View Full Version : Làm sao tin vào chuyện Tội Nguyên Tổ ?
admin
07-12-2006, 01:17 PM
LÀM SAO TIN VÀO CHUYỆN
TỘI NGUYÊN TỔ?
Nhân ngày lễ kính Đức Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội, BTGH chuyển ngữ và xin giới thiệu bài viết của Cha Michel Souchon, Dòng Tên về tín điều nầy, ngày nay vẫn còn nhiều cách suy nghĩ và nhìn nhận, mặc dù nay đã 152 năm (1854) từ ngày tín điều được công bố.
Chính bởi vì Chúa Giêsu đem ơn cứu độ cho mọi người,mà Thánh Phaolô trình bày Adam như kẻ mang tội lỗi đến cho toàn thể nhân loại. Không phải học thuyết về tội là đầu tiên và căn bản,nhưng chính là sự xác tín rằng chúng ta được đặt dưới lòng thương xót của Chúa.
Vừa mới đây thôi, một người bạn giải thích cho tôi, một cách võ đoán: “Trong mọi tôn giáo đều có một cái chìa khoá để nhốt lại, nơi các Kitô-hữu, đó chính là tội nguyên tổ”. Ai trong chúng ta chưa nghe những câu hỏi nầy: một tội mà chúng ta không chịu trách nhiệm, lại đè nặng trên chúng ta, thay đổi dòng lịch sử nhân loại, làm dấy lên cảm giác tội lỗi và sự sợ hãi đối với Thiên Chúa...Tất cả những cái đó không thể nào nhận lĩnh được. Làm sao tin vào nó được chứ?
Học thuyết tội nguyên tổ không nên đi tìm trong sách Sáng Thế, trong trình thuật tội của Adam và Evà, nhưng đúng hơn phải tìm trong thư Thánh Phaolô gửi tín hữu Rôma và trong cách mà Thánh Phaolô giảng giải sách Sáng Thế. Cái chủ yếu nơi lập luận của Ngài gói gọn ở trong một số từ. Không ai có thể nói: tôi không cần đến lòng xót thương của Thiên Chúa. Tất cả mọi người chúng ta đều cần đến. Chính vì chúng ta, tất cả, đều thuộc về một nhân loại tỗi lỗi, tất cả đều dự phần một cuộc sáng tạo đã không sử dụng tốt tự do của mình, ngay khi nó ý thức được điều đó (Rm 3,9). Tuyệt vọng vì điều gì? Không - lời Thánh Phaolô – vì, ”được công chính hoá nhờ đức tin, chúng ta sống hoà bình với Thiên Chúa nhờ Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta” (Rm 5,1). Chính khi quy chiếu về Chúa Giêsu Kitô và về tính phổ quát của ơn cứu độ nơi Chúa Giêsu Kitô, mà Thánh Phaolô trình bày Adam,khuôn mặt của tính phổ quát tội lỗi của nhân loại.
Adam không nên được coi là một cá thể lịch sử, mà như một hữu thể cộng đồng. Lởi giảng giải nầy phù hợp với cách thức đúng đắn tiếp nhận các trình thuật về cội nguồn. Chúng đáp ứng những vấn nạn lớn của con người. Đó là những trình thuật “bản thể học”, chứ không phải là những trình thuật lịch sử. Chúng không nói: một ngày nọ, điều ấy đã xảy ra như thế; nhưng là: Điều đó vẫn luôn xảy ra như thế. Ví dụ: các bạn hỏi tại sao con người nói những ngôn ngữ khác nhau và không hiểu được nhau? Hãy nghe câu chuyện Tháp Babel. Tại sao sự chết, những cơn đau khi sinh con, sự cần thiết phải làm việc lam lũ? Hãy nghe chuyện của Adam và Evà. Nhưng câu chuyện nầy còn đi xa hơn bản kê khai các giải trình. Nó cho chúng ta hiểu trước tiên rằng sự tốt lành của thế giới nầy có trước sự dữ. Nó đồng thời cũng nói cho chúng ta biết rằng tội lỗi luôn có đó và tội lỗi là tự khởi nguyên; rằng Adam, mọi con người, ngay từ đầu đã bị cám dỗ chống đối Thiên Chúa, từ chối Tình Yêu vốn là căn nguyên của nó, để tự đặt mình làm địch thủ của Thiên Chúa, để tự huyển hoặc rằng mình có thể tự ban cho mình sự sống và ý nghĩa cuộc đời, nằm ngoài tương quan với cội nguồn đã tạo thành và làm cho nó được sống. Trình thuật Sáng Thế mạc khải cho chúng ta bản chất của “tôi cội nguồn: nầy: nó nẩy sinh từ sự ngờ vực Thiên Chúa. Con rắn nói với Adam: Thiên Chúa không muốn thấy ngươi hạnh phúc...
Thánh Phaolô ngạc nhiên về sự hiện diện nầy của sự dữ trong Ngài, thật sâu thẳm, về sự ảnh hưởng các sức mạnh sự dữ trên ý chí và tự do của Ngài:” Tôi chẳng hiểu gì về những điều tôi làm: điều tôi muốn, thì tôi không làm; mà điều tôi ghét, thì tôi lại làm (...). Việc tốt tôi muốn, tôi không làm, trong khi điều xấu tôi chẳng hề muốn, thì tôi lại làm” (Rm 7,15–19). Ta có thể nói rằng, với Thánh Phaolô, tội nguyên tổ không phải là một tín điều, mà là một dữ liệu kinh nghiệm!
Thừa hưởng tội căn nguyên nầy, chúng ta cũng chịu trách nhiệm về tội. Người hát Thánh Vịnh nói cùng một lúc: ”Vâng, tôi biết tội mình đã phạm, lỗi lầm cứ ám ảnh ngày đêm. Con đắc tội với Chúa, với một mình Chúa, dám làm điều dữ trái mắt Ngài. Như vậy Ngài thật công bình khi tuyên án, liêm chính khi xét xử. Ngài thấy cho: lúc chào đời con đã vương lầm lỗi, đã mang tội khi mẹ mới hoài thai“ (Tv 50,5–7). Tôi vào trần gian đã bị ghi dấu bởi sự dữ và điều đó làm thương tổn tự do của tôi.
Chúng ta hãy nói lại điều đó cách khác. Phải “nhớ lại rằng có một trật tự hoặc một hệ thống cấp bậc các chân lý của giáo lý Công-giáo, tùy theo tương quan khác biệt của chúng với cái căn bản đức tin Kitô-giáo” (Công Đồng Vatican). Tội nguyên tổ là một giáo lý thứ yếu so với một chân lý quan trọng và căn bản: tất cả chúng ta đều được cứu rỗi trong Chúa Giêsu Kitô; tất cả chúng ta đều được đặt dưới lòng thương xót của Thiên Chúa. Giáo lý về tội căn nguyên không phải là một “chìa khoá nhốt lại”, nhưng là loan báo một sự giải thoát, là Một Tin Mừng.
