View Full Version : Chương Ba: Bạn "Thưa có" cho điều gì? - Những nền tảng của Hôn nhân trong Giáo Hội
admin
03-02-2006, 05:23 AM
Chương Ba
Bạn "Thưa có" cho điều gì?
Những nền tảng của Hôn nhân trong Giáo hội
"Có người đang nỗ lực châm biếm, và thậm chí phủ nhận, ý tưởng một sự kết hợp chung thuỷ kéo dài suốt đời. Các con có thể chắc chắn rằng những người ấy không biết tình yêu là gì".
Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II [1] (http://www.gpnt.net/diendan/editpost.php#_ftn1)
Tôi không bao giờ quên được hình ảnh vị hôn thê của tôi tiến lên cung thánh giữa hai hàng ghế. Nàng rạng rỡ và đẹp lộng lẫy trong vẻ thiếu nữ. Tôi đứng đó bên bàn thờ, đợi nàng. Bốn mắt chúng tôi gặp nhau, nhạt nhoà nước mắt. Đây là thời điểm từng mong đợi. Trước sự hiện diện của Thiên Chúa, cha xứ, toàn gia đình và bạn bè thân hữu, chúng tôi dâng hiến trọn đời cho nhau vô điều kiện.
Trong suốt thời gian đính hôn của chúng tôi, điều này có thể dường như lạ lẫm đối với một số người, có thể nói chúng tôi đã chẳng thảo luận gì khác hơn là cái nhìn về hôn nhân của Giáo hội. Chúng tôi biết điều gì Giáo hội đang truyền đạt cho chúng tôi như là bản chất và ý nghĩa của bí tích này, và chúng tôi mong muốn được tiếp nhận điều đó với tất cả tâm hồn.
Hiện nay, trong công việc chuẩn bị hôn nhân cho những đôi đã đính hôn do tôi đảm trách, tôi phải đương đầu với chuyện rất ít người trong số họ thực sự hiểu họ đang muốn “thưa có” cho điều gì. Hôn nhân không phải là bất cứ điều gì hai người muốn là được. Để một mối quan hệ có tính cách hôn nhân thực sự, mối quan hệ đó phải tuân theo kế hoạch về hôn nhân của Thiên Chúa theo ý nghĩa Người đã thiết lập.
Những thắc mắc và những phản đối trong chương này nhắm đến "những nền tảng" của hôn nhân trong Giáo hội, gồm có những vấn đề xoay quanh việc ly dị, huỷ tiêu hôn ước và một vài đoạn Kinh thánh đang còn tranh cãi. Bởi vì có nhiều lẫn lộn và chống nghịch đối với giáo huấn về tính dục của giáo hội phát sinh từ việc hiểu sai lệch ý nghĩa của hôn nhân, chương này sẽ nêu ra những gì cần thiết cho việc thảo luận về đạo đức giới tính trong những chương kế tiếp.
-----
[1] (http://www.gpnt.net/diendan/editpost.php#_ftnref1) Gioan Phaolô II, “Tình yêu trong Gia đình”, Origins số 16 (ngày 23/4/1987): 799.
http://gpnt.net/images/arrow_dyn.gif
admin
03-02-2006, 07:04 AM
1. Hôn nhân chính xác là gì theo cái nhìn của Giáo hội Công giáo?
Chúng ta sẽ bắt đầu với một định nghĩa căn bản có đối chiếu đến giáo huấn của Công Đồng Vatican II và giáo luật, và rồi sẽ giải thích từng điểm một:
Hôn nhân là sự hiệp thông mật thiết, độc quyền, và bất khả phân ly trong đời sống và tình yêu giữa người nam và người nữ tham dự vào do sự thiết kế của Đấng Sáng Tạo vì thiện ích của họ và vì sự sinh sản và giáo dục con cái; giao ước giữa những người đã được rửa tội này đã được Chúa Kitô nâng lên hàng cao trọng của bí tích. [2]
Sự hiệp thông mật thiết trong đời sống và tình yêu. Hôn nhân là một tương quan gần gũi và mật thiết nhất trong các tương quan bằng hữu. Nó đòi hỏi sự chia sẻ trọn vẹn đời sống của một cá nhân với người phối ngẫu của mình. Hôn nhân mời gọi sự cùng nhau dâng hiến chính mình cách mật thiết và trọn vẹn đến nỗi cả hai vợ chồng trở thành “một”.
Độc quyền. Như một món quà hai người trao tặng cho nhau, sự kết hiệp mật thiết này loại trừ việc kết hợp tương tự với bất cứ người nào khác nữa. Nó đòi hỏi sự thuỷ chung trọn vẹn của hai vợ chồng. Sự độc quyền này cũng cần thiết cho lợi ích của con cái của hai vợ chồng nữa.
Bất khả phân ly. Người chồng và người vợ kết hiệp với nhau không phải bằng chút cảm xúc chóng qua hay chỉ bằng ý hướng gợi tình vốn dĩ chóng phai tàn nếu đeo đuổi một cách ích kỷ. [3] Họ được Thiên Chúa nối kết trong một giao ước tình yêu vững bền qua hành vi ưng thuận kiên quyết và không thể thay đổi được của chính họ. Đối với những người đã được rửa tội, giao ước này đã được Chúa Thánh Thần đóng ấn và, một khi được thành sự, trở thành tuyệt đối bất khả phân ly.[4] Vì thế, Giáo hội không những dạy rằng ly dị là sai mà còn cho rằng ly dị - với ý nghĩa chấm dứt một cuộc hôn nhân hợp pháp - là không thể được, bất kể tình trạng dân sự của cuộc hôn nhân đó như thế nào.
Giữa người nam và người nữ tham dự vào. Cái đặc tính bổ trợ của giới tính rất cần thiết cho hôn nhân. Hiện nay có sự nhầm lẫn về bản chất của hôn nhân phổ biến đến nỗi một số người muốn nới rộng cái “quyền lợi“ pháp lý cho phép hai người đồng giới tính cưới nhau. Nhưng chính bản chất của hôn nhân làm cho một đề nghị như thế không thể xảy ra được.
Do sự hoạch định của Đấng Sáng Tạo. Thiên Chúa là Tác giả của hôn nhân. Người ghi khắc lời mời gọi vào đời sống hôn nhân trong chính hữu thể của chúng ta bằng cách tạo dựng nên chúng ta có nam có nữ. Hôn nhân được điều hành bởi luật của Thiên Chúa, được truyền đạt một cách trung thành qua Hiền thê của Người là Giáo hội. Ðể hôn nhân trở nên điều đã được định liệu, hôn nhân cần phải tuân theo những luật này. Vì thế, con người không được tự ý thay đổi cái ý nghĩa và mục đích của hôn nhân.
Vì thiện ích của họ. “Người đàn ông ở một mình không tốt” (St 2,18). Ðàng khác, chính vì thiện ích của họ, vì sự phong phú và sau cùng vì sự cứu rỗi của họ mà một người đàn ông và một người đàn bà chung sống với nhau trong giao ước hôn nhân. Hôn nhân là sự biểu hiện căn bản nhất (nhưng không phải duy nhất) của ơn gọi tình yêu mà tất cả mọi người đàn ông và đàn bà là những người được tạo dựng giống hình ảnh của Thiên Chúa đều có.
Và vì (thiện ích của) sự sinh sản và giáo dục con cái. Các nghị phụ của Công Đồng Vatican II đã tuyên bố: “Do chính bản chất của chúng, sự thành lập hôn nhân và tình yêu vợ chồng được thánh hiến là để sinh sản và giáo dục con cái và tìm thấy nơi chúng cái tuyệt đỉnh của hôn nhân.” [5] (http://www.gpnt.net/diendan/newreply.php?do=newreply&noquote=1&p=303#_ftn4) Không phải con cái được cộng thêm vào trong hôn nhân và tình yêu vợ chồng, nhưng chúng phát sinh từ thâm tâm của việc đồng hiến dâng cho nhau của đôi vợ chồng, như là kết quả và sự hoàn thành của việc hiến dâng ấy. Vậy, việc chủ tâm loại bỏ con cái là đi ngược lại chính bản chất và mục đích của hôn nhân.
Giao ước. Hôn nhân không chỉ là một sự thoả thuận giữa một người đàn ông và một người đàn bà, nhưng còn là một giao ước thánh. Thiên Chúa đã tạo dựng nên hôn nhân để tượng trưng cho và để tham dự vào chính giao ước của Người với dân Người. Vì thế, giao ước hôn nhân mời gọi các cặp vợ chồng thông dự vào tình yêu tự do, trọn vẹn, thuỷ chung, và sinh hoa kết trái của Thiên Chúa. Ngược lại với một vài trào lưu tư tưởng, sự việc Giáo hội gần đây nhấn mạnh về hôn nhân như là một giao ước không loại bỏ cái tư tưởng hôn nhân cũng là một sự thoả thuận. Thực ra một giao ước còn vượt quá những quyền lợi và những bổn phận được bảo đảm bởi một vài sự thoả thuận, và còn cung cấp một khuôn khổ vững chắc và thánh thiện hơn cho hôn nhân, tuy nhiên giáo luật vẫn cố ý dùng cả hai từ này để diễn tả hôn nhân.[6] (http://www.gpnt.net/diendan/newreply.php?do=newreply&noquote=1&p=303#_ftn5)
Hàng cao trọng của bí tích. Nhờ bí tích Rửa tội của họ, hôn nhân của những cặp vợ chồng Kitô hữu là một dấu chỉ hiệu nghiệm của sự kết hiệp giữa Đức Kitô và Giáo hội, và như thể đó là một hồng ân (xin xem vấn nạn kế tiếp để có một sự thảo luận kỹ lưỡng hơn). Hôn nhân giữa hai người không được rửa tội, hay giữa một người được rửa tội và một người chưa được rửa tội, được Giáo hội xem như là một cuộc hôn nhân “tốt lành và tự nhiên”. Dù không có tính cách bí tích, những cuộc hôn nhân như vậy là những kết hợp thánh thiện được đồng hưởng những điều tốt lành và mục đích của bí tích hôn nhân.
