PDA

View Full Version : Gioan Tẩy Giả


admin
02-02-2006, 06:38 PM
Gioan Tẩy Giả

Trong hầm tối ngục đá nằm sâu dưới “pháo đài Machaerus" (Theo Josephus trong Antiq., XVIII, v, 2), nỗi niềm của Gioan Tẩy Giả chắc phải cay đắng lắm. Ông đã tiên thị được Nước Trời đang gần đến, và từng ngày ông đã rao giảng chuẩn bị lòng người. Vậy mà giờ đây, ông đang nằm trong ngục tối, chờ ngày thọ án tử.

Và một câu trong bài Phúc âm khiến chúng ta khó hiểu: Gioan sai các môn đệ tới hỏi Chúa Giêsu: ”Thầy có phải là Đấng Messiah? hay chúng tôi còn phải đợi đấng nào khác?” (Lc 7,20-23; Mat 11, 3-6).

Chẳng lẽ Gioan, đã tỏ ra nghi hoặc? Hậu quả của những ngày tháng tù tội, của những gian truân cùng khốn trong đời? “Người anh em họ Giêsu kia có thực sự phải là Đấng Messiah hay không?”

Không. Gioan không hề bối rối hay nghi ngại. Chính Chúa Giêsu đã lên tiếng ca tụng người anh họ của mình: “Ông ta chính là Eliah, người phải đến.”(Mt 11,14-15)

Vài tháng trước, bên bờ sông Giodan, lẫn lộn trong đám người chen chúc tới xin ông làm phép rửa, có Chúa Giêsu. Nhưng Goan Tẩy Giả đã nhận ra Ngài:” Tôi phải xin Ngài rửa cho mới phải, sao Ngài lại đến với tôi?” (Mt 3:14) Câu này rõ ràng cho chúng ta thấy Gioan đã biết thân phận Chúa Giêsu.

Vậy mà Phúc âm thứ Tư ghi rõ lời Gioan Tẩy Giả nói: ”Tôi không biết Ngài.” (Ga 1,33)

Thế có nghĩa là sao? Gioan có nhận ra thân phận đích thực Chúa Giêsu hay không? Nói cách khác, có một chút xíu đức tin nào trong lòng Gioan hay không?
Nhiều nhà chú giải cho rằng Gioan có chút ít nào đó tiên cảm rằng người anh em họ Giêsu của mình chính là Đấng Messiah ! Vì ngay từ lúc đầu Gioan đã từ chối thi hành nghi thức Rửa cho Giêsu:”Tôi phải xin Ngài rửa cho mới phải.” Nhưng liền sau đó, cuộc thần hiển ngay bên bờ sông đã khiến cho Gioan không còn nghi ngờ gì nữa. Ông biết rõ thân phận Chúa Giêsu. Chúa Giêsu trả lời ông: ”Hãy cứ như thế đi. Để cho công lý được thi hành trọn vẹn giữa chúng ta. Gioan đã rửa Ngài. Và Chuá Giêsu đã chịu phép Rửa. Vừa bước lên khỏi nước, thì này trời mở ra trên Ngài. Có tiếng từ trời vọng xuống:’ Đây là người Con Ta yêu dấu, Ta hoàn toàn hài lòng vì con.”(Mt 3,15-17)

Tuy chân đang bị cùm, Gioan vẫn được các đồ đệ tới cho biết về những hoạt động của Chúa Giêsu, về những tiếng tăm mà rabbi Giêsu đang gây nên nơi lòng dân. Các đồ đệ của Gioan bắt đầu xao xuyến: “Ai mới đúng là đấng Messiah? Thầy Gioan của chúng ta, hay là rabbi Giêsu ngươì làng Nagiareth ngoài kia?” Nhiều môn đệ của Gioan vẫn còn cố chấp không chịu chấp nhận thực tại, và chưa nhìn ra những dấu chỉ của thời Thiên sai đang được rabbi Giêsu thực hiện. Họ vẫn theo thầy Gioan của họ. Họ vẫn chỉ thấy thầy Gioan của mình là Đấng Phải Đến.

Gioan phải gửi các môn đệ ấy đến ấy tới với rabbi Giêsu, để chính họ tìm hiểu sự thật và nghe câu trả lời từ chính miệng thầy Giêsu. Họ đã đặt ngay câu hỏi đã khiến họ bối rối bấy nay: “Gioan sai chúng tôi tới hỏi Thầy: Thầy có phải là Đấng Messiah, Đấng Phải Đến? hay chúng tôi còn phải đợi ai khác?”.

