View Full Version : Bài đọc Kinh Sách Tháng Chín
admin
15-07-2011, 04:04 PM
THÁNG 9
Ngày 3 tháng 9
Thánh Ghê-gô-ri-ô Cả, giáo hoàng, tiến sĩ Hội Thánh
Lễ nhớ
Thánh nhân sinh quãng năm 540 tại Rô-ma. Người theo con đường công danh, nhưng đã từ chối chức thái thú Rô-ma. Người gia nhập đan viện và sau khi làm phó tế, nhận nhiệm vụ sứ thần Công-tăng-ti-nốp. Ngày 3 tháng 9 năm 590, người được chọn làm người kế vị thánh Phê-rô suốt 14 năm phục vụ Hội Thánh (590-604). Dầu sức khoẻ không dồi dào, người đã tận tuỵ chu toàn bổn phận, giúp đỡ người nghèo, củng cố và truyền bá đức tin. Người đã biên soạn nhiều tác phẩm về luân lý và thần học. Hoạt động của người được nuôi dưỡng nhờ chiêm niệm. Người qua đời ngày 12 tháng 3 năm 604.
Bài đọc 2
Vì yêu mến Chúa Ki-tô, tôi không quản ngại nói về Người
Trích bài giảng của thánh Ghê-gô-ri-ô Cả, giáo hoàng, về sách Ê-dê-ki-en.
Hỡi con người, Ta đã đặt ngươi làm người canh gác cho nhà Ít-ra-en. Cần lưu ý rằng Chúa gọi kẻ Người sai đi rao giảng là người canh gác. Người canh gác luôn luôn phải đứng trên cao, để thấy được từ xa chuyện gì xảy tới. Và bất cứ ai được đặt làm người canh gác cho dân đều phải đứng trên cao nhờ cuộc sống của mình, để có thể đem lại lợi ích cho dân nhờ khả năng tiên liệu.
Ôi, thật khổ tâm biết bao khi tôi phải nói lên những điều trên. Quả thật, nói như thế là tôi tự đánh mình, bởi miệng tôi đã không giảng cho xứng đáng, và nếu có giảng cho đầy đủ thì đời sống của tôi cũng chẳng đi đôi với lời giảng.
Tôi nhìn nhận là tôi có lỗi, tôi thấy mình uể oải và lơ là. Biết đâu chính việc thú nhận lỗi lầm sẽ trờ thành lời nài xin vị thẩm phán nhân từ ban ơn tha thứ. Khi ở đan viện, tôi có thể vừa giữ miệng lưỡi không nói lời vô ích, vừa hầu như liên lỉ cầm trí lo việc cầu nguyện. Nhưng một khi đã ghé vai mang gánh nặng mục vụ thì tôi bị chi phối về nhiều chuyện nên không thể dễ dàng hồi tâm được.
Thật vậy, tôi buộc phải suy xét về các vấn đề của các Giáo Hội cũng như của các tu viện, nhiều lần tôi phải nghĩ tới nếp sống và hành vi của các cá nhân ; hơn nữa, tôi còn phải giải quyết một số công việc của người dân, phải lo lắng vì quân man di xông vào giết chóc, phải đề phòng những con sói đang rình rập đàn chiên đã được uỷ thác cho tôi. Có khi tôi phải lo đem lại những trợ giúp cần thiết cho chính những người có bổn phận tuân giữ kỷ luật tu trì ; có lúc phải bình tĩnh chịu đựng những quân trộm cướp, nhưng cũng có lúc phải đối đầu với chúng để bảo trì đức ái.
Khi tâm trí còn bị phân tán và xâu xé vì phải nghĩ đến biết bao chuyện như thế, thì bao giờ tôi mới có thể hồi tâm để chỉ nghĩ đến việc rao giảng và không bỏ bê tác vụ công bố Lời Chúa ? Vì địa vị bó buộc tôi phải tiếp xúc với người đời, nên đôi khi tôi lơi lỏng trong việc giữ miệng lưỡi. Bởi nếu tôi luôn tự kiềm chế mình một cách nghiêm ngặt, thì tôi biết những kẻ yếu đuối sẽ xa lánh tôi, và chẳng bao giờ tôi lôi kéo được họ đến điều tôi mong ước. Cho nên tôi thường phải luôn kiên nhẫn nghe cả những chuyện vô ích của họ. Thế nhưng, vì bản thân tôi cũng yếu đuối, nên dần dần tôi bị lôi cuốn vào những chuyện vô ích và bắt đầu thích nói những điều mà trước kia tôi chỉ nghe một cách miễn cưỡng ; nơi mà trước kia tôi sợ ngã vào, thì nay tôi lại khoái nằm xuống.
Vậy tôi là ai và tôi thi hành nhiệm vụ canh gác như thế nào, nếu tôi không đứng trên núi cao là công việc phải làm, mà vẫn còn nằm bẹp dưới thung lũng là tính yếu đuối của tôi ? Nhưng dù tôi bất xứng, thì Đấng tạo dựng và cứu chuộc loài người vẫn có khả năng ban cho tôi cả đời sống cao quý lẫn tài nói năng thuyết phục, bởi lẽ vì yêu mến Người mà tôi không quản ngại nói về Người.
Xướng đáp
X Từ Kinh Thánh, người rút ra bao lời giáo huấn sâu xa, mở đường cho nguồn mạch Tin Mừng tưới gội khắp mọi dân.
* Người tiếp tục lên tiếng sau khi nhắm mắt lìa đời.
Đ Như phượng hoàng dang cánh, lòng bác ái của thánh nhân bao bọc chở che hết mọi người.*
Lời nguyện
Lạy Chúa, Chúa luôn hướng dẫn và âu yếm chăm nom đoàn dân Chúa, xin nhận lời thánh Ghê-gô-ri-ô chuyển cầu, mà ban thần trí khôn ngoan cho các vị mục tử Chúa đã đặt làm đầu Hội Thánh, và ban cho các ngài được niềm vui vì thấy đoàn chiên phát triển không ngừng. Chúng con cầu xin...
Ngày 8 tháng 9
Sinh Nhật Ðức Trinh Nữ Ma-ri-a
Lễ kính
Sinh nhật của Đức Ma-ri-a vượt hẳn cả sinh nhật của thánh Gio-an, vị Tiền Hô. Sinh nhật của Đức Ma-ri-a loan báo Sinh Nhật của Đức Giê-su, là khúc dạo đầu của Tin Mừng. Một người con gái ra đời trong gia đình bà An-na và ông Gio-a-kim đã làm cho “niềm hy vọng và bình minh ơn cứu độ mọc lên chiếu soi thế giới.” Chính vì thế, Hội Thánh mời gọi chúng ta cử hành ngày lễ này trong tâm tình hân hoan.
Bài đọc 1 St 3, 9-20
Sau khi tổ tông loài người phạm tội, Thiên Chúa hứa ban ơn cứu độ
Lời Chúa trong sách Sáng Thế.
9 Đức Chúa là Thiên Chúa gọi con người và hỏi : "Ngươi ở đâu ?" 10 Con người thưa : "Con nghe thấy tiếng Ngài trong vườn, con sợ hãi vì con trần truồng, nên con lẩn trốn." 11Đức Chúa là Thiên Chúa hỏi : "Ai đã cho ngươi biết là ngươi trần truồng ? Có phải ngươi đã ăn trái cây mà Ta đã cấm ngươi ăn không ?" 12Con người thưa : "Người đàn bà Ngài cho ở với con, đã cho con trái cây ấy, nên con ăn." 13Đức Chúa là Thiên Chúa hỏi người đàn bà : "Ngươi đã làm gì thế ?" Người đàn bà thưa : "Con rắn đã lừa dối con, nên con ăn." 14Đức Chúa là Thiên Chúa phán với con rắn : "Mi đã làm điều đó, nên mi đáng bị nguyền rủa nhất trong mọi loài súc vật và mọi loài dã thú. Mi phải bò bằng bụng, phải ăn bụi đất mọi ngày trong đời mi. 15Ta sẽ gây mối thù giữa mi và người đàn bà, giữa dòng giống mi và dòng giống người ấy ; dòng giống đó sẽ đánh vào đầu mi, và mi sẽ cắn vào gót nó."
16Với người đàn bà, Chúa phán : "Ta sẽ làm cho ngươi phải cực nhọc thật nhiều khi thai nghén ; ngươi sẽ phải cực nhọc lúc sinh con. Ngươi sẽ thèm muốn chồng ngươi,
và nó sẽ thống trị ngươi."
17Với con người, Chúa phán : "Vì ngươi đã nghe lời vợ và ăn trái cây mà Ta đã truyền cho ngươi rằng : "Ngươi đừng ăn nó", nên đất đai bị nguyền rủa vì ngươi ;
ngươi sẽ phải cực nhọc mọi ngày trong đời ngươi, mới kiếm được miếng ăn từ đất mà ra. 18Đất đai sẽ trổ sinh gai góc cho ngươi, ngươi sẽ ăn cỏ ngoài đồng. 19Ngươi sẽ phải đổ mồ hôi trán mới có bánh ăn, cho đến khi trở về với đất, vì từ đất, ngươi đã được lấy ra. Ngươi là bụi đất, và sẽ trở về với bụi đất."
20Con người đặt tên cho vợ là E-và, vì bà là mẹ của chúng sinh.
Xướng đáp
X Hôm nay là ngày sinh nhật Đức Trinh Nữ Ma-ri-a. Người xuất thân từ dòng tộc Đa-vít.
* Nhờ Người, Đấng cứu độ trần gian đã xuất hiện cho những ai tin tưởng vào Thiên Chúa. Cuộc sống của Người là ánh vinh quang rạng soi trần thế.
Đ Chúng ta hãy đem hết tình yêu mến mà họp mừng sinh nhật Đức Trinh Nữ Ma-ri-a.*
Bài đọc 2
Cái cũ đã qua, này đây mọi sự đều đổi mới
Trích bài giảng của thánh An-rê, giám mục Cơ-rê-ta.
Cứu cánh của Lề Luật là Đức Ki-tô. Người không đẩy chúng ta xa Lề Luật cho bằng nâng chúng ta lên tới tinh thần của nó. Quả thật, nơi Người, Lề Luật được hoàn tất, vì sau khi kiện toàn và kết thúc mọi sự, thì chính Đấng lập Luật đã chuyển chữ viết sang tinh thần. Thật vậy, Người thâu hồi tất cả nơi bản thân và sống theo luật ân sủng. Luật thì Người bắt phục tùng, còn ân sủng thì Người phối hợp và liên kết với Luật. Đặc tính của bên này, Người không trộn lẫn và hoà tan với bên kia, nhưng hoán chuyển cách thần kỳ, khiến điều xưa nặng nề nay trở nên nhẹ nhàng và tự do, để chúng ta không phải làm nô lệ những yếu tố của vũ trụ, như thánh Phao-lô tông đồ đã nói, và chúng ta cũng chẳng phải mang ách nô lệ dựa trên chữ viết của Luật.
Quả thế, đây là hồng ân cao cả nhất Đức Ki-tô ban cho chúng ta, đây là mặc khải mầu nhiệm cứu độ, đây là sự trút bỏ vinh quang, khi Thiên Chúa làm người, để con người được thông phần bản tính Thiên Chúa nhờ mầu nhiệm nhập thể. Vì khi Thiên Chúa vinh hiển và rất mực quang minh đến với nhân loại, thì cần phải có Đức Mẹ là niềm vui đi trước để chuẩn bị ơn cứu độ lớn lao cho chúng ta. Đó là ý nghĩa của buổi lễ hôm nay, mà khởi điểm là biến cố Mẹ Thiên Chúa chào đời, còn kết thúc và tận điểm là biến cố Ngôi Lời mặc lấy xác phàm. Quả thật, Đức Trinh Nữ nay được sinh ra, được cho bú mớm và được chuẩn bị để xứng đáng trở nên Mẹ Thiên Chúa, Mẹ của Vua muôn đời.
Điều đó đem lại cho chúng ta hai mối lợi : một là đưa chúng ta tới chân lý, hai là giải thoát chúng ta khỏi làm tôi và sống theo nghĩa đen của Lề Luật. Điều đó xảy ra như thế nào và vì lý do gì ? Thưa, ánh sáng đến để đẩy lui bóng tối và ân sủng mang lại tự do thay cho mặt chữ. Lễ hôm nay là mốc phân ranh giữa hai điều đó, vì lễ này nối kết chân lý với hình ảnh tượng trưng, lấy cái mới thay cho cái cũ.
Vậy, mọi loài thọ tạo hãy đồng ca, hãy nhảy múa và biểu lộ niềm vui thích hợp với ngày lễ. Hôm nay, mọi loài trên trời dưới đất hãy cùng nhau hoan hỉ và bất cứ vật nào ở trong gian trần cũng như bên trên trần gian hãy họp nhau mừng lễ. Quả thật, hôm nay thánh điện của Đấng đã tạo thành muôn vật đã được xây lên, và một thọ tạo, vì lý do mới mẻ và thích đáng, đã được chuẩn bị làm nơi cư ngụ mới cho Đấng Hoá Công.
Xướng đáp
X Chúng ta hãy đem hết tình con thảo mà cử hành sinh nhật Đức Mẹ Chúa Trời.
* Cuộc đời sáng chói của Mẹ chiếu soi Hội Thánh khắp nơi.
Đ Trong ngày đại lễ kính Đức Mẹ Chúa Trời, ta hãy đem hết tam hồn mà ca ngợi vinh quang Chúa Ki-tô.*
Thánh Thi “Lạy Thiên Chúa”
Lời nguyện
Lạy Chúa, ngày sinh nhật của Đức Giê-su Con Một Chúa, Chúa đã mở đầu kỷ nguyên cứu độ, thì hôm nay, ngày sinh nhật của Thánh Mẫu Người, xin Chúa cũng rộng ban muôn phúc lộc, và cho chúng con hưởng bình an. Chúng con cầu xin…
Ngày 9 tháng 9
Thánh Phê-rô Cơ-la-ve, linh mục
Thánh Phê-rô Cơ-la-ve sinh tại Véc-đu nước Tây Ban Nha năm 1580, theo học văn chương và triết lý tại đại học Bác-sê-lô-na ;sau đó người gia nhập dòng Tên. Người nghe theo tiếng gọi đi truyền giáo, đặc biệt nhờ thánh An-phong Ro-đi-ghê là thầy giữ cổng trường Ma-gioóc-ca. Được thụ phong linh mục tại xứ truyền giáo Cô-lom-bi-a,người làm việc tông đồ ở đó cho đến chết giữa những người nô lệ da đen, và khấn suốt đời làm tôi tớ cho các người nô lệ, Người qua đời vì kiệt sức tại Ca-ta-giê-na, nước Cô-lom-bi-a ngày 8 tháng 9 năm 1654.