-----
[2] (http://www.gpnt.net/diendan/newreply.php?do=newreply&noquote=1&p=303#_ftnref1) Xem Hiến chế Mục vụ Vui Mừng và Hy vọng (MV), số 48, và Bộ Giáo Luật (GL), điều 1055.
[3] (http://www.gpnt.net/diendan/newreply.php?do=newreply&noquote=1&p=303#_ftnref2) Xem MV 49
[4] (http://www.gpnt.net/diendan/newreply.php?do=newreply&noquote=1&p=303#_ftnref3) Ngay cả khi một hôn nhân chưa hoàn hợp, quyền bính con người không có quyền tuyên bố huỷ tiêu được. Dù vậy, trong một số rất hiếm các trường hợp, Giáo hội dùng quyền cao hơn quyền bính con người, do Thiên Chúa ban, để huỷ tiêu hôn nhân chưa hoàn hợp.
[5] (http://www.gpnt.net/diendan/newreply.php?do=newreply&noquote=1&p=303#_ftnref4) Xem MV 48.
[6] (http://www.gpnt.net/diendan/newreply.php?do=newreply&noquote=1&p=303#_ftnref5) Xem GL, đ. 1055.
Về Mục Lục (http://www.gpnt.net/diendan/showthread.php?t=166)
admin
05-02-2006, 01:13 PM
2. Điều gì làm cho hôn nhân trở thành bí tích?
Câu trả lời đơn giản là bí tích Rửa tội. Như ĐTC Gioan Phaolô II nói: “Thật vậy, nhờ bí tích Rửa tội người nam và người nữ được dứt khoát đặt vào trong … giao ước hôn nhân của Chúa Kitô và Giáo hội. Và chính vì sự tháp nhập không thể huỷ bỏ này mà [hôn nhân] được nâng lên và được hoà nhập vào trong tình yêu hôn nhân của Chúa Kitô, được duy trì và được làm cho phong phú thêm nhờ quyền năng cứu độ của Người.” [7] (http://www.gpnt.net/diendan/newreply.php?do=newreply&noquote=1&p=305#_ftn1)
Thế mà trong cả bảy bí tích (Rửa tội, Thêm sức, Mình Thánh Chúa, Hoà giải, Xức dầu bệnh nhân, Truyền chức thánh, và Hôn nhân), thoáng nhìn thì hôn nhân có vẻ như không phải là một bí tích nhất. Xét cho cùng, hôn nhân không phải duy nhất chỉ có ở những Kitô hữu, nhưng là điều rất bình thường đối với tất cả mọi nền văn hoá và mọi tín ngưỡng. Điều gì làm cho một thực tại như hôn nhân “trần tục” đến thế trở thành một bí tích? Để đưa ra câu trả lời hoàn hảo hơn, trước tiên chúng ta cần phải hiểu rõ hơn bí tích là gì.
Nếu thời thơ ấu bạn có học giáo lý, bạn có thể còn nhớ đã được dạy rằng bí tích là “một dấu chỉ bề ngoài do Đức Kitô lập ra để ban ơn thánh.”[8] (http://www.gpnt.net/diendan/newreply.php?do=newreply&noquote=1&p=305#_ftn2) Đối với hầu hết mọi người thì cái định nghĩa có tính cách giáo khoa này không gói ghém được hết cái tuyệt hảo và thâm sâu thực sự của các bí tích. Qua những “dấu chỉ hữu hình do Đức Kitô lập ra” này, chúng ta được thực sự gặp gỡ Thiên Chúa vĩnh cửu ở trần gian chóng qua này và trở thành những người được chia sẻ sự sống thần linh của Người.
Có một hố sâu thăm thẳm chia cách Đấng Tạo Hóa và tạo vật. Điều kỳ diệu của các bí tích là đã lấp đầy cái hố sâu thăm thẳm ngăn cách này. Các bí tích là nơi trời và đất “ôm hôn nhau”, là nơi Thiên Chúa và nhân loại trở nên một trong xác thịt.
Thiên Chúa vô hình. Các bí tích giúp chúng ta nhìn thấy Người. Thiên Chúa bất khả tiếp xúc. Các bí tích giúp chúng ta đụng chạm được Người. Thiên Chúa bất khả thông truyền. Các bí tích cho chúng ta hiệp thông với Người.
Sự Hiệp thông này giữa Thiên Chúa và nhân loại là một thực tại sống động trong con người Chúa Giêsu Kitô. Do đó, đời sống bí tích của Giáo hội trực tiếp bắt nguồn từ động lực của Mầu nhiệm Nhập Thể, mầu nhiệm Ngôi Lời đã hoá thành xác thịt, Thiên Chúa đã làm người. Trong Đức Kitô, Thiên Chúa đã muôn đời kết hiệp Người vào xác thịt của chúng ta và đã cưu mang thế giới vật chất bằng quyền năng cứu rỗi của Người. Thật vậy, như Tertullianô, một Giáo phụ tiên khởi, đã tuyên bố: “Xác thân đã trở thành điểm mấu chốt của ơn cứu độ”.[9] (http://www.gpnt.net/diendan/newreply.php?do=newreply&noquote=1&p=305#_ftn3)
Đi ngược lại với linh đạo bí tích thực sự, hiện đang được phổ biến rộng rãi một quan niệm sai lầm trầm trọng về linh đạo có khuynh hướng hạ thấp giá trị thân thể con người, nhìn thân xác với cặp mắt nghi ngờ, và đôi khi có thái độ khinh miệt thân xác. Đạo Công giáo, không bao giờ khinh màng thân xác, nhưng trái lại là một tôn giáo rất xác thịt. Điều đó muốn nói rằng chính ở trong và qua thể xác mà chúng ta gặp gỡ Thiên Chúa.
Thiên Chúa không chuyển thông Người vào chúng ta bằng một phương pháp hấp thụ thần thánh nào đó mà bằng cách đến gặp gỡ chúng ta nơi chúng ta, những tạo vật phàm tục có xương có thịt. Đây chính là hồng ân cao cả của các bí tích.
Chúng ta thực sự trở nên những người được chia sẻ sự sống thần linh qua việc thanh tẩy thân thể bằng nước (bí tích Rửa tội); qua việc xức thân thể bằng dầu thánh và đặt tay (bt. Thêm sức, Truyền chức, Xức dầu); qua việc xưng tội bằng miệng lưỡi và nhận lãnh những lời tha tội (bt. hoà giải); qua việc ăn và uống Mình và Máu Chúa Kitô (bt. Mình Thánh Chúa) ; và kể cả qua việc ăn nằm biến người đàn ông và đàn bà thành “một xác thịt” (bt. Hôn nhân).
Có phải tôi vừa ám chỉ là việc ôm ấp vợ chồng là một cuộc gặp gỡ với Thiên Chúa và một thông dự vào sự sống thần linh? Đúng vậy. Qua việc ăn nằm, vợ chồng thể diễn cái bí tích của họ. Đó là nơi những lời hôn ước trở thành xác thịt và, do đó, là dấu chỉ nhìn thấy được của bí tích Hôn nhân. Như Đức Gioan Phaolô II nói: “Bí tích Hôn nhân, là dấu chỉ nhìn thấy được, được thiết lập với con người, là thân thể, nhờ giới tính nam và giới tính nữ hữu hình của họ. Thực ra, thân thể và chỉ có thân thể mới có khả năng biến thành hữu hình những gì vô hình, tâm linh và thần linh. Bí tích Hôn nhân được thiết lập để đưa vào thực tại hữu hình của trần thế mầu nhiệm đã được ẩn giấu từ trước muôn đời nơi Thiên Chúa, và như thế nó trở thành dấu chỉ [của mầu nhiệm ấy].[10] (http://www.gpnt.net/diendan/newreply.php?do=newreply&noquote=1&p=305#_ftn4)
Nói một cách dễ hiểu hơn, ở đây ĐTC nói rằng Thiên Chúa tạo dựng hôn nhân để trở nên một dấu chỉ trong trần gian biểu lộ mầu nhiệm muôn đời của Người, và nó biểu lộ qua hai thân thể của người chồng và người vợ được kết hợp thành một. Vậy mầu nhiệm được giấu kín từ ngàn xưa trong Thiên Chúa này là gì? Nói cách ngắn gọn, đó chính là sự sống Ba Ngôi của Thiên Chúa và là kế hoạch kỳ diệu của Người cho chúng ta, là những thành viên của Giáo hội, được dự phần vào đời sống này nhờ Đức Kitô. Đây là điều mà hôn nhân biểu trưng và tỏ lộ.
Các bí tích là những dấu chỉ hiệu nghiệm, có nghĩa là chúng thực sự chuyển thông được điều mà chúng tượng trưng cho. Do đó, tình yêu giữa người chồng và người vợ không chỉ đơn thuần là một biểu tượng cho tình yêu giữa Chúa Kitô và Giáo hội. Đối với những người đã được rửa tội, đó là một sự tham dự thực thụ vào tình yêu này. Đây là một “mầu nhiệm thâm sâu”, như Thánh Phaolô nói (hay theo như một vài bản dịch, đây là một “mầu nhiệm cao cả” - xem Ep 5,32).
