Đamien
14-12-2006, 03:10 PM
KHÁI NIỆM VỀ THƯỢNG ĐẾ TRONG CÁC TÔN GIÁO TẠI VIỆT NAM
Thân chào các bạn sinh viên!
Nói về vấn đề Thượng Đế trong các tôn giáo là một vấn đề rất tế nhị và phức tạp, không chỉ vì bối cảnh xã hội chính trị hiện thời, nhưng còn vì bản chất của vấn đề tự nó không phải là đơn giản. Càng không đơn giản chút nào vì nhiều khi nó cũng biến hoá theo dòng chảy của thời gian và hoàn cảnh xã hội chính trị cũng nhiều khi thêm bớt vào căn nhà nguyên thủy cho phù hợp với thời đại.
Vì những lý do ấy, tôi xin giới hạn buổi nói chuyện này vào trong một khung cảnh nhỏ hẹp hơn các tôn giáo ở Việt Nam và dưới góc độ thần học về các tôn giáo mà tôi đang đảm trách trong các môi trường đào tạo giáo dục.
Để các bạn có một cái nhìn tổng quát và tiện bề theo dõi, xin các bạn hãy lần lượt xem qua bối cảnh văn hoá ở trong đó ý niệm Thượng Đế hay ông Trời được diễn tả một cách bộc phát, rồi chúng ta sẽ cùng nhau tìm hiểu ý niệm ấy từ đâu mà đến và đi tới một thái độ mà Giáo Hội Công Giáo bày tỏ đối với các tôn giáo chung trên thế giới.
1. Khái niệm Thượng Đế trong các nền văn hoá và đời sống của người Việt Nam.
Nói đến các tôn giáo mà không đề cập đến nền văn hoá mà từ đó tôn giáo đó phát xuất ra là một thiếu sót quan trọng. Điều ấy đồng nghĩa với việc cho rằng tôn giáo là một yếu tố căn bản trong văn hoá. Nếu văn hoá là phong cách sống đẹp của một nhóm người thuộc một không gian và thời gian nhất định, thì tôn giáo là yếu tố góp phần thể hiện phong cách ấy.
Người Việt Nam thuộc mọi tầng lớp trí thức hay bình dân không kể thuộc tôn giáo nào đều gần gủi với Trời như với Đấng Tối Cao và linh thiêng. Có thể nói: Ý niệm Tôn giáo truyền thống sâu rộng nhất của dân tộc chúng ta là Thờ Trời. Trời là Thượng Đế. Người nước ngoài khi đến Việt Nam đều có chung nhận xét ấy.
Linh mục Léopold Cadiere, một học giả chuyên nghiên cứu về các tín ngưỡng và lễ bái của người Việt Nam đã nhận định: “ Hình như những ý nghĩa chính chúng ta thấy gán cho chữ Trời thuộc về cái vốn triết học riêng của dân tộc Việt Nam, vì ý niệm Trời đã ăn sâu vào trong tâm hồn của nhân dân Việt Nam. Trời được coi như là nguyên lý của các hiện tượng thời tiết và được nhân cách hoá. Trời được coi như là đấng Toàn Năng có ảnh hưởng vào vận mệnh loài người… Người ta có thể thừa nhận như tôi tưởng, là cái ý nghĩa một đấng toàn năng đã được trau dồi phát triển với ảnh hưởng các tư tưởng Trung Hoa, nhưng ngay từ khởi thuỷ, trong ý thức người Việt đã sẵn có mầm móng của ý niệm ấy rồi. Bằng chứng như tôi đã nói, là cái ý niệm ấy đã thấm sâu và tâm hồn người Việt Nam, và đã biểu hiện qua phổ thông trong ngôn ngữ bình dân để cho người ta có thể nhìn thấy ở đây chỉ là cống hiến ngoại lai. Những ý tưởng Phật Giáo, những ý tưởng Nho Giáo, theo quan điểm lịch sử chắc chắn du nhập từ Trung Hoa, đã không thấm nhuần vào đời sống tâm hồn, vào ngôn ngữ bình dân đến mức độ ấy được”. (Croyances et pratiques Religicuses des Vietnamiens, t.3)
1.1 Ý niệm Trời trong ngôn ngữ bình dân:
Có một cái gì đó chung cho các miền của đất nước – đó là ý niệm Trời. Khi ngạc nhiên do vui mừng hay sợ hãi người ta kêu : “Trời ơi!” Khi đau buồn chán nản thất vọng thì thêm : “Trời ơi là Trời!”. Khi được chữa lành hay trúng tuyển thi cử thì : “Nhờ Trời, con tôi đã được…”.