Bài đọc 2
Loan báo Tin Mừng cho người nghèo, chữa trị những tâm hồn thống hối, rao giảng ân xá cho những người tù tội
Trích thư của thánh Phê-rô Cơ-la-ve, linh mục.
Hôm qua, ngày 30 tháng 5 năm 1627, lễ Thiên Chúa Ba Ngôi, có rất đông người da đen từ một chiếc tàu thật lớn đi lên bờ. Họ là những người bị bắt ở các bờ sông Phi Châu. Chúng tôi vội vàng chạy đến, gánh theo táo, chanh, bánh kẹo, và nhiều thứ khác nữa. Khi đến các căn lều của họ, chúng tôi tưởng mình như vào một chỗ nước Ghi-nê khác. Chúng tôi đã phải xô lấn đám đông dân chúng mới có thể tới được chỗ các người bệnh. Số người này qua đông, nằm la liệt trên nền đất ẩm ướt, hay đúng hơn lầy lội. Có người đã nghĩ đến chuyện lấy ngói vỡ, gạch vụn đổ lên cho đỡ lầy lội. Đó là nơi họ nằm. Như vậy đã là quá thảm thương, phương chi họ lại nằm trần truồng, không có lấy một mảnh áo che thân !
Chúng tôi cởi áo choàng ra, vào kho lấy tất cả những đồ gỗ còn dùng được, ghép lại thành mặt bằng. Rồi nhờ một nhóm người thiện chí xông vào mở đường, chúng tôi đã khiêng các bệnh nhân về đó. Chúng tôi chia họ thành hai nhóm : một nhóm do phụ tá của tôi cùng với một người thông ngôn phụ trách, một nhóm do chính tôi chăm lo. Có hai người da đen đang hấp hối, chân tay lạnh cứng, mạch đã chìm hẳn. Chúng tôi lấy một viên ngói, đặt than hồng lên trên, và để ở giữa, gần những người sắp chết, rồi quăng vào lửa các mảnh gỗ thơm. Trong dịp này, chúng tôi đã đốt sạch hai bao đầy.
Nhờ những tấm áo choàng của chúng tôi – vì họ không có gì giống như thế, và chúng tôi đã mất công xin chủ mà không được, chúng tôi đã quạt khói hương về phía họ ; nhờ vậy, họ như được tiếp hơi nóng và sinh khí. Có xem mới thấy được họ nhìn chúng tôi với nét mặt hoan hỷ như thế nào !
Chúng tôi nói với họ bằng cách đó, không phải bằng lời, nhưng bằng đôi tay và việc làm. Quả thế, đối với những người xác tín rằng mình bị mang tới đây là để cho người ta ăn thịt, thì lời lẽ nào cũng hoàn toàn vô ích. Rồi chúng tôi ngồi hay quỳ gối bên họ, lấy rượu lau mặt và lau mình cho họ, cố dịu dàng an ủi để làm cho họ vui, và bày ra trước mắt họ những lý do tự nhiên có thể làm cho họ vui bằng bất cứ cách nào.
Sau đó, chúng tôi bắt đầu dạy giáo lý về phép rửa cho họ, cho họ biết những công hiệu lạ lùng của bí tích này, về phần hồn cũng như phần xác. Khi họ đã trả lời những câu hỏi của chúng tôi và xem ra đã hiểu những điều nói trên, chúng tôi sang phần đạo lý cao hơn, như nói về Thiên Chúa duy nhất, Đấng thưởng phạt mỗi người tuỳ theo công việc họ làm,v.v.., chúng tôi yêu cầu họ sám hối và tỏ lòng chê ghét những tội đã phạm. Cuối cùng, khi thấy họ đã khá sẵn sàng, chúng tôi dạy họ các mầu nhiệm về Thiên Chúa Ba Ngôi, mầu nhiệm Nhập Thể, Cuộc Thương Khó và sau khi đã tỏ cho họ thấy Chúa Giê-su bị đóng đinh vào thập giá, máu từ các thương tích của Người chảy ra, như hình vẽ phía trên giếng rửa tội, chúng tôi bảo họ đọc theo chúng tôi kinh ăn năn tội bằng tiếng của họ.
Xướng đáp: Mt 25,35.40 ; Ga 15,12
X Thầy đói, anh em đã cho ăn; Thầy khát, anh em đã cho uống; Thầy là khách lạ, anh em đã tiếp rước.
* Thầy bảo thật anh em; mỗi lần anh em làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Thầy đây, là anh em đã làm cho chính Thầy vậy.
Đ Đây là điều răn của Thầy: anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em. *
Lời nguyện
Lạy Thiên Chúa, Chúa đã làm cho lòng thánh Phê-rô Cơ-la-ve trở thành tôi tớ các người nô lệ, và đã ban cho người lòng bác ái và đức kiên nhẫn lạ lùng để phục vụ những người khốn khổ ấy. Nhờ lời thánh nhân chuyển cầu, xin cho chúng con biết luôn tìm kiếm lợi ích của Ðức Ki-tô mà thật tình thương mến anh em bằng những việc làm cụ thể. Chúng con cầu xin...
admin
15-07-2011, 04:05 PM
Ngày 13 tháng 9
Thánh Gio-an Kim Khẩu, giám mục, tiến sĩ Hội Thánh
Lễ nhớ
Thánh nhân sinh quãng năm 349 tại An-ti-ô-khi-a. Người học cao hiểu rộng, cuộc sống khắc khổ. Sau khi làm linh mục, người nhận nhiệm vụ giảng thuyết, thu hoạch được kết quả khả quan. Năm 397, người được chọn làm giám mục Công-tăng-ti-nốp. Người là mục tử tận tuỵ, lo chấn chỉnh phong hoá cho giáo sĩ và giáo dân. Vì can đảm làm chứng cho Tin Mừng và bênh vực người nghèo trước cảnh xa hoa vô tâm của người giàu, người đã bị hoàng gia ghen ghét, hai lần bị đi đày, rồi chết ở Cô-ma-na, Pon-tô nơi lưu đày ngày 14 tháng 9 năm 407. Người đã giảng dạy nhiều và viết nhiều tác phẩm để giải thích giáo lý công giáo và huấn luyện đời sống Kitô hữu. Vì thế người được mệnh danh là “Kim Khẩu.”
Đối với tôi, sống là Đức Ki-tô, và chết là một mối lợi
Trích bài giảng của thánh Gio-an Kim Khẩu, giám mục.
Dù sóng nước mênh mông hay dông tố phũ phàng, chúng ta cũng không sợ bị chìm đắm vì chúng ta đứng vững trên tảng đá. Biển có thét gào cũng không thể làm đá tiêu tan ; sóng có trào lên cũng không thể nhận chìm thuyền của Đức Ki-tô. Vậy chúng ta sợ gì ? Sợ chết ư ? Đối với tôi, sống là Đức Ki-tô và chết là một mối lợi. Hay là sợ phải lưu đày, bạn hãy nói đi. Chúa làm chủ trái đất cùng muôn vật muôn loài. Hay sợ tài sản bị sung vào công quỹ ? Chúng ta đã không mang gì vào trần gian, thì cũng chẳng mang gì ra được. Tôi coi khinh những hình khổ của thế gian này và cho lợi lộc của nó là chuyện nực cười. Tôi không sợ nghèo, chẳng ham giàu có, không ngại chết, cũng chẳng muốn sống, trừ khi là để làm ích cho anh em. Vì thế, tôi nhắc lại những gì đang xảy ra và xin anh em lấy lòng yêu mến mà tin tưởng vào Chúa.
Chẳng lẽ ban không nghe Chúa nói thế này sao : Ở đâu có hai ba người họp lại nhân danh Thầy, thì có Thầy ở đấy giữa họ ? Vậy, giữa một dân đông đảo được liên kết bằng dây đức ái, Người lại không có mặt sao ? Tôi nắm được bảo chứng của Người, tôi có dựa vào sức riêng đâu ! Lời của Người, tôi đang nắm giữ. Đó là chiếc gậy bảo đảm cho tôi được an toàn, là cảng yên hàn cho thuyền tôi cập bến. Dù cả trái đất có đảo lộn, tôi vẫn nắm giữ sắc chỉ của Chúa, vẫn đọc tâm thư của Người. Đó là tường thành che chở, là chiến luỹ bảo vệ tôi. Tâm thư nào thế ? Thưa lời này : Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế.
Đức Ki-tô ở với tôi, tôi còn sợ gì ai ? Dù ba đào, dù biển cả, dù quan quyền hung dữ có nổi lên chống lại tôi, tất cả những thứ đó, tôi coi tựa lông hồng. Nếu không phải vì yêu mến mà anh em giữ tôi lại, thì tôi không ngần ngại đi nơi khác hôm nay rồi. Quả thật, tôi vẫn thưa với Thiên Chúa : Lạy Cha, xin cho ý Cha được thể hiện. Con sẽ làm không phải điều người này người kia muốn nhưng là điều Cha muốn. Thánh ý Chúa là đồn luỹ bảo vệ tôi, là đá tảng kiên cố cho tôi nương tựạ, là cây gậy giúp tôi vững bước. Nếu Thiên Chúa muốn thế nào, thì xin xảy ra như vậy. Nếu Người muốn tôi ở lại đây, tôi xin tạ ơn Người. Người muốn tôi đi đâu, tôi vẫn dâng lời cảm tạ.
Tôi ở đâu, anh em cũng ở đó ; anh em ở đâu, tôi cũng ở đó : Chúng ta là một thân thể ; thân không lìa đầu, đầu không lìa thân. Chúng ta xa cách nhau về nơi chốn, nhưng liên kết với nhau nhờ đức ái, đến nỗi cái chết cũng không thể phân ly. Quả vậy, dù thân thể tôi có chết, thì linh hồn tôi vẫn sống để nhớ đến đoàn dân.
Đối với tôi, anh em là đồng bào, là cha mẹ, là anh em, là con cái, là chi thể, là thân mình, là ánh sáng, mà còn êm dịu hơn cả ánh sáng ban ngày nữa. Ánh sáng ban ngày đối với tôi, đâu có quý bằng đức ái của anh em. Ánh sáng có ích cho tôi trên đời này, còn đức ái của anh em kết triều thiên cho tôi ở đời sau.
Xướng đáp 2 Tm 2,9-10 ; Tv 26 (27),1
X Vì Tin Mừng tôi phải chịu khổ, và còn phải mang cả xiềng xích như một tên gian phi. Nhưng lời Thiên Chúa không bị xiềng xích.
* Vì thế, tôi cam chịu mọi sự, để mưu ích cho những người Thiên Chúa đã chọn.
Đ Chúa là nguồn ánh sáng và là ơn cứu độ của tôi, tôi còn sợ người nào ? *
Lời nguyện
Lạy Chúa là nguồn sức mạnh cho những kẻ cậy trông, Chúa đã ban cho Giáo Hội một khuôn mặt sáng chói là thánh giám mục Gio-an Kim Khẩu nhờ tài hùng biện lạ lùng và lòng can đảm hiên ngang trước mọi cơn thử thách. Xin Chúa cũng ban cho chúng con được thấm nhuần lời thánh nhân giảng dạy và có sức chịu đựng như người. Chúng con cầu xin...
Ngày 14 tháng 9
Suy Tôn Thánh Giá
Lễ kính
Lễ Suy Tôn Thánh Giá được cử hành sau lễ Cung Hiến Thánh Đường Phục Sinh, được xây ở Giê-ru-sa-lem trên mộ thánh (335). Từ cõi chết phục sinh, Chúa Ki-tô đã chiến thắng sự chết. Thánh giá của Người tiêu biểu cho cuộc chiến thắng này. Truyền thống còn thấy ở đây dấu chỉ của Con Người, Đấng sẽ xuất hiện trên trời để loan báo ngày Người trở lại.
Bài đọc 1 Gl 2,19 – 3,7.13-14 ; 6,14-16
Vinh quang của thập giá Chúa Ki-tô
Lời Chúa trong thư của thánh Phao-lô tông đồ gửi tín hữu Ga-lát.
2 19 Tại vì Lề Luật mà tôi đã chết đối với Lề Luật, để sống cho Thiên Chúa. Tôi cùng chịu đóng đinh với Đức Ki-tô vào thập giá. 20 Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Ki-tô sống trong tôi. Hiện nay tôi sống kiếp phàm nhân trong niềm tin vào Con Thiên Chúa, Đấng đã yêu mến tôi và hiến mạng vì tôi. 21 Tôi không làm cho ân huệ Thiên Chúa ra vô hiệu, vì nếu người ta được nên công chính do Lề Luật, thì hoá ra Đức Ki-tô đã chết vô ích.
3 1 Hỡi những người Ga-lát ngu xuẩn, ai đã mê hoặc anh em là những người đã được thấy hình ảnh Đức Giê-su Ki-tô chịu đóng đinh vào thập giá phơi bày ra trước mắt ? 2 Tôi muốn anh em cho tôi biết điều này thôi : anh em đã nhận được Thần Khí vì đã làm những gì Luật dạy, hay vì đã tin nhờ được nghe ? 3 Anh em ngu xuẩn như thế sao ? Anh em đã khởi sự nhờ Thần Khí, nay lại kết thúc nhờ xác thịt sao ? 4 Bấy nhiêu kinh nghiệm anh em đã trải qua, lại uổng công sao ? Mà quả thật là uổng công ! 5 Vậy Đấng đã rộng ban Thần Khí cho anh em và thực hiện những phép lạ giữa anh em, có phải vì anh em làm những gì Luật dạy, hay vì anh em đã tin nhờ được nghe ?
6 Cũng như ông Áp-ra-ham đã tin Thiên Chúa, và vì thế Thiên Chúa kể ông là người công chính. 7 Vậy anh em nên biết rằng : những ai dựa vào đức tin, những người ấy là con cái ông Áp-ra-ham.
