PDA

View Full Version : Thiên Chúa luôn đến với con người.


Đamien
08-12-2006, 07:49 PM
Vài suy tư của Ðức Thánh Cha Bênêđitô XVI vào khởi đầu Mùa Vọng năm 2006: Thiên Chúa luôn đến với con người.

(Radio Veritas Asia 3/12/2006) - Quý vị và các bạn thân mến. Lúc 5 giờ chiều thứ Bảy mùng 2 tháng 12 năm 2006, Ðức Thánh Cha Bênêđitô XVI đã chủ sự giờ kinh chiều I của Chúa Nhật I Mùa Vọng, bên trong Ðền Thờ Thánh Phêrô, để ghi dấu giây phút quan trọng bắt đầu Năm Phụng Vụ mới, theo chu kỳ C. Sau phần thánh vịnh và đọc Lời Chúa, ÐTC đã giảng khuyên như sau:

Anh chị em thân mến,

Câu tiền xướng I trong giờ kinh chiều này là như lời mở đầu của Mùa Vọng và vang lên như là câu xướng cho trọn năm phụng vụ. Chúng ta hãy nghe lại câu này như sau: "Hãy rao giảng cho mọi dân tộc biết: Ðây, Thiên Chúa ngự đến, Ngài là Ðấng cứu độ chúng ta." Vào khởi đầu của chu kỳ năm phụng vụ mới, Phụng Vụ mời gọi Giáo hội hãy canh tân lời rao giảng của mình cho mọi dân nước; và Giáo hội tóm gọn lời rao giảng này trong cụm từ: "Thiên Chúa ngự đến".

Cách nói hết sức tổng hợp này có tích chứa một gợi ý mạnh và luôn mới mẽ. Chúng ta hãy dừng lại đôi phút để suy nghĩ về gợi ý này: bản văn không dùng động từ ở thể quá khứ: Thiên Chúa đã đến. Cũng không dùng động từ trong thể tương lai: Thiên Chúa sẽ đến, -- nhưng dùng thì hiện tại: "Thiên Chúa ngự đến!" Nhìn kỹ lại, chúng ta nhận thấy đây là thì hiện tại kéo dài, nghĩa là nói về một hành động luôn đang diễn ra: Thiên Chúa đã đến, còn đang đến và sẽ đến. Trong bất cứ giây phút nào "Thiên Chúa đều ngự đến". Ðộng từ "đến" xuất hiện ở đây như là một động từ có tính cách "thần học", và dường như có cả tính cách "thần hướng" nữa, bởi vì nó nói lên điều liên quan đến chính bản thể của Thiên Chúa. Việc loan báo "Thiên Chúa ngự đến" cũng tương đương như việc loan báo về Thiên Chúa qua một đặc tính thiết yếu và có tính cách mô tả Ngài: đó là đặc tính mô tả Ngài như là "Thiên Chúa Ðấng luôn luôn ngự đến."

Mùa vọng làm cho các tín hữu ý thức về sự thật này và từ đó biết phải sống như thế nào cho phù hợp với sự thật đó. Mùa Vọng vang lên như lời kêu gọi ban ơn cứu rỗi hằng ngày, hằng tuần, hằng tháng: Hãy thức tỉnh đi! Hãy nhớ rằng Thiên Chúa ngự đến. Không phải hôm qua, không phải ngày mai, nhưng hôm nay, ngay bây giờ! Thiên Chúa chân thật duy nhất, "Thiên Chúa của Abraham, Thiên Chúa của Isaac và Thiên Chúa của Giacóp", không phải là một Vì Thiên Chúa ngự trên cõi trời xa vắng, không quan tâm đến chúng ta, không lo gì đến lịch sử chúng ta, nhưng ngài là Thiên Chúa đến với chúng ta. Ngài là người Cha không bao giờ ngừng nghĩ đến chúng ta, và trong sự tôn trọng tuyệt đối sự tự do của con người, Ngài muốn gặp chúng ta và viếng thăm chúng ta; Ngài muốn đến, muốn sinh sống giữa chúng ta, muốn ở lại với chúng ta. Ngài đến là do sự thôi thúc của ý định ngài muốn giải phóng chúng ta khỏi tội lỗi và sự chết, khỏi tất cả những gì ngăn cản hạnh phúc thật của chúng ta. Thiên Chúa đến để cứu rỗi chúng ta.