Vì tất cả các bí tích nhằm đưa chúng ta tiến vào sâu hơn trong cuộc hôn nhân giữa Chúa Kitô và Giáo hội, ĐTC Gioan Phaolô II gọi hôn nhân là “nguyên mẫu” của tất cả các bí tích.[11] (http://www.gpnt.net/diendan/editpost.php#_ftn1) Ngài còn đi xa hơn khi nói rằng: vì dấu chỉ hữu hình của hôn nhân (sự ôm ấp vợ chồng) được liên kết vào dấu chỉ hữu hình của Chúa Kitô và Giáo hội (Mình Thánh Chúa), dấu chỉ ấy đưa kế hoạch tình yêu muôn đời của Thiên Chúa vào lịch sử, làm cho nó trở thành “nền tảng của toàn bộ các bí tích.”[12] (http://www.gpnt.net/diendan/newreply.php?do=newreply&noquote=1&p=305#_ftn5)
Có nghĩa là: sự kết hợp “nên một xác thịt” giữa người chồng và người vợ là mặc khải căn bản về mầu nhiệm muôn đời của Thiên Chúa cho trần gian thụ tạo, vì nó hướng chúng ta tới bí tích cao cả nhất của các bí tích, sự kết hợp “nên một xác thịt” của Chúa Kitô và Giáo hội trong bí tích Thánh Thể. Tuyệt vời làm sao! Hôn nhân là nền tảng của tất cả các dấu chỉ bề ngoài do Chúa Kitô lập ra để ban ơn thánh. Đây chính là điều làm cho hôn nhân trở thành bí tích.
-----
[7] Familiaris (Tông Huấn Gia đình), số 13.
[8] Baltimore Catechism, số 304.
[9] Xem Tertullianô, Bàn về sự sống lại của thân xác, chương 8.
[10] THTX, 20/02/1980 (http://www.gpnt.net/diendan/showthread.php?t=495).
[11] THTX, 20/10/1982.
[12] THTX, 29/09/1982.
Về Mục Lục (http://www.gpnt.net/diendan/showthread.php?t=166)
admin
05-02-2006, 03:05 PM
3. Giáo huấn ngăn cản việc ly dị của Giáo hội làm cho một số phụ nữ phải sống trong tương quan bạo hành mà không có lối thoát.
Trong trường hợp một quan hệ có nhiều bạo hành, Giáo hội sẵn sàng chấp nhận sự cần thiết của người vợ hay chồng được ly thân và, nếu cần, được xin ly dị ngoài đời. Tuy nhiên, án quyết ly dị không chấm dứt một hôn nhân. Chỉ có cái chết mới chấm dứt hôn nhân.
http://gpnt.net/images/arrow_dyn.gif
admin
05-02-2006, 04:14 PM
4. Nếu Giáo hội tin rằng hôn nhân “bền chặt cho tới chết”, thì tại sao lại có nhiều vụ tiêu hôn như vậy?
Ngày nay đang có nhiều lẫn lộn về việc tiêu hôn. Tiêu hôn (đúng hơn là việc “tuyên bố [hôn nhân] vô hiệu”) không phải là một “kiểu nói Công giáo về ly dị”. Án quyết ly dị [đời] tuyên bố là bạn đã từng kết hôn mà nay đã chấm dứt [hôn ước đó]. Còn bản tuyên bố [hôn nhân] vô hiệu là một tuyên bố chính thức của Giáo hội rằng một hôn nhân chưa bao giờ thành sự ngay từ đầu (hôn nhân chưa hề tồn tại).
Giáo hội luôn kiên định với giáo huấn của mình về tính chất thường tồn của hôn nhân và trong việc ban phép tiêu hôn. Những hôn nhân có thành sự, hoàn hợp, và có tính bí tích không bao giờ bị huỷ tiêu dưới bất cứ điều kiện nào. Tuy nhiên, nếu một cặp vợ chồng chưa bao giờ kết hôn thành sự, bất kể bề ngoài hôn nhân của họ ra sao, thì mối tương quan giữa họ vẫn không có sức ràng buộc.
Vậy tại sao Giáo hội lại tuyên bố tiêu hôn nhiều như thế? Có thể là nhiều khi hệ thống này bị lạm dụng. Hơn nữa, con số tiêu hôn được tuyên bố ngày nay có thể là sự phản ảnh trung thực về con số những cặp vợ chồng không thông dự hôn nhân cách thành sự. Trước tiên, toà án hôn phối ở Hoa kỳ báo cáo rằng một phần tư (1/4) cho đến một phần ba (1/3) trong các vụ tiêu hôn được chuẩn nhận là vì lý do “thiếu thể thức [Công giáo]”. Có nghĩa là một số đông người Công giáo đã được rửa tội đang kết hôn ngoài Giáo hội Công giáo. Nếu họ kết hôn như thế mà không có phép chuẩn [của Giáo hội], thì hôn nhân của họ đã không thành sự ngay từ đầu.
Hơn nữa, nhiều người được sinh ra trong nửa cuối thế kỷ 20 đã được lớn lên trong một nền văn hoá không chỉ đã mất đi cái cấu trúc nâng đỡ hôn nhân mà trái lại còn huênh hoang và không ngừng lôi cuốn rêu rao những giá trị đối nghịch với hôn nhân. Những ảnh hưởng của nền văn hóa này trên khả năng của con người để đi vào hôn nhân cách thành sự không thể coi thường được.
Về Mục Lục (http://www.gpnt.net/diendan/showthread.php?t=166)
http://gpnt.net/images/arrow_dyn.gif
admin
06-02-2006, 05:33 PM
5. Điều gì làm hôn nhân thành sự?
Hôn nhân được tạo nên do sự ưng thuận (lời hôn ước) được phát biểu cách hợp luật của cô dâu và chú rể hội đủ điều kiện thích hợp. Khác với những việc [bí tích] khác, điều này có nghĩa là cô dâu và chú rể là thừa tác viên của bí tích Hôn nhân. Mặc dù người ta hay nói là Cha này Cha nọ làm phép cưới chúng tôi, thật không đúng. Cha này cha nọ không làm phép cưới ai cả - ngài là người độc thân. Linh mục (hay thầy Phó tế) chỉ phục vụ như một người chứng chính thức cho Giáo hội thôi.[13] (http://www.gpnt.net/diendan/newreply.php?do=newreply&noquote=1&p=317#_ftn1)
Đây là một điểm quan trọng. Hôn nhân không phải là điều gì đó đơn giản “xảy đến” cho đôi bạn nhờ chiếc váy cưới trắng và bộ trang phục đúng kiểu cùng với những động tác trong suốt buổi lễ cưới. Hôn nhân chỉ “xảy đến” nếu cô dâu và chú rể cùng làm thừa tác viên cho nhau.
Nếu họ không làm tác vụ đó, họ chưa thành vợ chồng, cho dù họ đã thực hiện hết các nghi thức. Lẽ dĩ nhiên, nếu một đôi bạn Công giáo đã làm lễ cưới theo giáo huấn của Giáo hội thì chúng ta luôn thừa nhận là họ đã thi hành thừa tác vụ bí tích (hôn nhân) cho nhau rồi. Giáo hội luôn thừa nhận tính thành sự của hôn nhân trừ khi đưa ra bằng chứng khác.
Nhưng trở lại với câu hỏi: Điều gì làm hôn nhân thành sự? Để trả lời thật đầy đủ cần phải viết cả một cuốn sách, và hiện nay nhiều cuốn sách như thế đã được phổ biến.[14] (http://www.gpnt.net/diendan/newreply.php?do=newreply&noquote=1&p=317#_ftn2) Ở đây chỉ có thể đưa ra một cái nhìn tổng quát mà thôi. Để hôn nhân của người Công giáo được thành sự, những người phối ngẫu phải: (1) không vướng mắc bất cứ ngăn trở hôn nhân nào; (2) theo đúng thể thức bí tích [hôn nhân của Giáo hội]; (3) có thể trao đổi lời ưng thuận cách tự do và vô điều kiện; và (4) chấp thuận những điều Giáo hội dạy về hôn nhân, đó là: chung thuỷ, bất khả phân ly, và đón nhận con cái. Chúng ta hãy xem xét từng khía cạnh một:
(1) Những người phối ngẫu phải không vướng bất cứ ngăn trở hôn nhân nào. Những ngăn trở là những cấm đoán không cho kết hôn do luật Thiên Chúa hoặc luật tự nhiên và Giáo luật. Có 12 ngăn trở:[15] (http://www.gpnt.net/diendan/newreply.php?do=newreply&noquote=1&p=317#_ftn3)
Tuổi tác. Nam dưới tuổi 16 và nữ dưới tuổi 14 không thể kết hôn cách thành sự. (Nên nhớ rằng chúng ta đang nói về Giáo hội phổ quát. Trong khi kết hôn ở lứa tuổi này không được tán thành ở những quốc gia tân tiến, nhưng rất thông thường ở vài nền văn hoá khác).
Bất lực. Khả năng giao hợp bị mất hoàn toàn và mãi mãi.
Ràng buộc hôn nhân trước. Có hôn nhân thành sự trước với người nào rồi.
Khác biệt tôn giáo. Khi một người Công giáo đã được rửa tội muốn cưới một người chưa được rửa tội (tuy nhiên phép chuẩn cho ngăn trở này vẫn được ban phát tuỳ trường hợp).
Chức thánh. Những người bị ràng buộc bởi chức thánh – đó là, phó tế,[16] (http://www.gpnt.net/diendan/newreply.php?do=newreply&noquote=1&p=317#_ftn4) linh mục, và giám mục – không thể kết hôn.
Lời khấn khiết tịnh trọn đời. Lời khấn khiết tịnh công khai trong một hội dòng (nam hoặc nữ).
Bắt cóc. Khi một người bị bắt cóc với mục đích để kết hôn.
Tội ác. Khi một người phối ngẫu bị giết để người kia được tự do kết hôn.