13 Đức Ki-tô đã chuộc chúng ta cho khỏi bị nguyền rủa vì Lề Luật, khi vì chúng ta chính Người trở nên đồ bị nguyền rủa, vì có lời chép : Đáng nguyền rủa thay mọi kẻ bị treo trên cây gỗ ! 14 Như thế là để nhờ Đức Giê-su Ki-tô, các dân ngoại cũng được hưởng phúc lành dành cho ông Áp-ra-ham, và để nhờ đức tin, chúng ta nhận được ơn Thiên Chúa đã hứa tức là Thần Khí.
6 14 Ước chi tôi chẳng hãnh diện về điều gì, ngoài thập giá Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta ! Nhờ thập giá Người, thế gian đã bị đóng đinh vào thập giá đối với tôi, và tôi đối với thế gian. 15 Quả thật, cắt bì hay không cắt bì chẳng là gì cả, điều quan trọng là trở nên một thụ tạo mới. 16 Chúc tất cả những ai sống theo quy tắc ấy, và chúc Ít-ra-en của Thiên Chúa được hưởng bình an và lòng thương xót của Người.
Xướng đáp x. Gl 6,14 ; Dt 2,9
X Niềm vinh dự của chúng ta chính là thập giá Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta. Nhờ Người, chúng ta được ơn cứu độ, được sống và được phục sinh.
* Chính Người cứu độ và giải thoát chúng ta.
Đ Người đã được ban vinh quang, danh dự làm mũ triều thiên, bởi vì đã cam chịu tử hình. *
Bài đọc 2
Thánh Giá là vinh quang của Chúa Ki-tô, thánh giá nâng Người lên cao
Trích bài giảng của thánh An-rê, giám mục Cơ-rê-ta.
Hôm nay, chúng ta mừng lễ thánh giá ; thánh giá đã xua tan bóng tối và đem lại ánh sáng. Chúng ta mừng lễ thánh giá, và cùng với Đấng bị đóng đinh, chúng ta được đưa lên cao. Vì thế, chúng ta hãy từ bỏ trần gian và tội lỗi để được những của trên trời. Có được thánh giá là điều lớn lao biết mấy ! Ai có thánh giá là có một kho tàng. Tôi vừa dùng chữ kho tàng để chỉ điều người ta gọi, -và sự thực là như thế-, đó là của tốt nhất và đẹp nhất trong mọi của cải, vì trong đó, nhờ đó mà tất cả điều cốt yếu cho ơn cứu độ chúng ta được tạo lập và phục hồi.
Quả vậy, nếu không có thánh giá, thì Chúa Ki-tô cũng đã không bị đóng đinh, sự sống cũng đã không bị đóng đinh vào cây gỗ và nguồn mạch trường sinh, máu cùng nước thanh tẩy thế giới cũng không vọt ra từ bên sườn Người, văn khế tội nợ cũng đã không bị xé, chúng ta cũng đã không được đón nhận tự do, cũng không được hưởng nhờ cây ban sự sống, thiên đàng cũng không được mở ra. Nếu không có thánh giá thì sự chết cũng đã không bị quật ngã, hoả ngục cũng đã không bị tước đoạt vũ khí.
Vậy thánh giá vừa cao cả, vừa quý báu. Cao cả, vì thánh giá đã sinh ra nhiều ơn ích, bởi lẽ Chúa Ki-tô càng làm nhiều phép lạ và chịu đau khổ bao nhiêu thì Người lại càng chiến thắng lẫy lừng hơn bấy nhiêu. Quý báu, vì thánh giá vừa là sự đau khổ, vừa là chiến tích của Thiên Chúa. Là sự đau khổ, vì Người đã tự nguyện chết trên đó ; là chiến tích, bởi vì ma quỷ đã bị trọng thương và bị đánh bại ở đó, thần chết cũng đã bị thua cùng với nó ; then sắt hoả ngục đã bị đập tan và thánh giá trở thành nguồn ơn cứu độ cho toàn thế giới.
Thánh giá là vinh quang của Chúa Ki-tô, thánh giá nâng Người lên cao. Thánh giá là chén đắng Người khát khao, là bảng thâu tóm mọi cực hình Người đã chịu vì chúng ta. Thánh giá là vinh quang của Chúa Ki-tô, điều ấy, anh em đã nghe chính Người nói : Giờ đây Con Người được tôn vinh và Thiên Chúa cũng được tôn vinh nơi Người. Nếu Thiên Chúa được tôn vinh nơi Người thì Thiên Chúa cũng sẽ tôn vinh Người nơi chính mình. Vậy lạy Cha, giờ đây xin Cha tôn vinh Con bên Cha. Xin Cha ban cho Con vinh quang mà Con đã được hưởng bên Cha trước khi có thế gian. Lạy Cha, xin tôn vinh danh Cha. Bấy giờ có tiếng từ trời vọng xuống : Ta đã tôn vinh danh Ta, Ta sẽ còn tôn vinh nữa. Điều ấy ám chỉ vinh quang Người sẽ được trên thánh giá.
Thánh giá nâng Chúa Ki-tô lên cao, anh em biết đó, điều ấy là do chính Người nói ra: Phần tôi, một khi được giương cao lên khỏi mặt đất, tôi sẽ lôi kéo mọi người lên với tôi. Bạn thấy đó : thánh giá là vinh quang của Chúa Ki-tô, thánh giá nâng Người lên cao.
Xướng đáp
X Ôi cây thập giá huyền diệu xiết bao, vì cành ngươi mang kho tàng châu báu, mang Đấng cứu chuộc muôn người.
* Nhờ Chúa đổ màu đào trên thập giá, mà cả trần gian được cứu độ.
Đ Kính chào cây thập giá, đã được Chúa Ki-tô thánh hiến, được các chi thể của Người trang điểm, khác nào cây nạm ngọc dát vàng. *
Thánh Thi “Lạy Thiên Chúa”
Lời nguyện
Lạy Chúa, Chúa đã muốn cho Con Một Chúa chịu khổ hình thập giá để cứu chuộc loài người. Xin cho chúng con mai sau được hưởng nhờ quả phúc cây thập giá, mà ngày nay chúng con vẫn một lòng yêu mến suy tôn. Chúng con cầu xin…
Ngày 15 tháng 9
Ðức Mẹ sầu bi
Lễ nhớ
Đức Ma-ri-a đã hiệp thông sâu xa với cuộc thương khó của Chúa Con. Vì thế, Mẹ cũng được liên kết một cách độc nhất vô nhị với cuộc phục sinh của Người. Chính vì thế, sau ngày lễ Suy Tôn Thánh Giá, chúng ta mừng lễ Đức Ma-ri-a cùng chia sẻ cuộc thương khó của Đức Giê-su. Lễ này nhắc cho chúng ta nhớ rằng : dưới chân thánh giá, tình mẫu tử của Đức Ma-ri-a đã trải rộng ra khắp Thân Thể nhiệm mầu của Chúa Ki-tô, tức là Hội Thánh.
Bài đọc 2
Đức Mẹ đứng gần bên thánh giá
Trích bài giảng của thánh Bê-na-đô, viện phụ.
Cuộc tử đạo của Đức Trinh Nữ Ma-ri-a, chúng ta biết được là nhờ lời tiên báo của ông già Si-mê-ôn, cũng như chính bài tường thuật sự thương khó của Chúa. Về Hài Nhi Giê-su, ông già nói rằng : Cháu sẽ là dấu hiệu bị người đời chống báng, còn bà - ông nói với Đức Ma-ri-a : bà sẽ bị nát ruột nát gan như bị lưỡi gươm đâm thâu.
Vậy lạy Mẹ diễm phúc, một lưỡi gươm đã đâm thâu lòng Mẹ. Lưỡi gươm ấy không thể đâm thâu vào thân con của Mẹ, mà một trật không đâm thâu lòng Mẹ. Thật đúng, Chúa Giê-su, Con của Mẹ tuy là của tất cả mọi người, nhưng đặc biệt là riêng của Mẹ ; sau khi trút hơi thở cuối cùng, Người đã không bị lưỡi gươm tàn bạo đâm thâu lòng. Lưỡi gươm đó không tha người đã chết mà nó không làm hại được nữa, nó đã mở sườn Người ra ; nhưng chính lúc đó, nó lại đâm thâu lòng Mẹ. Linh hồn của Người chắc chắn không còn đó nữa, nhưng tâm hồn của Mẹ không tránh đâu được. Lòng Mẹ đã bị đau khổ đâm thâu, vì vậy, chúng con thật có lý do mà tuyên bố rằng Mẹ còn hơn các vị tử đạo, bởi vì nỗi đau do việc Mẹ cùng chịu khổ chắc chắn đã vượt quá sự đau khổ trong thân xác. Câu : thưa Bà, đây là con Bà, đối với Mẹ, chẳng còn hơn một lưỡi gươm và đã chẳng đâm thâu lòng Mẹ cùng đạt tới chỗ phân cách tâm với linh sao ? Ôi cuộc trao đổi kỳ lạ ! Thánh Gio-an đã được trao cho Mẹ để thế chỗ Chúa Giê-su. Người tôi tớ thế chỗ chủ, người môn đệ thế chỗ thầy, con ông Dê-bê-đê thế chỗ Con Thiên Chúa, một người phàm thay vì Thiên Chúa thật. Làm sao nghe lời này, lòng Mẹ đầy âu yếm không bị đâm thâu, trong lúc chúng con, dù lòng chai đá mà chỉ nhớ tới lời đó thôi, cùng cảm thấy lòng mình tan nát ?
Thưa anh em, anh em đừng ngạc nhiên khi Đức Ma-ri-a được gọi là một vị tử đạo trong tâm hồn. Có ngạc nhiên chẳng là kẻ quên lời thánh Phao-lô rằng một trong những tội tày trời của dân ngoại là vô tâm bạc tình. Một tội như thế thật xa lạ đối với lòng dạ Đức Ma-ri-a. Ước gì tội đó cũng xa lạ đối với các tôi tớ mọn hèn của Mẹ.
Biết đâu có kẻ chẳng nói : nào Mẹ không biết trước Chúa Giê-su phải chết sao ? Dĩ nhiên là biết. Nào Mẹ chẳng hy vọng Người sẽ sống lại sao ? Dĩ nhiên với tất cả lòng tin. Và dù vậy, Người cũng đau khổ khi thấy con mình phải đóng đinh, phải thế không ? Phải, và đau khổ ghê gớm. Này người anh em, bạn là ai ? Khôn ngoan của bạn ở đâu mà bạn lại ngạc nhiên vì Đức Ma-ri-a còn chịu thương khó hơn là vì Đức Giê-su, Con của Người chịu thương khó ? Về phần xác, con của Mẹ đã chết, còn Mẹ, Mẹ đã chẳng chết trong tâm hồn với con sao ? Chính tình thương đã khiến Chúa Giê-su chịu thương khó, và không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của Người. Và kể từ đây, không có tình thương nào sánh nổi với tình thương đã khiến Đức Ma-ri-a cùng chịu thương khó với con của người.
Xướng đáp Lc 23,33 ; Ga 19,25 ; x. Lc 2,35
X Khi đến nơi gọi là Cái Sọ, Đức Giê-su bị đóng đinh vào thập giá.
* Đứng gần thập giá, có Thân Mẫu Người.
Đ Bà đã bị nát ruột nát gan, như bị một lưỡi gươm đâm thấu. *
Lời nguyện
Lạy Chúa, khi Đức Ki-tô chịu treo trên thập giá, Chúa đã muốn cho Thánh Mẫu của Người đứng kề bên mà thông phần đau khổ. Xin cho Hội Thánh Chúa biết noi gương Thánh Mẫu mà kết hợp với Đức Ki-tô chịu khổ hình, để mai ngày được phục sinh vinh hiển cùng với Đức Ki-tô là Thiên Chúa hằng sống và hiển trị cùng Chúa, hiệp nhất với Chúa Thánh Thần đến muôn thuở muôn đời.
admin
15-07-2011, 04:06 PM
Ngày 16 tháng 9
Thánh Co-nê-li-ô, giáo hoàng và thánh Síp-ri-a-nô, giám mục, tử đạo
Lễ nhớ
Thánh Co-nê-li-ô làm giám mục giáo phận Rô-ma năm 251. Người đã chống lại giáo phái No-va-xi-a-nô. Chưa được bao lâu, người bị hoàng đế Gan-lô bắt đi đày tại Xi-vi-ta Véc-ki-a và đã qua đời ở đấy (253). Người đã được thánh Síp-ri-a-nô kính trọng và quý mến. Chính vì thế, ngay từ thế kỷ IV, Hội Thánh Rô-ma đã mừng lễ thánh Co-nê-li-ô trong chính hang mộ của người vào ngày lễ thánh Síp-ri-a-nô.
Thánh Síp-ri-a-nô sinh tại Các-tha-gô, quãng năm 210 trong một gia đình ngoại giáo. Người lãnh nhận đức tin, làm linh mục, rồi làm giám mục năm 249. Trong cuộc bách hại dưới thời hoàng đế Va-lê-ri-a-nô, người bị lưu đày, rồi ngày 14 tháng 9 năm 258, người chịu chết để làm chứng cho Chúa Ki-tô. Các thư từ và tác phẩm của người viết ra cho thấy người có tâm hồn của một vị mục tử đích thực, luôn đứng ở chỗ nguy hiểm nhất để nâng đỡ các anh em đang phải chịu bách hại và để duy trì sự hiệp nhất trong Hội Thánh. Trong mọi việc, người lo nêu gương sáng về lòng trung thành với Chúa Giê-su Ki-tô.
Bài đọc 2
Việc chính đáng như thế, không cần phải suy nghĩ
Trích sử liệu về cuộc tử đạo của thánh Síp-ri-a-nô.
Sáng ngày 14 tháng 9, một đám rất đông dân chúng tụ họp lại tại quảng trường Xét-tô, theo lệnh của quan kinh lược Ga-lê-ri-ô Mác-xi-mô. Viên quan này truyền lệnh phải điệu thánh Síp-ri-a-nô ra trước mặt ông ngay trong ngày, khi ông ngồi xử tại tiền đường Xau-si-ô-lô. Khi giám mục Síp-ri-a-nô bị điệu đến, quan kinh lươc hỏi : “Ông có phải là Ta-si-ô Síp-ri-a-nô không ?” Giám mục Síp-ri-a-nô trả lời : “Chính tôi.”