Chúa Giêsu trả lời bằng cách trích dẫn đoạn tiên tri Isaia 61.: Người mù thấy được, kẻ què đi được, ai phung hủi được lành, người chết sống lại, và ngừơì nghèo được rao giảng Tin Mừng. Đó là những dấu chỉ của Đấng Messaiah. (Mt 11,2-11)


Chúng ta giống những đồ đệ của Gioan Tẩy giả trong ngục tối.
Tin, quả thực là điều hoàn toàn không dễ dàng.
Nhiều khi chúng ta hay ao ước: “Giá mà tôi được sống đồng thời Chúa Giêsu, được chứng kiến Ngài làm phép lạ, thì hẳn đức tin của tôi sẽ mạnh mẽ hơn nhiều.”
Ao ước như thế, và lý luận như thế, là quá coi nhẹ lực cản của thực tế.
Nếu sống đồng thời với Ngài, thì con mắt và lý trí chúng ta chỉ thấy “anh chàng Giêsu” kia chỉ là một nguời thợ mộc, con ông thợ mộc, bố là Giuse, mẹ là Maria. Anh em ông ta đang sống như mọi người giữa chúng ta. Thế thôi. Và chỉ thế thôi. Không có lý gì để cho rằng chúng ta mẫn tuệ hơn những người đương thời với Ngài.
Giá mà có học cao, đọc nhiều và kỹ Kinh Thánh, chúng ta rồi cũng sẽ kết luận như nhiều thầy rabbi, như nhiều nhà thông luật đương thời khác, nhất là như Nathanael:”Từ Nagiareth có gì tốt đâu!- et dixit ei Nathanahel a Nazareth potest aliquid boni esse “ (Ga 1,46) Nghĩa là “không thể có tiên tri nào xuất phát từ làng Nagiareth.”

http://gpnt.net/images/arrow_dyn.gif

admin
02-02-2006, 06:44 PM
...

Câu trả lời giải toả sự phân vân của các môn đệ Gioan. Riêng ông, tuy đã gặp thấy Đấng Messaiah, ông vẫn không thể đi vào thời đại Thiên sai.

Phần số Gioan Tẩy giả lập lại định mệnh của Môsê ngày xưa. Nhà lãnh tụ Israel, dù dẫn dắt dân và tranh đấu kịch liệt từng ngày với sự cứng lòng cứng cổ của họ suốt 40 năm lang thang sa mạc, ông chỉ có thể đứng trên đỉnh Nêbô mà nhìn vào vùng Đất Hứa đang trải dài quyến rũ trước mặt, mà không hề vượt qua ngưỡng sông Giodan đang lượn lờ chắn bước.

Đó cũng là ý nghĩa của câu Chúa Giêsu nói:” Trong lịch sử chưa từng có ai do người nữ sinh ra mà cao trọng hơn Gioan Tẩy Giả. Vậy mà người rốt hết trong nước Trời còn cao trọng hơn ông.” (Mt 11,11)

Gioan Tẩy Giả chỉ mới có thể thấp thoáng thấy tia hồng mới ửng trước bình minh. Mặt trời chỉ rực rỡ mọc sáng ngày Phuc sinh. Biến cố Giáng Sinh, những dấu lạ hay những lời giảng thuyết chỉ mới là những chuẩn bị cho Nước Trời. Bởi vì sự công chính, niềm vui, ơn hoà bình viên mãn chỉ có thể có được sau cái Chết, cuộc Phục sinh và biến cố ban Thánh Thần.

Ai là kẻ nhỏ nhất trong nước Trời, và đồng thời lại cao trọng hơn Gioan? Thưa bất cứ ai tái sinh qua nước Thánh tẩy và trong Thánh Thần, nghĩa là được sinh vào Nước Thiên Chúa (Gioan 3,5). Sự cao trọng như thế hoàn toàn do ân sủng mà có được, ân sủng làm con Thiên Chúa và làm Đền Thờ Chúa Thánh Linh.

Đó chính là cái khác biệt giữa Tân và Cựu Ước, giữa công sức và ân sủng, giữa luật thành văn và luật của Thánh Linh, giữa giải phóng khỏi Pharaô và giải thoát khỏi Satan, giữa luật talion “mắt đền mắt, răng đền răng” và luật vàng của Tám Điều Phúc thật.

Đó cũng là cái khác biệt giữa lần đến thứ nhất: Giáng sinh và lần đến thứ hai: cuộc Tái Lâm, giữa cái chết và sự bất tử, giữa Đêm tối của Đức tin và sự Hưởng kiến, giữa Thung lũng đầy nước mắt và Niềm Vui khôn cùng.