Ngay trong đồng dao của nông dân, người ta cũng nghe được trẻ em ngây thơ cầu Trời cho đồng ruộng :
“Lạy Trời mưa xuống,
Lấy nước tôi uống
Lấy ruộng tôi cày,
Lấy đầy bát cơm,
Lấy rơm đun bếp…”
Gặp chuyện đau thương người ta cũng giải bày với ông Trời:
“Trời ơi, có thấu chăng Trời, công ta vun xới cho người hái hoa”.
Trong cách viết chữ Trời bằng tiếng Hán Nôm, người xưa đã ngụ ý tôn vinh Trời :
- Bằng chữ Hán - Việt : Trời là Thiên, chữ Thiên là chữ Nhất trên chữ Đại có ý nói Ngài vĩ đại nhất.
- Bằng chữ Nôm : Trời ghép bởi chữ Thiên ở trên chữ Thượng có ý nói : Ngài còn cao cả hơn Trời đất muôn vật, từ đó người ta tâm niệm rằng :
“Đi đâu cho khỏi lưới Trời, Ở đâu cho hạp mệnh Trời thì êm”.
Từ thuở thơ ấu, con người được dạy cho biết vũ trụ do Trời tạo dựng trực tiếp cũng như các thần, rồi các thần này mới tạo dựng nên muôn loài, muôn vật :
“Ông đếm cát,
Ông tác bể
Ông kể sao,
Ông đào sông,
Ông trồng cây,
Ông xây núi,
Ông tới Trời,
Ông cời cua…”
Chân lý này người để tâm suy nghĩ phải nghiệm thấy:
“Non kia ai đắp mà cao,
Sông kia ai bới, ai đào mà sâu”.
Ngài hiện hữu – không cần chứng minh. Nhưng đừng hỏi Ngài như thế nào, Ngài sáng tạo làm sao. Người xưa chưa có quan niệm : ‘Tự hữu, hằng hữu” nhưng vẫn cảm thấy vô lý khi hỏi về nguồn gốc Ông Trời. Hỏi như thế là không lượng sức con người, là vô lễ xúc phạm :
“Thấy anh hay chữ
Em hỏi thử đôi lời
Thuở tạo thiên lập địa
Ông Trời tròn ai xây.”
Ngay cả công trình thụ tạo của Trời, con người dễ gì biết được:
“Đố ai biết lúa mấy cây,
Biết sông mấy khúc,
Biết mây mấy từng?
Huống chi là nói đến lẽ biến hoá muôn vật
Nước non là nước non Trời
Ai cắt được nước, ai dời được non.”
- Trời cao cả lại đáng tin và quan tâm đến mọi sự :
“Trời sinh Trời dưỡng
Trăm sự nhờ Trời,
Trời sinh voi Trời sinh cỏ
Không có vấn đề hạn chế sinh sản vì có Trời lo.”
- Trời cao cả cho mỗi người một số phận
“Trời cho ai nấy hưởng
Trời kêu ai nấy dạ.”
- Trời có những quy luật cho đời sống con người :
“Ở hiền gặp lành
Trời đánh tránh bữa ăn.”
Trời không độ trì kẻ tham lam gian ác – (Chuyện cổ: Ăn khế trả vàng, khỉ đỏ đít…).
- Đừng trách Trời nhưng hãy tự kiểm, tự phê :
“Bắc thang lên hỏi Ông Trời
Sao không thí bỏ cho tôi chút chồng
Ông Trời ngoảnh mặt lại trông
Mày hay kén chọn Ông không cho mày”.
- Biết thế nhưng khi đệnh mệnh do Trời xếp đặt trở nên quá khắc khe cay nghiệt, con người khó lòng giữ được sự bình thản để khỏi bộc lộ những tâm tình buồn chán thất vọng và còn phẩn nộ nữa. Vì thế, mà có những lời trách móc phạm thượng đối với Trời.
- Vì ban phát của cải không đồng đều :
“Trời sao Trời ở chẳng cân
Người ăn không hết, người lần không ra”.
- Vì giặc giả làm cho vợ chồng phải xa lìa nhau :
“ Trời ơi, sinh giặc làm chi
Cho chồng tôi phải ra đi chiến trường”.
- Vì để các cô gái lỡ duyên lỡ phận :
“Gào rằng: Đất hỡi! Trời ơi!
Sao không thí bỏ cho tôi chút chồng?”
- Các chàng trai “Quá đát” cũng than :
“Trời sao Trời ở chẳng công
Người ba bốn vợ, người không vợ nào”.
- Nhưng rồi người ta cũng thấy trách Trời là không đúng, phải tự trách mình và cố gắng ăn ở sao cho hợp đạo Trời.
“Đã mang lấy nghiệp vào thân,
Cũng đừng trách lẫn Trời gần Trời xa.
Thiện căn ở tại lòng ta,
Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài!
