admin
03-02-2006, 05:29 AM
Sững sờ
“Có người bị phong hủi đến gặp Người, anh ta quỳ xuống van xin rằng: "Nếu Ngài muốn, Ngài có thể làm cho tôi được sạch."41 Người chạnh lòng thương giơ tay đụng vào anh và bảo: "Tôi muốn, anh sạch đi! "42 Lập tức, chứng phong hủi biến khỏi anh, và anh được sạch.43 Nhưng Người nghiêm giọng đuổi anh đi ngay,44 và bảo anh: "Coi chừng, đừng nói gì với ai cả, nhưng hãy đi trình diện tư tế, và vì anh đã được lành sạch, thì hãy dâng những gì ông Mô-sê đã truyền, để làm chứng cho người ta biết."45 Nhưng vừa ra khỏi đó, anh đã bắt đầu rao truyền và tung tin ấy khắp nơi, đến nỗi Người không thể công khai vào thành nào được, mà phải ở lại những nơi hoang vắng ngoài thành. Và dân chúng từ khắp nơi kéo đến với Người.”
(Mc 1,40-45)
1-
“Người bị phong hủi đến gặp Người”
Dựa vào Bài đọc thứ Nhất, và những khoản luật trong sách Lêvi chương 13-14, ấn định chặt chẽ những quy cách mà người bị bệnh hủi phải tuân thủ như: “Người mắc bệnh phong hủi phải mặc áo rách, xoã tóc, che râu và kêu lên: "Ô uế! Ô uế! " Bao lâu còn mắc bệnh, thì nó ô uế; nó ô uế: nó phải ở riêng ra, chỗ ở của nó là một nơi bên ngoài trại.” (Lv 13:45-46)
thì khi “người bị phong hủi đến gặp Người” anh ta đã không tuân thủ lề luật.
Mà khi Chúa Giêsu “giơ tay đụng vào anh ta”, Ngài đã tự mình làm cho mình ra ô uế, theo luật đương thời. Ngài cũng đã không tuân thủ lề luật.
Thế là có hai người vi phạm lề luật được kể lại trong đoạn Tin mừng này.
Khi đến với Chúa Giêsu, người bệnh hủi không la to lên: “Ô uế ! Ô uế” cho mọi người biết mà tránh né, anh ta chỉ “van xin Người- parakaleo- le supplie”
Động từ parakaleo có nghĩa là “van xin, yêu cầu, đề nghị, hỏi có chủ ý, thúc, khuyến khích.”
Nếu để ý chúng ta thấy người bị hủi không xin Chúa Giêsu chữa bệnh hủi, Nhưng ông đến với Chúa Giêsu như đến với một Tư tế, vì ông yêu cầu Ngài phán định rằng ông đã được sạch. Thời ấy chỉ có các tư tế mới có thẩm quyền phán định một người có bị bệnh hủi hay không, hoặc đã hết bệnh hủi hay chưa.
Lời yêu cầu của người bệnh tỏ cho chúng ta biết ông rất tế nhị.
Người bệnh hủi không được phép tiếp xúc với ai, mà chỉ có thể tới với thầy tư tế để xin xác nhận mình đã khỏi bệnh. Anh ta biết Chúa Giêsu không phải là Tư tế, nhưng anh vẫn coi Ngài như một Vị Tư Tế mà đến với Ngài.
Nên khi anh đến với Chúa Giêsu là anh biết anh đã vi phạm Lề Luật. Vì thế, tuy tha thiết yêu cầu, nhưng anh vẫn để cho Chúa cơ hội từ chối: “Nếu Ngài muốn...” Anh không muốn ép Ngài vi phạm lề luật.
Gần như là anh muốn nói: “Ngài có thể tuyên bố rằng tôi sạch bệnh, nếu như Ngài “dám”.” Một thánh thức đối với định chế xã hội và lề luật đương thời .
2-
Chỉ mãi đến vài ngày sau, khi Chúa chữa người bại liệt được thòng dây thả từ mái nhà xuống thì đức tin của người bệnh mới đóng vai trò đáng kể cho việc chữa bệnh: “Thấy họ có lòng tin như vậy,” ( Mc 2:5)
Ở đây tuy lòng tin không được nhắc đến, nhưng thái độ bất chấp lề luật mà đến với Chúa, niềm hy vọng vào quyền năng của Chúa có thể “chữa lành” hay “tuyên bố được lành sạch”, chúng ta có thể gọi đó là đức tin của người bị phung hủi chăng ?
3-
“Ngài chạnh lòng thương - Ému de compassion - Moved with pity - misertus”
Hai đoạn song song của Luca và Mátthêu không ghi lại “cảm tính” của Chúa Giêus mà chỉ đơn thuần ghi lại “hành vi”: “Người giơ tay đụng vào anh và bảo: "Tôi muốn, anh sạch đi." (Mt 8:3; Lc 5:13)
Có bản văn cổ, thay vì dùng từ "splagchnistheis" = having pity = chạnh lòng thương” , lại dùng từ "orgistheis" = being angry = bực mình.”
