe lời Con Một Chúa để mai sau được chung hưởng gia nghiệp với Người. Người là Thiên Chúa hằng sống và hiển trị cùng Chúa, hiệp nhất với Chúa Thánh Thần đến muôn thuở muôn đời.

Ngày 7 tháng 8
Thánh Xít-tô II, giáo hoàng, và các bạn, tử đạo

Thánh nhân được tấn phong giám mục Rô-ma năm 257. Ngày 6 tháng 8 năm 258, người cùng với 4 phó tế bị chặt đầu đang lúc cử hành phụng vụ thánh tại nghĩa trang Ca-lít-tô. Hoàng đế Va-lê-ri-a-nô đã ra sắc chỉ cấm không được tụ họp để cử hành phụng vụ. Phó tế Lô-ren-xô không bị chém, nhưng phải chịu cực hình. Biến cố này là một trang đẹp trong thiên hùng sử của Hội Thánh Rô-ma thời bách hại.

Bài đọc 2

Chúng tôi biết các chiến sĩ của Đức Ki-tô không chết, nhưng được đội triều thiên
Trích thư của thánh Síp-ri-a-nô, giám mục, tử đạo.
Thưa hiền huynh, tôi không thể nào viết thư cho các anh em ngay được là vì toàn thể hàng giáo sĩ đang chịu thử thách, không thể đi đâu được. Ai cũng sẵn sàng dâng hiến mạng sống mình để tôn vinh Thiên Chúa trên trời. Anh em cũng nên biết là những người đi Rô-ma đã về rồi. Tôi đã cử họ đi để tìm hiểu và cho chúng tôi biết sự thật về nội dung sắc lệnh liên quan đến chúng tôi. Quả thật, có nhiều lời đồn thổi khác nhau và không rõ ràng về chuyện này.
Sự thật là hoàng đế Va-lê-ri-a-nô đã gửi cho nguyên lão viện một sắc lệnh truyền xử tử ngay lập tức các giám mục, linh mục và trợ tá. Còn đối với các nghị viên nguyên lão viện, các quan chức và hiệp sĩ Rô-ma thì phải tước bỏ hết chức vị và tài sản. Nếu tịch biên tài sản rồi mà họ còn ngoan cố giữ đạo thì phải trảm quyết ngay. Phần các mệnh phụ, thì cũng tịch thu tài sản rồi phát lưu. Các viên chức triều đình trước đây xưng danh là Ki-tô hữu, hay bây giờ vẫn còn xưng mình như thế, thì tịch thu tài sản, xiềng lại, lập danh sách và cho đi canh tác các vùng đất thuộc hoàng triều.
Hoàng đế Va-lê-ri-a-nô còn cho đính kèm với sắc lệnh trên bản sao văn thư ông đã gửi cho các tổng đốc nói về chúng tôi. Ngày nào chúng tôi cũng mong cho văn thư đến, vì chúng tôi đang đứng vững trong đức tin, sẵn sàng chịu đau khổ, trông đợi ơn Chúa trợ giúp và được Người thương ban thưởng sự sống đời đời. Tôi cũng xin báo tin cho anh em là đức Xít-tô đã bị hành quyết cùng với bốn trợ tá tại một nghĩa trang ngày sáu tháng tám. Hằng ngày ở Rô-ma các quan vẫn ra sức bách hại như thế : thấy ai bị điệu đến là họ xử tử ngay ; còn tài sản thì tịch thu và sung vào công quỹ.
Xin hiền huynh thông báo những tin tức này cho các anh em giám mục khác, để nhờ những tấm gương ấy khích lệ, anh em chúng ta ở khắp nơi được vững mạnh và chuẩn bị vào cuộc chiến thiêng liêng. Nhờ vậy, mỗi người trong chúng ta sẽ nghĩ đến sự sống đời đời hơn là cái chết. Trong cuộc tuyên xưng này, những người đã đem hết lòng tin và can đảm mà hiến mình cho Chúa sẽ vui mừng hơn là lo sợ, vì biết rằng các chiến sĩ của Thiên Chúa và của Đức Ki-tô sẽ không bị tiêu diệt, nhưng được đội triều thiên.

Xướng đáp 2 Cr 4,11 ; x. Tv 43 (44),23
X Chúng tôi hằng bị cái chết đe doạ vì Đức Giê-su,
* để sự sống của Đức Giê-su cũng được biểu lộ nơi thân xác phải chết của chúng tôi.
Đ Âu cũng vì Chúa, mà mỗi ngày chúng tôi bị giết, bị coi như bầy cừu để sát sinh. *

Lời nguyện
Lạy Chúa, Chúa đã ban thánh Xít-tô và các bạn thí mạng sống mình để trọn niềm trung thành với lời Chúa và làm chứng cho Ðức Giê-su. Xin dùng quyền năng của Thánh Thần giúp chúng con biết sẵn sàng đón nhận chân lý và can đảm tuyên xưng đức tin. Chúng con cầu xin...

admin
09-07-2011, 03:22 PM
Ngày 7 tháng 8
Thánh Ga-ê-ta-nô, linh mục

Thánh nhân sinh năm 1480 tại Vin-xen-xa. Người học luật, nhưng sau khi làm linh mục, người trở thành một quan chức tại giáo triều Rôma. Người vừa chu toàn các công việc quản trị hành chánh, vừa để tâm chăm sóc các bệnh nhân và chuyên cần cầu nguyện. Cùng với các bạn là Gio-an, Phê-rô, Ca-ra-pha, người lập hội giáo sĩ chuyên lo giảng thuyết và phụng vụ. Người qua đời tại Na-pô-li năm 1547.

Bài đọc 2

Nhờ đức tin, chúng ta có Đức Ki-tô ngự trong lòng
Trích thư của thánh Ga-ê-ta-nô, linh mục.
Cha là kẻ tội lỗi và biết mình hèn mọn nên chạy đến các tôi tớ tốt lành của Chúa, xin các đấng cầu cùng Đức Ki-tô và Mẹ Người cho con. Nhưng con đừng quên rằng tất cả các thánh hợp lại cũng không làm cho con nên đẹp lòng Đức Ki-tô bằng chính con : đó là việc của con. Và nếu con muốn được Đức Ki-tô thương yêu trợ giúp, thì con hãy yêu mến Người, luôn cố gắng làm đẹp lòng Người. Cũng đừng nghi ngờ điều này : cho dù tất cả các thánh, các thụ tạo có bỏ con, Đức Ki-tô lúc nào cũng ở bên con khi con cần đến Người.
Con hãy nắm vững rằng : chúng ta là lữ khách và đang bước đi trên cõi đời này ; quê hương chúng ta ở trên trời. Ai tự phụ sẽ trật đường và lao vào chỗ chết. Nơi trần thế, chúng ta phải tìm cho được sự sống đời đời. Tự sức mình, chúng ta không đáng được sự sống ấy, vì đã đánh mất nó khi phạm tội. Nhưng Đức Giê-su Ki-tô đã lấy lại cho chúng ta, nên chúng ta phải tạ ơn, yêu mến, vâng phục Người và bao lâu có thể, chúng ta luôn ở với Người.
Chính Người đã ban mình làm của nuôi chúng ta. Vô phúc cho những ai không biết đến ơn cao quý đó. Đức Ki-tô là con Đức Trinh Nữ Ma-ri-a, chúng ta được phúc có Người làm của mình, vậy mà chúng ta không muốn ! Khốn cho ai không lo đón rước Người. Con ơi, điều tốt lành nào cha mong ước cho mình, thì cha cũng cầu khẩn cho con. Nhưng để đạt được điều ấy thì không có cách nào khác hơn là năng cầu cùng Đức Trinh Nữ Ma-ri-a, xin Mẹ cùng với Con vinh hiển của Mẹ đến viếng thăm con. Hơn nữa, con hãy mạnh dạn xin Mẹ trao Con của Mẹ cho con. Đức Ki-tô thực là của nuôi linh hồn con trong bí tích Thánh Thể, nơi bàn thờ. Mẹ sẽ sẵn lòng trao Người cho con, còn chính Người thì lại còn sẵn lòng hơn nữa. Người sẽ đến thêm sức mạnh cho con, để con có thể bước đi an toàn giữa cánh rừng tăm tối này, nơi đầy dẫy địch thù rình rập. Chúng phải đứng xa khi thấy chúng ta được bảo vệ chở che như thế.
Này con, đừng có đón rước Đức Giê-su Ki-tô nhằm mục đích lợi dụng Người theo ý con. Ngược lại, cha muốn con phó thác trọn vẹn cho Người và xin Người đón nhận con, để chính Người là Thiên Chúa cứu độ con, thì muốn thế nào, Người sẽ làm như thế cho con và nơi con. Đó là điều cha mong muốn, xin con thi hành. Và con phải thi hành như vậy. Được phép đòi con đến đâu, cha đòi con đến đó.

Xướng đáp x. Pl 1,21
X Quý hoá thay những lời dạy dỗ của thánh nhân, cao cả thay lòng yêu mến của Người !
* Người chẳng màng chi vinh hoa trần thế, chỉ mong sao được sống muôn đời.
Đ Đối với người, sống quả là Đức Ki-tô, và chết là một mối lợi. *

Lời nguyện
Lạy Chúa, Chúa đã thúc đẩy thánh Ga-ê-ta-nô linh mục sống theo lý tưởng cộng đoàn các Tông Ðồ. Vì gương sáng và lời chuyển cầu của thánh nhân, xin cho chúng con biết trọn niềm tin tưởng vào Chúa và không ngừng tìm kiếm Nước Trời. Chúng con cầu xin...


Ngày 8 tháng 8
Thánh Ða-minh, linh mục
Lễ nhớ

Thánh nhân sinh quãng năm 1170 tại Ca-lê-ru-ê-ga, Tây Ban Nha. Người học thần học tại Pa-len-xi-a, rồi làm kinh sĩ giáo phận Ốt-ma. Trước hết, người quy tụ một số phụ nữ về sống tại Pơ-rô-vin-lơ (Pháp), theo một tu luật, rồi sau người lập dòng Anh Em Thuyết Giáo (Dominicans) tại Tu-lu-dơ để đối lại lạc giáo Ca-tha. Chính người đã chiến đấu với lạc giáo bằng lời giảng thuyết, bằng gương sáng và đã thu hoạch được kết quả khả quan. Người muốn các anh em trong Dòng phải sống khất thực, và lời giảng dạy phải xuất phát và được nuôi dưỡng bằng chiêm niệm. Người đã đặt trung tâm Dòng ở Rô-ma trước khi qua đời ở Bô-lô-nha ngày 6 tháng 8 năm 1221.

Bài đọc 2

Thánh Đa-minh nói với Thiên Chúa hay về Thiên Chúa
Trích các văn kiện lịch sử Dòng Anh Em Thuyết Giáo.
Thánh Đa-minh rất mực đoan chính và nhiệt tình mến Chúa. Không nghi ngờ gì nữa, ai cũng chứng thực là người thật đáng kính và đầy ân sủng. Tâm hồn người hết sức bình thản, chỉ xao động khi đồng cảm nỗi thống khổ của người khác, hay khi tỏ lòng thương xót khoan dung. Lòng vui thì nét mặt cũng lây vui, nên người đã giải toả niềm an vui nội tâm trên khuôn mặt khả ái hân hoan.
Qua lời nói cũng như việc làm, đâu đâu người cũng tỏ ra là một con người phúc âm. Ban ngày, không ai hoà đồng vui vẻ với anh em bằng hữu hơn người. Ban đêm, chẳng ai kiên trì canh thức cầu nguyện đủ cách như người. Người ít nói, ngoại trừ nói với Thiên Chúa, tức là cầu nguyện, hay nói về Thiên Chúa, và người thường khuyên bảo anh em như vậy.
Người thường dâng lên lời cầu khẩn đặc biệt này, là xin Thiên Chúa thương ban cho người lòng bác ái chân thật, lòng bác ái giúp người nỗ lực tìm kiếm và đem lại ơn cứu độ cho con người. Người nghĩ rằng người chỉ thực sự là chi thể của Đức Ki-tô khi đem trọn vẹn con người và sức lực ra cứu các linh hồn như Chúa Giê-su là Đấng cứu độ mọi người đã dâng hiến trọn vẹn con người mình để cứu độ chúng ta. Và để thực hiện công trình này, theo kế hoạch quan phòng sâu thẳm từ ngàn đời của Thiên Chúa, người đã lập Dòng Anh Em Thuyết Giáo.
Người thường dùng lời nói và thư từ khuyên bảo anh em dòng thường xuyên học hỏi Cựu Ước và Tân Ước. Lúc nào người cũng mang theo mình sách Tin Mừng theo thánh Mát-thêu cùng với các thư thánh Phao-lô, và học đến hầu như thuộc lòng.
Hai ba lần được chọn làm giám mục, nhưng lần nào người cũng từ chối, vì muốn sống nghèo với anh em hơn là ngự trong một toà giám mục. Người bảo toàn đức khiết tịnh cao quý vẹn tuyền cho đến chết. Người những ước ao được chịu đòn, chịu tan xương nát thịt và chịu chết vì tin Đức Ki-tô. Đức Giáo hoàng Ghê-gô-ri-ô IX đã nói về người : “Tôi biết người đã theo lối sống của các Tông Đồ một cách trọn hảo, nên không chút nghi ngờ : người cũng được chia sẻ vinh quang trên trời với các Tông Đồ.”

Xướng đáp x. Hc 48,1 ; Ml 2,6
X Người xuất hiện chẳng khác nào ngọn lửa, người là ngôn sứ mới của ơn cứu độ.
* Lời người tựa đuốc cháy bừng bừng.
Đ Môi miệng người không nói điều gian ác, nhưng chỉ nói toàn điều chân thật. *

Lời nguyện
Lạy Thiên Chúa toàn năng, Chúa đã cho xuất hiện trong Hội Thánh một tông đồ nhiệt tâm truyền giảng chân lý là thánh Ða-minh. Xin nhận lời thánh nhân hằng tha thiết chuyển cầu mà ban cho Hội Thánh luôn tiến triển nhờ công đức và lời giảng dạy của Người. Chúng con cầu xin...


Ngày 10 tháng 8
Thánh Lô-ren-xô, phó tế, tử đạo
Lễ kính

Thánh Lô-ren-xô chịu tử đạo tại Rô-ma ngày 10 tháng 8 năm 268 sau đức Xít-tô II bốn ngày. Chuyện kể rằng người phải chịu cực hình lửa thiêu trên một chiếc giường sắt sau khi người đã phân phát cho người nghèo tài sản của cộng đoàn. Ngay từ thế kỷ IV, lòng tôn kính người đã phổ biến trong Hội Thánh.