Trách than chẳng dám giận Trời
Trách thân lắm lắm, giận Trời bao nhiêu.”
Thân chào các bạn sinh viên!
Nói về vấn đề Thượng Đế trong các tôn giáo là một vấn đề rất tế nhị và phức tạp, không chỉ vì bối cảnh xã hội chính trị hiện thời, nhưng còn vì bản chất của vấn đề tự nó không phải là đơn giản. Càng không đơn giản chút nào vì nhiều khi nó cũng biến hoá theo dòng chảy của thời gian và hoàn cảnh xã hội chính trị cũng nhiều khi thêm bớt vào căn nhà nguyên thủy cho phù hợp với thời đại.
Vì những lý do ấy, tôi xin giới hạn buổi nói chuyện này vào trong một khung cảnh nhỏ hẹp hơn các tôn giáo ở Việt Nam và dưới góc độ thần học về các tôn giáo mà tôi đang đảm trách trong các môi trường đào tạo giáo dục.
Để các bạn có một cái nhìn tổng quát và tiện bề theo dõi, xin các bạn hãy lần lượt xem qua bối cảnh văn hoá ở trong đó ý niệm Thượng Đế hay ông Trời được diễn tả một cách bộc phát, rồi chúng ta sẽ cùng nhau tìm hiểu ý niệm ấy từ đâu mà đến và đi tới một thái độ mà Giáo Hội Công Giáo bày tỏ đối với các tôn giáo chung trên thế giới.
1. Khái niệm Thượng Đế trong các nền văn hoá và đời sống của người Việt Nam.
Nói đến các tôn giáo mà không đề cập đến nền văn hoá mà từ đó tôn giáo đó phát xuất ra là một thiếu sót quan trọng. Điều ấy đồng nghĩa với việc cho rằng tôn giáo là một yếu tố căn bản trong văn hoá. Nếu văn hoá là phong cách sống đẹp của một nhóm người thuộc một không gian và thời gian nhất định, thì tôn giáo là yếu tố góp phần thể hiện phong cách ấy.
Người Việt Nam thuộc mọi tầng lớp trí thức hay bình dân không kể thuộc tôn giáo nào đều gần gủi với Trời như với Đấng Tối Cao và linh thiêng. Có thể nói: Ý niệm Tôn giáo truyền thống sâu rộng nhất của dân tộc chúng ta là Thờ Trời. Trời là Thượng Đế. Người nước ngoài khi đến Việt Nam đều có chung nhận xét ấy.
Linh mục Léopold Cadiere, một học giả chuyên nghiên cứu về các tín ngưỡng và lễ bái của người Việt Nam đã nhận định: “ Hình như những ý nghĩa chính chúng ta thấy gán cho chữ Trời thuộc về cái vốn triết học riêng của dân tộc Việt Nam, vì ý niệm Trời đã ăn sâu vào trong tâm hồn của nhân dân Việt Nam. Trời được coi như là nguyên lý của các hiện tượng thời tiết và được nhân cách hoá. Trời được coi như là đấng Toàn Năng có ảnh hưởng vào vận mệnh loài người… Người ta có thể thừa nhận như tôi tưởng, là cái ý nghĩa một đấng toàn năng đã được trau dồi phát triển với ảnh hưởng các tư tưởng Trung Hoa, nhưng ngay từ khởi thuỷ, trong ý thức người Việt đã sẵn có mầm móng của ý niệm ấy rồi. Bằng chứng như tôi đã nói, là cái ý niệm ấy đã thấm sâu và tâm hồn người Việt Nam, và đã biểu hiện qua phổ thông trong ngôn ngữ bình dân để cho người ta có thể nhìn thấy ở đây chỉ là cống hiến ngoại lai. Những ý tưởng Phật Giáo, những ý tưởng Nho Giáo, theo quan điểm lịch sử chắc chắn du nhập từ Trung Hoa, đã không thấm nhuần vào đời sống tâm hồn, vào ngôn ngữ bình dân đến mức độ ấy được”. (Croyances et pratiques Religicuses des Vietnamiens, t.3)
1.1 Ý niệm Trời trong ngôn ngữ bình dân:
Có một cái gì đó chung cho các miền của đất nước – đó là ý niệm Trời. Khi ngạc nhiên do vui mừng hay sợ hãi người ta kêu : “Trời ơi!” Khi đau buồn chán nản thất vọng thì thêm : “Trời ơi là Trời!”. Khi được chữa lành hay trúng tuyển thi cử thì : “Nhờ Trời, con tôi đã được…”.
