PDA

View Full Version : Sứ Điệp Mùa Chay 2006 của Đức Giáo Hoàng Biển Đức XVI


admin
04-02-2006, 05:31 AM
"Đức Giêsu thấy đám đông, Người chạnh lòng thương"

VATICAN, Sứ Điệp của Đức Giáo Hoàng Biển Đức XVI cho mùa Chay 2006, được Tòa Thánh phát hành hôm 31/1/2006

* * *

"Đức Giêsu thấy đám đông, Người chạnh lòng thương" (Mt 9,36)

Anh chị em thân mến!

Mùa Chay là một thời gian đặc biệt cho cuộc hành hương nội tâm đến với Người là nguồn thương xót. Đây là một cuộc hành hương trong đó chính Người đồng hành với chúng ta qua sa mạc của sự nghèo khó chúng ta, nâng đỡ chúng ta trên con đường để chúng ta đi tới niềm vui mãnh liệt Lễ Phục Sinh. Dầu qua "lũng âm u" như tác giả Thánh vịnh nói (Tv 23,4), khi tên cám dỗ xúi giục chúng ta ngã lòng hay là đặt một hy vọng hão huyền vào công trình do tay chúng ta, Thiên Chúa ở đó để gìn giữ và nâng đỡ chúng ta. Vâng, cả hôm nay Thiên Chúa nghe tiếng kêu của đoàn lũ ao ước được vui mừng, hòa bình, và tình yêu. Như trong mọi thời đại, họ cảm thấy bị bỏ rơi.

Nhưng, dầu trong cảnh khổ cực của sự khốn khổ, sự cô đơn, sự bạo tàn và sự đói khát đã ảnh hưởng các trẻ con, người lớn, và những bậc già nua một cách không phân biệt, Thiên Chúa không cho phép sự âm u thắng thế. Thật vậy, theo lời của vị tiền nhiệm đáng yêu của tôi, Đức Gioan Phaolô II, có một sự hạn chế thần linh áp đặt trên sự dữ," tức là, sự thương xót ("Ký Ức và Căn Tính," tr.19ff). Vì ấp ủ những ý nghĩ này trong tâm trí, nên chủ đề cho Sứ điệp này tôi đã chọn bản văn Tin Mừng: "Đức Giêsu thấy đám đông, thì chạnh lòng thương " (Mt 9,36).

Trong ánh sáng này, tôi muốn dừng lại và suy tư về một vấn đề rất được bàn cãi hôm nay: vấn đề phát triển. Cả bây giờ, "cái nhìn" trắc ẩn của Chúa Kitô tiếp tục ngó xuống trên những cá nhân và dân tộc. Người canh chừng họ, vì biết rằng "chương trình" của Chúa gồm có ơn gọi cứu rỗi của họ. Chúa Giêsu biết những nguy hiểm khi đặt chương trình này, và Người chạnh lòng thương xót dân chúng. Người chọn để bênh vực họ khỏi những con sói cho dẫu trả giá đến mạng sống của Người. Cái nhìn của Chúa Giêsu ấp ủ đến những cá nhân và những đám đông, và Người đem họ tất cả tới trước húa Cha, hiến dâng Mình như một hy lễ đền tội.

Được khai sáng bởi chân lý Phục Sinh này, Giáo Hội biết rằng nếu chúng ta cổ võ sự phát triển cho đầy đủ, cái "nhìn" của chúng ta trên nhân loại phải được đo lường theo cái nhìn của Chúa Kitô. Trên thực tế, điều hoàn toàn không thể là phân tách sự đáp ứng cho những nhu cầu vật chất và xã hội của dân chúng khỏi sự hoàn thành những ước muốn sâu sắc của lòng họ. Điều này càng phải được nhấn mạnh hơn nữa trong thế giới thay đổi nhanh chóng ngày nay, trong thế giới này trách nhiệm của chúng ta đối với người nghèo càn xuất hiện rõ ràng và khẩn cấp hơn nữa.

Vị tiền nhiệm đáng kính của tôi, Đức Giáo Hoàng Phaolô VI đã diễn tả chính xác gương xấu sự kém phát triển như là một sỉ nhục chống lại nhân loại. Theo chiều hướng này, trong Thông Điệp "Populorum Progressio," ngài đã tố giác "sự thiếu thốn những sự nhu cầu vật chất đối với những người không có đến nhu cầu tối thiểu để sống, những nhược điểm luân lý của những kẻ bị phá hỏng bởi tính ích kỷ" và "những cấu trúc xã hội đàn áp, hoặc do những lạm dụng quyền sở hữu hay là do những lạm dụng quyền thế, để bóc lột những người lao động hay là để bày ra những vụ giao dịch bất chính" (ibid., 21).

