View Full Version : Chương Một: Mầu Nhiệm Cao Cả
admin
31-01-2006, 07:03 PM
Chương Một
Mầu nhiệm Cao Cả
Đặt nền Tảng
“Mầu nhiệm cao cả”, là mầu nhiệm Giáo hội và nhân tính trong Đức Kitô, không hiện hữu tách biệt khỏi “mầu nhiệm cao cả” được bày tỏ trong thực tại “một xương một thịt”… của hôn nhân và gia đình.
Đức Gioan Phaolô II [1] (http://www.gpnt.net/diendan/newthread.php?do=newthread&f=26#_edn1)
Giáo huấn của Giáo hội về tính dục và hôn nhân là tin mừng. Chân lý này phải được nhấn mạnh từ đầu. Là tin mừng vì đó là chân lý về tình yêu, và tình yêu chân thật là sự toàn thiện của con người.
Nhưng giáo huấn của Giáo hội về tính dục và hôn nhân cũng là tin thử thách, vì chân lý về tình yêu thì luôn có thử thách.
Khi chúng ta tìm thấy ý nghĩa thực sự của tính dục, chúng ta đụng tới cái cốt lõi của con người chúng ta trong cương vị là người nam và người nữ. Chúng ta gặp những ước muốn và khát vọng thâm sâu nhất của chúng ta và, cùng lúc, những lo sợ sâu thẳm nhất, những vết thương, những ích kỷ, cũng như tội lỗi. Thử thách chính là chỗ này: chúng ta phải đối diện với sự thật của bản tính con người của chúng ta - cái tốt và cái xấu - nếu chúng ta muốn khám phá sự thật về tính dục của chúng ta. Đương nhiên việc này sẽ dẫn chúng ta tới thập giá. Vì chính Thiên Chúa, bằng cách bày tỏ chân lý tình yêu, chỉ rõ cho chúng ta ý nghĩa của sự sống.
“Yêu nhau như Thầy vẫn yêu thương các con” (Ga 15,12). Những lời của Đức Kitô này tóm tắt ý nghĩa của sự sống và ý nghĩa của tính dục con người. Ở cốt lõi của nó, luân lý tính dục là sự biểu lộ tình yêu của Thiên Chúa qua thân thể chúng ta. Đó là lý do mà ĐTC Gioan Phaolô II có thể nói rằng nếu chúng ta sống theo sự thật về tính dục của chúng ta, chúng ta làm tròn chính cái ý nghĩa của hiện thể và sự hiện hữu của chúng ta. [2] (http://www.gpnt.net/diendan/newthread.php?do=newthread&f=26#_edn2)
Tuy nhiên nói ngược lại cũng đúng. Nếu chúng ta không sống theo sự thật về tính dục thì chúng ta sẽ đánh mất hoàn toàn ý nghĩa của sự hiện hữu của chúng ta. Chúng ta chối bỏ niềm vui và hạnh phúc thật sự.
Cho nên, những tranh luận về luân lý tính dục không chỉ là do những quan điểm đạo đức khác nhau, những chú giải khác nhau về Kinh Thánh, hay quyền của Giáo hội đối với lương tâm cá nhân. Không, chúng đi sâu hơn thế nữa. Tại gốc rễ của nó, những tranh luận về luân lý tính dục là những tranh luận về ý nghĩa của sự sống.
Giáo hội không ngừng công bố rằng Đức Kitô đến trần gian không những chỉ bày tỏ cho chúng ta ý nghĩa của sự sống, nhưng còn ban cho chúng ta ơn sủng để khắc phục những sợ hãi, đau thương, ích kỷ và tội lỗi để chúng ta sống theo ý nghĩa đó. Tình yêu chân thật có thể có được. Đó là lời hứa mà Giáo hội nêu ra cho chúng ta trong những giáo huấn về tính dục và hôn nhân. Đây là tin mừng. Đây là tin lớn lao.
Nhưng nếu là “tin lớn lao”, thì tại sao quá nhiều người lại tranh luận về giáo huấn của Giáo hội? bạn có thể hỏi. Chúng ta cần phải thành thật ở đây. Người ta tìm ra nhiều điểm trong giáo huấn của Giáo hội để tranh cãi, nhưng nếu ai đó có điều gì khó chịu với Giáo hội Công giáo, thì điều đó luôn là tính dục. Hoặc là giáo huấn của Giáo hội về ngừa thai (“Mau lên nào, hiện đại hoá theo thế giới tân thời!”), ly dị và tái hôn (“Bạn có thể vô tình tới mức độ nào?”), hay chỉ truyền chức linh mục cho đàn ông (“Bằng chứng cụ thể là Giáo hội đàn áp phụ nữ”), những tranh cãi đó thường dựa trên những bất đồng ý kiến của chúng ta về tính dục.
Đó là lý do chúng ta cần phải đi tới một sự hiểu biết sáng suốt về điều Thiên Chúa đã mạc khải cho chúng ta về bản chất tính dục con người. Trong khi ý kiến rất được ưa chuộng cho rằng quan điểm Kitô giáo về tính dục rất là tiêu cực, thì điều chúng ta thực sự khám phá ra bằng suy niệm dựa trên Kinh thánh là tính dục trong kế hoạch của Thiên Chúa tuyệt vời hơn bất cứ ai có thể mơ tưởng đến. Điều đó thật đúng là không thể tin được, nghĩa là quá cao siêu. Chỉ có đức tin mới có thể tin được “mầu nhiệm cao cả” này.
1. Vị trí thiết yếu của Tính dục trong Kế hoạch của Thiên Chúa
Do đó tính dục không phải là chuyện bên lề. Thực vậy, ĐTC Gioan Phaolô II nói rằng, ơn gọi vào “tình yêu hôn nhân” bày tỏ qua tính dục của chúng ta là “yếu tố căn bản của sự hiện hữu của con người trên thế giới”. [3] (http://www.gpnt.net/diendan/newthread.php?do=newthread&f=26#_edn3) Không gì có thể quan trọng hơn điều đó. ĐTC còn quả quyết rằng chúng ta không thể hiểu Kitô giáo là gì nếu chúng ta không hiểu sự thật và ý nghĩa của tính dục của chúng ta.[4] (http://www.gpnt.net/diendan/editpost.php#_edn1)
Từ đầu tới cuối, Kinh Thánh chính là một câu chuyện về hôn nhân. Câu chuyện bắt đầu bằng hôn nhân của ông Ađam và bà Evà trong sách Sáng Thế và kết thúc với “đám cưới của Con Chiên” - đám cưới giữa Đức Kitô và Giáo hội trong sách Khải Huyền. Xuyên suốt Kinh Thánh Cựu Ước, tình yêu của Thiên Chúa dành cho dân Người được mô tả như là tình yêu của một người chồng dành cho vợ mình. Trong Tân Ước, Đức Kitô là hiện thân của tình yêu này. Người đến như một Tân Lang từ trời xuống để kết hợp với Tân Nương của Người - với chúng ta.
Đúng vậy, kế hoạch của Thiên Chúa từ muôn đời là “kết hôn” với chúng ta – là kéo chúng ta vào trong sự hiệp thông mật thiết nhất với Người. Thiên Chúa muốn bày tỏ kế hoạch muôn đời này cho chúng ta bằng một cách mà chúng ta không thể nào quên sót được, vì thế Người đóng dấu ngay trong chính hữu thể của chúng ta là nam và nữ. Điều này có nghĩa là Thiên Chúa muốn nói cho người trần gian chúng ta biết Người là ai, chúng ta là ai, ý nghĩa của sự sống là gì, lý do Người tạo dựng chúng ta, chúng ta phải sống làm sao, và ngay cả cái vận mệnh sau hết của chúng ta tất cả những điều ấy hầu như được gói ghém trong sự thật và ý nghĩa của tính dục và hôn nhân. Đây là điều thật quan trọng.
