PDA

View Full Version : Chương Hai: Ai chỉ bảo? - Quyền giáo huấn và những câu hỏi sơ khởi


admin
02-02-2006, 06:37 AM
Chương Hai

Ai chỉ bảo?

Quyền giáo huấn và những câu hỏi sơ khởi.





Không ai tự do cho bằng người có thể từ bỏ cái ý riêng của mình và làm theo ý của Thiên Chúa.

Vô Danh


Người ta rất ghét bị bảo nên làm gì và không nên làm gì, nhất là khi liên quan đến tính dục. Phần nào của thái độ này làm chứng cho phẩm giá của chúng ta là những con người tự do. Khi chúng ta bị bắt buộc phải làm gì đó, chúng ta thường cảm thấy phẩm giá của chúng ta bị chà đạp.

Tuy nhiên mặt khác của thái độ này làm chứng cho sự thật về tội nguyên tổ. Chúng ta không muốn bất cứ ai, kể cả Thiên Chúa, bảo chúng ta rằng điều gì đó chúng ta muốn làm là sai, chúng ta muốn tự định đoạt cái gì là tốt và cái gì là xấu. Đó là vấn đề của tính kiêu căng.

Tính kiêu căng của con người thường chống đối lại quyền bính. Và khi quyền bính bị lạm dụng, chúng ta phải phản kháng. Nhưng khi quyền bính được sử dụng theo chương trình của Thiên Chúa, thì nếu chúng ta muốn thực sự được tự do chúng ta cần phải vâng theo. Đó là nghịch lý của Tin Mừng vì khi chết đi chúng ta sẽ sống (x. Ga 12,24), khi cho đi chính mình chúng ta sẽ tìm lại được chính chúng ta (x. Mt 16,25), khi vâng theo sự thật chúng ta sẽ được tự do (x. Ga 8,32).

Đức vâng lời ở chỗ hay nhất của nó không phát sinh từ sức mạnh quyền lực, hay sự sợ hãi, nhưng từ tình yêu dành cho sự thiện, sự thật, và tình yêu tuyệt mỹ đối với Thiên Chúa. Tự do không phải là làm bất cứ cái gì tôi muốn, tự do là làm bất cứ cái gì tốt lành. Tự do là làm theo ý Thiên Chúa.

Nhưng làm sao tôi biết ý định của Thiên Chúa nhất là về vấn đề tính dục của chúng ta. Thật không nghĩa lý gì khi Thiên Chúa bắt chúng ta phải có trách nhiệm với ý định của Người nếu chúng ta không có cách chắc chắn nào để biết ý định đó là gì. Tin Mừng của giáo huấn của Giáo hội nằm ở đây: Chúa đã bày tỏ ý định Người cho chúng ta.

Với câu đó trong tâm tưởng nào chúng ta hãy suy xét vài câu hỏi thông thường nhất thường được hỏi về quyền giáo huấn của Giáo hội. Những câu hỏi này cần phải được trả lời trước khi chúng ta đụng đến những gì mà Giáo hội dạy bảo nhất là về tính dục của con người.


http://gpnt.net/images/arrow_dyn.gif

admin
27-02-2006, 12:56 PM
1. Ai định đoạt những gì Giáo hội công khai giảng dạy? Có phải tất cả chúng ta là "Giáo hội"?

Giáo hội được kết hợp với Đức Kitô như một hiền thê với phu quân mình. Chính Đức Kitô định đoạt những gì Hiền Thê giảng dạy. Đức Kitô ban quyền cho một số các thành viên của Giáo hội được trở nên những chứng nhân trung thành cho tất cả những gì Ngài đã truyền dạy; đây chính là vai trò Quyền Giáo huấn của Giáo hội. Quyền chính thức giảng dạy công khai này được đảm trách do Đức Giáo hoàng và các Giám mục trên khắp thế giới hiệp thông với ngài. Khi Đức Giáo hoàng giảng dạy về các vấn đề liên quan đến đức tin và luân lý, và khi các giám mục giảng dạy về đức tin và luân lý hiệp thông với Đức Giáo hoàng, thì các ngài giảng dạy nhân danh Đức Kitô và với uy quyền của Ngài.

Vâng, tất cả các tín hữu Công giáo đã được rửa tội làm thành Giáo hội Công giáo. Tất cả chúng ta là "một thân thể" trong Đức Kitô (x. 1 Cr 12,12). Tuy nhiên, thân thể này mang nơi mình một phẩm trật thánh, từ hierarchy ("hier-archy" tự nguyên có nghĩa là "phẩm trật thánh"). Như Thánh Phaolô đã nói, thân thể của Đức Kitô có nhiều chi thể đảm nhận những phần vụ khác nhau (x. 1 Cr 12). Tất cả những phần vụ khác nhau này đều cần thiết cho các chức năng của những cơ quan trong thân thể: "Vậy mắt không thể bảo tay: ‘Tao không cần đến mày’; đầu cũng không thể bảo hai chân: ‘Tao không cần đến chúng mày’." (1 Cr 12,21). Mắt không thể bảo mình là tay, và tay không thể bảo mình là đầu.

Những vị trong Giáo hội giảng dạy với uy quyền của Đức Kitô không tự tuyên bố phận vụ cho chính mình. Các ngài được Thiên Chúa truyền chức để làm việc ấy. Đó là phận vụ của các ngài trong Thân Thể. Do đó, Quyền Giáo huấn là một quà tặng thật lớn lao cho Giáo hội và thế giới bởi vì quyền ấy cho chúng ta một phương thế chắc chắn để hiểu biết những giáo huấn của Đức Kitô.

http://gpnt.net/images/arrow_dyn.gif

admin
02-03-2006, 04:08 PM
2. Từ đâu Giáo Hội đã nhận ra rằng mình có "Quyền Giáo Huấn" để công khai giảng dạy?

Đức Kitô đã xây Giáo hội của Người trên nền tảng là Thánh Phêrô, vị thủ lãnh các Tông đồ. Người đã trao cho Thánh Phêrô "chìa khoá Nước Trời" rồi bảo: "Thầy sẽ trao cho anh chìa khoá Nước Trời: dưới đất, anh cầm buộc điều gì, trên trời cũng sẽ cầm buộc như vậy; dưới đất, anh tháo cởi điều gì, trên trời cũng sẽ tháo cởi như vậy." (x. Mt 16,13-20).

Nói cách khác, Đức Kitô trao cho Thánh Phêrô quyền đại diện cho Người trên trái đất, để giảng dạy nhân danh Người và với quyền uy của Người. Điều này không phải bởi Phêrô là một người hoàn hảo, nhưng bởi vì Đức Kitô đã bảo trợ ông và các tông đồ khác bằng cách gởi Chúa Thánh Thần đến để hướng dẫn các ông trong "chân lý toàn vẹn" (x. Ga 16,13).

Điều Đức Kitô đã hứa 2000 năm trước vẫn còn tiếp tục trong thời đại chúng ta ngày nay. Đức Giáo hoàng và các Giám mục kế tục trực tiếp và không đứt đoạn từ Thánh Phêrô và các Tông đồ - do đó chúng ta tuyên xưng Giáo hội duy nhất, thánh thiện công giáo và tông truyền. Các ngài cũng được hứa ban ơn Chúa Thánh Thần để dẫn dắt Giáo hội trong chân lý toàn vẹn. Vì vậy, tín hữu Công giáo chúng ta tin rằng khi các ngài giảng dạy về đức tin và luân lý, là các ngài giảng dạy với uy quyền của chính Đức Kitô (x. GLHTCG, 888).

Được Đức Giáo hoàng dẫn dắt, Giáo hội là "cột trụ và điểm tựa của chân lý" (1 Tm 3,15). Điều này không phải do phẩm chất của con người nhưng bởi vì Giáo hội luôn kết hiệp thật mật thiết với Lang Quân của mình, Đức Giêsu Kitô. Đức Giêsu nói với các Tông đồ: "Ai nghe anh em là nghe Thầy; và ai khước từ anh em là khước từ Thầy; mà ai khước từ Thầy là khước từ Ðấng đã sai Thầy" (Lc 10,16). Do đó Công đồng Vatican II mới có thể dạy rằng khi chúng ta đón nhận những lời giảng dạy từ Đức Giáo hoàng và các Giám mục rồi sống theo những điều ấy, thì chúng ta đón nhận "không phải như lời người phàm, nhưng như lời Thiên Chúa" (x. 1 Tx 2,13).[1] (http://www.gpnt.net/thuvien/thanhocthanxac/tinmungtinhduchn/goodnews_02.htm#_ftn1)

http://gpnt.net/images/arrow_dyn.gif
-----
[1] (http://www.gpnt.net/thuvien/thanhocthanxac/tinmungtinhduchn/goodnews_02.htm#_ftnref1) Lumen Gentium, n. 12.

admin
03-03-2006, 05:36 AM
3. Có phải bạn bảo rằng Giáo hội thực sự tin tưởng mình đang nói thay Thiên Chúa và hiểu biết "chân lý"? Sao mà ngạo mạn thế!

