PDA

View Full Version : Các Giáo Hội Kitô giáo vùng Cận Đông và Trung Đông


admin
30-11-2006, 06:26 PM
VIỆN NGHIÊN-CỨU CHÂU ÂU

VỀ CỘNG-TÁC ĐỊA-TRUNG-HẢI và CHÂU ÂU – Ả RẬP.


CÁC GIÁO-HỘI KITÔ-GIÁO


VÙNG CẬN ĐÔNG và TRUNG-ĐÔNG.
Thoạt nghe các từ Cận Đông”, ”Trung Đông”, chúng ta liên tưởng ngay đến Hồi giáo và Do-Thái-giáo là 2 tôn-giáo chiếm lĩnh đất đai vùng dầu hoả nầy, mặc dù
Thánh Địa vốn luôn trong tư thế tranh chấp, cũng nằm trong vùng đất nầy. NHƯNG chúng ta sẽ ngạc nhiên, khi biết rằng có rất nhiều Giáo Hội Kitô-giáo đã xuất phát và đang phát triển trong vùng nầy. Trong những ngày Đức Thánh Cha Biển-Đức XVI công du Thổ-Nhĩ-Kỳ, tuy là quốc gia đang làm đủ cách để được gia nhập Liên minh Châu Âu, nhưng ở quốc gia nầy, Kitô-giáo Chính Thống cũng chỉ là thiểu số. Xin giới thiệu bài của Viện Nghiên Cứu Châu Âu.
Nếu Kitô-giáo phát xuất từ Trung-Đông, ngày nay đó là một tôn-giáo thiểu số trong đất Hồi-giáo (14 triệu Kitô-hữu ở Cận Đông). Sự đa dạng các giáo hội phương đông có nguồn gốc từ các cuộc bút chiến thần học (Công đồng Ephêsô 431;Công đồng Calcêđônia 451), nhưng cũng cả từ các xung đột chính trị đã đặt đối đầu các thành phố lớn của Kitô-giáo ở thế kỷ thứ 5 (Roma, Alexandria, Atiôkia, Constantinople) .
I. CÁC GIÁO HỘI CHÍNH-THỐNG.
Giáo Hội Chính Thống Copte tượng trưng cho gần như toàn bộ các Kitô-hữu Ai cập. Từ chỗ chiếm 90% dân số vào năm 451, các Kitô-hữu Ai Cập nay chỉ còn khoảng 10%. Một cộng đoàn Copte hiện hữu ở Mỹ, Uc, Châu Au, cũng như trong các quốc gia Vùng Vịnh. Đó là một hiện-tượng mới gắn liền với sự đi lên của người Hồi giáo và với các khó khăn kinh tế.
+ Đức Giáo Hoàng ở (Tòa Thượng Phụ: Cairô, Ai Cập): SHENOUDA III
+ Tổng số : 8 – 11 triệu.
Giáo Hội Chính Thống Hy-Lạp, còn được gọi là Melkite (để không lẫn lộn với Giáo Hội Công giáo Hy lạp Melkite) quy tụ các Kitô-hữu của các Toà Thượng Phụ Antiôkia, Alexandria và Jérusalem trung thành với Công Đồng Calcêđônia 451. Họ hình thành đa số Kitô-hữu ở Jordanie và ở Syrie, cũng như các Kitô hữu không Công giáo ở Thổ Nhĩ Kỳ, ở Liban, ở Israel và trong các vùng đất Palestine.
+ Đức Thượng Phục Alexandria và Toàn Châu Phi (Toà Thượng phụ : Alexandria, Ai Cập): PARTHÉNOS III. + Tổng số : 25. 000
Ghi chú: Toà Thượng Phụ Ethiophia lệ thuộc toà thượng phụ Alexandria, tượng trưng 18 triệu tín hữu và đã cắt đứt liên hệ thần thuộc vào năm 1959
+ Thượng phụ Chính Thống Hy Lạp ở Jérusalem (Toà Thượng phụ Jérusalem): IODOROS I
