admin
30-11-2006, 12:04 PM
TRUYỀN GIÁO TÂY NGUYÊN Nhân chuyến viếng thăm của Đoàn HĐGM Pháp đến Giáo phận Kontum (2-3.12.2006)
Nhìn lại một chặng đường
Thành quả của việc truyền giáo tại Tây Nguyên tính cho đến nay phải nói rằng rất tốt đẹp. Sau mốc lịch sử 1848 gắn liền với tên tuổi của thầy sáu Do làm công việc thăm dò đường xá từ Gò Thị (Quy Nhơn) lên làng Kon Rơhai nằm trên thung lũng sông Dak Bla (Kontum), và cùng với thầy sáu Do (Linh mục 1853), nhiều vị thừa sai nước ngoài đã lên đây để loan báo Tin Mừng cho đồng bào dân tộc thiểu số. Họ sẽ còn mãi mãi ghi nhớ công lao của những linh mục thừa sai thế hệ đầu tiên như J.P. Combes, Marie Fontaine, Pierre Dourisboures, B. Desgouts, J. Verdier … đến những thừa sai gần đây trước 1975 như Giám mục Paul Seitz, các linh mục Alphonse Desroches, Paul Renaud, Charles Arnoux …
Trong quyển Lịch công giáo giáo phận Kontum, trong số 120 linh mục phục vụ tại giáo phận Kontum nay đã qua đời từ thế kỷ XIX đến nay (không kể tại giáo phận Đà Lạt và Buôn Ma Thuột) thì số thừa sai là 70. Có thể nói, công lao khai phá ấy là rõ ràng, không ai có thể phủ nhận (1).
Trong số những linh mục thừa sai đó, một linh mục phục vụ tại đây lâu năm và là một học giả lỗi lạc có tầm cỡ quốc tế là linh mục Jacques Dournes, một nhà nhân chủng học, nhà ngữ học và một nhà văn hoá lỗi lạc vẫn còn để lại những cảm tình tốt đẹp và những dấu ấn sâu sắc trong tâm hồn dân tôc Jrai tại mảnh đất thân yêu Ayun Pa ngày nay (2 và 3).
Nối tiếp những công lao của các thừa sai nước ngoài, cũng không thể kể hết nhiều thế hệ linh mục Việt Nam cũng xả thân không kém và nằm xuống ngay chính nơi mình phục vụ suốt đời trên chính mảnh đất Tây Nguyên này (4).
Chưa có con số thống kê chính xác về số giáo dân dân tộc thiểu số nhưng con số giáo dân của toàn giáo phận Kontum là 70.000 (1975). Hiện nay đã lên đến trên 200.000, nghĩa là đã gấp 3 lần trong 30 năm (2005). Riêng tại giáo hạt Pleiku, theo con số thống kê gần đây, thì hiện nay đã đạt được 111.928 trên tổng số dân của tỉnh Gia Lai là 1.121.975, trong đó số giáo dân dân tộc thiểu số là 53.854, chiếm tỷ lệ giáo dân Công giáo là 10,08% (5).
Tại giáo phận Buôn Ma Thuột, việc truyền giáo trong thời gian đầu đã không mấy thành công, dù cho không phải là không có sự quan tâm. Ngay từ năm 1846, hai thừa sai người Việt đã đến Buôn Đôn, vùng Buôn Ma Thuột để mở mang việc truyền giáo nơi người Êđê và M’nông. Nhưng các hoạt động ở khu vực này bị hạn chế do nhiều nguyên nhân: hệ thống giao thông từ Buôn Ma Thuột đi đến các buôn làng Thượng chưa được phát triển, phản ứng của các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên chưa thuận lợi, chưa đủ các nhà truyền giáo để đảm nhiệm các công việc, viên chức Pháp ở vùng Buôn Ma Thuột cũng gây khó khăn cho các thừa sai Pháp ở Tây Nguyên (6).