Thưa vâng, Giáo hội thực sự tin tưởng mình đang nói thay Thiên Chúa và được Đức Kitô cho dự phần vào sự bất khả ngộ của Người. (x. GLHTCG, 889). Đây chính là điều xác quyết, mà hết thảy chúng ta phải nghiêm túc công nhận rằng, thật mạnh mẽ đáng kinh ngạc. Chúng ta chỉ có thể chọn một trong hai kết luận: Hoặc Giáo hội cực kỳ ngạo mạn - hoặc chỉ có thể là Giáo hội đã đúng.

Tóm lại, không có chỗ cho lừng khừng, lập lững. Nếu Giáo hội đúng, thì chúng ta phải nhìn nhận Giáo hội như là một phúc lành Chúa ban, và chúng ta sẽ uốn nắn cuộc đời chúng ta cho phù hợp với những gì Giáo hội giảng dạy. Ngay cả khi chúng ta không hiểu tại sao về một điều giảng dạy nào đó, chúng ta vẫn tin rằng điều đó sẽ được đưa ra ánh sáng vào một lúc thích hợp. Mặt khác, nếu Giáo hội cực kỳ ngạo mạn, thì có lẽ chúng ta nên tránh đừng dính dáng gì tới cái danh hiệu người Công giáo này.

Đây chính là một thực tế rất quan trọng. Nó thách thức và thúc đẩy chúng ta phải lựa chọn. Chúng ta đang sống trong một nền văn minh dạy chúng ta nên tránh có quá nhiều quyết chọn. Chúng ta vừa thích sáng tác kịch bản vừa thích kịch bản hơn là đương đầu với những thực tế có thể hoặc không tránh khỏi của cuộc sống.

Nói cách khác, chúng ta sống trong một nền văn minh chối bỏ sự thật khách quan. Người ta thường nói: "Điều đó có thể đúng cho bạn, chứ không đúng cho tôi". Hoặc, "Ý kiến của người này chỉ có giá trị ngang bằng như ý kiến của người kia". Và tất cả chúng ta đã chịu ảnh hưởng của những thái độ này.

Nhưng Đức Giêsu lại dạy điều hoàn toàn khác. Người dạy rằng Người là sự thật (x. Ga 14,6), và Người thiết lập một Giáo hội với lời hứa ban cho quyền giảng dạy sự thật (x. Ga 16,13). Người mời gọi chúng ta đón nhận điều ấy. Chúng ta được tự do để không đón nhận. Nhưng đây thật là một quyết định nặng cân khủng khiếp, chúng ta đừng nên xem thường.

Tiếp cận vấn đề từ cái nhìn hoàn toàn thực nghiệm, người ta có cảm giác rằng Đức Kitô có lẽ đã thiết lập một quyền bính vĩnh viễn trên trái đất này để làm cho ý muốn của Người được biết đến. Mặt khác, chú giải Kinh Thánh và tìm biết ý Chúa vốn cùng đi tới kết quả muôn đời chung qui có lẽ cũng chỉ là trò chơi phỏng đoán. Quyền uy được Thiên Chúa ban cho trên trái đất này là điều thiết yếu để duy trì hiệp nhất trong đức tin.

Nếu Đức Kitô đã thực sự ban quyền này cho Giáo hội Công giáo, thì chẳng ngạo mạn chút nào khi Giáo hội thực thi quyền ấy. Nếu chúng ta thành thực, thì điều ngạo mạn lại là việc chúng ta tưởng rằng chúng ta hiểu biết rõ hơn Giáo hội về ý định của Thiên Chúa liên quan đến đức tin và luân lý.

http://gpnt.net/images/arrow_dyn.gif (http://www.gpnt.net/thuvien/thanhocthanxac/tinmungtinhduchn/goodnews_02.htm)

admin
05-03-2006, 04:24 PM
4. Làm thế nào mà Giáo hội có thể quả quyết giảng dạy không sai lầm? Lịch sử cho thấy rằng Giáo hội đã có nhiều sai lỗi và làm những chuyện quá quắt. Bạn nghĩ sao về vụ Galileo, Đạo Binh Thánh Giá, Toà Án Dị Giáo?

Vào Chúa nhật I Mùa Chay năm 2000, Đức Gioan Phaolô II đã nài xin lòng nhân từ Chúa tha thứ những lỗi lầm quá khứ mà con cái Giáo hội đã mắc phải. Như hành vi này tỏ rõ, Giáo hội không tuyên bố là tất cả thành viên và các vị lãnh đạo Giáo hội trong suốt giòng lịch sử đã không bao giờ vấp phải lầm lỗi trong việc làm hoặc lời nói. (Là một thành viên của Giáo hội, có bao giờ bạn đã sai lầm trong lời nói hoặc việc làm chưa? Cho qua cái lý lẽ này đi …) Ơn đoàn sủng gìn giữ Giáo hội tránh khỏi sai lầm được ứng dụng vào những giáo huấn công khai liên quan đến đức tin và luân lý.

Chắc chắn có nhiều thành viên Giáo hội, kể cả linh mục, giám mục, và giáo hoàng, đã không luôn sống theo những lời dạy bảo của đức tin của chính mình. Các vị ấy đã lầm lỗi. Đôi khi, những chuyện quá quắt cũng đã được thực hiện nhân danh “Giáo hội”.

Đây là gương xấu và có thể làm suy yếu đức tin của con cái Giáo hội. Tuy nhiên, sự kiện Giáo hội dù phải gánh chịu nhiều băng hoại nhưng vẫn đứng vững sau hai ngàn năm mà còn làm chứng cho những lời của Đức Kitô nói với Phêrô, khi Người thiết lập Giáo hội: “Quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi [Giáo hội]” (Mt 16,18).

Tại sao đã xảy ra chuyện xấu trong Giáo hội? Trước tiên bởi vì Giáo hội gồm những con người như bạn và tôi. Nói thế có nghĩa là, Giáo hội không phải là một “trú quán dành cho các thánh”, mà là một “nhà thương cho người tội lỗi”. Thưa vâng, chúng ta được mời gọi để nên thánh, nhưng chúng ta chưa có thể đạt đến hoàn thiện ở đời này. Đàng khác, như Đức Kitô đã nói, hãy cứ để cả lúa lẫn cỏ lùng mọc lên cho đến mùa gặt (x. Mt 13,24-30).

Nhưng tin mừng là ở đây: ngay cả khi có những cá nhân thành viên Giáo hội đã bất trung, cho dù trong lịch sử có những lúc dường như cỏ lùng mọc dày hơn cả lúa, Đức Kitô không bao giờ bỏ rơi Hiền Thê của mình. Dù cho các thành viên của Giáo hội có lầm lẫn, Giáo hội vẫn và sẽ không bao giờ sai lầm trong những giáo huấn về đức tin và luân lý được tuyên bố một cách chung quyết. Đó là chính lời hứa của Chúa.



http://gpnt.net/images/arrow_dyn.gif (http://www.gpnt.net/thuvien/thanhocthanxac/tinmungtinhduchn/goodnews_02.htm)

admin
06-03-2006, 06:48 PM
5. Phải chăng “ơn bất khả ngộ” của Giáo hội chỉ áp dụng trong một ít tuyên bố hoạ hiếm của Đức Giáo Hoàng?

Giáo hội có hai cách thực hành đoàn sủng bất khả ngộ (ơn không thể sai lầm): cách đặc biệt khi Đức Giáo hoàng tuyên bố ex cathedra (“tại ngai toà” thánh Phêrô);[2] cách thông thường khi Quyền Giáo huấn công nhận về một vấn đề đức tin và luân lý như là một điều dứt khoát phải tuân giữ.