Chúng ta cùng đào sâu hơn.
-----
[1] (http://www.gpnt.net/diendan/newthread.php?do=newthread&f=26#_ednref1) Gioan Phaolô II, Thư cho các gia đình (http://gpnt.net//thuvien/camnanggiadinh/thugiadinh.htm), số 19.
[2] (http://www.gpnt.net/diendan/newthread.php?do=newthread&f=26#_ednref2) x. Thần học thân xác (Thtx.), 16/1/1980 (http://www.gpnt.net/diendan/showthread.php?t=343)
[3] (http://www.gpnt.net/diendan/newthread.php?do=newthread&f=26#_ednref3) x. Thtx., 16/1/1980 (http://www.gpnt.net/diendan/showthread.php?t=343)
[4] (http://www.gpnt.net/diendan/editpost.php#_ednref1) x. Gioan Phaolô II, Thư cho các Gia đình, số 19
http://gpnt.net/thuvien/thanhocthanxac/tinmungtinhduchn/audio/Mau Nhiem Cao Ca.mp3
Phần Audio do Thầy Phó Tế Vĩnh Viễn Phạm Văn Tuyền thực hiện
admin
31-01-2006, 07:13 PM
2. Nam và Nữ: Hình ảnh của Thiên Chúa Ba Ngôi
Sách Sáng Thế thực ra gồm hai bài tường thuật về công trình sáng tạo. Trong bài tường thuật thứ nhất chúng ta được biết Thiên Chúa tạo dựng con người, đặc biệt là người nam và người nữ, trong hình ảnh và giống Người (St 1,27). Điều này có nghĩa là bằng cách này hay cách khác, với tính bổ trợ của hai phái tính, chúng ta biểu tỏ hình ảnh của Thiên Chúa. Là nam là nữ, chúng ta làm cho mầu nhiệm vô hình của Thiên Chúa trở nên hữu hình.
Mầu nhiệm vô hình của Thiên Chúa là gì? Thánh Gioan tóm lược lại rất hay: “Thiên Chúa là tình yêu” (1 Gioan 4,8). Chúng ta thường suy tưởng câu kinh thánh này với chiều kích tình yêu Thiên Chúa dành cho chúng ta. Đó mới chỉ là một phần ý nghĩa câu kinh thánh đó. Nhưng ngay cả trước khi Thiên Chúa yêu chúng ta, Người là Tình yêu tự (bản) thân, trong mối tương quan của ba Ngôi vị của Mầu nhiệm Ba Ngôi.
Tự nơi bản thân Người, Thiên Chúa là sự hiệp thông phát sinh sự sống của ba Ngôi vị. Chúa Cha, từ muôn thuở, chính Người mãi là quà tặng tình yêu cho Chúa Con. (Như chúng ta đọc trong Kinh Thánh, Chúa Giêsu là “người con yêu dấu” của Chúa Cha (Mt 3,17). Và Chúa Con, mãi muôn đời nhận quà tặng của Chúa Cha, lại trao tặng chính mình làm quà cho Chúa Cha. Tình yêu giữa hai Ngôi quá chân thật, quá thâm sâu, đến nỗi tình yêu này lại là một Ngôi vị khác: Chúa Thánh Thần.
Giữa những sự vật khác, thì chính việc chúng ta được tạo dựng theo hình ảnh và giống như Thiên Chúa, muốn mạc khải: chúng ta được gọi để yêu như Thiên Chúa yêu, trong sự hiệp thông phát sinh sự sống của các nhân vị. Và chúng ta thực hiện việc này đặc biệt trong cương vị người nam và người nữ. Người nam tự căn là hướng về biến chính mình thành quà tặng cho người nữ. Và người nữ tự căn là hướng về nhận quà tặng của người đàn ông vào trong mình và trao tặng lại bản thân mình cho người nam. Và tình yêu của họ thật là trung thực, sâu đậm, đến nỗi, nếu đẹp lòng Chúa, có thể trở thành một con người khác.
Như vậy việc giao hợp tính dục tự nó được nhắm để tham dự vào chính sự sống và tình yêu của Thiên Chúa. Việc giao hợp tính dục tự nó bày tỏ (làm thành hữu hình) mầu nhiệm vô hình của Thiên Chúa. [5] (http://www.gpnt.net/diendan/newreply.php?do=newreply&noquote=1&p=270#_edn1)
Yêu thương và được thương yêu như Thiên Chúa yêu thương - đây là cái ước vọng thầm kín nhất của trái tim con người. Thiên Chúa đã đặt nó ở đó khi Người tạo dựng chúng ta theo hình ảnh Người. Không gì khác có thể thoả mãn được. Không gì khác sẽ làm cho tròn vẹn.
Đây là điều mà chúng ta mang nơi thân mình là nam là nữ. Tính dục thật là đẹp, thật tuyệt vời, thật vẻ vang đến nỗi nó được nhắm để diễn tả cái tình yêu thanh thản, trọn vẹn, thuỷ chung, và sinh hoa kết quả của Thiên Chúa. Tên gọi khác cho cách biểu đạt tình yêu này là hôn nhân.
Đúng vậy - Tính dục được nhắm để diễn đạt hôn ước. Tính dục là nơi cho những lời hôn ước biến thành máu thịt. Đó là lý do tại sao giao hợp được gọi là âu yếm vợ chồng.
Trước bàn thờ, cô dâu và chú rể uỷ thác thân mình cho nhau một cách thanh thản, trọn vẹn, thuỷ chung, và sinh hoa kết quả cho lúc nhắm mắt xuôi tay - đó là những lời hứa theo giáo luật mà họ cam kết, chung thuỷ, bất phân ly, và đón nhận con cái. Rồi đêm đó, và trong suốt đời hôn nhân, họ thi diễn sự uỷ thác của họ. Họ diễn bày bằng thân mình điều mà họ biểu lộ bằng tâm trí và trái tim trước bàn thờ. Làm như vậy, họ hoàn hợp hôn nhân của họ. Nghĩa là, họ hoàn thành, hoàn mỹ, đóng ấn, và làm cho hôn nhân lại trở nên mới.
-----
[5] (http://www.gpnt.net/diendan/newreply.php?do=newreply&noquote=1&p=270#_ednref1) Chúng ta phải cẩn thận đừng hiểu sai về những gì đang nói. Giới tính của chúng ta bày tỏ điều gì đó về mầu nhiệm Ba Ngôi điều này không có nghĩa là Ba Ngôi có giới tính. Thiên Chúa không được tạo thành theo hình ảnh của con người là nam là nữ nhưng con người được dựng nên theo hình ảnh Thiên Chúa. Xem GLHTCG, số 370
http://gpnt.net/images/arrow_dyn.gif
admin
01-02-2006, 01:15 PM
3. Hôn nhân: Nhiệm tích giữa Đức Kitô và Giáo hội
Vợ chồng không những chỉ là hình ảnh của tình yêu của Thiên Chúa trong mầu nhiệm Ba Ngôi, họ còn là hình ảnh của tình yêu giữa Thiên Chúa và nhân loại, được làm cho tỏ tường qua tình yêu của Thiên Chúa và Giáo hội. Qua bí tích Rửa tội, hôn nhân của Kitô hữu là một bí tích. Điều đó có nghĩa hôn nhân là một dấu chỉ sống thực sự thông truyền và dự phần vào sự kết hợp của Đức Kitô và Giáo hội. Hôn ước được sống trong sự kết hợp nên “một xác thịt” của đôi vợ chồng cấu tạo cái dấu chỉ sống này. [6] (http://www.gpnt.net/diendan/newreply.php?do=newreply&noquote=1&p=271#_edn1)
Lặp lại lời của Thánh Phaolô: Vì lý do này người đàn ông sẽ từ bỏ cha mẹ mình và gắn bó với vợ mình, và cả hai sẽ nên một. Đây là một mầu nhiệm thâm sâu, và ám chỉ về Đức Kitô và Giáo hội (Ep 5,31-32). Đức Kitô rời bỏ Chúa Cha trên trời. Người rời bỏ nhà của mẹ mình dưới thế - trao trọn thân mình cho Tân Nương của Người, để chúng ta có thể trở nên “một xác thịt” với Người.