Một giải thích khả dĩ cho sự sai biệt này là: trong tiếng Aram, “lòng thương xót” là “ethraram”, còn “giận dữ” là “ethraem”. Người sao chép bản Aram của Tin mừng Marcô đã lẫn lộn hai từ này. Rồi từ hai bản Aram khác nhau này dịch thành hai bản Hylạp khác nhau, một với từ "splagchnistheis" và bản khác với từ : "orgistheis"
Chi tiết trên cho chúng ta nêu lên một thắc mắc chính đáng: Nếu Chúa “chạnh lòng thương”, thì tại sao sau đó Ngài “nghiêm giọng đuổi anh đi ngay” ?. Câu văn Hy lạp là “Kai embrimesamenos aútoũ eúdùs exebalen aútón – Jesus le renvoya sur-le –champ, avec de sevères recommandations,”
Bản dịch CGKPV không diễn tả đủ mạnh động từ “embrimaomai (Hylạp)–infremuit (Latinh)” có nghĩa là “gầm lên, to tiếng, rống – rudoyer – Nghiêm khắc la mắng, gắt gỏng .”
Marcô dùng cùng một từ này để diễn tả sự tức bực của các tông đồ khi các ngài thấy người phụ nữ phung phí đập bể “bình bạch ngọc đựng dầu thơm cam tùng nguyên chất thứ đắt tiền” mà “đổ lên đầu Chúa” tại nhà ông Simon từng bị bệnh hủi. Họ nói: “Dầu đó có thể đem bán lấy trên ba trăm quan tiền mà bố thí cho người nghèo." Rồi họ gắt gỏng- enebrimonto với cô” (Mc 14:5)
Rồi nữa, động từ “exebalen - lập tức đuổi anh ta đi ngay – ejecit illum- le chassa aussitôt”: Sao lại đuổi đi như đuổi tà ma đi, và có vẻ đuổi vội vàng hấp tấp, không tương hợp với tình cảm “chạnh lòng thương” trước đó.
Và cuối cùng, ở đầu câu Chúa Giêsu nói “Hãy đi trình diện tư tế”, trình diện một thầy tư tế, đến cuối câu Ngài lại nói: “để làm chứng cho họ biết – ce leur sera une attestation (BJ) – that will be proof for them (NAB) – in testimonium illis (Vulgata) - eis marturion autois (Hylạp) ”.
“Họ- leur- them- illis” chứ không phải “người ta” như bản dịch CGKPV đã dịch.
“Họ” là ai, “các thầy tư tế” chăng ?
Mà “làm chứng” thì “làm chứng” về “chuyện gì” ?
http://gpnt.net/images/arrow_dyn.gif
KaTy
“Có người bị phong hủi đến gặp Người, anh ta quỳ xuống van xin rằng: "Nếu Ngài muốn, Ngài có thể làm cho tôi được sạch."41 Người chạnh lòng thương giơ tay đụng vào anh và bảo: "Tôi muốn, anh sạch đi! "42 Lập tức, chứng phong hủi biến khỏi anh, và anh được sạch.43 Nhưng Người nghiêm giọng đuổi anh đi ngay,44 và bảo anh: "Coi chừng, đừng nói gì với ai cả, nhưng hãy đi trình diện tư tế, và vì anh đã được lành sạch, thì hãy dâng những gì ông Mô-sê đã truyền, để làm chứng cho người ta biết."45 Nhưng vừa ra khỏi đó, anh đã bắt đầu rao truyền và tung tin ấy khắp nơi, đến nỗi Người không thể công khai vào thành nào được, mà phải ở lại những nơi hoang vắng ngoài thành. Và dân chúng từ khắp nơi kéo đến với Người.”
(Mc 1,40-45)
1-
“Người bị phong hủi đến gặp Người”
Dựa vào Bài đọc thứ Nhất, và những khoản luật trong sách Lêvi chương 13-14, ấn định chặt chẽ những quy cách mà người bị bệnh hủi phải tuân thủ như: “Người mắc bệnh phong hủi phải mặc áo rách, xoã tóc, che râu và kêu lên: "Ô uế! Ô uế! " Bao lâu còn mắc bệnh, thì nó ô uế; nó ô uế: nó phải ở riêng ra, chỗ ở của nó là một nơi bên ngoài trại.” (Lv 13:45-46)
thì khi “người bị phong hủi đến gặp Người” anh ta đã không tuân thủ lề luật.
Mà khi Chúa Giêsu “giơ tay đụng vào anh ta”, Ngài đã tự mình làm cho mình ra ô uế, theo luật đương thời. Ngài cũng đã không tuân thủ lề luật.
Thế là có hai người vi phạm lề luật được kể lại trong đoạn Tin mừng này.
Khi đến với Chúa Giêsu, người bệnh hủi không la to lên: “Ô uế ! Ô uế” cho mọi người biết mà tránh né, anh ta chỉ “van xin Người- parakaleo- le supplie”
Động từ parakaleo có nghĩa là “van xin, yêu cầu, đề nghị, hỏi có chủ ý, thúc, khuyến khích.”