Bài đọc 1 Cv 6,1-6 ; 8,1.4-8

Bảy phụ tá do các Tông Đồ lựa chọn
Lời Chúa trong sách Công Vụ Tông Đồ.
6 1 Thời đó, khi số môn đệ thêm đông, thì các tín hữu Do Thái theo văn hoá Hy Lạp kêu trách những tín hữu Do Thái bản xứ, vì trong việc phân phát lương thực hằng ngày, các bà goá trong nhóm họ bi bỏ quên. 2 Bởi thế, Nhóm Mười Hai triệu tập toàn thể các môn đệ và nói : “Chúng tôi mà bỏ việc rao giảng Lời Thiên Chúa để lo việc ăn uống là điều không phải. 3 Vậy thưa anh em, anh em hãy tìm trong cộng đoàn bảy người được tiếng tốt, đầy Thần Khí và khôn ngoan, rồi chúng tôi sẽ cắt đặt họ làm công việc đó. 4 Còn chúng tôi, chúng tôi sẽ chuyên lo cầu nguyện và phục vụ Lời Thiên Chúa.” 5 Đề nghị trên được mọi người tán thành. Họ chọn ông Tê-pha-nô, một người đầy lòng tin và đầy Thánh Thần, cùng với các ông Phi-líp-phê, Pơ-rô-khô-rô, Ni-ca-no, Ti-môn, Pác-mê-na và ông Ni-cô-la, một người ngoại quê An-ti-ô-khi-a đã theo đạo Do Thái. 6 Họ đưa các ông ra trước mặt các Tông Đồ. Sau khi cầu nguyện, các Tông Đồ đặt tay trên các ông.
8 1 Phần ông Sao-lô, ông tán thành việc giết ông Tê-pha-nô.
Hồi ấy, Hội Thánh tại Giê-ru-sa-lem trải qua một cơn bắt bớ dữ dội. Ngoài các Tông Đồ ra, mọi người đều phải tản mác về các vùng quê miền Giu-đê và Sa-ma-ri.
4 Vậy những người phải tản mác này đi khắp nơi loan báo lời Chúa.
5 Ông Phi-líp-phê xuống một thành miền Sa-ma-ri và rao giảng Đức Ki-tô cho dân cư ở đó. 6 Đám đông một lòng chú ý đến những điều ông Phi-líp-phê giảng, bởi được nghe đồn và được chứng kiến những dấu lạ ông làm. 7 Thật vậy, các thần ô uế vừa kêu lớn tiếng vừa xuất khỏi nhiều người trong số những kẻ bị chúng ám. Nhiều người tê bại và tàn tật được chữa lành. 8 Trong thành, người ta rất vui mừng.

Xướng đáp Mt 10,32 ; Ga 12,26
X Chúa nói : Phàm ai tuyên bố nhận Thầy trước mặt thiên hạ,
* Thầy cũng sẽ tuyên bố nhận người ấy trước mật Cha Thầy, Đấng ngự trên trời.
Đ Ai phục vụ Thầy, thì hãy theo Thầy ; và Thầy ở đâu, kẻ phục vụ Thầy cũng sẽ ở đó. *

Bài đọc 2

Thừa tác viên phục vụ Máu Thánh Đức Ki-tô
Trích bài giảng của thánh Âu-tinh, giám mục.
Hôm nay, Hội Thánh Rô-ma mời gọi chúng ta mừng lễ thánh Lô-ren-xô khải hoàn, ngày người đã chà đạp thế gian hung tợn, đã loại trừ thế gian nịnh hót. Thế là tên quỷ tấn người chịu hai lần thất bại. Như anh em đã biết, trong Hội Thánh Rô-ma, người đã thi hành chức vụ trợ tá, đã phục vụ Mình Máu Đức Ki-tô, đã chịu đổ máu vì danh Đức Ki-tô. Thánh Gio-an Tông Đồ đã trình bày rất rõ về mầu nhiệm bữa tối của Chúa khi nói : Đức Ki-tô đã thí mạng vì chúng ta. Như vậy, cả chúng ta nữa, chúng ta cũng phải thí mạng vì anh em. Thưa anh em, thánh Lô-ren-xô hiểu điều ấy, người đã hiểu và thực hành. Người được lãnh nhận Đấng trao ban chính mình làm của ăn tại bàn tiệc thánh thế nào, thì người cũng trao hiến chính mình làm của ăn cho người khác như vậy. Khi sống, người yêu mến Đức Ki-tô, thì lúc chết, người cũng bắt chước Đức Ki-tô.
Còn chúng ta, thưa anh em, nếu chúng ta thật lòng yêu mến Chúa, chúng ta hãy bắt chước Đức Ki-tô. Thực vậy, Đức Ki-tô đã chịu đau khổ vì anh em, để lại một gương mẫu để anh em dõi bước theo Người. Khi nói thế, dường như thánh Tông Đồ Phê-rô hiểu rằng : Đức Ki-tô đã chỉ chịu đau khổ vì những ai dõi bước theo Người, và cuộc thương khó của Đức Ki-tô sẽ chẳng lợi ích gì cho ai ngoài những kẻ dõi bước theo Người. Các thánh tử đạo đã theo Người đến nỗi chịu đổ máu, đến nỗi chịu đau khổ như Người. Các thánh tử đạo đi theo Đức Ki-tô, nhưng không phải chỉ có các ngài thôi. Quả thế, các ngài đi qua, cầu vẫn chưa sập ; các ngài uống nước, suối vẫn chưa khô. Thưa anh em, vườn của Chúa đủ loại hoa : không phải chỉ có hoa hồng tử đạo, mà còn có hoa huệ khiết trinh, có dây trường xuân hôn nhân, có hoa tím goá bụa. Anh em thân mến, đừng có ai thất vọng vì ơn gọi của mình, dẫu thuộc hạng người nào đi nữa : Đức Ki-tô đã chịu đau khổ vì mọi người. Kinh Thánh đã chép rất đúng về Người : Chúa là Đấng muốn cho mọi người được cứu độ và nhận biết chân lý.
Vì thế, người Ki-tô hữu phải biết cách đi theo Đức Ki-tô, mặc dù họ không phải đổ máu, không có nguy cơ phải chịu thương khó. Thánh Phao-lô tông đồ nói về Chúa Ki-tô : Người vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa. Chúa uy nghi dường nào ! Nhưng Người đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân làm nô lệ, trở nên giống phàm nhân, sống như người trần thế. Chúa khiêm hạ biết bao !
Đức Ki-tô đã hạ mình xuống. Hỡi Ki-tô hữu, đó là tấm gương bạn phải noi theo. Đức Ki-tô đã trở thành vâng phục, sao bạn lại kiêu căng ? Rồi sau khi hạ mình đến cùng và tiêu diệt sự chết, Đức Ki-tô đã lên trời : Ta hãy đi theo Người. Hãy nghe thánh Phao-lô tông đồ nói : Anh em đã được cùng chỗi dậy với Đức Ki-tô, nên hãy tìm kiếm những gì thuộc thượng giới, nơi Đức Ki-tô đang ngự bên hữu Thiên Chúa.

Xướng đáp x. Tv 17 (18),3
X Thánh Lô-ren-xô kêu lên rằng : Tôi chỉ thờ Thiên Chúa của tôi, tôi chỉ phụng sự một mình Người.
* Cực hình không làm tôi sợ hãi.
Đ Thiên Chúa tôi thờ là núi đá cho tôi trú ẩn, là Đấng giải thoát tôi. *

Thánh Thi “Lạy Thiên Chúa”

Ngày 11 tháng 8
Thánh Cơ-la-ra, trinh nữ
Lễ nhớ

Thánh nữ sinh năm 1193 tại Át-xi-di. Năm 18 tuổi, chị xin thánh Phan-xi-cô cho được theo nếp sống khó nghèo. Thánh Phan-xi-cô đã cho chị ở trong một căn nhà tồi tàn, gần nhà thờ thánh Đa-mi-a-nô ở cửa ngỏ thành Át-xi-di. Em của thánh nữ là A-nê và một số thiếu nữ khác gia nhập nếp sống của chị : sống thanh bần triệt để. Đó là những nữ tu Pha-xi-cô tiên khởi. Chị qua đời năm 1253.

Bài đọc 2

Hãy ngắm nhìn gương nghèo khó, khiêm nhường và bác ái của Đức Ki-tô
Trích thư của thánh Cơ-la-ra, trinh nữ, gửi chân phước A-nê Pơ-ra-ga.
Hạnh phúc thay người được tham dự bàn tiệc thánh để được hết lòng kết hợp với Đức Ki-tô. Toàn thể thiên quốc không ngừng thán phục vẻ đẹp của Người. Yêu mến Người thì sẽ say mê, chiêm ngưỡng Người thì được thêm sức mạnh. Lòng nhân hậu của Người làm ta no thoả, sự dịu dàng của Người làm ta ngây ngất. Nhớ đến Người tựa như được ánh sáng êm dịu chiếu soi. Hương thơm của Người làm kẻ chết hồi sinh. Nhìn vinh quang của Người, mọi công dân thành Giê-ru-sa-lem thiên quốc được hạnh phúc. Vì Người là phản ánh vinh quang ngàn đời, là vẻ rực rỡ của ánh sáng vĩnh cửu, là tấm gương không chút tì ố. Thưa hoàng hậu, hiền thê của Đức Giê-su Ki-tô, xin bà hằng ngày hãy soi mình vào tấm gương ấy, và cũng hãy nhìn kỹ khuôn mặt của bà trong đó ; nhờ vậy, bà trang điểm cả bề trong lẫn bề ngoài bằng trang phục huy hoàng lộng lẫy, bằng vòng hoa và xiêm y nhân đức, xứng đáng là nữ tử và hiền thê của Đức Vua cao cả. Nhưng trong tấm gương ấy còn phản ảnh đức khó nghèo diễm phúc, đức khiêm nhường thánh thiện, và đức bác ái tuyệt vời. Nhờ ơn Thiên Chúa, qua tấm gương trọn vẹn này, bà có thể chiêm ngắm tất cả.
Vậy, xin bà hãy ngắm nhìn từ đầu tấm gương ấy : đó là sự nghèo khó của Chúa, Đấng được bọc trong khăn và nằm trong máng cỏ. Ôi sự khiêm nhường đáng khâm phục ! Ôi sự nghèo khó gây ngỡ ngàng ! Vua các thiên thần, Chúa Tể trời đất lại nằm trong máng cỏ.
Rồi ở giữa tấm gương, bà hãy chiêm ngắm sự khiêm nhường, ít ra là sự nghèo khó. Hãy ngắm nhìn bao nỗi cực nhọc vất vả Người đã chịu để cứu chuộc loài người.
Còn ở cuối tấm gương, bà hãy chiêm ngưỡng tình yêu khôn tả khiến Người chịu đóng đinh trên thập giá, và chịu chết cách tủi nhục nhất.
Chính Người là tấm gương đó. Từ trên thập giá, Người mời gọi khách qua đường hãy ngắm nhìn, theo như lời nhắn nhủ : Nào tất cả những ai qua lại, hãy nhìn kỹ mà xem : có nỗi khổ nào so sánh được với nỗi khổ tôi phải chịu. Chúng ta hãy hợp một tiếng, chung một lòng đáp lại lời Chúa, Đấng đã kêu than : Nỗi niềm riêng canh cánh bên lòng, khiến hồn con tiêu hao mòn mỏi. Vậy, thưa hoàng hậu của Đức Vua trên trời, xin bà hãy đốt lên ngọn lửa yêu mến mỗi ngày một nồng nàn hơn.
Nhưng xin bà cũng hãy chiêm ngắm những niềm hoan lạc, những giàu sang khôn tả và những vinh dự vĩnh cửu của Người, và vì lòng yêu mến, khát khao mãnh liệt, xin bà hãy mượn lời sách Diễm Ca mả kêu lên : “Lạy Đức Phu Quân trên trời, xin hãy kéo em theo anh, đôi ta cùng sánh bước, theo mùi hương anh thơm ngát. Em sẽ chạy mãi không biết mệt cho đến khi anh đưa em vào phòng tiệc, cho đến khi anh đưa tay trái cho em gối đầu, đưa tay phải âu yếm ghì chặt lấy em, rồi hôn em nồng nàn.”
Khi chiêm niệm điều ấy, xin bà hãy nhớ đến người mẹ bé nhỏ nghèo hèn của bà, nên biết rằng tôi ghi nhớ hình ảnh bà trong trái tim tôi, không bao giờ phai nhạt, vì tôi quý mến bà hơn hết mọi người.

Xướng đáp Tv 72 (73),25.26 ; x. Pl 3,8.9
X Con còn ai chốn trời xanh, bên Ngài thế sự thật tình chẳng ham.
* Dẫu cho hồn xác suy tàn, thì nơi ẩn náu, kỷ phần lòng con, muôn đời là Chúa cao tôn.
Đ Lạy Chúa Ki-tô, con coi tất cả là thíệt thòi so với mối lợi tuyệt vời là được biết Chúa. *

Lời nguyện
Lạy Thiên Chúa từ bi nhân hậu, Chúa đã dìu dắt thánh Cơ-la-ra và soi sáng cho thánh nữ biết yêu chuộng đời sống khó nghèo. Xin nhận lời thánh nữ cầu thay nguyện giúp mà ban cho chúng con được cùng người sống tinh thần nghèo khó mà bước theo chân Ðức Ki-tô để được vào quê trời chiêm ngưỡng nhan thánh Chúa. Chúng con cầu xin...

admin
09-07-2011, 03:24 PM
Ngày 13 tháng 8
Thánh Pon-xi-a-nô, giáo hoàng, tử đạo, và thánh Híp-pô-li-tô, linh mục, tử đạo

Thánh Híp-pô-li-tô là linh mục giáo phận Rô-ma. Người là một nhà thần học tên tuổi. Trong cuộc bách hại dưới thời hoàng đế Mắc-xi-mi-a-nô, người bị đày sang Xác-đi-ni-a cùng với đức giáo hoàng Pon-xi-a-nô ( 235). Vì lao động khổ sai, cả hai vị đã chết để làm chứng cho Chúa Ki-tô. Lễ kính các vị vào ngày hôm nay kỷ niệm ngày cải táng thi hài các vị. Thi hài thánh Híp-pô-li-tô được đưa về an táng trong nghĩa trang trên đường Ti-buốc-ti-na, còn thi hài thánh Pon-xi-a-nô được đưa về an táng trong nghĩa trang Ca-lít-tô.