Chúng ta có thể trở nên “một xác thịt” với Đức Kitô nơi nào? Đặc biệt nhất là trong phép Thánh Thể. Phép Thánh Thể là sự hoàn hợp nhiệm mầu hôn nhân giữa Đức Kitô và Giáo hội. Và một khi chúng ta tiếp nhận thân mình của Tân Lang thiên quốc vào trong thân mình chúng ta, như là hôn thê, chúng ta thai nghén một sự sống mới trong chúng ta. Như Đức Kitô đã nói, “Nếu ngươi không ăn thịt và uống máu Con Người, ngươi không có sự sống trong ngươi” (Ga 6,53).
Vì sự thông hiệp nên “một xác thịt” của người đàn ông và người vợ tiên báo, ngay từ thuở ban đầu, sự hiệp thông Thánh Thể của Đức Kitô và Giáo hội, nên ĐTC Gioan Phaolô II nói tới hôn nhân như là “bí tích nguyên thuỷ”. Chúng ta hãy dừng lại một chút để cái hiện thực này lắng xuống. Trong mọi cách mà Thiên Chúa chọn để biểu lộ cuộc sống và tình yêu của Người trên trần gian thụ tạo, ĐTC Gioan Phaolô II nói rằng hôn nhân - đặc biệt hơn nữa, sự âu yếm vợ chồng – là cái căn bản nhất.
Thánh Phaolô đã không nói đùa khi ngài gọi đây là một “nhiệm tích thâm sâu”. Có thể nào Thiên Chúa làm cho tính dục của chúng ta quan trọng hơn thế nữa? đẹp hơn? và vinh quang hơn? Thiên Chúa ban cho chúng ta sự ham muốn tính dục làm năng lực để yêu như Người hằng yêu, bởi thế chúng ta mới có thể dự phần vào cuộc sống thần linh và chu toàn ý nghĩa của hữu thể và hiện hữu của chúng ta.
Nghe hay đấy, bạn có thể nói, nhưng nó hơi xa vời đối với cách tính dục đang phô diễn ra trong kinh nghiệm của con người thực tế. Vâng, đúng vậy. Sự ngược đãi phụ nữ trong lịch sử do tay người đàn ông; cái thảm kịch của hãm hiếp và các tội ác dâm dục ghê tởm khác, ngay cả đối với trẻ thơ; AIDS và nhiều chứng bệnh truyền nhiễm qua đường tình dục khác; các bà mẹ chưa chồng; những đứa con không cha; phá thai; ngoại tình làm tăng vụt tỉ lệ ly dị; việc mãi dâm; kỹ nghệ khiêu dâm lớn cả tỉ đồng đô la; cái bóng mây bao quát của nhục nhã và tội lỗi đang giăng trên những vấn đề tính dục - tất cả những thứ này vẽ một bức hoạ rất khác với bức tranh Thánh Phaolô và ĐTC Gioan Phaolô II trao cho chúng ta.
Thực ra, cái bức hoạ được vẽ là cái thảm kịch của tội lỗi con người và cái suy sụp của chúng ta xa rời ý định của Thiên Chúa về tính dục cho chúng ta từ “thuở ban đầu”.
-----
[6] (http://www.gpnt.net/diendan/newreply.php?do=newreply&noquote=1&p=271#_ednref1) Xem Thtx, 5/1/1983. Đức Gioan Phaolô II mang đến một sự phát triển cho hiểu biết của Giáo hội về dấu chỉ bí tích của hôn nhân. Về mặt lịch sử, hầu hết các thần học gia đều đặt dấu chỉ bí tích của hôn nhân trong việc trao lời thề hứa kết hôn, đối lại với quan điểm khác đặt dấu chỉ bí tích trong hành vi hoàn hợp. Đức Gioan Phaolô II lấy cả hai lối nhìn ấy đặt lại chung với nhau bằng cách nhận thức rằng những lời thề hứa kết hôn “chỉ có thể nên trọn qua hành vi giao hợp vợ chồng”. Nơi hành vi giao hợp vợ chồng, Ngài nói, chúng ta bước sang cái hiện thực tương xứng với những lời cam kết này. Cả hai yếu tố này, điều này cũng như điều kia, đều quan trọng cho việc cấu thành dấu chỉ bí tích.
http://gpnt.net/images/arrow_dyn.gif
admin
01-02-2006, 01:37 PM
4. Tính dục con người “ngay từ thuở ban đầu”
Trở lại Sách Sáng Thế. Trong khi câu chuyện tạo dựng thứ nhất đưa ra một bài tường thuật khách quan về ơn gọi để yêu của chúng ta thì bài tường thuật tạo dựng thứ hai nói về kinh nghiệm chủ quan của nguyên tổ chúng ta về ơn gọi đó. Ông Ađam và bà Eva đại diện cho tất cả chúng ta. Nếu chúng ta để cho Lời linh hứng nói với chúng ta, chúng ta thấy những xu hướng bên trong tận đáy lòng chúng ta bị phơi trần trong câu truyện của họ. Chúng ta cảm nghiệm một “âm vang” của ý định nguyên thuỷ của Thiên Chúa nằm sâu trong chúng ta. Chúng ta cảm nhận được cái đẹp của nó, nhận thức được độ xa chúng ta đã xa lìa nó, và mong muốn phục hồi lại nó. [7] (http://www.gpnt.net/diendan/editpost.php#_edn1)
Thiên Chúa tạo dựng ông Ađam từ bụi đất và thổi hơi thở của sự sống vào ông (St 2,7). [8] (http://www.gpnt.net/diendan/editpost.php#_edn2) Tiếng Do Thái cho từ “hơi thở” trong ngôn ngữ kinh thánh gốc là từ chỉ thần khí. Và chúng ta nên nhớ rằng Thần Khí Thiên Chúa là tình yêu đích thực giữa Chúa Cha và Chúa Con. Thiên Chúa đang thổi tình yêu của Người vào Con Người.
Như chúng ta đã thấy, điều muốn nói ở đây là con người là một nhân vị được mời gọi để sống trong tương quan tình yêu với Thiên Chúa. Con người, sau khi đã nhận được tình yêu của Thiên Chúa, được mời gọi trao tặng bản thân lại cho Thiên Chúa. Họ cũng được gọi để chia sẻ tình yêu với người khác (Mt 22,37-40). Ơn gọi này được đóng ấn trong chính hữu thể của họ, và họ chỉ có thể thành toàn chính họ bằng cách thi hành theo. Như Công Đồng Vatican II đã dạy, “Con người, tạo vật duy nhất trên mặt đất do Thiên Chúa tạo nên cho chính họ, không thể nào hoàn toàn tìm thấy được chính mình nếu không chân thành tặng trao chính bản thân mình.” [9] (http://www.gpnt.net/diendan/editpost.php#_edn3)
-----
[7] (http://www.gpnt.net/diendan/editpost.php#_ednref1) Một số người có thể phản đối: “Khoa học đâu có bác bỏ hoàn toàn việc Adong và Eva ăn ở với nhau?” Đúng. Các câu chuyện sáng tạo trong sách Sáng thế không bao giờ có chủ ý tường trình khoa học về chuyện thế giới này được hình thành như thế nào. Sách Sáng thế dùng lối nói ẩn dụ để nói về những chân lý sâu xa hơn về vũ trụ, và sự hiện hữu của chúng ta trong vũ trụ ấy, mà khoa học không thể nói cho chúng ta biết.