Nếu để ý chúng ta thấy người bị hủi không xin Chúa Giêsu chữa bệnh hủi, Nhưng ông đến với Chúa Giêsu như đến với một Tư tế, vì ông yêu cầu Ngài phán định rằng ông đã được sạch. Thời ấy chỉ có các tư tế mới có thẩm quyền phán định một người có bị bệnh hủi hay không, hoặc đã hết bệnh hủi hay chưa.
Lời yêu cầu của người bệnh tỏ cho chúng ta biết ông rất tế nhị.
Người bệnh hủi không được phép tiếp xúc với ai, mà chỉ có thể tới với thầy tư tế để xin xác nhận mình đã khỏi bệnh. Anh ta biết Chúa Giêsu không phải là Tư tế, nhưng anh vẫn coi Ngài như một Vị Tư Tế mà đến với Ngài.
Nên khi anh đến với Chúa Giêsu là anh biết anh đã vi phạm Lề Luật. Vì thế, tuy tha thiết yêu cầu, nhưng anh vẫn để cho Chúa cơ hội từ chối: “Nếu Ngài muốn...” Anh không muốn ép Ngài vi phạm lề luật.
Gần như là anh muốn nói: “Ngài có thể tuyên bố rằng tôi sạch bệnh, nếu như Ngài “dám”.” Một thánh thức đối với định chế xã hội và lề luật đương thời .
2-
Chỉ mãi đến vài ngày sau, khi Chúa chữa người bại liệt được thòng dây thả từ mái nhà xuống thì đức tin của người bệnh mới đóng vai trò đáng kể cho việc chữa bệnh: “Thấy họ có lòng tin như vậy,” ( Mc 2:5)
Ở đây tuy lòng tin không được nhắc đến, nhưng thái độ bất chấp lề luật mà đến với Chúa, niềm hy vọng vào quyền năng của Chúa có thể “chữa lành” hay “tuyên bố được lành sạch”, chúng ta có thể gọi đó là đức tin của người bị phung hủi chăng ?
3-
“Ngài chạnh lòng thương - Ému de compassion - Moved with pity - misertus”
Hai đoạn song song của Luca và Mátthêu không ghi lại “cảm tính” của Chúa Giêus mà chỉ đơn thuần ghi lại “hành vi”: “Người giơ tay đụng vào anh và bảo: "Tôi muốn, anh sạch đi." (Mt 8:3; Lc 5:13)
Có bản văn cổ, thay vì dùng từ "splagchnistheis" = having pity = chạnh lòng thương” , lại dùng từ "orgistheis" = being angry = bực mình.”
Một giải thích khả dĩ cho sự sai biệt này là: trong tiếng Aram, “lòng thương xót” là “ethraram”, còn “giận dữ” là “ethraem”. Người sao chép bản Aram của Tin mừng Marcô đã lẫn lộn hai từ này. Rồi từ hai bản Aram khác nhau này dịch thành hai bản Hylạp khác nhau, một với từ "splagchnistheis" và bản khác với từ : "orgistheis"
Chi tiết trên cho chúng ta nêu lên một thắc mắc chính đáng: Nếu Chúa “chạnh lòng thương”, thì tại sao sau đó Ngài “nghiêm giọng đuổi anh đi ngay” ?. Câu văn Hy lạp là “Kai embrimesamenos aútoũ eúdùs exebalen aútón – Jesus le renvoya sur-le –champ, avec de sevères recommandations,”
Bản dịch CGKPV không diễn tả đủ mạnh động từ “embrimaomai (Hylạp)–infremuit (Latinh)” có nghĩa là “gầm lên, to tiếng, rống – rudoyer – Nghiêm khắc la mắng, gắt gỏng .”
Marcô dùng cùng một từ này để diễn tả sự tức bực của các tông đồ khi các ngài thấy người phụ nữ phung phí đập bể “bình bạch ngọc đựng dầu thơm cam tùng nguyên chất thứ đắt tiền” mà “đổ lên đầu Chúa” tại nhà ông Simon từng bị bệnh hủi. Họ nói: “Dầu đó có thể đem bán lấy trên ba trăm quan tiền mà bố thí cho người nghèo." Rồi họ gắt gỏng- enebrimonto với cô” (Mc 14:5)
Rồi nữa, động từ “exebalen - lập tức đuổi anh ta đi ngay – ejecit illum- le chassa aussitôt”: Sao lại đuổi đi như đuổi tà ma đi, và có vẻ đuổi vội vàng hấp tấp, không tương hợp với tình cảm “chạnh lòng thương” trước đó.
Và cuối cùng, ở đầu câu Chúa Giêsu nói “Hãy đi trình diện tư tế”, trình diện một thầy tư tế, đến cuối câu Ngài lại nói: “để làm chứng cho họ biết – ce leur sera une attestation (BJ) – that will be proof for them (NAB) – in testimonium illis (Vulgata) - eis marturion autois (Hylạp) ”.
“Họ- leur- them- illis” chứ không phải “người ta” như bản dịch CGKPV đã dịch.
“Họ” là ai, “các thầy tư tế” chăng ?
Mà “làm chứng” thì “làm chứng” về “chuyện gì” ?
http://gpnt.net/images/arrow_dyn.gif
KaTy