Michel Souchon, sj, Croire Aujourd'hui
admin
02-09-2009, 03:06 PM
NHỮNG NHÂN TỐ KHI GIẢI THÍCH TỘI TỔ TÔNG
LM. Hoàng Minh Thắng, Giáo sư Thánh Kinh tại Roma
I. TỘI TỔ TÔNG MỘT VẤN ĐỀ CHIA RẼ
Một trong những vấn đề gây nên những cuộc bàn cãi sóng gió giữa các nhà thần học từ xưa đến nay, và khiến cho giới trẻ có thái độ khước từ không chấp nhận, đó là vấn đề liên quan đến cái mà chúng ta gọi nôm na là "tội tổ tông".
1. Dữ kiện khoa học xem ra đối kháng với giáo huấn của Giáo Hội
Các nhà thần học bàn cãi vì từ sau Công Đồng Chung Vatican II cho đến nay, họ nhận thấy kiểu giải thích về "tội tổ tông" như dậy trong giáo lý của Giáo Hội không ổn nữa. Có nhiều dữ kiện khoa học đi ngược lại với giáo huấn này. Điển hình là việc tạo dựng con người và thuyết đa chủng.
2. Quan niệm về công bằng và tự do của con người không chấp nhận kiểu giải thích "cam làm quít chịu" của "tội tổ tông".
Người trẻ phản đối vì tâm thức nhạy cảm của họ đối với công bằng xã hội không cho phép họ chấp nhận bất công. Nếu hai ông bà nguyên tổ sống thời khai nguyên của vũ trụ đã lầm lỡ phạm tội, thì họ rán mà chịu, chứ mắc mớ gì đến chúng tôi là những thế hệ sinh sau đẻ muộn hàng mấy ngàn năm lại phải gánh chịu hậu quả các tội lỗi mà chúng tôi không vấp phạm?
II. TỘI TỔ TÔNG TRONG GIÁO LÝ CỔ ĐIỂN CỦA GIÁO HỘI
Điều đầu tiên cần phải nói ngay đó là tín lý về "tội tổ tông" không được trình bầy đầy đủ trong Kinh Thánh. Nói cách khác, 3 chương đầu sách Khởi Nguyên cũng như thư thánh Phaolô gửi giáo đoàn Roma chương 5, 12-21 không trình bầy một giáo lý có hệ thống về điều chúng ta vẫn gọi là "tội tổ tông". Như vậy thì giáo lý về "tội tổ tông" đã bắt nguồn từ đâu?
1. Tín lý về "tội tổ tông" đã phát triển từng bước trong dòng lịch sử Giáo Hội.
Thật ra giáo lý về "tội tổ tông" đã được khai triển từ từ trong lịch sử các tín điều của Hội Thánh. Ba chương đầu của sách Khởi Nguyên đã được dùng để giải thích tín điều đó. Sau đây là vài chặng chính của tiến trình hình thành của giáo lý này.
a. Các thánh giáo phụ của 3 thế kỷ đầu lịch sử kitô giáo ghi nhận là cuộc sống khốn khổ của loài người với tất cả mọi hệ lụy của nó, là hậu quả của tội lỗi mà nguyên tổ loài người đã vấp phạm vào thời khai nguyên vũ trụ. Nhưng các ngài không nói là tội đó bị truyền lại cho con người, cho mọi người qua ngã truyền sinh. Nghĩa là các thánh phụ. không khẳng định rằng "tội tổ tông" được di truyền từ đời cha đến đời con trong gia đình nhân loại qua việc sinh sản.
b. Người đầu tiên dùng kiểu nói "tội tổ tông" là thánh Agostinô sống vào thế kỷ thứ tư. Và người đầu tiên đưa ra thuyết "tội tổ tông" được di truyền trong gia đình nhân loại qua ngã truyền sinh cũng là thánh nhân. Theo thánh Agostinô thì tội lỗi mà ông Adong và bà Eva đã sa phạm vào thời khai nguyên vũ trụ được di truyền cho con cháu qua việc sinh sản. Người con được sinh ra tự động mắc tội nguyên tổ. Thánh nhân còn khẳng định rằng, những trẻ em không được rửa tội mà chết thì cũng sẽ không được ơn cứu rỗi.
c. Công đồng Trento khẳng định rằng mọi người khi sinh ra đều mang dấu vết "tội tổ tông". Nhưng công đồng không nói rằng tội đó di truyền qua ngã truyền sinh. Để khỏi vết nhơ ấy, cần phải lãnh nhận bí tích thanh tẩy. Và bí tích thanh tẩy tha hết mọi tội lỗi cá nhân mà con người đã pham, ngoài việc xóa bỏ "tội tổ tông". Đây là trưòng hợp người lãnh nhận bí tích thanh tẩy là người lớn.
2. Vài nhận xét về giáo lý trên đây
a. Giáo lý về "tội tổ tông" như được tóm gọn trên đây vẫn dựa trên xác tín là ông Adong và bà Eva là 2 nhân vật lịch sử đã khai sinh ra toàn gia đình nhân loại. Điều này không thể chấp nhận được nữa theo các giả thuyết khoa học ngày nay (xem tài liệu về việc tạo dựng và khoa học). Bởi vì văn bản Kinh Thánh cũng không khẳng định rằng ông Adong và bà Eva là 2 nhân vật lịch sử, mà chỉ là một hình ảnh văn chương và một kiểu diễn tả tư tưởng thần học.
b. Danh từ "tội tổ tông" là một kiểu nói gây hiểu lầm, bởi vì nó cho chúng ta cảm tưởng là tội ấy do 2 người đầu tiên trong gia đình nhân loại đã gây ra. Nếu 2 người đó đã không phải là những nhân vật lịch sử, thì làm sao gây ra được? Thứ đến nó khiến chúng ta hiểu lầm rằng chúng ta không có liên hệ gì với tội phạm ấy. Nói cách khác, kiểu nói "tội tổ tông" hay tội nguyên tổ cho chúng ta cảm tưởng chúng ta là người bàng quan vô tội.
Liên quan đến từ này, cần phải phân biệt 2 điều. Thứ nhất "nguyên tổ" như là đầu tiên, trong nghĩa vào thời khai nguyên vũ trụ. Hiểu trong nghĩa này, thì cái tội mà chúng ta gọi là tội nguyên tổ là một biến cố lịch sử đã xảy ra vào một lúc nào đó trong dòng lịch sử nhân loại. Nói cách khác, biến cố con người phạm tội, xa rời Thiên Chúa và đánh mất đi cuộc sống thần thiêng của mình đã là một biến cố lịch sử thực sự xảy ra trong thời gian. Nó đã xảy ra khi nào, không ai biết được. Nhưng quả thật đã phải có một biến cố nào đó trầm trọng đến độ thay đổi hẳn cuộc sống con người và lịch sử loài người. Bởi nếu không thì cuộc sống của loài người đã khác hẳn, đâu đến nỗi khổ sở, gian truân và đau đớn, như kinh nghiệm mà mỗi người trong chúng ta phải sống hàng ngày. Kinh nghiệm đớn đau đó chúng ta nhận ra trong tất cả mọi hình thái của sự dữ đang tung hoành và làm cho cuộc sống của nhân loại băng hoại đi, không phải chỉ một lần trong dòng thời gian, nhưng tiếp tục mọi ngày... hận thù, chiến tranh tàn phá đổ nát thương đau, ghen ghét gian dối, lừa lọc đảo điên, và mọi khía cạnh tiêu cực của bóng dáng sự dữ đè nặng trên cuộc sống của toàn nhân loại.