Bài đọc 2

Đức tin bất khuất
Trích thư thánh Síp-ri-a-nô, giám mục, tử đạo.
Thưa anh em là những người rất dũng cảm, tôi biết lấy lời nào để ca ngợi anh em ? Tôi biết dùng lời lẽ nào để tán dương chí khí can trường và đức tin kiên vững của anh em ? Anh em phải chịu nhục hình dã man nhất, cho đến hồi kết thúc trong vinh quang. Như thế không phải anh em chịu thua những cực hình, hay đúng hơn, cực hình phải thua anh em. Không phải những dụng cụ tra tấn, mà chính triều thiên vinh hiển đã chấm dứt những đau khổ của anh em. Dù cuộc hành trình có kéo dài, dù hình khổi có dữ tợn hơn, thì không phải để quật ngã lòng tin vững vàng, nhưng để đưa những người của Thiên Chúa về với Chúa nhanh hơn.
Đám đông dân chúng đang hiện diện chứng kiến cuộc đọ sức thần thánh của Thiên Chúa và cuộc chiến thiêng liêng của Đức Ki-tô mà thán phục. Họ chứng kiến các tôi tớ Thiên Chúa đang đứng vững, nói năng tự do, tâm hồn không nao núng, mạnh mẽ thần kỳ. Quả vậy, những tín hữu này không có những khí giới phàm trần, nhưng họ lại được trang bị những vũ khi đức tin. Những con người phải chịu cực hình lại đứng vững hơn những kẻ hành hình. Các chi thể họ bị đánh đập, bị cấu xé, nhưng họ lại thắng những nanh vuốt đã đánh đập, đã cấu xé họ.
Đòn vọt có tăng thêm mãi cũng không thể chế ngự được đức tin bất khuất. Tuy nhiên, nơi thân thể đã bị tan nát của các tôi tớ Thiên Chúa, không phải các chi thể chịu đòn mà là những vết thương. Máu chảy ra chan hoà máu dập tắt lửa bách hại, máu đem sắc thắm hiển vinh làm dịu đi những ngọn lửa hoả ngục. Ôi, cảnh tượng do Chúa Ki-tô thực hiện tuyệt vời biết mấy, cao quý làm sao, vĩ đại chừng nào và đẹp mắt Thiên Chúa xiết bao, vì trang chiến sĩ của Người đã đoan thệ trung thành và đã tận tình tận sức. Chúa Thánh Thần cũng lên tiếng khuyên dạy chúng ta như thế, và thánh vịnh đã ghi lại : Đối với Chúa thật là đắt giá, cái chết của những ai trung hiếu với Người. Cái chết này quả là quý giá, vì người chiến sĩ lấy máu của mình mà mua được sự bất tử, và vì dũng cảm đến cùng nên đã lãnh được triều thiên ân thưởng của Chúa.
Lúc ấy, Đức Ki-tô hoan hỷ chừng nào ! Người vui mừng chiến đấu và chiến thắng với các tôi tớ dũng cảm ấy. Người giữ gìn đức tin cho họ. Đối với các tín hữu, ai cần đón nhận sức mạnh bao nhiêu và tin là mình có thể nhận được, thì Người ban cho họ bấy nhiêu. Cuộc chiến này là của Người và Người có mặt tại đó. Người nâng đỡ, củng cố, và khích lệ những ai chiến đấu bảo vệ danh Người. Người đã một lần chiến thắng sự chết cho ta và mãi mãi luôn còn chiến đấu cho ta.
Ôi, Hội Thánh của chúng ta diễm phúc dường nào ! Hội Thánh đã được Thiên Chúa đoái thương lấy vinh quang của Người mà chiếu sáng, và ngày nay còn đang toả rạng nhờ máu vinh quang của các chứng nhân tử đạo. Trước đây, Hội Thánh trắng ngần nhờ các việc lành của anh em chúng ta, nay Hội thánh lại trở nên đỏ thắm nhờ máu đào của các chứng nhân tử đạo. Hội Thánh không thiếu hoa huệ cũng không thiếu hoa hồng. Mỗi người hãy chiến đấu để đạt được tối đa một trong hai vinh quang đó, tức là lãnh nhận hoặc triều thiên trắng nhờ đức thánh thiện, hoặ triều thiên hoa đỏ do chịu tử đạo.

Xướng đáp
X Khi chúng ta lâm trận và chiến đấu cho đức tin, có Thiên Chúa chứng giám, có các thiên sứ của Người chứng giám, và cả Đức Ki–tô cũng chứng giám nữa.
* Ôi vinh hiển dường bao, hạnh phúc biết chừng nào, khi xông vào cuộc chiến mà có Thiên Chúa hiện diện, có Đức Ki-tô làm trọng tài và đội triều thiên cho người chíến thắng.
Đ Ta hãy võ trang cho đầy đủ, và sẵn sàng lâm chiến tinh thần phải vững mạnh, đức tin phải nguyên tuyền, và đức ái nồng nàn mãnh liệt. *

Lời nguyện
Lạy Chúa, Chúa quý trọng cái chết anh hùng của các thánh tử đạo. Xin cho gương sáng của hai thánh Pon-xi-a-nô và Híp-pô-li-tô làm cho chúng con ngày càng yêu mến Chúa và kiên trì giữ vững đức tin. Chúng con cầu xin...


Ngày 14 tháng 8
Thánh Mắc-xi-mi-li-a-nô Ma-ri-a Kôn-bê linh mục, tử đạo
Lễ nhớ

Thánh nhân sinh ngày 8 tháng Giêng năm 1894 tại Ba Lan. Người gia nhập dòng Anh Em Hèn Mọn và năm 1918 thụ phong linh mục tại Rô-ma. Đầy lòng yêu mến nồng nàn đối với Đức Trinh Nữ Maria, Thánh Mẫu Thiên Chúa, người lập một hội đạo đức lấy tên là “Đạo binh Đức Ma-ri-a Vô Nhiễm.” Hội này đã được truyền bá rộng rãi ở quê hương người lẫn ở nhiều miền khác. Người đã đến Nhật Bản để truyền giáo, hăng say loan báo đức tin Ki-tô giáo dưới sự chăm sóc và bảo vệ của Đức Trinh Nữ Vô Nhiễm Nguyên Tội. Khi đã trở về Ba Lan, người phải chịu biết bao cơ cực nhọc nhằn một thời gian dài trong trại tập trung Ốt-suýt vì chính sách kỳ thị chủng tộc. Người đã hiến dâng mạng sống mình làm lễ toàn thiêu vì lòng bác ái ngày 14 tháng 8 năm 1941.

Bài đọc 2

Hãy đem nhiệt tâm tông đồ giúp các linh hồn được ơn cứu độ và được thánh hoá.
Trích thư thánh Ma-xi-mi-li-a-nô Ma-ri-a Kon-bê, linh mục, tử đạo.
Anh thân mến, tôi rất vui mừng vì thấy anh hăng hái nhiệt thành làm vinh danh Thiên Chúa. Ở thời đại chúng ta, không phải là không đáng buồn khi thấy chủ trương lãnh đạm, như người ta thường gọi, đang lan tràn dưới nhiều hình thức khác nhau. Chủ trương ấy giống như một cơn dịch lây lan không chỉ nơi các giáo dân, mà cả trong các cộng đoàn tu trì nữa. Tuy nhiên, vì Thiên Chúa đáng được vinh quang vô tận, nên bổn phận trước hết và trên hết của chúng ta là đem trọn khả năng yếu kém của mình mà dâng lên Người vinh quang cao cả nhất, cho dù chúng ta không bao giờ có thể dâng cho Người như Người đáng được, vì chúng ta chỉ là những thụ tạo tha hương yếu hèn.
Nhưng vinh quang Thiên Chúa được rạng ngời đặc biệt nơi ơn cứu độ các linh hồn, các linh hồn đã được Đức Ki-tô đổ máu mình ra mà cứu chuộc, nên lòng nhiệt thành hoạt động tông đồ, trước hết và trên hết, chính là làm sao cho nhiều linh hồn được cứu độ, và được thanh hoá hơn. Nhưng đâu là con đường thích hợp nhất để đạt tới mục đích này, tức là để Thiên Chúa được tôn vinh và nhiều linh hồn được thánh hoá ? Tôi xin nói ít lời như sau : Thiên Chúa là Đấng vô cùng khôn ngoan thượng trí, Người biết rõ chúng ta phải làm gì để Người được thêm vinh quang, nên đã bày tỏ ý muốn của Người cho chúng ta, nhất là qua những vị đại diện của Người trên trần gian.
Vì vậy, chính sự vâng phục và chỉ có sự vâng phục mà thôi, mới cho ta biết chắc ý muốn của Thiên Chúa. Thực ra bề trên cũng có thể lầm lẫn, nhưng không thể có chuyện chúng ta sống theo đức vâng phục mà lại vấp phải sai lầm. Một ngoại lệ duy nhất : chúng ta không thể vâng phục khi bề trên làm một điều rõ ràng vi phạm luật Chúa, dầu là một vi phạm rất nhỏ, vì lúc đó, bề trên không còn là người chuyển đạt ý Chúa một cách trung thực nữa.
Thiên Chúa và chỉ một mình Người là Đấng vô biên, thượng trí và chí thánh, chí nhân. Chỉ một mình Người là Chúa, là Đấng tạo dựng, và là Cha chúng ta, là khởi nguyên và cùng đích, là Đấng khôn ngoan, quyền năng và là tình yêu. Thiên Chúa là tất cả. Những sự vật ở ngoài Thiên Chúa càng được quy chiếu về Người thì càng thêm giá trị. Người là Đấng tạo dựng muôn loài, là Đấng cứu chuộc nhân loại và là cùng đích của toàn thể tạo thành. Vì thế, chính Người bảy tỏ cho chúng ý muốn đáng tôn thờ qua những vị đại diện của Người trên trần gian. Người lôi kéo chúng ta đến với Người, để qua chúng ta mà lôi kéo những tâm hồn khác và liên kết họ với Người trong một tình yêu trọn vẹn hơn.
Anh thân mến, hãy coi địa vị của chúng ta cao trọng chừng nào nhờ lòng thương xót của Thiên Chúa. Nhờ vâng phục, có thể nói là chúng ta vượt qua được những giới hạn hẹp hòi của chúng ta mà sống phù hợp với ý Thiên Chúa, Đấng đã dùng sự khôn ngoan thượng trí vô biên để hướng dẫn chúng ta hành động cho đúng. Hơn nữa, chúng ta trở nên mạnh mẽ hơn mọi sự khi gắn bó với ý Thiên Chúa, ý muốn mà không tạo vật nào có thể cưỡng lại được. Đây là nẻo đường sáng suốt khôn ngoan, là con đường duy nhất giúp chúng ta có thể tôn vinh Thiên Chúa hơn cả.
Nếu có con đường nào khác thích hợp hơn thì chắc chắn Đức Ki-tô đã dùng lời nói và gương sáng của Người mà chỉ vẽ cho chúng ta rồi. Nhưng Kinh Thánh đã tóm lược thời gian dài Người sống ở Na-da-rét trong những lời này : Người hằng vâng phục các ngài. Rồi có thể nói Kinh Thánh đã lấy đức vâng phục làm đường nét chính để phác hoạ quãng đường còn lại của Người : rải rác nhiều nơi, Kinh Thánh cho thấy Người xuống thế gian để thi hành ý muốn của Chúa Cha.
Vì vậy, thưa anh em, chúng ta hãy yêu mến, hãy hết lòng yêu mến Cha trên trời là Đấng rất mực yêu thương. Ước chi dấu chứng của lòng yêu mến tận tình này sẽ là đức vâng phục. Chừng nào chúng ta phải hy sinh ý riêng, chừng đó lòng yêu mến được thể hiện rõ ràng hơn cả. Thực thế, chúng ta biết rằng để giúp chúng ta yêu mến Thiên Chúa mỗi ngày mỗi hơn, không có cuốn sách nào thế giá bằng chính Đức Giê-su Ki-tô chịu đóng đinh.
Tất cả những điều đó, chúng ta sẽ xin được dễ dàng hơn nhờ Đức Trinh Nữ Vô Nhiễm. Thiên Chúa đã muốn uỷ thác việc ban phát lòng thương xót của Người cho Đức Ma-ri-a. Điều hiển nhiên là Đức Ma-ri-a chỉ muốn cho chúng ta những gì chính Thiên Chúa muốn. Khi chúng ta hiến mình cho Mẹ, thì trong tay Mẹ, chúng ta sẽ trở nên khí cụ Thiên Chúa dùng để thi thố lòng thương xót của Người, như chính Mẹ là khí cụ trong tay Thiên Chúa. Vì thế, chúng ta hãy để Mẹ hướng dẫn, hãy đưa tay cho Mẹ dắt dìu, hãy sống yên hàn dưới sự dẫn dắt của Mẹ ; chính Mẹ sẽ săn sóc và tiên liệu mọi sự cho chúng ta, sẽ mau mắn cứu giúp, đáp ứng những nhu cầu hồn xác, đẩy lui những khó khăn phiền toái cho chúng ta.

Xướng đáp x. Ep 5,1-2 ; 6,6
X Anh em hãy bắt chước Thiên Chúa, vì anh em là con cái được Người yêu thương,
* hãy sống trong tình bác ái, như Đức Ki–tô đã yêu thương chúng ta.
Đ Vì chúng ta, Đức Ki-tô đã dâng mình làm hiến lễ, làm hy lễ dâng lên Thiên Chúa tựa hương thơm ngào ngạt. *

Lời nguyện
Lạy Chúa, nhờ Chúa ban ân sủng, thánh linh mục tử đạo Mắc-xi-mi-li-a-nô Ma-ri-a Kôn-bê đã hăng say cứu các linh hồn, hết tình yêu mến tha nhân và trọn đời gắn bó với Ðức Nữ Trinh vô nhiễm. Xin nhận lời thánh nhân chuyển cầu mà giúp chúng con đem hết sức mình phục vụ anh em để danh Chúa được vinh quang rạng rỡ. Nhờ vậy, chúng con sẽ trở nên đồng hình đồng dạng với Con Một Chúa đến hơi thở cuối cùng. Chúng con cầu xin...

admin
09-07-2011, 03:25 PM
Ngày 15 tháng 8
Ðức Mẹ Lên Trời
Lễ trọng

“Kết thúc cuộc đời dương thế, Đấng Vô Nhiễm Nguyên Tội là Thánh Ma-ri-a, Đức Mẹ Chúa Trời, đã được đưa lên hưởng vinh quang thiên quốc cả hồn lẫn xác.” Với những lời đó, năm 1950, đức giáo hoàng Pi-ô XII đã xác định tín điều Đức Ma-ri-a hồn xác lên trời. Đặc ân này xuất phát từ ơn được làm Mẹ Đức Chúa Trời và là hy vọng chắc chắn cho toàn thể nhân loại, là lời hứa cho toàn thể nhân loại sẽ được phục sinh.

Bài đọc 1 Ep 1,16 – 2,10

Trong Đức Giê-su Ki-tô, từ cõi chết, chúng ta đi vào nguồn sống
Lời Chúa trong thư của thánh Phao-lô tông đồ gửi tín hữu Ê-phê-xô.
1 16 Tôi không ngừng tạ ơn Thiên Chúa vì anh em, khi nhắc tới anh em trong lời cầu nguyện của tôi. 17 Tôi cầu xin Chúa Cha vinh hiển là Thiên Chúa và là Cha của Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta, ban cho anh em thần khí khôn ngoan để mặc khải cho anh em nhận biết Người. 18 Xin Người soi lòng mở trí cho anh em thấy rõ, đâu là niềm hy vọng anh em đã nhận dược nhờ ơn Người kêu gọi, đâu là gia nghiệp vinh quang phong phú anh em được chia sẻ cùng dân thánh, 19 đâu là quyền lực vô cùng lớn lao Người đã thi thố cho chúng ta là những tín hữu. Đó chính là sức mạnh toàn năng đầy hiệu lực, 20 mà Người đã biểu dương nơi Đức Ki-tô khi làm cho Đức Ki-tô chỗi dậy từ cõi chết, và đặt ngự bên hữu Người trên trời. 21 Như vậy, Người đã tôn Đức Ki-tô lên trên mọi quyền lực thần thiêng, trên mọi tước vị có thể có được, không những trong thế giới hiện tại mà cả trong thế giới tương lai. 22 Thiên Chúa đã đặt tất cả dưới chân Đức Ki-tô và đặt Người làm đầu toàn thể Hội Thánh ; 23 mà Hội Thánh là thân thể Đức Ki-tô, là sự viên mãn của Người, Đấng làm cho tất cả được viên mãn.
2 1 Anh em đã chết vì những sa ngã và tội lỗi của anh em. 2 Xưa tên thủ lãnh nắm quyền lực trên không trung, tên ác thần hiện hoạt động trên những kẻ không vâng phục. 3 Tất cả chúng tôi xưa kia cũng thuộc hạng người đó, khi chúng tôi buông theo các đam mê của tính xác thịt, thi hành nhũng ước muốn của tính xác thịt và của trí khôn. Bẩm sinh chúng tôi là những kẻ đáng chịu cơn thịnh nộ của Thiên Chúa, như những người khác. 4 Nhưng Thiên Chúa giàu lòng thương xót và rất mực yêu mến chúng ta, 5 nên dầu chúng ta đã chết vì sa ngã, Người cũng đã cho chúng ta được cùng sống với Đức Ki-tô. Chính do ân sủng mà anh em được cứu độ ! 6 Người đã cho chúng ta cùng được sống lại và cùng ngự trị với Đức Ki-tô Giê-su trên cõi trời.
7 Như thế, Người tỏ lòng nhân hậu của Người đối với chúng ta trong Đức Ki-tô Giê-su, để biểu lộ cho các thế hệ mai sau được thấy ân sủng dồi dào của Người. 8 Quả vậy, chính do ân sủng và nhờ lòng tin mà anh em được cứu độ : đây không phải bởi sức anh em, mà là một ân huệ của Thiên Chúa ; 9 cũng không phải bởi việc anh em làm, để không ai có thể hãnh diện. 10 Thật thế, chúng ta là tác phẩm của Thiên Chúa, chúng ta được dựng nên trong Đức Ki-tô Giê-su, để sống mà thực hiện công trình tốt đẹp Thiên Chúa đã chuẩn bị cho chúng ta.