Như thuốc chữa trị sự dữ này, Đức Phaolô VI đã gợi lên không những "sự quí trọng ngày càng gia tăng đối với phẩm giá của những kẻ khác, sự quay về tinh thần khó nghèo, sự hợp tác vì công ích, lòng ước muốn và sự ao ước hòa bình," nhưng còn đến những "sự con người phải nhìn nhận những giá trị cao cả, và Thiên Chúa là nguồn gốc và cùng đích của họ" (ibid.). Trong tâm trạng này, Đức Giáo hoàng đề nghị rằng, cuối cùng và trên hết tất cả, đó là "đức tin", một hồng ân của Thiên Chúa được chấp nhận do ý muốn tốt lành của con người, và sự hiệp nhất trong đức ái của Chúa Kitô" (ibid.).

Như vậy, "cái nhìn" của Chúa Kitô trên dân chúng thúc giục chúng ta quả quyết nội dung thật của "chủ nghĩa nhân đạo hoàn toàn" này, một chủ nghĩa mà theo Đức Phaolô VI, hệ tại "sự phát triển trọn vẹn toàn diện con người và tất cả mọi người" (ibid., 42). Vì lẽ này, đóng góp hàng đầu mà Giáo Hội cống hiến cho sự phát triển nhân loại và cho các dân tộc không chỉ chú trọng tới những phương tiện vật chất hay là những giải pháp kỹ thuật. Nói đúng hơn, đóng góp đó bao hàm sự công bố chân lý về Chúa Kitô, Đấng giáo dục các lương tâm và dạy dỗ phẩm giá đích thực của con người và của lao động; điều đó có nghĩa là sự cổ võ một nền văn hóa thật sự đáp ứng với tất cả những vấn đề của nhân loại.

Đối mặt thách đố ghê gớm của sự nghèo đói làm khổ rất nhiều dân cư thế giới, sự dửng dưng và sự cô lập tập trung về mình tương phản rõ rệt với "cái nhìn" của Chúa Kitô. Sự ăn chay và bố thí, mà cùng với sự cầu nguyện, Giáo Hội đề nghị một cách riêng biệt trong Mùa Chay, là những phương tiện thích hợp cho chúng ta để trở thành đồng hình với "cái nhìn" này. Những gương của các thánh và lịch sử lâu dài hoạt động truyền giáo của Giáo Hội cung cấp những chỉ dẫn vô giá về những phương thế để nâng đỡ sự phát triển cách hiệu nghiệm nhất

Cả trong thời kỳ liên phụ thuộc toàn cầu, điều rõ rệt là không có chương trình kinh tế, xã hội hay là chính trị nào có thể thay thế sự hiến mình cho kẻ khác, sự hiến mình qua đó đức bác ái được diễn tả. Những kẻ hành động theo logic Tin Mừng thì sống đức tin như tình bạn với Thiên Chúa Nhập Thể và, như Người, mang gánh nặng những nhu cầu vật chất và thiêng liêng của anh em mình. Họ thấy sự đó như một mầu nhiệm vô tận, đáng được chăm sóc và lưu ý vô cùng. Họ biết rằng người nào không cho Thiên Chúa thì cho quá ít; như Chân Phước Têrêsa thành Calcutta thường nhận xét, sự nghèo xấu nhất là không biết Chúa Kitô. Do đó, chúng ta phải giúp những kẻ khác gặp được Thiên Chúa trong gương mặt đầy thương xót của Chúa Kitô. Không có viễn tượng này, nền văn minh thiếu một nền tảng vững chắc.

http://gpnt.net/images/arrow_dyn.gif

admin
04-02-2006, 05:33 AM
...

Nhờ những người nam và những người nữ vâng nghe Chúa Thánh Thần, nhiều hình thức công trình bác ái nhằm cổ võ sự phát triển, đã dấy lên trong Giáo Hội: những bịnh viện, những đại học, những trường đào tạo nghề nghiệp, và những doanh nghiệp nhỏ. Những sáng kiến như thế chứng tỏ sự quan tâm nhân đạo chân chính của những kẻ được sứ điệp Tin Mừng thúc đẩy, vượt xa những hình thức khác của hạnh phúc xã hội. Những sinh hoạt bác ái này chỉ rõ phương cách hoàn thành một sự toàn cầu hóa tập trung trên lợi ích thật của nhân loại và, do đó, con đường hướng tới hòa bình chân chính.