Thứ hai, "nguyên tổ" trong nghĩa tổ tiên đầu giàn của nhân loại. Đây là nghĩa mà thánh Agostinô đã đưa ra khi gọi tội của ông Adong và bà Eva là "tội nguyên tổ", và cũng là nghĩa mà giáo lý công giáo vẫn duy trì trong cách giải thích giáo lý về "tội tổ tông". Cũng chính vì thế nên mới trở thành vấn đề bàn cãi sôi nổi.
c. Theo những gì chúng ta đã tìm hiểu về việc sáng tạo và nguồn gốc con người, thì kiểu giải thích cổ điển trên đây của Giáo Hội gặp khó khăn, đặc biệt là từ sau Công Đồng Chung Vatican II. Do đó các nhà chú giải Kinh Thánh và các nhà thần học từ đó đến nay đã tìm cách sửa chữa kiểu giải thích này.
3. những nỗ lực giải thích mới của một số nhà thần học và chú giải Kinh Thánh
a. Một số nhà thần học và chú giải Kinh Thánh chối bỏ giáo lý về "tội tổ tông". Họ cho rằng đó là một tín điều lỗi thời, chẳng những phản khoa học, mà cũng không hợp thời nữa. Bởi vì giáo huấn ấy chỉ gây thêm rắc rối cho lòng tin, mà chẳng giải quyết được gì cả. Có thể nó đã cần thiết trong một giai đoạn nào đó của lịch sử giáo huấn của Giáo Hội. Nhưng trong kỷ nguyên tân tiến này, thì con người không còn dễ tin và chấp nhận những chuyện viển vông như thế.
b. Một số nhà thần học và chú giải Kinh Thánh khác thì cho rằng cần phải tìm ra các cách giải thích tín lý về "tội tổ tông" thế nào để đừng trái với các giả thuyết khoa học, và cũng không nguy hại cho sự thật chứa đựng trong tín lý ấy. Bởi vì nhất định là phải có một biến cố nào đó đã xảy ra trong dòng lịch sử nhân loại, gây nên tình trạng sống khốn khổ và bất hạnh của con người ngày nay. Nếu không thì Đức Giêsu con Thiên Chúa đâu có cần xuống thế làm người và chịu chết khổ nhục làm gì để cứu chuộc con người.
Nói cách khác, theo lập trường nói trên, thì sự kiện Đức Giêsu, Con Thiên Chúa phải nhập thể làm người, chấp nhận thân phận con người như một người con trong gia đình nhân loại khổ đau này, rồi lao đao lận đận, bị hiểu lầm, bị bắt bớ, lên án và giết chết, phải có lý do quan trọng của nó. Lý do đó là để giải thoát nhân loại khỏi tình trạng tội lỗi, khỏi cái vòng lẩn quẩn, mà biến cố lịch sử vào thời khai nguyên đã gây ra cho con người. Nếu không thì mầu nhiệm nhập thể vừa vô nghĩa vừa vô ích. Nếu không có cái biến cố khốn khổ ấy, nếu gia đình nhân loại không phải sống trong tình trạng tội lỗi trầm trọng đến độ mất cuộc sống thần thiêng của mình, thì Chúa Giêsu cũng đâu có cần phải lao nhọc làm gì cho mất công?
Nghĩa là theo các nhà thần học và chú giải Kinh Thánh nói trên có giải thích được hay không giải thích được biến cố lịch sử vào thời khai nguyên của vũ trụ đã đẩy đưa gia đình nhân loại vào tình trạng sống tuyệt vọng như hiện nay, cũng không đánh đổ được sự thật là Chúa Giêsu Con Thiên Chúa đã phải nhập thể làm người và chịu chết để cứu chuộc nhân loại. Sự thật lịch sử này là bằng chứng hùng hồn chứng minh cho thấy rằng quả thật nhân loại đã phạm tội đánh mất đi tình trạng sống tiên khởi trong sáng hạnh phúc và toàn vẹn của mình.
admin
02-09-2009, 03:08 PM
III. VĂN BẢN KINH THÁNH NÓI GÌ VỀ TỘI TỔ TÔNG
Trong 2 chương đầu sách Khởi Nguyên, soạn giả Kinh Thánh muốn khẳng định rằng con người là tác phẩm tuyệt hảo của Thiên Chúa, con người được Thiên Chúa tạo thành giống hình ảnh Ngài và được mời gọi thông chia vào chính sự sống thần thiêng của Chúa. Trong chương 3 sách Khởi Nguyên, soạn giả Kinh Thánh giải thích lý do điều kiện sống của con người trong hiện tại. Tại sao con người lại phải sống điều kiện như kinh nghiệm thường ngày cho thấy trước mắt hện nay: một cuộc sống in đậm dấu vết khổ đau, xâu xé, dằng co, một cuộc sống in đậm dấu vết sự dữ, tội lỗi và cái chết. Nói cách khác, chương 3 của sách Khởi Nguyên là một suy tư thần học về nguồn gốc tệ trạng sự dữ đè nặng trên cuộc sống từng người và cuộc sống của toàn thể nhân loại.
Để trình bầy các suy tư thần học nói trên của mình, thay vì dùng các ý tưởng trừu tượng như chúng ta dùng ngày nay, thì soạn giả Kinh Thánh đã dùng các hình ảnh cụ thể, rồi sắp xếp chúng cho có lớp lang thứ tự dưới hình thái một câu chuyện, với nhiều tình tiết màu mè khác nhau, như chúng ta đọc thấy trong mấy chương đầu sách Khởi Nguyên. những hình ảnh văn chương này là các kiểu diễn tả chung của các dân tộc sống trong vùng Trung Đông Cổ, đặc biệt là cuả dân tộc Mesopotami, sống tại vùng lưỡng hà, tức là giữa 2 nước Iran và Iraq hiện nay.
1. Hình ảnh người nam và người nữ diễn tả toàn thể nhân loại, diễn tả loài người gồm hai phái tính. Chỉ từ chương 4 câu 25 trở đi, thì từ Adam, trong tiếng Do Thái có nghĩa là con người, và từ Eva có nghĩa là sống động, mới trở thành tên riêng mà thôi. Nhưng trong trường hợp này chúng cũng là một hình ảnh văn chương diễn tả sự hợp nhất của loài người, mà trong Kinh Thánh Cựu Ước gọi là "thuật giải thích tên gọi", nghĩa là để diễn tả sự hơp nhất của loài người, hợp nhất trong nguồn gốc là được Thiên Chúa tạo thành, hợp nhất trong ơn gọi làm người, hợp nhất trong điều kiện sống, và hợp nhất trong khổ đau, trong tội lỗi, trong mọi hệ lụy của thân phận làm người, cũng như hợp nhất trong vận mệnh được cứu rỗi, thì soạn giả Kinh Thánh dùng hình ảnh một cặp vợ chồng có tên gọi là ông Adong và bà Eva và giả sử họ là nguyên tổ của loài người. Nghĩa là nó là một hình ảnh, một kiểu diễn tả văn chương.