Xướng đáp
X Ôi đẹp đẽ huy hoàng xiết bao khi Đức Trinh Nữ Ma-ri-a rời bò thế gian này để lên cùng Đức Ki-tô.
* Người xuất hiện giữa triều thần thánh như vầng hồng rực rỡ giữa ngàn sao.
Đ Để đón chào Trinh Nữ, các thiên thần ca hát, các tổng lãnh thiên thần chung tiếng ngợi khen. *

Bài đọc 2

Thân xác Mẹ thánh thiện và thật vinh hiển
Trích Tông hiến Thiên Chúa vô cùng đại lượng của Đức Giáo hoàng Pi-ô XII.
Khi giảng dạy hay diễn thuyết cho dân ngày lễ Đức Mẹ Thiên Chúa hồn xác lên trời, các thánh giáo phụ và các bậc đại tiến sĩ vẫn nói về sự kiện Đức Ma-ri-a được đưa lên trời như là một chân lý đã được các Ki-tô hữu hiểu biết và tin nhận. Các ngài đã giải thích rõ hơn về sự kiện đó, dựa vào những lý lẽ sâu sắc hơn để trình bày ý nghĩa và bản chất của sự kiện, nhất là cho mọi người thấy rõ rằng : lễ này không phải chỉ để kính nhớ thân xác Đức Trinh Nữ Ma-ri-a sau khi chết không bị hư nát chút nào, mà còn kính nhớ việc Mẹ chiến thắng tử thần và được tôn vinh trên trời cũng giống như Đức Giê-su Ki-tô, Con Một của Mẹ.
Thánh Gio-an Đa-mát là vị giảng thuyết trổi vượt về chân lý vẫn được lưu truyền này. Khi so sánh hồng ân Mẹ được đưa về trời cả thân xác với các ân huệ và đặc ân khác Mẹ đã nhận được, thánh nhân đã nói rất hùng hồn như sau : “Đấng đã bảo toàn được nguyên vẹn đức đồng trinh khi sinh con hẳn cũng giữ gìn được cho thân xác mình khỏi mọi hư hoại khi lìa đời. Đấng đã bồng ẵm Tạo Hoá trong lòng mình như bồng ẵm một bé thơ phải được cư ngụ trong nhà Thiên Chúa. Đấng được Chúa Cha nhận làm hiền thê hẳn phải được ở trong loan phòng thiên quốc. Đấng đã ngắm nhìn Con mình trên thập giá và chịu lưỡi gươm đau đớn đâm thâu tâm hồn, lưỡi gươm đã tránh được lúc sinh Con, hẳn phải được ngắm nhìn người Con ấy đang ngự bên hữu Chúa Cha. Đấng làm Mẹ Thiên Chúa phải được những gì thuộc về Con mình và phải được mọi thụ tạo tôn kính như Thân Mẫu Thiên Chúa và như nữ tỳ của Người.”
Còn theo thánh Giê-ma-nô Con-tan-ti-nô, nếu thân xác Đức Trinh Nữ Ma-ri-a, Mẹ Thiên Chúa, không bị hư hoại và được đưa về trời, thì điều đó không những xứng hợp với thiên chức làm Mẹ Thiên Chúa, mà còn xứng hợp với thân xác đồng trinh rất thánh của Mẹ nữa : “Theo Kinh Thánh, Mẹ kiều diễm ; thân xác đồng trinh của Mẹ hoàn toàn thánh thiện, hoàn toàn thanh khiết, và đích thực là nơi Thiên Chúa ngự. Cũng vì thế, thân xác ấy không thể tan thành bụi đất. Nhưng vì là thân xác con người, nên phải được biến đổi mới có thể đạt tới cuộc sống tuyệt vời bất hoại. Tuy nhiên, vẫn chính thân xác ấy nay sống động, vinh hiển rạng ngời, toàn vẹn và được thông chia sự sống hoàn hảo.”
Một tác giả cổ thời quả quyết : “Vì Đức Ma-ri-a là Mẹ hiển vinh của Đức Ki-tô, mà Đức Ki-tô chính là Thiên Chúa, là Đấng cứu độ chúng ta, Đấng ban sự sống và sự trường sinh bất tử, nên Mẹ phải được Đức Ki-tô làm cho sống và cho thân xác Mẹ được nên giống như thân xác Người, nghĩa là không bao giờ bị hư hoại. Chính Người là Đấng đã cho Mẹ được chỗi dậy, ra khỏi mồ và là Đấng đã đưa Mẹ lên với Người, bằng cách nào thì chỉ một mình Người biết.”
Tất cả những lập luận suy tư của các thánh giáo phụ đều lấy Kinh Thánh làm nền tảng cuối cùng, mà Kinh Thánh lại trình bày rõ ràng cũng như đặt ngay trước mặt chúng ta một Đấng Thân Mẫu cao cả của Thiên Chúa. Mẹ hết sức gắn bó với Con mình, người Con mang thần tính, và Mẹ luôn thông phần vào vận mệnh của người Con ấy.
Nhất là phải nhớ rằng : ngay từ thế kỷ thứ hai, Đức Trinh Nữ Ma-ri-a đã được các thánh giáo phụ trình bày như E-va mới, mặc dù lệ thuộc A-đam mới, nhưng lại liên kết hết sức chặt chẽ với A-đam mới trong cuộc chiến chống lại địch thù từ hoả ngục xông lên. Cuộc chiến ấy như “tiền phúc âm” đã tiên báo, sẽ dẫn đến chiến thắng trọn vẹn trên tội lỗi và tử thần. Trong các tác phẩm của vị Tông đồ dân ngoại, tội lỗi và tử thần luôn đi đôi với nhau. Vì thế, cuộc chỗi dậy vinh hiển của Đức Ki-tô là phần cốt yếu và chiến lợi phẩm cuối cùng trong chiến thắng đó thế nào, thì cuộc chiến mà Đức Trinh Nữ cùng tham gia với Con mình cũng phải kết thúc bằng việc tôn vinh thân xác đồng trinh của Mẹ như thế. Thánh Tông Đồ cũng nói : Khi cái thân phải hư nát này mặc lấy sự bất diệt, thì bấy giờ sẽ ứng nghiệm lời Kinh Thánh sau đây : Tử thần đã bị chôn vùi trong chiến thắng.
Thế nên, ngay từ thuở đời đời, do cùng một quyết định tiền định duy nhất, thánh Ma-ri-a Đức Mẹ Chúa Trời đã được kết hợp một cách huyền nhiệm với Đức Giê-su Ki-tô, được ơn vô nhiễm khi thành thai, được ơn đồng trinh vẹn tuyền khi làm Mẹ Thiên Chúa, được hết lòng cộng tác với Chúa Cứu Chuộc, Đấng đã hoàn toàn chiến thắng tội lỗi và các hậu quả của tội lỗi, thì cuối cùng Mẹ cũng được chiến thắng tội lỗi và tử thần. Chiến thắng này là phần thưởng rất cao quý giữa những đặc ân Mẹ đã được. Nhờ đó, Mẹ được gìn giữ vẹn toàn, không bị hư nát chút nào trong phần mộ, và như Con của Mẹ, Mẹ chiến thắng và cả hồn lẫn xác được đưa về hưởng vinh quang cao cả trên trời. Nơi đó, Mẹ là hoàng hậu sáng ngời rực rỡ bên hữu Con của mình là Đức Vua bất tử muôn đời.

Xướng đáp
X Ngày rực rỡ vinh quang, ngày Mẹ Thiên Chúa lên ngự thiên đàng, nào chúng ta đồng thanh ca tụng :
* Mẹ có phúc hơn mọi người phụ nữ, và Đấng Mẹ đã cưu mang cũng thật là có phúc.
Đ Lạy Đức Trinh Nữ Ma–ri-a, Mẹ thật là diễm phúc, và thật xứng muôn lời ca ngợi, vì Mẹ đã sinh hạ Đức Ki-tô, Chúa chúng con, Người là mặt trời soi đường ngay nẻo chính. *

Thánh Thi “Lạy Thiên Chúa”

Lời nguyện
Lạy Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, Chúa đã đưa lên trời cả hồn lẫn xác Ðức Ma-ri-a là Trinh Nữ vô nhiễm và là Thánh Mẫu của Con Chúa. Xin cho chúng con hằng biết hướng về phúc lộc quê trời để mai sau được cùng Thánh Mẫu chung hưởng vinh quang. Chúng con cầu xin...

Ngày 16 tháng 8
Thánh Tê-pha-nô Hung-ga-ri

Thánh nhân sinh quãng năm 969 tại Pa-nô-ni-a. Người là “ông vua tông đồ nước Hung-ga-ri.” Lễ Chúa Giáng Sinh năm 1000, người lãnh bí tích thánh tẩy và lãnh nhận vương miện do đức giáo hoàng Xin-vét-te II ban. Người trị nước một cách công minh, giữ cho dân nước được thái bình. Nhưng người cũng là một tín hữu đạo đức, lo tuân giữ luật lệ Hội Thánh. Người lo vun trồng đạo thánh trong quê hương mình : lập nhiều giáo phận, xây cất nhiều thánh đường nay vẫn được dân tộc Hung-ga-ri trân trọng nhất. Người qua đời năm 1038.

Bài đọc 2

Này con, hãy nghe lời cha dạy bảo
Trích lời thánh Tê-pha-nô khuyên dạy con.
Con yêu dấu, trước hết, cha truyền dạy, cha khuyên nhủ và kêu gọi con : muốn làm vẻ vang cho vương tộc nhà ta, thì hãy chuyên chăm và cẩn thận gìn giữ đức tin công giáo và tông truyền, để con có thể nên gương cho tất cả các thuộc hạ Thiên Chúa đã giao cho con và để con xứng đáng được mọi giáo sĩ nêu danh vào số những người thực sự tuyên xưng đức tin Ki-tô giáo. Không tuyên xưng đức tin thì hãy nhớ rõ ràng : con sẽ không được gọi là Ki-tô hữu hay con cái Hội Thánh nữa. Thực ra, trong điện vua, trên hết phải tin vào Chúa Ki-tô, thứ đến phải quý trọng Hội Thánh, Hội Thánh trước hết đã được Đầu là Đức Ki-tô gieo xuống, rồi được chi thể của Người là các Tông Đồ và các thánh giáo phụ đem trồng, làm cho vững mạnh và loan ra toàn cõi đất. Nên cho dù Hội Thánh luôn sinh sản thêm con cái mới, thì vẫn có những nơi Hội Thánh được xem như là đã rất lâu đời.
Nhưng con yêu dấu, Hội Thánh trong vương quốc ta hiện còn khá non trẻ, vì được loan báo Tin Mừng cũng mới đây tôi, nên càng có những người đặc biệt mẫn cán và sáng suốt đứng ra bảo vệ. Nếu không, phúc lành Thiên Chúa nhân từ đã thương ban cho chúng ta là những kẻ vốn chẳng có công trạng gì, sẽ bị huỷ diệt tiêu tan mất vì tính hờ hững, lười biếng và chểnh mảng của con.
Con yêu dấu, con là sự êm dịu của lòng cha, là hy vọng cho dòng dõi của cha. Cha xin con, cha truyền cho con : bằng mọi cách và trong mọi sự, hãy lấy đức ái làm nền tảng. Hãy đối xử nhân hậu không những đối với bà con họ hàng, với kẻ quen người biết, với bá quan văn võ, với những kẻ giàu có, những người thân cận, với đồng bào trong nước mà thôi, nhưng còn cả với những người nước ngoài và mọi kẻ tìm đến với con. Bởi vì chính những hoạt động vì đức ái sẽ dẫn con tới hạnh phúc tuyệt đỉnh. Hãy thương xót tất cả những người bị áp bức, luôn ghi lòng tạc dạ mẫu gương của Chúa : Ta muốn lòng nhân, chứ đâu cần lễ tế. Hãy kiên nhẫn với mọi người, không phải với những bậc quyền cao chức trọng mà thôi, nhưng còn với những người thấp cổ bé miệng nữa.
Cuối cùng, hãy mạnh bạo : thành đạt chớ làm con tự cao, nghịch cảnh đừng khiến con nản lòng. Con cũng phải khiêm tốn để Thiên Chúa nâng con lên đời này và đời sau. Hãy chừng mực, đừng trừng phạt hay lên án ai quá đáng. Hãy ăn ở hiền lành, để không bao giờ dám hành động trái công bình. Hãy sống cao thượng và đừng khi nào chủ tâm làm cho ai mất danh thơm tiếng tốt. Hãy giữ lòng thanh khiết hầu tránh mọi hư đốn nhục dục như tránh nọc độc giết người.
Những điều cha vừa nói trên đây kết nên vương miện. Thiếu những điều ấy, chẳng ai có thể cai trị được ở đời này, và cũng chẳng có ai đạt tới vương quốc vĩnh cửu.

Xướng đáp x. Tb 4,8-9 ; Hc 35,8.9
X Tuỳ con có bao nhiêu, hãy cho bấy nhiêu.
* Có nhiều thì cho nhiều, có ít thì đừng ngại cho ít.
Đ Dâng cúng chi, cũng phải giữ nét mặt tươi cười ; hãy dâng hiến Đấng Tối Cao tuỳ theo những gì Người ban tặng *

Lời nguyện
Lạy Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, Chúa đã cho thánh Tê-pha-nô làm vua nơi trần thế để mở mang Giáo Hội. Nay người được vinh hiển trên thiên đàng, thì xin cho Giáo Hội cũng được người bênh vực chở che. Chúng con cầu xin...

Ngày 19 tháng 8
Thánh Gio-an Ơ-đơ, linh mục

Thánh nhân sinh năm 1601 tại giáo phận Căng, nước Pháp. Hầu như suốt đời người đã sống tại đây. Sau khi chịu chức linh mục, người đã đi giảng thuyết nhiều năm trong các xứ đạo. Rồi vì muốn cho các linh mục tương lai được đào luyện tốt trong các chủng viện, và các phụ nữ đã lầm đường lạc lối được vững vàng trong đời sống đạo, người đã lập ra các tu hội Thánh Tâm Chúa Giêsu và Trái Tim Đức Mẹ. Người nhiệt thành cổ võ việc tôn sùng Trái Tim Chúa và Trái Tim Đức Mẹ nhằm mục đích đem “sự sống và vương quốc của Chúa Giêsu đến mọi tâm hồn.” Người qua đời năm 1680.

