admin
24-12-2006, 04:31 PM
Bà Maria Minh Đức Vương Thái Phi tổ chức nghi thức mừng Chúa Giáng Sinh đầu tiên năm 1643 trong dinh của con là tổng trấn Nguyễn Phúc Khê
Nguyễn Trọng
Muốn hiểu rõ tầm quan trọng của lễ Giáng Sinh đầu tiên được tổ chức long trọng tại tư dinh Hoàng tử Nguyễn Phúc Khê, người con trai thứ mười của chúa Nguyễn Hoàng, chúng ta cần phải đặt hiện tượng tôn giáo hiếm hoi này vào bối cảnh lịch sử, địa dư và chính trị của nó.
Năm ấy là năm 1643, cách nay đúng 363 năm. Gia phả nhà Nguyễn Phước, tức Phước tộc, không hề nói tới đêm Giáng Sinh này nhưng có nhắc tới tên bà Minh Đức Vương Thái Phi, mẹ của Hoàng tử Khê. Ông là người tài giỏi, có công phục vụ Phước tộc thời đó.
Buổi lễ được tổ chức vào thời kỳ Trịnh Nguyễn phân tranh, bắt đầu từ Trịnh Tùng (1570-1601). Ông là Chúa Trịnh thứ nhất, tự xưng làm Chúa, cha truyền con nối, nắm hết quyền hành ở miền Bắc, gọi là Đàng Ngoài. Các chúa Trịnh cai trị Đàng Ngoài trong suốt 216 năm, cho tới năm 1786 là lúc Trịnh Khải bị loạn kiêu binh đuổi, phải chạy về Sơn Tây thì bị bắt đem nộp cho nhà Tây Sơn. Giữa đường, Trịnh Khải tự tử. Cái chết của nhà chúa cuối cùng này chấm dứt vai trò của Chúa Trịnh ở miền Bắc, chạy dài được chín đời Chúa.
Còn Chúa Nguyễn hùng cứ ở miền Nam, Đàng Trong, bắt đầu từ Nguyễn Hoàng. Năm Mậu Ngọ (1558) đời vua Lê Anh Tông, Trịnh Kiểm là anh rể (lấy chị của Nguyễn Hoàng là Ngọc tâu vua cho Nguyễn Hoàng vào trấn đất Thuận Hoá. Nếu Chúa Trịnh có chín đời Chúa, thì Chúa Nguyễn có tất cả mười ba vua, bắt đầu từ vua Gia Long (1802-1820) cho tới nhà vua cuối cùng là Bảo Đại (1926-1945).
Còn nói về các Chúa Nguyễn ở Đàng Trong thì lạ lùng thay, người ta cũng đếm được tất cả chín đời, bắt đầu từ Nguyễn Hoàng cho tới nhà Chúa cuối cùng là Nguyễn Phúc Thuần (1765-1777). Lấy danh nghĩa phò vua Lê, Chúa Trịnh và Chúa Nguyễn chia nhau giang sơn đất nước, dùng sông Linh Giang (hay gọi tắt là sông Gianh) làm biên giới và lấy
“Hoành sơn nhất đại, vạn đại dung thân” như lời Nguyễn Bỉnh Khiêm viết trên giấy sau khi được Nguyễn Hoàng sai người đem vàng bạc làm lễ vật để hỏi kế giữ thân. (Hoành Sơn là Đèo Ngang ở tỉnh Quảng Bình).
Đó là nói về mặt chính trị và địa dư, còn nói về mặt tôn giáo thì dưới thời Minh Đức Vương Thái Phi (1568-1648) đạo Thiên Chúa đã bắt đầu bị cấm đoán và bách hại. Ở ngoài Bắc, tức Đàng Ngoài, Chúa Trịnh Tráng (1627-1658) đã ban hành 5 sắc chỉ cấm đạo, và ở Đàng Trong, Chúa Sãi (Nguyễn Phước Nguyên (1615-1635) cũng đã ra sắc chỉ cấm đạo từ năm 1625.
Vai trò của Minh Đức Vương Thái Phi
Ông Phạm Đình Khiêm, nói được là một sử gia chuyên viết về sự bành trướng ban đầu của Thiên Chúa giáo tại Việt Nam, đã viết cả một cuốn sách về Minh Đức Vương Thái Phi mà ông gọi là Lịch sử Khai Nguyên Công Giáo Việt Nam. Người viết đã căn cứ vào nhiều chi tiết trong cuốn sách sưu tầm và nghiên cứu rất công phu của ông để viết bài này hầu quí độc giả VNTP, nhân dịp mùa Giáng Sinh năm nay.