Cùng huyết tộc. Liên hệ huyết tộc dưới ba đời.
Họ kết bạn.Quan hệ bố-mẹ chồng/vợ và dâu-rể trực hệ. (Ví dụ, người cha ghẻ không thể cưới con gái (riêng) của vợ ông, nhưng một người đàn ông có thể cưới em gái của người vợ đã chết.)
Công hạnh. Khi một người chưa kết hôn đang chung chạ với một người mà lại muốn kết hôn với một người có trực hệ gần với người đó. (Ví dụ, một cô gái đang chung chạ với một người đàn ông thì không thể kết hôn với cha hoặc con của người đàn ông đó.)
Con nuôi. Quan hệ gia đình được thiết lập bởi việc nhận con nuôi.
(2) Đôi phối ngẫu phải theo đúng thể thức của bí tích.[17] (http://www.gpnt.net/diendan/newreply.php?do=newreply&noquote=1&p=317#_ftn5) Việc này đòi hỏi sự hiện diện của một nhân chứng chính thức (thường là một linh mục hay phó tế) để nhận sự ưng thuận của họ nhân danh Giáo hội cùng với hai người chứng khác (thường là phụ rể chính và phụ dâu chính), cũng hiện diện lúc trao lời hôn ước. Do đó, những người Công giáo đã rửa tội kết hôn ngoài Giáo hội (ví dụ, bằng nghi thức đời hay tôn giáo khác) mà không có giấy chuẩn chính thức về hình thức của Giáo hội, thì việc kết hôn đó không thành sự. Nếu một người Công giáo muốn kết hôn với một người không Công giáo và hội đủ lý do để cử hành nghi thức trong một nơi không Công giáo, thì một phép chuẩn về thể thức có thể được ban phát.
(3) Đôi phối ngẫu phải có thể trao đổi lời ưng thuận cách tự do và vô điều kiện.[18] (http://www.gpnt.net/diendan/editpost.php#_ftn1) Mỗi cá nhân phải có khả năng ý thức được những điều hôn nhân đòi hỏi và phải có khả năng đảm nhận nó. Do đó, những chứng bệnh tâm lý/thần trầm trọng có thể vô hiệu hóa sự ưng thuận của đương sự. Hơn nữa, nếu lời ưng thuận được nói ra là vì sợ hãi hay ép buộc thì [hôn nhân] cũng không thành sự. Do đó, không có chuyện “đám cưới súng ngắn [kề cổ]”. Đôi phối ngẫu cũng không thể đặt bất cứ điều kiện nào cho sự ưng thuận của họ - nghĩa là, họ không thể nghĩ; “Tôi chỉ chấp nhận sống vợ chồng nếu...” Sự bằng lòng phải có nghĩa là “dù bất cứ chuyện gì xảy ra, chúng ta vẫn mãi mãi là vợ chồng”.
(4) Đôi phối ngẫu phải chấp thuận những điều Giáo hội dạy về hôn nhân, đó là: chung thuỷ, bất khả phân ly, và đón nhận con cái. Chính vì ba lời hứa này mà cô dâu và chú rể nói “Thưa có”. Ba lời hứa này là phần rất quan trọng của hôn nhân đến nỗi mà nếu cô dâu hoặc chú rể chối bỏ bất cứ một trong những điều này thì họ cũng chưa thực sự thành vợ chồng.
-----
[13] Trong các Giáo hội Công giáo theo nghi thức Đông phương, linh mục được hiểu như là thừa tác viên của bí tích hôn phối (xem GLHTCG, số 1623)
[14] (http://www.gpnt.net/diendan/newreply.php?do=newreply&noquote=1&p=317#_ftnref2) Tôi xin giới thiệu cuốn Annulment, the Wedding That Was (Tiêu hôn, Đám cưới trước đây) của Linh mục Michael Smith Foster (New York: Paulist, 1999). Viết theo dạng hỏi đáp, làm cho các vấn đề phức tạp của Giáo luật trở nên dễ hiểu. Có thể đặt mua tại các nhà sách Nữ Tỳ thánh Phaolô (xem phần Tài liệu tham khảo).
[15] (http://www.gpnt.net/diendan/newreply.php?do=newreply&noquote=1&p=317#_ftnref3) GL, đđ. 1083-1090.
[16] (http://www.gpnt.net/diendan/newreply.php?do=newreply&noquote=1&p=317#_ftnref4) Những người đàn ông đã cưới vợ có thể được lãnh chức phó tế vĩnh viễn. Nếu người vợ của phó tế qua đời, dù thế nào đi nữa thì vị ấy không còn thong dong để tái hôn.
[17] (http://www.gpnt.net/diendan/newreply.php?do=newreply&noquote=1&p=317#_ftnref5) GL, đ. 1108.
[18] (http://www.gpnt.net/diendan/editpost.php#_ftnref1) GL, đđ. 1095, 1102, 1103.
Về Mục Lục (http://www.gpnt.net/diendan/showthread.php?t=166)
admin
08-02-2006, 12:53 PM
6. Không đồng thuận với những lời hứa này nghĩa là sao?
Không đồng thuận bao hàm một hành vi cụ thể của ý định trái ngược với bất cứ một trong ba lời hứa. Có nghĩa là lúc họ tuyên hứa, khi môi miệng họ nói “tôi hứa”, thì ý định của họ nói “tôi không hứa”. Điều này cần phải được phân biệt với sự nhẹ dạ, những thắc mắc, và ngay cả những nghi vấn nho nhỏ. Những điều này rất là bình thường và không cần phải phải nêu ra trong việc tra vấn sự thành thật ưng thuận của một người. Xem xét từng lời hứa một sẽ giúp chúng ta hiểu những điều mà những đôi tân hôn phải ưng thuận.
Chung thuỷ. Ngay tự bản chất, hôn nhân đòi hỏi sự trung tín của trái tim, tâm trí, và hành động với một và chỉ một người phối ngẫu của mình. Nếu cô dâu và chú rể không cam kết với nhau chung thuỷ như thế, họ vẫn chưa dấn thân vào hôn nhân. Chẳng hạn, không có chuyện một “hôn nhân mở rộng”. Nguyên cái cụm từ thôi đã tự mâu thuẫn rồi. Tuy nhiên, điều quan trọng cần phải làm cho sáng tỏ là những sai lỗi về sau trong phạm vi này, tự chúng, không vô hiệu hoá hôn nhân nếu cả hai vợ chồng đều thành tâm cam kết chung thuỷ lúc nói lời ưng thuận.
Bất khả phân ly. Hôn nhân thiết lập một dây liên kết suốt đời và bền vững giữa người vợ và người chồng. Nếu đây không phải là điều cô dâu và chú rể định tâm thiết lập, thì họ không có ý định thiết lập một hôn nhân. Hôn nhân một là trọn vẹn hay không là gì cả. Có nghĩa là không có chuyện “hôn nhân thử nghiệm”, hôn nhân mà người đàn ông và người đàn bà “chỉ xem thử” coi nó có hợp hay không. Cũng giống như “hôn nhân mở rộng”, cái cụm từ “hôn nhân thử nghiệm” cũng tự mâu thuẫn. Khi một hôn nhân thành sự đã hoàn hợp, thì chỉ có cái chết mới cắt đứt được mối dây liên kết mà Thiên Chúa thiết lập giữa người vợ và người chồng.
Đón nhận con cái. Con cái trực tiếp phát sinh từ bản chất của tình yêu vợ chồng tới mức nếu một đôi nam nữ tuyệt đối không có ý định muốn có con cái và nhất quyết loại chúng ra khỏi mối tương quan của họ, thì mối tương quan giữa họ không phải là hôn nhân. “Hôn nhân tự nguyện không con cái”, càng ngày càng thịnh hành hiện nay, cũng là tự mâu thuẫn.
Về Mục Lục (http://www.gpnt.net/diendan/showthread.php?t=166)http://gpnt.net/images/arrow_dyn.gif
admin
10-02-2006, 04:45 AM
7. Nếu một đôi nam nữ nghĩ là họ sẽ không thể làm cha mẹ tốt thì Giáo hội không cho phép họ cưới nhau sao?
Không phải là Giáo hội không “cho phép” họ cưới nhau. Đúng hơn là đôi đó thực ra không muốn thành vợ chồng với nhau. Họ muốn quan hệ tính dục với nhau mà cố ý loại trừ con cái, và điều này được thừa nhận là họ sẽ làm điều đó bằng cách cố tình tránh thụ thai trong những hành vi giao hợp của họ. Mối quan hệ này có là gì đi nữa, vẫn không phải là hôn nhân.
Hôn nhân, theo như một phần định nghĩa của nó, là một tương quan tính dục trong đó đôi vợ chồng sẵn sàng đón nhận con cái mà Thiên Chúa sẽ ban cho họ. Đôi vợ chồng cam kết với nhau là sẽ không bao giờ cố tình dùng các phương pháp ngừa thai nhân tạo khi giao hợp. Nếu họ mãi từ chối giao hợp không ngừa thai (nghĩa là, giao hợp sẵn sàng đón nhận con cái), thì họ không muốn dấn thân vào hôn nhân. Điều này giải thích phải hiểu thế nào về việc cố ý chống lại thiện ích con cái.
Nếu chúng ta thực sự hiểu cam kết hôn nhân là gì, thì những người nghĩ rằng họ không thể làm cha mẹ tốt cũng phải thú nhận là họ sẽ không trở thành vợ chồng tốt được. Cái tình yêu quên mình cần phải có để trở thành người mẹ hoặc người cha tốt cũng tương tự như tình yêu cần phải có để trở thành người chồng hoặc người vợ tốt. Điều này đôi khi khó hiểu đối với những người được sinh trưởng ở những nước tân tiến. Cái “não trạng ngừa thai” đang phổ biến rộng rãi đã làm cho những người sống trong nền văn hoá này có ảo giác rằng con cái là thứ dư thừa, “thêm thắt” tuỳ ý vào mối tương quan tính dục hiện tại. Nhưng một não trạng như thế thì thật là trái ngược với cái nhìn đức tin Công giáo.