Quan kinh lược nói : “Ông có phải là lãnh đạo đám người có đầu óc phạm thượng đó không ?” Giám mục Síp-ri-a-nô trả lời : “Chính tôi.” Quan kinh lược lại nói : “Các hoàng đế chí tôn đã truyền lệnh cho ông phải tế thần.” Giám mục Síp-ri-a-nô trả lời : “Tôi không tế.” Quan Ga-lê-ri-ô Mác-xi-mô nói : “Ông nghĩ kỹ đi !” Thánh Síp-ri-a-nô trả lời : “Quan được lệnh làm gì thì cứ làm đi. Trong một việc chính đáng như thế này, khỏi cần suy nghĩ nữa.”
Khi bàn hỏi với hội đồng, quan kinh lược quyết định tuyên án. Quan buộc lòng phải nói như sau : “Ông đã sống theo học thuyết phạm thượng này từ lâu rồi, và ông đã quy tụ nhiều người để mưu mô làm tội ác, ông đã đứng lên đối địch với các thần Rô-ma và các nghi thức kính thần ; các hoàng đế mộ đạo và chí thánh của chúng tôi là Va-lê-ri-a-nô, Ga-li-ê-nô ; ngay cả Va-lê-ri-a-nô, vị Xê-da chí tôn, cũng đã không thể làm cho ông trở lại thờ cúng như các ngài. Ông bị bắt vì đã chủ mưu và gieo rắc các tội ác khả ố, nên ông sẽ là bài học cho những kẻ liên kết với ông để làm tội ác. Máu của ông sẽ làm chứng cho sự nghiêm minh của pháp luật.” Nói xong, quan đọc án quyết ghi trên một tấm thẻ nhỏ : Chúng tôi ra lệnh xử trảm quyết cho ông Ta-si-ô Síp-ri-a-nô. Giám mục Síp-ri-a-nô nói : “Tạ ơn Chúa.”
Sau khi nghe bản án, đám đông anh em tín hữu hô lên : “Chúng tôi xin cùng được xử trảm với người.” Vì thế, họ náo động và một đám rất đông dân chúng theo sau người tử tội. Síp-ri-a-nô bị điệu tới quảng trường Xét-tô. Người cởi áo choàng ra, quỳ xuống và sấp mình cầu nguyện với Chúa. Sau khi cởi áo giám mục trao cho các phó tế, và chỉ giữ lại trên mình áo dài bằng vải gai, người đứng đợi lý hình.
Khi lý hình tới, người bảo mấy tín hữu đứng quanh cho anh ta hai mươi lăm đồng tiền vàng. Đám anh em tín hữu trải vải và khăn trước mặt người. Rồi thánh Síp-ri-a-nô tự tay bịt mắt. Vì người không thể tự buộc tay, nên linh mục Giu-li-a-nô và phụ phó tế cũng tên là Giu-li-a-nô buộc giùm cho người.
Thánh Síp-ri-a-nô đã chịu tử đạo như thế. Để tránh cho dân ngoại khỏi tò mò, người ta đem cất xác người ở một nơi gần đó. Rồi đến đêm, họ mang đèn cầy và đuốc rước xác người về nghĩa trang của thái thú Ma-cô-bê Căn-đi-đi-a-nô, trên đường Máp-pa-la, gần các bể chứa nước. Cuộc rước này diễn ra trong bầu khí hân hoan khải hoàn. Ít ngày sau, quan kinh lược Ga-lê-ri-ô Mác-xi-mô qua đời.
Thánh Síp-ri-a-nô đã chịu tử đạo ngày 14 tháng 9 dưới thời các hoàng đế Va-lê-ri-a-nô và Ga-li-ê-nô, nhưng thực ra là dưới triều của Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta, Đấng được vinh dự và vinh quang đến muôn thuở muôn đời. A-men.
Xướng đáp
X Khi chúng ta lâm trận và chiến đấu cho đức tin, có Thiên Chúa chứng giám, có các thiên sứ của Người chứng giám, và cả Đức Ki-tô cũng chứng giám nữa.
* Ôi vinh hiển dường bao, hạnh phúc biết chừng nào, khi xông vào cuộc chiến mà có Thiên Chúa hiện diện, có Đức Ki-tô làm trọng tài và đội triều thiên cho người chiến thắng.
Đ Ta hãy võ trang cho đầy đủ, và sẵn sàng lâm chiến : tinh thần phải vững mạnh, đức tin phải nguyên tuyền, và đức ái nồng nàn mãnh liệt. *
Lời nguyện
Lạy Chúa, Chúa đã ban cho dân Chúa hai vị mục tử nhiệt thành và cũng là chứng nhân bất khuất là thánh Co-nê-li-ô và thánh Síp-ri-a-nô. Xin nhận lời hai thánh chuyển cầu mà ban cho chúng con can trường giữ vững đức tin và không ngừng hoạt động cho Giáo Hội được hiệp nhất. Chúng con cầu xin...
Ngày 17 tháng 9
Thánh Rô-be-tô Be-la-mi-nô, giám mục, tiến sĩ Hội Thánh
Thánh nhân sinh năm 1542 tại Mon-tê-pun-xi-a-nô, miền Tốt-can, nước I-ta-li-a. Người nhập dòng Tên ở Rô-ma, làm linh mục. Người đã viết nhiều bài tranh luận để bênh vực đức tin công giáo, đã dạy thần học ở Lu-vanh rồi Rô-ma. Người được đặt làm hồng y và giám mục Ca-pu-a-nô. Người là một giáo sư có biệt tài về hoạt động mục vụ và đã có công đào tạo thánh trẻ Lu-y Gon-da-ga. Người qua đời ở Rôma năm 1621.
Bài học 2
Xin hướng lòng con nghiêng về thánh ý
Trích khảo luận của thánh Rô-be-tô Be-la-mi-nô, giám mục, về việc hướng lòng trí lên cùng Chúa.
Lạy Chúa, Ngài nhân hậu khoan hồng, giàu tình thương với mọi kẻ kêu xin. Ai mà chẳng hết lòng phục vụ Ngài, một khi đã nếm cảm được đôi chút sự ngọt ngào về quyền làm cha của Ngài ? Lạy Chúa, Ngài truyền dạy cho tôi tớ Ngài điều gì ? Chúa nói : Anh em hãy mang lấy ách của tôi và ách của Chúa thế nào ? Chúa nói : Ách tôi êm ái và gánh tôi nhẹ nhàng. Vậy ai không sẵn sàng mang lấy ách chẳng những không đè bẹp mà còn làm cho phấn chấn, gánh chẳng những không đè nặng mà còn bổ sức ? Bởi thế, Người còn nói thêm cách chí lý rằng : Tâm hồn anh em sẽ được bồi dưỡng. Ách của Ngài chẳng những không làm cho mệt mà còn đem lại sự nghỉ ngơi là ách nào ? Đó là điều răn thứ nhất và lớn hơn cả : Ngươi phải yêu mến Đức Chúa Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn. Còn gì dễ dàng hơn, ngọt ngào hơn, êm dịu hơn là sự tốt lành, là sự xinh đẹp của tình yêu mà Ngài là tất cả, lạy Chúa là Thiên Chúa của con.
Nào Ngài chẳng hứa ban phần thưởng cho những ai tuân giữ các lệnh truyền của Ngài, là những lệnh truyền đáng ao ước hơn bạc vàng muôn lượng và ngọt ngào hơn mật ong sao ? Thật đúng như vậy, Ngài hứa ban phần thưởng rất trọng hậu như lời thánh Gia-cô-bê tông đồ nói : Họ sẽ lãnh phần thưởng là sự sống Chúa hứa ban cho những ai yêu mến Người. Vậy phần thưởng sự sống đó là gì ? Đó là một sự thiện lớn lao hơn cả điều chúng ta có thể suy tưởng hay ước ao. Quả thế, dựa vào lời ngôn sứ I-sai-a, thánh Phao-lô tông đồ đã nói : Điều mắt chẳng hề thấy, tai chẳng hề nghe, lòng người không hề nghĩ tới, đó là điều Thiên Chúa đã dọn sẵn cho những ai yêu mến Người.
Quả thế, phần thưởng dành cho những ai tuân giữ các điều răn của Ngài thật là lớn lao. Điều răn thứ nhất và lớn hơn cả đem lại lợi ích cho kẻ vâng giữ, chứ không phải cho Thiên Chúa là Đấng truyền dạy. Còn các điều răn khác của Chúa làm cho kẻ vâng giữ nên hoàn thiện, có đầy đủ, được dạy dỗ, được soi sáng và cuối cùng nên tốt lành và được hạnh phúc. Vì vậy, nếu khôn thì bạn hãy biết rằng bạn được tạo dựng nên để làm vinh danh Chúa, và để được cứu rỗi muôn đời. Đó là cùng đích của đời bạn, là tâm điểm của hồn bạn, là kho tàng của lòng bạn. Đạt tới cùng đích này, bạn sẽ hạnh phúc, còn nếu lạc xa, bạn sẽ khốn khổ.
Do đó, bạn hãy đánh giá cho đúng : điều tốt thật là điều giúp bạn đạt tới cùng đích của đời bạn, còn điều xấu thật là điều làm cho bạn xa rời cùng đích ấy. Thành công hay thất bại, giàu sang hay nghèo túng, mạnh khoẻ hay ốm đau, vinh dự hay nhục nhã, sống hay chết, người khôn không được tìm cũng không được tránh những điều ấy vì chúng. Nếu chúng làm vinh danh Chúa và giúp bạn được hạnh phúc muôn đời thì đó là những điều tốt và đáng ước mong. Còn nếu chúng ngăn trở, thì đó là những điều xấu và phải tránh xa.
Xướng đáp Mt 2,7 ; Tt 1,7-9
X Môi của tư tế chất chứa sự hiểu biết, và người ta tìm điều luật dạy nơi miệng người.
* Vì người là thần sứ của Đức Chúa các đạo binh.
Đ Giám quản phải như người quản lý của Thiên Chúa, có khả năng dùng giáo lý lành mạnh mà khuyên nhủ. *
Lời nguyện
Lạy Chúa, Chúa đã ban cho thánh giám mục Rô-be-tô Be-la-mi-nô trí thông minh và lòng dũng cảm tuyệt vời để người bảo vệ đức tin của Hội Thánh. Vì lời thánh nhân nguyện giúp cầu thay, xin cho dân Chúa biết giữ đức tin ấy luôn vẹn toàn. Chúng con cầu xin...
Ngày 19 tháng 9
Thánh Gia-nu-a-ri-ô, giám mục, tử đạo
Lễ nhớ
Người làm giám mục Bê-nê-ven-ta-nô, chịu tử đạo ở Na-pô-li năm 305 cùng các bạn, dưới thời bách hại của hoàng đế Đi-ô-lê-xi-a-nô. Thế kỷ sau đó, người ta di chuyển hài cốt người về ngoại ô Na-pô-li. Thành phố này đã chọn người làm bổn mạng. Lòng tôn kính thánh nhân dần dần lan rộng, Rio de Janeiro là một điển hình.
Bài đọc 2
Để phục vụ anh em, tôi là giám mục, cùng với anh em, tôi là Ki-tô hữu
Trích bài giảng của thánh Âu-tinh, giám mục.
Từ khi Thiên Chúa đặt trên vai gánh nặng chức giám mục, một trách nhiệm không dễ hoàn thành, thì vinh dự đó hằng làm tôi bức rức lo âu. Điều đáng sợ trong chức vụ đó là gì, nếu không phải là lấy làm thích thú về thứ vinh quang nguy hiểm do chức vụ mang đến, hơn là những gì đem lại lợi ích ơn cứu độ của anh em ? Phải lo cho ơn cứu độ của anh em : điều này làm tôi khiếp sợ ; được ở với anh em, đó là điều an ủi tôi. Quả thật, để phục vụ anh em, tôi là giám mục, cùng với anh em, tôi là Ki-tô hữu. Danh hiệu đầu là do chức vụ, danh hiệu sau là do ân sủng ; danh hiệu đầu là một nguy cơ, danh hiệu sau dẫn đến ơn cứu độ.
Hoạt động do chức vụ đòi hỏi thì tựa cơn phong ba làm chúng tôi như con tàu tròng trành giữa biển cả, nhưng khi chúng tôi nhớ đến Đấng đã dùng máu mà cứu chuộc chúng ta, thì ý tưởng ấy khiến chúng tôi bình an thanh thản như người được vào bến an toàn. Tuy vất vả thi hành chức vụ của mình, chúng tôi lại được an hưởng phúc lộc cùng với anh em. Vậy nếu tôi thích được cứu chuộc cùng với anh em hơn là cai quản anh em, thì khi ấy, theo lời Chúa truyền dạy, tôi sẽ trở nên người phục vụ anh em trọn vẹn hơn, để khỏi bất xứng với Đấng đã làm cho tôi trở nên người cùng phục vụ anh em. Chắc chắn tôi phải yêu mến Đấng Cứu Chuộc, và tôi biết Người đã nói gì với ông Phê-rô : Này anh Phê-rô, anh có yêu mến Thầy không ? Hãy chăm sóc chiên của Thầy. Chúa nói đến điều đó một lần, hai lần, ba lần. Chúa hỏi về tình yêu, Chúa giao phó công việc nhọc nhằn ; vì ở đâu càng yêu mến nhiều, ở đó càng ít nhọc nhằn.