Theo sách nói trên thì “Hoàng Hậu” và “Vương Phi” là tiếng để chỉ vợ chính và vợ lẽ của bậc vua chúa. Còn tiếng “Phu nhân” dùng để chỉ vợ quan hay dân có ít nhiều địa vị. Sở dĩ bà Minh Đức được xưng hô là Vương Thái Phi vì bà đứng đầu hàng thứ phi. Theo nguồn dữ liệu nhà Nguyễn thì chỉ có vài chi tiết sơ lược về người đàn bà được các linh mục truyền giáo ngoại quốc coi là linh hồn của đạo Chúa lúc bấy giờ. Có một vài sử gia người Thiên Chúa giáo đã đề nghị Toà Thánh La Mã tôn vinh bà Maria Minh Đức vào bậc Thánh nhân nhưng cho đến nay, tên tuổi của bà chỉ được nhắc nhở nhiều trong các sử liệu viết theo dạng ký sự của các linh mục truyền giáo, đặc biệt là của linh mục Đắc Lộ, tiếng Pháp là Alexandre De Rhode, người đã có công đầu tạo ra chữ Quốc ngữ, phiên âm từ vần La Tinh. Vào thời đó, chữ La Tinh là văn tự chính thức của Toà Thánh La Mã, các lễ nghi phụng vụ đều được cử hành bằng ngoại ngữ này. Mãi về sau, theo nghị quyết của Cộng Đồng Vatican II bế mạc vào năm 1965, ngôn ngữ Việt mới được xử dụng trong Thánh Lễ. Người viết bài này nhớ lại thời còn thơ ấu, vào nhà thờ buổi sáng, chỉ nghe các linh mục người Việt dùng tiếng La tinh để cử hành Thánh lễ nghe lạ tai nhưng rất trang nghiêm và “thần thánh”. Bởi vậy, ngày nay theo lời yêu cầu của rất nhiều tín hữu cao niên, Toà Thánh Vatican đã cho xử dụng lại tiếng La tinh để cử hành Thánh lễ trong một vài trường hợp tùy nghi theo yêu cầu.
Chính linh mục Đắc Lộ đã rửa tội cho bà Minh Đức Vương Thái Phi vào năm 1625, khi tuổi bà đã ngoài ngũ tuần. Linh mục ngoại quốc đã lấy Tên Thánh là Maria Madalena để đặt cho bà và vì vậy, bà thường được gọi là bà Maria Minh Đức Vương Thái Phi.
Là một quả phụ, bà ở ngay trong dinh Tổng Trấn Nguyễn Phúc Khê là con ruột, trong một toà nhà đẹp xây trên bờ sông Hương. Hoàng tử này có lúc đã muốn nghe lời mẹ để theo đạo Chúa nhưng ông cứ lưỡng lự mãi. Là một vị đại công thần trong triều đình tinh thông võ bị và mưu trí hơn người, ông được chúa Tiên là Nguyễn Hoàng bổ nhiệm vào chức chưởng cơ. Khi Chúa Nguyễn Hoàng chết vào năm 1613 và người anh của ông là Nguyễn Phúc Nguyên lên nối nghiệp, ông được thăng tới chức Tổng Trấn khi tuổi đời chưa tới mươi. Khi Sãi Vương Nguyễn Phúc Nguyên qua đời, con của ông là Công Thượng Vương lên thay, Hoàng thúc là Hoàng Tử Khê được uỷ nhiệm hoàn chỉnh nền hành chính trong nước và phụ giúp tân vương trong mọi việc triều chính. Hoàng tử Khê chết năm 1646, thọ tuổi, đã từng giúp việc triều chính 40 năm, dưới 3 đời Chúa. Ông được chôn tại khu sĩ, tỉnh Thừa Thiên, có đền thờ ở làng Nam Phổ và được thờ tại Thái Miếu.
Hoàng tử đại công thần nhà Nguyễn này vẫn coi tôn giáo là việc riêng, lòng trung thành với ba đời Chúa Nguyễn mới là việc chung, và là sự nghiệp và nghĩa vụ cao cả, cho nên việc ông không theo đạo của hiền mẫu cũng là một chuyện dễ hiểu mà thôi.