Bài đọc 2

Nguồn ơn cứu độ và nguồn sự sống thật
Trích khảo luận của thánh Gio-an Ơ-đơ linh muc, về Trái Tim rất đáng ngợi khen của Chúa Giê-su.
Xin bạn suy nghĩ điều này : Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta, thực là Đầu, và bạn là một trong các chi thể của Người. Mọi sự của Người đều là của bạn ; tinh thần, trái tim, thân xác, linh hồn và mọi cơ năng của Người ; bạn phải sử dụng tất cả như những của riêng bạn mà phụng sự, ngợi khen, yêu mến và tôn vinh Người. Còn bạn, bạn thuộc về Người như chi thể thuộc về đầu. Như thế, Người rất muốn dùng mọi cơ năng của bạn như của chính Người mà phụng sự và tôn vinh Chúa Cha.
Không những Người thuộc về bạn, Người cũng muốn ở trong bạn nữa, vì Người vẫn sống trong bạn và điều khiển như đầu sống trong các chi thể và điều hành các chi thể vậy. Người muốn tất cả những gì ở trong Người thì cũng sống và điều khiển trong bạn : tinh thần Người trong tinh thần bạn, trái tim Người trong trái tim bạn, mọi cơ năng của linh hồn Người trong mọi cơ năng trong linh hồn bạn, để ứng nghiệm nơi bạn những lời sau đây : Anh em hãy tôn vinh và mang Thiên Chúa nơi thân xác anh em và sự sống của Thiên Chúa phải biểu lộ nơi anh em.
Mà bạn không những thuộc về Con Thiên Chúa, nhưng bạn còn phải ở trong Người như chi thể ở trong đầu nữa. Bất cứ sự gì ở trong bạn đều phải được tháp nhập vào Người. Bạn phải đón nhận sự sống nơi Người và phải được chính Người điều khiển. Bạn sẽ không hề có sự sống thật nếu không ở trong Người, vì chỉ mình Người là nguồn sự sống thật. Ngoài Người, bạn chỉ gặp thấy chết chóc và tiêu vong. Chính Người phải là nguyên lý duy nhất phát sinh mọi cử động, hành vi và tập quán cho đời sống của bạn. Bạn chỉ phải sống nhờ Người và cho Người, như lời thánh Phao-lô : Không ai trong chúng ta sống cho chính mình, cũng như không ai chết cho chính mình. Chúng ta có sống là sống cho Chúa, mà có chết cũng là chết cho Chúa. Vậy, dù sống dù chết, chúng ta vẫn thuộc về Chúa ; vì Đức Ki-tô đã chết và sống lại, chính là để làm Chúa kẻ sống và kẻ chết.
Cuối cùng, bạn chỉ là một với Đức Giê-su, như chi thể là một với đầu. Vì thế, bạn phải chỉ có cùng một tinh thần, một tâm hồn, một sự sống, một ý chí, một tình cảm, một trái tim với Người. Chính Người phải là tinh thần của bạn, trái tim của bạn, tình yêu của bạn, sự sống của bạn và tất cả của bạn.
Nơi Người tín hữu, bí tích thánh tẩy là khởi đầu cho tất cả những điều cao trọng ấy ; những điều ấy được tăng triển và nên vững mạnh nhờ bí tích thêm sức và nhờ việc biết hưởng dùng những ơn khác Thiên Chúa ban ; cuối cùng là bí tích Thánh Thể đưa những điều ấy tới mức thập toàn.

Xướng đáp Rm 14,9.8.7
X Đức Ki-tô đã chết và sống lại chính là để làm Chúa kẻ sống cũng như kẻ chết.
* Vậy dù sống dù chết, chúng ta vẫn thuộc về Chúa.
Đ Không ai trong chúng ta sống cho chính mình, cũng như không ai chết cho chính mình. Chúng ta có sống là sống cho Chúa, mà có chết cũng là chết cho Chúa. *

Lời nguyện
Lạy Chúa, Chúa đã chọn thánh Gio-an linh mục làm người rao giảng sự phong phú khôn lường của Ðức Ki-tô. Xin cho chúng con cũng biết theo gương sáng của thánh nhân và nghe lời người dạy dỗ mà ngày càng thêm hiểu biết Chúa và trung kiên sống theo Tin Mừng. Chúng con cầu xin...

admin
09-07-2011, 03:26 PM
Ngày 20 tháng 8
Thánh Bê-na-đô, viện phụ, tiến sĩ Hội Thánh
Lễ nhớ

Thánh nhân sinh năm 1090 gần Đi-giông, nước Pháp. Được giáo dục theo nếp sống đạo đức, năm 1111 người nhập dòng các đan sĩ Xi-tô. Ít lâu sau, người được chọn làm viện phụ. Người đã dùng hoạt động và gương sáng để hướng dẫn các đan sĩ tập luyện các nhân đức. Vì có sự phân ly trong Hội Thánh, người đã đi khắp châu Âu để lo vãn hồi sự hoà bình và hiệp nhất. Người đã biên soạn nhiều tác phẩm thần học và tu đức. Người qua đời năm 1153.

Bài đọc 2

Tôi yêu vì tôi yêu, tôi yêu để tôi yêu
Trích bài giảng của thánh Bê-na-đô, viện phụ, về sách Diễm Ca.
Tình yêu tự mình đủ cho mình, tự mình và vì mình đem lại niềm vui. Chính tình yêu là công trạng, nhưng cũng chính tình yêu là phần thưởng cho mình. Tình yêu không tìm lý do, không tìm hiệu quả ngoài mình : hiệu quả của tình yêu là chính tình yêu. Tôi yêu vì tôi yêu, tôi yêu để tôi yêu. Tình yêu là một điều cao cả, miễn là luôn trở lại với nguồn gốc của mình, miễn là ngược trở lại nguồn mạch của mình để luôn luôn được tuôn trào. Trong mọi hoạt động, cảm xúc và tâm tình của linh hồn, chỉ có tình yêu có thể giúp thụ tạo đáp lại Đấng Tạo Hoá, dầu không tương xứng, thì ít ra cũng giống nhau được phần nào. Vì khi Thiên Chúa yêu, thì Người không nhằm điều gì khác ngoài được yêu lại : Thật vậy, Thiên Chúa yêu thì Người không nhận điều gì khác ngoài được yêu lại, vì Người biết ai yêu mến Người thì sẽ được hạnh phúc nhờ chính tình yêu đó.
Tình yêu của hôn phu, đúng hơn tình yêu là hôn phu, không đòi hỏi gì khác hơn là được yêu lại và giữ lòng chung thuỷ. Do đó người được yêu có quyền yêu lại. Sao hôn thê có thể không yêu, khi chính nàng là hôn thê của tình yêu ? Sao tình yêu lại không được yêu ?
Thế nên hôn thê có lý khi khi từ bỏ mọi tình cảm khác để hoàn toàn hiến mình cho một tình yêu duy nhất, vì hôn thê phải đáp lại chính tình yêu bằng cách yêu lại. Nhưng khi hôn thê hoà nhập hoàn toàn với tình yêu, thì tình yêu sẽ là gì so với dòng chảy bất tận của nguồn mạch tình yêu ? Người yêu và tình yêu, linh hồn và Ngôi Lời, hôn thê và hôn phu, tạo hoá và thụ tạo không tuôn đổ dòng yêu thương phong phú như nhau, chẳng khác gì người khát với nguồn nước.
Vậy thì sao ? Không lẽ vì thế mà làm mai một và tan biến hoàn toàn lời ước nguyện của vị hôn thê, niềm khao khát của kẻ mong chờ, lòng rạo rực của kẻ đang yêu, lòng tin tưởng của người hãnh diện, vì vị hôn thê đâu có thể chạy sóng đôi với người khổng lồ, tranh đua vị ngọt với mật ong, tính hiền lành với con chiên, màu trắng với hoa huệ, vẻ sáng chói với mặt trời, tình yêu với Đấng là chính tình yêu ? Không phải thế. Vì thụ tạo nhỏ bé hơn, nên vẫn yêu mến ít hơn. Dầu vậy, nếu thụ tạo yêu trọn tình, thì nơi đâu đã trọn vẹn, nơi ấy chẳng thiếu chi. Vậy yêu như thế là đã thành hôn rồi, bởi không thể yêu đến vậy mà chỉ được yêu lại ít, nên khi hai bên đã thuận tình, thì hôn phối trọn vẹn và hoàn hảo đã được kết ước. Nếu không, lại có kẻ nghi ngờ sự thật này : linh hồn vẫn được Ngôi Lời yêu thương trước và yêu thương nhiều hơn.

Xướng đáp Tv 30 (31),20 ; 35 (36),9
X Lạy Chúa, cao cả thay tấm lòng nhân hậu,
* Chúa dành cho kẻ kính sợ Ngài !
Đ Họ được no say yến tiệc nhà Ngài, nơi suối hoan lạc, Ngài cho uống thoả thuê. *

Lời nguyện
Lạy Chúa, Chúa đã cho thánh viện phụ Bê-na-đô đầy nhiệt tâm lo việc nhà Chúa để trở nên ngọn đèn cháy sáng trong Giáo Hội. Nhờ lời người nguyện giúp cầu thay xin cho chúng con cũng được lòng hăng hái như người để sống thế nào cho xứng danh là con cái ánh sáng. Chúng con cầu xin...

Ngày 21 tháng 8
Thánh Pi-ô X, giáo hoàng
Lễ nhớ

Thánh nhân sinh năm 1835 tại Ri-ê-sê, nước Ý. Sau khi làm linh mục, người dấn thân thi hành việc mục vụ. Người làm giám mục Man-tô-va, rồi làm thượng phụ giáo chủ Vê-nê-xi-a, và cuối cùng, năm 1903, được chọn làm giáo hoàng. Người chu toàn bổn phận của mình theo khẩu hiệu người đã chọn : “Canh tân mọi sự trong Chúa Kitô” với lòng đơn sơ, đời sống thánh thiện, đời sống thanh bần và can đảm. Cùng với những đức tính ấy, người đã giúp các tín hữu sống đạo nhiệt thành và đối phó với những sai lầm đang lan tràn trong Hội Thánh. Người qua đời ngày 20 tháng 8 năm 1914.

Bài đọc 2

Hội Thánh cất tiếng ca dịu dàng
Trích tông hiến Chúa Thánh Thần linh hứng của thánh giáo hoàng Pi-ô X.
Nhờ ơn linh hứng của Thiên Chúa, các thánh vịnh đã được sáng tác. Sưu tập các thánh vịnh đã được đưa vào Kinh Thánh để, ngay từ thời đầu của Hội Thánh, rõ ràng là các thánh vịnh đã có sức nung đức lòng đạo đức của các tín hữu một cách lạ lùng : Họ dùng lời ngợi khen làm lễ tế dâng lên Thiên Chúa, tức là dùng miệng lưỡi mà ca tụng Thánh Danh. Không những thế, theo thói quen đã có từ thời luật cũ, rõ ràng là các thánh vịnh còn góp phần hiển nhiên vào Phụng vụ thánh và Kinh Thần Vụ. Từ đó phát sinh “tiếng nói của Hội Thánh” như thánh Ba-xi-li-ô thường gọi. Tiếng nói đó chính là lối hát thánh vịnh, hay theo cách gọi của vị tiền nhiệm chúng tôi là Đức U-ba-nô VIII, thì tiếng nói đó chính là ái nữ của thánh thi ca ngợi hằng được hát lên trước ngai Thiên Chúa và Con Chiên. Theo thánh A-tha-na-xi-ô thì thánh thi còn dạy cho những người đặc biệt lãnh trách nhiệm cử hành phụng tự biết phải ca ngợi Thiên Chúa làm sao, và phải dùng lời lẽ nào mà xưng tụng Chúa cho phải đạo. Về vấn đề này, thánh Âu-tinh cũng có những lời rất đẹp : “Vì Thiên Chúa muốn cho nhân loại ca ngợi Người một cách xứng hợp, nên Người đã tự ca ngợi mình trước ; Thiên Chúa đã vì thương mà tự ca ngợi chính mình, nên loài người mới biết cách ca ngợi Thiên Chúa.”
Các thánh vịnh cũng có một sức mạnh nội tại phi thường, có khả năng khơi dậy trong các tâm hồn nỗi khát khao mọi nhân dức. Thực vậy, theo thánh A-tha-na-xi-ô, “toàn bộ Kinh Thánh, cả Cựu Ước lẫn Tân Ước, đều đã được Thiên Chúa linh hứng và đều hữu ích cho việc giảng dạy, như Kinh Thánh đã chép. Dầu vậy, sách Thánh Vịnh ví như địa đàng có hoa trái của mọi sách khác : sách này đem lại những bài ca, và khi những bài ca đó được hát lên, sách này lại cho ta những hoa trái đặc sắc bên cạnh các sách khác.” Thánh A-tha-na-xi-ô còn thêm một điều chí lý : “Đối với tôi, thánh vịnh ví như tấm gương cho người hát soi mình, để nơi các thánh vịnh, người hát có thể ngắm nghía chính mình cùng với các rung động của riêng tâm hồn mình, và như thế, họ sẽ đầy tâm tình khi ngâm nga thánh vịnh.” Trong sách “Tự Thuật”, thánh Âu-tinh cũng viết : “Con đã khóc ròng khi nghe những bản thánh thi và thánh ca dâng kính Ngài, vì quá cảm kích trước giọng ca dịu dàng của Hội Thánh Ngài. Giọng ca ấy rót vào tai con, thì chân lý cũng thấm vào lòng con những tâm tình sốt mến, rồi nước mắt tuôn đổ và hạnh phúc trào dâng.”
Quả thế, ai lại không cảm động trước rất nhiều đoạn thánh vịnh hết lời xưng tụng uy nghi vô tận và quyền toàn năng của Thiên Chúa, xưng tụng đức công chính, lòng nhân hậu và từ tâm khôn tả, cũng như những phẩm tính vô cùng đáng ca tụng khác của Người ? Ai lại không cảm thấy những tâm tình giống như thế khi dâng lời cảm tạ Thiên Chúa vì những ơn lành Người đã ban, hay khi khiêm tốn và tin tưởng cầu xin những điều mình đang mong đợi, hoặc khi cất tiếng kêu van tự đáy lòng thống hối tội lỗi ? Ai lại không cảm thấy bừng cháy lòng yêu mến trước hình ảnh Đức Ki-tô, Đấng Cứu Thế, được hoạ lại cẩn thận ? Thật vậy, thánh Âu-tinh “đã nghe thấy tiếng của Đấng Cứu Thế trong mọi thánh vịnh, khi thì đàn ca, khi lại rên siết, lúc thì hân hoan trong hy vọng, lúc lại thở than trong hoàn cảnh hiện tại.”

Xướng đáp 1 Tx 2,4.3
X Thiên Chúa đã thử luyện chúng tôi và giao phó Tin Mừng cho chúng tôi, thì chúng tôi cứ vậy mà rao giảng.
* Không phải để Iàm vui lòng người phàm, mà để làm đẹp lòng Thiên Chúa.
Đ Lời giảng của chúng tôi không sai lầm, không có dụng ý xấu, không nhằm lừa dối ai. *

Lời nguyện
Lạy Chúa, Chúa đã ban cho thánh giáo hoàng Pi-ô thứ mười trí khôn ngoan siêu việt và lòng dũng cảm xứng bậc tông đồ, để người bênh vực đức tin công giáo và quy tụ tất cả về Ðức Ki-tô. Xin rộng ban cho chúng con biết nghe lời thánh nhân giảng dạy và noi gương sáng của người hầu mai ngày đạt tới phúc trường sinh. Chúng con cầu xin...

