PDA

View Full Version : Thần học về đời sống thánh hiến


admin
05-12-2006, 05:13 AM
Thần học về đời sống thánh hiến

I. TỪ NGỮ: THÁNH HIẾN
Theo nguyên nghĩa, sự thánh hiến, cung hiến hay tác thánh, là tách rời một người hay một vật ra khỏi lãnh vực phàm tục, để dành riêng cho công việc thánh. Thí dụ như cung hiến thánh đường, bàn thờ, … Sau khi đuợc thánh hiến, chúng được dành riêng cho việc phụng tự.
Kinh thánh cho thấy con người đã cung hiến cho Thiên Chúa một nơi (bàn thờ, đền thờ: x. Xh 29, 37), một lễ vật (x. Xh 13, 2), một người (x. Xh 28, 41). Nhưng Kinh thánh cũng nói nhiều đến việc chính Thiên Chúa thánh hiến (thánh hóa) con người, thậm chí cả một dân tộc như dân Israel. Theo thần học Kinh thánh, từ thánh hiến được hiểu không những con người cung hiến cho Thiên Chúa cái gì đó; mà còn chính Thiên Chúa thánh hiến con người, tách rời họ khỏi tội lỗi, trở thành sở hữu của Chúa.
1. Cựu ước
Thiên Chúa đã chọn dân Israel làm dân riêng của Ngài, một dân được thánh hiến cho Thiên Chúa. Đây là sáng kiến xuất phát từ Thiên Chúa, nhưng cũng đòi hỏi sự đáp trả của con người (x. Đnl 4, 37; 7, 6-8; 10, 15; Is 42, 1-7; 43, 8-10; 45, 4; Xh 19, 3-6). Ngài thông ban sự thánh thiện cho họ và đòi hỏi họ phải cố gắng sống thánh thiện: “Các ngươi hãy nên thánh, vì ta là Đấng Thánh.”(x. Lv 11, 44- 45; 19, 2; 20, 7-8. 26) Việc thánh hiến Israel chủ yếu đòi hỏi nơi họ sự tách rời khỏi tội lỗi.
Từ trong dân tộc này, Thiên Chúa cũng chọn và thánh hiến một số người để phục vụ kế hoạch của Ngài: Abram (St 12), Moses (Xh 3), David (1Sm 16), các ngôn sứ (Is 6; 42, 1-7; Gr 1,5), v.v.
2. Tân ước
Khởi nguồn mọi sự hiến thánh là Chúa Kitô. Ngài được Chúa Cha thánh hiến (được thông truyền chính sự thánh thiện của Thiên Chúa, tức thiên tính) và sai đến trong thế gian (x. Ga 10, 36; x. Ga 17, 18-19; Lc 4, 18-19). Bởi vậy, Ngài được tuyên xưng là Đấng Thánh của Thiên Chúa (x. Ga 6, 69; 1Ga 2, 20; Kh 3, 9).
Những gì Cựu ước nói về Israel thì nay được áp dụng cho Hội thánh. Toàn thể Hội thánh trở thành dân được tuyển chọn, dân thánh (x. 1Pr 2, 9-10.19; 1Cr 6,19-20).
Chúa Kitô cũng cầu xin cho các môn đệ của Ngài, để họ cũng được thánh hiến và được sai đi như Ngài: “Xin Cha lấy sự thật mà thánh hiến họ. Lời Cha là sự thật. Như Cha đã sai con đến thế gian, thì con cũng sai họ đến thế gian. Vì họ, con xin thánh hiến chính mình con, để nhờ sự thật, họ cũng được thánh hiến.” (Ga 17, 17- 19) Ở đây, chúng ta thấy Chúa Kitô “xin thánh hiến chính mình con.” Ngài tự nguyện dâng trót cuộc đời để thi hành sứ mệnh cứu độ nhân loại, tức thánh hóa họ. Và Ngài cũng muốn các môn đệ của Ngài tiếp tục sứ mệnh của Ngài: thánh hiến và sứ vụ.