Các giáo phụ nhận xét rằng "việc Thiên Chúa ngự đến"- đây là một việc ngự đến liên tục và như thế có thể nói là phù hợp với chính bản thể Thiên Chúa - (việc Thiên Chúa ngự đến) được quy về hai lần ngự đến của Chúa Kitô, lần ngự đến của biến cố Nhập Thể và lần ngự đến khi Chúa trở lại trong vinh quang vào lúc cuối cùng của lịch sử (x. Thánh Cyrillo thành Giêrusalem, Caatrechesi 15,1: PG 33,870). Mùa Vọng sống trọn vẹn cả hai chiều kích này. Trong những ngày đầu Mùa Vọng, có sự nhấn mạnh đến việc chờ đợi Chúa ngự đến lần cuối cùng, như những bản văn của việc cử hành kinh chiều hôm nay cho ta thấy. Khi đến gần lễ Giáng Sinh, thì sẽ nổi bật hơn việc kỷ niệm biến cố xảy ra tại Bêlem, để nhìn thấy nơi đó "sự viên mãn của thời gian". Giữa hai lần Chúa ngự đến "hiển nhiên" này, người ta còn có thể nói đến việc Chúa ngự đến lần thứ ba, mà thánh Bernardo gọi là "đến qua trung gian" và "ẩn kín", đó là lần Chúa ngự đến trong tâm hồn tín hữu và như thế bắc cầu nối giữa lần ngự đến thứ nhất và lần ngự đến cuối cùng. Thánh Bernardo viết như sau: "Trong lần ngự đến thứ nhất, Chúa Kitô là sự cứu rỗi chúng ta, trong lần ngự đến cuối cùng, Ngài biểu lộ chính Ngài là sự sống chúng ta, và trong lần ngự đến "qua trung gian" này, Ngài là sự an nghỉ và là sự an ủi chúng ta." (Disc. Số 5, về Mùa Vọng, 1). Ðối với lần ngự đến trung gian này, mà chúng ta có thể gọi là "sự Nhập Thể thiêng liêng", thì kiểu mẫu nêu gương trước cho chúng ta là Mẹ Maria. Như người Mẹ Ðồng Trinh lưu giữ trong tâm hồn Ngôi Lời Làm Người, thì cũng thế, mỗi một linh hồn và toàn thể giáo hội được mời gọi, trong cuộc lữ hành trên trần gian này, (được mời gọi) chờ đợi Chúa Kitô ngự đến và tiếp đón Người với đức tin và tình yêu thương, một đức tin và tình thương đã được canh tân.

Như thế, Phụng Vụ Mùa Vọng làm nổi bật cách thức như thế nào Giáo hội nói lên sự chờ đợi Thiên Chúa, một sự chờ đợi được khắc ghi một cách sâu xa trong lịch sử nhân lọai. Một sự chờ đợi buồn thay thường bị bóp nghẹt hoặc bị làm lạc hướng bởi những hướng dẫn sai lầm. Là Thân Thể được kết hiệp cách mầu nhiệm vào Chúa Kitô là Ðầu, Giáo Hội là một bí tích, nghĩa là dấu chỉ và phương thế hữu hiệu cho sự chờ đợi Thiên Chúa. Trong mức độ mà chỉ mình Thiên Chúa biết rõ thôi, cộng đoàn kitô có thể làm cho mau đến Mùa Vọng cuối cùng, bằng cách giúp nhân loại đến gặp Chúa đang ngự đến. Và giáo hội thực hiện điều nầy, trước hết, - nhưng không phải chỉ có thế mà thôi, - bằng việc cầu nguyện. Một cách thiết yếu và không thể nào tách ra được khỏi việc cầu nguyện, còn có những việc lành, như lời nguyện của Thánh Lễ Chúa Nhật I Mùa Vọng nhắc lại cho chúng ta; trong lời nguyện này, chúng ta xin Thiên Chúa Cha trên trời hãy khơi dậy trong chúng ta "ý muốn đi gặp Chúa Kitô ngự đến, cùng với những việc làm tốt. Trong viễn tượng nầy, Mùa vọng thích hợp hơn bao giờ hết để trở thành thời gian để sống trong sự hiệp thông với tất cả những ai - và cảm tạ Chúa vì còn nhiều người như thế - (với tất cả những ai) hy vọng vào một thế giới công bằng hơn và huynh đệ hơn. Trong sự dấn thân cho công bằng, ước gì một cách nào đó, có thể gặp chung với nhau những con người thuộc mọi quốc gia và mọi văn hoá, tín hữu hay không tín hữu. Tất cả mọi người thật vậy đều được linh động bởi cùng một khao khát chung, mặc dù khác biệt trong những lý do thôi thúc, (bởi cùng một khao khát chung) hướng đến một tương lai công bằng và hoà bình.

Hoà Bình là mục tiêu mà toàn thể nhân lọai đều hướng đến! Ðối với nguời Kitô, hoà bình là một trong những tên gọi đẹp nhất của Thiên Chúa, Ðấng muốn sự hoà hợp của tất cả những con cái Ngài, như Tôi đã có dịp nhắc đến, trong cuộc hành hương những ngày qua tại Thổ Nhỉ Kỳ. Một bài hát Hoà Bình vang lên trên trời cao, khi Thiên Chúa làm người và sinh ra bởi người nữ, lúc thời gian viên mãn (x. Gal 4,4). Chúng ta hãy bắt đầu Mùa Vọng mới này - thời gian được Thiên Chúa, chủ của thời gian, trao ban cho chúng ta - bằng cách thức tỉnh trong tâm hồn chúng ta sự chờ đợi Thiên Chúa ngự đến và thức tỉnh niềm hy vọng Danh Ngài được cả sáng, Nước công bằng và hoà bình của Ngài được ngự đến, và Thánh Ý Ngài được thể hiện dưới dất cũng như trên trời.