Giả sử rằng bạn xin cả hai người, khoa học gia và thi sĩ miêu tả một cây gì đó. Họ sẽ cho bạn những bản tường trình rất khác nhau. Ai có thể nói rằng vị khoa học gia phi bác chàng thi sĩ.
Hơn nữa, các câu chuyện sáng tạo trong sách Sáng thế hoàn toàn không phải là thơ ca của người nào đó. Tuy chúng mang màu sắc thần bí, nhưng các câu chuyện ấy không phải là thần thoại. Đó là Lời Thiên Chúa linh hứng. Các câu chuyện ấy nói lên sự thật – sự thật sâu xa – về ý nghĩa của sự sống, Thiên Chúa là ai, và chúng ta là ai xét như là người nam và người nữ. Giáo hội giải thích biểu tượng trong ngôn ngữ kinh thánh bằng một phương thế đáng tin cậy, dạy rằng nguyên tổ của chúng ta được dựng nên trong một tình trạng thánh thiện và công chính nhưng đã sa ngã qua một sự việc đã xảy ra ngay từ thuở ban đầu của lịch sử con người (x. GLHTCG, ss. 375 và 390).
[8] (http://www.gpnt.net/diendan/editpost.php#_ednref2) Vào thời điểm này trong lịch sử, “Ađam” (theo tự nghĩa có nghĩa là “con người”) là một ngôi vị bản tính con người và đại diện cho toàn thể nhân loại, không chỉ riêng cho đàn ông. Thật vậy, tường thuật kinh thánh không phân biệt giữa nam và nữ cho tới lúc người nữ được tạo dựng từ xương sườn Ađam.
[9] (http://www.gpnt.net/diendan/editpost.php#_ednref3) Vui mừng và Hy vọng, số 24 (từ đây sẽ viết tắt là GS). Được tạo dựng cho “chính chúng ta” nghĩa là, giữa những thứ khác, chúng ta không bao giờ bị ngang nhiên sử dụng như là phương tiện cho mục đích của một con người khác. Ngược lại, số tạo vật còn lại được tạo dựng không cho “riêng chúng” nhưng dành cho chúng ta. Bao lâu chúng ta còn là đầy tớ trung tín, chúng ta có thể sử dụng giới thụ tạo cho lợi ích của chúng ta. Nhưng chúng ta đừng bao giờ sử dụng người khác.
http://gpnt.net/images/arrow_dyn.gif
admin
01-02-2006, 02:10 PM
5. Ở một mình không tốt
Đó là lý do tại sao Thiên Chúa phán: “Con người ở một mình thì không tốt. Ta sẽ làm cho nó một trợ tá tương xứng với nó” (St 2,18). Có nghĩa là Thiên Chúa nói: “Ta sẽ tạo dựng một người nào đó nó có thể yêu thương được.” Do đó, Thiên Chúa tạo dựng những thú vật từ bụi đất và đem chúng lại cho con người đặt tên.
Khi đặt tên cho những thú vật, con người nhận thức ra họ khác biệt với chúng. Những thú vật không được tự do để xác quyết những hành động của chúng như con người. Chúng không được gọi để yêu trong hình ảnh của như con người. Chúng ta có thể tưởng tượng ra câu trả lời với Thiên Chúa: “Con cám ơn, thưa Thiên Chúa, cho tất cả những thú vật này. Nhưng con không thể yêu con hươu cao cổ. Con không thể hiến dâng bản thân cho con ruồi giấm.”
Cho nên Thiên Chúa đưa con người vào một giấc ngủ mê rồi rút một cái xương sườn ra. Nếu dịch là “giấc ngủ mê”, chúng ta sẽ bỏ mất đi một ít ý nghĩa. Có thể hay hơn nên dịch “ecstasy” là “xuất thần”. “Ecstasy” theo sát nghĩa là “đi ra khỏi bản thân”, và trạng thái xuất thần của ông Ađam có nghĩa là Thiên Chúa đã rút từ chính bản thân ông ra người đàn bà. Hơn nữa trong ngôn ngữ gốc, “xương sườn” là lối chơi chữ của “sự sống”. Điều này có nghĩa là người đàn bà đến từ chính cùng một sự sống tương tự như người đàn ông.[10] (http://www.gpnt.net/diendan/newreply.php?do=newreply&noquote=1&p=282#_edn1)
Sự sống của con người là gì? Nó là hơi thở của Thiên Chúa đã làm ông Ađam thành một hữu thể sống (St 2,7). Người nam và người nữ chia sẻ cùng một nhân tính. Cả hai đều có Thần Khí của Thiên Chúa ở trong họ, có nghĩa là cả hai được gọi để yêu thương trong hình ảnh Thiên Chúa.
Giờ đây thử tưởng tượng cái tâm trạng của ông Ađam khi ông thức dậy chợt thấy ngay người nữ của mình. Cái ước muốn sâu thẳm nhất của trái tim ông là yêu thương trao tặng chính bản thân mình cho một người khác “giống như mình”, vì ông vừa mới đặt tên xong cho hàng tỉ thú vật mà không tìm thấy một ai như vậy. Thế rồi ông nói gì?
“Cuối cùng, nàng chính là người ấy! Nàng là xương của xương tôi và thịt của thịt tôi” (St 2,23).
Làm sao ông Ađam biết cô ta chính là người mà ông có thể yêu được? Nên nhớ rằng họ đang còn trần truồng. Chính cái thân thể của họ đã bộc lộ cái sự thật tâm linh của con người họ. Trong cái trần truồng họ khám phá ra cái mà Đức Gioan Phaolô II gọi là “ý nghĩa hôn nhân của thân thể,” có nghĩa là “khả năng [của thân thể] diễn đạt tình yêu: tình yêu mà trong đó con người trở thành món quà và - bằng món quà này - thành toàn cái ý nghĩa của cái hữu thể và sự hiện hữu của mình.” [11] (http://www.gpnt.net/diendan/newreply.php?do=newreply&noquote=1&p=282#_edn2)
Ông Ađam nhìn thân mình ông; rồi nhìn bà Evà. Ông nhận thức ra cái thực tại sâu sắc này: “Chúng ta là cặp trùng đôi với nhau. Thiên Chúa tạo dựng chúng ta cho nhau. Tôi có thể trao tặng bản thân tôi cho cô, và cô có thể cho trao bản thân cô cho tôi, và chúng ta có thể sống trong một sự thông hiệp tình yêu nẩy sinh sự sống” – hỉnh ảnh của Thiên Chúa, hôn nhân
Đó là cái cảm tính ham muốn tính dục như Thiên Chúa đã sáng tạo và như họ đã cảm nghiệm biến chính mình thành quà tặng cho nhau theo hình ảnh của Thiên Chúa. Đó là lý do tại sao họ trần truồng mà không cảm thấy xấu hổ (St 2,25). Không có sự xấu hổ khi yêu như Thiên Chúa yêu, chỉ có cái cảm nghiệm của vui tươi, đầm ấm, và một kiến thức sâu xa về tình yêu thương.
-----
[10] (http://www.gpnt.net/diendan/newreply.php?do=newreply&noquote=1&p=282#_ednref1) x. Thtx, 7/11/1979 (http://www.gpnt.net/diendan/showthread.php?t=261)
[11] (http://www.gpnt.net/diendan/newreply.php?do=newreply&noquote=1&p=282#_ednref2) x. Thtx, 16/1/1980 (http://www.gpnt.net/diendan/showthread.php?t=343)
http://gpnt.net/images/arrow_dyn.gif
admin
01-02-2006, 02:17 PM
6. Những Hậu Quả của Tội Tổ Tông
Chúng ta hãy suy nghĩ về cái tình trạng này một chút. Nếu sự kết hợp “một xác thịt” của hôn nhân được coi như là cái mạc khải căn bản trong sự tạo dựng sự sống và tình yêu của Thiên Chúa, và nếu kẻ thù của Thiên Chúa muốn ngăn cản chúng ta cảm nghiệm sự sống và tình yêu của Thiên Chúa, thì nó sẽ làm thế bằng cách nào? Chà... Thử xem nào.