Chương 3 của sách Khởi Nguyên đặc biệt nhấn mạnh đến thảm cảnh của sự tự do và thảm cảnh của sự lựa chọn, mà mỗi người, mà toàn thể nhân loại phải sống mỗi ngày. Sự tự do là món quà vô cùng qúy báu Thiên Chúa trao ban cho con người. Con người là con người vì có sự tự do. Nó là nét đặc thù nòng cốt phân biệt con người với mọi loài vật khác. Nhưng sự tự do cũng là một con dao 2 lưỡi. Biết dùng nó đúng đắn, con người sẽ đạt được ơn gọi làm người của mình. Không biết dùng nó cách đúng đắn, lạm dung nó, hay dùng nó cách sai lạc, là con người tự giết mình. Dù nó nguy hiểm, nhưng Thiên Chúa không thể không trao ban nó cho con người. Dù biết là con người có thể thất bại trong việc dùng tự do ấy, Thiên Chúa cũng luôn luôn tôn trọng nó. Nghĩa là Thiên Chúa chấp nhận và liều lĩnh khi trao ban cho con người sự tự do.
Soạn giả Kinh Thánh trình bầy thảm cảnh con người thất bại trong việc dùng sự tự do qua 4 bức tranh nối tiếp sau đây:
1, con người bị cám dỗ và phạm tội (Kn 3,1-7)
2, con người phạm tội đứng trước mặt Thiên Chúa (Kn 3, 8-13)
3, Lời Thiên Chúa phán xử (Kn 3,14-19)
4, con người lãnh hình phạt, bị đuổi ra khỏi vườn địa đàng (Kn 3,20)
2. Hình ảnh vường địa đàng diễn tả khung cảnh, môi trường sống toàn vẹn, tràn đầy hạnh phúc, mà Thiên Chúa đã sửa soạn và chuẩn bị trước khi tạo dựng nên con người. Nó cũng diễn tả khung cảnh cuộc sống thần thiêng mà con người được sống khi chưa phạm tội, khi chưa xa rời Thiên Chúa và chặt đứt mọi mối tương quan với Ngài.
Trong các văn bản cổ xưa êden là một thứ vườn ngự uyển của các vua vùng Trung Đông Cổ, nơi có cảnh thần tiên, nơi có đủ mọi thứ hoa thơm cỏ lạ, vô cùng xinh đẹp tươi mát. Để diễn tả cuộc sống hạnh phúc thân tình bên Thiên Chúa, soạn giả Kinh Thánh đã dùng loại hình ảnh này.
3. Cây biết lành biết dữ là một hình ảnh khác được soạn giả lấy lại trong văn chương của dân tộc Mesopotamie. Tốt xấu ở đây không có nghĩa luân lý đạo đức như chúng ta thường hiểu khi nghe các từ này, tốt xấu ở đây diễn tả giới hạn tột bực của sự hiểu biết. Cây tốt xốt là hình ảnh diễn tả sự khôn ngoan thông thái vẫn được vẽ trên nhiều bức tường mộ của các pharaon Ai Cập hay trong các đền đài vua chúa thời xưa. Trong văn chương khôn ngoan, nó diễn tả sự sống. Ai chiếm đoạt được sự khôn ngoan là chiếm đoạt được sự sống, là nắm được nguồn gốc sự sống. Cây hiểu biết tốt xấu diễn tả sự hiểu biết toàn vẹn, nghĩa là diễn tả sự toàn tri. Mà chỉ có Thiên Chúa toàn năng cao cả là Đấng thông biết mọi sự, là Đấng Toàn Tri mà thôi, vì Ngài toàn năng và trọn tốt trọn lành, thông minh vô cùng, sáng láng vô cùng, khôn ngoan vô cùng. Ngài chính là sự khôn ngoan thông thái, Đấng toàn hảo toàn thiện, Đấng làm mẫu mực cho mọi sự mọi loài. Khi tạo dựng nên con người Thiên Chúa cho phép con người được ăn hết mọi thứ trái cây trong vườn kể cả cây sự sống nữa. Cây sự sống ở đây diễn tả sự khôn ngoan của Thiên Chúa, diễn tả Lời của Ngài bày tỏ cho con người các luật lệ và giáo huấn của Ngài. Tức là Thiên Chúa cống hiến cho con người hoa trái sự sống. Ngài trao ban thần linh của Ngài cho con người, và mời gọi con người đón nhận nó để được sống đời đời. Nhưng Thiên Chúa căn dặn con người ý thức được bản chất thụ tạo hạn hẹp của mình, nếu không con người sẽ chết.
Khi ăn trái cây hiểu biết tốt xấu, nghĩa là khi muốn có sự hiểu biết toàn vẹn như Thiên Chúa, là con người kiêu căng muốn chiếm đoạt cho mình tất cả mọi quyền năng của Thiên Chúa, là con người muốn trở thành mực thước quy chiếu cho mọi sự, là con người muốn chối bỏ địa vị thụ tạo của mình, chối bỏ tùy thuộc và phục tùng Thiên Chúa. Và như thế con người tự bứt mình khỏi nguồn mạch sự sống là Thiên Chúa. Vì đó con người khám phá ra cái hư không trần trụi của mình, và phải chết, phải trở về đất bụi vì đánh mất đi cuộc sống thần thiêng Thiên Chúa trao ban cho mình.
Thiên Chúa để con người hoàn toàn tự do, nghe theo lời kêu mời của Ngài hay khước từ lời kêu mời ấy. Ngài chỉ cho con người hai con đường: con đường sự sống và con đường dẫn đến cái chết. Con người hoàn toàn tự do lựa chọn. Thiên Chúa mời gọi con người chọn lựa sự sống, và thôi thúc con người bước theo con đường ấy. Nhưng Ngài không cưỡng bách con người. Khi khước từ bước theo lời kêu mời của Thiên Chúa, là con người tự do chọn lựa cái chết. "Tội tổ tông" như thế là thảm cảnh con người thất bại trong việc dùng sự tự do của mình.
4. Con rắn là hình ảnh diễn tả biểu tượng, tùy theo từng nền văn hóa. Trong nền văn hóa Hy Lạp, nó là con vật biểu tượng được thần Esculap là thần thầy thuốc, luôn đeo trên cổ. VÌ thế nó trở thành dấu hiệu của y khoa. Đó là hình ảnh chúng ta thấy ngày nay trước các tiệm thuốc tây. Nhưng trong các nền văn hóa vùng Mesopotami nó lại không biểu tượng cho hình ảnh tích cực, mà mang ý nghĩa tiêu cực. Nó diễn tả các cường quốc xấu xa tăm tối, quỉ quyệt, thù nghịch con người. soạn giả Kinh Thánh dùng lại nó để diễn tả một sức mạnh xấu xa thù ghét loài người, và chống chương trình của Thiên Chúa. Trong văn bản Kinh Thánh sách khôn ngoan, có lẽ soạn giả cũng dùng nó để ám chỉ việc tôn thờ các thần linh, các ngẫu tượng của tôn giáo Canaan, có con rắn là biểu tượng.
