PDA

View Full Version : Lời Sống 2006 - Chiara Lubich


admin
08-02-2006, 03:55 PM
Lời Sống
Tháng Giêng 2006


“Ở đâu hai ba người họp lại nhân danh Thầy, thì có Thầy ở giữa họ”

(Mát-thêu 18,20)

“Em-ma-nu-en”, “Thiên Chúa ở cùng chúng ta!” Tin mừng Mát-thêu mở đầu với cái tin khác thường này (Mt 1,3). Bởi vì nơi Ðức Giêsu, Em-ma-nuen, Thiên Chúa đã đến giữa chúng ta.
Sau đó Tin mừng kết thúc với một lời hứa còn lớn lao và kinh ngạc hơn nữa: “Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28,20).
Sự hiện diện của Thiên Chúa ở giữa chúng ta không giới hạn trong một giai đoạn lịch sử, nơi sự hiện diện thể lý của Ðức Giêsu trên trần gian. Thiên Chúa ở lại với chúng ta mãi mãi.
Làm sao Người ở lại được? Ở đâu chúng ta có thể gặp Người?
Câu trả lời nằm ở trung tâm của Tin mừng Mát-thêu, khi Ðức Giêsu dạy cộng đoàn của Người là Giáo hội phải sống thế nào. Nhiều lần Người đã nói đến cộng đoàn đó: cộng đoàn xây lập trên đá tảng Phê-rô, cộng đoàn được lời Người tụ tập lai chung quanh Thánh thể… Nhưng ở đây Người cho thấy cá tính đặc thù sâu xa nhất của nó: Hội thánh là chính bản thân Người hiện diện giữa tất cả những ai họp lại nhân danh Người.
Chúng ta có thể được Người luôn hiện diện giữa chúng ta, có thể có được kinh nghiệm về một Giáo hội sống động, có thể sống thực tại làm nên Giáo hội.


“Ở đâu hai ba người họp lại nhân danh Thầy, thì có Thầy ở giữa họ”


Nếu chính Người, Chúa sống lại, là Ðấng tụ tập các tín hữu lại chung quanh mình và giữa họ với nhau và làm cho tất cả nên thân thể của Người, thì mọi chia rẽ trong các gia đình và các cộng đoàn chúng ta sẽ làm thay đổi bộ mặt của Giáo hội. Một Ðấng Kitô bị xé nát thành nhiều mảnh thì không ai có thể nhận ra được nữa, Người bị méo mó.
Ðiều đó cũng đúng đối với những mối liên hệ giữa các Giáo hội khác nhau và giữa các cộng đoàn trong Giáo hội. Cuộc hành trình đại kết đã làm cho chúng ta ý thức rằng “điều hợp nhất chúng ta thì hơn là điều chia rẽ chúng ta”. Và nếu vẫn còn một vài khía cạnh về giáo lý và thực hành Ðạo, ở đó chưa có sự hiệp nhất trong đức tin, thì “điểm nền tảng cho những gì hiệp nhất chúng ta là sự hiện diện của Ðức Kitô sống lại” (Tài liệu về tuần lễ cầu nguyện cho sự hiệp nhất các tín hữu Kitô).
Chúng ta hợp nhau lại nhân danh Ðức Giêsu để cùng nhau cầu nguyện, để hiểu biết và chia sẻ những sự phong phú của đức tin Kitô, để xin lỗi nhau, là tiền đề để vượt qua rất nhiều chia rẽ. Xem ra đó là những sáng kiến nhỏ nhoi, nhưng “không gì vô nghĩa khi làm vì lòng mến yêu”. Ðức Giêsu ở giữa chúng ta là “nguồn đem lại sự hiệp nhất cho chúng ta”, Người sẽ chỉ cho chúng ta “con đường để trở thành những dụng cụ đem lại sự hiệp nhất Thiên Chúa mong muốn”.
Ủy ban đức Tin và Hiến chế của Hội đồng đại kết các Giáo hội và Hội đồng Tòa thánh cổ võ sự hiệp nhất giữa các tín hữu Kitô đã viết như vậy, khi đề ra “Lời sống” này. Tài liệu này đã được một nhóm đại kết ở Dublin (Ái-len) biên soạn. Thực vậy chính từ năm 1968 trong tuần lễ cầu nguyện cho sự hiệp nhất giữa các tín hữu Kitô chúng ta đã cùng nhau sống cùng một “Lời sống”: đây là dấu chỉ và niềm hi vọng cho cuộc hành trình tiến đến sự hiệp thông trọn vẹn và tỏ tường giữa các Giáo hội.

“Ở đâu hai ba người họp lại nhân danh Thầy, thì có Thầy ở giữa họ”


Nhưng hợp nhất nhân danh Ðức Giêsu nghĩa là gì?
Nghĩa là hợp nhất nơi Người, theo ý muốn của Người. Chúng ta biết là niềm ước ao cao cả nhất của Người, giới răn “của Người”, là giữa chúng ta có tình thương yêu lẫn nhau. Vậy ở đâu có hai hay nhiều người sẵn sàng thương yêu nhau như vậy, có khả năng từ bỏ mọi sự, miễn là có được sự hiện diện của Người, thì mọi sự chung quanh sẽ thay đổi. Ðức Giêsu sẽ có thể đi vào nhà chúng ta, vào những nơi làm việc cùng học hành, vào các nghị viện và các vận động trường để biến đổi mọi sự.
Sự hiện diện của Người sẽ là ánh sáng để giải quyết những vấn đề, sẽ là tính sáng tạo để đương đầu với những tình trạng cá nhân và xã hội mới, sẽ là lòng can đảm để thực hiện những chọn lựa khó khăn, sẽ là men cho cuộc sống con người với rất nhiều diễn tả của nó.
Sự hiện diện thiêng liêng, nhưng có thưc, của Người sẽ ở nơi các gia đình, giữa các công nhân nơi nhà máy, nơi văn phòng, nơi các hãng xưởng, sẽ ở với nông dân ngoài đồng, sẽ ở giữa các người buôn bán, giữa những người phục vụ công cộng, nơi mọi môi trường.
Ðức Giêsu, Ðấng sống giữa chúng ta vì tình thương yêu lẫn nhau luôn đổi mới và tỏ tường, sẽ lại hiện diện trên thế giới và sẽ giải phóng thế giới khỏi những tình trạng nô lệ mới. Và Chúa Thánh thần sẽ mở ra những con đường mới.


“Ở đâu hai ba người họp lại nhân danh Thầy, thì có Thầy ở giữa họ”


Qua kinh nghiệm, với lòng cảm tạ Thiên Chúa, thật rất đúng tất cả những gì tôi đã viết nhiều năm về trước, chúng ta có thể nói rằng nếu ta hiệp nhất thì Ðức Giêsu ở giữa chúng ta. Ðiều đó đáng giá hơn bất cứ kho tàng nào khác tâm hồn ta có thể có được: hơn cả mẹ, cha, anh em, con cái. Ðiều đó đáng giá hơn nhà cửa, việc làm, cơ nghiệp; hơn cả những tác phẩm nghệ thuật của một thành phố lớn như Roma, hơn cả những công việc của ta, hơn cả thiên nhiên quanh ta với hoa và đồng cỏ, biển cả và trăng sao: hơn cả tâm hồn chúng ta!
Thật là một chứng tá lớn lao ta đem lại cho thế giới, chẳng hạn, về tình thương lẫn nhau theo Tin mừng giữa một người công giáo và một người thuộc giáo hội Ác-mê-nô, giữa một người thuộc giáo hội mê-thô-đít và một người thuộc giáo hội chính thống!
Như vậy ngày nay chúng ta cũng hãy sống cuộc sống Người ban cho ta từng giây từng phút trong tình bác ái.
Tình huynh đệ là giới răn nền tảng. Nhờ đó mọi sự đều có giá trị, khi chúng là diễn tả của lòng bác ái huynh đệ chân thành. Không gì chúng ta làm có giá trị, nếu ở đó không có tình thương đối với người anh em: nghĩa là Thiên Chúa là Cha và Người luôn chỉ mang trong lòng những con cái của mình mà thôi.
Chúng ta hãy sống thế nào để luôn có Ðức Giêsu ở với mình, để đưa Người đến thế gian không biết đến niềm an bình của Người.

Chiara Lubich
Lm. JB Vượng chuyển ngữ
Nguồn: Simonhoadalat.com

admin
08-02-2006, 03:59 PM
Lời sống
Tháng Hai 2006


“… Người đi ra một nơi hoang vắng và cầu nguyện”

(Mc 1,35)

Thật là một ngày thứ bảy bận rộn Ðức Giêsu đã sống tại thành phố Ca-pác-na-um! Hôm đó Người đã giảng tại hội đường làm cho tất cả mọi người kinh ngạc về những điều Người dạy.. Người đã giải thoát một người bị quỷ ô uế nhập. Khi ra khỏi hội đường Người đến nhà ông Si-mon và An-rê và chữa lành mẹ vợ ông Si-mon ở đó. Tối đến, sau khi mặt trời lặn, người ta mang đến cho Người tất cả mọi kẻ đau yếu cùng bị quỷ ám và Người chữa lành nhiều người bị đủ chứng bệnh và xua đuổi nhiều ma quỷ.
Sau một ngày và một đêm bận rộn như thế, ban sáng, khi trời còn tối, Ðức Giêsu thức dậy và ra khỏi nhà.


“… Người đi ra một nơi hoang vắng và cầu nguyện”


Ðó là lòng luyến nhớ về Trời. Người đã từ Trời đến thế gian để tỏ bày cho chúng ta tình thương của Thiên Chúa, để mở ra cho ta con đường lên Trời, để chia sẻ tất cả cuộc sống chúng ta. Người đã rảo khắp các nẻo đường xứ Pa-lét-ti-na để giảng dậy quần chúng, chữa lành mọi thứ bệnh tật nơi dân chúng, và huấn luyện các đồ đệ của mình.
Nhưng nhựa sống, giống như nguồn nước từ cõi lòng Người trào ra, đến từ mối liên hệ bền bỉ với Chúa Cha. Người và Chúa Cha hiểu biết nhau, mến yêu nhau, ở trong nhau, và hai vị là một (Xem Ga 10,15.30.38…).
Chúa Cha là “Ba”, nghĩa là bố, Ðấng Người thân thưa với lòng phó thác vô biên và tình thương vô tận.