Ngày 22 tháng 8
Ðức Ma-ri-a, Nữ Vương
Lễ nhớ

Vì cả thân xác cũng đã được biến đổi, Đức Ma-ri-a trong vinh quang mông triệu đã trở nên thành công tối hậu của công trình cứu chuộc. Nhưng Đức Ma-ri-a vô cùng diễm lệ đồng thời cũng rất quyền thế bởi vì Người là Thánh Mẫu của Đấng mà "triều đại của Người sẽ vô cùng vô tận." Chính vì thế từ bao thế kỷ, các tín hữu đã kính chào Mẹ là Đức Nữ Vương, Đấng Trung Gian tối cao của ân sủng.

Bài đọc 2

Nữ vương thế giới và Nữ vương hoà bình
Trích bài giảng của thánh A-mê-đê, giám mục Lô-dan.
Trước khi được cất lên trời, danh tuyệt diệu của Đức Ma-ri-a đã toả sáng trên toàn cõi trái đất và danh thơm lừng lẫy của Mẹ đã lan toả khắp nơi, trước cả khi vẻ huy hoàng lộng lẫy của Mẹ được nâng cao vượt các tầng trời. Bạn xem : điều đó thật là phải lẽ. Thật vậy, vì Mẹ đồng trinh và vì danh dự của Người Con do Mẹ sinh ra, trước hết Mẹ phải cai trị ở dưới đất, rồi sau cùng đón nhận cõi trời vinh quang. Mẹ phải được đầy tràn ở dưới đất này, để rồi tiến vào trong sung mãn thánh thiện chốn trời cao. Và vì Mẹ đã được Thần Khí đưa từ nhân đức này tới nhân đức khác, thì Mẹ cũng được đưa từ chốn rạng ngời dưới đất đến chốn rạng ngời trên trời.
Vậy tuy sống trong thân xác, Mẹ đã được trước những hoa quả đầu mùa của vương quốc mai sau : khi thì vươn lên tới Thiên Chúa nhờ sự hoàn thiện khôn thấu, lúc lại hạ cố đến tha nhân nhờ đức bác ái khôn tả. Ở trên trời, Mẹ được các thiên sứ tới lui phục vụ, ở dưới đất, Mẹ được loài người hầu hạ kính tôn. Tổng lãnh Gáp-ri-en cùng với các thiên sứ đã cung phụng Mẹ. Còn ông Gio-an trinh khiết thì vui mừng vì Mẹ đồng trinh đã được trao phó cho mình dưới chân thập giá, ông cùng với các Tông Đồ chăm sóc Mẹ. Các thiên sứ hân hoan nhìn nhận Mẹ là Nữ vương của mình, các Tông Đồ vui mừng vui nhận Mẹ là bà chúa của mình. Và tất cả đều đem lòng đạo đức và yêu mến mà vâng phục Mẹ.
Phần Mẹ, Mẹ đang ngự trên lâu đài cao chót vót của các nhân đức và được các ân huệ của Thiên Chúa bao la như biển cả. Mẹ trổi vượt hơn mọi người nhờ ân sủng dồi dào như vực thẳm, nhưng Mẹ lại tuôn đổ rộng rãi xuống trên đoàn dân đang tin tưởng và khao khát. Thật vậy, Mẹ ban sức khoẻ cho thân xác và thần dược cho linh hồn, Mẹ có khả năng phụ giúp thân xác và linh hồn được chỗi dậy từ cõi chết. Có ai từ biệt Mẹ ra về mà vẫn còn đau yếu, buồn phiền và dốt nát không hiểu các mầu nhiệm thiên quốc bao giờ ? Có ai về tới nhà mà không hân hoan vui mừng, vì đã nhờ Đức Ma-ri-a, Thân Mẫu của Chúa, mà được như lòng mong muốn ?
Mẹ là hiền thê đầy dẫy các nhân đức cao cả, là Mẹ của vị Hôn Phu độc nhất, Mẹ dịu dàng và đáng mến, vì đầy niềm hân hoan vui sướng. Mẹ như nguồn suối cho các thửa vườn thiêng liêng, như giếng đầy nước hằng sống và đem lại sức sống. Nước ấy phát xuất từ núi Li-băng của Thiên Chúa, chảy như thác lũ. Vì thế, Mẹ làm tuôn chảy những dòng sông hoà bình và những con suối ân sủng thiên quốc, từ núi Xi-on cho đến mọi nước chung quanh. Vì vậy, khi Đức Trinh Nữ trên mọi trinh nữ được Thiên Chúa và được Con của Người là Vua trên các vua dẫn vào thiên cung, trước các thiên sứ đang hân hoan, các tổng lãnh đang vui mừng và thiên cung đang reo hò ca ngợi, thì bấy giờ ứng nghiệm lời sấm đã được tác giả thánh vịnh thưa với Chúa : Bên hữu Ngài, hoàng hậu sánh vai, trang điểm vàng Ô-phia lộng lẫy.

Xướng đáp x. Kh 12,1 ; x. Tv 44 (45),10
X Có điềm lớn xuất hiện trên trời : một người Phụ Nữ mình khoác mặt trời, chân đạp mặt trăng,
* đầu đội triều thiên mười hai ngôi sao.
Đ Nữ hoàng bên hữu thánh vương, điểm trang lộng lẫy toàn vàng Ô-phia. *

Lời nguyện
Lạy Chúa, Chúa đã đặt Thánh Mẫu của Ðức Ki-tô Con Chúa làm Thánh Mẫu và Nữ Vương chúng con. Xin nhận lời Ðức Nữ Vương chuyển cầu mà cho chúng con đạt tới phúc vinh quang Chúa dành sẵn trên trời cho con cái Chúa. Chúng con cầu xin...


Ngày 23 tháng 8
Thánh Rô-xa Li-ma, trinh nữ

Rô-xa sinh năm 1586 tại Li-ma, thủ đô nước Pê-ru, bắt đầu tập các nhân đức khi còn ở nhà cha mẹ. Sau khi lui vào một khu vườn của cha mẹ, chị nhận áo Dòng thánh Đa Minh, sống lý tưởng chiêm niệm, hãm mình và tông đồ. Vì ao ước cho thổ dân Mỹ La Tinh được đón nhận ơn cứu độ, chị đã thực hiện đời sống khắc khổ phi thường mà chỉ có sức sống thân mật với Đức Kitô mới đem lại cho chị sức chịu đựng. Chị qua đời ngày 24 tháng 8 năm 1617.

Bài đọc 2

Ta hãy biết rằng : lòng yêu mến Đức Ki-tô vượt hẳn mọi hiểu biết
Trích bút ký của thánh Rô-xa Li-ma, trinh nữ.
Chúa Cứu Thế đã lên tiếng và Người đã trịnh trọng tuyên bố : “Ai nấy hãy biết rằng ân sủng theo sau quẫn bách. Hãy ý thức rằng nếu không mang nặng khổ đau thì không thể đạt tới đỉnh cao ân sủng. Hãy hiểu biết rằng lao nhọc càng gia tăng thì mức độ ân huệ cũng tăng lên theo. Vậy hãy thận trong kẻo lầm đường hay bị lừa dối. Đây mới thực là cái thang duy nhất bắc lên thiên đàng, ngoài thập giá, không có còn đường nào khác dẫn lên trời.”
Nghe những lời đó, một sức mạnh phi thường xâm chiếm lấy tôi, như đem tôi ra giữa công trường để tôi lớn tiếng nói cho mọi người bất luận tuổi tác, nam nữ, giai cấp : “Hỡi đồng bào, xin nghe đây ! Hỡi chư dân, xin nghe đây ! Vâng lệnh Đức Ki-tô và theo lời chính miệng Người đã thốt ra, tôi xin khuyên nhủ anh chị em : chúng ta không thể lãnh nhận được ân sủng, nếu chúng ta không chịu đau khổ. Vậy cần phải chịu đau khổ chồng chất mới được hưởng vinh quang dành cho con cái Thiên Chúa và hạnh phúc trọn vẹn cho linh hồn.”
Cũng chính sức mạnh ấy đã mãnh liệt thôi thúc tôi rao giảng vẻ đẹp của ân sủng Thiên Chúa. Điều đó khiến tôi băn khoăn lo lắng, khiến tôi vã mồ hôi và thở hổn hển. Quả vậy, dường như tôi cảm thấy thân xác không thể nào giam giữ được linh hồn nữa. Nhưng linh hồn đã bức tung xiềng xích trói buộc để tự do, một mình và nhanh nhẹn hơn, rảo khắp thế giới mà tuyên bố rằng : “Ôi, giả như người đời biết rằng ân sủng Thiên Chúa là điều vĩ đại xiết bao, đẹp đẽ biết mấy, cao trọng và quý giá dường nào, trong ân sủng ẩn giấu biết bao điều quý báu, biết bao kho tàng, biết bao hạnh phúc hoan lạc, thì họ sẽ hết sức lo lắng và chuyên cần chiếm cho được vất vả khổ đau. Mọi người trên thế giới, thay vì tìm của cải giàu sang, có lẽ sẽ tìm những phiền nhiễu, bệnh tật và khốn khổ hầu đạt được kho tàng vô giá chất chứa ân sủng. Đó là chiến phẩm và là mối lợi cuối cùng dành cho người có lòng kiên nhẫn. Có lẽ không còn ai phàn nàn về thập giá và những khó nhọc ấy đã được cân trên bàn cân nào trước khi phân chia cho loài người.”

Xướng đáp 1 Cr 1,27.28-29 ; Tv 137 (138),6
X Những gì thế gian cho là điên dại, thì Thiên Chúa đã chọn để hạ nhục những kẻ khôn ngoan, và những gì thế gian cho là không có, thì Thiên Chúa đã chọn để huỷ diệt những gi hiện có.
* Hầu không một phàm nhân nào dám tự phụ trước mặt Người.
Đ Chúa tuy thật cao cả, nhưng vẫn nhìn đến kẻ thấp hèn ; đứa ngạo mạn ngông nghênh, từ xa Người đã biết. *

Lời nguyện
Lạy Chúa, Chúa đã cho thánh Rô-xa Li-ma được cháy lửa yêu mến Chúa nồng nàn, khiến thánh nữ từ bỏ thế gian, sống cho một mình Chúa trong cuộc đời khắc khổ và cầu nguyện ; xin nhận lời thánh nữ chuyển cầu mà cho chúng con hằng tiến bước trên con đường đưa tới sự sống thật, để được hưởng nguồn vui bất tận trên trời. Chúng con cầu xin...

admin
09-07-2011, 03:27 PM
Ngày 24 tháng 8
Thánh Ba-tô-lô-mê-ô, tông đồ
Lễ kính

Thánh nhân còn được gọi là Na-tha-na-en, quê ở Ca-na. Chính tông đồ Phi-líp-phê là người đã giới thiệu thánh nhân với Chúa Giê-su ở bờ sông Gio-đan. Người nhập nhóm các môn đệ đầu tiên được Chúa kêu gọi. Người ta không biết đích xác về hoạt động tông đồ của người sau lễ Hiện Xuống. Tương truyền rằng người đã loan báo Tin Mừng ở Ấn-độ và chịu tử đạo ở đó.

Bài đọc 1 1 Cr 4,1-16

Chúng tôi rao giảng một Đấng Ki-tô chịu đóng đinh
Lời Chúa trong thư thứ nhất của thánh Phao-lô tông đồ, gửi tín hữu Cô-rin-tô.
Chớ gì thiên hạ coi chúng tôi như những môn đệ của Đức Ki-tô, những người quản lý các mầu nhiệm của Thiên Chúa. Mà người ta chỉ đòi hỏi ở người quản lý một điều, là phải chứng tỏ lòng trung thành. Đối với tôi, dù tôi có bị anh em hay toà đời xét xử, tôi cũng chẳng coi là gì. Mà tôi, tôi chẳng tự xét xử lấy mình. Quả thật, tôi chẳng thấy lương tâm áy náy điều gì, nhưng đâu có phải vì thế mà tôi đã được kể là người công chính. Đấng xét xử tôi chính là Chúa. Vậy xin anh em đừng xét xử điều gì trước kỳ hạn, trước ngày Chúa đến. Chính Người sẽ đưa ra ánh sáng những gì ẩn khuất trong bóng tối, và phơi bày những ý định trong thâm tâm con người. Bấy giờ, mỗi người sẽ được Thiên Chúa khen thưởng đích đáng.
Thưa anh em, tôi đã áp dụng các điều đó cho tôi và anh A-pô-lô, vì lợi ích của anh em, để anh em theo gương chúng tôi mà học cho biết “đừng có đi ra ngoài những gì đã viết” kẻo sinh ra kiêu ngạo, theo người này mà chống người khác. Thật vậy, nào có ai coi bạn hơn kẻ khác đâu ? Bạn có gì mà bạn đã không nhận lãnh ? Nếu đã nhận lãnh, tại sao lại vênh vang như thể đã không nhận lãnh ? Anh em đã no nê rồi ! đã giàu có rồi ! Không có chúng tôi, anh em đã làm vua rồi ! Phải chi anh em làm vua, để chúng tôi cũng được làm vua với anh em ! Thật vậy, tôi thiết nghĩ : Thiên Chúa đã đặt chúng tôi làm Tông Đồ hạng chót như những kẻ bị án tử hình, bởi vì chúng tôi đã nên trò cười cho thế gian, cho thiên thần và loài người ! Chúng tôi điên dại vì Đức Ki-tô, còn anh em thì khôn ngoan trong Đức Ki-tô ; chúng tôi yếu đuối, còn anh em thì mạnh mẽ ; anh em được kính trọng, còn chúng tôi thì bị khinh khi.

Bài đọc 2

Cái yếu đuối của Thiên Chúa còn hơn cái mạnh mẽ của loài người
Trích bài giảng của thánh Gio-an Kim Khẩu, giám mục, về thư thứ nhất gửi tín hữu Cô-rin-tô.