Về Mục Lục (http://www.gpnt.net/diendan/showthread.php?t=166)http://gpnt.net/images/arrow_dyn.gif
admin
10-02-2006, 04:47 AM
8. Nếu một cặp vợ chồng không thể có con cái thì sao?
Hôn nhân vẫn duy trì những thiện ích cố hữu của nó ngay cả khi không có con cái với điều kiện là con cái không bị chủ ý loại bỏ. Do đó, tự nhiên không có con không phải là một ngăn trở cho hôn nhân.
Tình trạng này thường bị lẫn lộn với ngăn trở vì bất lực. Không thể có con cái không phải là ngăn trở bất lực. Bất lực là ngăn trở là khi họ không thể giao hợp được. Con cái có hay không có từ sự giao hợp là do Thiên Chúa. Nếu Người không ban con cái cho sự kết hợp của đôi vợ chồng này, thì hôn nhân của họ cũng không vì thế mà không thành sự.
http://gpnt.net/images/arrow_dyn.gif
admin
14-11-2006, 08:09 PM
9. Những người bất lực bị ngăn trở đến Bí Tích Hôn nhân. Tôi không thể tưởng được sao Giáo Hội lại nhẫn tâm vậy. Tính dục đâu phải là tất cả trong hôn nhân.
Trong các ngăn trở hôn nhân, có lẽ đây là ngăn trở xem ra làm người ta khó chịu nhất. Do đó cũng đáng dành ra chút thời gian để giải thích điều này.
Vâng, tính dục không phải là tất cả trong hôn nhân. Nhưng tính dục lại thật thiết yếu cho bản chất hôn nhân đến nỗi nếu động tác giao hợp hoàn toàn vĩnh viễn không thể thực hiện được thì không bao giờ có được hôn nhân. Nói cho rõ, phải là bất lực hoàn toàn và vĩnh viễn. Chúng ta phải nhận rằng điều này thật là hoạ hiếm.
Phải cẩn thận đừng để cho tình thương cảm che mờ lý trí. Ví dụ, khi nghe nói về ngăn trở này, người ta thường liên tưởng đến những đau khổ mà các thương binh do chiến tranh không còn thực hiện tính dục được. Đúng thật, đây là hoàn cảnh thật đau buồn đáng chúng ta cảm thương.
Nhưng điều đó không thể thay đổi được sự thật khách quan của vấn đề. Chẳng hạn, cảm thương cho những người mù không thể dẫn đến việc cấp bằng lái xe cho họ. Đúng là một hoàn cảnh thật xót xa, nhưng người mù không thể nào thực hiện được những đòi hỏi của việc lái xe. Cũng vậy người hoàn toàn bất lực không thể nào đáp ứng được những đòi hỏi của hôn nhân. Chính Chúa Giêsu cũng xác nhận điều này khi nói về cái bất khả kết hôn của các "hoạn nhân" (những người không thể có hành vi tính dục được) (xem Mt 19,12 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Mt%2019:12&FontSize=Txt10)).
Ngăn trở này không vô lý nhưng trái lại thực sự rất tinh tế. Các bạn hãy nghĩ xem. Thực chất là gì khi một người nam và một người nữ cam kết chia sẻ cuộc sống cho nhau đến nỗi biến quan hệ giữa họ trở nên quan hệ hôn nhân chứ không còn chỉ thuần là quan hệ bạn bè thân thiết? Có ý nghĩa gì khi người chồng và người vợ chia sẻ cuộc sống cho nhau thật đơn nhất (độc đáo) và sâu xa tự bên trong mối quan hệ của họ đến nỗi sẽ là một sự xúc phạm đến ý nghĩa đích thực của hôn nhân này nếu họ chia sẻ cho người nào khác?
Vậy thì điều gì thực sự làm cho hôn nhân trở thành sự liên kết “mật thiết, đơn nhất, và không thể thay thế trong đời sống của người chồng và người vợ vì thiện ích của chính họ và vì sự sinh sản và giáo dục con cái”? – Thưa, chính là việc giao hợp tính dục. Giao hợp tính dục là yếu tố quyết định của tình yêu vợ chồng. Điều này không có nghĩa là hôn nhân bị giản lược chỉ còn là việc giao hợp tính dục (cũng không khác gì việc lái xe lại bị giản lược hoàn toàn vào thị giác). Nhưng nếu không có khả năng này thì bạn không thể có hôn nhân được.
Chúng ta phải nhận ra được ảnh hưởng của trào lưu văn hoá hiện hành trên những khó khăn mà người ta gặp phải liên quan đến ngăn trở này. Cuộc cách mạng tính dục đã tháo cởi tính dục ra khỏi những ràng buộc tâm lý và xã hội. Vì thế đối với não trạng đặc trưng thời nay, tính dục không còn biểu hiện sự hiến thân của hôn nhân, mà chỉ biểu hiện một thứ thèm khát khoái lạc và thân mật mơ hồ nào đó, hoặc tệ hơn, biểu hiện sự đòi hỏi thoả mãn ích kỷ.
Những giả định sau đây thật sai lạc: Dĩ nhiên, những người đã kết hôn có quan hệ tính dục, nhưng nhiều người khác cũng làm như vậy mà chẳng có gì là sai quấy, đúng không? Như vậy, nếu một đôi bạn vì lý do nào đó không thể có hành vi tính dục với nhau thì có gì liên quan tới chuyện họ muốn kết hôn với nhau? Xin thưa, trên quan điểm của não trạng ngày nay thì không có dính dáng gì. Nhưng trên quan điểm ý nghĩa đích thực của tính dục, thì chúng phải có liên quan trực tiếp mật thiết với nhau đến nỗi điều đó khiến cho hôn nhân không thể nào có được.
Một chút ẩn dụ ở đây có thể giúp làm sáng rõ vấn đề. Bạn không thể giản lược bánh độn sô cô la thành các miếng kẹo sô cô la, nhưng không có các miếng sô cô la thì bạn chẳng có được những cái bánh độn sô cô la. Các miếng sô cô la trong bánh xác định loại bánh. Có các loại bánh khác, nhưng nếu không có những mẩu sô cô la bên trong, thì thành thật mà nói không thể gọi là bánh độn sô cô la được.
Cũng vậy, nếu không có khả năng giao hợp tính dục, thành thật mà nói bạn không thể gọi tình yêu nam nữ chia sẻ cho nhau là "hôn nhân" được. Đó không có nghĩa là họ không có khả năng yêu thương mà chỉ có nghĩa là họ không có khả năng thực hiện được thứ tình yêu đặc loại gọi là tình yêu vợ chồng.
Có nhiều thứ tình yêu, cũng giống như có nhiều thứ bánh. Hai người có thể rất muốn làm cái bánh độn sô cô la, nhưng nếu vì một chút kém may mắn họ không thể có được những miếng sô cô la, thì trên thực tế họ không thể làm được những chiếc bánh độn sô cô la. Họ sẽ phải làm ra những thứ bánh khác thôi.
Đi xa thêm chút nữa từ lối loại suy bình dân này : nếu vì bất hạnh nào đó mà một đôi bạn dứt khoát và vĩnh viễn không thể bày tỏ yếu tố quyết định của hôn nhân, thì thực tế tình yêu của họ (dù có thể là một tình yêu tuyệt đẹp, dài lâu và thâm sâu) không thể trở thành tình yêu duy nhất và biệt loại để làm nên hôn nhân. Dù có bao nhiêu tình cảm và cảm thông riêng tư cho những tình huống riêng tư - những tình cảm như thế là điều có thể hiểu được - cũng không có thể thay đổi được thực tại này.
Về Mục Lục (http://www.gpnt.net/diendan/showthread.php?t=166)
admin
23-05-2009, 08:32 PM
10. Hôn nhân chỉ như là một sự kết hợp tinh thần hơn là thể lý. Vậy khi các đôi bạn không thể giao hợp tính dục thì có sao đâu nào?
Điều này chắc chắn là đúng, nhưng hai thực tại (thể lý và tinh thần) không thể tách rời được. Làm thế là thực sự rơi vào một lạc giáo lâu đời trong Giáo Hội thường được gọi là nhị nguyên thuyết. Thuyết nhị nguyên thực hiện một cuộc li dị nơi bản tính con người: thể xác và tinh thần. Nhưng hữu thể con người là một hôn nhân bất khả phân ly giữa xác thịt và tinh thần, thân xác và linh hồn. Chúng ta không phải là con người "ở trong" một thân xác để có thể bị pha chế. chúng ta là con người có thân xác. Có nghĩa là thực tại tinh thần xét như là hữu thể con người được bày tỏ qua thân xác chúng ta như là nam hoặc nữ.
Hai nguyên lý tinh thần và thể xác trong chúng ta đã kết hợp chặt chẽ đến nỗi chỉ có cái chết mới có thể tách lìa được. Và ngay cả sau khi chết, linh hồn ở trong một tình trạng không tự nhiên cho đến khi nào được tái kết hợp với thân xác sống lại khi Chúa Kitô đến lần thứ hai. Chỉ lúc ấy linh hồn trên trời mới trở thành, một lần nữa, con người toàn vẹn như là con người có thân xác (giống như Chúa Kitô và Mẹ Rất Thánh của Người hiện nay đang ở trên trời cả hồn lẫn xác).