Thiên Chúa đã nói với ông Ađam rằng ông được tự do ăn bất cứ trái cây nào trong vườn ngoại trừ “cây khôn ngoan biết sự tốt và xấu”. Nếu ông ăn, ông sẽ chết (St 2,17). Theo tính biểu tượng của ngôn ngữ Kinh thánh, ở đây chúng ta thấy Thiên Chúa vạch ra một ranh giới mà nhân loại không được tự ý phạm tới. Chỉ một mình Thiên Chúa, biết cái gì là tốt cho chúng ta. Là những vật thụ tạo, chúng ta phải phó thác vào sự quan phòng của Thiên Chúa và không nên xoi mói để xác quyết cái tốt và sấu cho chúng ta. Nếu chúng ta làm, chúng ta sẽ chết.
Đây là một loại suy. Giả thử bạn mới mua một chiếc xe hơi mới và lần đầu tiên chạy vào cây xăng để đổ xăng. Bên thùng đựng xăng thấy tấm bảng nhỏ ghi “chỉ dùng xăng không pha chì”.
Người thiết kế chiếc xe biết nó từ trong ra ngoài. Người ta biết cái gì tốt cho chiếc xe. Thật là dại khờ nếu bạn nói, “Tôi chẳng cần để ý tới điều mà hãng sản xuất chỉ dẫn. Tôi cứ bơm dầu diesel vào.” Nếu bạn làm như thế, xe bạn sẽ bị hư hỏng nặng.
Giống như chiếc xe, cách duy nhất mà cuộc sống chúng ta có thể “chạy” trơn tru như liệu định là nếu chúng ta sống theo kế hoạch của Đấng Kiến Tạo. Tấm bảng nhỏ trên chiếc xe không phải là để hạn chế cái tự do của chúng ta nhưng để tạo điều kiện dễ dàng cho sự tự do chọn lựa khôn ngoan của chúng ta. Các giới răn của Thiên Chúa cũng thế. Chúng phục vụ cho sự tự do của chúng ta.
Tự do thật sự không phải là làm bất cứ cái gì chúng ta muốn. Tự do thật sự là làm bất cứ những điều gì tốt, bất cứ điều gì xứng với sự thiện mỹ của bản tính con người (nhân bản) chúng ta. Như Chúa Giêsu nói, sự thật sẽ giải thoát chúng ta (Gioan 8,32).
Tuy nhiên, cái ý tưởng đòi tự quyết định cho lối sống của chúng ta thật là quyến rũ. “Tôi không cần để ý tới giáo huấn của Thiên Chúa. Tôi không cần biết là Người đã thiết lập Hội thánh để giảng dạy chân lý. Tôi cứ làm cái tôi muốn làm.” Nếu chúng ta thừa nhận cái khuynh hướng này trong chúng ta, là chúng ta thừa nhận rằng chúng ta đã được thừa hưởng tội tổ tông.
Nhưng tại sao chúng ta lại nghi ngờ tình yêu và sự xếp đặt của Thiên Chúa dành cho chúng ta? Tại sao chúng ta lại có thể ăn trái cây mà Thiên Chúa, vì yêu thương chúng ta, bảo chúng ta đừng ăn? Nên nhớ là: điều này cũng dại dột giống như bơm dầu diesel vào xe máy chạy xăng không pha chì.
Tại sao chúng ta lại có thể làm điều đó. Vì, như Giáo lý Công giáo dạy, “đằng sau cái lựa chọn bất tuân phục của ông bà nguyên tổ chúng ta có dấu giếm một giọng nói quyến rũ chống lại Thiên Chúa, giọng nói giọng nói này đẩy họ vào sự chết vì ghen tương”. [1]
Cái giọng nói quyến rũ này là Cha của Dối Trá, tên lừa đảo, quỉ Satan. Nó ghen vì nhân loại được tạo dựng theo chính hình ảnh và giống Thiên Chúa, và được mời gọi làm con người là nam là người nữ vào cùng hưởng sự sống thần linh. Do đó quỉ Satan giàn dựng để ngăn trở chúng ta khỏi sự sống của Thiên Chúa bằng cách thuyết phục chúng ta rằng Thiên Chúa không yêu thương chúng ta.
Gieo nghi ngờ vào đầu óc người đàn bà, con rắn nói: “Có phải Thiên Chúa dạy, ‘Ngươi không được ăn trái của bất cứ cây nào trong vườn không?’... Ngươi sẽ không chết. Vì Thiên Chúa biết là khi ngươi ăn nó con mắt ngươi sẽ được mở ra, và ngươi sẽ trở nên giống Thiên Chúa, biết điều lành điều dữ" (St 3,1,4-5). Cái ám chỉ là: Thiên Chúa không muốn ngươi trở thành giống Người; Thiên Chúa đang che giấu bản thân khỏi ngươi; Thiên Chúa không phải là tình yêu. Nếu ngươi muốn trở thành “giống Thiên Chúa”, thì ngươi phải vươn tay ra và nắm lấy.
Bây giờ, chờ xem. Thiên Chúa đã tạo dựng ông Ađam và bà Eva theo hình ảnh và giống như Người rồi (St 1,26). Thế mà quỉ Satan vẫn còn gắng mồi chài cho họ ham muốn điều mà họ đã có.
Khi người đàn bà thấy rằng trái cây thật “đẹp mắt”, bà hái và ăn. Bà đưa cho chồng và ông ta ăn. Rồi mắt họ được mở ra và họ nhận thấy rằng họ trần truồng, do đó họ che thân thể họ lại (St 3,6-7).
Việc gì đã xảy ra? Trước khi họ ăn trái cây ấy họ đang trần truồng mà không cảm thấy xấu hổ. Bây giờ thì cái cảm nghiệm về sự trần truồng bị thay đổi. Tại sao?
Thiên Chúa là sự thật và không bao giờ nói dối. Người đã phán bảo rằng nếu họ ăn trái cây đó, họ sẽ chết. Lẽ dĩ nhiên, họ đã không ngã lăn đùng ra chết, nhưng họ đã chết theo chiều kích tâm linh.
Chính Thần Khí đã được ban cho họ như là ơn gọi và năng lực để yêu thương. Một khi Thần Khí “chết” nơi ông bà nguyên tổ chúng ta, thì cái khả năng sẵn có để yêu thương theo hình ảnh Thiên Chúa trong con người là nam là nữ cũng bị chết theo. Thiếu Thần Khí, sự ham muốn tính dục đã biến thành tráo trở và ích kỷ.
Ông Ađam và bà Eva không còn thấy cái mạc khải của kế hoạch tình yêu của Thiên Chúa trong thân thể của nhau nữa. Bây giờ họ coi thân thể người khác như là một vật để họ thoả mãn những ham muốn ích kỷ của họ. Như vậy, cái cảm nghiệm trần truồng trước sự hiện diện của người khác – và Thiên Chúa - trở thành cái cảm nghiệm của sợ hãi, chia cách, và nhục nhã: “Tôi sợ hãi vì tôi trần truồng, nên tôi lẩn trốn” (St 3,10).