Thập giá do những ngựời dốt nát rao truyền đã thuyết phục được nhiều người, đúng hơn, đã thuyết phục được toàn thể địa cầu. Thập giá không bàn về những chuyện tầm thường, nhưng bàn về Thiên Chúa, về đạo thật, về đời sống theo Tin Mừng, cũng như về cuộc phán xét mai sau, đồng thời làm cho mọi người quê mùa thất học thành những người khôn ngoan thông thái. Thế mới hay điều điên dại của Thiên Chúa còn khôn ngoan hơn con người, và cái yếu đuối của Thiên Chúa còn mạnh mẽ hơn con người.
Nhưng mạnh mẽ hơn như thế nào ? Thưa, thập giá đã lan tràn khắp địa cầu và đã chinh phục được mọi người. Nhiều người cố tìm cách bôi tên Đấng bị đóng đinh, nhưng kết quả ngược hẳn lại : danh Người lừng lẫy, và ngày càng vang xa, Còn những kẻ chống đối Người thì tiêu vong, tàn lụi ; những người sống gây chiến chống một người chết, nhưng chẳng đi đến đâu hết. Vì thế, khi người Hy-lạp bảo tôi đã chết, thì chính là lúc tỏ ra họ khờ dại hơn cả. Còn tôi, khi bị họ coi là khờ dại thì rõ ràng tôi còn khôn ngoan hơn kẻ khôn ngoan. Khi gọi tôi là kẻ yếu đuối, họ cho thấy chính họ còn yếu đuối hơn. Những điều mà nhờ ơn Thiên Chúa, những kẻ thu thuế, những anh thuyền chài làm được, thì các bậc triết gia, các vị vua chúa, và dám nói là cả thế gian vẫn theo đuổi không biết bao nhiêu chuyện này, ngay việc hình dung ra những điều đó thôi cũng chưa hình dung nổi.
Đó cũng chính là điều thánh Phao-lô để tâm suy nghĩ. Người nói : Cái yếu đuối của Thiên Chúa còn hơn cái mạnh mẽ của loài người. Quả vậy, rao giảng là việc của Thiên Chúa, điều ấy cũng hiển nhiên thôi. Làm sao mà mười hai anh đàn ông dốt nát, sống trên ao hồ, sông lạch hay trong vùng hoang địa lại dám nghĩ đến chuyện toan tính những việc đại sự ấy ? Làm sao những kẻ có lẽ chưa khi nào đặt chân tới một vùng phố thị, chưa khi nào xuất hiện trước công chúng, lại dám tung ra một trận chiến chống lại cả thế gian ? Chính người viết về họ cũng nói rõ là họ nhát đảm, hay sợ sệt. Ông không phủ nhận điều đó, không muốn che giấu khuyết điểm cho họ. Và đây là chứng cứ mạnh mẽ nhất chứng tỏ rằng ông viết sự thật. Vậy ông kể gì về họ ? Ông kể rằng khi Đức Ki-tô bị bắt, dầu trước đó Người đã làm vô số phép lạ, mấy anh kia cũng trốn hết, còn lại có anh đứng đầu thì lại chối Người.
Vậy, khi Đức Ki-tô còn sống, họ đã không chịu nổi sức tấn công của người Do-thái, thì khi Đức Ki-tô đã chết, mà nếu Người không phục sinh - nhiều người vẫn nói là đâu có chuyện Người phục sinh -, nếu Người không nói chi với họ, không ban sức can đảm cho họ, làm sao họ dám tung ra một trận chiến chống lại cả địa cầu rộng lớn đến thế ? Làm gì lúc đó họ lại chẳng bảo nhau : "Chuyện chi lạ vậy ? Ông ấy không cứu nổi chính mình mà lại bảo vệ được chúng ta ư ? Lúc sống, ông ấy không tự giúp gì được cho mình, mà khi chết lại đưa tay trợ giúp chúng ta được ư ? Lúc sống, ông ấy không khuất phục được một dân tộc nào, thì chúng ta sẽ nhờ rao tên ông ấy mà chinh phục được cả thế giới ư ? Nghĩ đến những điều đó mà thôi đã là phi lý lắm rồi, huống chi là thực hiện, làm sao hợp lý được ?"
Chính vì vậy mà nếu họ không thấy Chúa đã sống lại, nếu họ không có bằng chứng rõ ràng về quyền năng của Người, thì họ đã không dám liều đến thế.

Xướng đáp 1 Cr 1,23-24 ; 2 Cr 4,8 ; Rm 8,37
X Chúng tôi rao giảng một Đấng Ki–tô bị đóng đinh, điều mà người Do-thái coi là ô nhục không thể chấp nhận, và dân ngoại cho là điên rồ ; nhưng đối với những ai được Thiên Chúa kêu gọi,
* Đấng ấy là Đức Ki-tô, sức mạnh và sự khôn ngoan của Thiên Chúa.
Đ Chúng tôi bị dồn ép tư bề ; nhưng trong mọi thử thách ấy, chúng ta toàn thắng nhờ Đấng đã yêu mến chúng ta. *

Lời nguyện
Lạy Chúa, xin ban cho chúng con một lòng tin vững mạnh, để chúng con thật tình gắn bó với Ðức Ki-tô, Con Một Chúa, như thánh Ba-tô-lô-mê-ô tông đồ. Xin Chúa cũng nhận lời thánh nhân cầu thay nguyện giúp mà cho chúng con sống thế nào, để muôn dân nhận biết Hội Thánh chính là bí tích cứu độ. Chúng con cầu xin...

Ngày 25 tháng 8
Thánh Lu-y

Thánh nhân sinh năm 1214, Năm 22 tuổi, người lên ngôi vua cai trị nước Pháp. Người là mẫu mực cho người giáo dân sống Tin Mừng : một người chồng tốt, một người cha hết lòng giáo dục con thành những Ki-tô hữu đích thực, một ông vua lo cổ võ công lý và hoà bình. Người sống đức tin một cách khiêm nhường: mỗi ngày người siêng năng cầu nguyện, phục vụ người nghèo trong tinh thần vui tươi. Người nhận lãnh nhiệm vụ đi giải phóng Mồ Thánh và qua đời gần Các-tha-go năm 1270.

Bài đọc 2

Vua công chính cai trị thế gian
Trích di chúc thiêng liêng của thánh Lu-y để lại cho thái tử.
Con yêu dấu, trước hết cha khuyên con yêu mến Chúa là Thiên Chúa của con hết lòng hết sức ; chẳng vậy, con không được ơn cứu độ đâu.
Con ơi, con phải giữ mình, tránh xa mọi điều con biết là mất lòng Thiên Chúa, nghĩa là tránh xa mọi tội trọng. Thà cam chịu mọi khổ hình còn hơn là phạm một tội trọng.
Rồi nếu Chúa để con gặp hoạn nạn, con phải bằng lòng đón nhận, phải cảm tạ Chúa và nghĩ rằng : điều đã xảy ra có ích cho con, và có lẽ con đáng chịu như vậy lắm. Còn nếu Chúa cho con được thịnh vượng, thì phải khiêm tốn tạ ơn Người, phải ý tứ kẻo vì được thinh vượng mà con đâm ra tệ hơn, hoặc do lên mặt tự cao tự đại, hoặc do một cách nào khác, bởi con không được dùng những ân huệ Thiên Chúa ban cho mà chống lại hay xúc phạm đến Người.
Hãy vui vẻ sốt sắng đi dự các giờ kinh Thần vụ của Hội Thánh. Trong nhà thờ, hãy chú ý, đừng trông ngang trông ngửa, chớ nói chuyện dông dài, nhưng sốt sắng cầu nguyện cùng Chúa, hoặc thốt ra ngoài miệng, hoặc suy niệm trong lòng.
Con hãy mở lòng xót thương người nghèo khó, kẻ khốn cùng và những ai sầu khổ. Hãy tuỳ sức con mà giúp đỡ ủi an họ. Hãy tạ ơn Thiên Chúa về mọi ân phúc Người ban để con đáng được những ân phúc trọng đại hơn nữa. Hãy đối xử công minh với những kẻ thuộc quyền : giữ vững đường công chính, không nghiêng bên tả, không nghiêng bên hữu. Hãy nghiêng về phía người nghèo hơn là người giàu cho tới khi con nắm chắc sự thật. Con hãy để tâm bảo vệ những người thuộc quyền, đặc biệt là các giáo sĩ và tu sĩ, để hết thảy được hưởng công lý và hoà bình.
Hãy thảo kính và vâng lời mẹ chúng ta là Hội Thánh Rô-ma và đức giáo hoàng như người cha thiêng liêng. Hãy gắng sức đẩy lui mọi tội lỗi ra khỏi bờ cõi của con, nhất là tội phạm thượng và lạc giáo.
Con yêu dấu, sau cùng, cha chúc cho con được tất cả những phúc lành mà một người cha đạo hạnh có thể cầu chúc cho con mình. Ước chi Ba Ngôi Thiên Chúa và toàn thể các thánh giữ gìn con khỏi mọi sự dữ. Xin Chúa ban cho con biết thi hành ý Chúa để qua con Chúa được phụng sự và tôn kính, hầu qua khỏi đời này, cha con ta cùng được hưởng kiến, mến yêu và ca tụng Người mãi mãi. A-men.

Xướng đáp 2 V 18,3.5.6.7
X Vua đã làm những điều Đức Chúa coi là ngay thẳng ; chẳng có Vua nào được như thế :
* Vì vậy, Đức Chúa hằng ở với Vua,
Đ Vua gắn bó với Đức Chúa, không hề bỏ các mệnh lệnh Chúa truyền. *

Lời nguyện
Lạy Chúa, Chúa đã cho thánh Lu-y biết chu toàn nhiệm vụ bậc vua chúa trần gian để xứng đáng hưởng vinh quang thiên quốc. Xin nhận lời thánh nhân chuyển cầu mà cho chúng con cũng biết chu toàn nhiệm vụ chúng con ở đời này để mai sau được Chúa đón nhận vào nhà Chúa. Chúng con cầu xin...

Ngày 25 tháng 8
Thánh Giu-se Ca-la-xan, linh mục

Thánh nhân sinh năm 1557 miền A-ra-gông, Tây Ban Nha. Người là một con người học rộng. Sau khi làm linh mục, người thi hành tác vụ tại quê hương. Năm 1592, người sang Rô-ma và ở lại đây cho đến khi qua đời. Thánh nhân là người đầu tiên mở trường miễn phí dành cho con em các gia đình nghèo. Rồi cũng nhằm mục đích ấy, người lập một Tu Hội. Tu Hội này phát triển ở I-ta-li-a, Đức và Ba Lan. Sau nhiều thử thách gian nan, thánh nhân qua đời năm 1648.

Bài đọc 2

Ta hãy ra sức gắn bó với Đức Ki-tô và làm đẹp lòng một mình Người
Trích bút ký của thánh Giu-se Ca-la-xan, linh mục.
Không ai lại hoàn toàn không biết gì về giá trị nổi bật và công đức cao cả của một tác vụ thánh là việc dạy dỗ các trẻ em, nhất là các trẻ em nghèo, để nhờ được giáo dục như thế, chúng có thể đạt tới sự sống đời đời. Thực vậy, lúc thì ta dạy học, lúc thì ta truyền dạy lòng đạo đức và giáo lý Ki-tô giáo cho chúng, để lo cho chúng được lành mạnh cả hồn lẫn xác, đó là một cách ta thực hiện chính công việc mà các thiên thần bản mệnh của chúng ta đang thực hiện.
Đàng khác, ta hãy hết sức giúp đỡ không những để can ngăn, không cho các em làm điều xấu, mà nhất là còn để lôi kéo và thúc đẩy các em làm việc tốt, cho dầu các em thuộc điều kiện gia đình hay xã hội nào chăng nữa, và nhờ sự giúp đỡ của ta, sự lôi kéo và thúc đẩy trên đây sẽ dễ dàng và nhẹ nhàng hơn. Được giúp đỡ như thế, chắc chắn các thiếu niên sẽ thay đổi và tốt hẳn hơn lên, trở thành những con người có giáo dục, và người ta không còn có thể nhận ra là ngày xưa, ngày mà chúng vẫn cần phải được giáo dục, thì chúng đã như thế nào. Quả thật, các em cũng như những cành cây non, nếu được ai ra sức uốn nắn tâm hồn ngay từ lúc còn nhỏ, các em sẽ theo dễ dàng. Còn nếu để các em lớn lên, chai cứng, thì không ai lại không biết rằng : hoặc có thể rất khó, hoặc có thể là không bao giờ còn hy vọng giúp các em sửa mình được nữa.
Dành cho trẻ em, nhất là các trẻ em nghèo, một nền giáo dục xứng hợp, điều đó không những góp phần nâng cao nhân cách của chính các em, mà còn được mọi người trong cộng đồng nhân loại và trong Hội Thánh Chúa Ki-tô đánh giá cao : các bậc phụ huynh thì rất vui mừng, vì nhờ đó mà con cái họ được dẫn dắt theo đường ngay nẻo chính. Các người lãnh đạo xã hội thì thêm được những người thuộc quyền lương thiện và những công dân tốt. Nhất là Hội Thánh có thêm những người trưởng thành và đắc lực hơn, dấn thân theo lối sống và hoạt động đa diện của mình : đó chính là những người yêu mến Đức Ki-tô và làm chứng cho Tin Mừng.
Tuy nhiên, những ai đảm nhận việc giáo dục này như một phận sự sẽ nỗ lực thi hành, thì phải giàu lòng bác ái, phải nhất mực kiên trì, nhất là khiêm nhường thẳm sâu, để nhờ biết cầu nguyện cùng Chúa với tâm tình khiêm hạ, họ có thể được coi là xứng đáng được Chúa tặng ban phần thưởng trên trời như Kinh Thánh nói : Những ai làm cho người người nên công chính, sẽ được chiếu sáng muôn đời như những vì sao.
Điều trên đây, họ sẽ đạt được dễ dàng hơn, nếu một khi đã kết ước suốt đời phục vụ, họ ra sức gắn bó với Đức Ki-tô và làm đẹp lòng một mình Người, Đấng đã nói : Mỗi khi anh em làm cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các người làm cho chính Ta vậy.

Xướng đáp 1 Tx 2,8 ; Gl 4,19
X Chúng tôi sẵn sàng hiến cho anh em, không những Tin Mừng của Thiên Chúa, mà cả mạngsống của chúng tôi nữa,
* vì anh em đã trở nên những người thân yêu của chúng tôi.
Đ Hỡi anh em là những người con bé nhỏ của tôi, những người tôi sinh ra một lần nữa, cho đến khi Đức Ki-tô được thành hình nơi anh em. *

Lời nguyện
Lạy Chúa, Chúa đã ban cho thánh Giu-se linh mục một tâm hồn đầy yêu thương và kiên nhẫn để tận tình giáo dục thanh thiếu niên nên người và nên thánh. Giờ đây chúng con tôn kính thánh nhân như bậc thầy dạy đức khôn ngoan, thì xin cho chúng con cũng biết noi gương người mà phục vụ chân lý. Chúng con cầu xin...

admin
09-07-2011, 03:28 PM
Ngày 27 tháng 8
Thánh nữ Mô-ni-ca
Lễ nhớ

Thánh nữ sinh năm 331 tại Ta-gát, châu Phi, trong một gia đình theo Ki-tô giáo. Lúc còn thanh xuân, thanh nữ đã kết hôn với anh Pa-tri-xi-ô và sinh được những người con, trong đó có thánh Âu-tinh. Khi Âu-tinh mất đức tin, thánh nữ đã dâng những dòng lệ tựa những lời cầu nguyện âm thầm lên Thiên Chúa. Khi thấy Âu-tinh trở lại, thánh nữ đã tràn ngập vui mừng. Người không còn chờ đợi gì ở trần gian này nữa, Thiên Chúa đã gọi người về ở Ốt-ti-a năm 387, khi người đang sửa soạn trở về châu Phi, quê hương của người. Thánh nữ là tấm gương sáng chói cho các người làm mẹ : nuôi dưỡng lòng tin bằng lời cầu nguyện và chiếu toả ra bên ngoài bằng các nhân đức.