Có một sai lầm khá phổ biến đó là nghĩ rằng tính bất khả ngộ chỉ áp dụng cho các công bố ex cathedra, như thể chỉ những công bố này mới là những giáo huấn Công giáo “buộc phải” tin. Điều đó dường như muốn nói là chúng ta không “buộc phải” tin Chúa Ba Ngôi hoặc mầu nhiệm Nhập Thể hoặc biết bao nhiêu các điều cốt lõi khác của niềm tin mà chưa bao giờ được định tín ex cathedra. Như GLHTCG đã giải thích rõ, Ơn bất khả ngộ của Quyền Giáo huấn … bao quát tất cả các yếu tố cơ bản của giáo lý, kể cả giáo lý về luân lý, nếu không như thế thì việc bảo toàn chân lý đức tin không thể được duy trì, dẫn giải, hoặc tuân giữ.”[4]

Hơn nữa, ngay cả trong những trường hợp khi Quyền Giáo huấn giảng dạy mà không nại đến ơn bất khả ngộ, chúng ta cũng được mời gọi gắn bó với những giáo huấn ấy “với tâm tình vâng phục sùng mộ” (x. GLHTCG, 892).


6. Giáo hội nên bãi bỏ cơ cấu hàng giáo phẩm để trở nên dân chủ hơn và cởi mở đối thoại.

Thời nay, thuật ngữ “hàng giáo phẩm” đã trở thành một từ xấu. Nhiều người dường như nghĩ rằng từ ấy đại loại cũng đồng nghĩa với bất bình đẳng. Nhưng nhưng chúng tôi đã nói trên đây, hàng giáo phẩm hiểu thật đơn giản là phẩm trật thánh.

Bãi bỏ hàng giáo phẩm, do đó, không phải là khử bỏ bất bình đẳng. Bãi bỏ hàng giáo phẩm là loại bỏ sự sắp xếp trật tự của Thiên Chúa trên vạn vật. Chẳng hảo ý chút nào! Đối ngược lại với cơ cấu hàng giáo phẩm không phải là sự bình đẳng mà là sự vô tổ chức – hoàn toàn không có trật tự, là hỗn loạn.[5]

Thế giới ngày nay của chúng ta đầy dẫy những hỗn loạn, và tất cả đều bắt nguồn từ việc chối bỏ quyền bính được Thiên Chúa ban cho. Lan tràn rộng khắp, điều đã bị đặc biệt loại trừ đó là kế hoạch của Thiên Chúa về tính dục và hôn nhân. Thật khó có thể tìm ra dù chỉ vỏn vẹn một tội ác xã hội, một yếu tố của sự hỗn loạn xã hội, mà cách nào đó lại không có liên quan đến việc phá vỡ hôn nhân và lạm dụng tính dục.

Giáo hội không phải là một thể chế dân chủ. Chân lý về Đức Kitô và những gì Người giảng dạy không thể được định đoạt bởi biểu quyết của dân chúng. Nếu Thiên Chúa bày tỏ cho biết điều gì là chân lý, thì điều ấy không thể được đem ra “bàn cãi” xem có đúng thật là chân lý hay không?

Đàng khác, nếu bàn cãi là muốn nói đến chuyện bàn luận về một giáo huấn nào đó với mục đích để hiểu biết tại sao Giáo hội giảng dạy như thế, thì điều đó là chính đáng. Nhưng nếu bàn cãi là có ý nói rằng Giáo hội cần phải lắng nghe những ý kiến khác với mục đích là muốn làm cho Giáo hội thay đổi giáo huấn về đức tin và luân lý, thì điều ấy thật không phải lẽ. Giáo hội không thể thay đổi chút nào điều gì Chúa Thánh Thần đã mặc khải là chân lý. Đây không phải là chuyện cứng cõi bất chấp; nhưng là một điều vượt quá khả năng.

Chẳng hạn, thật vô nghĩa khi chúng ta “bàn cãi” xem 2 cộng 2 có phải là 4 không (2 + 2 = 4)? Chúng ta có chăng là “bàn cãi” xem tại sao 2 + 2 = 4 với mục đích giải thích với những ai chưa hiểu, chứ chúng ta không thể ôm mộng thay đổi cái sự kiện 2 + 2 = 4.

Thiên Chúa không thay đổi vì chúng ta. Chúng ta phải thay đổi vì Người. Tính tự phụ của chúng ta đang nổi loạn quá sức. Nhưng bao lâu chúng ta chưa giáp mặt với thực tại căn bản này – chúng ta không phải là Thiên Chúa – thì chúng ta vẫn đang sống trong hoang tưởng.


http://gpnt.net/images/arrow_dyn.gif (http://www.gpnt.net/thuvien/thanhocthanxac/tinmungtinhduchn/goodnews_02.htm)

-----
[2] (http://www.gpnt.net/thuvien/thanhocthanxac/tinmungtinhduchn/goodnews_02.htm#_ftnref2#_ftnref2) Điều này chỉ xảy ra hai lần trong lịch sử Giáo hội. Vào năm 1854 ĐGH Piô IX định tín không sai lầm tín điều Vô nhiễm nguyên tội (dạy rằng, do công trình cứu chuộc của Đức Kitô soi sáng, Đức Maria được vô nhiễm nguyên tội ngay từ lúc tượng thai). Và vào năm 1950 ĐGH Piô XII định tín không sai lầm tín điều Đức Maria Hồn xác lên trời.
[3] (http://www.gpnt.net/thuvien/thanhocthanxac/tinmungtinhduchn/goodnews_02.htm#_ftnref3#_ftnref3) X. Lumen Gentium, 25.
[4] (http://www.gpnt.net/thuvien/thanhocthanxac/tinmungtinhduchn/goodnews_02.htm#_ftnref4#_ftnref4) GLHTCG, 2051.
[5] Để giúp đào sâu cách hiệu quả về vai trò thiết yếu của phẩm trật trong việc ổn định trật tự không chỉ riêng cho Giáo hội nhưng cho xã hội rộng lớn, xin xem cuốn sách của nữ học giả Joyce Little The Church and the Culture War (Giáo hội và chiến tranh văn hoá) (San Francisco: Ignatius, 1995). Một vài ý tưởng được trình bày ở đây cũng đã được góp nhặt từ tác phẩm sâu sắc này của bà.

admin
09-03-2006, 06:44 AM
7. Là người Công giáo, phải chăng tôi không được phép nghi vấn về Giáo huấn của Giáo hội? Có thể Giáo hội có điều gì đó không đúng. Tôi có buộc phải tin mọi điều Giáo hội giảng dạy không?

Chẳng có gì là sai khi một người đang trưởng thành trong đức tin đặt ra những vấn nạn với ước mong thành khẩn đạt được chân lý. Đó là cách thế để chúng ta biết được chân lý là gì. Do đó, đừng có ai sợ cái “có thể” thú vị này. Có thể Thiên Chúa không hiện hữu. Nhưng có lẽ Người hiện hữu. Có thể Giáo hội Công giáo sai lạc kinh khủng trong các giáo huấn. Nhưng có lẽ giáo huấn Giáo hội đến từ chính Thiên Chúa. Những nghi vấn đại loại như thế thật thú vị.

Những ai không dám đem những gì mình tin ra để trắc nghiệm theo cách này, thì đang buộc chặt mình vào một suy tưởng sợ rằng họ sẽ không đứng vững khi đối mặt với thực tế. Còn những ai đi tìm chân lý thì không sợ phải từ bỏ những gì mình tin trước thực tế. Nghi vấn “có thể” thú vị này là đường lối duy nhất dẫn tới chân lý. Đó là con đường duy nhất đến sự chắc chắn và tự do của đức tin.

Tuy nhiên, đức tin là một ơn không nhất thiết phải đến đầy đủ ngay một lúc. Chính Giáo hội biết rằng “một tiến trình tăng trưởng dần trong giáo huấn thật cần thiết để cho cá nhân những người tin … có thể được kiên trì dẫn dắt tiến tới một sự hiểu biết phong phú hơn và tích hợp đầy đủ hơn về mầu nhiệm [Đức Kitô] trong đời sống của họ.”[6] (http://www.gpnt.net/thuvien/thanhocthanxac/tinmungtinhduchn/goodnews_02.htm#_ftn6#_ftn6)

Hơn nữa, nếu Giáo hội khẳng định mình là Giáo hội, thì rồi ơn đức tin rốt cuộc sẽ hướng dẫn kẻ tìm kiếm chân lý giang tay đón nhận những gì Giáo hội dạy. Nếu cuối cùng có người vẫn chống báng những gì Giáo hội giảng dạy, thì người ấy không thật sự có niềm tin vào Giáo hội Công giáo. Lúc này, nếu người ấy vẫn nhận mình là người Công giáo, thì thật là giả hình.