Chỉ có một điều khác lạ và có thể được coi như “bất hiếu” là để chứng tỏ lòng trung thành với Chúa Nguyễn, sau khi bị Chúa Nguyễn có vẻ khiển trách ông quá gần gũi với các giáo sĩ ngoại quốc, ông đã cho người phá nhà thờ của bà Minh Đức xây trong tư dinh của mình, (xin xem đoạn sau) để chứng tỏ mình không quá gần gũi như vậy...
Tuy không theo đạo mẹ, Hoàng Tử Khê, theo ký sự để lại đời sau của Linh mục Đắc Lộ, vẫn tham dự lễ Giáng Sinh được tổ chức ngay tại tư dinh Tổng Trấn của mình vào năm 1643, chỉ hai năm trước khi ông qua đời. Theo ký sự này thì một đám đông người Công giáo và người lương dân (tức không theo đạo này) đã tham dự lễ Giáng Sinh cùng với bà Maria Minh Đức trong một ngôi nhà thờ nhỏ có thể chứa được 300 người. Linh mục viết tiếp: “Một máng cỏ được trang trí rất đẹp trong nhà thờ nhỏ của một bà quý phái, tên Maria, thân mẫu của chú nhà chúa (tức Sãi Vương Nguyễn Phúc Nguyên). Bà là một Kitô hữu kỳ cựu, có đức tin can trường qua nhiều biến cố thử thách. Lòng thành kính của bà nổi bật trong lễ Giáng Sinh năm nay, bà cho con bà (Hoàng tử Khê) và các cháu của bà đến thờ lậy và tôn vinh Vua Vinh Quang giáng trần, bà rao giảng lời Chúa cho những người từ nhiều nơi đến viếng Máng Cỏ Thánh. Lễ Giáng Sinh năm đó không có linh mục cử hành mà chỉ có sự hiện diện của các tín hữu và lương dân, bà Maria Minh Đức là người chủ tọa và giảng thuyết một cách xác tín và lưu loát."
Trên thực tế, đạo Chúa lễ Giáng Sinh không phải lễ quan trọng và ý nghĩa nhất. Lễ Phục Sinh, tức lễ Chúa sống lại, mới là lễ then chốt của đạo Chúa, vì nếu Chúa không sống lại từ cõi chết mà chết luôn không sống lại thì Chúa đâu có phải là Chúa, mà chỉ là một người phàm trần thế tục như mọi người khác, chết là hết..., buông tay nằm xuống luôn.
Nguyễn Trọng
Muốn hiểu rõ tầm quan trọng của lễ Giáng Sinh đầu tiên được tổ chức long trọng tại tư dinh Hoàng tử Nguyễn Phúc Khê, người con trai thứ mười của chúa Nguyễn Hoàng, chúng ta cần phải đặt hiện tượng tôn giáo hiếm hoi này vào bối cảnh lịch sử, địa dư và chính trị của nó.
Năm ấy là năm 1643, cách nay đúng 363 năm. Gia phả nhà Nguyễn Phước, tức Phước tộc, không hề nói tới đêm Giáng Sinh này nhưng có nhắc tới tên bà Minh Đức Vương Thái Phi, mẹ của Hoàng tử Khê. Ông là người tài giỏi, có công phục vụ Phước tộc thời đó.
Buổi lễ được tổ chức vào thời kỳ Trịnh Nguyễn phân tranh, bắt đầu từ Trịnh Tùng (1570-1601). Ông là Chúa Trịnh thứ nhất, tự xưng làm Chúa, cha truyền con nối, nắm hết quyền hành ở miền Bắc, gọi là Đàng Ngoài. Các chúa Trịnh cai trị Đàng Ngoài trong suốt 216 năm, cho tới năm 1786 là lúc Trịnh Khải bị loạn kiêu binh đuổi, phải chạy về Sơn Tây thì bị bắt đem nộp cho nhà Tây Sơn. Giữa đường, Trịnh Khải tự tử. Cái chết của nhà chúa cuối cùng này chấm dứt vai trò của Chúa Trịnh ở miền Bắc, chạy dài được chín đời Chúa.
Còn Chúa Nguyễn hùng cứ ở miền Nam, Đàng Trong, bắt đầu từ Nguyễn Hoàng. Năm Mậu Ngọ (1558) đời vua Lê Anh Tông, Trịnh Kiểm là anh rể (lấy chị của Nguyễn Hoàng là Ngọc tâu vua cho Nguyễn Hoàng vào trấn đất Thuận Hoá. Nếu Chúa Trịnh có chín đời Chúa, thì Chúa Nguyễn có tất cả mười ba vua, bắt đầu từ vua Gia Long (1802-1820) cho tới nhà vua cuối cùng là Bảo Đại (1926-1945).