Trong sự chờ đợi này, chúng ta hãy để mình được hướng dẫn bởi Ðức Nữ Ðồng Trinh Maria, Mẹ của Thiên Chúa ngự đến, Mẹ của niềm Hy Vọng. Trong vài ngày nữa, chúng ta mừng lễ Mẹ Vô Nhiễm. Xin Mẹ cầu cùng Chúa ban cho chúng ta được ơn sống trong tình trạng thánh thiện và không tì ố trong tình yêu, khi Chúa Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, ngự đến. Xin chúc tụng và tôn vinh Chúa Kitô, cùng với Chúa Cha và Chúa Thánh Thần, đến muôn thuở muôn đời, Amen.

LM Đặng Thế Dũng
Nguồn VietChatholic

Đamien
19-12-2006, 10:02 PM
MỖI NGÀY CHỌN MỘT NIỀM VUI (Lc 3,10-18 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Lc%203:10-18&FontSize=Txt10))

Nhìn thẳng vào sự thật cuộc sống, Ðức Phật nói : “Ðời là bể khổ.”
Chúa Giêsu cũng đồng ý khi thấy cuộc đời ngổn ngang những gánh nặng nề[1] và cây thập giá.[2] Ai cũng đồng ý bể khổ và thập giá đều là những hình ảnh cực tả về sự thật cuộc sống.
Thế nhưng, giữa thực tại đau thương đó, tại sao thánh Phaolô lại kêu lên : “Vui lên anh em !”[3] Phải chăng đó là một tiếng kêu lạc lõng của một con người hoang tưởng ?

Thực tế, tiếng kêu đó phát xuất từ một con người đang sống giữa vùng cay đắng nhất của bể khổ. Suốt đời thánh Phaolô đã trải qua cảnh “ba chìm, bảy nổi, chín lênh đênh.” Cuối cùng ông đã phải máu đổ đầu rơi. Ông đã viết lời kêu gọi đầy lạc quan đó lúc ngồi tù ở Êphêsô giữa bao xiềng xích, gông cùm, đòn vọt. Vậy tại sao ông có thể có cái nhìn tích cực như thế về cuộc đời?

Giữa bể khổ cuộc đời, niềm vui vẫn là một điều hiếm hoi và kỳ diệu. Nhưng đối với những người tin tưởng nơi Chúa, cuộc đời là một Tin Mừng. Dù cả cuộc đời đầy đau thương và khổ giá, Chúa Giêsu đã luôn sống và hoạt động để đem lại niềm vui và hy vọng cho người nghèo khổ, bệnh tật và chết chóc. Bởi thế, thánh Phaolô thấy không có lý do gì phải buồn nản khi được chia sẻ thân phận và sứ mệnh với Chúa Kitô.

Sứ mệnh đó nhằm xây dựng Nước Thiên Chúa, tức là “sự công chính, bình an và hoan lạc trong Thánh Thần.”[4] Người môn đệ Chúa Kitô hy sinh cả đời xây dựng Nước Thiên Chúa. Khổ đau trở thành phương tiện cần thiết cho nhân loại ngày càng sống công chính, bình an, vui tươi và hạnh phúc hơn. Có khi phải hy sinh cả tính mạng cũng chưa đạt kết quả. Nhưng người môn đệ vẫn tin vào cuộc chiến thắng cuối cùng của Triều Ðại Thiên Chúa nơi trần gian. Nước Chúa sẽ đến mang theo hòa bình, ân sủng, sự sống cho toàn thể nhân loại. Vì thế, chỉ những ai tin Chúa sẽ đến, mới có thể hưởng được tất cả niềm vui cứu độ trong Nước Chúa, vì họ đã quan tâm tới Thiên Chúa và tha nhân đúng mức. Triều Ðại Thiên Chúa đã, đang và sẽ đến với nhân loại.