Khi xuống thế lần thứ nhất, Đức Kitô chỉ biến đổi ý nghĩa của đau khổ mà không hủy diệt nó. Trong lần đến thứ hai, Ngài sẽ triệt tiêu mọi đau khổ. Khi thấy Ngài ngự đến trên mây,"Mọi ưu tư buồn phiền sẽ biến tan." (Is 35,10)

Chúng ta đã được cứu rồi, nhưng chưa hưởng trọn vẹn ơn cứu chuộc. Chúng ta nếm được hương vị của những trái cây đầu mùa. Chúng ta đã đặt tiền cọc. Phần tiếp theo, chúng ta phải chờ đợi, phải hy vọng.

Yên tâm với điều hạnh phúc chưa có gọi là hy vọng. Chắc chắn vì ơn cứu chuộc sẽ được hưởng trọn vẹn sau khi chết gọi là hy vọng. Nhân đức đối thần thứ ba này rất quan trọng. Nó giúp chúng ta biết nhẫn nại chờ đợi.

Hy vọng còn quan trọng vì nó là chìa khoá mang lại niềm vui. Bao lâu còn hy vọng, bấy lâu chúng ta còn có thế vui mừng. Hy vọng là sự khác biệt duy nhất giữa nơi luyện tội và hoả ngục.

Môsê vui mừng trên đỉnh Nêbô. Gioan hân hoan tuy vẫn còn trong ngục đá tối. Chúng ta cũng thế, giữa thung lũng đầy nước mắt này, hãy “Vui mừng trong Hy vọng” (Rm 12,12)

Trong hầm tối ngục đá nằm sâu dưới “pháo đài Machaerus", chờ ngày thọ án, Gioan Tẩy Giả chắc phải cay đắng lắm. Ông đã tiên thị được Nước Trời đang gần đến, và từng ngày ông đã rao giảng chuẩn bị lòng người. Ông đã gặp được Đấng Phải Đến. Ông biết ông“không xứng đáng xách dép cho Người.- non sum dignus calciamenta portare.” (Mt 3,11, bản Vulgata). Ông biết và làm chứng “Ngài là Con Thiên Chúa" (Gioan 1,20-34).

Những tháng ngày biệt giam, những gian truân cùng khốn đời tù, những đêm đen thao thức suốt sáng về phận người, rất có thể đã khiến Gioan Tẩy Giả... xuyến xao.

Một câu hỏi chợt nổ tung trong óc, như một cám dỗ kinh khiếp “Người anh em họ Giêsu kia thực sự có phải là Đấng Messiah hay không?... Nếu phải, sao Anh ta không cứu mình?, Anh là người được Thiên Chúa ở cùng kia mà?.. Anh ấy, người đã từng làm nhiều phép lạ, mang phận Đấng-Được-Xức-Dầu đã đành, một mình chịu khổ nạn thôi... chẳng lẽ vai trò Tiền Hô của mình cũng phải chung số phận bị bách hại của Người-Tôi-Tớ-Đau-Khổ-của-Giavê ấy sao? ”.

Khi tự ví mình như “tiếng kêu trong hoang mạc”, làm người đi trước loan báo thời đại Thiên sai, Gioan Tẩy giả hẳn đã nằm lòng đoạn sách Tiên tri Isaiah 40,3:

“1 Comfort, comfort my people,
says your God.
2 Speak tenderly to Jerusalem,
and proclaim to her
that her hard service has been completed,
that her sin has been paid for,
that she has received from the LORD's hand
double for all her sins.

3 A voice of one calling:
"In the desert prepare
the way for the LORD ;
make straight in the wilderness
a highway for our God.
4 Every valley shall be raised up,
every mountain and hill made low;
the rough ground shall become level,
the rugged places a plain.
5 And the glory of the LORD will be revealed,
and all mankind together will see it.
For the mouth of the LORD has spoken."

6 A voice says, "Cry out."
And I said, "What shall I cry?"

"All men are like grass,
and all their glory is like the flowers of the field.
7 The grass withers and the flowers fall,
because the breath of the LORD blows on them.
Surely the people are grass.
8 The grass withers and the flowers fall,
but the word of our God stands forever."


Chắc hẳn Gioan, cũng như chúng ta đã để ý đến câu 6 và câu 7. “Có tiếng nói: “Hãy khóc lên” và tôi trả lời: “Vì sao mà tôi phải khóc?” “Phận người ta như cỏ. Vinh quang họ như hoa nội cỏ đồng. Cỏ úa khô, hoa rơi rụng, Vì hơi thở Chúa thổi trên chúng. Người ta chỉ như cỏ thôi. Cỏ úa khô, hoa rơi rụng. Nhưng Lời Chúa tồn tại muôn đời.”