Sự xấu hổ của họ không mắc mứu gì nhiều tới chính thân thể nhưng tới cái dục vọng giờ đây ở trong lòng họ. Vì họ vẫn biết rằng bởi họ đã được tạo dựng cho chính bản thân họ cho nên họ không bao giờ được coi như là vật cho người khác sử dụng. Do đó, họ đã che đậy thân thể họ để bảo vệ phẩm giá của họ khỏi những “cặp mắt” thèm thuồng của kẻ khác. Thật ra, đây là một tác dụng tích cực của sự xấu hổ, vì nó thực sự giúp bảo vệ “ý nghĩa hôn nhân của thân thể”.
http://gpnt.net/images/arrow_dyn.gif
admin
01-02-2006, 02:45 PM
7. Sự Bổ trợ của Tính dục trở thành mối Kình địch của Tính dục
Thân thể là cái biểu tượng của cá nhân như Đức Gioan Phaolô II đã nói. [12] (http://www.gpnt.net/diendan/newreply.php?do=newreply&noquote=1&p=284#_edn1) Đó có nghĩa là tất cả những khác biệt giữa người nam và người nữ chúng ta (tình cảm, suy nghĩ, tâm linh, cũng như thể xác) đã được Thiên Chúa tạo dựng để bổ trợ nhau và để kết hợp chúng ta trong những phương cách phát sinh sự sống. Tuy nhiên, vì tội lỗi chúng ta thường cảm nghiệm những khác biệt này như là nguyên nhân của căng thẳng, xung khắc, và chia rẽ. Thật vậy, lich sử cho chúng ta biết sự xáo trộn mà tội tổ tông đã đưa vào trong mối tương quan giữa người nam và người nữ.
Ngay từ lúc đầu, ông Ađam tiếp nhận bà Eva như là hồng ân và quà tặng từ Thiên Chúa. Nhưng sau khi phạm tội, ông đổ hết các khó khăn của ông cho bà. Ông còn đổ tội cho Thiên Chúa, ông nói: “Người đàn bà Ngài cho ở với con, bà ấy đã cho con trái cây” (St 3,12). Hoàn toàn do lỗi của bà ấy. Tại sao người đàn ông, ngay cả ngày nay, thường đổ lỗi và bực bội đàn bà vì những rắc rối của chính mình.
Hơn nữa, trong suốt dòng lịch sử đàn bà đã gánh chịu biết bao nhiêu là đau khổ vì sự thống trị của đàn ông. “Ngươi sẽ thèm muốn chồng ngươi, và nó sẽ thống trị ngươi” (St 3,16): Đây không phải là ý định của Thiên Chúa. Đây là hậu quả của tội lỗi. Tuy nhiên một số đàn ông, vì vẫn từ chối trực diện với lòng tội lỗi của họ, vẫn còn cố gắng dùng nhiều đoạn Kinh thánh khác nhau để bào chữa cho sự thống trị của họ. (xem Chương 3, câu hỏi 16 (http://www.gpnt.net/diendan/showthread.php?p=22791#post22791)).
Tuy nhiên chúng ta nên nhớ rằng điều gì cũng có qua có lại. Cái “thèm muốn người chồng” của người đàn bà sa ngã cũng có cùng một nguồn gốc với sự lo lắng cho đàn ông. Trong khi đàn ông thường thống trị và thao túng đàn bà để thoả mãn dục vọng của họ thì đàn bà cũng thường dùng “nữ sắc” để lèo lái đàn ông – có thể là để thoả mãn cảm xúc hơn là chuyện gì khác. [13] (http://www.gpnt.net/diendan/newreply.php?do=newreply&noquote=1&p=284#_edn2) Theo nhận xét thông thường, đàn ông dùng tình yêu để đạt đến tính dục, và đàn bà dùng tính dục để có được tình yêu.
Điều quan trọng nên nhận biết là mặc dù chúng ta có thể bị cám dỗ để nghĩ là những thói xấu của đàn ông thường là xấu xa hơn những thói xấu của đàn bà, tuy nhiên, bất kỳ của ai, thói xấu nào cũng bóp méo trầm trọng tình yêu tính dục đích thực. Cả hai đều coi người khác không phải là con người được tạo dựng cho chính bản thân mình nhưng là một vật được sử dụng để thoả mãn ích kỷ của riêng họ. Cái thoả mãn ích kỷ có hại cho người khác như thế - như dầu diesel trong máy xe chạy xăng không pha chì - sẽ luôn gây ra “trục trặc” cho chiếc xe.
-----
[12] (http://www.gpnt.net/diendan/newreply.php?do=newreply&noquote=1&p=284#_ednref1) x. Thtx., 31/10/1979 (http://www.gpnt.net/diendan/showthread.php?t=256)
[13] (http://www.gpnt.net/diendan/newreply.php?do=newreply&noquote=1&p=284#_ednref2) Đây là sự khái quát hoá, dĩ nhiên. Nhưng dường như rất đúng cho hầu hết các trường hợp rằng người đàn ông kinh nghiệm được tính dục sa ngã của họ như là hướng tới cái thoả mãn thể lý phải trả giá bằng người đàn bà, trong khi người đàn bà kinh nghiệm được cái tính dục sa ngã như là hướng tới cái thoả mãn cảm xúc với giá phải trả là người đàn ông. Tưởng cũng nên nhắc lại đây rằng một số người đàn ông và đàn bà kinh nghiệm tính dục đối với người đồng phái tính. Mặc dù những hấp dẫn đồng phái, bởi chúng hầu hết thường không được tự do lựa chọn, tự chúng không là tội, nhưng, phải chắc chắn rằng, chúng thuộc về sự rối loạn khoái cảm tính dục gây ra do tội nguyên tổ.
http://gpnt.net/images/arrow_dyn.gif
admin
01-02-2006, 04:32 PM
8. Sự Cứu Chuộc Tính dục chúng ta trong Đức Kitô
Đang khi âm vang của ý định nguyên thuỷ của Thiên Chúa còn đọng lại trong lòng chúng ta, thì lối giao tiếp méo mó giữa đàn ông đàn bà này đã trở thành thực trạng của chúng ta. Buồn thay, đối với nhiều người, họ chỉ biết có thế. Họ chấp nhận nó như là quy luật. Rốt cuộc, “đàn ông vẫn là đàn ông”, và “đàn bà sẽ mãi là kẻ cám dỗ”, có phải vậy không?
Thưa, không phải vậy! Đức Kitô đến để phục hồi lại cái ý định tình yêu nguyên thuỷ của Thiên Chúa trên trần gian. Đây là tin mừng của Kinh thánh. Qua sự hoán cải liên tục tâm lòng, chúng ta có thể cảm nghiệm được sự cứu rỗi của tính dục chúng ta.
Đây là điều mà Đức Kitô thách thức chúng ta trong Bài giảng trên núi khi Người nói: “Ai nhìn người phụ nữ mà thèm muốn, thì trong lòng đã ngoại tình với người ấy rồi.” (Mt 5,28) (Dĩ nhiên lời của Người áp dụng giống nhau cho cả đàn ông lẫn đàn bà). Giống như để nhấn mạnh cái tầm quan trọng của tội này, Người liền thêm, “Nếu mắt phải của anh làm cớ cho anh sa ngã, thì hãy móc mà ném đi; vì thà mất một phần thân thể, còn hơn là toàn thân bị ném vào hoả ngục.” (Mt 5,29-30).
Hoả ngục được mô tả là sự thiếu vắng tình yêu của Thiên Chúa. Sự thèm khát tính dục cũng như vậy. Đó là chính là lý do tại sao tình yêu Thiên Chúa rất quan trọng.
Vậy chúng ta phải làm gì? Nếu chúng ta nhìn vào cái kinh nghiệm chung của con người thì dường như mọi người đều bị Đức Kitô kết tội. Đúng vậy. Nhưng chúng ta nên nhớ, Đức Kitô đến thế gian không phải để kết tội chúng ta, nhưng để cứu rỗi chúng ta. (Gioan 3,16-18).