Ngày xưa, Ítraen đã vui mừng biết bao khi nghiệm thấy Thiên Chúa hiện diện giữa dân tộc.[5] Sự hiện diện đầy ắp sức mạnh và tình thương sẽ là một bảo đảm vững chắc cho toàn dân sống an bình và hạnh phúc. Khi hiện diện giữa dân tộc, “Chúa sẽ vui mừng hoan hỷ, sẽ lấy tình thương của Người mà đổi mới”[6] họ nên công chính. Niềm vui quá lớn đến nỗi “Chúa sẽ nhảy múa tưng bừng như trong ngày lễ hội.”[7] Niềm vui của Chúa trở thành sức mạnh cho dân Người.[8] Ðó là cách diễn tả niềm “hoan lạc trong Thánh Thần.” Ðó cũng là dấu chỉ những ai thuộc về Nước Thiên Chúa. Nắm vững động lực đó, thánh Phaolô mạnh dạn nói : “Anh em hãy vui luôn trong niềm vui của Chúa.”[9]

Trong lịch sử dân Chúa, những nhân vật nổi tiếng về sự công chính đều tràn ngập niềm vui, mặc dù sống giữa trăm ngàn thử thách. Họ hết tâm tuân giữ Luật Thiên Chúa để trở nên công chính. Sống công chính là sống đúng ý Thiên Chúa, nghĩa là sống trong Giao ước của Người. Giao ước mở ra những mối liên hệ thâm sâu với Thiên Chúa và tha nhân. Những cuộc gặp gỡ hàng ngày phơi bày đủ thứ, từ những cái rất tầm thường đến những điều quan trọng, từ những điều êm xuôi đến những trắc trở. Mỗi lần gặp gỡ như thế, chúng ta đều phải nhận ra tha nhân và quyền lợi của họ. Ðúng hơn, chúng ta nhìn nhận nhau là anh chị em, vì tất cả đều được Chúa sinh ra theo hình ảnh và họa ảnh Người. Có như thế, chúng ta mới có thể lựa chọn niềm vui đích thực cho chính mình và tha nhân.

Giữa bao nhiêu cám dỗ thời đại, họ phải luôn lựa chọn giữa cái tốt và xấu, giữa công bình và bất công, giữa niềm vui và nỗi buồn. Nhiều người đã có những lựa chọn sai lầm vì đã không sống theo những đòi hỏi của sự sống và tình yêu đích thực. Sự sống và tình yêu là những giá trị vượt trên quyền lực, khoái lạc, tiền của. Chỉ những giá trị đích thực đó mới đem lại niềm vui cho con người. Sống trong một xã hôi ồn ào hôm nay, con người vẫn có thể nghe thấy tiếng mời gọi lựa chọn niềm vui đích thực.[10] Nhưng muốn nghe rõ tiếng mời gọi đó, con người phải hồi tâm và khiêm tốn thú nhận mình yếu đuối. Chỉ trong thinh lặng, con người mới có thấy rõ nguồn gốc phát xuất niềm vui đích thật là chính Thiên Chúa. Nhờ đó, tương quan với tha nhân mới có giá trị và ý nghĩa. Nếu không, chỉ còn những quay cuồng vô nghĩa.

Tương quan giữa con người không dừng lại ở những đòi hỏi công bình tối thiểu. Không đếm xỉa tới lòng quảng đại, công bình sẽ không đạt tới mức toàn hảo. Công bình không còn phải là công bình nữa. Công bình đòi phải có nền tảng vững chắc để phát triển tới mức trưởng thành thực sự. Công lý chỉ đạt được tới mức trưởng thành khi đi với tình yêu. Công lý là một bước đi cần thiết trước khi tới mức trưởng thành trong tình yêu. Nhờ đó, công chính mới có thể dẫn tới “hoan lạc trong Thánh Thần,” và là nền tảng vững chắc cho niềm vui.

Sống trong ân sủng và tình yêu Thiên Chúa, thánh Phaolô vô cùng vui sướng, đến nỗi ông cảm thấy không gì có thể tách ông khỏi tình yêu của Ðức Kitô.[11] Nếu tình yêu con người đã tạo nên bao nhiêu niềm vui, làm sao tình yêu Thiên Chúa thua tình yêu con người được ? Trái lại, vượt xa con người, tình yêu Thiên Chúa vô cùng mãnh liệt, vững chắc, nồng nàn, sâu thẳm và bao la. Chỉ trong tình yêu vô cùng sung mãn đó, con người mới có thể kiếm thấy niềm vui bất tận. Vì thế, thánh Augustinô đã phải kêu lên : lạy Chúa, Chúa đã dựng nên con cho Chúa. Con tim con chỉ hoàn toàn vui thỏa khi nào được nghỉ yên trong Chúa mà thôi.” Niềm vui là bầu khí trong Nước Trời và là hơi thở của những môn đệ Chúa Kitô. Không vui không thể có sức mạnh xây dựng Nước Trời.

Niềm vui bắt nguồn từ niềm tin. Có niềm tin, con người mới tìm được hứng khởi và sức mạnh tuân giữ những đòi buộc luân lý như ông Gioan Tẩy Giả đã kêu gọi để chuẩn bị đón chào Nước Chúa. Hơn nữa, niềm tin không chỉ giới hạn trong những đòi hỏi luân lý, nhưng quyết liệt hơn. Con người còn có thể vượt lên trên những đòi hỏi thường tình để thực hiện những điều lớn lao hơn. Ðúng thế, Chúa Giêsu đã mở ra một chân trời mới cho những ai muốn hy sinh tất cả vì Nước Trời. Dầu sao, càng nghe Gioan Tẩy Giả, càng thấy rõ sự khác biệt và trổi vượt của Chúa Giêsu, Ðấng Cứu độ muôn dân.