Tại giáo phận Đà Lạt, việc truyền giáo diễn ra muộn hơn vì vùng đất này mới chỉ biết đến vào năm 1898 với chuyến đi của Bác sĩ Yersin. Năm 1917, cha Nicolas Couvreur, quản lý Hội Linh mục Thừa sai tại Viễn Đông đã đến Đà Lạt, mục đích để tìm nơi an dưỡng cho các giáo sĩ. Cha đã cho xây một Dưỡng viện Giáo đồ (Sanatorium - Presbytère), nay là một phần Nhà xứ Chính toà Đà Lạt. Đến năm 1918, Đức cha Lucien Mossard Mão, Giám quản Tông toà tại Sài Gòn, đã đặt chân lên Đà Lạt và có lẽ chính ngài là người đã khai sáng con đường truyền giáo ở phần đất Đà Lạt ngày nay, mở đường cho biết bao thế hệ thừa sai đến rao giảng Tin Mừng tại vùng cao nguyên này. Năm 1907, do nhu cầu mục vụ và phục vụ, cả vùng đất Bình Thuận và Lâm Đồng, Đà Lạt (giáo xứ: Đà Lạt và Di Linh) còn thuộc chung một giáo hạt Phan Thiết, được sáp nhập vào miền Nam Kỳ Lục Tỉnh, thuộc giáo phận Tây Đàng Trong (Sài Gòn, 1924). Năm 1920, giáo xứ Đà Lạt được thành lập, cha Frédéric Sidot được cử làm cha xứ đầu tiên; đến năm 1927, lập thêm giáo xứ Di Linh do cha Jean Cassaigne Sanh coi sóc (7).
Từ năm 1955-1973, Đà Lạt phát triển mạnh về đào tạo: viện Đại học Công giáo, Giáo hoàng Học viện Thánh Piô X, Đại chủng viện Minh Hoà, nhiều dòng tu nam nữ, nhiều trung tâm truyền giáo cho người sắc tộc được thiết lập. Đến năm 1970, số giáo dân lên gần 100.000, trong đó có 7.142 giáo dân sắc tộc, 12 trung tâm, 52 địa điểm truyền giáo. Đảm trách việc truyền giáo có: 8 cha thừa sai Paris, 7 cha dòng Chúa Cứu Thế, 6 linh mục Việt và nhiều nam nữ tu sĩ và giáo dân (6) .
Một điểm khác biệt cũng đáng chú ý là trước năm 1975, tại giáo phận Kontum, việc truyền giáo cho đồng bào dân tộc thiểu số phần lớn nằm trong tay các vị thừa sai nước ngoài nhưng tại giáo phận Đà lạt, cả linh mục người kinh lẫn linh mục người Việt đều cùng đảm đương nhiệm vụ này từ năm 1958 (8).
Có những linh mục người Kinh tình nguyện chăm sóc đồng bào dân tộc thiểu số liên tục trong một thời gian dài, có khi suốt cả đời người. Phải nói dó là những tấm gương sáng ngời đáng để cho mọi người suy gẫm (9).
Sau 30.4.1975, các linh mục thừa sai nước ngoài lần lượt về nước. Gánh nặng lúc này lại hoàn toàn đè nặng trên vai các giám mục và linh mục tu sĩ người Việt Nam. Tuy nhiên, không phải vì thế mà công việc truyền giáo lơi lỏng. Đơn cử như tại giáo hạt Pleiku, hiện nay trong số 15 huyện thị và thành phố, không nơi nào không có giáo dân mà trước đây, nhiều huyện không có giáo dân dân tộc thiểu số. Theo con số thống kê gần đây, những trung tâm truyền giáo do các linh mục Dòng Chúa Cứu Thế phụ trách đã lan tới tận vùng sâu vùng xa với số làng tăng lên rất nhiều. Trung tâm Truyền giáo Plei Chuet phụ trách giáo dân sống rải rác 93 làng với 16 giáo điểm (nơi các cha có thể đến làm lễ), Trung tâm Truyền giáo Pleikly 79 làng với 19 giáo điểm và nhiều nhất là Trung tâm Truyền giáo Cheo Reo -Tơlui (huyện Ayun Pa, Gia Lai) với số giáo dân sống rải rác 120 làng với 19 giáo điểm.
Cùng với sự phát triển đó, con số nhà thờ được xây dựng không những chỉ trong thành phố thị xã, mà còn đang phát triển đến cả vùng sâu vùng xa nơi mà giáo dân chỉ là đồng bào dân tộc. Nhiều nhà thờ cũ được xây dựng lại, thêm nhiều nhà thờ mới được xây dựng hiện đại khang trang và đẹp đẽ. Có nhà thờ xây dựng đúng y như một cái nhà rông theo phong cách dân tộc Tây Nguyên trông rất hoành tráng và uy nghi, nội bật lên nền trời ấm áp và trong xanh của một vùng miền núi (10).