Hai ba lần Tiên tri Isaiah nhắc lại cho Gioan, chừng như cho khỏi quên: “Cỏ úa khô, hoa rơi rụng.” Như thế, nếu rabbi Giêsu làng Nagiareth quả thực là Đấng Thiên Sai, thì phần số của Gioan Tiền hô đã đưọc an định sẵn: “Cỏ úa khô, hoa rơi rụng.”

Điều kinh khủng ấy loé lên như một trái phá. Gây kinh hoàng và xao xuyến.

http://gpnt.net/images/arrow_dyn.gif



KaTy

admin
02-02-2006, 06:45 PM
Đêm tối của ngục tù trộn lẫn với đêm tối của nghi nan, của thử thách cám dỗ và của yếu hèn phận người.


Chưa một lần ngồi tù, chúng ta chưa hiểu được sức công phá của nỗi cô đơn. Chưa sống những ngày trong tù mà vô vọng không biết ngày nào được tha, thì chúng ta hẳn chưa hiểu được và cảm thông được những ý nghĩa, những suy tư phản chứng có sức phá hoại như thế nào. Và cũng không thể nào hiểu thấu được rằng sức con ngươì lại rất mỏng dòn và yếu kém đến mức không ngờ.


Hãy hỏi những vị H.O., biền biệt trong những trại giam xa xôi trên đất Bắc. Hãy hỏi ĐHY, hay những ai bị biệt giam nhiều năm tháng trong connex, nghe tiếng chuông vọng từ Nhà Thờ Chính Toà, trong khi không ai biết mình đang bị giam cách đó chưa đến một cây số. Hãy hỏi những ai hiện đang trong khu cấm dành riêng cho tử tội chờ ngày thọ án.

“Nhất nhật tại tù, thiên thu tại ngoại”


Điều ấy đúng, không chỉ cho những người có trọng án, mà còn đúng cho bất cứ ai hiện đang trong tù vì tội hình sự, hay bị bắt khi vượt biên đổ bể.

Mà điều đó cũng còn đúng cho cả những kẻ đang luẩn quẩn trong vòm giam hãm của chính các thiên kiến của mình. Hoặc bi thảm hơn, bị giam trong các định kiến của kẻ khác.


Vách tù dù bằng đá hay vách tù dù vô hình của tư tưởng, cả hai đều kiên cố và có sức phá hoại nhân cách con người như nhau.

Giữa những hoang mang ấy, Gioan sai các môn đệ tới hỏi Chúa Giêsu: ”Thầy có phải là Đấng Messiah? hay chúng tôi còn phải đợi đấng nào khác?” (Lc 7, 20-23; Mt 11,3-6).

Chúa Giêsu trả lời bằng cách trích dẫn đoạn tiên tri Isaia 61: Người mù thấy được, kẻ què đi được, ai phung hủi được lành, người chết sống lại, và người nghèo được rao giảng Tin Mừng. Đó là những dấu chỉ của Đấng Messaiah. (Mt 11,2-11).

Nghĩa là Ngài rõ ràng cho biết Thời đại Thiên sai đã đến.

Điều đó đồng nghĩa rằng: Quả thực, Gioan là vị Tiền Hô đi trước loan báo.

Hiểu ngầm rằng, Tiên tri Isaiah chương 40 ám chỉ đúng về ông.

Và rằng số phận của ông sẽ là: “Cỏ úa khô, hoa rơi rụng.”

Điều bi đát, mà Gioan Tẩy giả lúc bấy giờ chưa biết, là “cỏ úa khô, hoa rơi rụng” chỉ vì sự trả thù của một phụ nữ trắc nết và người con gái đầy quyến rũ trong môt vũ điệu, nhân một lời hứa do buột miệng cương ẩu của một vị Phó vương nhu nhược.

Chúa Giêsu biết thế, và thấu hiểu nỗi dằn xé nội tâm của ông, nên đã kín đáo nhắn nhủ thêm: “Và phúc cho ai không vấp ngã vì Ta- and blessed is he whosoever shall not be scandalized in me" (Lc 7,20-23; Mt 11,3-6).

Ngài biết Gioan Tẩy Giả sẽ kinh qua cơn xuyến xao. Nên Ngài đã hết lời ca tụng ông:”Trong lịch sử chưa từng có ai do người nữ sinh ra mà cao trọng hơn Gioan Tẩy Giả.” (Mt 11,11)

Hôm nay, hãy dành môt lời cầu nguyện, chân thành, cho những ai đang bị giam trong tù ngục thể lý, bị hãm trong vòng thiên kiến, và bị kiềm toả trong tội. Riêng cho những ai đang đóng vai trò can gián, sửa soạn lòng người, uốn nắn cho thẳng ngay của các Gioan Tẩy giả thời nay.

KaTy