Vì sự hợp nhất giữa tinh thần và thể lý của ngôi vị con người rất sâu xa, thẳng thắn mà nói thì thật là sai lầm khi phân biệt rạch ròi giữa tình yêu “thể lý” và tình yêu “tinh thần” nơi con người. Những gì thân xác chúng ta làm, là chúng ta đã làm cùng với linh hồn, và những gì linh hồn chúng ta làm, thì chỉ có thể làm được qua sự hiện hữu của chúng ta như là những con người có thể xác. Tình yêu con người được biểu lộ thông qua thân xác con người.
Chính những cảm xúc (không phải vì thế chúng ta có thể hạ giảm tình yêu thành một thứ cảm xúc) được thông đạt cho chúng ta qua thân xác. Thậm chí chúng ta không thể cầu nguyện, nếu không có thân xác. Như Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã nói, mọi nỗ lực phá vỡ sự hợp nhất hồn-xác của con người chính là “tấn công vào chính công trình sáng tạo của Thiên Chúa ở mức độ tương tác sâu xa nhất giữa bản tính và nhân vị.” [19]
Sự hợp nhất sâu xa giữa tinh thần và thể lý của bản tính nhân loại cũng là nguyên tắc cơ bản của đời sống bí tích trong Giáo Hội - kể cả bí tích hôn nhân. Vì ngay cả Thiên Chúa, Ngài là Tinh Thần Thuần Tuý, để biểu lộ tình yêu của Ngài cho con người cũng phải nhờ qua một thân xác: “Và Ngôi Lời đã trở thành Xác Phàm” (Ga 1,14). Tất cả các bí tích đều là thực tại mang thân xác, có tính chất thể lý.
Chính qua thân xác và trong thân xác mà đôi vợ chồng biểu lộ được tình yêu hợp nhất với bí tích hôn nhân. Sự kết hợp “một xương một thịt” của họ (hay ít ra là khả năng làm việc đó) không thể thiếu được trong bí tích hôn nhân cũng như bánh-rượu đối với bí tích Thánh Thể hay nước đối với bí tích Rửa Tội. Chính trong và qua những thực tại thể lý này mà những thực tại siêu nhiên trong từng bí tích được thông truyền. Nếu không có những thực tại thể lý của bí tích, thì thực là chẳng có bí tích nào hết.
-----
[19] Familiaris, số 32.
http://gpnt.net/images/arrow_dyn.gif
http://gpnt.net/images/arrow_dyn.gifhttp://gpnt.net/images/arrow_dyn.gif
Về Mục Lục (http://www.gpnt.net/diendan/showthread.php?t=166)
admin
09-06-2009, 07:55 PM
11. Cha mẹ tôi kết hôn hơn 25 năm rồi, đã có 5 người con, thế mà hai ông bà lại được Giáo Hội ban phép tiêu hôn. Sau một thời gian rất dài như thế, làm sao Giáo Hội có thể đột nhiên phán quyết rằng hôn nhân của cha mẹ tôi đã không bao giờ tồn tại? Phán quyết như thế đã chẳng biến tôi thành đứa “con bất hợp pháp” hay sao?
Trước tiên, cần làm rõ ý nghĩa “tính hợp pháp”. Đây là một từ ngữ được các hệ thống luật pháp khác nhau sử dụng để xác định người cha của đứa bé (thường thì vấn đề ai là mẹ của đứa trẻ thì quá rõ). Tuy nhiên, dưới cái nhìn đức tin, Thiên Chúa là Cha của tất cả chúng ta, vì thế việc thụ thai trong bất cứ trường hợp nào, trước mắt Thiên Chúa và Giáo Hội, không có chuyện người con “bất hợp pháp”.
Vậy thì việc tiêu hôn không làm cho con cái từ mối quan hệ ấy trở nên bất hợp pháp. Đây là một ngộ nhận cần được minh giải dứt khoát. Hơn nữa, việc Giáo hội tuyên bố tiêu hôn không ảnh hưởng đến tình trạng nhìn nhận hợp pháp về quyền làm cha của đứa trẻ. Nói theo ngôn ngữ pháp luật, những người con ấy vẫn là con cái “hợp pháp”.
Tuyên bố tiêu hôn không hề và không thể xoá bỏ mối quan hệ của cha mẹ bạn với bạn. Rõ ràng là cha mẹ bạn đã sống với nhau nhiều năm. Đã có những lúc vui, những lúc buồn, đã phải mang nặng đẻ đau, cưu mang dưỡng dục con cái. Không có việc nào trong những việc này bị “xoá bỏ”. Chắc chắn khó mà giải đáp rốt ráo, chỉ chắc một điều là vào lúc lễ cưới, đã có một điều gì đó cản trở cha mẹ bạn bước vào hôn nhân một cách thành sự. Nhưng ở đây, một lần nữa, đừng để tình cảm che mờ lý trí lành mạnh.
Lý trí lành mạnh nhận thức rằng, hôn nhân không phải chỉ là một cái gì đó xảy ra cho các cặp vợ chồng bằng cách làm theo các cử chỉ hành động trong lễ cưới. Có một số điều gì đó - nhiều điều – có thể cản trở các cặp vợ chồng bước vào hôn nhân thành sự.
Dù rằng đa số hôn nhân bất thành sự được xác định là bất thành sự ngay trong những năm đầu chung sống, nhưng không phải không thể có việc một cặp vợ chồng đã sống với nhau nhiều năm và gầy dựng được một gia đình, rồi sau này nhờ toà án điều tra kỹ lưỡng, khám phá ra rằng hôn nhân của họ đã không thành sự.
Con cái của những cuộc hôn nhân đã được Giáo Hội tuyên bố tiêu hôn không bao giờ được thất vọng. Chính bản tính trọn hảo của Thiên Chúa sẽ đem lại sự thiện hảo ra từ mọi hoàn cảnh. Thực vậy, những người con trong hoàn cảnh như thế có lẽ lại là sự thiện hảo cao cả nhất Thiên Chúa đã mang lại từ những cuộc hôn nhân mà sau này được chứng minh là không thành sự.
Về Mục Lục (http://www.gpnt.net/diendan/showthread.php?t=166)
admin
28-06-2009, 11:00 AM
12. Chị tôi muốn kết hôn với một người Tin lành đã ly hôn, nhưng linh mục của giáo xứ chị tôi bảo rằng anh ấy cần xin tiêu hôn, và nếu anh ấy không xin được tiêu hôn, hai người không thể kết hôn. Tại sao Giáo Hội lại bắt cả những người Tin Lành phải qua toà án tiêu hôn?
- Vì chỉ có người Công giáo mới bị buộc tuân giữ nghi thức hôn nhân Công giáo. Giáo Hội thừa nhận những hôn nhân của tất cả những người không công giáo và khẳng định rằng đó là những hôn nhân thành sự trừ phi đuợc chứng minh ngược lại. Thậm chí Giáo Hội còn thừa nhận hôn nhân của hai người Tin lành là một nhiệm tích mặc dù chính họ không tin hôn nhân của họ là một nhiệm tích, và mặc dù hôn lễ được cử hành trước sự hiện diện của một thẩm phán Toà Hoà Giải. Vì vậy chị của bạn không thể cưới một người đàn ông đã kết hôn thành sự.
Theo như chính Đức Kitô đã nói, làm thế là phạm tội ngoại tình (x. Lc 16,18). Ly hôn dân sự cũng không bao giờ thay đổi tình trạng hôn nhân của một người, dù là người công giáo hay là không.
Tuy nhiên, nếu chị của bạn và anh ấy tiếp tục theo đuổi vấn đề, thì anh ấy có quyền tự do nạp đơn xin tiêu hôn để xem hôn nhân thứ nhất của anh ấy có thành sự hay không. Nếu được xác minh hôn nhân đó đã không thành sự, chị của bạn lúc đó có quyền cưới anh ấy. (Nên biết, ở Mỹ, gần 20 % án lệ tiêu hôn hiện nay có liên hệ với những người không công giáo).
Nhưng hãy nhớ rằng tiêu hôn không bao giờ là điều chắc chắn. Người ta phải chứng minh với mức độ chắc chắn về luân lý rằng vào ngày cưới có một khiếm khuyết hay thiếu sót nào đó ngăn cản đôi bạn bước vào hôn nhân một cách thành sự. Thật là sai lầm khi chị của bạn cứ quyết định kết hôn với người ấy mà không cần và không chờ cho tới khi người ấy được được tuyên bố tiêu hôn.
Về Mục Lục (http://www.gpnt.net/diendan/showthread.php?t=166)
admin
28-06-2009, 05:13 PM
13. Tại sao Giáo Hội không chịu thức thời mà cứ chấp nhận những hôn nhân không còn gắn kết?
Mọi người, kể cả Giáo Hội, đều nhận thấy rõ ràng là có những hôn nhân "không còn gắn kết". Như đã đề cập đến trước đây, trong những trường hợp nghiêm trọng Giáo Hội còn khuyến khích việc "ly thân". Nhưng điều này khác xa việc chấp nhận cho li dị.
Giáo Hội luôn bảo vệ tính bền vững của hôn nhân dù rằng người ta khó đánh giá cao được tầm quan trọng của nó. Lịch sử kể lại chuyện nhiều quốc gia đã kéo cả nước ly khai khỏi Giáo Hội Công Giáo vì bất đồng quan điểm này.
Tại sao Giáo Hội lại cứng rắn như thế? Bởi vì hôn nhân là nơi tình người và tình Chúa "giao duyên". Giảm bớt cách nào đó sự bền vững của tình yêu hôn nhân là làm hạ giảm sự vững bền của tình yêu Thiên Chúa. Vì là bí tích, hôn nhân là sự thông phần thật sự vào tình yêu Chúa Kitô dành cho Hiền Thê của Ngài là Giáo Hội.