“… Người đi ra một nơi hoang vắng và cầu nguyện”


Bởi vì Con Thiên Chúa đã đến trần gian vì chúng ta, nên chỉ một mình Người sống trong đặc ân cầu nguyện này không đủ. Khi chết đi vì chúng ta, khi cứu độ chúng ta, Người đã làm cho chúng ta nên con cái Thiên Chúa, nên những anh em của Người.
Như vậy lời cầu nguyện ấy của Người cũng có thể nên lời cầu nguyện của ta: “Thưa Ba, lạy cha”, với tất cả những gì gồm chứa trong đó: niềm chắc chắn được che chở, sự an toàn, lòng phó thác mù quáng cho tình thương của Chúa, những an ủi thần linh, sức mạnh, lòng hăng say; lòng hăng say nẩy sinh trong tâm hồn của người chắc chắn mình được yêu thương…
Một khi đã đi vào “căn phòng nội tâm” yên tĩnh của tâm hồn ta (Xem Mt 6:6), thì chúng ta có thể chuyện vãn với Chúa, thờ lạy Người, nói lên với Người lòng mến yêu của ta, cảm tạ Người, xin Người tha thứ, thổ lộ với Người những nhu cầu của ta và của toàn thể nhân loại, cũng như những ước mơ và mong ước của ta… Ðiều gì ta không thể nói được với một người ta biết là yêu thương ta vô vàn và là Ðấng toàn năng?
Và chúng ta có thể thưa chuyện với Ngôi Lời, với Ðức Giêsu. Nhất là chúng ta có thể lắng nghe Người, để cho Người lặp lại với ta những lời: “Cứ yên tâm, Thầy đây, đừng sợ!” (Mc 6,50), “Thầy ở cùng anh em mọi ngày” (Mt 28,20); lời mời gọi của Người: “Hãy đến theo tôi” (Mt 19,21), “Hãy tha thứ bảy mươi lần bảy” (Xem Mt 18,22), “Hãy làm cho người khác điều anh em muốn người ta làm cho mình” (Xem Mt 7,12).
Ðó có thể là những giây phút kéo dài, hoặc những giây phút ngắn ngủi và nhiều lần trong suốt ngày sống, giống như cái nhìn yêu thương, lời nói thầm với Người: “Chúa là gia nghiệp duy nhất của con” (xem Tv 16,2), “Con xin dâng hành động này cho Chúa”.
Chúng ta không thể không cầu nguyện. Chúng ta không thể sống mà không thở, và cầu nguyện là hơi thở của tâm hồn, là diễn tả của lòng ta mến yêu Chúa.
Sau cuộc chuyện vãn này, sau mối liên hệ hiệp thông cùng mến yêu này, chúng ta sẽ được nên vững mạnh, sẵn sàng đương đầu với cuộc sống mỗi ngày với sức mạnh và lòng tin tưởng mới. Chúng ta cũng tìm lại được mối liện hệ đích thực hơn với những người khác và với những sự vật chung quanh.


“… Người đi ra một nơi hoang vắng và cầu nguyện”


Lạy Chúa, nếu chúng con không đóng lại những cánh cửa tâm hồn với sự trầm tĩnh, thì Chúa không thể chuyện vãn với chúng con như tình thương của Chúa nhiều lần mong muốn. Nhưng một khi đã tách rời khỏi mọi sự để tịnh lại nơi Chúa, người ta sẽ không lùi lại đàng sau nữa, vì mối hiệp nhất với Chúa thì thật êm dịu cho tâm hồn và mọi cái khác chỉ là phù du.
Lạy Chúa, những ai thành thực mến yêu Chúa, họ thường cảm nhận Chúa trong sự yên lặng của căn phòng, trong thâm sâu của cõi lòng, và cảm súc này làm cho tâm hồn cảm động như động chạm được thực sự. Và họ cảm tạ Chúa đã gần gũi họ như vậy, đã nên Mọi sự như vậy: Ðấng đem lại ý nghĩa cho sự sống và cái chết.
Họ cảm tạ Chúa, nhưng thường họ không biết phải làm thế nào, nói lên làm sao: họ chỉ biết rằng Chúa yêu thương họ và họ mến yêu Chúa, và không có gì êm dịu như vậy trên trần gian này có thể ít là nên giống đôi chút điều đó. Ðiều họ cảm nhận trong tâm hồn, khi Chúa đến, là Trời và họ bảo “nếu Trời là như vậy thì tuyệt vời đến thế nào!”
Lạy Chúa, họ cảm tạ Chúa vì toàn thể cuộc sống, vì đã đưa họ đến chỗ này. Và nếu bên ngoài còn có những bóng tối có thể che mờ thiên đàng đã được cảm nghiệm trước, thì khi Chúa tỏ hiện mọi sự sẽ trở nên mơ hồ và xa xôi: đó là hư vô.
Chúa hiện hữu.
Ðúng như vậy.

Chiara Lubich
Lm. JB Vượng chuyển ngữ
Nguồn: Simonhoadalat.com

admin
23-02-2006, 05:10 PM
Lời sống
Tháng Ba 2006

“Quả thật, ai làm điều ác, thì ghét ánh sáng và không đến cùng ánh sáng,
để các việc họ làm khỏi bị chê trách.
Nhưng kẻ sống theo sự thật, thì đến cùng ánh sáng,
để thiên hạ thấy rõ: các việc của người ấy đã được thực hiện trong Thiên Chúa.”
(Gioan 3:20-21)



“Ai làm theo sự thật thì đến cùng ánh sáng”

(Gioan 3:21)

“Làm” sự thật là gì? Người ta thường nói ta học biết sự thật… Ðối với Ðức Giêsu thì ta “làm” sự thật. Lúc nào Ðức Giêsu cũng làm ta bỡ ngỡ.
Ông Ni-cô-đê-mô, một vị thầy trong dân Do thái, thành viên của Thượng hội đồng, cũng ngỡ ngàng. Ông đến với Ðức Giêsu để hỏi Người phải làm thế nào để được vào Nước Chúa, ông được trả lời là phải sinh lại, nghĩa là đón nhận sự sống mới Ðức Giêsu đã mang đến, ngõ hầu mình được biến đổi bề trong, cho đến khi trở thành con Thiên Chúa và như vậy đi vào thế giới của Người. Hơn là cuộc chinh phục của con người, ơn cứu độ là hồng ân Chúa ban cho ta.
Ông Ni-cô-đê-mô đến với Ðức Giêsu ban đêm, trong bóng tối, ông ra về tâm hồn được dọi sáng.

“Ai làm theo sự thật thì đến cùng ánh sáng”

Lời sống này là lời mời gọi ta hành động theo sự thật, hợp với Tin mừng. Nó đòi ta phải là những người đem thực hành Lời Chúa, chứ không chỉ nghe suông mà thôi (Xem Gia-cô-bê 1:22). Như thánh Hilaire, giám mục thành Poitiers, một vị giáo phụ, khẳng định rằng “ta phải chu toàn tất cả Lời Chúa; và tất cả những gì được nói ra tự nó đòi buộc ta phải đem thực hiện. Lời Chúa là những mệnh lệnh” (Tract. In Psalmum, 13, 1; PL 9,295).
Ðức tin và thái độ luân lý liên hệ với nhau cách thâm sâu.
Như ta thấy rõ trong cuộc chuyện vãn với ông Ni-cô-đê-mô, nếu nơi Ðức Giêsu ánh sáng, sự sống và tình thương tác động trùng hợp với nhau, thì đối với những người đón nhận Người và qua Người họ trở thành con cái Thiên Chúa cũng không khác gì. Thánh Clê-men-tê thành Alessandria, một vị giáo phụ khác, viết “Ai vâng phục Chúa và nhờ ơn Người sống theo Kinh thánh, thì sẽ được biến đổi hoàn toàn nên hình ảnh của Thầy mình: người đó đạt đến chỗ sống như Thiên Chúa trong xác thịt” (Stromatum, VII, 16, in PG 9,539C).
Cùng một cách thức như vậy cũng đòi buộc người nào không tuyên xưng một đức tin tôn giáo đặc biệt. Những xác tín sâu xa được lương tâm họ chỉ bảo, đòi hỏi phải được đem ra thực hành.

“Ai làm theo sự thật thì đến cùng ánh sáng”

Hoa quả sinh ra từ việc sống theo sự thật là đến với ánh sáng, “đón nhận” Ðức Kitô. Ðức Giêsu đã hứa: “Ai yêu mến thầy… thì Thầy sẽ tỏ mình ra cho người ấy” (Gioan 14:21). Người là “ánh sáng đích thực”.
Nhưng hoa quả sinh ra do việc làm theo sự thật cũng là chứng tá giãi tỏa ra bên ngoài, trong xã hội nơi ta sống. Ðức Giêsu cũng đã dạy như vậy, khi Người mời gọI ta chiếu giãi ánh sáng “trước mắt thiên hạ, để họ thấy những công việc tốt đẹp anh em làm, mà tôn vinh Cha của anh em, Ðấng ngự trên trời” (Mt 5:14-16).
Một cuộc sống phù hợp với Lời Chúa thì hùng hồn hơn là bất cứ lời nói nào. Con cái đòi cuộc sống phù hợp nơi cha mẹ: chúng muốn cha mẹ hợp nhất, chú tâm củng cố sự hòa hợp trong gia đình. Dân chúng chờ đợi cuộc sống phù hợp nơi những nhà chính trị họ đã bầu lên: họ được đòi hỏi phải trung thành với chương trình đã thỏa thuận, lo lắng cho ích chung, liêm chính trong việc quản lý tài nguyên tài chính. Các học sinh đòi cuộc sống phù hợp nơi những giáo viên trong nỗ lực dạy bảo cùng giáo dục của họ. Lòng liêm chính, tính trong sáng, có khả năng, được đòi hỏi nơi những người buôn bán, nơi những người thợ, nơi những người chuyên nghiệp.
Ta cũng xây dựng xã hội qua việc làm chứng về sự hòa hợp giữa những lý tưởng của mình với những chọn lựa cụ thể hàng ngày.

“Ai làm theo sự thật thì đến cùng ánh sáng”

Ðó là kinh nghiệm của những người như ông Nelson Mandela, người đã biết giữ niềm tin vào sự dấn thân tranh đấu cho quyền bình đẳng, điều ông đã phải trả giá bằng những năm dài đen tối trong tù, và sau đó ông đã được đưa lên để hướng dẫn xứ sở mình; như Martin Luther King, người đã trả giá bằng chính mạng sống mình cho cách sống phù hợp với phẩm giá con người.
Ðó cũng là kinh nghiệm của biết bao người đàn ông và phụ nữ vô danh, nhưng là những con người đích thực trong những chọn lựa của họ. Chẳng hạn điều đó đúng với một người điều khiển một xí nghiệp, người ta đòi hối lộ cho hàng hóa của ông. Nhưng ông giữ đúng những nguyên tắc của mình. Ðó là một quyết định khó khăn nhưng cứng rắn, ông ý thức rằng khi giữ niềm tin vào lòng liêm chính, ông sẽ liều mình mất phần lớn lợi lộc. Ðúng thế cửa hàng lớn nhận phân phát hàng hóa của ông thu hồi phiếu đặt hàng. Việc đó đưa hãng đến chỗ có thể bị phá sản. Tuy nhiên sau vài tháng, cửa hàng ấy đã bó buộc phải hủy bỏ quyết định này: đó là vì các thân chủ phản đối, vì họ không thấy những món hàng của hãng đó trên kệ bán. Như vậy việc sống phù hợp trong cuộc sống đã được công nhận.


Chiara Lubich
Lm. JB Vượng chuyển ngữ
Nguồn: Simonhoadalat.com

admin
18-03-2006, 07:46 AM
Suy Niệm
và Sống Lời Chúa, với Chiara Lubich.

http://www.simonhoadalat.com/HOCHOI/KINHTHAN/CHIARA.JPG
Chiara Lubich là người sáng lập phong trào Focolare (http://www.focolare.org/) năm 1943 tại thành phố Trent nước Ý . Những bài chia sẻ hàng tháng sau đây của Chiara Lubich dựa trên một câu Kinh Thánh trích từ một trong các Bài Ðọc Phụng Vụ của tháng đó và đã được dịch ra nhiều thứ tiếng. Các bản tiếng Việt sau đây do LM. JB. Vượng (Úc Châu) chuyển dịch . Xin mời các bạn cùng đọc và sống Lời Chúa.