Ngay trong đồng dao của nông dân, người ta cũng nghe được trẻ em ngây thơ cầu Trời cho đồng ruộng :
“Lạy Trời mưa xuống,
Lấy nước tôi uống
Lấy ruộng tôi cày,
Lấy đầy bát cơm,
Lấy rơm đun bếp…”
Gặp chuyện đau thương người ta cũng giải bày với ông Trời:
“Trời ơi, có thấu chăng Trời, công ta vun xới cho người hái hoa”.
Trong cách viết chữ Trời bằng tiếng Hán Nôm, người xưa đã ngụ ý tôn vinh Trời :
- Bằng chữ Hán - Việt : Trời là Thiên, chữ Thiên là chữ Nhất trên chữ Đại có ý nói Ngài vĩ đại nhất.
- Bằng chữ Nôm : Trời ghép bởi chữ Thiên ở trên chữ Thượng có ý nói : Ngài còn cao cả hơn Trời đất muôn vật, từ đó người ta tâm niệm rằng :
“Đi đâu cho khỏi lưới Trời, Ở đâu cho hạp mệnh Trời thì êm”.
Từ thuở thơ ấu, con người được dạy cho biết vũ trụ do Trời tạo dựng trực tiếp cũng như các thần, rồi các thần này mới tạo dựng nên muôn loài, muôn vật :
“Ông đếm cát,
Ông tác bể
Ông kể sao,
Ông đào sông,
Ông trồng cây,
Ông xây núi,
Ông tới Trời,
Ông cời cua…”
Chân lý này người để tâm suy nghĩ phải nghiệm thấy:
“Non kia ai đắp mà cao,
Sông kia ai bới, ai đào mà sâu”.
Ngài hiện hữu – không cần chứng minh. Nhưng đừng hỏi Ngài như thế nào, Ngài sáng tạo làm sao. Người xưa chưa có quan niệm : ‘Tự hữu, hằng hữu” nhưng vẫn cảm thấy vô lý khi hỏi về nguồn gốc Ông Trời. Hỏi như thế là không lượng sức con người, là vô lễ xúc phạm :
“Thấy anh hay chữ
Em hỏi thử đôi lời
Thuở tạo thiên lập địa
Ông Trời tròn ai xây.”
Ngay cả công trình thụ tạo của Trời, con người dễ gì biết được:
“Đố ai biết lúa mấy cây,
Biết sông mấy khúc,
Biết mây mấy từng?
Huống chi là nói đến lẽ biến hoá muôn vật
Nước non là nước non Trời
Ai cắt được nước, ai dời được non.”
- Trời cao cả lại đáng tin và quan tâm đến mọi sự :
“Trời sinh Trời dưỡng
Trăm sự nhờ Trời,
Trời sinh voi Trời sinh cỏ
Không có vấn đề hạn chế sinh sản vì có Trời lo.”
- Trời cao cả cho mỗi người một số phận
“Trời cho ai nấy hưởng
Trời kêu ai nấy dạ.”
- Trời có những quy luật cho đời sống con người :
“Ở hiền gặp lành
Trời đánh tránh bữa ăn.”
Trời không độ trì kẻ tham lam gian ác – (Chuyện cổ: Ăn khế trả vàng, khỉ đỏ đít…).
- Đừng trách Trời nhưng hãy tự kiểm, tự phê :
“Bắc thang lên hỏi Ông Trời
Sao không thí bỏ cho tôi chút chồng
Ông Trời ngoảnh mặt lại trông
Mày hay kén chọn Ông không cho mày”.
- Biết thế nhưng khi đệnh mệnh do Trời xếp đặt trở nên quá khắc khe cay nghiệt, con người khó lòng giữ được sự bình thản để khỏi bộc lộ những tâm tình buồn chán thất vọng và còn phẩn nộ nữa. Vì thế, mà có những lời trách móc phạm thượng đối với Trời.
- Vì ban phát của cải không đồng đều :
“Trời sao Trời ở chẳng cân
Người ăn không hết, người lần không ra”.
- Vì giặc giả làm cho vợ chồng phải xa lìa nhau :
“ Trời ơi, sinh giặc làm chi
Cho chồng tôi phải ra đi chiến trường”.
- Vì để các cô gái lỡ duyên lỡ phận :
“Gào rằng: Đất hỡi! Trời ơi!
Sao không thí bỏ cho tôi chút chồng?”
- Các chàng trai “Quá đát” cũng than :
“Trời sao Trời ở chẳng công
Người ba bốn vợ, người không vợ nào”.
- Nhưng rồi người ta cũng thấy trách Trời là không đúng, phải tự trách mình và cố gắng ăn ở sao cho hợp đạo Trời.
“Đã mang lấy nghiệp vào thân,
Cũng đừng trách lẫn Trời gần Trời xa.
Thiện căn ở tại lòng ta,
Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài!
Trách than chẳng dám giận Trời
Trách thân lắm lắm, giận Trời bao nhiêu.”