Nếu chúng ta thực sự hiểu như thế, thì chấp nhận li dị tức là cũng nói thẳng tuột luôn rằng Chúa Kitô đã rẫy bỏ Giáo Hội. Chuyện đó không thể nào xảy ra được! Chúa Kitô sẽ không bao giờ và mãi chẳng bao giờ lìa bỏ Hiền Thê của Ngài. Thế mà đây lại là chuyện đang bị ngăm đe.
Nhưng chúng ta không phải là Thiên Chúa, người ta bảo. Làm sao chúng ta có thể yêu như Chúa Kitô được?
Tự sức mình chúng ta không thể. Nhưng "đối với Thiên Chúa mọi sự đều có thể" (Mt 19,26). Thật không ngẫu nhiên chút nào khi những lời này trong Tin Mừng Matthêu đã xuất hiện ngay sau khi Chúa Kitô giảng về tính bền vững của hôn nhân (x Mt 19,1-11). Khi các môn đệ Chúa Kitô nghe thấy những đòi buộc của tính bền chặt của hôn nhân, các ông nghĩ rằng tốt hơn là đừng nên lấy vợ (x. Mt 19,10). Chúa Giêsu trả lời, "không phải tất cả mọi người đều có thể lãnh hội được điều này, nhưng chỉ những ai được cho hiểu mới hiểu được" (x. Mt 19,11).
Vậy thì lời dạy về sự bền chặt của hôn nhân được ban cho ai? Cho những người nam và nữ đang sống nô lệ cho sự yếu nhược của mình chăng? Thưa không, nhưng là cho những người đã được ban cho năng quyền yêu thương như Chúa Kitô nhờ Chúa Thánh Thần !
Đây chính là tin vui của Phúc Âm. Tình yêu của chúa Kitô đã đổ vào lòng chúng ta nhờ Chúa Thánh Thần (x. Rm 5,5). Điều này có nghĩa là chồng và vợ có thể yêu thương nhau như Chúa Kitô yêu thương.
Điều đưa ra ngăm đe sự bền vững của hôn nhân thật sự là một vấn nạn về đức tin. Chúng ta tin vào tin mừng của Phúc Âm, hay là không tin ? Chúng ta tin chúng ta có thể yêu thương nhau như Chúa Kitô yêu, hay là không tin?
Chấp nhận được phép li dị là tuyên bố rằng Chúa Kitô không thể giải thoát chúng ta khỏi tội được. Thật khốn cho Giáo Hội nếu Giáo Hội đã từng tuyên bố như thế. Sự bền vững của hôn nhân là một thực tại khách quan mà Giáo Hội phải làm chứng nếu Giáo Hội đang nói sự thật.
Về Mục Lục (http://www.gpnt.net/diendan/showthread.php?t=166)
admin
30-06-2009, 08:14 PM
14. Có phải Chúa Giêsu cũng đã nói có thể chấp nhận li dị được trong trường hợp ngoại tình ?
Lời này thường được viện dẫn như "luật trừ". Trong Matthêu 5,32 và 19,9, Chúa Giêsu cấm không được li dị ngoại trừ trường hợp "porneia". Từ Hy lạp này đôi khi được dịch là "dâm bôn", "gian dâm", "vô liêm sĩ" hoặc - kém chính xác hơn - là "ngoại tình". Nhiều học giả Kinh Thánh tin rằng điều ngoại lệ này có ý nói tới những hôn nhân thực ra không phải là hôn nhân bởi vì vướng trong luật cấm về họ máu (xem Lv 18,6-16). Do đó thiết nghĩ rằng những Kitô hữu nào cảm thấy mình ở trong những quan hệ loạn luân này có thể được "li dị".
Trường hợp ngoại trừ này không thấy có trong các câu song song trong Luca 16,18 hoặc Máccô 10,11-12. Thư thứ nhất Corintô 7,10-11 cũng trình bày luật cấm li dị như lệnh truyền dứt khoát của Chúa cho những kẻ theo Ngài. Đây chính là đường hướng mà Giáo Hội, như là thẩm quyền do Chúa Kitô thiết đặt để nói về những vấn đề như thế, đã luôn hiểu như vậy.
Thật chẳng có nghĩa lý gì khi Chúa Kitô dạy rằng người ta được phép li dị nếu một trong hai người phối ngẫu phạm tội ngoại tình. Vậy nếu một người muốn li dị, thì việc cần làm là cứ ra khỏi nhà rồi ngoại tình là xong. Cách chú giải phổ biến về porneia (hôn nhân vướng ngăn trở) đáng tin cậy hơn nhiều.
Về Mục Lục (http://www.gpnt.net/diendan/showthread.php?t=166)
admin
01-07-2009, 05:39 PM
15. Anh tôi là một người công giáo tốt, yêu vợ mới của anh và yêu Chúa. Nhưng vì anh không được phép huỷ tiêu hôn nhân trước, anh không được rước lễ. Anh cảm thấy bị Giáo Hội bỏ rơi và không ngó ngàng tới. Tại sao Giáo Hội lại quá khắt khe và vô cảm về việc này? Các giáo hội khác đón nhận người ta bất kỳ họ như thế nào.
Tình yêu Chúa Kitô rộng đón tất cả mọi người. Nếu Giáo Hội không bày tỏ cho các thành viên của mình thấy được tình yêu của Chúa Kitô, thì quả thật Giáo Hội đã thất bại. Do đó, chúng ta cũng phải thú nhận rằng, nếu Giáo Hội không rèn luyện các thành viên của mình sống tình yêu của Chúa Kitô, thì quả thật Giáo Hội đã thất bại.
Ở đây có một định hướng nào đó. Tình yêu Chúa Kitô rộng đón vô điều kiện những kẻ tội lỗi, nhưng trong tình yêu dành cho chúng ta ngài không đồng loã với tội lỗi của chúng ta. Chẳng hạn như trong câu chuyện người phụ nữ bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình, ngài không kết án chúng ta. Nhưng ngài mời gọi chúng ta đừng phạm tội nữa (x. Ga 8,10-11).
Rộng đón một con người không bao giờ có nghĩa là tán thành những lựa chọn sai lầm cách khách quan của người ấy. Chúa Kitô dạy: "Ai li dị vợ mình và cưới người khác thì phạm tội ngoại tình" (Mc 10,11). Do đó, nếu hôn nhân ("đầu tiên") của anh bạn đã thành sự, thì giờ đây khi sống quan hệ tính dục với người nào khác, anh ấy đang thực sự phạm tội ngoại tình phản bội người vợ ("đầu tiên").
Chúa Kitô, Tân Lang thiên quốc của chúng ta, tỏ cho chúng ta thấy ý nghĩa của sự kết hợp tính dục bằng cách tặng ban cho chúng ta (Hiền Thê của ngài) món quà bất diệt trên thập giá là chính thân xác ngài, mà chúng ta đón nhận cách bí tích nơi Thánh Thể. Sự kết hợp tính dục giữa người chồng và người vợ thông phần vào sự tự hiến Thánh Thể của Chúa Kitô. Tuy nhiên sự kết hợp tính dục của hai người không kết hôn là một đối nghịch trực tiếp với tình yêu Thánh Thể của Chúa Kitô. Điều này càng tệ hơn nữa khi một hay cả hai người đã lập gia đình.
Vì lý do này, một người Công giáo cứ dấn mình giao hợp với một ai đó, trong khi trên thực tế mình đã kết hôn với một người khác, thì không thể rước Mình Thánh Chúa. Khách quan mà nói, con người như thế đang sống chống nghịch cách trực tiếp với những gì Bí Tích Thánh Thể muốn diễn tả. Trong Bí tích Thánh Thể chúng ta hoàn hợp hôn nhân của chúng ta với Chúa Kitô. Ở đó, Chúa Kitô tự hiến mình hoàn toàn cho chúng ta, và chúng ta trao hiến chính mình chúng ta cách trọn vẹn cho ngài, đoan thệ hoàn toàn tín trung với ngài. Nếu chúng ta không cương quyết trung thành với giáo huấn của Chúa Kitô, thì rước Mình Thánh chúa chỉ là việc giả hình.
Rất cần phân biệt ở đây giữa việc cố tình duy trì trong "tình trạng tội lỗi" khách quan và việc chiến đấu chống lại tội lỗi. Để trung thành với Chúa thật cam go. Đối với tất cả mọi người đây là một trận chiến.
Thật vô nghĩa khi Bí tích Thánh Thể chỉ dành riêng cho người "hoàn hảo". Nếu thế, không ai có thể được lên rước lễ. Nhưng ít ra là, bằng việc rước Mình Thánh Chúa chúng ta thưa với Chúa Kitô rằng chúng ta muốn đấu tranh để sống theo thánh ý ngài, chống lại tất cả những gì đối nghịch với ý Chúa.
Phải chăng rồi có lúc chúng ta cũng sẽ thất bại? Chắc chắn rồi. Thân phận con người sa ngã là như thế đó. Và đó cũng là lý do mà Chúa đã yêu thương dự phòng cho chúng ta Bí tích Hoà Giải.
Về Mục Lục (http://www.gpnt.net/diendan/showthread.php?t=166)
admin
02-07-2009, 10:39 PM
16. Cứ mỗi lần nghe đọc đoạn Kinh Thánh: "Hỡi những người vợ, hãy phục tùng chồng mình", là tóc gáy tôi dựng đứng lên. Sao tôi có thể nghe lọt tai được những gì Kinh Thánh nói về hôn nhân khi mà người phụ nữ bị Kinh Thánh hạ thấp như thế ?