“Anh em cứ xin thì sẽ được, cứ tìm thì sẽ thấy, cứ gõ cửa thì sẽ mở ra cho” (Mt 7,7). Hãy nêu ra tất cả mọi vấn nạn về Giáo hội mà bạn có, hãy vui thích xem xét tất cả mọi cái “có thể” bạn có thể nghĩ tưởng đến, nhưng đừng nên thoả mãn khi bạn chưa tìm ra lời giải đáp.[7] (http://www.gpnt.net/thuvien/thanhocthanxac/tinmungtinhduchn/goodnews_02.htm#_ftn7#_ftn7)


-----
[6] THGĐ, 9.
[7] Đối với bất cứ nghi vấn nào, bạn cũng hãy luôn cố hết sức tìm đến nguồn của các lời giải đáp, như Giáo lý Hội Thánh Công giáo. Đây là chuẩn tắc chắc chắn để có thể biết được những gì Giáo hội giảng dạy và tin tưởng. Những cuốn sách giống như cuốn mà bạn đang đọc đây, đang cố gắng giải thích những gì Giáo hội thực sự giảng dạy và lý do tại sao, [những cuốn sách ấy] cũng là một nguồn tài nguyên phong phú. Hơn nữa, có nhiều hiệp hội tông đồ khác nhau trong Giáo hội nhằm phân minh và giải thích những giáo huấn chính thức về đức tin Công giáo. Hai trong các tổ chức ấy (ở Hoa Kỳ) là: Catholic Answers (619-387-7200) và Catholics United for the Faith (800-my-faith). Cả hai tổ chức này đều có thể trả lời cho các nghi vấn của bạn qua điện thoại và có rất nhiều sách vở, sổ nhỏ, băng từ, và các nguồn tài nguyên khác để giải thích những gì Giáo hội thực sự giảng dạy và lý do tại sao.

http://gpnt.net/images/arrow_dyn.gif

admin
09-03-2006, 08:55 AM
8. Vấn đề lương tâm của tôi chẳng phải là vấn đề luân lý tối hậu sao?

Giáo hội đã luôn dạy rằng người Công giáo, cũng giống như tất cả những người khác, buộc phải tuân theo tiếng lương tâm riêng của họ - về những gì liên quan đế luân lý tính dục và tất cả mọi vấn đề khác. Nhưng cũng có một luật buộc căn bản hơn để rèn luyện lương tâm theo chân lý. Lương tâm không có tự do để sáng chế ra điều đúng điều sai. Lương tâm được mời gọi để khám phá chân lý của điều gì là đúng hoặc sai và phán đoán của lương tâm phải tuân phục theo chân lý một khi đã tìm thấy chân lý.

Mặc dù tất cả chúng ta đều được Thiên Chúa ghi khắc trong tâm lòng chúng ta luật luân lý căn bản, nhưng tội nguyên tổ đã che mờ phán đoán của chúng ta. Đôi khi những ham muốn đã sa ngã của mỗi chúng ta kéo chúng ta lạc hướng hoàn toàn. Đây chính là lý do tại sao người có lương tâm luôn xem các giáo huấn luân lý của Giáo hội như là một ơn lành vĩ đại. Những giáo huấn ấy là những chuẩn tắc rèn luyện lương tâm con người theo chân lý.

Rất thường khi chúng ta dùng “lương tâm” để phủ lên lớp sơn có thể chấp nhận được về luân lý cho những gì chúng ta muốn làm mà không chịu xem xét hành vi của chúng ta có được soi sáng bởi một chuẩn tắc khách quan không. Bạn thử nghĩ xem: nếu lương tâm cá nhân là yếu tố tự khẳng quyết điều tốt, điều xấu luân lý, lại trở thành bất cứ điều gì tôi muốn. Vậy thì, ailà chúng ta để bảo cho những tên hiếp dâm hoặc giết người hàng loạt rằng hắn ta đang làm điều xấu trong khi lương tâm hắn nói điều đó là tốt? Phải có những chuẩn tắc khách quan để tất cả chúng ta ý thức tuân theo. Những chuẩn tắc khách quan này đã được Thiên chúa ban cho chúng ta và được bày tỏ qua những giáo huấn của Giáo hội.

Tuy nhiên, khi chúng ta không thích những gì Giáo hội giảng dạy thì chúng ta thường đưa ra những câu trả lời như thế nào? Chúng ta núp đàng sau những lời nại đến “tiếng lương tâm” và đàng sau hình ảnh của một Thiên Chúa chấp nhận những gì chúng ta muốn. Nhưng đó lại là một vị thần nào khác chứ không phải là Thiên Chúa. Đó là ngẫu tượng.

Chúng ta sẽ không bao giờ tìm thấy bình an và hạnh phúc thật sự nếu chúng ta không chiều theo thánh ý Chúa trong đời sống chúng ta. Đó chính là sự hoán cải tâm hồn toàn diện mà tất cả chúng ta đều cần phải thực hiện.


http://gpnt.net/images/arrow_dyn.gif

admin
13-03-2006, 03:19 PM
9. Giáo hội nên chấm dứt việc xét xử dân chúng và áp đặt giáo huấn của mình cho mọi người. Tất cả chúng ta đều được tự do để chọn lựa theo ý mình.

Tất cả chúng ta đều được tự do để chọn lựa theo ý mình. Giáo hội không bao giờ áp đặt giáo huấn của mình. Không có chuyện giống như đội cảnh sát của Đức Thánh Cha. Nhưng Giáo hội hiên ngang và mạnh dạn mời gọi thế giới biết đến giáo huấn của mình như là chân lý của những gì gọi là yêu thương. Chúng ta được tự do để đón nhận hoặc từ khước lời mời gọi này. Tình yêu thương không bao giờ được cưỡng bức một ai.

Mặc dù thật sự chỉ một mình Thiên Chúa mới có quyền xét xử lòng người, chúng ta vẫn có thể và buộc phải phán đoán luân lý về một vài lối hành xử nào đó. Giáo hội sẽ bội phản Thiên Chúa và toàn nhân loại nếu Giáo hội không tán dương ý định của Chúa như là chuẩn mực khách quan cho mọi người. Tuy nhiên, lên án hành xử của một người không phải là lên án con người đó, nhưng là mời gọi con người đó hãy đón nhận chân lý của tình yêu.

Tình yêu thương không phải là tuỳ tiện. Yêu thương là tất cả những gì làm cho con người “cảm thấy tốt đẹp”. Yêu thương có nghĩa là bước theo Đức Kitô và tuân giữ giới răn của Người (x. Ga 15,10). Đây chính là tất cả những gì Giáo hội giảng dạy.



http://gpnt.net/images/arrow_dyn.gif

admin
13-03-2006, 03:23 PM
10. Tại sao có ý kiến phổ biến rộng rãi cho rằng Giáo hội khinh thị tính dục?

Ngay cả các tín hữu Công giáo thành tín nhất cũng phải thú nhận rằng cái ý kiến phổ biến này – dù là không đúng – không hoàn toàn là suy tưởng vô căn cứ. Lý do vì có quá nhiều tâm trí non nớt nhạy cảm đã được đào luyện (hoặc đào luyện cách sai lầm) bởi những lời trách mắng, sĩ diện của các nữ tu hoặc giáo sĩ thành tâm thiện chí nhưng lại được hướng dẫn sai lạc và không cân bằng về tính dục. Từ đó phát sinh những đám mây mù lan rộng về việc Giáo hội Công giáo “khinh thị tính dục” mà phải chăng dường như đã bám vào tâm trí dân chúng một cách bền chặt như thế?

Chắc chắn rằng có nhiều điều phải bàn về những giải thích sai lầm về giáo huấn Giáo hội. Nhưng chúng ta đừng thọc gậy bánh xe vào Giáo hội bằng cách chấp nhận cũng có nhiều chuyện phải nói đối với những luận đề miệt thị tính dục mà thường hầu hết nằm trong các tác phẩm của nhiều tác giả trong lịch sử Kitô giáo.

Người có óc khách quan sẽ nhận rằng một sự nhập nhằng sâu kín về thân xác và các chức năng của nó, đặc biệt những chức năng về truyền sinh và tính dục, không phải là một hiện tượng giới hạn của Kitô giáo nhưng là hiện tượng của nhân loại phổ quát.[8] Cũng thế, các tác giả Kitô giáo, giống như các tác giả khác, không tránh khỏi những thất bại để đạt đến việc đánh giá đúng đắn đầy đủ cái thiện mỹ của tính dục. Tuy nhiên, trong sự thú nhận này, chúng ta cần phải biết phân biệt để đừng nhầm lẫn giữa ý kiến của Giáo hội và ý kiến của những người trong Giáo hội.