Thật vậy, qua cái chết và sự Phục sinh, Chúa Kitô đã đưa thế gian ra khỏi tội lỗi, cho thông dự vào sự thánh thiện của Chúa. Qua bí tích Rửa tội, những người Kitô hữu được thông dự vào ơn hiến thánh của Chúa Kitô: được rửa sạch tội lỗi (x. Ga 15, 3), được thanh tẩy (x. Ep 5, 24), được thánh hóa trong sự thật (x. Ga 17, 17), là những người thánh (x. Rm 1, 7; 1Cr 1, 2; Ep 1, 1; Pl 1, 1; Cl 1, 2; 1Tx 5, 26; 2Tx 1, 10; 1Tm 5, 10; Dt 3, 1). Họ phải sống xứng đáng với ơn gọi nên thánh, vì Đấng đã kêu gọi họ là Đấng Thánh (x. 1Pr 1, 16; 1Tx 4, 3). Họ phải cố gắng nên trọn lành như Cha trên trời là Đấng trọn lành (x. Mt 5, 48).
Tóm lại, theo Kinh thánh, chính Thiên Chúa thánh hiến con người. Do tình yêu, Ngài chọn và tách biệt một người nào đó và thông ban sự thánh thiện của Ngài cho họ. Sự lựa chọn này không chỉ vì ích lợi riêng của người ấy, mà còn trao cho họ một sứ mệnh để phục vụ kế hoạch cứu độ của Ngài nữa. Tình yêu của Thiên Chúa có sức biến đổi con người, ban cho họ khả năng để đáp trả lại cũng bằng tình yêu.
3. Sự thánh hiến của đời tu
Thần học cận đại coi đời sống tu là “bậc trọn lành.” Việc sử dụng cụm từ này có thể gây hiểu lầm. Bởi vì, mọi Kitô hữu đều được kêu gọi trở nên trọn lành (x. Mt 5, 48). Công đồng Vatican II cũng đã khẳng định mọi Kitô hữu đều được kêu gọi nên thánh trong bậc sống của mình và có nhiều con đường để nên trọn lành (x. LG 11, 42), chứ không chỉ qua việc giữ các lời khuyên Phúc âm. Thêm vào đó, việc sử dụng cụm từ này sẽ làm cho người ta lầm tưởng rằng chỉ có những người sống trong bậc đó mới buộc phải nên trọn lành, còn các bậc khác thì không buộc. Ngày nay, cụm từ “đời sống thánh hiến/tận hiến” (Vita consecrata), bao gồm cả tu hội đời, đã được sử dụng để chỉ đời sống tu trì, mặc dù nó không được sự đồng tình rộng rãi vì cũng gây ra ngộ nhận rằng chỉ có các tu sĩ là được thánh hiến cho Chúa, còn những người khác không được thánh hiến? Nhưng mọi Kitô hữu đều được thánh hiến qua phép rửa tội.
Ở đây, chúng ta cần phân biệt “nên thánh” trong bậc giáo dân và “nên thánh” trong bậc tu trì: sự thánh hiến phổ quát và sự thánh hiến riêng biệt, ơn gọi phổ quát nên thánh và ơn gọi cụ thể nên thánh theo từng bậc sống. Như đã trình bày, trong Cựu ước, có sự thánh hiến của toàn thể dân Chúa và cũng có sự thánh hiến của các ngôn sứ. Cũng vậy, trong Tân ước, ngoài sự thánh hiến phổ quát dựa trên bí tích Rửa tội, còn có sự thánh hiến đặc biệt của bí tích Truyền chức (x. CCC 1535, 1556-1559), của bí tích Hôn nhân (x. GS 48; CCC 1535), của các hình thức tu trì (x. CCC 916, 931; LG 44; PC 5). Mỗi người phải sống theo đặc sủng đã nhận được (x. 1Cr 7, 7- 20). Chính Chúa Thánh Thần làm cho Giáo hội trở thành một mối hiệp thông hữu cơ, trong sự đa dạng về các ơn gọi, các đặc sủng và các thừa tác vụ (x. AG 4; LG 4, 12, 13; GS 32, CL 30-31)