Biết lấy chi đền đáp Chúa bây giờ, vì mọi ơn lành Người đã ban cho ? Tôi mà nói là tôi đền đáp Chúa là vì tôi chăn dắt chiên của Người, thì đúng là tôi làm việc đó, nhưng không phải tôi, mà là ơn Thiên Chúa cùng với tôi. Vậy, tôi đền đáp Chúa ở chỗ nào, vì đâu đâu Chúa cũng ban ơn cho tôi trước ? Nhưng vì chúng tôi yêu mến nhưng không, và vì chúng tôi chăn dắt đoàn chiên, nên chúng tôi mong được Chúa ân thưởng. Điều đó sẽ xảy ra thế nào ? Làm sao dung hoà được hai điều này : Vì yêu mến nhưng không, nên tôi chăn dắt đoàn chiên, và Tôi xin Chúa thưởng công vì tôi chăn dắt ? Điều đó không thể xảy ra được, vì kẻ được yêu mến nhưng không, thì chẳng được đòi Chúa thưởng công, trừ phi phần thưởng đó là chính Đấng được yêu mến. Quả thế, chúng tôi đã đền đáp ơn Người cứu chuộc chúng tôi, khi chúng tôi chăn dắt đoàn chiên ; còn ơn Người đã đặt chúng tôi làm mục tử, chúng tôi sẽ đền đáp thế nào ? Thật vậy, nếu chúng tôi là mục tử xấu (chớ gì không phải thế !) thì đó là do lỗi chúng tôi ; còn nếu chúng tôi là mục tử tốt (ước gì chúng tôi được Người ban cho được như vậy !) thì chính là chúng tôi được ơn của Người mà chúng tôi được như thế. Do đó, thưa anh em, chúng tôi khuyên nhủ anh em : anh em lãnh nhận ân huệ của Thiên Chúa, thì đừng để nên vô hiệu. Anh em hãy làm cho sứ vụ của chúng tôi được sinh hoa kết quả. Anh em là cánh đồng của Thiên Chúa. Một mặt, anh em hãy tiếp nhận kẻ trồng người tưới ; nhưng mặt khác, anh em hãy đón nhận Đấng làm cho lớn lên. Anh em hãy giúp đỡ chúng tôi bằng lời cầu nguyện và thái độ tuân phục, để chúng tôi được vui sướng, không phải vì điều khiền anh em, nhưng vì giúp ích cho anh em.
Xướng đáp Kn 10,10a
X Đây quả là vị tử đạo đã đổ máu mình vì danh Chúa Ki-tô.
* Thánh nhân đã coi thường lời buộc tội, chẳng màng chi danh vọng ở đời, mà chỉ mong sao được về thiên quốc.
Đ Thiên Chúa hướng dẫn người công chính qua nẻo đường ngay thẳng, tỏ cho thấy Nước Trời. *
Lời nguyện
Lạy Chúa, ngày hôm nay chúng con tưởng niệm thánh Gia-nu-a-ri-ô tử đạo. Xin Chúa rộng ban cho chúng con mai sau được cùng thánh nhân hưởng hạnh phúc trên trời. Chúng con cầu xin...
admin
15-07-2011, 04:10 PM
Ngày 20 tháng 9
Thánh An-rê Kim Tê-gon, Phao-lô Chung Ha-san và các bạn, tử đạo
Lễ nhớ
Nhờ việc tông đồ của một số giáo dân, đức tin Kitô giáo đã đi vào Hàn Quốc đầu thế kỷ thứ XVII.
Dù thiếu các mục tử, giáo đoàn vẫn sống đức tin hăng say và mạnh mẽ. Cộng đoàn được hướng dẫn và xây dựng hầu như chỉ nhờ những người giáo dân, cho tới cuối năm 1836, khi những nhà truyền giáo đầu tiên người Pháp bí mật đến xứ này.
Giáo đoàn này, với những cuộc bách hại vào những năm 1839, 1846, 1866 và 1867, đã sinh sản ra 103 thánh tử đạo, trong đó nổi bật nhất là linh mục đầu tiên người Hàn quốc, An-rê Kim Tê-gon. Người là một mục tử hăng hái nhiệt thành. Kế đó là người tông đồ giáo dân, anh Phao-lô Chung Ha-san.
Còn những vị khác là giáo dân nam, nữ, độc thân, có gia đình, người già, thanh niên, thiếu nhi. Tất cả đều đã lấy máu mình để làm chứng cho Chúa Kitô, làm nên mùa xuân tươi đẹp của Giáo Hội Hàn Quốc.
Bài đọc 2
Đức tin được thành toàn nhờ đức ái và sự kiên trì
Trích huấn dụ cuối cùng của thánh An-rê Kim Tê-gon, linh mục, tử đạo.
Anh em và các bạn rất thân mến, trước hết hãy suy nghĩ cho thấu đáo : từ thuở ban đầu, Thiên Chúa đã tạo dựng trời đất muôn vật thế nào. Sau đó, hãy suy gẫm xem vì lý do và ý định nào Thiên Chúa đã dựng nên từng người theo hình ảnh của Chúa và giống như Người.
Vậy, nếu trong thế giới đầy hiểm nguy và khốn khổ này, chúng ta không nhận biết Thiên Chúa là Đấng tạo thành, thì có sinh ra và sống ở trên đời cũng chẳng ích lợi chi. Mặc dù nhờ ơn Thiên Chúa, chúng ta chào đời, cũng nhờ ơn Thiên Chúa chúng ta lãnh nhận bí tích thánh tẩy, được gia nhập Hội Thánh, trở thành môn đệ của Chúa và mang danh Người, nhưng hữu danh vô thực nào có ích chi ? Nếu thế, sinh ra trên đời và gia nhập Hội Thánh thật là vô ích ; hơn thế nữa, đó còn là phản bội Thiên Chúa và cưỡng lại ơn Người. Thà không sinh ra còn hơn là lãnh nhận ơn Chúa mà xúc phạm đến Người.
Hãy xem người nông dân lo việc đồng áng thế nào : người ấy cày bừa đúng thời vụ, rồi bỏ phân và gieo hạt giống quý báu, không quản ngại lao nhọc nắng nôi. Đến mùa gặt, nếu thấy bông lúa nặng trĩu, ông ta quên cả mồ hôi và nỗi vất vả, lòng hân hoan vui sướng, hạnh phúc tràn trề. Còn nếu thấy những bông lúa lép xẹp, nếu chỉ thu được rơm rạ và những hạt lúa lép, người nông dân lại nhớ đến mồ hôi và nỗi lao nhọc vất vả, và trước đã chăm sóc thửa ruộng đó bao nhiêu thì nay lại càng bỏ hoang nó bấy nhiêu.
Tương tự như thế, Thiên Chúa nhận mặt đất làm thửa ruộng của Người, nhận chúng ta là những con người làm thóc giống, ban ân sủng làm phân bón. Người còn lấy máu mình mà tưới trên chúng ta nhờ việc nhập thể và cứu chuộc, để chúng ta có thể lớn lên và trở thành bông lúa chín vàng. Đến ngày phán xét là lúc thu hoạch, người nào nhờ ân sủng mà thành bông lúa chín, sẽ được hưởng Nước Trời với tư cách làm nghĩa tử của Thiên Chúa. Còn ai không thành bông lúa chín, sẽ trở nên kẻ thù của Thiên Chúa, dù trước đó chính họ đã từng là nghĩa tử của Người, và sẽ bị trừng phạt đời đời theo tội trạng của họ.
Anh em rất thân mến, anh em hãy biết rằng Chúa chúng ta là Đức Giê-su, khi xuống thế gian đã chịu muôn vàn đau khổ, đã lấy cuộc thương khó của mình mà thiết lập Hội Thánh và lấy cuộc thương khó của các tín hữu mà làm cho Hội Thánh được lớn lên. Quyền lực thế gian mặc sức đàn áp và chống đối, cũng đã chẳng bao giờ thắng được Hội Thánh. Sau khi Chúa lên trời, kể từ thời các thánh Tông Đồ cho đến nay, Hội Thánh đã lớn lên ở khắp nơi giữa những gian truân.
Còn nay, suốt năm, sáu mươi năm trở lại đây, kể từ lúc Hội Thánh có mặt trên đất Triều Tiên của chúng ta, các tín hữu cũng đã nhiều lần bị bách hại. Ngay cả ngày nay, cuộc bách hại cũng còn đang khốc liệt, đến nỗi nhiều người bạn chia sẻ cùng một niềm tin, trong đó có tôi, đang chịu cảnh ngục tù, cũng như chính anh em đang sống giữa cảnh gian truân. Chúng ta đã làm nên một thân thể như thế, làm sao lòng chúng ta lại chẳng buồn, làm sao chúng ta lại chẳng cảm thấy nỗi buồn chia ly theo tình cảm con người ?
Tuy nhiên, như lời Kinh Thánh nói, ngay cả sợi tóc nhỏ nhất trên đầu, Thiên Chúa cũng quan tâm, và quan tâm bằng sự thông suốt vô cùng của Người. Vậy, sao lại coi một cuộc bách hại lớn như thế là cái gì khác chứ không phải là mệnh lệnh của Thiên Chúa, hoặc là phần thưởng hay thậm chí là hình phạt của Người ?
Vậy, chúng ta hãy tuân theo ý Thiên Chúa, anh em hãy hết lòng chiến đấu cho thủ lãnh trên trời là Đức Giê-su, và đánh bại ma quỷ của thế gian này là kẻ đã từng bị Đức Ki-tô đánh bại.
Tôi xin anh em, đừng sao lãng tình bác ái huynh đệ, nhưng hãy giúp đỡ lẫn nhau, hãy kiên trì cho tới khi Thiên Chúa thương xót mà cất nỗi gian truân khỏi chúng ta.
Chúng tôi ở đây gồm hai mươi người và nhờ ơn Thiên Chúa, chúng tôi vẫn còn khoẻ mạnh. Sau này, nếu có ai chịu tử hình, tôi xin anh em đừng lơ là gia đình của người đó. Tôi còn nhiều điều phải nói nữa, nhưng làm sao có thể diễn tả hết bằng giấy trắng mực đen ? Đến đây tôi xin ngừng bút. Vì chúng tôi sắp bước vào cuộc chiến đấu, tôi xin anh em luôn sống trung thành để cuối cùng chúng ta được hưởng niềm vui với nhau trên trời. Trong tình yêu thương, tôi xin hôn chào anh em.
Xướng đáp x. 2 Cr 6,9-10
X Đây là các vị tử đạo đã làm chứng cho Chúa Ki-tô và ca ngợi Thiên Chúa mà không sợ những lời đe doạ.
* Máu các ngài đổ ra là mầm giống làm nảy sinh các Ki-tô hữu.
Đ Bị coi là vô danh tiểu tốt, nhưng kỳ thực các ngài được mọi người biết đến ; bị coi là đang giẫy chết, nhưng kỳ thực các ngài vẫn sống ; bị coi như chẳng có gì, nhưng kỳ thực là có tất cả. *
Lời nguyện
Lạy Chúa là Ðấng tạo thành và cứu độ muôn dân, Chúa đã mời gọi dân tộc Triều Tiên đón nhận đức tin công giáo để gia nhập cộng đoàn dân Chúa chọn. Chúa lại ban cho cộng đoàn này tăng trưởng nhờ lời tuyên xưng đức tin của các bậc anh hùng là hai thánh An-rê Kim, Phao-lô Chung cùng các bạn, tử đạo. Xin nhận lời cầu nguyện của các ngài mà ban cho chúng con biết noi gương các ngài để lại là trung thành tuân giữ giới răn Chúa cho đến khi nhắm mắt lìa đời. Chúng con cầu xin...
Ngày 21 tháng 9
Thánh Mát-thêu, tông đồ, Tác Giả Sách Tin Mừng
Lễ kính
Thánh nhân là một nhân vật quen thuộc trong số các Tông Đồ. Câu chuyện người thâu thuế ở Ca-phác-na-um là một trong những đoạn văn quen thuộc nhất trong phần nói về sứ vụ của Đức Giê-su ở Ga-li-lê. Người đã biên soạn sách Tin Mừng bằng tiếng Híp-ri. Sách Tin Mừng hiện nay mang tên thánh nhân cho thấy sự liên tục giữa Cựu và Tân Ước. Tương truyền người đã đi giảng ở Đông Phương.
Bài đọc 1 Ep 4,1-16.
Hiệp nhất với nhau để xây dựng nhiệm thể Chúa Ki-tô
Lời Chúa trong thư của thánh Phao-lô tông đồ gửi tín hữu Ê-phê-xô.
1Tôi là người đang bị tù vì Chúa, tôi khuyên nhủ anh em hãy sống cho xứng với ơn kêu gọi mà Thiên Chúa đã ban cho anh em. 2 Anh em hãy ăn ở thật khiêm tốn, hiền từ và nhẫn nại ; hãy lấy tình bác ái mà chịu đựng lẫn nhau. 3 Anh em hãy thiết tha duy trì sự hiệp nhất mà Thần Khí đem lại, bằng cách ăn ở thuận hoà gắn bó với nhau. 4 Chỉ có một thân thể, một Thần Khí, cũng như anh em đã được kêu gọi để chia sẻ cùng một niềm hy vọng. 5 Chỉ có một Chúa, một niềm tin, một phép rửa. 6 Chỉ có một Thiên Chúa, Cha của mọi người, Đấng ngự trên mọi người, qua mọi người và trong mọi người.
7 Nhưng mỗi người chúng ta đã nhận được ân sủng tuỳ theo mức độ Đức Ki-tô ban cho. 8 Vì thế, có lời Kinh Thánh nói :
Người đã lên cao, dẫn theo một đám tù ;
Người đã ban ân huệ cho loài người.
9 Người đã lên nghĩa là gì, nếu không phải là Người đã xuống tận các vùng sâu thẳm dưới mặt đất ? 10 Đấng đã xuống cũng chính là Đấng đã lên cao hơn mọi tầng trời để làm cho vũ trụ được viên mãn. 11 Và chính Người đã ban ơn cho kẻ này làm Tông Đồ, người nọ làm ngôn sứ, kẻ khác làm người loan báo Tin Mừng, kẻ khác nữa làm người coi sóc và dạy dỗ. 12 Nhờ đó, dân thánh được chuẩn bị để làm công việc phục vụ, là xây dựng thân thể Đức Ki-tô, 13 cho đến khi tất cả chúng ta đạt tới sự hiệp nhất trong đức tin và trong sự nhận biết Con Thiên Chúa, tới tình trạng con người trưởng thành, tới tầm vóc viên mãn của Đức Ki-tô.