Trên bước đường cứu độ, Chúa đã đi sát từng người. Khi nhìn đến dân chúng, Chúa Giêsu đã cho mọi người thấy rõ sự quan tâm đầy trìu mến của Người. Cái nhìn đó đã nâng đỡ, đồng hành, tiếp nhận và nâng cao những ai đang vác thập giá theo Người. Bởi vậy, Người đã trở thành người anh em của mọi người. Dân chúng đã tuốn đến với Người để hưởng tất cả tình yêu thương và kính trọng của Người. Người gặp gỡ và đối thoại với mọi hạng người. Chúa tha thứ và cứu mọi người khỏi thói quen khinh thường và vô tâm trước tha nhân. Không ai có thể hiểu nổi Thiên Chúa khi Người sai Con Chúa đến trần gian mạc khải tình yêu vô cùng quảng đại của Người.

Ðối với những người có quyền trong đạo hay ngoài đời, Chúa Giêsu không sợ làm chứng cho sự thật, dù phải mất mạng. Ðối với những người yếu thế, Người không coi thường hay tảng lờ trước những yêu cầu hay nguyện vọng của họ. Người biết trả về cho Xêda những gì của Xêda, cho Thiên Chúa những gì của Thiên Chúa, cho anh em những gì của anh em. Cũng như các ngôn sứ, Người mời gọi chúng ta đi vào cuộc hiệp thông với Thiên Chúa và anh em. Thánh Gioan Tẩy Giả kêu gọi mọi người chú ý tới phẩm chất của những tương quan đó, những tương quan đòi chúng ta phải hy sinh cả một cuộc đời. Tất cả giá trị cuộc đời đều tùy thuộc vào đó !
Tóm lại, khi ơn cứu độ đến với muôn dân, niềm vui tràn ngập. Niềm vui đó phát xuất từ niềm tin. Nước Trời và tình yêu Thiên Chúa nơi Ðức Kitô Giêsu là nguồn gốc và nền tảng vững chắc bảo đảm niềm vui cứu độ đã đến với toàn thể nhân loại. Mỗi ngày cố gắng sống công chính và yêu thương anh em hơn là chọn một niềm vui đích thực cho mình và cho người.

Lạy Chúa, xin cho con mỗi ngày chọn một niềm vui để đón chờ Con Chúa sắp đến viếng thăm chúng con. Amen.

Lm Đỗ Lực, 17.12.2006

[1] Mt 11,28. (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Mt%2011:28&FontSize=Txt10)
[2] x. Lc 9,23. (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Lc%209:23&FontSize=Txt10)
[3] Pl 4,4. (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Pl%204:4&FontSize=Txt10)
[4] Rm 14,17 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Rm%2014:17&FontSize=Txt10).
[5] Xp 3,14-16 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Xp%203:14-16&FontSize=Txt10).
[6] ibid., 3:17.
[7] ibid.
[8] x. Nkm 8,10. (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Nkm%208:10&FontSize=Txt10)
[9] Pl 4,4 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Pl%204:4&FontSize=Txt10).
[10] Ðnl 3,19 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Dnl%203:19&FontSize=Txt10).
[11] x. Rm 8,35.39 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Rm%208:35,39&FontSize=Txt10).

Đamien
28-12-2006, 10:00 PM
Chúa Giêsu không hề làm bớt đi niềm vui của bạn trẻ

“Cuộc giáng sinh của Chúa Giêsu không phải là một câu chuyện tưởng tượng, Đức Giáo Hoàng nói với các trẻ em đến gặp ngài. Đó là một biến cố lịch sử thực sự đã xảy ra.” “Các con hãy làm chứng là Chúa Giêsu đến không hề làm giảm bớt niềm vui của các con, mà biến đổi các con thành người có lòng nhân ái hơn, chân thật hơn và tốt đẹp hơn.”

Ngày thứ năm 21 tháng 12, có 40 trẻ em thuộc Phong Trào Công Giáo Tiến Hành nước Ý đến gặp Đức Giáo Hoàng, do ông Luigi Alici Chủ tịch Phong Trào và Đức Cha Francesco Lambiasi hướng dẫn. Đức Giáo Hoàng mời gọi các trẻ em hãy làm chứng Chúa Giêsu giữa các bạn học và các bạn hữu của mình.