Đương đầu với các cuộc tấn công, giáo huấn chính thức của Giáo hội luôn giữ vững được sự tốt lành cố hữu về thân xác và tính dục. Giáo hội cho thấy rằng tất cả các ý thức hệ đối nghịch không gì khác hơn là lạc giáo. Thật đáng tiếc, mãi cho tới thế kỷ thứ hai mươi, các tuyên bố chính thức về vấn đề này về bản chất lại quá vắn tắt và có tính cách pháp lý. Nghĩa là những tuyên bố đó đã không để lại ấn tượng trên “cảm thức lịch sử” của nền văn hoá chúng ta so với một ít tác phẩm có ảnh hưởng rộng rãi hơn của các nhà tư tưởng Công giáo bị tác động mạnh bởi những trào lưu tư tưởng xa lạ với tâm thức của Giáo hội. Do đó, dù giáo huấn Giáo hội có những bước phát triển đáng kể về tính dục và hôn nhân trong thế kỷ vừa qua, ý kiến về Giáo hội “khinh thị tính dục” vẫn còn rơi rớt.

Nhìn vào chính giáo huấn Giáo hội, dường như sự giải thích lầm lẫn về sự quý trọng tương hợp với ơn gọi độc thân, cũng như sự giải thích lầm lẫn về giới luật luân lý nghiêm ngặt của Giáo hội, đều góp phần vào thái độ phổ biến này. Theo truyền thống, những ai nghe theo lời Đức Kitô và quyết giữ độc thân “vì Nước Trời” (Mt 19,12) được xem như đã chọn được con đường thánh thiện hay “cao vời” hơn. Mặc dù có phương cách thích hợp để hiểu điều này (chúng ta sẽ bàn đến ở chương 9), nhưng nó vẫn thường bị hiểu sai lạc để cho rằng những ai cưới vợ lấy chồng và ăn nằm với nhau thì đại loại là ít thánh thiện hơn, hoặc thậm chí là “xấu xa tội lỗi”.

Quan điểm này đi đến chỗ như vầy: nếu khiết tịnh thật tốt lành, thì tính dục phải thật là xấu xa. Nếu giữ mình xa lánh tính dục làm cho người ta nên thanh khiết và thánh thiện, thì sống với tính dục phải làm cho người ta ra nhơ nhớp và xấu xa.

Tuy nhiên không gì có thể vượt xa hơn ý hướng của Giáo hội đề cao ơn gọi độc thân. Giáo hội vẫn luôn tôn trọng ơn gọi này ở mức độ cao như thế chính là bởi vì Giáo hội tôn trọng cao độ điều đã được Thiên Chúa trao ban – biểu hiện tính dục có phái tính. Nếu tính dục là điều gì nhơ nhớp và xấu xa, thì việc dâng nó làm của lễ cho Thiên Chúa sẽ là một hành vi phạm thượng. Nhưng bởi vì tính dục là một trong những bảo vật quý giá nhất mà Thiên Chúa đã tặng ban cho loài người, nên việc đem nó dâng lại cho Thiên Chúa như của lễ là một trong những cách biểu lộ lòng biết ơn (eucharistia) đích thực nhất sánh với bảo vật quý giá ấy. Và thêm nữa là việc đón nhận tính dục từ tay Thiên Chúa và sống nó như là cách bày tỏ giao ước hôn nhân.

Giải thích sai giới luật luân lý nghiêm ngặt của Giáo hội cũng tương tự. Quan điểm này sẽ đi đến chỗ như thế này: nếu Giáo hội nói bạn không được làm điều này hay điều kia – đối với bất cứ điều gì mà người ta tỏ ý muốn làm – thì chắc Giáo hội phải nghĩ rằng tính dục là xấu, ngay cả khi Giáo hội miễn cưỡng chấp nhận ngoại lệ để “làm việc ấy” vì mục đích truyền sinh. Tin như thế (rằng Giáo hội dạy bảo bạn chỉ có thể quan hệ tính dục khi bạn muốn có con) là nguỵ biện. Chúng ta sẽ đề cập đến trong chương năm và sáu.

Giờ đây, chúng ta phải làm sáng rõ câu nói đơn giản: “Hãy hành xử cẩn thận” – hoặc ngay cả “Hãy hành xử cực kỳ cẩn thận” – thật không có chút gì đồng nghĩa với câu nói: “Điều này là xấu”. Thật vậy, những điều nào trong cuộc sống mà chúng ta cần phải thật cẩn trọng? Đó là những điều có giá trị cố hữu nhất. Chính bởi vì tính dục thật giá trị, thật quý giá trước mặt Đức Kitô và Giáo hội của Người, mà tính dục phải được hành xử một cách cực kỳ cẩn trọng.

Khi chúng ta mạo hiểm vào lãnh vực tính dục là chúng ta đang đứng trên vùng đất thánh. Chỉ những ai được chuẩn bị thích đáng mới có thể đảm nhận bí tích này.

Ở đây có một mầu nhiệm thánh khác trong Giáo hội cùng đi song song: Bí tích Thánh Thể. Giáo hội có nhiều huấn giới “nghiêm nhặt” chỉ bảo ai có thể và ai không thể lãnh nhận bí tích Thánh Thể, làm sao để đón nhận, và với tâm tình thiêng liêng như thế nào. Thật là buồn cười nếu kết luận rằng như thế là Giáo hội “khinh thị bí tích Thánh Thể”. Cũng thật buồn cười không kém khi cho rằng Giáo hội khinh thị tính dục bởi vì Giáo hội đã có những huấn giới nghiêm nhặt về nó.[9]

Về phương diện lịch sử có thể nói rằng, Thiên Chúa ban cho Giáo hội những điều mà Giáo hội cần vào những lúc Giáo hội có nhu cầu. Không phải chờ đến mãi cho tới thế kỷ hai mươi, với những chối bỏ phổ biến về tục lệ chung sống tính dục lâu bền, mà Giáo hội mới “cần” đào sâu tìm hiểu về tình yêu vợ chồng, tính dục, và hôn nhân đi xa hơn những tuyên bố vắn gọn trước đây. Vì thế, như đã nói trước đây, hơn hai phần ba những điều Giáo hội Công giáo đã từng chính thức nói về tính dục và hôn nhân đều xuất phát từ thời Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II.

Phải chấp nhận rằng Giáo hội có khuynh hướng di chuyển thật chậm rãi. Nhưng một khi những cân nhắc sâu lắng của vị Giáo hoàng này được tan hoà vào trong tâm thức của Giáo hội, chắc chắn sẽ xua tan tức khắc mọi ý kiến cho rằng Giáo hội khinh thị tính dục.

-----
[8] Để minh chứng điều nhập nhằng này, hãy xem thử bạn biết có bao nhiêu từ lóng cho cái cùi chõ của bạn. Ngược lại, bạn biết có bao nhiêu từ lóng về cái phần thân thể dùng để phân biệt nam nữ? Điều đó làm bạn ngạc nhiên phải không?
[9] Rất có uy tín là Christopher Derrick và cuốn sách của ông Sex and Sacredness (Tính dục và sự thánh thiện) (San Francisco: Ignarius, 1982) mà nhiều tư tưởng sâu sắc được trình bày ở đây.


http://gpnt.net/images/arrow_dyn.gif

admin
14-03-2006, 04:23 PM
11. Giáo hội nên chú tâm vào tôn giáo và đừng xen vào chuyện phòng the của tôi.

Khi Giáo hội nói về tính dục thì chính là Giáo hội đang “chú tâm vào tôn giáo”. Tính dục là chuyện tôn giáo mà! Theo Đức Gioan Phaolô II, khi chúng ta nói về “dấu chỉ cao cả” của bí tích hôn nhân là chúng ta đang nói về toàn bộ công trình sáng tạo và cứu chuộc.[10]

Tính dục đưa chúng ta vào ngay trong mầu nhiệm Kitô giáo. Không có gì phải vòng vo: “Nào anh em chẳng biết rằng thân xác anh em là phần thân thể của Đức Kitô sao? (1 Cr 6,15).

Khi trở nên “một thân xác”, vợ chồng kiến tạo chính họ và gia đình họ thành giáo hội tại gia, một Giáo hội thu nhỏ. Do đó Giáo hội không xâm phạm vào phòng the nhưng chính đôi vợ chồng Kitô hữu đưa Giáo hội vào phòng the cùng với họ.

Tính dục là thánh thiêng. Tính dục là thánh – thánh hơn nhiều so với những dục vọng bị sa ngã của chúng ta mong ước cho tính dục. Nếu chúng ta nghĩ rằng tính dục dù sao đi nữa cũng ‘tốt hơn” khi bỏ Thiên Chúa ra ngoài, thì tính dục đó hoàn toàn tụt hậu!