14 Như vậy, chúng ta sẽ không còn là những trẻ nhỏ, bị sóng đánh trôi giạt theo mọi chiều gió đạo lý, giữa trò bịp bợm của những kẻ giảo quyệt khéo dùng mưu ma chước quỷ để làm cho kẻ khác lầm đường. 15 Nhưng, sống theo sự thật và trong tình bác ái, chúng ta sẽ lớn lên về mọi phương diện, vươn tới Đức Ki-tô vì Người là Đầu. 16 Chính Người làm cho các bộ phận ăn khớp với nhau và toàn thân được kết cấu chặt chẽ, nhờ mọi thứ gân mạch nuôi dưỡng và mỗi chi thể hoạt động theo chức năng của mình. Như thế Người làm cho toàn thân lớn lên và được xây dựng trong tình bác ái.
Xướng đáp 2 Pr 1,21 ; Cn 2,6
X Lời ngôn sứ không bao giờ lại do ý muốn người phàm, nhưng
* chính nhờ Thánh Thần thúc đẩy mà có những người đã nói theo lệnh của Thiên Chúa.
Đ Chính Thiên Chúa ban tặng khôn ngoan; tri thức và hiểu biết là nhờ Người mà có. *
Bài đọc 2
Đức Giê-su đã nhìn thấy ông, yêu thương và tuyển chọn ông
Trích bài giảng của thánh Bê-đa Khả kính, linh mục.
Đức Giê-su thấy một người tên là Mát-thêu đang ngồi ở bàn thu thuế. Người bảo ông : Anh hãy theo tôi. Người thấy không phải bằng con mắt thể xác, cho bằng với cái nhìn đầy tình thương sâu xa. Đức Giê-su thấy người thu thuế ; Người thấy ông với tình thương và có ý chọn ông, nên bảo rằng : “Anh hãy theo tôi !” Nhưng “hãy theo” có nghĩa là hãy bắt chước, không phải chỉ theo bằng bước chân, mà nhất là bằng cách ăn thói ở. Quả thật, ai nói mình ở lại trong Đức Ki-tô thì phải đi trên con đường Người đã đi.
Và ông đứng dậy đi theo Người. Chẳng có gì lạ khi nghe thoạt nghe tiếng Chúa truyền, người thu thuế từ bỏ ngay những lợi lộc trần gian ông đang quản lý, và một khi đã coi thường sự giàu sang, ông dấn thân bước theo Đấng mà ông thấy chẳng có chút của cải nào. Thật vậỵ, chính Chúa, Đấng bên ngoài dùng lời nói để gọi ông, thì bên trong dùng sự thúc đầy vô hình mà dạy ông bước theo Người, vì Người tuôn đổ vào lòng trí ông ánh sáng của ơn thiêng khiến ông hiểu được rằng Đấng gọi ông từ bỏ của cải tạm bợ trên trần gian, cũng có quyền ban kho tàng chẳng hư nát trên trời.
Đức Giê-su đang dùng bữa trong nhà, thì có nhiều người thu thuế và tội lỗi đến cùng ăn với Người và các môn đệ. Như thế, một người thu thuế đã nêu gương cho nhiều người thu thuế và tội lỗi biết sám hối và được ơn tha tội. Đây thật là một điềm tốt : vì thoạt khi vừa trở lại, người sau này sẽ trở thành tông đồ và thầy dạy đức tin đã kéo theo mình một đoàn tội nhân đến lãnh ơn cứu độ, và ngay khi đức tin của ông còn phôi thai, ông đã bắt đầu làm công việc loan báo Tin Mừng, công việc mà sau này ông sẽ hoàn thành mỹ mãn, khi đã tiến bộ trên đường nhân đức. Nếu chúng ta muốn tìm hiểu sâu xa hơn câu chuyện trên đây, thì nên biết rằng không phải Mát-thêu chỉ thết Chúa một bữa tiệc vật chất trong ngôi nhà của ông ở trần gian, mà còn dọn cho Người một bữa tiệc trong ngôi nhà tâm hồn ông với tất cả niềm tin yêu, điều đó còn quý hơn nhiều, bởi chính Chúa đã phán : Này đây Ta đứng trước cửa và gõ. Ai nghe tiếng Ta và mở cửa, thì Ta sẽ vào nhà người ấy, sẽ dùng bữa với người ấy, và người ấy sẽ dùng bữa với Ta.
Chúng ta nghe tiếng Người và mở cửa ra đón Người khi chúng ta sẵn sàng vâng theo những lời khuyên nhủ kín đáo hay rõ ràng của Người, và hết sức chu toàn những điều mình biết phải thi hành. Người vào nhà để Người cùng với chúng ta và chúng ta cùng với Người dùng bữa tối, vì Người ngự trong tâm hồn những kẻ được tuyển chọn, nhờ hồng ân tình yêu của Người. Nhờ đó, Người luôn nuôi dưỡng họ bằng sự hiện diện quang minh của Người, để họ ngày càng vươn tới những ước vọng cao siêu và để chính Người được thưởng thức những ước vọng cao cả của họ như một thứ cao lương mỹ vị.
Xướng đáp
X Kinh sư lanh lợi và tinh thông luật Chúa được Chúa nhân từ đưa tay chỉ vẽ.
* Người đem hết tâm hồn tìm hiểu luật Chúa, để vừa thực hành vừa dạy người ta.
Đ Được Chúa ban vinh dự loan báo Tin Mừng, *
Thánh Thi “Lạy Thiên Chúa”
Lời nguyện
Lạy Chúa, Chúa đã mở lượng từ bi khôn tả chọn một người thâu thuế là Mát-thêu làm tông đồ rao giảng Tin Mừng. Xin nhận lời thánh nhân cầu thay nguyện giúp mà cho chúng con biết noi gương người luôn hết tình gắn bó với Chúa Ki-tô là Thiên Chúa hằng sống và hiển trị cùng Chúa, hiệp nhất với Chúa Thánh Thần đến muôn thuở muôn đời.
Ngày 26 tháng 9
Thánh Cót-ma và thánh Ða-mi-a-nô, tử đạo
Lễ nhớ
Thánh Cót-ma và Ða-mi-a-nô là hai chứng nhân tử đạo của miền Xia, gần A-lép thuộc Xi-ri. Ngay từ thế kỷ thứ IV, đã có nhiều phép lạ nơi mộ của các ngài đến nỗi có tương truyền cho rằng các ngài xưa là những thầy lang chữa bệnh miễn phí. Lòng tôn kính các ngài lan nhanh khắp vùng Địa Trung Hải.
Bài đọc 2
Cao quý thay cái chết của các vị tử đạo vì đã được trả giá bằng cái chết của Đức Ki-tô
Trích bài giảng của thánh Âu-tinh, giám mục.
Những chiến công hiển hách của các thánh tử đạo làm cho Hội Thánh phát triển khắp nơi. Những chiến công đó làm cho chúng ta thấy rõ lời chúng ta vừa hát là đúng : Đối với Chúa thật là đắt giá cái chết của những ai trung hiếu với Người. Các ngài đã chết vì danh Chúa, nên cái chết đó là đắt giá đối với Chúa cũng như đối với chúng ta. Tuy nhiên, những cái chết đó đắt giá là nhờ cái chết một mình Đức Ki-tô. Một mình Đức Ki-tô khi cam lòng chịu chết đã trả giá cho biết bao cái chết; vì, như hạt lúa, Người không chết thì sẽ không sinh sôi nảy nở. Các bạn đã nghe những lời Người nói khi Người sắp chịu thương khó, nghĩa là sắp cứu chuộc chúng ta : Nếu hạt lúa gieo vào lòng đất không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình ; còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác.
Quả thật, trên thập giá đã diễn ra một cuộc trao đổi lớn lao, vì nơi đây, túi đựng tiền chuộc chúng ta đã được mở ra : khi tên lính lấy lưỡi đòng mở cạnh sườn Chúa Ki-tô, thì từ đó tuôn ra giá chuộc toàn thể trái đất. Các tín hữu và các vị tử đạo đều đã được Chúa trả giá ; nhưng lòng tin của các vị tử đạo đã được minh chứng ; máu các ngài đổ ra làm chứng cho điều đó. Giá Chúa đã bỏ ra chuộc các ngài, các ngài đã hoàn lại, các ngài đã làm ứng nghiệm lời thánh Gio-an sau đây : Đức Ki-tô đã thí mạng vì chúng ta, thì cả chúng ta nữa, chúng ta cũng phải thí mạng vì anh em. Và lời Kinh Thánh khác : Khi tham dự đại tiệc, con hãy để ý xem người ta đã dọn ra những món gì, vì con sẽ phải đáp lễ cho cân xứng. Đây quả là đại tiệc, vì nơi đây Chúa là chủ tiệc ban chính mình làm của ăn. Không ai lấy chính thân mình để nuôi thực khách ; thế mà Chúa Ki-tô đã làm điều đó. Chính Người đứng ra mời, chính Người là của ăn, là thức uống. Vậy các vị tử đạo đã biết mình ăn gì, uống gì, nên các ngài đã đáp lễ một cách tương xứng.
Nhưng bởi đâu các ngài đáp lễ được như thế, nếu không phải vì Đấng chịu hao tốn trước đã chẳng ban cho các ngài những gì cần để đáp lễ ? Biết lấy chi đền đáp Chúa bây giờ, vì mọi ơn lành Người đã ban cho ? Tôi xin nâng chén mừng ơn cứu độ. Chén đây là chén nào ? Là chén thương khó đắng cay có sức chữa lành, chén mà thầy thuốc không uống trước thì con bệnh sẽ sợ, không dám kề môi. Chén đó là như vậy. Vậy chúng ta nhận ra chén đó khi miệng Đức Ki-tô thốt ra : Cha ơi, nếu được, xin cho chén này rời khỏi con. Về chén đó, các vị tử đạo đã nói : Tôi xin nâng chén mừng ơn cứu độ và kêu cầu thánh danh Đức Chúa.
Vậy, bạn không sợ bị nao núng trong cơn thử thách sao ? Không. Tại sao thế ? Và tôi sẽ kêu cầu thánh danh Đức Chúa. Làm sao các vị tử đạo chiến thắng được, nếu không phải là nhờ chính Đấng đã chiến thắng nơi các ngài, Đấng đã từng nói : Anh em hãy vui mừng, vì Thầy đã thắng thế gian. Vị Chúa Tể trời đất hướng dẫn lòng trí và miệng lưỡi các vị tử đạo ; ở dưới đất, Người đã dùng các ngài mà đánh bại ma quỷ, và trên trời, Người đã ban thưởng triều thiên tử đạo cho các ngài. Phúc thay các vị đã uống cạn chén tử đạo như thế : các ngài không còn phải khổ đau và đã nhận được vinh quang rạng ngời.
Xướng đáp
X Các thánh đã đổ máu mình ra vì Chúa, khi sống đã từng yêu mến Chúa Ki-tô, và khi chết đã noi gương Người.
* Vì vậy, các ngài được ban tặng triều thiên dành cho người chiến thắng.
Đ Các ngài cùng chung một tinh thần, các ngài cùng chung một đức tin. *
Lời nguyện
Lạy Chúa, trong ngày kính hai thánh tử đạo Cót-ma và Ða-mi-a-nô, chúng con khấn nguyện cho mọi người biết ca tụng Chúa là Ðấng Cao Cả, vì Chúa đã ban vinh quang bất diệt cho hai vị thánh, lại vì Chúa là Ðấng quan phòng luôn che chở chúng con. Chúng con cầu xin...
admin
15-07-2011, 04:11 PM
Ngày 27 tháng 9
Thánh Vinh-sơn Phao-lô, linh mục
Lễ nhớ
Thánh nhân sinh năm 1581 tại Gát-côn, nước Pháp. Người làm linh mục, rồi đi Pa-ri phục vụ một giáo xứ. Người sáng lập Tu Hội Thừa Sai để giúp đào tạo các giáo sĩ và nâng đỡ những người nghèo. Được thánh nữ Lu-y Ma-ri-lắc cộng tác, người đã lập tu hội Nữ Tử Bác Ái. Người là gương mẫu hoàn hảo về việc sống đức bác ái như Chúa Kitô dạy, luôn sẵn sàng cứu giúp những người cùng khốn. Người nhận ra khuôn mặt của Chúa Kitô nơi bất cứ ai đang gặp đau khổ. Người qua đời tại Pa-ri năm 1660.
Bài đọc 2
Phải ưu tiên phục vụ người nghèo
Trích bút ký của thánh Vinh-Sơn Phao-lô cho các Nữ tử Bác ái.
Chúng ta không được nhìn một nông dân nghèo hay một phụ nữ nghèo theo dáng vẻ bên ngoài của họ, hay cảm nghĩ của chúng ta về trình độ hiểu biết của những người ấy, nhất là nhiều khi hầu như họ không có bộ mặt và khối óc của những người được ăn học. Nhưng nếu nhìn những người đó dưới ánh sáng của đức tin, chị em sẽ thấy rằng họ là hiện thân của Con Thiên Chúa, Đấng đã muốn là người nghèo, Đấng chẳng còn dáng vẻ của một con người trong cuộc thương khó, Đấng đã bị lương dân coi là điên rồ, bị người Do-Thái coi là cớ vấp phạm; với tất cả những điều đó, Người tự xưng là Đấng loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo: Đức Chúa đã sai tôi đi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn. Chính chúng ta cũng phải cảm nghiệm điều đó, và phải xử sự như Đức Ki-tô là quan tâm đến người nghèo túng, an ủi, giúp đỡ và bảo lãnh cho họ.
Quả thật, Đức Ki-tô đã muốn sinh ra là người nghèo, đã kết nạp những người nghèo làm môn đệ. Người đã trở thành kẻ phục vụ người nghèo, nên đã chia sẻ thân phận của họ; vì thế, bất cứ điều gì tốt hay xấu làm cho kẻ nghèo, Người cũng coi như làm cho chính mình. Khi Thiên Chúa yêu thương những người nghèo túng thì cũng yêu thương cả những ai yêu thương họ, vì khi ai thân thiết với một người nào thì cũng yêu thương cả bạn hữu của người ấy hoặc những kẻ giúp đỡ người ấy. Bởi thế, chúng ta hy vọng, vì người nghèo, Thiên Chúa sẽ thương yêu chúng ta. Vậy khi thăm nom người túng thiếu hay nghèo khổ, chúng ta hãy cố gắng hiểu hoàn cảnh của họ mà thông cảm với họ sao cho tâm hồn chúng ta cũng rung động như thánh Phao-lô tông đồ, khi người nói : Tôi trở nên tất cả cho mọi người. Vì thế, một khi thực sự rung cảm trước những ưu tư và khốn cùng của tha nhân, chúng ta hãy cố gắng nài xin Thiên Chúa tuôn đổ tình lân tuất và lòng xót thương vào tâm hồn chúng ta. Và xin Người giữ mãi cho luôn tràn đầy.