5. Qua hình ảnh con rắn hiện thân của sự dữ, cám dỗ loài người ăn trái cây hiểu biết tốt xấu để trở thành Thiên Chúa, soạn giả Kinh Thánh trình bầy cái thất bại của con người trong sự chọn lựa, trong việc dùng sự tự do của mình. con người được Thiên Chúa tạo thành và mời gọi thông chia sự sống của Ngài trong mối tương quan liên bản ṿ. Nhưng con người đã tự ý chối bỏ Thiên Chúa là Đấng tạo dựng nên mình, và quỳ lậy các tạo vật, các ngẫu tượng, mà con rắn vị thần của thiên nhiên, là biểu tượng. Thảm cảnh vườn địa đàng như thế không phải là cái gì xa lạ, mà trái lại là hình ảnh diễn tả cuộc thử thách của sự tự do, diễn tả cảnh lựa chọn mà mỗi người trong gia đình nhân loại phải sống mỗi ngày. Mỗi người trong chúng ta đều phải chọn lựa sống theo lời kêu mời của Thiên Chúa để được hạnh phúc, hay từ chối lời kêu mời đó để rơi vào tình trạng sống khốn khổ, bất hạnh và cái chết.
Theo các văn bản nói trên của sách khôn ngoan, soạn giả Kinh Thánh không cắt nghĩa gì về sự hiện diện và nguồn gốc sủa sự dữ, mà chỉ ghi nhận nó như là một sự kiện. Thiên Chúa đã đặt để con người trong vườn địa đàng biểu tượng cho cuộc sống tốt lành thần thiêng. Nhưng trong ngôi vườn ấy cũng có con rắn nữa. Nó biểu tượng tượng cho tất cả sự dữ và các lực lượng xấu xa. Làm sao sự dữ lại có thể lẻn vào công trình sáng tạo của Thiên Chúa, thì soạn giả không đưa ra câu trả lời rỡ ràng. Nhưng con người phải đối diện với nó dưới khía cạnh quyến rũ, rủ rê. Con người đã bị nó đánh lừa!
Theo giáo lý kitô giáo, Satan, Con Rắn cũng đã là một trong số các thiên thần, do Chúa dựng nên, nhưng đã phản loạn chống lại Thiên Chúa, nên bị Chúa loại trừ khỏi triều thần thiên quốc. Và từ ngày đó Satan cùng các thiên thần khác theo hắn luôn luôn chống đối Ngài và tìm cách hãm hại con người, lôi kéo con người cũng xa rời Thiên Chúa như chúng.
Và con người đã thất bại. Người nam và người nữ đã thất bại trong cơn thử thách của sự tự do. Hai người đã phạm tội và đã hiện diện bên nhau. Hình ảnh này diễn tả chiều kích cá nhân và tập thể của tội lỗi trong xã hội loài người. Khi phạm tội, khi xa rời Thiên Chúa và khước từ ngài, con người đánh mất đi nền tảng bảo đảm cho tất cả mọi giá trị nhân bản, tinh thần và thiêng liêng cao quý của mình. Khi phạm tội là con người tự chặt đứt khỏi suối nguồn ơn thánh, nên khám phá ra cái trần trụi, đáng thương của mình. Khi đã bẻ gẫy mối tương giao thân tình với Thiên Chúa, con người bắt đầu biến thái. Nó sợ hãi Ngài và xấu hổ trước mặt nhau. Bởi vì mối giây liên lạc trong sáng giữa phái tính như là sự trợ giúp bổ túc cho nhau nay trở thành cái thèm khát chiếm đoạt nhau để thỏa mãn những khát vọng ích kỷ của mình. Nhưng còn hơn thế nữa, khi phạm tội, khi khước từ Thiên Chúa, con người trở thành hèn nhát và gian ngoa dối trá, sợ hãi nhau, sống vô trách nhiệm và tìm đổ lỗi cho người khác.
Tiếp đến con người đánh mất đi ý nghĩa dích thực ngay trong bổn phận đặc thù của mình là bổn phận truyền sinh và lao động nữa. Việc truyền sinh thay vì là ơn gọi cộng tác vào công trình sáng tạo của Thiên Chúa trong nhiệm vụ làm cha mẹ, thì trở thành một gánh nặng, một cản ngăn mà con người tìm cách tránh né, bằng cả thái độ giết chết các thai nhi còn trong lòng mẹ nữa.
Thế rồi lao động, thay vì là một phần cao quí của ơn gọi làm người là cộng sự viên của Thiên Chúa trong công tác canh tác đất đai, biến đổi thế giới theo trật tự như Thiên Chúa muốn, thì giờ đây nó trở thành một hình phạt, một gánh nặng, một kiểu cách mà con người gian ác sẽ dùng để thống trị và hành hạ nhau: lao động khổ sai phát sinh từ đó. Bóc lột giới công nhân thợ thuyền cũng phát sinh từ đó. Con người dùng công tác lao nhọc để trừng phạt nhau, dể khai thác bóc lột nhau.
Qua các hình ảnh văn chương vay mượn của các dân tộc thời xưa, soạn giả Kinh Thánh cho thấy ba nhân tố sau đây cần thiết giúp chúng ta hiểu biết ý nghĩa của cái mà chúng ta gọi là "tội tổ tông":
1, quyền tự do của con người, có thể lựa chọn sống hay không sống theo lời Thiên Chúa kêu mời
2, chiều kích cá nhân và tập thể, xã hội của tội lỗi
3, sự hiện diện của Satan, của cường lực sự dữ trong lòng thế giới và trong lòng cuộc sống con người, nếu không nói là trong tâm lòng con người
admin
02-09-2009, 03:10 PM
6. Thư Thánh Phaolô dùng lại hình ảnh Adam của sách khôn ngoan để so sánh ông với Chúa Kitô, nhưng không cắt nghĩa phải hiểu điều sách khôn ngoan trình bầy như thế nào. Nghĩa là thánh nhân chỉ có ý chứng minh cho thấy rằng Chúa Giêsu là Đấng trao ban ơn cứu độ cho tất cả mọi người tin vào Ngài. Thánh Phaolô muốn nói rằng loài người liên đới với nhau trong tội lỗi, qua Adam, mà chính thánh nhân và người thời đó vừa coi như là một nhân vật lịch sử, vừa coi như là một nhân vật biểu tượng cho toàn cộng đồng nhân loại.
Đối với các dân tộc xa xưa hay đối với các dân tộc sống bên châu Phi ngày nay, nói đến vị tộc trưởng hay trưởng bộ lạc, là nói đến toàn chi tộc, toàn bộ lạc đó. Cũng thế, giờ đây nhờ Chúa Giêsu Kitô mà toàn thể nhân loại được ơn cứu rỗi. Nghĩa là loài người cũng liên đới với nhau trong ơn cứu độ, trong ơn thánh nữa.
Tiếp đến thánh Phaolô khẳng định rằng tất cả mọi người đều đã phạm tội. Qua đó hình như thánh nhân có ý nói rằng cuộc sống nô lệ cái chết, và tội lỗi không chỉ do lỗi lầm riêng của một người gây ra, mà còn do lỗi lầm của các người khác đã sống trước chúng ta nữa. Nghĩa là thánh Phaolô khẳng định rằng chiều kích cá nhân và tập thể của tội lỗi cũng như các hậu quả của nó là cái chết, cái chết về phần thiêng liêng, cái chết của linh hồn, cái chết đời đời, mà cái chết của thân xác là biểu tượng. Nhưng thánh nhân không trực tiếp trình bầy cách rỡ ràng bản chất xác thực của mối giây liên đới đó.