Niềm vui của tính dục – trong tuyệt đỉnh cao cả của nó – đó là niềm vui của tình yêu như Thiên Chúa yêu. Niềm vui của tính dục – trong tuyệt đỉnh cao cả của nó – đó là hưởng trước niềm vui thiên giới: sự kết hợp đời đời của hôn nhân giữa Đức Kitô và Giáo hội. Đức Kitô ban cho chúng ta kế hoạch của Người về tính dục ngang qua Giáo hội không phải là để “tiêu diệt” mà là để “đem lại niềm vui”.

Người nói: “anh em sẽ ở lại trong tình thương của Thầy (…) Các điều ấy, Thầy đã nói với anh em để anh em được hưởng niềm vui của Thầy, và niềm vui của anh em được nên trọn vẹn…” (Ga 15,10-11). Như thế, nếu bạn muốn tính dục được kính trọng và đầy niềm vui hết sức có thể, hãy mở rộng cửa cho Đức Kitô – kể cả (và đặc biệt là) cánh cửa phòng the của bạn.


http://gpnt.net/images/arrow_dyn.gif

-----
[10] x. Thtx, 13/10/1982.

admin
16-03-2006, 06:54 PM
12. Tôi thấy thật buồn cười là mấy ông già độc thân lại tìm cách áp đặt luân lý tính dục cho người khác. Họ biết gì về tính dục cơ chứ?

Trước tiên, như chúng tôi đã minh giải trên đây, Giáo Hoàng và các giám mục chẳng hề áp đặt thứ gì cho ai cả. Các vị ấy chỉ làm chứng, bằng quyền bính mà Đức Kitô đã trao ban, cho những gì Thiên Chúa đã mặc khải. Chúng ta ta luôn có tự do để đón nhận hay từ chối điều đó.

Thứ đến, sứ điệp các vị ấy loan báo về luân lý tính dục không phải là của chính họ, mà là của Thiên Chúa. Thiên Chúa đã tạo dựng nên tính dục. Người biết rõ tại sao Người dựng nên nó, để làm gì, làm thế nào để nó mang lại niềm vui thật sự khi người ta tôn trọng nó, và đưa đến bất hạnh cho những ai lạm dụng nó. Với trí khôn ngoan của Người (thường rất khác xa khôn ngoan của chúng ta) Thiên Chúa đã uỷ thác chương trình của Người về tính dục cho các “ông già độc thân” này. Xin nhắc lại hình ảnh minh hoạ trước đây, nếu bạn từ chối không chịu lắng nghe điều này thì bạn cũng giống như anh ngáo đem đổ dầu diesel vào xe có dán bảng của nhà sản xuất nhắc nhở: “chỉ dùng xăng không pha chì”.

Điểm thứ ba là nếu ai đó nghĩ rằng những người độc thân không thể biết gì về tính dục, thì người ấy chưa hề đọc bài viết nào của Đức Gioan Phaolô II về tính dục. Vợ tôi sẽ chẳng phản đối khi tôi nói rằng tôi học được nơi “ông già độc thân” này về bản chất, cái đẹp, và ý nghĩa của tính dục nhiều hơn nơi người nào khác trên hành tin này. Sự thông sáng của ngài là trí tuệ của một người đã lặn xuống tận đáy sâu thẳm của linh hồn nam nhân của chính mình để làm cho phái tính của mình có ý nghĩa - và ở đó ngài đã khám phá ra được ánh hào quang của thiên giới. Những trải nghiệm cuộc sống của chính tôi - trước kia là một đứa trẻ bê bối rồi một thanh niên lăng nhăng, và bây giờ đang sống trong bậc hôn nhân - chỉ xác quyết thêm những lời ngài phải nói mà thôi.

Đời sống độc thân bù đắp cho cái viễn cảnh thiếu thốn thất vọng. Nhiều người đã trở nên quá cuồng say bởi đam mê tình dục đến nỗi đã không thấy được cánh rừng dành cho cây lá. Thật vậy, đối với một số người, kiêng bỏ việc tình dục trong suốt cả cuộc đời có thể gây cho họ chối bỏ luôn cả cái phái tính của họ (chắc chắn đây là điều không lành mạnh, cũng không diễn tả được cái ơn gọi đích thực để sống thiên hướng độc thân; xem chương 9). Đối với những người khác, quyết chọn sống độc thân suốt đời thúc đẩy họ càng đi đến chỗ chấp nhận nơi tận chính tâm hồn họ tất cả những gì là tính dục.

Đức Gioan Phaolô II là người đã chọn cách rõ ràng theo cách này. Sự hy sinh tính dục của ngài là có ích lợi cho chúng ta – nếu chúng ta chịu khó lắng nghe ngài.


http://gpnt.net/images/arrow_dyn.gif

admin
24-03-2006, 05:06 PM
13. Tại sao Giáo hội quá bị ám ảnh bởi tính dục như thế?

Những câu hỏi như thế này thường có ý nói về sự quan tâm nhiệt tình của Giáo hội trong việc giữ vững nền luân lý tính dục. Thật vậy, Giáo hội cảm thấy một sự cấp bách cần phải duy trì sự thật về tính dục. Tại sao? Vì tất cả những lý do mà chúng ta đã nêu lên cho thấy rằng vấn đề tính dục thực sự quan trọng.

Tính dục không phải chỉ là điều gì đó thuộc sinh lý nhưng liên quan đến “bản chất sâu kín nhất của con người” [11] Đến một mức độ mà nếu hiểu biết của chúng ta về tính dục bị lệch lạc thì hiểu biết về chính mình cũng bị sai lệch như vậy. Bạn hãy thử nghĩ xem tính dục và mầu nhiệm sự sống quyện chặt với nhau biết chừng nào. Không có tính dục thì cũng chẳng có sự sống.

Đúng ra sự thật sâu xa nhất về tính dục bộc lộ chân lý sâu thẳm nhất về sự sống. Đó là: chúng ta được mời gọi thông qua món quà ân sủng của Thiên Chúa để chia sẻ sự sống của Ngài bằng việc yêu thương như Người đã yêu – và lời mời gọi này được đóng ấn vào chính thân xác chúng ta là nam và nữ, được ghi dấu nơi tính dục của chúng ta. Diễn giải lời của Đức Gioan Phaolô: tái khám phá ý nghĩa hôn nhân của thân xác luôn có nghĩa là tái khám phá ý nghĩa của toàn thể cuộc hiện sinh, ý nghĩa của sự sống.[12] Đó là lý do tại sao tính dục là một vấn đề khẩn thiết như đã trình bày.

Đòi hỏi tính dục đập vào những ham muốn và khát khao mạnh mẽ nhất của trái tim con người. Tuỳ thuộc cách thế hướng đến mà những ham muốn và khao khát này có sức mạnh tốt hay xấu. Tóm lại, vì do Thiên Chúa tạo dựng, đòi hỏi tính dục được trao ban cho chúng ta như là một bản năng yêu thương hướng đến sự sống. Nhưng khi ham muốn này bị cắt đứt khỏi nguồn của tình yều và sự sống (tức là Thiên Chúa), nó có khuynh hướng trở thành một bản năng cám dỗ dẫn đến sự chết.

Do đó, những thái độ và cách cư xử tính dục có sức định hướng không chỉ những cá nhân mà còn tất cả các quốc gia và xã hội tới việc tôn trọng sự sống – hoặc tới chỗ hoàn toàn bất chấp sự sống. Đúng vậy, khi nào thói dâm dục đan dệt vào trong khung vải của xã hội thì xã hội ấy không gì khác hơn là một “nền văn hoá sự chết”.

Có vẻ cường điệu quá chăng? Chỉ riêng nước Mỹ mà thôi đã tàn sát trên bốn ngàn thai nhi mỗi ngày nhằm để thụ hưởng những thú dâm dật ấy. Và đó mới chỉ là bước khởi đầu.