Bị xúc động như Chúa Giêsu với lòng trắc ẩn đối với tầng lớp dân chúng, Giáo Hội ngày nay cho mình có nhiệm vụ xin các nhà lãnh đạo chính trị và những kẻ nắm quyền kinh tế và tài chính cổ võ sự phát triển dựa trên sự tôn trọng phẩm giá của mỗi người nam và người nữ. Một cuộc xét nghiệm quan trọng biến đổi cho sự thành công đến những cố gắng của họ là sự tự do tôn giáo, được hiểu không chỉ như sự tự do công bố và cử hành Chúa Kitô, nhưng cũng còn là cơ hội góp phần xây dựng một thế giới do đức bác ái khai sáng. Những cố gắng này phải bao hàm một sự nhìn nhận vai trò trung tâm của những giá trị tôn giáo đích thực trong sự đáp ứng những quan tâm sâu xa nhất con người, và trong sự cung cấp động cơ đạo đức cho những trách nhiệm cá nhân và xã hội của mình. Đó là những tiêu chuẩn qua đó các kitô hữu sẽ đánh giá những chương trình chính trị của các nhà lãnh đạo mình.

Chúng ta không thể không biết sự kiện là nhiều lầm lỗi đã được thực hiện trong giòng lịch sử bởi những kẻ rêu rao mình là môn đệ Chúa Giêsu. Rất thường, khi phải xử lý những vấn đề trầm trọng, họ đã nghĩ rằng họ phải cải thiện thế giới này trước và chỉ sau đó mới quay lòng trí mình. Có cơn cám dỗ tin rằng, trước những nhu cu cấp thiết, mệnh lệnh đầu tiên là thay đổi những cấu trúc bên ngoài. Hậu quả đối với một số người là Kitô Giáo đã trở thành một thứ chủ nghĩa luân lý, "đức tin" được thay thế bằng "việc làm."

Do đó, vị Tiền Nhiệm của tôi, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đáng ghi nhớ, đã nhận xét đúng: "Sự cám dỗ ngày nay là qui Kitô Giáo về sự khôn ngoan thuần tuý con người, một nguỵ-khoa học của hạnh phúc. Trong thế giới tục hoá nặng nề của chúng ta, đã xảy ra một 'sự tục hóa từ từ đến việc cứu rỗi', đến nỗi người ta ra sức vì lợi ích con người, nhưng con người bị cắt cụt. Nhưng, chúng ta biết rằng Chúa Giêsu đã đến mang sự cứu rỗi vẹn toàn" ("Redemptoris Missio," 11).

Chính sự cứu độ nguyên vẹn này mà Mùa Chay đặt trước chúng ta, hướng về sự chiến thắng của Chúa Kitô trên mọi sự dữ đàn áp chúng ta. Khi quay về với Thầy Thần Linh, khi trở về với Người, khi cảm nghiệm lòng thương xót của Người qua Bí Tích Hoà Giải, chúng ta sẽ khám phá một "cái nhìn" tìm kiếm chúng ta cách sâu xa và ban sức sống mới cho hàng lớp người và cho mỗi người chúng ta. Cái nhìn đó phục hồi sự tín thác cho những kẻ không sa ngã trong sự hoài nghi, mở ra cho họ viễn ảnh hạnh phúc đời đời.

Suốt dòng lịch sử, cả khi sự hận thù xem ra thắng thế, chứng từ sáng chói tình yêu của Người không bao giờ thiếu. Với Đức Maria, "nguồn sống động của hy vọng" (Dante Alighieri, "Paradiso," XXXIII, 12), chúng ta phó thác cuộc hành trình Mùa Chay chúng ta, ngõ hầu Mẹ dẫn chúng ta đến với Con của Mẹ. Tôi gởi gắm cho Mẹ cách riêng hàng lớp người lâm cảnh nghèo khổ và kêu xin sự cứu giúp, nâng đỡ, và hiểu biết. Với những tâm tình này, tôi chân thành ban cho tất cả anh chị em Phép lành Tông Tòa đặc biệt

Từ điện Vatican, 29 Tháng Chín 2005

BENEDICTUS PP. XVI
Đ.Ô. Phêrô Nguyễn Quang Sách

admin
27-02-2006, 09:56 AM
SỨ ĐIỆP MÙA CHAY 2006
CỦA ĐỨC THÁNH CHA BÊ-NÊ-ĐÍC-TÔ XVI


“Đức Giê-su thấy đám đông thì chạnh lòng thương” (Mt 9,36)


Anh Chị Em thân mến!