Các bài Lời Sống năm 2006 (http://www.simonhoadalat.com/Suyniem/songloi/MainLS2006.html)
Các bài Lời Sống năm 2005 (http://www.simonhoadalat.com/Suyniem/songloi/MainLS2005.html)
Các bài Lời Sống năm 2004 (http://www.simonhoadalat.com/Suyniem/songloi/MainLS2004.html)
Các bài Lời Sống năm 2003 (http://www.simonhoadalat.com/Suyniem/songloi/MainLS2003.html)
Các bài Lời Sống năm 2002 (http://www.simonhoadalat.com/Suyniem/songloi/MainLS2002.html)
Các bài Lời Sống năm 2001 (http://www.simonhoadalat.com/Suyniem/songloi/MainLS2001.html)
Các bài Lời Sống năm 2000 (http://www.simonhoadalat.com/Suyniem/songloi/MainLS2000.html)

admin
28-03-2006, 04:02 PM
“Ðức Giêsu trả lời:

“Ðã đến giờ Con Người được tôn vinh. Thật, Thầy bảo thật anh em, nếu hạt lúa gieo và lòng đất không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình; cò nếu chết đi, nó mới sinh nhều hạt khác.
“Ai yêu quý mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai coi thường mạng sống mình ở đời này, thì sẽ giữ lại được cho sự sống đời đời.
“Ai phục vụ Thầy, thì hãy theo Thầy; và Thầy ở đâu, kẻ phục vụ Thầy cũng sẽ ở đó.
“Ai phục vụ Thầy, Cha của Thầy sẽ quý trọng người ấy.” (Gioan 12:23-26).



Lời Sống

Tháng Tư 2006



“Nếu hạt lúa gieo xuống đất không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình; còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác” (Ga 12:24)


Những lời này của Ðức Giêsu, tài tình hơn là một bài diễn giải, mở ra cho ta thấy bí mật của sự sống.

Không có niềm vui nào của Ðức Giêsu mà thiếu đau khổ được mến yêu đi kèm. Không có sự sống lại mà thiếu cái chết.

Ở đây Ðức Giêsu nói về chính mình, Người giải thích ý nghĩa của sự sống.
Lúc đó chỉ còn mấy ngày nữa là Người phải chết. Ðó sẽ là cái chết đau đớn, nhục nhã. Tại sao chính Người, Ðấng tuyên dương mình là sự Sống, lại phải chết? Tại sao Người vô tội lại phải chịu khổ? Tại sao Người lại bị vu khống, bị vả vào mặt, bị nhạo cười, bị đóng đinh trên thập giá, một kết thúc nhuốc hổ nhất? Và nhất là tại sao Người là Ðấng đã luôn sống hợp nhất với Thiên Chúa, lại cảm thấy mình bị Chúa Cha bỏ rơi? Cái chết cũng làm người sợ hãi; nhưng nó mang một ý nghĩa: đó là sự sống lại.

Người đã đến để tụ tập con cái Thiên Chúa bị ly tán lại (Cf Ga 11:52), để đập tan mọi hàng rào chia rẽ các dân tộc và con người, để làm cho con người chia rẽ với nhau nên anh em, để đem lại niềm an bình và xây lập hiệp nhất. Nhưng có một giá phải trả: đó là để kéo tất cả mọi người đến với mình thì Người sẽ bị giương lên khỏi mặt đất, trên thập giá (Cf. Ga 12:32). Và đó là một dụ ngôn, dụ ngôn đẹp nhất trong toàn thể Tin mừng:


“Nếu hạt lúa gieo xuống đất không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình; còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác”



Chính Người là hạt lúa đó.

Trong thời gian lễ Vượt qua, Người đến với ta từ thập giá trên cao, đây là cuộc tử đạo và vinh quang của Người, là dấu chỉ về một tình yêu cực độ. Ở đó Người đã cho đi mọi sự: tha thứ cho những kẻ giết Người, thiên đàng cho kẻ trộm, để lại cho chúng ta mẹ Người cùng thân xác và máu Người, sự sống của Người đến độ phải kêu lên: “Lạy Thiên Chúa con, Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?”

Tôi đã viết năm 1944 như sau: “Bạn có biết rằng Người đã ban mọi sự cho chúng ta không? Một Thiên Chúa còn có thể ban điều gì hơn nữa cho ta, Ðấng vì lòng thương yêu, xem ra quên mình là Thiên Chúa?”

Và Người đã ban cho chúng ta khả năng trở nên con cái Thiên Chúa:

Người đã sinh hạ một dân mới, một cuộc tạo dựng mới.

Ngày lễ Hiển linh hạt lúa được gieo xuống đất cùng chết đi, đã nở ra cây đem lại hoa qủa: ba ngàn người, thuộc mọi dân mọi nước, họ trở nên “một lòng một trí”, sau đó là năm ngàn người, rồi…


“Nếu hạt lúa gieo xuống đất không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình; còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác”


Lời sống này cũng đem lại ý nghĩa cho cuộc sống chúng ta, cho đau khổ ta phải chịu, rồi một ngày cho cái chết của ta.

Tình huynh đệ đại đồng mà chúng ta muốn thưc hiện, niềm an bình, hiệp nhất mà chúng ta muốn xây đắp chung quanh, chỉ là một giấc mơ mơ hồ, mau qua, nếu chúng ta không sẵn sàng đi qua chính con đường Thầy đã vạch ra.

Người đã làm thế nào để “mang lại nhiều hoa quả”?

Người đã chia sẻ mọi sự với chúng ta. Người đã mặc lấy những đau khổ của ta. Người đã nên sự tối tăm, buồn rầu, mệt mỏi, mâu thuẫn… với chúng ta. Người đã cảm nghiệm sự phản bội, cô đơn, mồ côi… Tắt một lời Người đã nên ‘một với chúng ta’, bằng cách nhận lấy tất cả gánh nặng của ta.

Chúng ta cũng vậy. Khi mến yêu say mê Thiên Chúa ấy, Ðấng đã nên “người bên cạnh” ta, chúng ta có một cách để nói với Người rằng chúng ta biết ơn Người vô vàn vì tình thương vô biên của Người: đó là sống như Người đã sống. Và đây đến lượt chúng ta cũng nên “người bên cạnh” của tất cả những ai đi bên ta trong cuộc sống, bằng cách luôn sẵn sàng ‘trở nên một” với họ, sẵn sàng nhận lấy sự chia rẽ, chia sẻ đau khổ, giải quyết một vấn đề, với lòng yêu thương cụ thể, lòng yêu thương trở nên việc phục vụ.

Trong tình trạng bỏ rơi Ðức Giêsu đã cho đi tất cả; trong linh đạo đặt trọng tâm nơi Người, Ðức Giêsu sống lại phải sáng ngời hoàn toàn và niềm vui phải làm chứng cho điều đó.


Chiara Lubich


Lm. JB Vượng chuyển ngữ

Nguồn: Simonhoadalat.com

admin
05-04-2006, 07:25 AM
Chiara Lubich


(1920 - .....)

Nữ giáo dân sáng lập Phong Trào FOCOLARE


Theo tin Radio Veritas Asia ngày 7/12/2003, ngày áp lễ Đức Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội, Phong trào Focolare (tiếng Ý có nghĩa là ‘lò sưởi” cho nên cũng gọi là Phong Trào Tổ Ấm) mừng kỷ niệm 60 năm thành lập Phong Trào. Nhân dịp này, ĐTC Gioan Phaolô II đã gửi đến chị Chiara Lubich, người sáng lập Phong Trào Tổ Ấm, một sứ điệp để cám ơn và khuyến khích Phong Trào nỗ lực xây dựng sự hiệp nhất trong Giáo Hội.
Trong sứ điệp, Đức Thánh Cha đã nhiệt liệt khen ngợi PT Focolare và gọi các thành viên của Phong Trào này là các “tông đồ của đối thoại”. Ngài nói: “Các thành viên PT Focolare đã biến mình thành các tông đồ của đối thoại, như một phương thế ưa chuộng để đề cao hiệp nhất: Đối thoại trong Giáo Hội, đối thoại đại kết, đối thoại liên tôn, và đối thoại với những người vô tín ngưỡng”.

Đức Thánh Cha cũng bày tỏ lòng biết ̃n đối với chị Chiara Lubich: “Một cách đặc biệt, với tâm tình biết ơn, Tôi muốn gửi lời chào Chị, là người sáng lập Phong Trào Tổ Ấm này. Thật vậy, ‘Công việc của Mẹ Maria’ đã được khai sinh với việc tận hiến đặc biệt cho Thiên Chúa, mà Chị đã thực hiện tại Trento, vào cuối năm 1943, và kể từ đó ‘Công việc của Mẹ Maria’ càng ngày càng phát triển và trọn vẹn hướng về Tình Yêu Thiên Chúa và việc phục vụ cho sự hiệp nhất trong Giáo Hội và trong thế giới”. Phong Trào Focolare còn được gọi là “Công việc của Mẹ Maria” (Opera di Maria).


Khai sinh Phong trào Focolare

Năm 1943, Chiara Lubich, tròn 23 tuổi, là một giáo viên trẻ đang dạy học tại một trường Tiểu học ở Trentô, thuộc miền bắc nước Ý. Chị ghi danh học môn Triết tại Đại Học Venice (Ý).

Giữa những cơn bạo động và tàn phá thảm khốc của Đệ Nhi Thế Chiến, cùng với một nhóm bạn hữu, Chiara nghiệm ra rằng chỉ có Thiên Chúa mới là lý tưởng sống của con người. Thiên Chúa ấy, theo chị Chiara hiểu, đó là Tình Yêu. Tình yêu sẽ hoán cải chị và nhiều người khác. Thiên Chúa-Tình Yêu tỏ cho chị và những người khác thấy ý nghĩa của cuộc sống: Cùng làm việc với nhau để thực thi lời nguyện hiệp nhất của Chúa Giêsu. "Lạy cha, xin cho họ trở nên một." Lời nguyện ấy đã thấm vào tận huyết tủy của chị Chiara. Dần dần chị hiểu rõ thêm lời nguyện ấy còn có nghĩa là kế hoạch nguyên thủy của Thiên Chúa phải được xác lập: hãy đưa gia đình nhân loại đi tới hiệp nhất với nhau.

Chỉ trong hơn 50 năm, từ kinh nghiệm sống Phúc Âm hằng ngày, chị Chiara đã đạt tới một tinh thần tu đức mới – tu đức hiệp nhất. Tinh thần tu đức ấy thấm nhập vào đời sống của chị giúp chị khai sinh một phong trào canh tân tu đức và canh tân xã hội được trải rộng khắp thế giới: Phong Trào Focolare.