+ Tổng số : 100. 000 (Palestine và Jordanie)
+ Thượng phụ Chính thống Hy-Lạp ở Antiôkia và Toàn Phương Đông (Toà thượng phụ: Damas, Syrie): IGNACE IV HAZIM.
+ Tổng số : 1. 200. 000 (Liban, Syrie, Iraq, Mỹ, Canada, Úc).
Phải cộng thêm khoảng 6 triệu tín hữu Chính Thống Hy Lạp có nguồn gốc các quốc gia Ả Rập sống trong các cộng đoàn xa xứ (Mỹ, Canada, Úc, Châu Âu) vào con số các tín hữu của 3 toà thượng phụ nầy và Toà thượng phụ Ethiôpia.
Giáo Hội Syria hay Chính Thống Syria (còn được gọi là Chính thống Tây phương Syria, monophysite hoặc jacobite), quy tụ tín hữu các toà thượng phụ ở Antiôkia và Jérusalem gạt bỏ các quyết định của Công Đồng Calcêđônia 451. Ngày nay nó tượng trưng 17% trong số 70% tín hữu không Công-giáo ở Syria và đặc trưng bởi sự lưu giữ các nghi thức Syria (tiếng Syria vẫn là ngôn gnữ phụng vụ) trái với những tín hữu Melkites Pgương Đông hoá. Trong thời Đệ Nhất Thế Chiến, các tìn hữu chính thống Syria ở Thổ-Nhĩ-Kỳ Đông phương, cũng như những người Arménie và Chalđê-Assyri, trở thành nạn nhân các cuộc bách hại
+ Thượng phụ Chính Thống Syrie ở Antiôkia và Toàn Phương đông (Toà Thượng phụ : Damas, Syrie) : MAR IGNACE ZAKKA Ier IWAS
+ Tổng số : 340. 000 trong đó có 140. 000 sống trong các cộng đoàn xa xứ (Mỹ, Châu Au, Canad).
Giáo Hội Assyria hoặc Giáo Hội Phương Đông hay là Giáo Hội Chalđê-Assyri hoặc Syrie Phương Đông hay còn gọi là Nestorius, bác bỏ Công Đồng Ephêsô 431, vốn rút phép thông công Nestorius. Nó hình thành dần dà thành Giáo Hội độc lập và truềyn bá mạnh mẽ ở Trung Á, Trung Quốc, Tây Tạng và An Độ.
Những người Assyri trở thành nạn nhân những cuộc tàn sát năm 1917 trong các Tỉnh Đông của Thổ Nhĩ Kỳ, nơi đó họ sống thành thiểu số từ thế kỷ XIV. Đa sớ trốn sang Iraq, ở đó họ lại bị bách hại vào năm 1933.
+ Thượng phụ Giáo Hợi Assyri (Toà thượng phụ: Téhéran, Iran): MAR DENKHA IV
+ Tổng số : 200. 000 trong đó có 10. 000 ở Mỹ.
Cuối cùng, TU VIỆN THÁNH CATARINA ở Núi Sinai được xây dựng từ thời byzantin ở nơi được cho là chổ Ong Mosê nhận các bia Luật, được xem từ năm 1575 như là một Giáo Hội Chính Thống Tự Trị. Viện Phụ do các tu sĩ chọn được đặt làm tổng giám mục do Thượng Phụ Jérusalem. Một vài gia tộc du mục ở Núi Sinai cũng thuộc về tu viện.
+ Viện phụ Tu Viện Thánh Nữ Catarina, Tổng Giám Mục Sinai, Pharan và Raitho (Ngai toà : Cairô, Ai Cập): TGM DAMIANOS.
+ Tổng số: 900 (trong đó khoảng 3o tu sĩ).