Mùa chay là thời gian thích hợp để thực hiện cuộc hành hương nội tâm đến với Đấng là cội nguồn lòng thương xót. Đó là cuộc hành hương Người cùng đi với ta qua sa mạc nghèo khó của ta, nâng đỡ ta trên con đường hướng đến niềm vui sâu sắc của Lễ Phục Sinh. Ngay trong “thung lũng âm u” mà Vịnh gia nhắc đến (Tv 23,4), trong khi tên cám dỗ xúi giục ta thất vọng hoặc đặt một hi vọng hão huyền vào công trình do bàn tay ta làm ra, thì Thiên Chúa vẫn có đó để bảo vệ ta và nâng đỡ ta. Vâng, ngay cả hôm nay, Chúa vẫn nghe thấy những lời than oán của bao người đang mong ước có niềm vui, hoà bình và tình yêu thương. Như trong mọi thời đại, họ cảm thấy bị bỏ rơi. Tuy vậy, ngay trong sự hoang tàn của cảnh khốn cùng, nỗi cô đơn, bạo động và đói khát giáng xuống không phân biệt trẻ già lớn bé, Thiên Chúa không để cho bóng tối chiến thắng. Thật vậy, theo lời của vị tiền nhiệm khả ái của tôi, Đức Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô II, có một «giới hạn thần linh áp đặt trên sự dữ», đó là, lòng thương xót (Ký Ức và Căn Tính, tr.19tt). Với những tư tưởng này trong tâm trí, tôi đã chọn làm chủ đề cho Sứ Điệp này lời Phúc Âm: «Đức Giê-su thấy đám đông thì chạnh lòng thương» (Mt 9,36).

Trong ánh sáng này, tôi muốn dừng lại và suy tư về một vấn đề được bàn cãi nhiều ngày hôm nay: vấn đề phát triển. Cả bây giờ, "cái nhìn" thương cảm của Chúa Ki-tô không ngừng đổ xuống trên các cá nhân và các dân tộc. Người canh giữ họ, biết rằng "kế hoạch" thần linh bao gồm lời mời gọi họ đến ơn cứu rỗi. Đức Giê-su biết những nguy hiểm đang rình rập chỉ chờ phá hỏng chương trình này, và Người chạnh lòng thương đám đông. Người nhất quyết bảo vệ họ khỏi những con sói cho dẫu có phải trả giá bằng chính mạng sống của mình. Cái nhìn của Đức Giê-su ôm ấp lấy từng người và cả đám đông, và Người dẫn đưa tất cả mọi người đến trước Chúa Cha, hiến dâng chính bản thân của Người làm của lễ đền tội.