Trong thư gửi giáo đoàn Roma chương 7,7-25 Thánh Phaolô nói đến tình trạng thê thảm của con người phải sống dưới ách thống trị của tội lỗi. Thánh nhân ghi nhận chiều kích sâu đậm của tội lỗi riêng hay tội lỗi cá nhân, một tệ trạng mà ngài gọi là "tội lỗi sống trong người ta". Chính cái sự dữ đâm rễ sâu trong con người đó lôi kéo và thúc đẩy chúng ta phạm tội. Chính trái tim ác độc của con người là nơi phát xuất ra "các tư tưởng xấu xa, các hành động giết người, ngoại tình, dâm ô, trộm cắp, làm chứng dối, dèm pha, phạm thượng"(mt 15,19). Vì thế thánh nhân đau đớn kêu lên: "tôi là xác thịt bị bán làm nô lệ cho tội lỗi và thật tôi chẳng hiểu điều tôi làm, điều tôi muốn tôi lại chẳng làm, tức là tôi đồng ý với luật lệ và công nhận rằng luật lệ tốt lành. Đã thế thì không phải tôi hành động như vậy, mà tội lỗi sống trong mình tôi. Bởi vì tôi biết rằng trong tôi, tôi muốn nói trong xác thịt tôi, điều thiện không cư ngụ: muốn sự thiện là điều ở vừa tầm tay tôi, nhưng sống sự thiện thì không. Bởi vì điều thiện tôi muốn, thì tôi lại không làm, còn điều ác tôi không muốn, thì tôi lại làm... Ôi ai sẽ giải thoát thân xác tôi khỏi thuộc quyền lực sự chết này?" Tiếp đến thánh nhân sung sướng kêu lên: "Ôi đội ơn Thiên Chúa qua Đức Giêsu Kitô Chúa chúng tôi".
Qua mấy câu trên đây của Thánh Phaolô chúng ta nhận thấy rằng, con người, loài người, mỗi một người trong chúng ta phải sống dưới ách thống trị của tội lỗi, của sự dữ và cái chết. Chính vì thế nên Chúa Giêsu Kitô mới phải nhập thể làm người rao giảng Tin Mừng, chỉ đường dẫn lối cho chúng ta, sống làm gương cho chúng ta, và chấp nhận cả cái chết để trao ban ơn cứu độ cho chúng ta, để giải thoát chúng ta khỏi ách thống trị của tội lỗi, của sự dữ và cái chết. Thảm trạng sống đó của con người cũng giải thích tại sao tất cả mọi người, kể cả trẻ em cũng cần phải lãnh nhận bí tích rửa tội, để được ơn tẩy rửa và thánh hóa của Chúa, để lại được tái sinh ra trong tình trạng sống ơn nghĩa với Thiên Chúa và có trở lại được khả năng đối thoại với Ngài, nghĩa là vượt thoát khỏi ách thống trị của tội lỗi.
7. Muốn hiểu rõ và giải thích đầy đủ bản chất của "tội tổ tông" cần chú ý các nhân tố sau:
1, sự hiện diện của satan, của lực lượng sự dữ trong cuộc sống con người. Satan không ngừng chống đối Thiên Chúa bàng cách lôi kéo, xúi bẩy con người xa rời Ngài, bất tuân luật lệ của Ngài, tự tôn mình lên địa vị của Thiên Chúa, chối bỏ địa vị là thụ tạo của mình, và quỳ lạy các thần linh giả tạo và các tạo vật khác.
2, sự tự do của con người. Con người có thể nghe theo lời mời gọi của Thiên Chúa là chọn sống theo giáo huấn của Thiên Chúa để được sự sống hay từ chối lời mời gọi đó của Ngài xa rời Ngài để đi đến cái chết.
3, sự kiện mỗi người trong chúng ta phạm tội hằng ngày là một kinh nghiệm đớn đau cho thấy chúng ta phải sống dưới ách thống trị của tội lỗi và sự dữ.
4, chiều kích tập thể của xã hội tội lỗi. Đó là môi trường xã hội tội lỗi, hư nát, trong đó mỗi một người sinh ra và lớn lên phải nhận chịu. Nó là một thứ gia tài khốn khổ do tất cả mọi thế hệ đi trước để lại. Một đứa bé dù chẳng có tội tình gì, nhưng phải sinh ra trong một gia đình có người cha rượu chè, cờ bạc be bét, tán gia bại sản, thì dĩ nhiên là không được thừa hưởng một bầu khí và một cuộc sống gia đình hạnh phúc sung sướng nó đáng được hưởng. Và vì thế nó phải gánh chịu cái gia tài khốn khổ mà cha nó đã để lại cho nó. Nghĩa là tình trạng sống tiêu cực, trong đó nó phải lớn lên, cái bấu khí ô nhiễm vẩn đục, nghèo khổ túng thiếu, nó phải hít thở và nhận chịu.
Như vậy khi nói đến "tội tổ tông", chúng ta phải để ý đến tất cả 4 nhân tố kể trên, chứ không được phép để ý đến một nhân tố mà thôi. Còn cách thức giải thích sự kiện tội lỗi bước vào thế giới và lịch sử loài người ra sao và dưới hình thức nào, thì đó là chuyện khác, thuộc lãnh vực thần học tín lý. Đàng khác cũng không được quên rằng, nếu đã không có một biến cố trầm trọng nào đó đã xảy ra trong lịch sử loài người, khiến cho con người phải sống dưới ách thống trị của tội lỗi, sự dữ và cái chết, thì Chúa Giêsu Kitô đâu có cần phải xuống thế chịu chết cứu chuộc loài người làm gì. Vì vậy cho nên những gì Thánh Phaolô trình bầy trong thư gửi giáo đoàn Roma cũng rất quan trong, vì nó phản ánh sự thật mà chúng ta phải sống hằng ngày. Đó là tội lỗi sống trong người chúng ta. Chúng ta phạm tội, và phải sống trong hoàn cảnh xã hội suy đồi tội lỗi.
Tóm lại, tuy các thần học gia và các nhà chú giải Kinh Thánh không có lời giải đáp cho sự kiện tội lỗi bước vào lịch sử loài người khi nào và ra sao (cho đến nay chưa ai giải thich được), cái mà chúng ta gọi nôm na là "tội tổ tông" là một biến cố lịch sử đánh dấu khúc quanh khốn khổ của toàn gia đình nhân loại, nhưng đồng thời cũng là một dữ kiện minh chứng tình yêu thương Thiên Chúa dành cho con người. Bởi vì nó khai mào cho chương trình cứu độ. Chính vì thế nên trong bài ca Hãy Vui Lên hát trong nghi thức Vọng Phục Sinh, giáo hội cất tiếng ngợi khen lòng nhân thứ và tinh yêu thương cao vời hải hà của Thiên Chúa và gọi "tội tổ tông" là Felix Culpa, "lỗi lầm hạnh phúc", qua đó Thiên Chúa càng chứng tỏ cho con người biết rằng Ngài không bao giờ bỏ rơi con người, cho dù con người có hư đốn và phản bội Ngài thế nào đi nữa. Điều duy nhất Thiên Chúa muốn là trao ban ơn cứu độ cho loài người, trả lại cho con người cuộc sống thần thiêng hạnh phúc nó đã đánh mất đi, bằng mọi giá, kể cả việc cho Ngôi Hai xuống thế làm người và chịu chết khổ nhục trên thập giá. Đây cũng là lý do giải thích tại sao mọi kitô hữu có bổn phận và vinh dự làm tất cả những gì có thể để đem ơn cứu độ đến cho mọi người.