Suy niệm về những lời này của Đức Kitô, Đức Gioan Phaolô II đặt câu hỏi “Chúng ta nên sợ cái nghiêm khắc của lời Chúa [Kitô] hay là nên đặt tin tưởng vào nội dung cứu rỗi và quyền năng của lời ấy? [14] (http://www.gpnt.net/diendan/newreply.php?do=newreply&noquote=1&p=285#_edn1) “Cái quyền năng của chúng được dựa vào lời của người đã thốt ra những lời: “Chiên Thiên Chúa, Đấng xoá tội trần gian” (Gioan 1,29).
Đức Kitô xoá tội trần gian bằng cách nào? Bằng cách trao tặng món quà trọn vẹn, chung thuỷ, và phát sinh hoa trái là thân thể Người cho Hiền thê, tức Giáo hội, trên thập giá. Và bằng cách thổi hơi Chúa Thánh Thần xuống trên nhân loại (Gioan 20,22).
Lặp lại lời Đức Gioan Phaolô II, tội lỗi và sự chết đã đi vào lịch sử con người qua trọng tâm sự hiệp nhất của ông Ađam và bà Eva. [15] (http://www.gpnt.net/diendan/newreply.php?do=newreply&noquote=1&p=285#_edn2) Cũng thế, sự cứu rỗi và sự sống mới đã đi vào lịch sử con người qua cái trọng tâm sự hiệp nhất của Ađam và Eva Mới, đó là Đức Kitô và Giáo hội. Ngay sau khi ông Ađam và bà Eva sa ngã, chúng ta được tiên báo việc cứu chuộc này trong đoạn Tiền Tin Mừng (protoevangelium). Nói với con rắn, Thiên Chúa phán: “Ta sẽ gây mối thù giữa mi và người đàn bà, giữa dòng giống mi và dòng giống người ấy; dòng giống đó sẽ đánh vào đầu mi, và mi sẽ cắn vào gót nó” (St 3,15).
Chúa Giêsu là Ađam Mới, con của “người đàn bà” sẽ đập tan đầu con rắn. Là cái mô hình cho Hiền thê – Giáo hội, Đức Maria biểu hiệu cho Eva Mới. [16] (http://www.gpnt.net/diendan/newreply.php?do=newreply&noquote=1&p=285#_edn3) “Hôn nhân” mang tính cứu chuộc của Đức Kitô với Giáo hội được báo trước tại tiệc cưới Cana (Gioan 2,1-11) và hoàn hợp trên Thập giá trên đồi Canvê. [17] (http://www.gpnt.net/diendan/newreply.php?do=newreply&noquote=1&p=285#_edn4)
Khi Đức Maria đến báo cho Chúa Giêsu biết là tiệc cưới đã cạn rượu rồi, Chúa Giêsu trả lời: “Thưa bà, chuyện đó can gì đến bà và tôi? Giờ của tôi chưa đến” (Gioan 2,4).
Nước lã biến thành rượu tại Cana báo trước hình ảnh máu và nước chảy ra từ cạnh sườn Đức Kitô trên đồi Canvê (Gioan 19,34). Là hình ảnh của bí tích Rửa tội và Thánh Thể, máu và nước biểu tượng cho chính sự sống của Thiên Chúa xuất phát từ cạnh sườn của Ađam Mới như là Eva Mới được sinh ra. (Nên nhớ rằng chữ “xương sườn” được sử dụng trong sách Sáng Thế là cách chơi chữ của từ “sự sống). Và như ông Ađam đầu tiên, Ađam Mới cũng gọi Eva là “bà” (St 2,23 và Gioan 19,26).
Chương trình sáng tạo, như các nhà thần học hay nói, được tóm lược lại – nghĩa là, lặp lại, tóm tắt – trong công việc của Đức Kitô. Người nam và người nữ đã được tái sinh. Tình yêu vĩnh viễn của họ cho nhau đã được tái tạo. (xem bảng dưới đây).
http://gpnt.net/images/adameva.gif
“Người nữ” đứng dưới Thánh giá đại diện cho tất cả chúng ta, cả nam lẫn nữ. Tất cả chúng ta được gọi là Hiền thê của Đức Kitô. [18] (http://www.gpnt.net/diendan/newreply.php?do=newreply&noquote=1&p=288#_edn1) Hy sinh bản thân Ngài cho chúng ta, Đức Kitô trao lời “đính hôn”. Chúng ta chỉ cần nói tiếng xin vâng bằng cách hiến dâng bản thân chúng ta - trọn vẹn bản thân chúng ta - lại cho Ngài. Đây mới chính là sự sống đầy tính bí tích của Giáo hội.
Thật ra, Sách Giáo lý diễn tả bí tích Rửa tội là sự “tắm rửa ngày cưới”. [19] (http://www.gpnt.net/diendan/newreply.php?do=newreply&noquote=1&p=288#_edn2) Ở đó, khi chúng ta kết hợp vào sự hy sinh của Đức Kitô, chúng ta rửa sạch tội lỗi chúng ta bằng nước qua Ngôi Lời (Ep 5,26). Hơn nữa, vì đã được hiệp nhất (hay kết hôn) với Ngài qua bí tích Rửa tội, thì khi chúng ta đón nhận thân thể Đức Kitô trong Thánh Thể là chúng ta cưu mang, như một tân nương, sự sống mới trong chúng ta - sự sống trong Chúa Thánh Thần.
Nếu như lòng ham muốn làm mờ mắt người nam và người nữ không thấy được chân tính của họ và làm méo mó những ước muốn tính dục, thì sự sống mới này trong Chúa Thánh Thần lại cho phép người nam và người nữ yêu nhau như họ được mời gọi từ lúc ban đầu. Qua các bí tích chúng ta có thể biết và cảm nhận được cái quyền năng có tính chất biến đổi của tình yêu của Đức Kitô.
Đây là tin mừng. Đây là tin vĩ đại. Vâng, chúng ta đã bơm sai xăng vào trong máy của chúng ta và đã phải gánh chịu hậu quả khốn đốn. Nhưng Thiên Chúa không nói, “Đồ dại dột. Ta đã nói rồi mà.” Không! trong lòng thương xót vô biên của Ngài, Ngài tu bổ máy lại cho chúng ta và bơm miễn phí cho chúng ta lượng xăng mà chúng ta cần. Ngài không bỏ chúng ta chìm đắm trong tội lỗi nhưng thương ban cho chúng ta ơn cứu độ. Chúng ta chỉ cần làm như một tân nương, đón nhận quà tặng lớn lao này.
-----
[14] (http://www.gpnt.net/diendan/newreply.php?do=newreply&noquote=1&p=285#_ednref1) x. Thtx., 9/10/1980.
[15] (http://www.gpnt.net/diendan/newreply.php?do=newreply&noquote=1&p=285#_ednref2) x. Thtx., 5/3/1980 (http://www.gpnt.net/diendan/showthread.php?t=510).
[16] (http://www.gpnt.net/diendan/newreply.php?do=newreply&noquote=1&p=285#_ednref3) GLHTCG, số 411.
[17] (http://www.gpnt.net/diendan/newreply.php?do=newreply&noquote=1&p=285#_ednref4) Rất cần ý thức rằng hôn nhân của Ađam và Eva Mới là một hôn nhân “mầu nhiệm”. Hôn nhân này xảy ra bên ngoài lãnh vực tương quan máu huyết và hệ tộc như chúng ta thường hiểu. “Ađam-Kitô” và “ Eva-Maria” phải được hiểu như là kiểu mẫu của “người nam” và “người nữ”. Vậy thì không có lý do gì để bối rối do việc chính mẹ của Đức Kitô theo xác thịt và máu huyết lại là người, hiểu theo cách nào đó, đại diện cho hết thảy chúng ta như là Tân Nương mầu nhiệm của Đức Kitô (x. GLHTCG, số 773). Hơn nữa, khi Chúa Giêsu muốn chúng ta hiểu biết Maria như là Eva Mới, ở Cana cũng như ở Núi Sọ, Người không nhắc đến Bà như như là mẹ nhưng như là “người đàn bà” – một chú giải về Sách Sáng thế 3,15.