Được chân lý Vượt Qua này soi sáng, Giáo Hội biết rằng muốn thúc đẩy sự phát triển toàn diện, “cái nhìn” của ta về con người phải hòa theo cái nhìn của Chúa Ki-tô. Thực vậy, không thể nào tách biệt việc đáp ứng các nhu cầu vật chất và xã hội của con người ra khỏi sự thành toàn các ước muốn sâu xa trong tâm hồn họ. Điều này càng phải được nhấn mạnh hơn nữa trong thế giới ngày nay đang đổi thay nhanh chóng, trong đó trách nhiệm của ta đối với những người nghèo hiện ra càng ngày càng rõ nét và khẩn thiết hơn. Vị Tiền Nhiệm đáng kính của tôi, Đức Giáo Hoàng Phao-lô VI, đã diễn tả chính xác gương xấu của sự kém phát triển như một sự sỉ nhục nhân loại. Theo nghĩa này, trong Thông Điệp Populorum Progressio, ngài đã tố cáo "sự thiếu thốn các thứ cần thiết về vật chất cho những người không có các thứ cần thiết tối thiểu để sống, các khuyết tật luân lý của những kẻ bị tính ích kỷ làm cho biến dạng" và "những cơ cấu xã hội đàn áp, dù là do những lạm dụng quyền sở hữu hoặc do những lạm dụng quyền lực, do sự bóc lột những người lao động hoặc do những giao dịch bất công" (tài liệu đã dẫn, 21). Như liều thuốc chữa trị sự dữ này, Đức Phao-lô VI đã đề nghị không những "sự quí trọng càng ngày càng gia tăng đối với phẩm giá của tha nhân, sự quay về tinh thần nghèo khó, sự hợp tác vì công ích, ý chí và lòng ao ước hòa bình", nhưng còn đến "việc con người nhìn nhận những giá trị cao cả, và Thiên Chúa là nguồn gốc và cùng đích của họ" (tài liệu đã dẫn). Trong tâm trạng này, Đức Giáo Hoàng đề nghị rằng, cuối cùng và trên hết tất cả, cần có "đức tin, một hồng ân của Thiên Chúa được chấp nhận do thiện chí của con người, và sự hiệp nhất trong đức bác ái của Chúa Ki-tô" (tài liệu đã dẫn). Như vậy, "cái nhìn" của Chúa Ki-tô trên đám đông thúc giục chúng ta khẳng định nội dung thật của "chủ nghĩa nhân bản toàn diện" này, mà theo Đức Phao-lô VI, cố yếu ở "sự phát triển con người toàn diện và phát triển toàn thể mọi người" (tài liệu đã dẫn, 42). Vì lẽ này, sự đóng góp hàng đầu của Giáo Hội cho sự phát triển nhân loại và cho các dân tộc không phải chỉ có các phương tiện vật chất hoặc các giải pháp kỹ thuật. Đúng ra, sự đóng góp đó bao gồm sự công bố chân lý về Chúa Ki-tô, Đấng giáo dục các lương tâm và giảng dạy về phẩm giá đích thực của con người và của lao động; điều đó có nghĩa là cổ võ một nền văn hóa thực sự đáp ứng mọi vấn đề của nhân loại.

http://gpnt.net/images/arrow_dyn.gif

admin
27-02-2006, 09:57 AM
Đối mặt với thách đố ghê gớm của sự nghèo đói làm khổ rất nhiều người trên thế giới, thái độ dửng dưng và đứng tách biệt chỉ biết có mình hoàn toàn tương phản với "cái nhìn" của Chúa Ki-tô. Việc ăn chay và làm phúc, mà Giáo Hội đề nghị một cách đặc biệt trong Mùa Chay cùng với lời cầu nguyện, là những phương tiện thích hợp để ta trở nên hòa hợp với "cái nhìn" này. Gương các thánh và lịch sử lâu dài của Giáo Hội về hoạt động truyền giáo cung cấp những chỉ dẫn vô giá về những phương thế hữu hiệu nhất để cổ võ sự phát triển. Ngay cả trong thời đại liên thuộc toàn cầu này, rõ ràng là không có một dự án kinh tế, xã hội hoặc chính trị nào có thể thay thế được sự hiến mình cho tha nhân qua đó thể hiện đức bác ái. Những ai hành động theo logic của Tin Mừng thì sống đức tin như tình bạn với Thiên Chúa Nhập Thể và, như Người, mang lấy gánh nặng các nhu cầu vật chất và thiêng liêng của anh em mình. Họ thấy điều đó như một mầu nhiệm vô tận, đáng quan tâm và lưu ý vô cùng. Họ biết rằng người nào không trao ban Thiên Chúa thì cho đi quá ít; như Chân Phước Têrêsa Calcutta thường nói, sự nghèo khó tệ hại nhất là không biết Chúa Ki-tô. Vì thế, ta phải giúp đỡ tha nhân tìm thấy Thiên Chúa trong khuôn mặt nhân hậu của Chúa Ki-tô. Thiếu viễn tượng này, không thể nào xây dựng văn minh trên nền tảng vững chắc.