Những Năm Tháng Cuộc Đời Dâng Hiến

Năm 1920.
Chiara sinh năm 1920 tại Trentô. Vào thời kỳ Quốc Xã, gia đình chị phải trải qua cảnh nghèo đói thảm khốc: Thân phụ của chị, một người thuộc phe xã hội, bị mất việc làm vì lý do chính kiến bất đồng. Để hỗ trợ gia đình, Chiara phải vừa đi học vừa đi dạy kèm tư gia.

Ngày 7 tháng Mười Hai 1943.
Chị đáp lại lời mời gọi dâng hiến trọn đời sống cho Thiên Chúa.

Đêm 13 tháng Năm 1944.
Đó là cái đêm thành phố Trentô bị dội bom khốc liệt. Ngôi nhà của chị Chiara cùng với nhiều nhà khác bị thiêu hủy hoàn toàn. Thân nhân của chị chạy vào núi ẩn náu, nhưng chị quyết ở lại Trentô với một vài người. Những người này về sau đã hăm hở đi theo con đường của chị. Giữa đổ nát hoang tàn của thành phố, chị Chiara bắt gặp một phụ nữ đang đau khổ đến điên cuồng trước cái chết tất tưởi của bốn đứa con. Chị an ủi người thiếu phụ. Và kinh nghiệm đau thương này cho chị thấy: Phúc Âm phải được hiện thực qua những cuộc cách mạng xã hội mạnh mẽ nhất: Theo chị, sự dấn thân liên tục của Phong Trào vào các vấn đề xã hội đó chính là dấu chỉ của những cuộc cách mạng ấy.

Năm 1948.
Chị Chiara gặp Igino Giordani, một nhà hoạt động chính trị, một dân biểu quốc hội, một nhà văn, một ký giả, một nhà tiên phong trong lãnh vực đại kết, và là một người cha gia đình có 4 con. Cuộc hội kiến đầu tiên diễn ra tại Quốc Hội Ý. Và Igino Giordani trở thành người đồng sáng lập Phong Trào Focolare với Chiara, do những cống hiến của Igino vào việc đưa tinh thần xã hội vào tinh thần linh đạo hiệp nhất làm phát sinh đồng thời hai phong trào khác: Phong Trào Gia Đình Mới (New Families Movement) và Phong Trào Nhân Loại Mới (New Humanity Movement).

Năm 1949.
Chiara lại gặp Pasquale Foresi, một thanh niên trưởng thành trong các môi trường Công Giáo. Trong khi tìm kiếm một lối sống nội tâm sâu sắc, chàng thanh niên cảm thấy cần phải có một cuộc dấn thân kết hợp các chân lý của Phúc Âm với đời sống mỗi người trong Giáo Hội.
Người thanh niên trở thành hội viên Focolare và rồi trở thành là hội viên đầu tiên làm linh mục. Thụ phong năm 1954, Cha Pasquale Foresi luôn luôn kề cận với vị sáng lập viên thủ lãnh để đẩy mạnh các cuộc nghiên cứu Phong Trào về mặt thần học. Cha Foresi mở nhà xuất bản sách báo để giới thiệu và phát triển Phong Trào, cụ thể hóa các quan điểm về giáo sĩ cũng như giáo dân. Cùng với chị Chiara Lubich và Igino Giordani, cha Pasquale Foresi được coi là một đồng sáng lập Phong Trào Focolare.

Năm 1954.
Tại Vigo di Fassa (gần Trentô), một cuộc họp mặt được diễn ra với các người tị nạn vừa trốn thoát khỏi các trại tập trung khổ sai Đông Âu. Nền linh đạo hiệp nhất của Phong Trào Focolare bắt đầu tác động trên các cá nhân và đoàn nhóm thuộc các quốc gia khối Sô Viết.
...

Lê Thiên & Lê Tinh Thông (sưu tầm & biên khảo)

Nguồn: Gương Sống Đạo Giữa Đời: Chiara Lubich & Focolare (http://diendangiaodan.com/DD29/Chiara%20Lubich.htm)

admin
25-05-2006, 08:09 PM
“Bấy giờ ông Phêrô lên tiếng nói: “Quả thật, tôi biết rõ Thiên Chúa không thiên vị người nào. Nhưng hễ ai kính sợ Thiên Chúa và ăn ở công chính, thì bất họ thuộc dân tộc nào, cũng đều được Người tiếp nhận.<?xml:namespace prefix = o ns = "urn:schemas-microsoft-com:office:office" /><o:p></o:p>

Ông Phêrô còn đang nói những điều đó, thì Thánh Thần đã ngự xuống trên tất cả những người đang nghe lời Thiên Chúa. Những tín hữu thuộc giới cắt bì cùng đến đó với ông Phêrô đều kinh ngạc, vì thấy Thiên Chúa cũng ban Thánh Thần xuống trên cả các dân ngoại nữa, bởi họ nghe những người này nói các thứ tiếng và tán dương Thiên Chúa. Bấy giờ ông Phêrô nói rằng: “Những người này đã nhận được Thánh Thần cũng nhưng chúng ta, thì ai có thể ngăn cản chúng ta lấy nước làm phép rửa cho họ? Rồi ông truyền làm phép rửa cho họ nhân danh Ðức Giêsu Kitô. Sau đó họ xin ông ở lại ít ngày.”<o:p></o:p>

(Công vụ Tông đồ 10:34-35.44-48)<o:p></o:p>


<o:p></o:p>

Lời Sống <o:p></o:p>

Tháng 5, 2006<o:p></o:p>


<o:p>
</o:p>


“Thiên Chúa không thiên vị ai, nhưng Người tiếp nhận người kính sợ Thiên Chúa cùng ăn ở công chính, bất kỳ họ thuộc dân tộc nào” <o:p></o:p>

(CVTÐ 10:34-35).
<o:p></o:p>
<o:p></o:p>
Thiên Chúa có lòng đại lượng vô biên. NgườI không chia rẽ các dân tộc và các quốc gia, các tiếng nói cùng các chủng tộc. Chúng ta đều là con cái của Người, cùng có phẩm giá như nhau.
<o:p></o:p>
Chính những tín hữu Kitô đầu tiên tại Gê-ru-sa-lem cũng cảm thấy khó hiểu được tâm thức mở rộng cùng phổ quát ấy. Bởi vì họ tất cả đều thuộc về cùng một dân tộc, ý thức mình là dân được tuyển chọn, nên họ khó có được mối liên hệ huynh đệ đích thực với những thành phần thuộc các dân khác. Và họ phẫn nộ khi được biết là ông Phêrô, tại thành phố cảng Cê-sa-rê-a, đã vào nhà ông Co-nê-li-ô, một sĩ quan người Rôma, một ngoại kiều. Không được chung chạ với ngoại kiều!
<o:p></o:p>
Người “cho mặt trời mọc lên soi sáng kẻ xấu cũng như người tốt, và cho mưa xuống trên người công chính cũng như kẻ bất chính” (Mt 5:45). Thiên Chúa yêu thương tất cả mọi người, không phân biệt một ai.
<o:p></o:p>
Ðó là điều ông Phêrô đã khẳng định trước mặt người lính Rôma, đang khi chính ông cũng phải thắng vượt những thành kiến làm cho mình xa cách với những người thuộc các dân khác:
<o:p></o:p>
<o:p></o:p>
“Thiên Chúa không thiên vị ai, nhưng Người tiếp nhận người kính sợ Thiên Chúa cùng ăn ở công chính, bất kỳ họ thuộc dân tộc nào”<o:p></o:p>


Nếu Thiên Chúa hành sử như thế, thì chúng ta, những con cái của Người, cũng phải hành sử như Người và mở rộng lòng, phải đập nát mọi cản trở, giải phóng ta khỏi mọi cảnh nô lệ.
<o:p></o:p>
Phải, bởi vì chúng ta thường là nô lệ cho những chia rẽ giữa người nghèo với người giầu, giữa các thế hệ, giữa người da trắng với người da đen, giữa các nền văn hoá cùng quốc tịch. Có biết bao định kiến đối với người nhập cư, ngoại kiều. Biết bao thành ngữ chỉ về người khác với ta. Từ đó sinh ra tình trạng không an toàn, thái độ sợ hãi bị mất đặc tính của mình, thái độ thiếu nhân nhượng…
<o:p></o:p>
Cũng có thể có những hàng rào tinh vi hơn giữa gia đình chúng ta và những gia đình hàng xóm, giữa những người thuộc nhóm tôn giáo của ta và những người thuộc tôn giáo khác, giữa những phường ở cùng một thành phố, giữa các đảng phái, giữa những hội thể thao… Và chúng đưa đến thái độ ngờ vực, oán hận mù quáng cùng sâu xa, thái độ thù nghịch không nhân nhượng…
<o:p></o:p>
Với một Thiên Chúa, Ðấng không phân biệt người ta, tại sao chúng ta lại không ghi khắc vào lòng tình huynh đệ đại đồng? Là con cái cùng một Cha, chúng ta có thể khám phá ra mỗi người ta gặp đều là anh chị em với mình.
<o:p></o:p>
<o:p></o:p>
“Thiên Chúa không thiên vị ai, nhưng Người tiếp nhận người kính sợ Thiên Chúa cùng ăn ở công chính, bất kỳ họ thuộc dân tộc nào”<o:p></o:p>

<o:p></o:p>

Vậy nếu tất cả chúng ta đều là anh chị em với nhau, thì ta phải thương yêu mọi người không ngừng nghỉ, khởi sự từ người ở gần ta. Lúc đó lòng thương yêu của chúng ta không còn phải là lòng thương yêu mơ mộng, mà cụ thể, bằng cách phục vụ.
<o:p></o:p>
Một lòng thương yêu có khả năng đến với người khác, bắt đầu cuộc đối thọai, đồng hóa mình với những hoàn cảnh đau thương của họ, nhận lấy những gánh nặng, những bận tâm của họ. Ðến chỗ người khác cảm thấy họ được thông cảm và tiếp nhận trong sự khác biệt của mình, và tự do nói lên tất cả sự phong phú họ mang trong lòng.
<o:p></o:p>
Một tình thương nâng đỡ những mối liên hệ sống động giữa những người thuộc những niềm xác tín khác nhau, dựa trên “khuôn vàng thước ngọc” nằm trong tất cả các sách thánh cùng ghi khắc trong lương tâm là: “Hãy làm cho người khác điều bạn muốn người ta làm cho mình”.
<o:p></o:p>
Một tình thương đưa các tâm hồn đến chỗ hiệp chung của cải, mến yêu quê hương người khác như quê hương mình, xây dựng những cơ cấu mới, trong niềm hi vọng là có thể làm cho những cụộc chiến tranh, khủng bố, tranh chấp, nạn đói cùng hàng ngàn sự dữ trên thế giới phải lùi bước.<o:p></o:p>
<o:p></o:p>
<o:p></o:p>

admin
25-05-2006, 08:09 PM
“Thiên Chúa không thiên vị ai, nhưng Người tiếp nhận người kính sợ Thiên Chúa cùng ăn ở công chính, bất kỳ họ thuộc dân tộc nào”<?xml:namespace prefix = o ns = "urn:schemas-microsoft-com:office:office" /><o:p></o:p>