[18] (http://www.gpnt.net/diendan/newreply.php?do=newreply&noquote=1&p=288#_ednref1) Như Đức Gioan Phaolô II nói: “Tất cả mọi hữu thể nhân loại – cả nam lẫn nữ - đều được mời gọi qua Giáo hội, trở thành ‘Hiền thê’ của Đức Kitô. … Bằng việc ‘trở thành Hiền thê’ tức là mang tính ‘nữ giới’, trở nên một biểu tượng cho toàn thể những gì là “nhân bản” (Mulieris Dignitatem (Phẩm giá người phụ nữ), số 25). Ở chỗ khác trong cùng văn kiện ngài nói: “Từ quan điểm này, người phụ nữ là đại biểu và khuông mẫu của toàn thể nhân loại: người nữ đóng vai nhân tính thuộc về mọi hữu thể nhân bản, cả nam lẫn nữ” (số 4).
[19] (http://www.gpnt.net/diendan/newreply.php?do=newreply&noquote=1&p=288#_ednref2) GLHTCG, số 1617.
http://gpnt.net/images/arrow_dyn.gif
admin
02-02-2006, 05:19 AM
9. Một Vấn Đề Đức Tin
Đúng thật chính vì người nam và người nữ quay lưng lại với Thiên Chúa đã làm méo mó mối tương quan giữa họ, nên việc phục hồi lại sự thật và ý nghĩa của tính dục con người đòi hỏi một sự trở về tận cội nguồn với Thiên Chúa. Quỉ Satan đã thuyết phục chúng ta rằng Thiên Chúa không thương yêu chúng ta, rằng Người ẩn lánh chúng ta. Để xoá tan mọi nghi ngờ, Thiên Chúa đã trở thành một người giữa chúng ta và đã dâng hiến chính bản thân làm tặng vật muôn đời trên thập giá cho chúng ta.
Vì thế mỗi người chúng ta cần phải tự vấn: Tôi có tin vào quà tặng của Thiên Chúa không? Tôi có tin vào tình yêu vô biên của Người dành cho tôi không?
Do đó, sống sự thật về tính dục của chúng ta thực ra là một vấn đề đức tin. Chúng ta có tin vào Kinh thánh hay không? Chúng ta tuyên xưng rằng Đức Kitô đã đến để cứu rỗi và hoà giải chúng ta với Đức Chúa Cha. Tuy nhiên, chúng ta tuyên xưng nhưng chẳng bao giờ suy nghĩ đến điều này.
Bạn nên tự hỏi: Tôi có thực sự tin Đức Kitô đã đến cứu tôi khỏi tội lỗi không? Tôi có thực sự tin rằng, với sự giúp đỡ của hồng ân Thiên Chúa, tôi có thể vượt qua những yếu đuối, ích kỷ và ham muốn xác thịt để yêu thương những người khác như Đức Kitô đã yêu tôi không? Nói cách khác, tôi có thực sự tin rằng Đức Kitô có thể cứu độ tôi, ngay cả cái tính dục của tôi không?
Chống cưỡng lại những dị dạng tội lỗi của dục vọng và sống theo sự thật là một cuộc đấu tranh cam go, ngay cả đối với những người có nền nếp giáo dục luân lý vững chắc. Nói cách khác, cuộc đấu tranh này dẫn chúng ta vào điểm mấu chốt của trận chiến đạo đức (xem Ep 6,12) mà chúng ta là những Kitô hữu phải xung trận nếu chúng ta muốn chống lại sự xấu – trong thế giới và trong cả chúng ta – và yêu thương người khác như Đức Kitô đã yêu thương chúng ta. Thắng trận chiến này đòi hỏi đức tin vào Đức Kitô, đòi hỏi sự dấn thân, lòng quyết tâm, sự thành thật với chính mình và người khác, và sự sẵn sàng hy sinh và kiềm chế những tham muốn ích kỷ của chúng ta. Tình yêu không phải là sợ hãi những điều đó; tình yêu là những thứ đó.
Đúng vậy, giáo huấn của Giáo hội về tính dục mang nhiều thử thách, cái thử thách của Kinh thánh, cái thử thách tin tưởng vào Đức Kitô và vác Thánh giá theo Người. Vâng, chúng ta yếu đuối. Tự chúng ta, chúng ta không có chút hy vọng nào để đương đầu với thử thách này.
Nhưng thử thách này dành cho ai? Phải chăng dành cho những người nam và nữ đang làm nô lệ cho những yếu đuối của họ? Thưa không! [Thử thách ấy] dành cho những người nam và nữ đã được giải thoát để yêu nhờ quyền năng của cây Thập giá. [20] (http://www.gpnt.net/diendan/newreply.php?do=newreply&noquote=1&p=289#_edn1) Chúng ta đừng nên làm mất đi quyền năng của cây Thập giá nhưng hãy tin tưởng vào tin mừng. Chúng ta hãy tin rằng trong Đức Kitô, mới có thể có được tình yêu đích thực – tình yêu đem lại ý nghĩa cho hữu thể và hiện hữu của chúng ta. Đó là điều mà Giáo hội không ngừng công bố cho mọi người.
-----
[20] (http://www.gpnt.net/diendan/newreply.php?do=newreply&noquote=1&p=289#_ednref1) Thánh Phaolô nói thật hay bằng cách nào mà thập giá đã làm cho chúng ta khỏi tội và bằng cách nào mà Chúa Thánh Thần làm cho chúng ta yêu thương trong Thư gởi tín hữu Roma các chương 6, 7, và 8. Cũng nên xem thêm chương 5 trong thư gởi tín hữu Galata.
http://gpnt.net/images/arrow_dyn.gif
admin
02-02-2006, 05:36 AM
10. Kế Hoạch Nguyên Thuỷ của Thiên Chúa: Quy Luật về Tính Dục và Hôn Nhân
Khi được hỏi về ly dị, Đức Kitô hướng những người đi theo về kế hoạch nguyên thuỷ của Thiên Chúa. “Hỡi những kẻ cứng lòng (tội lỗi) Môisen cho phép người ta ly dị vợ mình, nhưng từ ban đầu [trước khi có tội] đã không có chuyện đó” (Mt 19,8). Vì Đức Kitô xoá tội chúng ta, Người có thể phục hồi cái kế hoạch nguyên thuỷ của Thiên Chúa về tình yêu lại thành quy luật cho hôn nhân và tất cả các bày tỏ tính dục.
Đây có nghĩa rằng hôn nhân chỉ là hôn nhân, và tính dục chỉ là tính dục trong khuôn khổ chúng tham dự vào cái tình yêu tự do, trọn vẹn, chung thuỷ, và nẩy sinh hoa quả của Thiên Chúa. Quy luật này - kế hoạch nguyên thuỷ của Thiên Chúa về tình yêu trước khi có tội lỗi - là nền tảng đích thực để giải đáp tất cả các câu hỏi và những phản đối mà ngày nay người ta đang nêu ra liên quan đến giáo huấn của Giáo hội về luân lý tính dục và hôn nhân.
Về Mục Lục (http://www.gpnt.net/diendan/showthread.php?t=166)
Xem tiếp Chương Hai (http://www.gpnt.net/diendan/showthread.php?t=175)
http://gpnt.net/images/arrow_dyn.gif (http://www.gpnt.net/diendan/showthread.php?t=175)
vBulletin v3.5.2, Copyright ©2000-2012, Jelsoft Enterprises Ltd.