Ngoài những nhà thờ mới được xây dựng trên những nền cũ có sẵn từ trước 1975, có những nhà thờ ra đời rất đặc biệt. Thí dụ trong thị trấn Chư Prông, trước 1975 không có nhà thờ. Cách đây vài năm, một nhà thờ đã mọc lên tuy chỉ là nhà thờ tạm nhưng đã nói lên một tinh thần “Vì Chúa” của giáo dân nơi đây (11).
xem tiếp (http://hdgmvietnam.org/demo/TinTucDetail.aspx?NewsPK=71)
Nhìn lại một chặng đường
Thành quả của việc truyền giáo tại Tây Nguyên tính cho đến nay phải nói rằng rất tốt đẹp. Sau mốc lịch sử 1848 gắn liền với tên tuổi của thầy sáu Do làm công việc thăm dò đường xá từ Gò Thị (Quy Nhơn) lên làng Kon Rơhai nằm trên thung lũng sông Dak Bla (Kontum), và cùng với thầy sáu Do (Linh mục 1853), nhiều vị thừa sai nước ngoài đã lên đây để loan báo Tin Mừng cho đồng bào dân tộc thiểu số. Họ sẽ còn mãi mãi ghi nhớ công lao của những linh mục thừa sai thế hệ đầu tiên như J.P. Combes, Marie Fontaine, Pierre Dourisboures, B. Desgouts, J. Verdier … đến những thừa sai gần đây trước 1975 như Giám mục Paul Seitz, các linh mục Alphonse Desroches, Paul Renaud, Charles Arnoux …
Trong quyển Lịch công giáo giáo phận Kontum, trong số 120 linh mục phục vụ tại giáo phận Kontum nay đã qua đời từ thế kỷ XIX đến nay (không kể tại giáo phận Đà Lạt và Buôn Ma Thuột) thì số thừa sai là 70. Có thể nói, công lao khai phá ấy là rõ ràng, không ai có thể phủ nhận (1).
Trong số những linh mục thừa sai đó, một linh mục phục vụ tại đây lâu năm và là một học giả lỗi lạc có tầm cỡ quốc tế là linh mục Jacques Dournes, một nhà nhân chủng học, nhà ngữ học và một nhà văn hoá lỗi lạc vẫn còn để lại những cảm tình tốt đẹp và những dấu ấn sâu sắc trong tâm hồn dân tôc Jrai tại mảnh đất thân yêu Ayun Pa ngày nay (2 và 3).
Nối tiếp những công lao của các thừa sai nước ngoài, cũng không thể kể hết nhiều thế hệ linh mục Việt Nam cũng xả thân không kém và nằm xuống ngay chính nơi mình phục vụ suốt đời trên chính mảnh đất Tây Nguyên này (4).
Chưa có con số thống kê chính xác về số giáo dân dân tộc thiểu số nhưng con số giáo dân của toàn giáo phận Kontum là 70.000 (1975). Hiện nay đã lên đến trên 200.000, nghĩa là đã gấp 3 lần trong 30 năm (2005). Riêng tại giáo hạt Pleiku, theo con số thống kê gần đây, thì hiện nay đã đạt được 111.928 trên tổng số dân của tỉnh Gia Lai là 1.121.975, trong đó số giáo dân dân tộc thiểu số là 53.854, chiếm tỷ lệ giáo dân Công giáo là 10,08% (5).
Tại giáo phận Buôn Ma Thuột, việc truyền giáo trong thời gian đầu đã không mấy thành công, dù cho không phải là không có sự quan tâm. Ngay từ năm 1846, hai thừa sai người Việt đã đến Buôn Đôn, vùng Buôn Ma Thuột để mở mang việc truyền giáo nơi người Êđê và M’nông. Nhưng các hoạt động ở khu vực này bị hạn chế do nhiều nguyên nhân: hệ thống giao thông từ Buôn Ma Thuột đi đến các buôn làng Thượng chưa được phát triển, phản ứng của các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên chưa thuận lợi, chưa đủ các nhà truyền giáo để đảm nhiệm các công việc, viên chức Pháp ở vùng Buôn Ma Thuột cũng gây khó khăn cho các thừa sai Pháp ở Tây Nguyên (6).
Tại giáo phận Đà Lạt, việc truyền giáo diễn ra muộn hơn vì vùng đất này mới chỉ biết đến vào năm 1898 với chuyến đi của Bác sĩ Yersin. Năm 1917, cha Nicolas Couvreur, quản lý Hội Linh mục Thừa sai tại Viễn Đông đã đến Đà Lạt, mục đích để tìm nơi an dưỡng cho các giáo sĩ. Cha đã cho xây một Dưỡng viện Giáo đồ (Sanatorium - Presbytère), nay là một phần Nhà xứ Chính toà Đà Lạt. Đến năm 1918, Đức cha Lucien Mossard Mão, Giám quản Tông toà tại Sài Gòn, đã đặt chân lên Đà Lạt và có lẽ chính ngài là người đã khai sáng con đường truyền giáo ở phần đất Đà Lạt ngày nay, mở đường cho biết bao thế hệ thừa sai đến rao giảng Tin Mừng tại vùng cao nguyên này. Năm 1907, do nhu cầu mục vụ và phục vụ, cả vùng đất Bình Thuận và Lâm Đồng, Đà Lạt (giáo xứ: Đà Lạt và Di Linh) còn thuộc chung một giáo hạt Phan Thiết, được sáp nhập vào miền Nam Kỳ Lục Tỉnh, thuộc giáo phận Tây Đàng Trong (Sài Gòn, 1924). Năm 1920, giáo xứ Đà Lạt được thành lập, cha Frédéric Sidot được cử làm cha xứ đầu tiên; đến năm 1927, lập thêm giáo xứ Di Linh do cha Jean Cassaigne Sanh coi sóc (7).