“Cuộc giáng sinh của Chúa Giêsu không phải là một câu chuyện tưởng tượng: đó là một biến cố lịch sử thật sự đã xảy ra cách đây hai ngàn năm”, ngài nói với các em trẻ, “Đức Tin cho chúng ta nhận biết nơi em bé, được Đức Trinh Nữ Maria sinh ra, là Con Thật của Đức Chúa Trời, đã sinh ra làm người vì yêu thương chúng ta.”

Trong khuôn mặt của Chúa Giêsu, “chúng ta chiêm ngưỡng dung nhan của Đức Chúa Trời, được mặc khải không phải bằng sức mạnh và uy lực, mà trong sự mỏng manh yếu kém của một trẻ thơ. Và chính điều này chứng tỏ lòng trung tín và sự dịu hiền vô biên mà Thiên Chúa ấp ủ bao bọc mỗi người chúng ta.”

“Và chính điều đó mà chúng ta mừng lễ Giáng Sinh, làm sống lại kinh nghiệm của các mục đồng thành Bethléem. Cùng chung với các người cha và những người mẹ cực nhọc mọi ngày, cương quyết liên tục hy sinh, cũng như cùng chung với các trẻ em khác, các em bé đang đau ốm, đang nghèo đói, cùng chung mừng lễ, bởi vì với cuộc giáng sinh của Chúa Giêsu, Đức Chúa Cha ở trên trời đã đáp lại lòng ước muốn sự thật, ước muốn được tha thứ, và ước muốn hòa bình nơi con tim của chúng ta. Đó chính là sự đáp trả bằng một tình yêu quá lớn lao đến nỗi làm ngỡ ngàng mà con người không thể tưởng tượng được, nếu không được chính Chúa Giêsu đã bày tỏ cho chúng ta.”

Ngày lễ Giáng Sinh “mời gọi chúng ta nhận biết em bé Giêsu trong mọi trẻ em, nguồn vui của Giáo Hội và hy vọng của thế giới” và Đức Giáo Hoàng còn nói thêm với các em.

“Đức Giáo Hoàng thương mến các con, tin tưởng nơi các con và giao phó trách nhiệm cho các con là trở thành người bạn và người chứng của Chúa Giêsu.”

“Làm chứng cho Chúa Giêsu không hề làm giảm bớt đi niềm vui của các con, nhưng làm cho các con trở thành con người nhân ái hơn, chân thật hơn và tốt đẹp hơn” (Tin VIS)

PT Huỳnh Mai Trác

Đamien
08-01-2007, 10:45 AM
CHINH PHỤC BẦY NGỰA HOANG

Lúc còn là linh mục trẻ, cha thánh Gioan Bosco thường hay ra vào trại cải huấn thăm viếng các chú bé bị giam. Ngày kia, ngài đến gặp ban giám thị trại và đề nghị "Tôi xin ban giám thị cho phép tôi đưa các em đi cắm trại một ngày ngoài trời để chúng tự do, thoải mái đôi chút "Cả ban giám thị nhìn nhau ngớ ngẩn. Xưa nay có ai đề nghị như thế bao giờ! Lỡ ra mấy trăm tù nhân nhóc con ấy bỏ chạy tán loạn thì chết cả lũ!

- Không được đâu cha, tụi nó trốn hết.

-Xin các ông cứ tin tưởng vào tôi.Tôi sẽ dẫn đi trong trật tự, trả vể đủ số, không thiếu một người.

-Thiếu thì sao?

- Tôi xin ở tù thay. Mà chắc không thiếu đâu. Trái lại tôi hy vọng sau khi trở về chúng sẽ vui vẻ tử tế hơn, các ông điều khiển càng dễ...

-Xin lỗi cha, nếu không quen gặp cha ra vào trại giam này mấy năm qua, chúng tôi đã tưởng chà là một thằng điên hoặc mát mát làm sao ấy; Nguy hiểm lắm cha à!

Cha Bosco cứ dai dẳng năn nỉ một hồi, ban Quản đốc ưng ý nhưng với một điều kiện: sẽ cho đội lính đi bọc hai bên. Cha Bosco không chấp nhận điều kiện, cương quyết chỉ có mình ngài dẫn đi. Sau hết họ xiêu lòng, đánh bạo cho phép.

Rồi ngày Chúa nhật dự trù đã đến, cha Bosco sắp các tù nhân trẻ tuổi thành đội, mỗi đội có một đội trưởng phụ trách, Cửa tù rộng mở, các tù nhân hớn hở đi ra. Vượt khỏi thành phố Torino, họ đến một khu rừng mát mẻ soạn lều cắm trại, dọn bếp nấu ăn, thi đua thể thao, hát hò văn nghệ thỏa thích. Thật là một khung cảnh ngoạn mục! Cha Bosco lăng xăng giữa họ đùa chơi, chuyện trò hay khuyên bảo.