(trích trong Hiệp Thông Mục Vụ)
admin
02-09-2009, 03:16 PM
Tội Nguyên Tổ
http://www.htth.org/so/so04/04a_toi_nguyen_to.html
admin
02-09-2009, 03:20 PM
Thật Sự Có Tội Tổ Tông Hay Không?
§ Lm Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn
Hỏi: Gần đây, có ý kiến cho rằng Tội Tổ Tông là điều không đúng và hợp lý xét về mặt tâm lý, công lý và khoa học. Xin cha cho biết ý kiến về quan điểm này.
Trả lời:
Trước hết, chúng ta cần minh định điều này : khoa hoc và tôn giáo là hai lãnh vực hoàn toàn khác biệt nhau về mục đích cũng như phương pháp. Chân lý của khoa học không phải là chân lý của bất cứ tôn giáo nào, nhất là KitôGiáo. Chân lý của khoa học có thể và phải được kiểm chứng (verify) bằng phương pháp và phương tiện khoa học, trong khi chân lý của Kitôgiáo chỉ được giải thích và giữ vững bằng đức tin (faith) mà thôi. Vì thế, không thể dùng khoa học làm nền tảng hay phương pháp để kiểm chứng bất kỳ khía cạnh nào của niềm tin Kitôgiáo, đặc biệt là Kinh Thánh.
Đây là điều kiện tiên quyết phải chấp nhận và tôn trọng trước khi đi vào bất cứ vấn đề tranh cãi (controversial)) nào liên quan đến khoa học và Kitôgiáo.
Từ căn bản trên, chúng ta có thể khẳng định ngay rằng vấn đề Tội Tổ Tông (Original sin) trong niềm tin của Giáo Hội Công Giáo không dính dáng gì đến chân lý hay khám phá nào của khoa học. Vây, ai nói rằng “quan niệm về tội tổ tông” không phù hợp với khám phá của khoa học là điều không công bằng và hợp lý nếu không muốn nói là ngớ ngẩn vì lý do vừa nói trên đây.
Mặt khác, đã gọi là đức tin thì không thể giải thích hợp lý bằng luận lý (logics) hay phương pháp của bất cứ khoa học nhân văn nào. Cụ thể, nếu dựa vào luận lý, thì Mầu Nhiệm Chúa Ba Ngôi (Mystery of the Trinity) là điều nghịch lý không thể cắt nghỉa hợp lý được. Cũng vậy, sự kiện Chúa Giêsu được thụ thai ngoài kết quả phối hợp giữa người nam và người nữ cũng như sự kiện Đức Trinh Nữ Maria sinh con mà vẫn còn trọn đời đồng trinh (ever virgin) là những điều hoàn toàn trái ngược với mọi luật tư nhiên về sinh sản và là điều không khoa học nào của con người có thể hiểu và chấp nhận được.
Những đây lại là những tín điều mà người Công Giáo phải tin cho được rỗi linh hồn. Nghĩa là không ai trong Giáo Hội được phép dựa vào bất cứ khoa học hay luận lý nào của con người để phi bác hay thách đố (challenge) những tín điều này được, vì nếu làm như vậy sẽ trở thành lạc giáo (heresy) hay bội giáo (apostasy).
Vậy để sống đức tin Kitôgiáo, người Công Giáo phải tuyệt đối vâng phục và thi hành không thắc mắc những điều Giáo Hội dạy với quyền Giáo Huấn (Magisterium= Teaching Office) trong các lãnh vực tín lý (dogma), giáo lý (doctrine) luân lý (moral) và Kinh Thánh (Sacred Scripture).
Nói đến Kinh Thánh, chúng ta cần ghi nhớ rằng Kinh Thánh không phải là cuốn sách lịch sử ghi lại những sự kiện khách quan đã thực sự xẩy ra trong không gian và thời gian nào đó. Các tác giả kinh thánh không phải là những sử gia chuyên ngành, tức những học giả đã được đào tạo về khoa sử học để giải thích cách khách quan cho hậu thế những biến cố lịch sử (historical events) đã xảy ra trong quá khứ. Ngược lại, các tác giả kinh thánh chỉ là những công cụ loài người (human tools) trong khi Chúa Thánh Thần mới thực sự là tác giả Kinh Thánh. Cho nên những điều họ viết ra hoàn toàn liên quan đến những gì Chúa Thánh Thần đã linh ứng (inspired) cho họ viết để loan truyền LỜI CHÚA(DEI VERBUM) cho con người mà thôi. Do đó chúng ta không đọc kinh thánh như đọc một cuốn lịch sử để biết về một số biến cố đã thực sự xảy ra trong quá khứ theo sự giải thích của sử gia, mà đọc để tìm hiểu Lời Chúa được mặc khải qua những trình thuật hay nhân vật được đề cập trong Kinh Thánh mà thôi. Đại Công Đồng Tridentinô (1537-1563) của Giáo Hội đã đóng thư qui (canon) về Kinh Thánh với 46 tác phẩm Cựu Ước và 27 sách Tân Ước, tổng cộng là 73 sách như chúng ta đọc thấy trong Kinh Thánh (Bible) của Giáo Hội ngày nay. Nghĩa là chỉ có những Sách này được công nhận là có ơn linh ứng (inspiration) và do đó được gọi là Sách Thánh chứa Lời Chúa mà thôi.
Kinh Thánh đã nói rõ về tội Tổ Tông (Original Sin) nơi chương 3 trong Sách Sáng Thế ký (Genesis) qua trình thuật Eva và Adam đã ăn trái cấm và bị đuổi ra khỏi vườn địa đàng. Thánh Phaolô cũng xác nhận tội này như sau :
“Vì một người duy nhất mà tội lỗi đã xâm nhập trần gian, và tội lỗi gây nên sự Chết ; như thế, sự chết đã lan tràn tới mọi người, bởi vì một người đã phạm tội” (Rm 5:12)
Mặt khác, Giáo lý hiện hành của Giáo Hội cũng dạy rằng : TỘI NGUYÊN TỔ LÀ MỘT CHÂN LÝ CHỦ YẾU CỦA ĐỨC TIN vì sự sa ngã của Adam có liên hệ mật thiết đến Mầu Nhiệm Chúa Kitô, Đấng Cứu Chuộc nhân loại, mặc dù “câu truyện sa ngã (St 3) sử dụng một thứ ngôn ngữ bóng bẩy, nhưng khẳng định một biến cố hàng đầu, một sự kiện đã xẩy ra lúc khởi đầu lịch sử loài người …” (x. SGLGHCG, số 390, 37, 55, 379, 388-89)
Trên đây là những căn bản hướng dẫn đức tin mà chúng ta phải theo để hiệp thông với Giáo Hội trong mục đích sống và loan truyền đức tin Kitôgíao trong mọi hoàn cảnh của thế giới cho đến ngày nay.
Nếu không dựa vào căn bản này của Kinh Thánh và Giáo lý của Giáo Hội thì người tín hữu dựa vào đâu để tin rằng “ Nhờ phép rửa tội, tất cả mọi tội lỗi đều được tha, tội nguyên tổ và tội của bản thân mình...”? (x. Sđd, số 1263). Nói khác đi, nếu sự kiện “tội nguyên tổ” đáng nghi ngờ vì không hợp lý theo khoa học, tâm lý học, công bình học (không thể quýt làm cam chịu) thì Giáo Hội lấy lý do nào để dạy tín hữu về hậu quả của tội lỗi và sự cần thiết phải lãnh nhận bí tích rửa tội để được cứu rỗi như Chúa Giêsu đã truyền dạy ? (x. Mt 28 : 19; Mc 16:16; Ga 3:5).