Câu Kinh Thánh bạn nêu ra trích từ Thư gởi cho tín hữu Êphêsô 5,22. Nếu câu ấy làm tóc gáy bạn dựng đứng, thì tôi muốn xác định câu trả lời của bạn. Tại sao? Bởi vì có lẽ bạn tưởng rằng câu ấy có nghĩa đại khái như: "Các bà vợ chỉ là những người giúp việc nhà, tuyệt đối tùng phục mệnh lệnh của các ông chồng". Nếu đó đúng là điều bạn hiểu, thì chuyện tóc gáy bạn không dựng đứng lên khi nghe điều ấy mới là điều đáng quan tâm.
Tuy nhiên, đó không phải là ý nghĩa mà câu Kinh Thánh muốn nói. Khi chúng ta đặt câu này vào trong văn mạch của cả đoạn (Ep ,21-33), thì văn mạch sẽ cho thấy ngay lời giải thích chuẩn mực. Thực đáng tiếc, ngay khi người ta vừa nghe chỉ một câu này thôi đã đánh giá sai lạc những giáo huấn còn lại của Thánh Phaolô.
Mặc dù chúng ta phải thú nhận rằng nhiều người nam trong giòng lịch sử đã nại vào câu Kinh Thánh này để bào chữa cho dục vọng sai lầm của họ là đòi thống trị phụ nữ, Thánh Phaolô không bào chữa chút nào cho thái độ như thế. Ngài biết đó chính là hậu quả của tội lỗi (xem St 3,16), mà cũng là lý do ngài muốn qua bản văn này phục hồi thực sự kế hoạch từ nguyên thuỷ của Thiên Chúa trước khi con người phạm tội. Ngài làm như thế bằng cách chỉ cho thấy trước hết và trên hết hôn nhân là gì. Ý nghĩa của nó chính là hình ảnh của hôn nhân giữa Chúa Kitô và Hội Thánh. Thánh Phaolô chỉ rút ra ứng dụng từ cách loại suy này.
Ngài bắt đầu bằng cách kêu gọi cả hai vợ chồng hãy tùng phục lẫn nhau, "vì lòng kính trọng Chúa Kitô" (c.21) - vì lòng kính trọng "mầu nhiệm cao cả" mà đôi vợ chồng thông dự vào bằng việc trở nên hình ảnh của Chúa Kitô kết hợp với Giáo Hội. Theo cách loại suy, người chồng tượng trưng cho Chúa Kitô và người vợ tượng trưng cho Giáo Hội. Do đó, ngài dạy, cũng như Giáo Hội tùng phục Chúa Kitô như thế nào, thì người vợ cũng phục tùng chồng mình như thế (xem c.24).
Trong tiếng Anh, có người dùng từ "submission" để dịch ý này. Tôi muốn giải thích từ này như sau. "Sub" có nghĩa "dưới", và "mission" nghĩa là "được cử đi với đầy đủ quyền hành để thực hiện một nhiệm vụ đặc biệt". Vậy thì, các bà vợ được kêu gọi hãy tự đặt mình "dưới" "sứ mạng" của các ông chồng.
Sứ mạng của người chồng là gì? "Hỡi những người chồng, hãy yêu vợ mình như Chúa Kitô yêu thương và đã hiến mình vì Hội Thánh" (c.25). Chúa Kitô đã yêu Hội Thánh như thế nào? Ngài chết cho Hội Thánh. Chúa Kitô nói ngài đến "không phải để được phục vụ nhưng để phục vụ", và hiến dâng mạng sống mình cho Tân nương (Mt 20,28). Vậy thì, người vợ "submit" ("đặt mình dưới sứ mạng") của người chồng phải hiểu như thế nào? Phải hiểu như vầy: Hãy để cho chồng bạn phục vụ bạn. Hãy đặt mình dưới sứ mạng (của chồng mình) là yêu bạn như Chúa Kitô yêu Hội Thánh. Đức Gioan Phaolô II cũng đã nói: "Submission" ("sự tùng phục") của vợ đối với chồng được hiểu trong toàn văn mạch của thư gởi tín hữu Êphêsô, có ý nghĩa trước hết là "sự trải nghiệm của tình yêu". Điều này càng đúng thật hơn thế nữa bởi vì "sự tùng phục" này liên quan đến hình ảnh sự tùng phục của Hội Thánh với Chúa Kitô, mà chắc chắn là ở chỗ trải nghiệm tình yêu thương của ngài".[20]
Người phụ nữ nào lại không muốn đón nhận kiểu tình yêu này từ người chồng của mình? Người phụ nữ nào lại không muốn tùng phục chồng mình nếu ông ấy thật sự nhận lãnh cách nghiêm túc sứ mạng yêu thương vợ mình như Chúa Kitô yêu thương Hội Thánh? Thông thường thì các ông chồng muốn vợ mình thuộc nằm lòng câu Kinh Thánh này. Nhưng tôi thiết nghĩ chính đàn ông chúng ta mới cần thuộc lòng câu Kinh Thánh này trước tiên.
-----
[20] THTX, 01/09/1982.
Về Mục Lục (http://www.gpnt.net/diendan/showthread.php?t=166)
admin
02-07-2009, 10:45 PM
17. Có phải Chúa Giêsu nói rằng sau khi sống lại thì không còn hôn nhân nữa? Tại sao lại không còn? Thế có nghĩa là vợ chồng tôi không còn được sống chung với nhau trên thiên đàng à?
Trong chương 22 Tin mừng Matthêu (xem thêm Mc 12 và Lc 20), những người Biệt phái, một nhóm người Do thái không tin việc kẻ chết sống lại, đến gặp Chúa Giêsu có ý gài bẫy để Ngài cũng phủ nhận việc sống lại. Một người đàn ông có vợ, rồi chết đi. Để cho người anh quá cố có người nối dõi, một người em đã cưới người vợ goá đó, nhưng anh ta cũng chết. Xảy ra như vậy cho đến người em thứ bảy, tất cả đều lần lượt cưới cùng một người phụ nữ ấy. Cuối cùng những người Biệt phái hỏi Chúa Giêsu rằng khi sống lại thì bà ấy là vợ của ai.
Chúa Giêsu trả lời, "Các ông lầm rồi, bởi vì các ông không hiểu biết Kinh Thánh cũng chẳng hiểu biết quyền năng Thiên Chúa. Vì khi sống lại, người ta không còn lấy vợ lấy chồng nữa" (cc. 29-30).
Đối với nhiều người lời này của Chúa Giêsu thật chua chát. Tại sao vậy? Bởi vì chúng ta không hiểu biết Kinh Thánh cũng chẳng hiểu biết quyền năng của Thiên Chúa. Nếu chúng ta đã hiểu biết rồi thì chúng ta phải vui mừng vì những lời này. Lời tuyên bố của Chúa Giêsu không phải làm mất giá trị của hôn nhân; đúng hơn, những lời ấy chỉ cho thấy mục đích và ý nghĩa tối hậu của bí tích tuyệt vời này.
Hôn nhân ở đời này được đặt định để chỉ đường cho chúng ta lên thiên đàng, nơi mà đến muôn ngàn đời chúng ta sẽ cử hành "hôn lễ của Chiên Con" (Mk 19,7), hôn lễ của Chúa Kitô và Hội Thánh. Đây chính là ước vọng sâu xa nhất của con tim nhân loại - được sống trong hạnh phúc vĩnh cữu kết hợp mật thiết với chính Thiên Chúa. Hôn nhân đời này có tuyệt vời đến đâu đi nữa cũng chỉ là một dấu chỉ, một sự nếm trước, một bí tích của niềm vui sẽ đến. Hôn nhân trần thế chỉ là sự chuẩn bị cho hôn nhân thiên quốc.
Cũng giống như thế đối với tất cả các bí tích khác. Các bí tích chuẩn bị chúng ta cho cuộc sống trên thiên đàng. Chứ trên thiên đàng thì không còn bí tích nào cả, bởi vì tất cả các bí tích đều sẽ đến lúc thăng hoa. Hữu thể con người sẽ không còn cần dấu hiệu chỉ dẫn đường lên thiên đàng một khi họ đã ở trên thiên đàng.
Bạn nghĩ xem, cũng giống như các bảng chỉ đường. Nếu nơi bạn đến là Denver, Colorado, một khi đã đến nơi rồi thì bạn đâu cần bảng chỉ đường đi đến đó nữa.
Bạn có được sống với chồng/vợ bạn trên trời không? Dĩ nhiên là có rồi, nếu cả hai đều chấp nhận lời cầu hôn của Chúa Kitô và sống chung thuỷ với ngài trong cuộc sống đời này. Thật vậy, mỗi một thành viên của nhân loại nếu chấp thuận lời mời dự tiệc cưới trên trời thì sẽ được ở trong sự hiệp thông mật thiết nhất có thể với tất cả mọi người khác.
Đây chính là điều mà chúng ta gọi là "các thánh thông công". Tất cả những thứ gì phân biệt, chia rẽ chúng ta ở dưới đất, thì khi ở trên trời chúng đều biến mất. Tất cả chúng ta sẽ sống trong một sự hiệp thông ngôi vị thiên giới như là một Tân Nương duy nhất của Chúa Kitô. Và vì là Tân Nương duy nhất của Chúa Kitô, chúng ta sẽ sống trong sự hưởng kiến (tôi dám nói là sự hoan lạc trên trời ?) hạnh phúc của sự hoàn hợp với Đức Lang Quân của chúng ta, Kitô Đức Chúa. Chúng ta sẽ biết Thiên Chúa và nhìn thấy Ngài diện đối diện (xem 1 Cr 13,12).
Về Mục Lục (http://www.gpnt.net/diendan/showthread.php?t=166)
xem tiếp Chương Bốn (http://gpnt.net/diendan/showthread.php?t=240)
vBulletin v3.5.2, Copyright ©2000-2012, Jelsoft Enterprises Ltd.