<o:p></o:p>
Một trong những người bạn đầu tiên của tôi ở Rôma là chị Fiore đã cùng cảm nghiệm được điều đó với một thiếu nữ người thổ dân nước Guatemala tên là Moira, thuộc dòng dõi dân Maya Kacjchichel. Cô có 11 người em. Thổ dân ở đây rất kỳ thị và điều này tạo nên thái độ tự ti mặc cảm rất sâu đậm khi họ gặp những người lai và nhất là người da trắng.
<o:p></o:p>
Cô Moira kể về cuộc gặp gỡ với chị Fiore là “Chị Fiore không thiên vị”, chị nói với cõi lòng người dân, làm đổ xuống mọi hàng rào ngăn cách: “Tôi sẽ không bao giờ quên thái độ đón tiếp vui vẻ của chị. Tình thương của chị đối với tôi phản ánh tình thương Thiên Chúa.
<o:p></o:p>
Văn hoá của tôi và sự giáo dục gia đình đã làm cho tôi quen với những thái độ thường đóng kín và cứng ngắc, đến độ làm cho người ở gần tôi phải đi xa. Chị Fiore đã là thầy dậy tôi, là người hướng dẫn, là mẫu gương cho tôi… và chị đã giúp tôi vượt ra khỏi chính mình để tin tưởng đi đến với người khác.
<o:p></o:p>
Chị cũng đã đề nghị tôi đi học lại và đã nâng đỡ cùng khuyến khích tôi, đang khi vì những khó khăn về văn hóa và phương pháp, tôi muốn bỏ tất cả. Tôi đã có thể theo học lấy bằng thơ ký xí nghiệp.
<o:p></o:p>
Ðặc biệt là chị đã truyền đạt cho tôi ý thức về phẩm giá làm người của tôi. Chị đã làm cho tôi thắng vượt thái độ tự ti là thái độ tôi mang trong mình như một vết nhơ, vì là thổ dân. Từ khi còn nhỏ tôi mơ ước đấu tranh giành lại dân của tôi, nhưng chị Fiore đã làm cho tôi hiểu rằng tôi phải khởi sự từ chính mình. Ðó là trở nên “con người mới”, nếu tôi muốn làm nẩy sinh ‘một dân tộc mới’.
<o:p></o:p>
Khi yêu mến Lý tưởng, với Thiên Chúa là Ðấng không thiên vị người nào, như cô Moira ta có thể có được những giấc mơ mới: “Khi thưa vâng với Thiên Chúa tôi đã có thể mở ra một lối đi để đưa Lý tưởng này đến cho toàn thể dân của tôi và có thể nói được là tôi đã thấy lý tưởng ấy được thực hiện phần nào trong gia đình tôi”.<o:p></o:p>
<o:p></o:p>

Chiara Lubich<o:p></o:p>


Lm. JB Vượng, chuyển ngữ<o:p></o:p>

admin
25-05-2006, 08:12 PM
Lời Chúa<?xml:namespace prefix = o ns = "urn:schemas-microsoft-com:office:office" /><o:p></o:p>

Tôi xin nói với anh em là hãy sống theo Thần Khí, và như vậy, anh em sẽ không còn thỏa mãn đam mê của tính xác thịt nữa. Vì tính xác thí thì ước muốn những điều trái ngược với Thần Khí, còn Thần Khí lại ước muốn những điều trái nghịch với tính xác thịt, đôi bên kình địch nhau, khiến anh em không làm được điều anh em muốn. Nếu anh em để cho Thần Khí hướng dẫn, thì anh em không còn lệ thuộc Lề Luật nữa. Những việc do tính xác thịt gây ra thì ai cũng rõ, đó là: dâm bôn, ô uế, phóng đãng, thờ quấy, phù phép, hận thù, bất hoà, ghen tương, nóng giận, tranh chấp, chia rẽ, bè phái, ganh tỵ, say sưa, chie chén,và những điều khác giống như vậy. Tôi báo trước cho mà biết, như tôi đã từng bảo: những kẻ làm các điều đó sẽ không được thừa hưởng Nước Thiên Chúa. <o:p></o:p>

Còn hoa quả của Thần Khí là: bác ái, hoan lạc, bình an, nhẫn nhục, nhân hậu, từ tâm, trung tín, hiền hoà, tiết độ. Không có luật nào chống lại những điều như thế. Những ai thuộc về Ðức Itô Giêsu thì đã đóng đinh tính xác thít vào thập giá cùng vơói các dục vọng và đam mê. (Ga-lát 5:16-25).<o:p></o:p>
<o:p></o:p>

Lời sống <o:p></o:p>

Tháng Sáu 2006<o:p></o:p>


<o:p></o:p>

“Anh em hãy sống theo Thần khí… Nếu anh em để cho Thần khí hướng dẫn, thì anh em không còn lệ thuộc Lề Luật nữa” . (Galát 5:16.18)<o:p></o:p>

<o:p></o:p>
“Anh em đã được kêu gọi để hưởng tự do” (Gl 5:13). Ðây là lời ông Phaolô người Tác-sô loan báo cho các tín hữu Kitô sống tại nhiều cộng đoàn ở Ga-lát. Lời loan báo này lặp lại những lời của Ðức Giêsu, khi Người nói rằng Người sẽ làm cho chúng ta “thực sự được tự do” (Ga 8:36).
<o:p></o:p>
Ðược giải phóng khỏi điều gì? Các tín hữu Kitô ở Ga-lát đã được giải phóng khỏi những bó buộc của Luật Mô-sê, sự tự do ấy sau này được trải rộng đến tất cả mọi tín hữu Kitô. Hơn thế nữa, chúng ta đã được giải phóng khỏi tội lỗi và khỏi những hậu qủa của nó: đó là những sợ hãi, sự mê mải theo đuổi những lợi lộc của mình, những ước định của văn hóa, những quy ước của xã hội… Vì thế chúng ta được tự do, khi ta tuân theo những quy tắc sử sự trong xã hội cùng tôn giáo theo Kitô giáo, mà không cảm thấy chúng là những điều bó buộc áp đặt từ bên ngoài.
<o:p></o:p>
Chúng ta có một lề luật mới, thánh Phaolô gọi là “lề luật của Ðức Kitô” (Gl 6:2), được ghi khắc trong chính tâm hồn ta, nó phát ra từ nôi tâm, từ con người đựợc tình thương của Ðức Kitô đổi mới: đó là “lề luật của tự do” (Gl 2:12). Ðó là một lề luật, cùng một trật cũng ban cho ta sức mạnh để thi hành...
<o:p></o:p>
Chúng ta được tự do, bởi vì ta được Thần khí Ðức Giêsu, Ðấng sống nơi ta hướng dẫn. Từ đó có lời mời gọi:

<o:p></o:p>
<o:p></o:p>
“Anh em hãy sống theo Thần khí… Nếu anh em để cho Thần khí hướng dẫn, thì anh em không còn lệ thuộc Lề Luật nữa” <o:p></o:p>


Trong thời gian lễ Hiện xuống này, chúng ta hãy sống lại biến cố Chúa Thánh Thần ngự xuống trên Ðức Maria và các môn đệ tụ tập ở nhà tiệc ly. Với những lưỡi lửa, Người đổ tình thương Thiên Chúa trên họ (Xem Rm 5:5). Ðó là “lề luật mới”: thương yêu.
<o:p></o:p>
Thánh thần là Tình thương của Thiên Chúa, khi đi vào trong ta Người sẽ biến đổi cõi lòng ta, đổ vào chính tình thương của Người và dạy ta sử sự trong tình thương và vì tình thương.
<o:p></o:p>
Ðó là tình thương thúc đẩy, gợi cho ta phải đáp lại thế nào trước những tình cảnh cùng những quyết định mà chúng ta được kêu gọi thực hiện. Ðó là tình thương dạy ta phải phân biệt: điều tốt ta phải làm; điều xấu ta không nên làm. Ðó là tình thương thúc đẩy ta hành động bằng cách tìm lợi ích cho người khác.
<o:p></o:p>
Chúng ta không được hướng dẫn từ bên ngoài, mà từ nguyên lý của cuộc sống mới, cuộc sống mà Thần khí đã đặt vào trong ta. Sức mạnh, cõi lòng, trí tuệ, tất cả mọi khả năng của ta có thể “sống theo Thần khí”, bởi vì chúng được tình thương hợp nhất lại và hoàn toàn để cho chương trình Thiên Chúa dành cho ta cùng cho xã hội sử dụng.
<o:p></o:p>
Chúng ta được tự do mến yêu.

<o:p></o:p>
<o:p></o:p>
“Anh em hãy sống theo Thần khí… Nếu anh em để cho Thần khí hướng dẫn, thì anh em không còn lệ thuộc Lề Luật nữa”
<o:p></o:p>

<o:p></o:p>
“Nếu anh em để cho Thần khí hướng dẫn…” Lúc nào cũng có nguy hiểm là có điều gì ngăn cản Thần Khí hoàn toàn chiếm hữu tâm trí cùng cõi lòng chúng ta. Ta có thể cưỡng lại tiếng Người và sự dẫn dắt của Người đến độ “làm cho Người buồn lòng” (Ef 4:3), cùng “dập tắt” sự hiện diện của Người nơi ta (1 Tx 5:19). Bao lần chúng ta thích đi theo ước muốn của mình hơn là của Người, ý mình hơn ý của Người.
<o:p></o:p>
Vậy làm sao ta để cho tiếng nói trong lòng mình hướng dẫn? Tiếng đó đưa ta đến đâu? Cũng chính thánh Phaolô nhắc nhớ cho ta điều đó trong những câu đi trước: đó là toàn thể luật tự do mới được tóm tắt trong một điều răn duy nhất: đó là thương yêu người bên cạnh. Theo thánh Phaolô, cụ thể sống tự do có nghĩa là nên tôi tớ cho người khác, phục vụ người khác (Xem Gl 5:13-14). Tiếng nói trong thâm tâm (đồng nghĩa với tình thương) thúc đẩy chúng ta chú ý đến người bên cạnh mình, lắng nghe họ, cho đi.
<o:p></o:p>
Ðiều đó có thể xem ra kỳ lạ, nhưng mỗi Lời sống, tựu trung đều đưa ta đến chỗ mến yêu. Ðó không phải là một điều cưỡng bách, mà là lý lẽ của Tin mừng.
<o:p></o:p>
Chỉ khi nào sống theo tình thương chúng ta mới là những tín hữu Kitô đích thực.

admin
25-05-2006, 08:14 PM
“Anh em hãy sống theo Thần khí… Nếu anh em để cho Thần khí hướng dẫn, thì anh em không còn lệ thuộc Lề Luật nữa”<?xml:namespace prefix = o ns = "urn:schemas-microsoft-com:office:office" /><o:p></o:p>