Nhờ những người nam nữ vâng nghe Chúa Thánh Thần, nhiều công trình bác ái nhằm cổ võ sự phát triển, đã dấy lên trong Giáo Hội: bệnh viện, trường đại học, trường đào tạo nghề, và các doanh nghiệp nhỏ. Các sáng kiến đó minh chứng rằng những người được sứ điệp Phúc Âm thúc đẩy thì chân thành quan tâm đến con người, đi xa hơn những hình thức khác về an sinh xã hội. Các hoạt động bác ái này chỉ ra phương cách đạt đến một sự toàn cầu hóa được tập trung vào lợi ích chân chính của nhân loại và, do đó, là con đường dẫn đến hòa bình chân chính. Như Đức Giê-su chạnh thương các đám đông, Giáo Hội ngày nay cho mình có nhiệm vụ yêu cầu các nhà lãnh đạo chính trị và những người nắm quyền lực về kinh tế và tài chính hãy cổ võ sự phát triển dựa trên việc tôn trọng phẩm giá mọi người nam nữ. Một trắc nghiệm quan trọng để xem họ có thành công trong những nỗ lực của mình, đó là tự do tôn giáo, được hiểu không chỉ là tự do loan báo và cử hành Chúa Ki-tô, nhưng còn là cơ hội để góp phần xây dựng một thế giới sống động bởi đức bác ái. Những cố gắng này phải bao gồm một sự nhìn nhận vai trò trung tâm của các giá trị tôn giáo đích thực trong việc đáp ứng những quan tâm sâu xa nhất của con người, và trong việc cung cấp động lực đạo đức cho những trách nhiệm cá nhân và xã hội của mình. Đó là những tiêu chuẩn qua đó các Ki-tô hữu sẽ đánh giá những chương trình chính trị của các nhà lãnh đạo của mình.


Chúng ta không thể làm ngơ trước sự kiện là có nhiều lầm lỗi đã được thực hiện trong dòng lịch sử bởi những kẻ tự nhận mình là môn đệ Đức Giê-su. Khi phải giải quyết những vấn đề nghiêm trọng, họ thường hay nghĩ rằng trước hết phải lo cải thiện thế giới này đã, rồi sau đó mới hướng lòng trí của mình đến trời cao. Cơn cám dỗ là cứ tưởng rằng, trước những nhu cầu cấp thiết, mệnh lệnh đầu tiên là hãy thay đổi những cấu trúc bên ngoài. Hậu quả là, đối với một số người, Ki-tô giáo đã trở thành một thứ chủ nghĩa luân lý, "tin" được thay thế bằng "làm". Do đó, vị Tiền Nhiệm của tôi, Đức Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô II đáng nhớ, đã nhận xét rất đúng: "Cám dỗ của ngày hôm nay là giản lược Ki-tô giáo lại, đơn thuần chỉ còn là sự khôn ngoan của con người, một thứ khoa học giả về sự an lạc. Trong thế giới nặng về tục hoá của chúng ta, đã xảy ra một 'sự tục hóa dần dần ơn cứu rỗi', người ta ra sức phấn đấu vì lợi ích của con người, nhưng là con người què quặt… Tuy nhiên, chúng ta biết rằng Đức Giê-su đã đến mang sự cứu rỗi vẹn toàn" (Redemptoris Missio, 11).
Chính sự cứu độ toàn vẹn này Mùa Chay đặt trước ta, hướng ta đến cuộc khải thắng của Chúa Ki-tô trên mọi sự dữ đang đè nén đàn áp ta. Đang khi quay về với Vị Thầy Thần Linh, hoán cải để về với Người, cảm nghiệm lòng thương xót của Người qua Bí Tích Hoà Giải, ta sẽ khám phá ra một "cái nhìn" thấu tận tâm can của ta, đem lại sức sống mới cho các đoàn lũ đám đông và mỗi người chúng ta. Cái nhìn đó phục hồi lòng tin cho những ai không cố chấp trong sự hoài nghi, mở ra trước mắt họ viễn tượng phúc lạc đời đời. Suốt dòng lịch sử, ngay cả những khi hận thù xem ra thắng thế, vẫn không bao giờ thiếu vắng các chứng từ sáng chói về tình yêu của Người. Chúng ta ký thác cuộc hành trình Mùa Chay của mình cho Mẹ Ma-ri-a, "nguồn hy vọng sống động" (Dante Alighieri, Paradiso, XXXIII, 12), để mẹ sẽ dẫn đưa chúng ta tới Con của mẹ. Đặc biệt, tôi phó thác cho mẹ các đoàn người khốn cùng, đang lớn tiếng kêu xin sự trợ giúp, đỡ nâng và cảm thông. Với những tâm tình này, tôi thân ái gửi đến toàn thể anh chị em một Phép Lành Tông Tòa đặc biệt.

Từ Vatican, 29 tháng 9 năm 2005.
BENEDICTUS PP. XVI


Đan Quang Tâm dịch