Trời càng về chiều, ban Giám thị càng hồi hộp nhìn đồng hồ, mặt mày tái mét bảo nhau " Dại dột quá ! Không chừng chết cả lũ " Bỗng nghe thấy tiếng đàn tiếng hát từ xa vọng lại. Họ thở phào nhẹ nhỏm. Cửa tù lại mở rộng. Các tù nhân theo hàng ngũ tiến vào. Ban Giám thị điểm danh: Không thiếu một móng.

Mấy ngày sau. ban Giám thị mở một cuộc điều tra, tất cả tù nhân trẻ đều trả lời "Cha Bos co yêu thương chúng tôi , chúng tôi yêu thương cha Bosco. Bởi thế nhiều lần chúng tôi muốn đào tẩu, nhưng nhìn ngài, chúng tôi không thể nhẫn tâm " Gặp lại cha Bosco, ban Giám thị bắt tay ngài và nói"Cha làm cho chúng tôi một phen hú vía!Nhưng chúng tôi hết sức cảm phục cha. Cha đã trao quả tim cho họ và chinh phục quả tim của họ cho cha, chứ chúng tôi đây, với mấy vòng gác, hàng rào, khóa sắt, chó berger, bóng đèn pha,trăm người lính gác...mà tháng nào cũng có đứa trốn được "

Ngọn nến hồng

Đamien
09-01-2007, 09:02 PM
SỐNG ĐỨC TIN VÀO ĐỨC KITÔ

Khi sống Đức Tin vào Đức Kitô, với tất cả xương da và máu huyết của mình, mỗi người trong chúng ta, không loại trừ một ai, đang thể hiện cùng một lúc, nhiều thực thể khác biệt nhau, nhưng kết hợp mật thiết vào nhau và nuôi sống lẫn nhau.

Thực thể thứ nhất là chính con người của Đức Kitô đang có mặt trong bản thân và cuộc đời của tôi. Phải chăng khi sống Đức Tin của mình, tôi cũng có khả năng khẳng quyết giống như Thánh Phaolô : « Không phải tôi sống. Chính Đức Kitô sống trong tôi. Tôi mặc lấy con người của Ngài. Tôi mang vào mình những tâm tình của Ngài, Chính ngày hôm nay, tôi chịu đóng đinh vào Thánh Giá cùng với Ngài, và nhờ đó tôi đang được sống lại với Ngài » (Gl 2,20).

Thực thể thứ hai là cùng với mỗi thành viên trong lòng Hội Thánh, chính ngày hôm nay, tôi đang tiếp nối công trình mà Đức Kitô đã kinh qua trong cuộc đời trần thế của Ngài. Tôi bổ túc những gì đang còn thiếu sót, trong cuộc đời làm người của Ngài, cho đến ngày Ngài trở lại trong Vinh Quang (Cl 1, 24). Chính vì lý do nầy, bao lâu còn có một người bị đàn áp và bốc lột, trong lòng xã hội, chính Đức Kitô đang còn bị bốc lột và đàn áp. Bao lâu còn có một người phải ngủ đêm trên đường phố, chính Đức Kitô đang còn là người vô gia cư có mặt giữa chúng ta. Bao lâu trên thế giới nầy, còn có một trẻ em đang bị lạm dụng tình dục, chính Đức Kitô đang vác Thánh Giá và leo lên Ngọn Đồi Gôn-gô-tha.
***
Tuy nhiên, những cách trình bày hay là lời tuyên xưng của tôi trên đây, chỉ là « thanh là phèng phèng, chũm chọe xoang xoảng » (1Cr 13,1), chừng nào Đức Tin vào Đức Kitô chưa được chứng minh và chứng nghiệm, một cách toàn bộ và toàn diện, trong bốn lãnh vực làm người của tôi sau đây:

Lãnh vực thứ nhất là Thân, gồm có con người xác thể của tôi. Hẳn thực, bao lâu bàn tay tôi chưa làm, bước chân tôi chưa đi, nghĩa là tôi chưa thể hiện Đức Tin, bằng những tác động cụ thể và khách quan, tôi chưa phải là « người làm chứng đích thực về Đức Kitô ». Nói khác đi, trong cuộc đời Đức Tin, tôi đang còn là một khán giả, đứng nhìn từ ngoài. Tôi chưa « dấn thân, nhập cuộc », can đảm bước đi theo Đức Kitô và đứng thẳng dưới chân Thánh Giá với Ngài, giống như Mẹ Maria, trên ngọn đồi Gôn-gô-tha.