<o:p></o:p>

Chúng ta hãy để cho Thần khí được tự do hướng dẫn ta theo con đường yêu thương. Ta có thể thưa với Người như sau:
<o:p></o:p>
<o:p></o:p>
Chúa là ánh sáng, là niềm vui, là vẻ đẹp.
<o:p></o:p>
Chúa lôi kéo các tâm hồn, đốt cháy các cõi lòng cùng làm nẩy lên những ý tưởng sâu xa cùng cương quyết đưa đến sự thánh thiện cùng với những dấn thân bất ngờ.
<o:p></o:p>
Chúa thánh hoá. Lạy Chúa Thánh thần, trên hết Chúa là Ðấng kín đáo, cho dầu dữ dằn và khuất phục, nhưng nhẹ nhàng như cơn gió thoảng mà ít người biết lắng nghe cùng nghe được, xin hãy nhìn đến sự thô lỗ trong thái độ khiếm nhã của chúng con và làm cho chúng con nên những đồ đệ của Chúa. Xin đừng để cho ngày nào qua đi mà chúng con không kêu cầu Chúa, không cảm tạ Chúa, không thờ lạy chúa, không mến yêu Chúa, không sống như những đồ đệ chăm chỉ của Chúa.
<o:p></o:p>
Chúng con xin Chúa ban ơn ấy cho chúng con.<o:p></o:p>
<o:p></o:p>

Chiara Lubich

Lm. JB Vượng, chuyển ngữ<o:p></o:p><o:p></o:p>

admin
04-07-2006, 09:08 AM
Lời Sống tháng Bảy

“Chúa gần gũi tất cả những ai cầu khẩn Chúa, mọi kẻ thành tâm cầu khẩn Người. ” (Tv 145,8 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Tv%20145:18&FontSize=Txt10))

Chiara Lubich


<?xml:namespace prefix = o ns = "urn:schemas-microsoft-com:office:office" /><o:p></o:p>
Tình yêu Thiên Chúa mang tính phổ quát. Tình yêu ấy ôm choàng lấy toàn thể vũ trụ và quan tâm đến cả dạng nhỏ nhất của sự sống. Thánh Vịnh của Lời Sống này là một bài ca tụng Thiên Chúa Đấng “giàu tình thương yêu”, luôn tìm đến với mọi sinh vật, bị cuốn hút bởi những nhu cầu của từng sinh linh.

Ở đây con người được miêu tả với thái độ khẩn khoản cầu xin sớm có được lương thực và những thứ cần thiết cho sự sống. Thiên Chúa rộng lượng mở đôi tay của Người cho cử chỉ này. Thiên Chúa quan tâm đến hết mọi người, nâng đỡ những ai hèn yếu, và “nâng dậy những ai đang quỵ ngã” (Tv 145,14 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Tv%20145:14&FontSize=Txt10)). Thiên Chúa dẫn dắt những ai lạc lối trở về đường ngay.

“Chúa gần gũi tất cả những ai cầu khẩn Chúa, mọi kẻ thành tâm cầu khẩn Người. ” (Tv 145,8 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Tv%20145:18&FontSize=Txt10))


Đây không phải một Thiên Chúa đang vắng mặt, xa cách hay dửng dưng với thân phận con người và số phận của từng người chúng ta, và chúng ta nhiều lần đã cảm nghiệm được sự gần gũi này. Tuy nhiên có những lúc khoảng cách này dường như trở nên cực đại; chúng ta cảm thấy đơn độc, bấp bênh và lạc hướng khi đối mặt với những tình huống hòng vùi dập chúng ta.

Một cảm giác nổi loạn có thể đã xảy đến cho chúng ta, hoặc những ác cảm – nếu không phải là thù ghét – đối với một trong những anh chị em chúng ta. Trái tim chúng ta chĩu nặng có lẽ bởi những chuyện đã dằng dai hàng năm tháng trong gia đình hoặc nơi làm việc – những chán nãn nhiều hay ít, một niềm tin bị bội phản, những ganh tỵ, hiềm khích hoặc thậm chí áp bức. Hoặc chúng ta cảm thấy chính chúng ta đang bị ngộp thở trong một thế giới dường như bị đè nặng bởi những khuynh hướng buông tuồng và tham vọng, không có lý tưởng, công bằng và hy vọng.

“Lạy Chúa, Chúa đang ở đâu?” lòng chúng ta kêu thét. “Chúa có yêu con thực không? Chúa có yêu con thực không? Tại sao Chúa lại để con trải qua tất cả những thứ này?” Nhưng rồi Lời Sống an ủi chúng ta: chúng ta không bao giờ đơn độc trên hành trình cuộc sống chúng ta.

“Chúa gần gũi tất cả những ai cầu khẩn Chúa, mọi kẻ thành tâm cầu khẩn Người. ” (Tv 145,8 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Tv%20145:18&FontSize=Txt10))

Những lời này là lời mời gọi làm sống lại niềm tin của chúng ta – Thiên Chúa luôn hiện diện và yêu thương tôi. Tôi có thể và phải tái khẳng định điều này bằng mọi hành động, trong mọi tình huống: Thiên Chúa luôn yêu tôi. Có một người trước mặt tôi ư? Tôi phải tin rằng qua người ấy Thiên Chúa muốn nói với tôi điều gì đó. Tôi đang bận bịu với công việc ư? Chính lúc ấy, tôi có thể tiếp tục tin vào tình yêu thương của Người. Đôi ba chuyện đau khổ xảy đến, nhưng tôi vẫn tin rằng Thiên Chúa luôn yêu thương tôi. Một khoảnh khắc tươi vui chợt đến ư? Thiên Chúa luôn yêu thương tôi.

Thiên Chúa hiện diện ở đây với tôi, luôn mọi lúc. Thiên Chúa biết mọi chuyện về tôi và chia sẻ mọi tâm tư, niềm vui, ước muốn của tôi, đồng thời cùng vác mang với tôi mọi ưu tư lo lắng và mọi phút giây khó khăn trong cuộc sống của tôi.


http://gpnt.net/images/arrow_dyn.gif

admin
04-07-2006, 09:08 AM
“Chúa gần gũi tất cả những ai cầu khẩn Chúa, mọi kẻ thành tâm cầu khẩn Người. ” (Tv 145,8 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Tv%20145:18&FontSize=Txt10))

Làm thế nào để chúng ta có thể làm cho mới lại niềm xác tín này trong chúng ta? Đây là một vài gợi ý.
<?xml:namespace prefix = o ns = "urn:schemas-microsoft-com:office:office" /><o:p></o:p>
Thiên Chúa chỉ dạy chúng ta phải làm thế nào: bằng cách hãy kêu đến Người! Khi Chúa Giêsu đang ở trên thuyền của ông Phêrô, thì một cơn bão ập đến, nhưng các môn đệ lại cảm thấy đơn độc và bị bỏ rơi vì Người cứ ngủ say. Các ông kêu đến Người: “Thưa Ngài, xin cứu chúng con, chúng con chết mất!” (Mt 8,25 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Mt%208:25&FontSize=Txt10)) và Người đã làm cho gió yên biển lặng.
<o:p></o:p>
Chính Chúa Giêsu, trên thập giá, cũng đã cảm thấy Cha không còn gần gũi bên mình nữa. Người đã kêu đến Cha bằng lời cầu nguyện trong giây phút tàn hơi cuối: “Lạy Thiên Chúa, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” (Mt 27,46 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Mt%2027:46&FontSize=Txt10)). Rồi, tin tưởng vào tình yêu thương của Cha, Chúa Giêsu đã phó thác mình cho Người, và Chúa Cha đã cho Người sống lại từ cõi chết.
<o:p></o:p>
Còn cách nào khác hơn để chúng ta có thể làm sống lại niềm tin của chúng ta vào sự hiện diện của Người không?
<o:p></o:p>
Bằng cách tìm kiếm Người giữa chúng ta. Người hứa sẽ hiện diện “bất cứ nơi nào có hai hoặc ba người tụ họp” nhân danh Người (Mt 18,20 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Mt%2018:20&FontSize=Txt10)). Do đó chúng ta hãy đến gặp gỡ trong tình yêu thương lẫn nhau theo Tin Mừng với tất cả những ai đang sống Lời Sống này. Hãy chia sẻ cách chúng ta đem Lời Sống ra thực hành như thế nào rồi chúng ta sẽ cảm nghiệm được hoa quả của sự hiện diện của Người: tươi vui, an bình, chan hoà ánh sáng và dũng cảm.
<o:p></o:p>
Chúa sẽ ngự trị trong mỗi người chúng ta, chúng ta sẽ tiếp tục cảm thấy Người gần bên và luôn hoạt động mọi ngày trong cuộc sống chúng ta. <o:p></o:p>
<o:p></o:p>
<o:p>Gia Nhân chuyển ngữ từ: Word of Life (http://www.livingcitymagazine.com/livingcity/html/Word.htm)</o:p>

admin
30-07-2006, 06:26 PM
Lời Sống tháng Tám



“Phải đối xử tốt với nhau, phải có lòng thương xót và biết tha thứ cho nhau, như Thiên Chúa đã tha thứ cho anh em trong Ðức Ki-tô”.
(Ep 4,32 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Ep%204:32&FontSize=Txt10))

<?xml:namespace prefix = o ns = "urn:schemas-microsoft-com:office:office" /><o:p></o:p>
<o:p></o:p>
Chương trình sống này thật cụ thể và thiết yếu. Chỉ có chương trình này mới có thể kiến tạo nên một xã hội khác, một xã hội giàu tình huynh đệ và liên đới. Chương trình này đã từng là một phần trong mệnh lệnh cho các Kitô hữu ở Tiểu Á. Những cộng đoàn ấy đã thành công trong việc thiết lập nền hoà bình giữa người Do thái và Dân ngoại, hai dân tộc mà mãi cho tới lúc đó vẫn luôn tỏ ra là một thế giới tách biệt nhau.
<o:p></o:p>
Sự hợp nhất mà Chúa Kitô mang lại, cần được luôn làm mới lại và chuyển thành những hành động xã hội cụ thể, hoàn toàn được thúc đẩy bởi tình yêu thương nhau. Trong Lời Sống tháng này chúng ta tìm thấy những chỉ dẫn đặc biệt phải nên sống những mối quan hệ của chúng ta như thế nào:
<o:p></o:p>
<o:p></o:p>

“Phải đối xử tốt với nhau, phải có lòng thương xót và biết tha thứ cho nhau, như Thiên Chúa đã tha thứ cho anh em trong Ðức Ki-tô”.



Đối xử tốt nghĩa là muốn điều tốt cho người khác. Có nghĩa là “làm cho chúng ta nên một” với họ, nhích lại gần họ bằng cách từ bỏ chính mình, từ bỏ những lợi lộc, những cảm nghĩ riêng mình và nhiều thành kiến thường che mờ tầm mắt của chúng ta. Làm như thế, chúng ta mới có thể mang lấy những gánh nặng của người khác, những thiếu thốn và những khổ đau của họ, đồng thời cũng chia sẻ những niềm vui của họ.<o:p></o:p>

Điều đó có nghĩa là chúng ta phải đi vào bên trong cõi lòng của những người chúng ta gặp gỡ, để hiểu được cách suy nghĩ, văn hoá và truyền thống của họ và biến chúng, một cách nào đó, trở thành của chính chúng ta. Như thế chúng ta mới có thể hiểu được họ cần gì và chúng ta có thể nhận ra những phẩm giá mà Thiên Chúa đã đặt để trong cõi lòng của mỗi con người. Tắt một lời, đối xử tốt có nghĩa là sống vì người khác.