Đời tu là một hình thức tận hiến đặc biệt cho Thiên Chúa, vì sự thánh hiến chính là nền tảng của đời tu. Chính Thiên Chúa thánh hiến người tu sĩ. Ngài kêu mọi một người, tách riêng người ấy ra và trao cho người ấy một sứ mệnh trong kế hoạch cứu độ của Ngài (x. EE 5). Sự thánh hiến của các tu sĩ dựa trên việc tuyên giữ các lời khuyên Phúc âm (x. Can 573 §1; EE 4, 7). Việc tuyên giữ các lời khuyên Phúc âm tách biệt họ khỏi những sự vật trần thế, để họ chỉ phụng sự một mình Chúa mà thôi (x. PC 5). Đời sống thánh hiến dựa trên phép Thánh Tẩy, nhưng sống bí tích này một cách triệt để hơn. Có thể nói là họ được thánh hiến một lần nữa: “Nhờ phép Thánh Tẩy, họ đã chết cho tội lỗi và được cung hiến cho Thiên Chúa; nhưng để có thể thâu lượm dồi dào ơn ích của bí tích ấy, người Kitô hữu muốn nhờ việc khấn giữ ba lời khuyên Phúc âm trong Hội thánh, thoát ly khỏi những ngăn trở có thể làm cho họ không nhiệt tâm yêu mến và tôn thờ Thiên Chúa cách hoàn hảo; và họ tận hiến để phụng sự Thiên Chúa cách thân tình hơn.” (LG 44) Đó là “một sự thánh hiến đặc biệt cắm rễ sâu trên sự thánh hiến của phép Rửa tội và bày tỏ sự thánh hiến phép Rửa tội cách đầy tràn viên mãn.” (PC 5; x. LG 44; EE 6) Mẫu gương tuyệt đối của họ là Chúa Kitô, Đấng đã hiến trọn đời để sống cho tình yêu Thiên Chúa. Qua các lời khấn, người tu sĩ bắt chước mẫu gương ấy để dâng hiến chính mình cho Thiên Chúa. Sự thánh hiến nói lên tình trạng họ được hoàn toàn dâng hiến cho Thiên Chúa, thuộc trọn về Chúa, trở thành sở hữu của Thiên Chúa, chỉ phụng sự một mình Ngài. Đức Gioan Phaolô II gọi đó là một sự thánh hiến mới, vì nó đòi hỏi một ý thức mới, một sự quyết tâm mới, tình yêu và ơn gọi mới, một sự cải hoán mới (x. RD 7) Đời sống thánh hiến được ví như “giao ước hôn nhân với Chúa” (RD 8; x. LG 44, PC 1; EE 5), Đấng đáng yêu trên hết mọi sự.
Chúng ta cũng có thể hiểu là Giáo hội tận hiến tu sĩ cho Thiên Chúa qua phụng vụ cung hiến. Trong phụng vụ, Hội thánh thay mặt Chúa mà nhận lời khấn và qua việc cử hành phụng vụ, Hội thánh trình bày việc tuyên khấn như một tình trạng thánh hiến cho Thiên Chúa (x. LG 45; can 654).
Chúng ta sẽ tiếp tục nói về sự thánh hiến trong đời tu khi khai triển tông huấn Vita Consecrata dưới đây.

còn tiếp

Trần Hữu Hạnh, fsf

Nguồn: Dacsangiaosi (http://www.conggiaovietnam.net/giaosi/GSVN%20-%20So%2029.htm#THẦN_HỌC_VỀ_ĐỜI_SỐNG_THÁNH_HIẾN_)