admin
30-11-2006, 06:26 PM
II. CÁC GIÁO HỘI CÔNG GIÁO.
Các Kitô-hữu gắn bó với Giáo Hội La Mã và với Đi71c Giáo Hoàng là thiểu số ở Phương Đông so với các Giáo Hội Chính Thống, ngoại trừ ở Liban (tín hữu maronite chiếm 70 % Kitô hữu) và ở Iraq (80% các Kitô hữu).
Các tín hữu Maronite phân tán chủ yếu ở Liban với một cộng đoàn rất quan trọng chiếm gần phân nửa con số các tín hữu. Được tạo Syrie nhỏ ngụ trong các núi rừng Liban vào thế kỷ thứ V, để tránh sự thù địch của những người moniphysites. Các cuộc Thập Tự Chinh cho phép các tín hữu Maronites đóng ấn sự kết hợp của họ với Roma. Vào năm 1860, trong những cuộc tàn sát tín hữu Maronites, những tín hữu nầy kêu cứu Đức Giáo Hoàng để xin can thiệp, nhưng chính nước Pháp đáp lời và buộc Đế Quốc Ottoman phải nhìn nhận nền tự trị của quốc gia. Hệ thống chính trị thuộc tuyên tín Liban sẽ dẫn tới hai cuộc nội chiến đẫm máu (1958 và 1975 – 1989) đem đến các Hiệp Ước Taef.
+ Thượng phụ Maronite ở Antiôkia (Toà thượng phụ: Dimane, Liban): NASRALLAH SFEIR.
+ Tổng số : 2. 800. 000 (gần một nửa các cộng đoàn)
Giáo Hội Công- Giáo Hy Lạp Melkite phát sinh năm 1724 từ sự rạn nứt Giáo Hội Melkite quy tụ các Kitô-hữu nghi lễ byzantin của các Toà Thượng phụ Antiôkia, Alexandria và Jérusalem trung thành với Chalcêđônia, khi một người Công giáo được các tín hữu ở Damas bầu làm tượng phụ Antiôkia. Ngày nay, tính từ “Malkite” chỉ dùng cho người Công-giáo, còn các tín hữu Chính thống thích danh xưng “Chính thống Hy Lạp” hơn. Người ta thầy các tín hữu Melkitres trong tất cả các quốc gia vùng Cận Đ6ng và Trung Đông. Họ chiếm đa số giữa các tín hữu Công giáo ở Syria và ở Israel.
+ Thượng phụ (Tòa thượng phụ : Damas, Syrie, kể từ khi nước Pháp ở Antiôkia nhường lại cho Thổ Nhĩ Kỳ): MAXIMOS V HAKIM
+ Tổng số: 2. 000. 000
Giáo Hội Công-giáo Chalđê phân tán khắp Iraq và chiếm đa số các Kitô hữu (87% trong số 80% người Công giáo). Từ thế kỷ 13, dưới sự thúc đẩy truyền giáo của các thầy dòng Đa-Minh và Phanxicô, rất đông các Giám Mục phái Nestorius trở lại Công-giáo.
Theo dòng thời gian, Giáo Hội Can-đê (được gọi như vậy từ năm 1830) lôi kéo phần lớn các người theo Nestorius. Những tín hữu Can-đ6e chịu rất nhiều cuộc bách hại khiến hàng chục ngàn người bị chết vào cuối Thế Chiến Thứ Nhất.
+ Thượng Phụ Can-đê ở Babylone (Toà thượng phụ: Bagdad, Iraq) : RAPHAEL BIDAWID
+ Tổng số : 650. 000 (trong đó 580. 000 ở Iraq).
Giáo Hội Công-Giáo Cốp quy tụ đại đa số những người Công-giáo Ai-Cập (77% trong số 2, 5% người Công-giáo của đất nước). Sự ra đời của một Giáo Hội Công-giáo Cốp chỉ được cụ thể hoá sau những cuộc truyền giáo của các thầy dòng Phanxicô ở Ai cập vào thế kỷ 17. Năm 1895, tông toà trở thành toà thượng phụ.
+ Thượng phụ Cốp ở Alexandria (Toà thượng phụ: Cairô, Ai cập): STEPHANOS II GHATTAS
+ Tổng số : 200. 000
Giáo Hội Công-giáo Ac-mê-ni trở thành Công-giáo trong thời Thập Tự Chính và liên kết với Rôma từ năm 1635 , hình thành một tòa thượng phụ. Nạn diệt chủng Ac-mê-ni năm 1915 do người Thổ Nhĩ Kỳ, cũng đụng tới các tín hữu Công giáo.
+ Thượng phụ Ac-mê-ni ở Cilicie (Toà Thượng phụ: Beyrut, Liban): JEAN PIERRE XVIII
+ Tổng số: 160. 000 cùng với 50. 000 sống trong các cộng đoàn xa xứ.
Giáo Hội Công-giáo Syri được thành lập thành toà thượng phụ kể từ năm 1783 và được Đức Thánh Cha Piô V công nhận, chỉ gồm 12% người Công giáo ở nước Syrie. Giáo Hội cũng chịu những cuộc tàn sát ở Thổ Nhĩ Kỳ chống lại các Kitô-hữu vào cuối Thế Chiến Thứ Nhất.
+ Thượng phụ của tín hữu Syri ở Antiokia (Toà thượng phụ Beyrut, Liban): ANTOINE II HAYEK
+ Tổng số: 96. 000
Giáo Hội Công giáo Nghi Thức La-tinh sở hữu một toà thượng phụ la-tinh bao gồm Đất Thánh, Liban, Đảo Chypre và Jordanie. Tiến trình Ả-rập-hoá toà thượng phụ đã được tôn vinh năm 1987 bởi việc bầu chọn một thượng phụ người Palestine.
+ Thượng phụ :Đức Cha MICHEL SABBAGH
+ Tổng số: 80. 000