Có lòng thương xót nghĩa là tiếp nhận những người khác như là chính họ, chứ không như một con người theo kiểu chúng ta muốn họ trở thành, với cá tính khác hẳn, với những quan điểm chính trị giống chúng ta, với những xác tín tôn giáo như chúng ta, và không có những khuyết điểm và những tính khí làm cho chúng ta bực tức. Không phải vậy, chúng ta cần mở rộng lòng chúng ta để có thể tiếp nhận mọi người với những khác biệt, những hạn chế và những vấn đề của họ.

Tha thứ nghĩa là luôn nhìn người khác với cặp mắt mới mẻ. Ngay cả trong những môi trường tốt đẹp và an bình nhất trong gia đình, nơi trường học và nơi làm việc, cũng có những lúc không thể tránh khỏi những xích mích, bất đồng, tranh cãi. Đôi khi chúng ta tránh né nhau, hoặc chúng ta không hoà thuận với nhau hoặc, nếu không nói là chúng ta đã dung dưỡng lòng thù ghét đối với những người không suy nghĩ như chúng ta. Thay vì như thế, chúng ta cần quyết chọn cách nhìn mỗi người anh chị em chúng ta như thể mới gặp lần đầu, một người mới lạ hoàn toàn, không nhớ đến họ đã xúc phạm chúng ta như thế nào, mà hãy bao phủ lên tất cả bằng tình yêu thương, bằng sự dung thứ hoàn toàn trong lòng chúng ta, theo gương của Thiên Chúa, Đấng luôn tha thứ và không oán trách ai.<o:p></o:p>

An bình và hợp nhất có thể có được khi lòng tốt, lòng thương xót và lòng khoan dung tha thứ được sống không bởi từng cá nhân riêng lẻ, nhưng bởi mọi người cùng với nhau và tương trợ cho nhau.

Cũng như que củi trong bếp lò cần phải được khơi động để khỏi bị tro phủ bám, thỉnh thoảng chúng ta cũng cần liệu cách để làm mới lại tình yêu thương nhau của chúng ta và truyền ban sức sống sinh động cho mối quan hệ của chúng ta với mọi người, để những mối quan hệ đó không bị phủ bám tro tàn của tính thờ ơ, lãnh đạm và ích kỷ.
<o:p></o:p>



“Phải đối xử tốt với nhau, phải có lòng thương xót và biết tha thứ cho nhau, như Thiên Chúa đã tha thứ cho anh em trong Ðức Ki-tô”.




Những thái độ này cần phải được biến chuyển vào trong cuộc sống, vào trong những hành động cụ thể.<o:p></o:p>


Chúa Giêsu tỏ cho chúng ta thấy tình yêu là gì khi Người chữa lành bệnh nhân và nuôi sống dân chúng, khi Người làm cho kẻ chết sống lại, và khi Người rửa chân cho các tông đồ. Những hành động, những việc làm cụ thể: đó chính là ý nghĩa của tình yêu.<o:p></o:p>

Tôi còn nhớ một bà mẹ gia đình ở Châu Phi có đứa con gái tên là Rosangela bị hư một con mắt vì một cậu con trai lấy cây que đâm thủng mà sau đó thậm chí còn tiếp tục trêu chọc em. Mà cả cha mẹ của cậu con trai cũng chẳng thèm đến nói lời xin lỗi. Hoàn toàn chỉ có thinh lặng. Bà mẹ của Rosangela đã tỏ vẻ gay gắt đối với gia đình này. Rosangela, trái lại, đã tha thứ cho cậu con trai, và nói với mẹ, “Mẹ nên an lòng vì con đã may mắn còn lại được một con mắt lành lặn”.

“Một buổi sáng nọ”, bà mẹ của Rosangela sau đó đã tâm sự, “mẹ của cậu con trai xin tôi đến thăm bà vì bà ngã bệnh. Phản ứng của tôi là: “Tại sao bà ta đòi tôi phải giúp bà ta cơ chứ? Bà ta có nhiều láng giềng khác sống gần quanh bà mà. Sau chuyện thằng con trai bà đã gây ra cho chúng tôi, sao mà bà ta còn dám đến xin tôi giúp đỡ cơ chứ?”.<o:p></o:p>

“Nhưng ngay lúc đó tôi nhớ lại rằng tình yêu thương thì không biết đến những rào chắn. Tôi vội vã chạy đến nhà bà ta. Bà ta ra mở cửa và té xỉu ngay trong vòng tay của tôi. Tôi đưa bà ta đến bệnh viện và chờ ở đó với bà cho đến khi có bác sĩ đến chăm sóc cho bà. Một tuần sau bà xuất viện và bà đã đến nhà tôi, cám ơn tôi. Tôi niềm nở đón tiếp bà ta, cuối cùng tôi cũng đã có thể tha thứ được cho bà ta, và giờ đây chúng tôi sống rất hoà hợp với nhau”. <o:p></o:p>

Chúng ta cũng có thể lấp đầy ngày sống của chúng ta với những hành vi phục vụ cụ thể, khiêm tốn, khôn ngoan bày tỏ tình yêu thương của chúng ta đối với tha nhân. Rồi thì tình huynh đệ và sự an bình sẽ lan toả ra xung quanh chúng ta.

<o:p></o:p>
<o:p></o:p>
Chiara Lubich

Gia Nhân chuyển ngữ



Xem: bản dịch của Ephata (http://www.trungtammucvudcct.com/web/news.php?mode=chitiet&no=212&cid=13&id=2123)

admin
01-09-2006, 09:15 AM
“Anh em hãy đem Lời ấy ra thực hành, chứ đừng nghe suông mà lừa dối chính mình.” (Gc 1,22 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Gc%201:22&FontSize=Txt10))

Chiara Lubich


Đây là lời ban sự sống, sự sống Tin Mừng, và, đồng thời là Lời cần được đem ra sống và thực hành.


Nếu Thiên Chúa nói với chúng ta, thì chúng ta phải đón nhận Lời của Người như thế nào? Kinh Thánh lặp lại lời mời gọi của Thiên Chúa hãy lắng nghe tiếng Người đến 1.153 lần. Thiên Chúa Cha cũng bày tỏ lời mời ấy cho các môn đệ khi Ngôi Lời, Con của Người, xuống thế sống giữa chúng ta: "Các ngươi hãy vâng nghe lời Người!" (Mt 17,5 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Mt%2017:5&FontSize=Txt10)).

Tuy nhiên việc lắng nghe điều Kinh Thánh nói lại được thực hiện bằng lòng trí hơn là thính giác. Có nghĩa là phải hoàn toàn gắn bó, tuân phục, biến thành của ta những gì Chúa nói với ta, với lòng tin tưởng của một đứa trẻ phó thác tất cả trong vòng tay của người mẹ để cho người mẹ bồng bế chăm sóc. <?xml:namespace prefix = o ns = "urn:schemas-microsoft-com:office:office" /><o:p></o:p>
<o:p></o:p>
Đây là điều mà thư thánh Giacôbê nhắc nhở chúng ta:

“Anh em hãy đem Lời ấy ra thực hành, chứ đừng nghe suông mà lừa dối chính mình.”

Trong Lời này chúng ta nghe âm vang huấn dụ của Chúa Giêsu. Chẳng hạn, “Phúc thay kẻ lắng nghe và tuân giữ lời Thiên Chúa” (Lc 11,28 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Lc%2011:28&FontSize=Txt10)), và còn, “Mẹ tôi và anh em tôi, chính là những ai nghe lời Thiên Chúa và đem ra thực hành” (Lc 8,21 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Lc%208:21&FontSize=Txt10)).

Dùng hình ảnh Chúa Giêsu nêu, Thánh Giacôbê so sánh Lời Chúa với một hạt giống được gieo vào trong lòng chúng ta và thúc giục dân chúng "hãy khiêm tốn đón nhận lời đã được gieo vào lòng anh em” (Gc 1,21 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=gc%201:21&FontSize=Txt10)). Nhưng đón nhận và nghe thôi chưa đủ. Cũng như hạt giống là để sinh hoa trái, thì Lời chúa cũng phải tăng trưởng thành những việc làm.

Chúa Giêsu đã cắt nghĩa điều này trong dụ ngôn hai người con được cha sai bảo: “Này con, hôm nay con hãy đi làm vườn nho.” Một đứa đáp: "Thưa ngài, con đây! " nhưng rồi lại không đi. Tuy nhiên đứa kia đáp: "Con không muốn đâu!" Nhưng sau đó, nó hối hận, nên lại đi (xem Mt 21,28-30 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Mt%2021:28-30&FontSize=Txt10)). Người con sau vâng lời cha, bằng việc làm của mình, anh đã cho thấy ý nghĩa thực sự của việc nghe lời Chúa.

Kết thúc Bài giảng trên Núi, Chúa Giêsu bảo rằng người nào sống Lời Chúa sẽ xây nền vững chắc cho cuộc sống của họ: “Vậy ai nghe những lời Thầy nói đây mà đem ra thực hành, thì ví được như người khôn xây nhà trên đá” (Mt 7,24 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Mt%207:24&FontSize=Txt10)).

“Anh em hãy đem Lời ấy ra thực hành, chứ đừng nghe suông mà lừa dối chính mình.”

Chúa Giêsu bộc lộ trọn cả tình yêu của Người dành cho chúng cha trong từng Lời của Người. Chúng ta hãy làm cho những lời ấy thành xương thịt, thành chính bản thân chúng ta, và nếu chúng ta đem những lời ấy ra thực hành thì một nguồn lực mạnh mẽ sống động sẽ được giải phóng bên trong và chung quanh chúng ta. Chúng ta hãy si mê Tin Mừng đến độ cho phép Tin Mừng biến đổi chúng ta và lan tràn sang những người khác. Đó chính là cách thế chúng ta đáp lại tình yêu của Chúa Giêsu.

Sẽ không còn là chúng ta sống nữa, mà chính Chúa Kitô sẽ bắt đầu sống trong chúng ta.

Chúng ta sẽ cảm nghiệm được ý nghĩa việc giải phóng khỏi chính chúng ta, khỏi những giới hạn của chúng ta, và khỏi tất cả những gì trói buộc chúng ta. Hơn nữa, chúng ta sẽ thất cuộc cách mạng tình yêu mà Chúa Giêsu, giờ đây được tự do sống trong chúng ta, sẽ bùng nổ trong các cấu trúc xã hội chung quanh chúng ta.

“Anh em hãy đem Lời ấy ra thực hành, chứ đừng nghe suông mà lừa dối chính mình.”

Chúng tôi cảm nghiệm điều này ngay từ lúc khai mở Phong Trào. Vì trong suốt Thế chiến thứ hai, vùng Trentô thường xuyên bị ném bom, chúng tôi đã chạy núp trong hầm tránh bom mang theo chỉ được có cuốn sách nhỏ: Sách Tin Mừng.