Từ năm 1955-1973, Đà Lạt phát triển mạnh về đào tạo: viện Đại học Công giáo, Giáo hoàng Học viện Thánh Piô X, Đại chủng viện Minh Hoà, nhiều dòng tu nam nữ, nhiều trung tâm truyền giáo cho người sắc tộc được thiết lập. Đến năm 1970, số giáo dân lên gần 100.000, trong đó có 7.142 giáo dân sắc tộc, 12 trung tâm, 52 địa điểm truyền giáo. Đảm trách việc truyền giáo có: 8 cha thừa sai Paris, 7 cha dòng Chúa Cứu Thế, 6 linh mục Việt và nhiều nam nữ tu sĩ và giáo dân (6) .
Một điểm khác biệt cũng đáng chú ý là trước năm 1975, tại giáo phận Kontum, việc truyền giáo cho đồng bào dân tộc thiểu số phần lớn nằm trong tay các vị thừa sai nước ngoài nhưng tại giáo phận Đà lạt, cả linh mục người kinh lẫn linh mục người Việt đều cùng đảm đương nhiệm vụ này từ năm 1958 (8).
Có những linh mục người Kinh tình nguyện chăm sóc đồng bào dân tộc thiểu số liên tục trong một thời gian dài, có khi suốt cả đời người. Phải nói dó là những tấm gương sáng ngời đáng để cho mọi người suy gẫm (9).
Sau 30.4.1975, các linh mục thừa sai nước ngoài lần lượt về nước. Gánh nặng lúc này lại hoàn toàn đè nặng trên vai các giám mục và linh mục tu sĩ người Việt Nam. Tuy nhiên, không phải vì thế mà công việc truyền giáo lơi lỏng. Đơn cử như tại giáo hạt Pleiku, hiện nay trong số 15 huyện thị và thành phố, không nơi nào không có giáo dân mà trước đây, nhiều huyện không có giáo dân dân tộc thiểu số. Theo con số thống kê gần đây, những trung tâm truyền giáo do các linh mục Dòng Chúa Cứu Thế phụ trách đã lan tới tận vùng sâu vùng xa với số làng tăng lên rất nhiều. Trung tâm Truyền giáo Plei Chuet phụ trách giáo dân sống rải rác 93 làng với 16 giáo điểm (nơi các cha có thể đến làm lễ), Trung tâm Truyền giáo Pleikly 79 làng với 19 giáo điểm và nhiều nhất là Trung tâm Truyền giáo Cheo Reo -Tơlui (huyện Ayun Pa, Gia Lai) với số giáo dân sống rải rác 120 làng với 19 giáo điểm.
Cùng với sự phát triển đó, con số nhà thờ được xây dựng không những chỉ trong thành phố thị xã, mà còn đang phát triển đến cả vùng sâu vùng xa nơi mà giáo dân chỉ là đồng bào dân tộc. Nhiều nhà thờ cũ được xây dựng lại, thêm nhiều nhà thờ mới được xây dựng hiện đại khang trang và đẹp đẽ. Có nhà thờ xây dựng đúng y như một cái nhà rông theo phong cách dân tộc Tây Nguyên trông rất hoành tráng và uy nghi, nội bật lên nền trời ấm áp và trong xanh của một vùng miền núi (10).
Ngoài những nhà thờ mới được xây dựng trên những nền cũ có sẵn từ trước 1975, có những nhà thờ ra đời rất đặc biệt. Thí dụ trong thị trấn Chư Prông, trước 1975 không có nhà thờ. Cách đây vài năm, một nhà thờ đã mọc lên tuy chỉ là nhà thờ tạm nhưng đã nói lên một tinh thần “Vì Chúa” của giáo dân nơi đây (11).
xem tiếp (http://hdgmvietnam.org/demo/TinTucDetail.aspx?NewsPK=71)