Lãnh vực thứ hai là Trí. Nhờ biết vận dụng Tư duy và Trí thông minh, tôi ý thức một cách sáng suốt về những giai đoạn đi tới, trên con đường Đức Tin của tôi. Hiện tại tôi đang đứng ở đâu ? Mục đích cuối cùng của đời tôi là gì ? Tôi sử dụng những phương thức nào để chuyển biến mục đích cuối cùng ấy thành hiện thực cụ thể mỗi ngày trong lòng cuộc đời? Nếu có những chướng ngại xuất hiện, tôi biết rõ khi nào cần thay đổi lộ trình, khi nào phải can trường tiến tới. Không những tôi làm điều ấy cho bản thân và cuộc đời của mình, tôi còn có trách nhiệm chia sẻ và đóng góp lối nhìn của tôi, cho bao nhiêu người khác đang sống hai bên cạnh tôi. Trong tinh thần và lăng kính ấy, sống Đức Tin còn mang ý nghĩa là « Chia sẻ và Đồng hành » với mỗi người anh chị em, trên con đường làm người. Ai buồn mà lòng tôi không khổ đau ? Ai cô đơn mà tôi không lại gần chăm nom, ủy lạo ? Ai đang trầm luân trong tuyệt vọng mà tôi không sẵn sàng hiến tặng một cánh tay nâng đỡ ?

Lãnh vực thứ ba là Tâm. Nhiệt tình và hăng say là bộ mặt bên ngoài của những ai đang ngày ngày cố quyết « bắt chước Đức Kitô », trong cuộc đời trần thế của mình. Tình Yêu lúc bấy giờ là động cơ thúc đẩy mọi đường đi nẻo về của họ. Trong những quan hệ tiếp xúc hằng ngày, khi có một vấn đề xảy ra với bất cứ người nào, Tình Yêu là câu trả lời của họ. Khi có một tai ương hoạn nạn đang đe dọa cuộc đời, Tình Yêu là điểm tựa cuối cùng của họ. Khi có người lên tiếng tố cáo, bôi nhọ, tấn công và kết án, câu trả lời của họ là Tình Yêu và Thứ Tha. Theo lối nhìn bình thường và tự nhiên của đại đa số quần chúng, cách trả lời như vậy là điên rồ và ngu dại (1Cr 1, 18). Tuy nhiên, trên Thánh Giá Đức Kitô đã chọn lựa cách trả lời ấy, với một tâm hồn hoàn toàn tự do và sáng suốt, với trọn vẹn con người của mình.

Lãnh vực thứ tư là Đạo. Đạo ở đây có nghĩa là con đường làm người. Hơn ai hết, chính Thiên Chúa, mà tôi yêu mến và tôn thờ, đã chọn lựa con đường làm người nầy, trong một khoảng thời gian dài hơn ba mươi năm, để cho con người biết làm người với nhau. Trong tinh thần và lăng kính nầy, bao lâu chúng ta chưa làm người và chưa biết tôn trọng tính người của kẻ khác, trái lại chỉ dấn bước vào con đường hận thù, bạo động và chiến tranh… phải chăng chúng ta đã thực sự « sống Đức Tin vào Đức Kitô » ?
***
Theo lối nhìn của Tổ Tiên và Cha Ông chúng ta, không có thân chúng ta chỉ là con « mộc tinh » trong lòng Quê Hương, nghĩa là một cây chiên đàn không có gốc, không có rễ, không có lá cũng không có hoa. Ngày ngày chúng ta lang thang phiêu bạt khắp đó đây, để đe dọa và lường gạt kẻ khác.

Không có Trí, chúng ta chỉ là những con « Sơn Tinh và Thủy Tinh », đang tìm cách tận diệt lẫn nhau từ đời nầy qua đời khác. Rốt cuộc, chúng ta chỉ trối lại cho con cháu, một gia tài đổ nát và tang thương.

Không có Tâm, chúng ta chỉ là những con « Ngư Tinh », trong lòng cuộc sống. Thay vì nuôi dưỡng, xây dựng, đóng góp, chúng ta chỉ đầu độc và làm ô nhiễm toàn thể cuộc sống của anh chị em đồng bào.

Không có Đạo, chúng ta chỉ là những con « Hồ Tinh », len lỏi, nằm vùng, trên khắp mọi nẻo đường của Đất Nước. Trong cách làm và cách sống của chúng ta, người khác chỉ là công cụ hay là đồ vật nhằm thõa mản những nhu cầu bốc lột, đàn áp, hối lộ và tham tàn của chúng ta.

Vậy, nếu ngày hôm nay, Đức Kitô trở lại lần thứ hai, trong cuộc đời trần thế nầy, tôi sẽ là ai, là gì trước con mắt của Ngài ? Những vần thơ sau đây có phản ảnh được một phần nào tâm hồn của tôi hay không?

« Từng bước đi, đường Đức Tin diệu vợi,
« Quyết ấn mạnh dấu chân Con Người Mới,
« Lo băng bó vết thương còn lở lói,
« Gieo an lạc vào lòng ai mòn mỏi,
« Ngày ngày cưu mang Biển Trời Cao Cả,
« Thở Thần Khí, biến Đời thành Phép Lạ ».

Để đánh dấu ngày Chủ Nhật 7-1-07
Lausanne, Thụy Sĩ
Nguyễn Văn Thành