Tính dục bị hỗn loạn là cái "hộp Pandora (http://dovyha.catruong.com/phpbb/viewtopic.php?p=2888&sid=52b8a6e39e5a815dfded237311fd1044#2888)"
phát sinh ra hằng hà sa số tội ác xã hội: từ cảnh khốn khổ của các gia đình “vắng bóng người cha” và sự gia tăng đáng sợ các chứng bệnh di truyền qua đường tính dục (một số là nan y, ví dụ như AIDS), đến việc các thai nhi bị vứt bỏ trong các thùng rác và bạo lực gia tăng giữa các thiếu niên – tất cả những điều này có thể được vạch ra cho thấy sự sa sút của các tập quán về tính dục đã giữ gìn gia đình nguyên vẹn như là tế bào cơ bản của xã hội. Thái độ và cách cư xử tính dục ra sao thì hôn nhân cũng sẽ giống như thế. Hôn nhân như thế nào, thì gia đình cũng như vậy. Gia đình ra làm sao thì xã hội cũng làm vậy. Xin trích lại lần nữa lời của Đức Gioan Phaolô II: sự sống con người, phẩm giá và sự thăng bằng của nó, từng giây phút trong lịch sử và ở từng địa điểm trên địa cầu, tuỳ thuộc vào trật tự hài hoà của tình yêu giữa hai phái tính.[13]

Chúng ta sẽ không bao giờ xây dựng được một nền văn minh tình thương và nền văn hoá sự sống nếu trước hết chúng ta không sống theo sự thật về tính dục. Nếu Giáo hội có “bị ám ảnh” bởi tính dục, là vì Giáo hội “bị ám ảnh” bởi việc phải duy trì phẩm giá và sự cân bằng của sự sống con người và kế hoạch của Thiên Chúa cho nhân loại qua đó mà tính dục của chúng ta được biểu lộ.

-----
[11] Thtx, 13/10/1982, n. 11.
[12] x. Thtx, 29/10/1980.
[13] x. Thtx, 8/10/1980.

Chú thích của người dịch: Pandora (http://dovyha.catruong.com/phpbb/viewtopic.php?p=2888&sid=52b8a6e39e5a815dfded237311fd1044#2888), là tên của một người đàn bà trong huyền thoại Hy Lạp đã mở cái hộp mà thần Zeus dùng để chứa những đau khổ của con người. Từ đó, đau khổ và sự ác đã tràn lan trên mặt đất... Ở đây tác giả ví cái tính dục bị hỗn loạn như là "hộp Pandora (http://dovyha.catruong.com/phpbb/viewtopic.php?p=2888&sid=52b8a6e39e5a815dfded237311fd1044#2888)" có ý nói cái tính dục hỗn loạn ấy là nguyên nhân gây nên tội ác và đau khổ cho con người.



http://gpnt.net/images/arrow_dyn.gif
Về Mục Lục (http://www.gpnt.net/diendan/showthread.php?t=166)

Xem tiếp Chương Ba (http://www.gpnt.net/diendan/showthread.php?t=180)

admin
02-10-2008, 09:21 PM
Câu chuyện Pandora


http://vietsciences.free.fr/vongtaylon/giaoduc/images/pandore.jpgCâu chuyện Pandora, là câu chuyện về cái « hộp của Pandore » (tiếng Pháp là « Boîte de Pandore ») ; gọi là cái « hộp », nhưng có thuyết cho rằng khởi thủy đây là cái vại hay cái chum. Chum, vại hay hộp, thật ra không quan trọng vì đã là chuyện thần thoại Hy-lạp, thì sự thật ở đâu có Trời mới biết ! Thôi cứ gọi là nó là cái hộp cho có vẻ hiện đại. Câu chuyện, tóm tắt, đại khái như thế này :

Zeus, chúa tể của các thần, giận Prométhée đã ăn cắp « lửa » trên Thượng giới để mang xuống Trần gian cho Loài người đang bị chịu rét mướt, tối tăm. Vị đã giận, thì vị tìm cách trả thù. Vị sai chế biến ra một phụ nữ, sai các thần phù phép truyền cho nàng sắc đẹp và mọi tài, từ tài đàn giỏi hát hay, cho đến tài nói dối, thuyết phục, vv. Chủ ý của Zeus là để « bẫy » Prométhée, nhưng chàng này khôn ngoan đề phòng trước, và còn dặn cả em trai là Épiméthée, nên cẩn thận. Nhưng cậu em trai này không cưỡng được trước sự hấp dẫn của nàng Pandore, nên cưới nàng làm vợ. Nàng mang theo xuống trần gian, trong đám của hồi môn, một cái hộp và được thần dặn là chớ mở ra. Làm vợ Épiméthée rồi, một bữa nàng tò mò, mở cái hộp ra xem. Thế là bao nhiêu cái xấu, khổ ải, bệnh tật, đang nhốt trong đó, tuồn tuột theo nhau chui ra. Nàng hãi quá, vội đậy cái nắp lại, nhưng không kịp, chỉ còn nhốt lại trong cái hộp được một « sự »: sự «tiên tri» (1). Thế là Zeus đã trả được thù (2).

Ngày nay, cụm từ « cái hộp của Pandore » đôi khi được dùng theo nghĩa «những nguyên nhân/hậu quả » của một tai họa nào đó, mở nó ra có thể được hiểu là lấy một quyết định lộng hiểm kéo theo tai họa đó.

« Phổ » cái tích « hộp của Pandore » vào thời nay, có lẽ là như thế này : một xã hội đang toàn những người không có tài sản gì cả, bỗng dưng được một chàng Prométhée mang cho ngọn lửa «kinh tế thị trường ». Đấng Tối Cao giận, nên mới sai thần chế biến ra một nàng Pandore tân thời, đây là một nhóm người có đầy kho mỹ từ, có tài tuyên truyền thuyết phục. Lại trao cho nàng một phong bì, quà cưới, dặn nàng chớ mở. Được phong bì mà không mở thì vô lý quá, nàng bèn mở ra xem, bao nhiêu bệnh xã hội , và … khẩu hiệu, từ trong phong bì , chạy tuốt ra ngoài : thí dụ như – chỉ riêng trong lĩnh vực giáo dục đào tạo thôi – « xã hội hóa », « ngoài công lập », « học giả bằng thật », «danh hiệu dỏm », « đạo văn », « bệnh thành tích », « ngồi nhầm lớp», « đứng nhầm lớp », « ngồi nhầm ghế», « dùng số lượng đè chất lượng », « công bằng xã hội mà … để trò nghèo bỏ học» (3), « bó buộc đóng góp phí tự nguyện », « cổ phần hóa trường học», « trường công trường tư cũng như nhau », vv.. Nàng sợ, vội dán phong bì lại, nhưng quá chậm, chỉ nhốt được « sự tiên tri ». Cũng may, nhờ vậy mà Loài người trong xã hội đó bớt khổ, chứ nếu biết trước được những hậu quả của những công trình đang làm, thì càng đau khổ biết bao nhiêu (4).

Tôi là kẻ không có niềm Tin, mà tại sao lại kể chuyện Thiên tào vậy ? Có lẽ tại ai đó đã có câu : « Thượng đế là cần thiết, dù Vị không có thật » (nguyên văn tiếng Pháp là : « Dieu est nécessaire, même s’ Il n’existe pas »).

Chú thích :



(1) Có nguồn khác thì cho rằng « sự » này là « niềm hy vọng ». nhưng vậy thì khó hiểu cho đoạn tiếp theo. Tôi dùng từ « tiên tri » theo nghĩa « biết trước » diễn biến của mọi sự việc ; xin chớ hiểu theo nghĩa nhờ cô đồng hay phủ thủy cầu « [thần] tiên » hay gọi hồn ma cho biết [tri] sự việc sẽ xảy ra. Vì tiếng Việt ngày nay thiên biến vạn hóa nên tôi xin nói cho rõ.

(2) Có người hỏi tôi: chuyện Ta chuyện Tàu thiếu gì mà không kể, lại cứ kể chuyện Tây. Tôi xin thưa rằng : vào thời hội nhập toàn cầu hóa, giao dịch với thiên hạ thì cũng cần biết phong tục tập quán của họ, chứ chỉ biết ngôn ngữ thôi cũng chưa đủ. Thí dụ : hồi tôi mới du học ở Pháp, cách đây đã gần 60 năm, có được dặn rằng, ở châu Âu, con trai với nhau, chớ có cầm tay, khoác tay tung tăng dạo phố. Khoảng hai chục năm sau, khi đã giảng dạy ở đại học, có lần tôi được mấy đồng nghiệp nước ngoài hỏi : sao có mấy thực tập sinh Việt Nam sang Pháp, đồng giới (nam với nam, nữ với nữ) lại nắm tay nhau di dạo ngoài đường như vậy, hay có họ « vấn đề » gì chăng ? Tôi phải giải thích: không phải là họ « đồng tính luyến ái » đâu, mà chỉ vì họ quen với nền văn hóa cổ ảnh hưởng từ Trung quốc (nam nữ thụ thụ bất thân), trai gái mà nắm tay nhau thì bị kết tội hủ hóa. Ngày nay, tất nhiên là tình hình đã khác về « chuyện đó », nhưng còn thiếu gì điều cần biết về phong tục tập quán nơi khác nước mình.