Bài đọc 2

Ta hãy tìm cách đạt tới sự khôn ngoan vĩnh cửu
Trích sách Tự Thuật của thánh Âu-tinh, giám mục.
Hôm ấy, gần tới ngày mẹ con lìa khỏi đời này, ngày mà Chúa biết rõ, còn chúng con thì không, đã xảy ra một chuyện mà bây giờ con tin là đã do Chúa sắp đặt theo đường lối nhiệm mầu của Chúa : lúc đó chỉ có hai mẹ con chúng con đứng tựa cửa sổ quay ra thửa vườn bên cạnh ngôi nhà chúng con đang ở, gần Ốt-ti-a, bên bờ sông Ti-be. Nơi đây xa chỗ đông người, chúng con muốn nghỉ ngơi cho khoẻ lại sau những ngày đường xa mệt nhọc, hầu có thể lên tàu tiếp tục chuyến đi. Chỉ có hai mẹ con chúng con trò chuyện rất thân mật. Chúng con muốn quên đi những chặng đường đã qua, để lao mình về phía trước. Đứng trước Chân Lý là chính Chúa, chúng con tìm hiểu xem cuộc sống vĩnh cửu của các thánh sẽ ra sao, cuộc sống mà mắt không hề thấy, tai chẳng hề nghe, lòng người không hề nghĩ tới. Chúng con nao nức mở rộng tâm hồn hớp lấy những dòng nước từ trời cao đổ xuống, nước suối nguồn của Chúa, suối ban sự sống bắt nguồn từ nơi Chúa.
Con đã nói nhưng điều trên đây, cho dầu cách nói có khác, từ dùng có khác. Nhưng lạy Chúa, Chúa biết là hôm ấy, đang khi chúng con nói với nhau những chuyện như thế, và đúng lúc thế gian này cùng với tất cả những khoái lạc của nó không còn chút giá trị gì đối với những lời chúng con trao qua đổi lại, thì mẹ con nói : “Con ơi, riêng phần mẹ, mẹ chẳng còn lấy chi làm vui thích trên trần gian này nữa, chẳng còn biết làm gì nơi đây, cũng chẳng còn biết còn lý do nào mà ở lại đây. Mẹ chẳng còn trông mong gì trên đời này nữa. Trước đây, lý do duy nhất khiến mẹ ước mong được nán lại thêm một chút trong cuộc sống này là để nhìn thấy con thành một Ki-tô hữu trong Hội Thánh công giáo trước khi mẹ nhắm mắt lìa đời. Thiên Chúa đã ban cho mẹ quá lòng mẹ mong ước : mẹ còn đang được thấy con khinh chê hạnh phúc trần gian mà làm tôi tớ phựng sự Người. Bây giờ mẹ còn ở đây làm gì nữa ?
Con cũng chẳng nhớ rõ đã trả lời mẹ con thế nào, nhưng hơn kém năm ngày sau thì mẹ con ngã bệnh. Trong cơn bệnh ấy, một ngày kia, có lúc người bị ngất đi trong giây lát, không còn biết có ai đứng xung quanh nữa. Chúng con chạy cả lại, nhưng người hồi tỉnh ngay. Thấy hai anh em chúng con đứng bên, người lên tiếng nói như thể đang tìm kiếm một cái gì : “Hồi nãy mẹ ở đâu thế ?”
Rồi thấy chúng con đứng chết lặng vì buồn phiền, người bảo : “Chôn cất mẹ ở đây, chúng con nhé !” Con nín thinh và cố cầm nước mắt. Em con thì nói câu gì đó tỏ ý ước mong mẹ đừng bỏ thân nơi đất khách quê người, nhưng nên nhắm mắt tại quê hương xứ sở. Được như vậy thì hạnh phúc hơn. Nghe thấy thế, nét mặt lo âu, người nhìn em con, trách chú ấy sao lại thích những chuyện như vậy. Rồi người nhìn con mà bảo : “Con xem nó nói gì vậy ?” Lát sau, người bảo cả hai chúng con : “Xác này, cứ chôn chỗ nào cũng được. Đừng bận tâm lo lắng gì chuyện đó. Mẹ chỉ xin hai con một điều, là dù chúng con ở đâu, thì cũng nhớ đến mẹ trước bàn thờ Chúa.” Sau khi đã tìm lời giải thích điều đó, người im tiếng luôn và chịu đau đớn nhiều vì cơn bệnh trở nên trầm trọng.

Xướng đáp 1 Cr 7,29.30.31 ; 2,12
X Thời gian chẳng còn bao lâu ; vậy ai vui mừng, hãy sống như chẳng mừng vui ; kẻ hưởng dùng của cải đời này, hãy làm như chẳng hưởng.
* Vì bộ mặt thế gian này đang biến đi.
Đ Phần chúng ta, chúng ta đã không lãnh nhận thần trí của thế gian. *

Lời nguyện
Lạy Chúa là Ðấng an ủi những ai sầu khổ, Chúa đã đoái thương nhận lời thánh Mô-ni-ca khóc than cầu khẩn, mà cho con bà là Âu-tinh được ăn năn trở lại cùng Chúa. Xin cũng nhận lời hai thánh chuyển cầu, mà cho chúng con biết thực tình ăn năn hối lỗi, để được Chúa khoan hồng thứ tha. Chúng con cầu xin...

Ngày 28 tháng 8
Thánh Âu-tinh, giám mục, tiến sĩ Hội Thánh
Lễ nhớ

Thánh nhân sinh năm 354 tại Ta-gát, châu Phi. Người đã trải qua giai đoạn thanh xuân đầy náo động cả về đạo lý lẫn cách sống cho tới khi được thánh Am-rô-xi-ô thanh tẩy cho năm 387. Người trở vê quê hương và sống một cuộc đời khắc khổ. Rồi người được chọn làm giám mục thành Híp-pôn, Bắc Phi. Trong suốt ba mươi bốn năm làm giám mục, người đã tận tuỵ chăm sóc đoàn chiên. Nhưng đáng kể nhất là tư tưởng và chứng tá đời sống của người đã loan toả. Người đã sống một cuộc đời hoàn toàn lo tìm kiếm Thiên Chúa và phục vụ Hội Thánh. Đối với người, Hội Thánh là cộng đoàn tín hữu Híp-pôn và đồng thời cũng là thân thể Chúa Ki-tô trải rộng khắp thế giới. Người qua đời nắm 430.

Bài đọc 2

Ôi, Chúa là chân lý vĩnh cửu, là tình yêu chân thật, và là sự vĩnh cửu dấu yêu
Trích sách Tự Thuật của thánh Âu-tinh, giám mục.
Khi được nhắc nhở phải trở về với chính mình, nhờ Chúa hướng dẫn, con đã đi vào tận thâm tâm con, và con vào được vì có Chúa phù trì nâng đỡ. Con đã vào, và dầu mắt linh hồn con có thế nào chăng nữa, nhờ nó, con cũng đã thấy một thứ ánh sáng không hề thay đổi. Ánh sáng này vượt cả mắt linh hồn con, vượt quá trí khôn con. Đó không phải là ánh sáng thông thường trên trần gian mà xác phàm nào cũng thấy được. Đó cũng không phải như cùng loại với ánh sáng phàm trần, mà chỉ khác là có độ sáng mạnh hơn và cứ mỗi ngày mỗi sáng hơn mãi, rực chiếu khắp nơi. Không, không phải loại ánh sáng ấy, mà khác, khác hẳn với mọi loại ánh sáng nói trên. Ánh sáng đó cũng vượt quá trí khôn con, không phải chỉ như dầu ở trên nước, hay như trời vượt trên đất, nhưng vượt xa hẳn, vì đã làm ra con, và con ở dưới hẳn, vì đã được ánh sáng đó làm ra. Ai biết chân lý thì biết ánh sáng đó.
Ôi, Chúa là chân lý vĩnh cửu, là tình yêu chân thật, và là sự vĩnh cửu dấu yêu ! Chúa là Thiên Chúa của con, đêm ngày con khao khát Chúa. Và khi con nhận biết Chúa lần đầu, Chúa đã nâng con lên, cho con thấy là con có những điều phải thấy nhưng con chưa tự mình thấy được. Chúa đã chiếu ánh sáng chói chan vào con, khiến cặp mắt mù loà của con thấy được. Con run lên vì yêu mến và kính sợ. Con nhận ra rằng, tại nơi cách biệt này, con còn thật xa Chúa. Dường như con nghe tiếng Chúa phán từ trời cao : “Ta là lương thực dành cho người lớn : cứ lớn lên rồi sẽ được ăn Ta. Chẳng phải con sẽ biến Ta thành con như biến đồ ăn thành thịt con, mà chính con sẽ được biến đổi nên Ta.”
Con tìm cách trở nên lớn mạnh để có thể thưởng thức lương thực là chính Chúa, nhưng tìm không ra. Con chỉ thành công khi ôm choàng lấy Đấng Trung Gian giữa Thiên Chúa và loài người, đó là một con người, Đức Giê-su Ki-tô. Người là Thiên Chúa, Đấng vượt trên mọi sự. Chúc tụng Người đến muôn thuở muôn đời. Người lớn tiếng gọi và nói : Chính Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống. Thần tính Chúa là lương thực trước đây con không dùng được, Người đem kết hợp với nhân tính người phàm : Ngôi Lời đã trở nên người phàm, để đức khôn ngoan Chúa đã dùng mà dựng nên muôn loài muôn vật, nay nên sữa nuôi chúng con đang còn thơ ấu.
Con yêu Chúa quá muộn, lạy Chúa là vẻ đẹp vừa rất xưa vừa mới mãi, con yêu Chúa quá muộn ! Này Chúa vẫn ở trong con mà hồi ấy con cứ ở ngoài và cứ tìm Chúa bên ngoài ! Con thật xấu khi mải cứ chạy theo vẻ đẹp nơi các thụ tạo của Chúa. Chúa từng ở với con mà con chẳng ở với Chúa. Những sự vật vẫn giữ con xa Chúa, nếu chúng không ở trong Chúa thì chúng làm sao có thể hiện hữu được ? Chúa gọi con, Chúa la to, và đã phá tan sự điếc lác của con. Chúa rực sáng, Chúa chiếu toả và đã xua tan sự mù loà của con. Chúa toả hương thơm, con hít lấy và con khao khát Chúa. Con đã nếm thử và bây giờ con đói, con khát Chúa. Chúa đã chạm đến con và con nóng lòng tìm bình an của Chúa.

Xướng đáp
X Ôi chân lý, ánh sáng của lòng con, tối tăm của con chẳng nói gì với con nữa ; con đã lầm lạc và rồi tưởng nhớ Chúa.
* Này con đang nóng lòng, đang háo hức, đang tìm về mạch suối của Chúa.
Đ Con đâu phải là nguồn sống cho mình, tự mình con đã ăn ở xấu xa, nay con được hồi sinh trong Chúa. *

Lời nguyện
Lạy Chúa, xin khơi dậy trong lòng Giáo Hội ơn Thánh Thần Chúa đã ban cho thánh giám mục Âu-tinh, để nhờ Thánh Thần nung nấu, chúng con chỉ khát khao một mình Chúa là nguồn mạch sự khôn ngoan đích thực, và chỉ tìm kiếm một mình Chúa là Thiên Chúa Tình Thương. Chúng con cầu xin...

Ngày 29 tháng 8
Thánh Gio-an Tẩy Giả bị trảm quyết.
Lễ nhớ

Thánh Gio-an Tẩy Giả đã bị chém đầu ở Ma-kê-ron, gần Biển Chết, do lệnh của vua Hê-rô-đê An-ti-pa. Cái chết của người, vị Tiền Hô của Chúa Giê-su Ki-tô, cho thấy rõ người có tâm hồn quả cảm như thế nào và người đã đáp lại lời mời gọi của Thiên Chúa trọn vẹn ra sao. Khi chết cũng như khi còn rao giảng, người đều làm chứng cho chân lý. Người quả là “ngọn đèn cháy sáng” như lời Đức Giê-su đã nói.

Bài đọc 2

Vị Tiền hô loan báo Đức Ki-tô sinh ra và chịu chết
Trích bài giảng của thánh Bê-đa Khả Kính, linh mục.
Vị thánh loan báo Chúa sẽ sinh ra, rao giảng và chịu chết, đã tỏ ra là người có sức chiến đấu can đảm, xứng đáng được trời cao đoái nhìn. Đúng như Kinh Thánh nói, thiên hạ nghĩ rằng thánh nhân đã bị hành hạ, còn người vẫn chứa chan hy vọng được trường sinh bất tử. Chúng ta có lý để vui mừng và long trọng tưởng nhớ sinh nhật của người. Ngày ấy, chính người đã làm ra cho thành trọng thể do cuộc khổ nạn người chịu. Ngày ấy, chính người đã làm cho nên tươi đẹp bằng máu hồng sáng chói người đổ ra. Chúng ta có lý để, trong niềm vui thiêng liêng, kính nhớ con người đã lấy ấn tử đạo đóng lên chứng từ làm chứng cho Chúa.
Thực vậy, không thể nghi ngờ gì nữa, thánh nhân đã chịu tù tội xiềng xích để làm chứng cho Đấng cứu chuộc chúng ta, Đấng mà người đi trước làm Tiền Hô. Người đã hy sinh cả mạng sống mình vì Đấng ấy. Tuy kẻ bách hại người không đòi người chối bỏ Đức Ki-tô, mà chỉ đòi người đừng nói lên sự thật, nhưng người đã nằm xuống vì Đức Ki-tô.
Đức Ki-tô nói : Chính Thầy là sự thật, nên thánh nhân đổ máu vì sự thật cũng thì đổ máu vì Đức Ki-tô. Người sinh ra, rao giảng, làm phép rửa trước để làm chứng cho Đấng sẽ sinh ra, rao giảng và làm phép rửa sau. Chính người cũng chịu khổ nạn trước để báo hiệu cho Đấng sẽ chịu khổ nạn sau.
Con người cao quý vĩ đại dường ấy, sau một thời gian dài chịu khốn khổ vì xiềng xích, đã chấp nhận đổ máu, chấm dứt cuộc đời trần gian. Con người từng loan báo tin mừng về tự do, thứ tự do bình an của trời cao đem tới, lại bị kẻ bất lương giam cầm. Con người đến để làm chứng về ánh sáng, xứng đáng cho chính ánh sáng là Đức Ki-tô gọi là ngọn đèn cháy sáng lại bị nhốt trong bóng tối ngục tù. Chính con người được vinh dự làm phép rửa cho Đấng Cứu Thế, được nghe tiếng Chúa Cha phán về Người, được thấy Thánh Thần ngự xuống trên Người, lại được rửa bằng chính máu đào của mình. Nhưng đối với những người như thánh Gio-an, chịu cực hình nhất thời vì sự thật không những không nặng nề, mà còn nhẹ nhàng và đáng ước ao là đàng khác, vì biết được rằng mình sẽ được niềm vui vĩnh cửu làm phần thưởng.
Cái chết mà bản tính con người không tài nào tránh khỏi, thì những người như thánh Gio-an lại ước mong nhận được cùng với cành thiên tuế là sự sống vĩnh cửu nhờ tuyên xưng danh Đức Ki-tô. Do đó, thánh Tông Đồ nói một cách chí lý : Nhờ Đức Ki-tô, anh em chẳng những là được phúc chẳng những là tin vào Người, mà còn được chịu đau khổ vì Người. Vậy thánh nhân nói đó là ân huệ của Đức Ki-tô để những người được Thiên Chúa tuyển chọn có thể chịu đau khổ vì Đức Ki-tô, như thánh nhân cũng nói : Những đau khổ chúng ta chịu bây giờ sánh sao được với vinh quang mà Thiên Chúa sẽ mặc khải nơi chúng ta ?

Xướng đáp Mc 6,17.27
X Vua Hê-rô-đê đã sai người đi bắt ông Gio-an và xiềng ông trong ngục,
* vì ông Gio-an dám trách Vua đã lấy bà Hê-rô-đi-a là vợ của anh vua.
Đ Vua sai thị vệ chặt đầu ông Gio-an ở trong ngục. *

Lời nguyện
Lạy Chúa, Chúa đã muốn cho thánh Gio-an Tẩy Giả báo trước mầu nhiệm Con Chúa sinh ra và chịu chết. Xưa thánh nhân đã anh dũng hy sinh vì chân lý và chính đạo thế nào, thì nay xin Chúa cũng cho chúng con biết xả thân làm chứng cho Tin Mừng như vậy. Chúng con cầu xin…