Phải ưu tiên phục vụ người nghèo, không được trì hoãn. Nếu trong giờ nguyện ngắm ban mai, chị em phải đi phát thuốc hay giúp một người nghèo túng nào đó, thì cứ yên tâm mà đi đến với họ, và dâng cho Thiên Chúa việc phải làm như lo nguyện ngắm vậy. Đừng băn khoăn hay mặc cảm là mình có tội vì đã bỏ nguyện ngắm mà giúp người nghèo. Quả thật, Thiên Chúa không bi lơ là nếu vì Thiên Chúa mà người ta tạm rời xa Người, nghĩa là bỏ công việc của Thiên Chúa là cầu nguyện mà làm một công việc khác tương đương.
Vậy khi chị em bỏ đọc kinh cầu nguyện để giúp đỡ người nghèo thì hãy nhớ rằng chị em phục vụ Thiên Chúa. Chắc hẳn đức ái cao trọng hơn bất cứ lề luật nào và tất cả đều phải hướng về đức ái. Vì đức ái là bà chúa tuyệt vời, nên phải chu toàn điều bà truyền dạy. Vậy chúng ta hãy phục vụ người nghèo với một tâm tình đổi mới, và hãy ra sức tìm kiếm những kẻ bị bỏ rơi, vì họ đã được ban cho chúng ta như để làm chủ chúng ta.
Xướng đáp 1 Cr 9,19.22 ; G 29,15-16
X Tôi là một người tự do, không lệ thuộc vào ai, nhưng tôi đã trở thành nô lệ của mọi người. tôi đã trở nên yếu với những người yếu.
* Tôi đã trở nên tất cả để hoà mình với mọi người, hầu cứu được một số người.
Đ Tôi nên mắt cho kẻ mù loà, thành chân cho người què quặt, là cha của người nghèo túng. *
Lời nguyện
Lạy Chúa, Chúa đã ban cho thánh Vinh-sơn Phao-lô linh mục, mọi đức tính xứng bậc tông đồ để thánh nhân phục vụ người cùng khốn và đào tạo hàng giáo sĩ. Xin cho chúng con biết nghe lời người dạy, bắt chước việc người làm mà xả thân vì bác ái. Chúng con cầu xin...
Ngày 28 tháng 9
Thánh Ven-xét-lao, tử đạo
Lễ nhớ
Thánh nhân sinh quãng năm 907 tại Bô-hê-mi (Tiệp). Khoảng năm 925, người được phong công tước. Giữa triều đình, giữa xa hoa, người vẫn giữ nếp sống thật khắc khổ và rất yêu thương người nghèo. Người bị người em ám sát lúc chưa đầy ba mươi tuổi (935). Người sớm được kể vào số các vị tử đạo và là bổn mạng chính của dân Bô-hê-mi.
Bài đọc 2
Vua nào xét xử công mình cho người nghèo thì ngai vàng muôn đời bền vững
Trích truyện cổ tích trong giai đoạn đầu của dân Xi-la-vô-ni-a xưa.
Khi phụ vương là Vơ-ra-tít-lao băng hà, dân Bô-hê-mi tôn thái tử Ven-xét-lao lên làm vua. Nhờ ơn Chúa, vua sống đức tin một cách hoàn hảo. Quả thật, vua làm phúc cho mọi người nghèo, cho kẻ mình trần áo mặc, cho kẻ đói khát có của ăn thức uống, tiếp đón khách lữ hành theo lời Tin Mừng dạy. Người không chịu để cho các bà goá chịu thiệt thòi. Người yêu thương hết mọi người, nghèo cũng như giàu, phục vụ những ai lo việc thờ phượng Chúa và chỉnh trang nhiều nhà thờ.
Nhưng một số lãnh chúa Bô-hê-mi bất mãn đến nói với Bô-lét-lao, bào đệ của vua rằng : “Vua Ven-xét-lao, bào huynh của ngài, cùng với thái hậu và các lãnh chúa theo vua đang âm mưu giết ngài.”
Vua Ven-xét-lao có thói quen đi thăm tất cả các thành phố trong những dịp lễ cung hiến đền thờ, tại những thành phố đó. Một ngày Chúa nhật kia, nhằm lễ thánh Cót-ma và Đa-mi-a-nô, vua vào thành phố do bào đệ Bô-lét-lao cai quản. Lễ xong, vua muốn quay về Pơ-ra-ha. Nhưng với dã tâm phạm tội ác, Bô-lét-lao giữ vua lại mà rằng : “Bào huynh ơi, sao lại bỏ về ?” Sáng hôm sau, người ta kéo chuông nguyện kinh sáng. Vừa nghe tiếng chuông, vua liền nói : “Lạy Chúa, ngợi khen Chúa đã cho con sống đến sáng hôm nay.” Rồi vua đứng lên đi dự kinh sáng.
Lập tức, Bô-lét-lao đón vua ở cửa. Vua Ven-xét-lao nhìn ông và nói : “Bào đệ ơi, hôm qua bào đệ tiếp đón chúng tôi thật chu đáo !” Nhưng ma quỷ rỉ tai Bô-lét-lao, làm cho lòng dạ ông ra xấu xa. Ông tuốt gươm và nói : “Bây giờ đệ muốn chu đáo hơn nữa !” Nói xong ông chém vào đầu vua.
Vua Ven-xét-lao quay lại và nói với ông : “Bào đệ tính làm gì thế ?” Rồi vua túm lấy ông quật ngã xuống đất. Nhưng một cận thần của Bô-lét-lao chạy đến chém vào tay vua Ven-xét-lao. Bị thương ở tay, vua buông người em ra và chạy trốn vào nhà thờ. Nhưng vừa tới cửa, vua bị hai tên gian ác giết tại đó. Một tên khác chạy tới, lấy gươm đâm vào cạnh sườn vua. Vua Ven-xét-lao trút linh hồn ngay lúc đó, miệng thốt lên : “Trong tay Ngài, lạy Chúa, con xin phó thác hồn con.”
Xướng đáp x. Hs 14,6; Tv 91 (92),13,14
X Người công chính vươn lên như bông huệ
* trổ bông trước mặt Chúa đến muôn đời.
Đ Được trồng nơi nhà Chúa, mơn mởn giữa khuôn viên đền thánh Chúa ta. *
Lời nguyện
Lạy Chúa, Chúa đã soi sáng cho thánh tử đạo Ven-xét-lao biết can đảm lựa chọn : thà làm dân Nước Trời hơn làm vua trần thế. Vì lời chuyển cầu của thánh nhân, xin cho chúng con biết từ bỏ chính mình mà hết lòng gắn bó cùng Chúa. Chúng con cầu xin...
Ngày 28 tháng 9
Thánh Lô-ren-xô Ru-y và các bạn, tử đạo
Lễ nhớ
Tiền bán thế kỷ XVII (1633-1637), mười sáu chứng nhân tử đạo, thánh Lô-ren-xô Ru-y và các bạn đã đổ máu đào vì lòng yêu mến Đức Kitô tại Na-ga-xa-ki, Nhật Bản.
Đoàn người vẻ vang này thuộc gia đình Đa Minh, chín linh mục, hai tu sĩ, hai nữ tu và ba giáo dân. Trong số ba giáo dân này, thánh Lô-ren-xô Ru-y, người Phi-lip-pin, là người có gia đình.
Được mời đi loan báo Tin Mừng, tuổi tác và hoàn cảnh khác nhau, tất cả các ngài đều góp phần truyền bá đức tin ở Phi-lip-pin, Đài Loan và Nhật Bản. Các ngài đã nêu cao chứng tá về tính phổ quát của Kitô giáo, và đã đem tất cả cuộc đời để loan báo Tin Mừng. Như thế, các ngài đã gieo những hạt giống sau này nảy nở thành nhiều giáo đoàn.
Bài đọc 2
Các ngài đã đổ máu mình ra mà dâng lên Thiên Chúa hành vi thờ phượng mến yêu cao cả nhất
Trích bài giảng của Đức Giáo hoàng Gio-an Phao-lô II, tai Ma-ni-la trong lễ phong chân phước cho ông Lô-ren-xô Ru-y và các bạn tử đạo.
Theo lời Tin Mừng quả quyết, Đức Ki-tô hứa rằng những chứng nhân trung tín đã nhìn nhận Người trước mặt người đời, thì sẽ được Người nhìn nhận trước mặt Cha trên trời.
Bài thánh thư tôn vinh Thiên Chúa do đông đảo tín hữu giờ đây xướng lên, làm vang động chính bài thánh thi “Lạy Thiên Chúa” mà người ta đã hát lên vào chiều ngày 27 tháng 12 năm 1637, tại nhà thờ thánh Đa-minh, khi có tin từ Na-ga-xa-ki báo về là một nhóm sáu Ki-tô hữu đã được phúc tử đạo. Trong các vị đó có cha An-tôn Gôn-gia-lê, người đứng đầu khu vực truyền giáo, là một tu sĩ người Tây Ban Nha quê ở Lê-on, và ông Lô-ren-xô Ru-y, một gia trưởng sinh tại Ma-ni-la ở khu ngoại ô gọi là Bi-non-đô. Các vị này đã hát lên những bài thánh vịnh ca ngợi Thiên Chúa toàn năng và giàu lòng thương xót, đồng thời đã làm chứng cho Đức Ki-tô một cách oai hùng, khi bị giam cũng như khi chịu cực hình trong suốt ba ngày.
Đức tin đã chiến thắng thế gian. Lời rao giảng đức tin như mặt trời chiếu soi tất cả những ai muốn đạt tới sự nhận biết chân lý. Mặc dù được truyền đạo bằng nhiều ngôn ngữ khác nhau, nhưng truyền thống Ki-tô giáo vẫn là một, và trước sau như một.
Chúa Giêsu đã lấy máu mình mà cứu chuộc các tôi tớ của Người, và quy tụ họ từ mọi chủng tộc, ngôn ngữ, dân nước để lập nên hàng tư tế vương giả cho Thiên Chúa chúng ta.
Khi thi hành chức tư tế do bí tích thánh tẩy hay bí tích truyền chức, mười sáu chân phước tử đạo đã dâng lên Thiên Chúa hành vi thờ phượng mến yêu cao cả nhất, nhờ đổ máu mình ra mà hiệp thông với hy tế của Đức Ki-tô trên bàn thờ thập giá. Như thế, các ngài đã đi theo Đức Ki-tô là tư tế và lễ phẩm và noi gương Người ở mức độ hoàn hảo nhất mà sức loài người có thể đạt được. Đồng thời cuộc tử đạo của các ngài còn là hành vi cao cả nhất biểu lộ tình yêu đối với anh em đồng loại, những người mà chúng ta được kêu mời để hiến mình phục vụ, noi gương Con Thiên Chúa là Đấng đã hiến mình cho ta.
Ông Lô-ren-xô đã làm tất cả những điều đó. Sau một cuộc hành trình đầy nguy hiểm, Chúa Thánh Thần đã đưa ông tới một kết cục bất ngờ : trước các quan toà, ông đã tuyên xưng mình là Ki-tô hữu và sẵn sàng chết cho Thiên Chúa: “Tôi muốn dâng cả ngàn lần đời sống tôi cho Người. Tôi sẽ không bao giờ chối đạo. Nếu muốn, các ông có thể giết tôi. Tôi muốn được chết cho Thiên Chúa.”
Câu nói trên đây là bản tóm lược đời ông, là lời tuyên xưng đức tin, và là lý do khiến ông phải chết. Trong giờ chịu khổ hình, ông gia trưởng trẻ tuổi này đã tuyên xưng và sống trọn vẹn giáo lý Ki-tô giáo mà ông đã hấp thụ tại trường các tu sĩ Đa-minh ở Bi-non-đô, giáo lý mà trung tâm là mầu nhiệm Đức Ki-tô, Đấng đã loan báo và cũng là Đấng nói qua miệng sứ giả của mình.
Lời chứng của ông Lô-ren-xô Lu-y, có cha là người Trung Quốc, và mẹ là người thuộc sắc tộc Ta-ga-la ở Phi-líp-pin, nhắc nhở cho ai nấy rằng cuộc đời của mỗi người chúng ta đều phải quy hướng về Chúa Ki-tô.
Là Ki-tô hữu có nghĩa là tự hiến hằng ngày để đáp lại hiến lễ của Đức Ki-tô, Đấng đã đến trần gian để mọi người được sống và được sống dồi dào.
Xướng đáp x. Ep 4,4.5
X Các thánh tử đạo đã đổ máu đào vì Chúa. Khi sống họ đã yêu mến Đức Ki-tô, khi chết họ đã bắt chước Người
* và đáng hưởng triều thiên vinh hiển.
Đ Họ đồng tâm nhất tri trong cùng một đức tin và một Thần Khí.*
Lời nguyện
Lạy Chúa là Thiên Chúa chúng con, xin ban cho chúng con chí can trường của thánh Lô-ren-xô Ru-y và các bạn, tử đạo, để chúng con có khả năng phụng sự Chúa và phục vụ tha nhân. Nhờ vậy, chúng con sẽ đáng hưởng hạnh phúc Chúa dành cho những ai bị bách hại vì chính đạo. Chúng con cầu xin...
admin
15-07-2011, 04:11 PM
Ngày 29 tháng 9
Các Tổng Lãnh Thiên Thần Mi-ca-en, Gáp-ri-en, Ra-pha-en
Lễ kính
Chúng ta mừng các vị tổng lãnh thiên thần, nhưng đồng thời cũng mừng tất cả các thiên sứ được nhắc tới từ sách Sáng thế cho tới sách Khải huyền. Các vị hiện diện cách vô hình để hướng dẫn dòng lịch sử cứu độ. Tuy các vị là những sứ giả của Chúa, có nhiệm vụ bộc lộ cho con người biết các kế hoạch của Chúa và mang tới lệnh Người truyền, nhưng trước hết các vị là cộng đoàn đông đảo những vị thờ lạy Thiên Chúa hằng sống.
Bài đọc 1 Kh 2,1-17.