Như vậy, toàn bộ căn bản tín lý thần học của Giáo Hội về nguồn gốc của tội và nhất là về công nghiệp cứu chuộc của Chúa Kitô sẽ xụp đổ hết vì hai sự kiện này có liên hệ mặt thiết với nhau. Chúa Giêsu xuống thế và chết trên thập giá vì Thiên Chúa yêu thương, tha thứ cho con người nhưng cũng vì tội lỗi của con người nữa chứ ?
Vậy tội ở đâu mà ra ?
Tuy tác giả Sáng Thế Ký dùng “ngôn ngữ bóng bẩy” trong trình thuật về sự sa ngã của Adam và Eva, nhưng Giáo Hội khẳng định đó là “một biến cố hàng đầu đã xảy ra lúc khởi đầu lịch sử loài người”. Nghĩa là có sự kiện con người phạm tội, và “tội lỗi đã xâm nhập trần gian” như Thánh Phaolô đã dạy. Và cũng chính vì tội lỗi này của con người mà Chúa Giêsu đã xuống trần gian để cứu chuộc cho nhân loại khỏi chết vì tội như Giáo Hội tin và dạy con cái mình cho đến nay. Như thế bao lâu Giáo Hội chưa chính thức đưa ra một giáo lý nào khác về nguyên nhân và hậu quả của tội con người phạm lúc ban đầu, thì không ai trong Giáo Hội được phép đưa ra những nhận định hay giả thuyết gây hoang mang cho tín hữu về giáo lý này. Chỉ có những người không chia sẻ niềm tin của Giáo Hội mới “chế riễu” hay đả kích Giáo Hội về kinh thánh và những giáo lý đang được giảng dạy và thi hành mà thôi.
Tuy nhiên, dù cho người ta muốn cắt nghĩa cách nào về tội nguyên tổ và hậu quả di truyền của nó, thì người ta cũng không thể chối cãi được sự kiện là trong bản tính nhân loại ngày nay, vẫn hiển nhiên có khuynh hướng nghiêng chiều về sự dữ, sự tội dù có nhìn nhận đó là hậu quả của tội nguyên tổ để xin được tẩy sạch qua phép rửa hay không muốn lãnh hậu quả bất công vì quan niệm “quýt làm cam chịu”.
Đây mới là điều đáng phải quan tâm suy nghĩ hơn hết.
Thật vậy, khi nhìn nhận có tội nguyên tổ di hại đến mọi người sinh ra trong trần thế này, con người cần được tái sinh qua phép rửa để bắt đầu một cuộc sống mới trong ơn sủng cứu độ của Chúa Kitô. Nhưng phép rửa mới chỉ là bước đầu cần thiết cho một tiến trình biến đổi thiêng liêng (spiritual conversion) để cuối cùng được cứu độ nghĩa là được sống hạnh phúc đời đời với Thiên Chúa trong cõi vĩnh hằng. Tuy nhiên, Phép rửa không trả lại cho con người bản chất tốt lành nguyên thủy (original innocence) mà tội nguyên tổ đã phá hủy, cho nên “...nơi người đã được rửa tội, một số những hậu quả của tội vẫn tồn tại, như những đau khổ, bệnh tật, sự chết hoặc những yếu đuối gắn liền với sự sống như yếu đuối về tình tình, nhất là sự hướng chiều về về tội lỗi mà truyền thống gọi là nhục dục, hay nói cách bỏng bẩy là “lò phát sinh tội lỗi” (formes percati) còn để lại cho ta phải chiến đấu với nó…”(x. SGLGHCG số 1264).
Đây là thực trạng con người phải sống dù có tin giáo lý và kinh thánh nói về tội tổ tông hay không.
Chính vì thực trạng này mà nếu con người không nỗ lực cộng tác với ơn Chúa để chiến thắng khuynh hướng tội lỗi nói trên thì rửa tội rồi cũng vô ích mà thôi, dù cho người ta có nhìn nhận tội nguyên tổ hay không muốn gánh chịu luật bất công “quýt làm cam chịu” theo lý giải của người văn minh tiến bộ ngày nay. Nói rõ hơn, dù người ta có chối bỏ sự kiện về tội nguyên tổ và hậu quả di truyền bất công của tội này đi nữa, thì vẫn không giải quyết gì được về thực trạng yếu đuối muốn nghiêng chiều về sự dữ, sự tội trong bản tính con người ngày nay.
Phải chăng chính vì thực trạng này mà Chúa Giêsu đã mở đầu cho việc rao giảng Tin Mừng Cứu Độ của Người bằng lời kêu gọi sau đây:
“Anh em hãy sám hối và tin vào Tin mừng” (Mc 1:15)
Chúa kêu gọi sám hối vì biết con người không tránh được tội lỗi khi mang bản chất yếu đuối với khuynh hướng nghiêng chiều về sự xấu, sự dữ nhiều hơn là về sự thiện, sự tốt lành. Thêm vào đó là nguy cơ cám dỗ của ma quỉ “ thù địch của anh em như sư tử gầm thét rảo quanh tìm mối cắn xé” mà Thánh Phêrô đã cảnh cáo. (x 1 Pr 5:8). Hơn thế nữa, con người còn có ý chí tự do (free will) mà Thiên Chúa luôn tôn trọng, nên quá nhiều người đã và đang sử dụng tự do này để chối bỏ hay làm những điều nghịch cùng Thiên Chúa là tình thương và là Chân, Thiện Mỹ tuyệt đối.
Vì thế, nếu con người không muốn tự do chọn lựa Thiên Chúa và sống theo đường lối của Ngài thì Chúa không thể cứu ai được, dù công nghiệp cứu chuộc của Chúa Giêsu-Kitô là vô giá và cho dù người ta có nhìn nhận tội nguyên tổ và chịu phép rửa hay không.
Tóm lại, có nhìn nhận tội nguyên tổ và hậu quả di truyền của nó hay không, chưa phải là vấn đề then chốt cần tranh luận để tìm công lý và hợp lý liên quan đến ơn cứu độ. Chủ yếu phải là nhìn nhận thực trạng tội lỗi đe dọa con người có ý chí tự do sống trong bản tính yếu đuối giữa mọi nguy cơ cám dỗ của ma quỉ và gương xấu của trần gian.
Do đó, nếu con người không có thiện chí công tác với ơn cứu độ của Chúa và quyết tâm chống lại mọi nguy cơ của tội lỗi để sống theo tinh thần của Tin Mừng Cứu Độ cho đến cùng, thì phép rửa và công nghiệp cứu chuộc vô giá của Chúa Kitô sẽ không sinh ích gì cho ai hết. Và đây mới là vấn đề quan trọng đáng quan tâm nhất cho mọi người tín hữu chúng ta.
Lm Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn
http://danchuausa.net/song-dao/that-su-co-toi-to-tong-hay-khong/
vBulletin v3.5.2, Copyright ©2000-2012, Jelsoft Enterprises Ltd.