Còn nói về các Chúa Nguyễn ở Đàng Trong thì lạ lùng thay, người ta cũng đếm được tất cả chín đời, bắt đầu từ Nguyễn Hoàng cho tới nhà Chúa cuối cùng là Nguyễn Phúc Thuần (1765-1777). Lấy danh nghĩa phò vua Lê, Chúa Trịnh và Chúa Nguyễn chia nhau giang sơn đất nước, dùng sông Linh Giang (hay gọi tắt là sông Gianh) làm biên giới và lấy
“Hoành sơn nhất đại, vạn đại dung thân” như lời Nguyễn Bỉnh Khiêm viết trên giấy sau khi được Nguyễn Hoàng sai người đem vàng bạc làm lễ vật để hỏi kế giữ thân. (Hoành Sơn là Đèo Ngang ở tỉnh Quảng Bình).
Đó là nói về mặt chính trị và địa dư, còn nói về mặt tôn giáo thì dưới thời Minh Đức Vương Thái Phi (1568-1648) đạo Thiên Chúa đã bắt đầu bị cấm đoán và bách hại. Ở ngoài Bắc, tức Đàng Ngoài, Chúa Trịnh Tráng (1627-1658) đã ban hành 5 sắc chỉ cấm đạo, và ở Đàng Trong, Chúa Sãi (Nguyễn Phước Nguyên (1615-1635) cũng đã ra sắc chỉ cấm đạo từ năm 1625.
Vai trò của Minh Đức Vương Thái Phi
Ông Phạm Đình Khiêm, nói được là một sử gia chuyên viết về sự bành trướng ban đầu của Thiên Chúa giáo tại Việt Nam, đã viết cả một cuốn sách về Minh Đức Vương Thái Phi mà ông gọi là Lịch sử Khai Nguyên Công Giáo Việt Nam. Người viết đã căn cứ vào nhiều chi tiết trong cuốn sách sưu tầm và nghiên cứu rất công phu của ông để viết bài này hầu quí độc giả VNTP, nhân dịp mùa Giáng Sinh năm nay.
Theo sách nói trên thì “Hoàng Hậu” và “Vương Phi” là tiếng để chỉ vợ chính và vợ lẽ của bậc vua chúa. Còn tiếng “Phu nhân” dùng để chỉ vợ quan hay dân có ít nhiều địa vị. Sở dĩ bà Minh Đức được xưng hô là Vương Thái Phi vì bà đứng đầu hàng thứ phi. Theo nguồn dữ liệu nhà Nguyễn thì chỉ có vài chi tiết sơ lược về người đàn bà được các linh mục truyền giáo ngoại quốc coi là linh hồn của đạo Chúa lúc bấy giờ. Có một vài sử gia người Thiên Chúa giáo đã đề nghị Toà Thánh La Mã tôn vinh bà Maria Minh Đức vào bậc Thánh nhân nhưng cho đến nay, tên tuổi của bà chỉ được nhắc nhở nhiều trong các sử liệu viết theo dạng ký sự của các linh mục truyền giáo, đặc biệt là của linh mục Đắc Lộ, tiếng Pháp là Alexandre De Rhode, người đã có công đầu tạo ra chữ Quốc ngữ, phiên âm từ vần La Tinh. Vào thời đó, chữ La Tinh là văn tự chính thức của Toà Thánh La Mã, các lễ nghi phụng vụ đều được cử hành bằng ngoại ngữ này. Mãi về sau, theo nghị quyết của Cộng Đồng Vatican II bế mạc vào năm 1965, ngôn ngữ Việt mới được xử dụng trong Thánh Lễ. Người viết bài này nhớ lại thời còn thơ ấu, vào nhà thờ buổi sáng, chỉ nghe các linh mục người Việt dùng tiếng La tinh để cử hành Thánh lễ nghe lạ tai nhưng rất trang nghiêm và “thần thánh”. Bởi vậy, ngày nay theo lời yêu cầu của rất nhiều tín hữu cao niên, Toà Thánh Vatican đã cho xử dụng lại tiếng La tinh để cử hành Thánh lễ trong một vài trường hợp tùy nghi theo yêu cầu.