Tổng lãnh Thiên thần Mi-ca-e giao chiến với con Mãng xà
Lời Chúa trong sách Khải huyền của thánh Gio-an tông đồ.
1 Rồi có điềm lớn xuất hiện trên trời: một người Phụ Nữ, mình khoác mặt trời, chân đạp mặt trăng, và đầu đội triều thiên mười hai ngôi sao. 2 Bà có thai, đang kêu la đau đớn và quằn quại vì sắp sinh con. 3 Lại có điềm khác xuất hiện trên trời: đó là một Con Mãng Xà, đỏ như lửa, có bảy đầu và mười sừng, trên bảy đầu đều có vương miện. 4 Đuôi nó quét hết một phần ba các ngôi sao trên trời mà quăng xuống đất. Rồi Con Mãng Xà đứng chực sẵn trước mặt người Phụ Nữ sắp sinh con, để khi bà sinh xong là nó nuốt ngay con bà. 5 Bà đã sinh được một người con, một người con trai, người con này sẽ dùng trượng sắt mà chăn dắt muôn dân. Con bà được đưa ngay lên Thiên Chúa, lên tận ngai của Người. 6 Còn người Phụ Nữ thì trốn vào sa mạc ; tại đó Thiên Chúa đã dọn sẵn con bà một chỗ ở, để bà được nuôi dưỡng ở đó, trong vòng một ngàn hai trăm sáu mươi ngày.
7 Bấy giờ, có giao chiến trên trời: thiên thần Mi-ca-en và các thiên thần của người giao chiến với Con Mãng Xà. Con Mãng Xà cùng các thiên thần của nó cũng giao chiến. 8 Nhưng nó không đủ sức thắng được, và cả bọn không còn chỗ trên trời nữa. 9 Con Mãng Xà bị tống ra, đó là Con Rắn xưa, mà người ta gọi là ma quỷ hay Xa-tan, tên chuyên mê hoặc toàn thể thiên hạ; nó bị tống xuống đất, và các thiên thần của nó cũng bị tống xuống với nó. 10 Và tôi nghe có tiếng hô tô trên trời:
“Thiên Chúa chúng ta thờ giờ đây ban ơn cứu độ, giờ đây biểu dương uy lực với vương quyền, và Đức Ki-tô của Người giờ đây cũng biểu dương quyền bính, vì kẻ tố cáo anh em của ta, ngày đêm tố cáo họ trước toà Thiên Chúa, nay bị tống ra ngoài. 11 Họ đã thắng được nó nhờ máu Con Chiên và nhờ lời họ làm chứng về Đức Ki-tô: họ coi thường tính mạng, sẵn sàng chịu chết. 12 Nào thiên quốc cùng chư vị ở chốn thiên đình, hãy vì đó mà mừng vui hoan hỷ ! Khốn cho đất và biển, vì ma quỷ đã xuống với các ngươi, nó giận điên lên vì biết rằng nó chỉ còn một ít thời gian.”
13 Khi Con Mãng Xà thấy mình đã bị tống xuống đất, nó liền đuổi bắt người Phụ Nữ đã sinh con trai. 14 Bà được ban cho đôi cánh đại bàng, để bay vào sa mạc, vào nơi dành cho bà, tại đó bà được nuôi dưỡng một thời, hai thời và nửa thời, ở xa Con Rắn. 15 Từ miệng, Con Rắn phun nước ra đằng sau bà như một dòng sông, để cuốn bà đi. Nhưng đất cứu giúp bà; đất há miệng ra uống cạn dòng sông từ miệng Con Mãng Xà phun ra. Con Mãng Xà nổi giận với người Phụ Nữ và đi giao chiến với những người còn lại trong dòng dõi bà, là những người tuân theo các điều răn của Thiên Chúa và giữ lời chứng của Đức Giê-su.
Xướng đáp x. Kh 12,7.8.10 ; 19,1
X Bấy giờ, cả trời cao thinh lặng: Tổng lãnh thiên thần Mi-ca-en giao chiến với con Mãng Xà.
* Và có tiếng hô to: Thiên Chúa ta thờ là Đấng Cứu Độ, Đấng uy quyền vinh hiển.
Đ Giờ đây Người ban ơn cứu độ, và biểu dương uy lực với vương quyền.*
Bài đọc 2
Các tổng lãnh thiên thần Mi-ca-en, Ra-pha-en và Gáp-ri-en
Trích bài giảng của thánh Ghê-gô-ri-ô Cả, giáo hoàng, về Tin Mừng.
Nên biết rằng “thiên sứ” là danh từ chỉ chức vụ chứ không chỉ bản tính, bởi các thánh thiên thần ở trên trời bao giờ cũng là thiên thần, nhưng không phải bao giờ cũng được gọi là “thiên sứ”. Các vị ấy chỉ là “thiên sứ” khi được sai đi loan báo một điều gì thôi. Các vị loan báo điều nhỏ thì gọi là “thiên sứ”, còn vị nào loan báo điều gì lớn thì gọi là “Tổng lãnh thiên sứ”.
Quả thế, không phải bất cứ “thiên sứ” nào cũng được sai đến với Đức Trinh Nữ Ma-ri-a, mà phải là tổng lãnh thiên sứ Gáp-ri-en, vì một thiên sứ cao cả đến loan báo một việc hệ trọng thì thật là chính đáng. Người ta cũng biết đến một số vị nhờ các tên riêng, để thấy được công việc của các ngài qua những danh xưng đó. Trong thành thánh trên trời, nơi tri thức đạt tới mức hoàn hảo nhờ ơn hưởng kiến Thiên Chúa toàn năng thì không cần có tên riêng, vì đâu phải không có tên mà ngôi vị các ngài không được biết đến. Nhưng chỉ khi nào đến với chúng ta để thi hành một tác vụ, thì ở giữa chúng ta các ngài mới mang tên gọi liên quan đến tác vụ đó. Vì thế, Mi-ca-en có nghĩa là “Ai bằng Thiên Chúa”, Gáp-ri-en có nghĩa là “Sức mạnh của Thiên Chúa” và Ra-pha-en có nghĩa là “Linh dược của Thiên Chúa”.
Mỗi khi cần đến sức mạnh diệu kỳ, thì đức Mi-ca-en được phái tới, để nhờ hành động và danh hiệu của người, chúng ta hiểu được rằng không ai làm nổi việc mà chỉ có Thiên Chúa mới làm được. Bởi vậy, vì kiêu ngạo, kẻ cựu thù kia đã muốn nên giống Thiên Chúa, khi dám nói : “Ta sẽ lên trời, ta sẽ dựng ngai ta trên cả các vì sao của Thiên Chúa … ta sẽ nên như Đấng Tối Cao.” Trong ngày tận thế, lúc còn được thi thố sức mạnh của mình, trước khi chịu khổ hình đời đời kiếp kiếp, nó sẽ giao chiến với tổng lãnh thiên sứ Mi-ca-en, như lời thánh Gio-an nói : Có cuộc giao chiến với tổng lãnh thiên sứ Mi-ca-en.
Cũng thế, thiên sứ Gáp-ri-en mệnh danh là “sức mạnh của Thiên Chúa” được sai đến với Đức Ma-ri-a làm sứ giả loan báo Đấng đoái thương xuất hiện như một kẻ hèn mọn để chiến đấu chống với những quyền lực trên không. Vậy phải nhờ “sức mạnh của Thiên Chúa” mà loan báo Đấng là Đức Chúa nắm giữ quyền lực và oai hùng khi xuất trận sắp ngự đến.
Như đã nói, thiên sứ Ra-pha-en cũng được giải nghĩa là “linh dược của Thiên Chúa”, vì khi người chạm tới đôi mắt của ông Tô-bi-a như làm công việc chữa bệnh, thì người xua tan bóng tối là sự mù loà. Vậy, gọi đấng được sai đến để chữa lành là “linh dược của Thiên Chúa” thì thật là đích đáng.
Xướng đáp x. Kh 8,3.4 ; Đn 7,10
X Một thiên thần đến đứng trước bàn thờ, tay cầm bình hương vàng có nhiều hương thơm.
* Từ tay thiên thần, khói hương quyện theo lời cầu nguyện của các thánh bay lên trước nhan Thiên Chúa.
Đ Ngàn ngàn hầu hạ Chúa, vạn vạn túc trực trước Thánh Nhan.*
Thánh Thi “Lạy Thiên Chúa”
Lời nguyện
Lạy Chúa là Đấng thượng trí vô song, Chúa đã muốn cho thiên thần và người thế cộng tác vào chương trình cứu độ. Xin cho các thiên thần đang phục vụ Chúa trên trời cũng luôn luôn phù hộ chúng con ở dưới đất. Chúng con cầu xin…
Ngày 30 tháng 9
Thánh Giê-rô-ni-mô, linh mục, tiến sĩ Hội Thánh
Lễ nhớ
Thánh nhân sinh quãng năm 340 tại Xơ-tri-đôn, Đan-ma-xi-a. Người sang Rô-ma học văn chương và đã lãnh bí tích thánh tẩy tại đó. Người sang Đông Phương và làm linh mục. Trở lại Rô-ma, người làm thư ký cho Đức Giáo hoàng Đa-ma-xô. Thời gian này, người bắt đầu dịch Sách Thánh ra tiếng La-tinh và cổ võ nếp sống đan tu. Nhưng nhất là người đã sống ba mươi lăm năm cuối đời ở Bê-lem, gần cái hang nơi Đức Giê-su ra đời. Ở đây, người cầu nguyện hãm mình, chăm chỉ nghiên cứu, dịch và chú giải Kinh Thánh. Người qua đời ở Bê-lem năm 420.
Bài đọc 2
Không biết Kinh Thánh là không biết Đức Ki-tô
Trích lời tựa sách chú giải ngôn sứ I-sai-a của thánh Giê-rô-ni-mô, linh mục.
Vâng lệnh Đức Ki-tô truyền : Hãy nghiên cứu Kinh Thánh và cứ tìm thì sẽ thấy, giờ đây tôi trả món nợ tôi mắc, kẻo phải cùng với người Do Thái nghe lời sau đây : Các ông lầm vì không biết Kinh Thánh cũng chẳng biết quyền năng Thiên Chúa. Quả vậy, nếu Đức Ki-tô là quyền năng và là sự khôn ngoan của Thiên Chúa như thánh Phao-lô tông đồ nói, thì ai không biết Kinh Thánh là không biết Đức Ki-tô.
Bởi thế, tôi sẽ bắt chước chủ nhà kia lấy ra từ kho tàng của mình cả cái mới lẫn cái cũ và bắt chước vị hôn thê nói trong sách Diễm Ca : Từ đầu mùa cho đến cuối mùa, em dành hết cho anh, hỡi người em yêu dấu. Vậy tôi trình bày sách I-sai-a để cho thấy tác giả không chỉ là ngôn sứ nhưng còn là người loan báo tin mừng và là tông đồ nữa. Quả thật, chính ông đã nói về mình và về các sứ giả khác cũng loan báo tin mừng : Đẹp thay bước chân người loan báo tin mừng, công bố bình an. Thiên Chúa cũng nói với ông như một vị tông đồ : Ta sẽ sai ai đây ? Ai sẽ đi đến với dân này ? Và ông thưa : Dạ, con đây, xin sai con đi.
Xin đừng ai nghĩ rằng tôi muốn tóm gọn nội dung cuốn sách này trong một bài giảng ngắn, vì cuốn Sách Thánh này chứa toàn bộ những điều bí nhiệm về Chúa. Sách tiên báo Đấng Em-ma-nu-en sinh bởi Đức Trinh Nữ, Đấng làm được những việc lẫy lừng và những dấu lạ, Đấng đã chết, được mai táng và đã từ âm phủ chỗi dậy : Người là Đấng cứu độ muôn dân. Tôi nói gì được về môn vật lý, luân lý và luận lý ? Tất cả những gì thuộc Sách Thánh, những gì miệng con người có thể nói ra, giác quan có thể cảm nhận, đều được chứa trong sách ấy. Về những mầu nhiệm trong sách đó, thì chính tác giả làm chứng như sau : Đối với các ngươi, thị kiến toàn là những lời ghi trong sách niêm phong. Người ta trao sách cho kẻ biết đọc và bảo : “Đọc đi !” Nhưng hắn nói : “Đọc sao được ? Sách đã niêm phong rồi !” Lại đưa sách cho kẻ không biết đọc và bảo : “Đọc đi !” Hắn liền bảo : “Tôi nào đâu biết chữ !”
Nếu ai thấy điều nói trên là chưa đủ thì hãy nghe thánh Phao-lô tông đồ nói : Về các ngôn sứ, chỉ nên có hai hay ba người lên tiếng thôi, còn những người khác thì phân định. Nếu có ai ngồi đó được ơn mặc khải, thì người đang nói phải im đi. Vì lý do gì họ có thể im được, bởi lẽ nói hay im là việc của Thánh Thần nói qua các ngôn sứ ? Vậy, nếu họ hiểu được những gì họ nói, thì tất cả những điều đó là khôn ngoan và hợp lý ; không phải là tiếng nói chuyển qua không khí đập vào tai họ, nhưng là tiếng Thiên Chúa nói trong tâm hồn các ngôn sứ, theo lời một ngôn sứ khác như sau : Thần sứ đang nói với tôi, và Chúng ta được kêu lên trong lòng : “Áp-ba, Cha ơi” lại nữa : Tôi lắng nghe điều Thiên Chúa phán.
Xướng đáp x. 2 Tm 3,16-17 ; Cn 28,7
X Tất cả những gì viết trong Sách Thánh đều do Thiên Chúa linh hứng, và có ích cho việc giảng dạy, giáo dục để trở nên công chính.
* Nhờ vậy, người của Thiên Chúa nên thập toàn, và được trang bị đầy đủ để làm mọi việc lành.
Đ Ai tuân giữ lề luật ấy là đứa con khôn.*
Lời nguyện
Lạy Chúa, Chúa đã ban cho thánh linh mục Giê-rô-ni-mô trí thông hiểu và lòng yêu mến Kinh Thánh. Xin cho chúng con hằng thiết tha tìm đến lời Chúa là nguồn mạch ban sức sống dồi dào. Chúng con cầu xin...
vBulletin v3.5.2, Copyright ©2000-2012, Jelsoft Enterprises Ltd.