(3) Có thể đọc thêm :
Theo http://vietnamnet.vn/chinhtri/2008/09/801948/, ngày 04/09/2008, bài :
« Trẻ nghèo bỏ học vì tiền không đến đúng đối tượng », phỏng vấn Chủ nhiệm Uỷ Ban Các vấn đề xã hội của Quốc hội Trương Thị Mai, có đến 147 nghìn học sinh bỏ học ở cả 3 cấp, vv.

(4) Có thể đọc thêm:
Theo http://vietnamnet.vn/giaoduc/2008/08/801447/ , ngày 31/08/2008, bài :
« Đề án ghi 20 tiến sĩ, thực tế chỉ có...1 ». Nếu coi « tỉ số » đó là sự bình thường, thì đề án đào tạo 2 vạn tiến sĩ trong non mười năm, đâu có phải chuyện hoang tưởng : 2 vạn chia cho 20 thì là 1000 ! Vậy thì hiện nay ta cứ lạc quan vui sống, hạ hồi sẽ phân giải. Có lẽ đó là ý nghĩa của« sự tiên tri bị nhốt trong phong bì ». Nếu nó chui ra sớm như những cái khác, thì ai dám chi tiền cho đề án ?

Bùi Trọng Liễu

Vietsciences

admin
17-07-2009, 09:48 PM
Câu chuyện về Chiếc hộp Pandora.

Ngày xửa ngày xưa xưa ơi là xưa, khi đó Trái Đất vẫn còn chìm trong cảnh hỗn mang. Zeus là vị thần tối cao ngự trị trên đỉnh Olympia cùng các vị thần khác. Promete thì được giao cai quản thế gian. Ở một mình trên Trái Đất mãi thì cũng chán. Thế là Promete ngồi nghịch đất rồi nặn ra muôn loài. Chàng lấy đất sét trộn với nước rồi nặn thành một hình người đứng thẳng vì chàng muốn loài người nhìn lên các vì sao chứ không nhìn xuống đất như loài vật vậy. Rồi chàng nghĩ "Ta sẽ cho sinh vật này đủ các tài năng để vượt qua muôn loài". Nhưng không may, thằng đệ của chàng là Epimente đã đem hết các tài năng đó cho loài vật: sức mạnh, lòng can đảm, sự khôn ngoan, lanh lẹ, lại cho tất cả cánh, vuốt, sừng, vảy... chẳng còn lại gì. Promete buồn chán nhìn quanh, trên đất chỉ còn lại một cục đất sét dài dài nhỏ nhỏ. Cực chẳng đã chàng bèn cầm cục đất rồi gắn vào con người mới được tạo ra. Nhưng nếu gắn đằng sau thì lại giống đuôi loài vật, thế là chàng bèn gắn mẩu dài dài nhỏ nhỏ đó ra đằng trước. Vậy là đàn ông ra đời


Kể từ khi ra đời, đàn ông ngày ngày săn bắn hái lượm để sinh sống qua ngày. Một ngày nọ, Promete ghé thăm, thấy đàn ông đang ăn thịt một con lợn rừng, mà lại ăn sống. Chàng tiến lại gần và nói "Ặc ặc, trước giờ chú toàn ăn sống thế này à. Ghê chết. Mẹ anh bảo ăn sống thế này có ngày chết vì đau bụng. Để anh cho chú cái này đảm bảo chú rất thích". Miệng nói chân làm. Promete chạy vù về Olympia, đến cỗ xe mặt trời thó một ít lửa rồi mang xuống Trái Đất tặng cho đàn ông. Có lửa rồi, đàn ông dùng nó để nướng thịt, mùi thịt lợn rừng nướng thơm phức. Promete nói :"Có mồi rồi phải có tửu nữa ". Thế là Promete từ từ rút ra một chai Vodka . Hai người vừa ăn thịt thú rừng nướng vừa uống rượu (sướng vãi). Rồi kể từ đấy, ngày này sang ngày khác, Promete rủ thêm cả Epimente rồi cùng đàn ông nhậu nhẹt bét nhè.

Cho đến một hôm, mùi thịt nướng thơm phức bay lên tận đỉnh Olympia và đến mũi của Zeus. Zeus mới vén mây ra và nhìn thấy những gì đang diễn ra bên dưới mặt đất. "Vãi hàng", Zeus nghĩ, "thịt thú rừng nướng lại có rượu Vodka thế kia thì nhất quả đất còn gì". Nghĩ thế Zeus bèn gọi với xuống "Ê ba chú kia, để dành cho anh một ít, anh xuống góp vui bây giờ". "Nhanh lên nhanh lên không là hết đấy" Promete, Epimente và đàn ông đồng thanh đáp. Nhưng mà đúng lúc Zeus định phi xuống thì bà Heras vợ Zeus xuất hiện, đứng chắn ngay cửa, tay chống nạnh mắt hình viên đạn làm Zeus không dám đi nữa. Ba chú kia ở dưới nhìn lên thấy thế cười hô hố rồi nói :"Ông anh sợ vợ thế thì thôi nhé, bọn tôi oánh chén hết đây". Zeus ức lắm nhưng cóc làm gì được vì Heras vẫn còn đứng đó.

Một lát sau cơm no rượu sau rồi, ba ông tướng quay ra hát hò. "Em nghe mấy bác trên Olympia nói hát hò phải có tay vịn mới vui ", Epimente nói. Thế là Promete bèn chạy lên Olympia xin Zeus làm ra một cái tay vịn. Zeus lúc này vẫn còn căm lắm, nghĩ bụng "TSB chúng mày, đã không để cho ông mày tí nào, giờ lại còn đòi tay vịn. Đã thế ông sẽ cho chúng mày biết thế nào là tay vịn ". Thế là Zeus gọi thần thợ rèn Hephaitos, con cả của Zeus, đến rồi bảo ông này tạo ra Pandora, người đàn bà đầu tiên. Pandora được các vị thần trao cho bao điều tốt đẹp, vẻ đẹp của Aprodite, tài làm vườn của Demeiter, khả năng thi ca thơ phú của Appolo, tài bơi lội của Poseidon, sự khôn ngoan của Athena, sự quyến rũ của Hermes và đặc biệt là tính tò mò của Heras. Thế rồi Zeus đích thân mang Pandora xuống Trái Đất tặng. Zeus cũng không quên trừng phạt Promete, kẻ đã đánh cắp lửa xuống cho con người. Zeus bắt trói chàng vào một đỉnh núi rồi ngày ngày cho chim đến mổ vào mông. Trước khi đi, Promete vẫn kịp dặn lại Epimente "Chú đừng tin lão này, cũng đừng động tới món quà của lão. Lão vẫn còn căm anh lắm. Nhớ đấy. Thi thoảng ghé thăm mang cho anh ít tửu và đồ nhắm. See you again ".

Promete dặn là thế nhưng ngay từ lần đầu gặp Pandora, Epimente đã đem lòng yêu nàng. Hai người về sống chung với nhau. Trong nhà của Epimente lúc bấy giờ có một chiếc hộp. Trong đó đựng những thứ mà chàng đã không tặng cho muôn loài. Epimente dặn Pandora "Trong đó là quà anh định dành tặng cho muôn loài nhưng chưa phải lúc, em đừng mở ra nhé". Lúc đầu Pandora còn chịu được, nhưng do tính tò mò thừa hưởng từ Heras, nàng càng lúc càng tỏ ra mất kiên nhẫn. Trong đầu nàng luôn nghĩ đến "liệu có cái gì quý ở trong cái hòm kia mà Ox nhà mình giữ ghê thế". Cho đến một ngày kia, Epimente ra ngoài bù khú, chỉ còn mình Pandora ở nhà. Nàng hết chịu nổi sự tò mò và tiến lại gần cái hòm. Nàng nhủ thầm "Ta cứ thử mở xem sao. Chỉ he hé chắc chẳng hại gì". Thế nhưng khi nàng chỉ vừa mới hé ra, một đàn bệnh dịch H5N1, HIV, AIDS ..., cùng lòng đố kỵ, hận thù, báo óan bay ra lan tràn khắp nơi. Ơn Đảng ơn Chính phủ, mặc dù rất sợ hãi nhưng Pandora vẫn kịp đóng nắp hòm lại. Bên trong hòm chỉ còn lại một thứ, đó chính là Hy vọng. Kể từ đó con người vẫn luôn còn Hy vọng cho dù họ gặp phải những điều bất hạnh nhất xảy đến.

http://forum.zing.vn/archive/index.php/t-259360.html