Chính linh mục Đắc Lộ đã rửa tội cho bà Minh Đức Vương Thái Phi vào năm 1625, khi tuổi bà đã ngoài ngũ tuần. Linh mục ngoại quốc đã lấy Tên Thánh là Maria Madalena để đặt cho bà và vì vậy, bà thường được gọi là bà Maria Minh Đức Vương Thái Phi.
Là một quả phụ, bà ở ngay trong dinh Tổng Trấn Nguyễn Phúc Khê là con ruột, trong một toà nhà đẹp xây trên bờ sông Hương. Hoàng tử này có lúc đã muốn nghe lời mẹ để theo đạo Chúa nhưng ông cứ lưỡng lự mãi. Là một vị đại công thần trong triều đình tinh thông võ bị và mưu trí hơn người, ông được chúa Tiên là Nguyễn Hoàng bổ nhiệm vào chức chưởng cơ. Khi Chúa Nguyễn Hoàng chết vào năm 1613 và người anh của ông là Nguyễn Phúc Nguyên lên nối nghiệp, ông được thăng tới chức Tổng Trấn khi tuổi đời chưa tới mươi. Khi Sãi Vương Nguyễn Phúc Nguyên qua đời, con của ông là Công Thượng Vương lên thay, Hoàng thúc là Hoàng Tử Khê được uỷ nhiệm hoàn chỉnh nền hành chính trong nước và phụ giúp tân vương trong mọi việc triều chính. Hoàng tử Khê chết năm 1646, thọ tuổi, đã từng giúp việc triều chính 40 năm, dưới 3 đời Chúa. Ông được chôn tại khu sĩ, tỉnh Thừa Thiên, có đền thờ ở làng Nam Phổ và được thờ tại Thái Miếu.
Hoàng tử đại công thần nhà Nguyễn này vẫn coi tôn giáo là việc riêng, lòng trung thành với ba đời Chúa Nguyễn mới là việc chung, và là sự nghiệp và nghĩa vụ cao cả, cho nên việc ông không theo đạo của hiền mẫu cũng là một chuyện dễ hiểu mà thôi.
Chỉ có một điều khác lạ và có thể được coi như “bất hiếu” là để chứng tỏ lòng trung thành với Chúa Nguyễn, sau khi bị Chúa Nguyễn có vẻ khiển trách ông quá gần gũi với các giáo sĩ ngoại quốc, ông đã cho người phá nhà thờ của bà Minh Đức xây trong tư dinh của mình, (xin xem đoạn sau) để chứng tỏ mình không quá gần gũi như vậy...
Tuy không theo đạo mẹ, Hoàng Tử Khê, theo ký sự để lại đời sau của Linh mục Đắc Lộ, vẫn tham dự lễ Giáng Sinh được tổ chức ngay tại tư dinh Tổng Trấn của mình vào năm 1643, chỉ hai năm trước khi ông qua đời. Theo ký sự này thì một đám đông người Công giáo và người lương dân (tức không theo đạo này) đã tham dự lễ Giáng Sinh cùng với bà Maria Minh Đức trong một ngôi nhà thờ nhỏ có thể chứa được 300 người. Linh mục viết tiếp: “Một máng cỏ được trang trí rất đẹp trong nhà thờ nhỏ của một bà quý phái, tên Maria, thân mẫu của chú nhà chúa (tức Sãi Vương Nguyễn Phúc Nguyên). Bà là một Kitô hữu kỳ cựu, có đức tin can trường qua nhiều biến cố thử thách. Lòng thành kính của bà nổi bật trong lễ Giáng Sinh năm nay, bà cho con bà (Hoàng tử Khê) và các cháu của bà đến thờ lậy và tôn vinh Vua Vinh Quang giáng trần, bà rao giảng lời Chúa cho những người từ nhiều nơi đến viếng Máng Cỏ Thánh. Lễ Giáng Sinh năm đó không có linh mục cử hành mà chỉ có sự hiện diện của các tín hữu và lương dân, bà Maria Minh Đức là người chủ tọa và giảng thuyết một cách xác tín và lưu loát."
Trên thực tế, đạo Chúa lễ Giáng Sinh không phải lễ quan trọng và ý nghĩa nhất. Lễ Phục Sinh, tức lễ Chúa sống lại, mới là lễ then chốt của đạo Chúa, vì nếu Chúa không sống lại từ cõi chết mà chết luôn không sống lại thì Chúa đâu có phải là Chúa, mà chỉ là một người phàm trần thế tục như mọi người khác, chết là hết..., buông tay nằm xuống luôn.