Chúng tôi mở sách và đọc. Thật hết sức tạ ơn Chúa, tôi nghĩ, những lời mà chúng tôi đã từng nghe nhiều lần giờ đây nổi bật hẳn lên với một sự dọi sáng mới. Đó là những lời sống, cần phải được sống thực hành ngay tức khắc. “Ngươi phải yêu người lân cận như chính mình” (Mt 22,39 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Mt%2022:39&FontSize=Txt10))— ngay cả giữa lúc đau buồn thê thảm của chiến tranh, những người được tình yêu ấy đánh động đã tái khám phá ra cách để mĩm cười thanh thản và tìm lại được ý nghĩa cho cuộc sống của mình. “Anh em hãy cho, thì sẽ được Thiên Chúa cho lại” (Lc 6,38 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Lc%206:38&FontSize=Txt10))—sau khi thực hiện một hành vi bác ái nho nhỏ chúng tôi đã nhận được tràn trề nguồn hậu cần hỗ trợ; những vật phẩm mà sau đó chúng tôi đã đem phát không khắp thành phố cho những người túng thiếu.

Do đó chúng tôi chứng kiến được sự lớn mạnh của một cộng đoàn sinh động chung quanh chúng tôi, một cộng đoàn lên đến 500 người chỉ trong vòng ít tháng.

Tất cả những điều này là hoa quả của sự hiệp thông với lời Chúa luôn hiện diện và tiếp sinh lực cho chúng tôi hết lúc này đến lúc khác. Lời này đã làm chúng tôi say ngất; chúng tôi nói rằng lời này đã cứu sống chúng tôi. Lúc ấy chỉ cần hỏi nhau: “Bạn có đang sống lời Chúa không?” “Bạn có đem lời Chúa ra thực hành không?” là chúng tôi có thể gia tăng mức độ sống lời Chúa.

Chúng ta phải quay trở lại để sống như chúng tôi đã sống trong những ngày ấy. Tin Mừng luôn luôn hợp thời. Chúng ta hãy tin và cảm nghiệm điều này.<o:p></o:p>

admin
30-09-2006, 08:30 AM
Lời Sống
Tháng Mười 2006<?xml:namespace prefix = o ns = "urn:schemas-microsoft-com:office:office" /><o:p></o:p>

"Ai cho anh em uống một chén nước vì lẽ anh em thuộc về Ðấng Ki-tô, thì Thầy bảo thật anh em, người đó sẽ không mất phần thưởng đâu.”(Mc 9,41 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Mc%209:41&FontSize=Txt10))

Xuyên suốt Tin Mừng, Chúa Giêsu luôn mời gọi chúng ta hãy biết cho đi: “hãy cho người nghèo” (Mc 10,21 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Mc%2010:21&FontSize=Txt10)). “Ai xin, thì hãy cho; ai muốn vay mượn, thì đừng ngoảnh mặt đi” (Mt 5,42 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Mt%205:42&FontSize=Txt10)). “Chính anh em hãy cho họ ăn đi!” (Mc 6,37 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Mc%206:37&FontSize=Txt10)). “Nếu ai muốn kiện anh để lấy áo trong của anh, thì hãy để cho nó lấy cả áo ngoài” (Mt 5,40 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Mt%205:40&FontSize=Txt10)). “Anh em đã được cho không, thì cũng phải cho không như vậy” (Mt 10,8 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Mt%2010:8&FontSize=Txt10)). Chúa Giêsu là người đầu tiên cho đi: Ngài đến mang sức khoẻ cho người đau yếu, tha thứ cho những kẻ tội lỗi và “hiến mạng sống mình làm giá chuộc muôn người” (Mc 10,45 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Mc%2010:45&FontSize=Txt10)). Đối nghịch với khuynh hướng tìm tích trữ của chúng ta, Chúa Giêsu đưa ra sự quảng đại; ngược với sự hướng chiều lo lắng cho những nhu cầu cần thiết của chúng ta Ngài đã chuyển đổi mục tiêu đến người láng giềng của chúng ta, và thế vào vị trí của nền văn hoá chiếm hữu bằng nền văn hoá trao ban. Chúng ta có thể cho nhiều hay ít, không quan trọng. Điều đáng kể là “cách thế” chúng ta cho, và mức độ yêu thương lo lắng đến tha nhân mà chúng ta giải bày dù là nơi một cử chỉ bé nhỏ. Đôi khi, chỉ cần cho họ một chén nước, “chỉ một chén nước mát thôi” như được viết trong Tin mừng Matthêu (10,42 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Mt%2010:42&FontSize=Txt10)), là một sự trao tặng thích đáng và cần thiết, đặc biệt là ở một đất nước nắng nóng và khô hạn như ở Palestine.<o:p></o:p>
<o:p></o:p>
«Ai cho anh em uống một chén nước vì lẽ anh em thuộc về Ðấng Ki-tô, thì Thầy bảo thật anh em, người đó sẽ không mất phần thưởng đâu».

Trao tặng một chén nước là một cử chỉ đơn sơ, nhưng lại là một việc làm có giá trị trước mặt Thiên Chúa nếu làm vì danh Ngài, hoặc vì tình yêu thương. Tình yêu thương có nhiều cường độ và biết làm thế nào để tìm ra được những cách thế thích hợp nhất để làm phát sinh hiệu quả. Yêu thương là vị tha bởi vì quên đi chính mình. Yêu thương là ưu tư lo lắng bởi vì khi nhìn thấy sự thiếu thốn của tha nhân mà mình không thể thỏa mãn nhu cầu ấy được. Yêu thương là thiết yếu nhất bởi vì biết gần gũi với tha nhân chỉ đơn sơ bằng cách niềm nở lắng nghe và phục vụ, bằng thái độ luôn sẵn sàng. Đã bao nhiêu lần, khi chúng ta ở bên cạnh những người khác, đặc biệt khi họ đang đau khổ, chúng ta cứ nghĩ rằng chúng ta đang giúp thật nhiều cho họ bằng cách khuyên nhủ họ, tuy nhiên không phải lúc nào cũng thuận lợi, hay bằng một cuộc trò chuyện lâu giờ, điều này lại làm cho họ mệt mõi và buồn chán thêm. Trái lại, điều quan trọng là hãy “trở nên” sự hiện diện của tình yêu thương cho từng người chúng ta gặp gỡ. Với tình yêu thương, chúng ta sẽ khám phá ra phương cách ngắn nhất để bước vào thế giới của tha nhân và nâng đỡ họ lên.
<o:p></o:p>
«Ai cho anh em uống một chén nước vì lẽ anh em thuộc về Ðấng Ki-tô, thì Thầy bảo thật anh em, người đó sẽ không mất phần thưởng đâu».
<o:p></o:p>
<o:p></o:p>
<o:p></o:p>
<o:p>Lời Sống cho tháng này có thể giúp chúng ta tái khám phá ra giá trị của những việc chúng ta làm: từ việc nhà đến việc làm nơi đồng áng hay xưởng sửa chữa xe, đến việc giấy tờ nơi văn phòng, đến những bài tập ở trường học, cũng như việc chu toàn những bổn phận công dân, chính trị và tôn giáo của chúng ta. Tất cả mọi chuyện đều có thể được biến đổi thành việc phục vụ tận tuỵ và ân cần cho tha nhân. Tình yêu thương sẽ giúp chúng ta nhận ra được những gì người khác đang thiếu thốn, và tình yêu thương sẽ chỉ cho chúng ta cách thế đáp ứng những nhu cầu đó một cách sáng tạo và quảng đại. Kết quả sẽ ra sao? Những quà tặng sẽ được sẽ luân chuyển, bởi vì tình yêu làm nảy sinh tình yêu. Niềm vui sẽ được nhân lên gấp bội vì “cho thì có phúc hơn là nhận” (Cv 20,35 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Cv%2020:35&FontSize=Txt10)).<o:p></o:p>
<o:p></o:p>
</o:p>

admin
30-09-2006, 05:09 PM
“Ai cho anh em uống một chén nước vì lẽ anh em thuộc về Ðấng Ki-tô, thì Thầy bảo thật anh em, người đó sẽ không mất phần thưởng đâu”.<?xml:namespace prefix = o ns = "urn:schemas-microsoft-com:office:office" /><o:p></o:p>

Tôi nhớ lại trong thời thế chiến thứ II có một số gia đình nghèo ở rải rác trong vùng Trentô, thành phố của chúng tôi. Chúng tôi thăm viếng và chia sẻ những gì chúng tôi có cho họ; chúng tôi muốn cải thiện điều kiện sống của họ để tất cả các gia đình ấy có được mức kinh tế quân bình hơn. Mặc dù đó chỉ là những việc làm bé nhỏ, nhưng chúng đã đem lại những kết quả không thể ngờ được: thức ăn, quần áo, và thuốc men đã được đưa đến thật dồi dào đáng kinh ngạc. Chúng tôi đã càng tin chắc chắn hơn rằng Tin Mừng luôn tích chứa lời giải đáp cho mọi vấn đề nan giải của từng cá nhân và tất cả các vấn nạn của xã hội.
<o:p></o:p>
Và việc đó đã không là ảo tưởng. Ngày nay hàng ngàn doanh nghiệp đã được cuốn hút vào trong khối Cộng đồng Kinh tế Tự do, theo như tên người ta đã gọi. Họ cố gắng thực hiện các hoạt động doanh nghiệo của họ theo văn hoá của sự cho đi và sử dụng những lợi nhuận của họ vào những mục đích xã hội, chẳng hạn như giúp đỡ những người khuyết tật bằng cách tạo công ăn việc làm cho họ và giải quyết những nhu cầu căn bản cho họ.
<o:p></o:p>
Nhưng người nghèo thì thật nhiều và lợi nhuận từ các doanh nghiệp này không thể nào đáp ứng hết tất cả các nhu cầu của họ. Do đó, từ năm 1994 nhiều người trong chúng tôi cam kết mỗi tháng ít nhất cũng dành ra một số tiền nhỏ để trợ giúp cho người nghèo. Hiện nay chúng tôi đang giúp cho 7000 người trong 55 quốc gia. Chúng tôi nhận được nhiều bằng chứng về “chén nước” đã được cho đi và đón nhận như thế nào; có vẻ đây giống như là một cuộc tranh đua để xem ai có thể là người quảng đại nhất.
<o:p></o:p>
Đây là một trong nhiều những kinh nghiệm mà chúng tôi đã nhận được từ Philpipines: “Quán nhỏ bán thịt của chúng tôi sắp bị phá sản bởi vì cơn dịch gia súc đang bộc phát. Chúng tôi đã phải lâm vào cảnh nợ nần và chúng tôi không chắc chúng tôi có thể tiếp tục được công việc. Nhờ sự trợ giúp kịp thời và liên tục của các bạn, chúng tôi đã lo được bữa ăn tươm tất hằng ngày.
<o:p></o:p>
Trước đây ít lâu, tôi đã bắt đầu nhận thức rằng chính tôi cũng phải giúp đỡ những người quanh tôi đang lâm cảnh khốn khó hơn tôi. Một trong những người láng giềng của tôi ốm liệt, chịu căn bệnh hành hạ rất đau đớn và cô ta cũng thật sự cần trợ giúp vật chất. Tôi đã giúp đỡ cô ta cho đến khi cô từ giã thế giới này. Vì chồng cô ta còn khốn quẫn hơn chúng tôi, anh ta không thể nào nuôi nấng đứa con thứ năm của họ. Cho nên tôi cũng đã chăm nom luôn đứa bé”.

<o:p></o:p>
Chiara Lubich <o:p></o:p>

admin
01-11-2006, 09:25 AM
Lời Sống tháng Mười Một 2006

«Phúc thay ai khát khao nên người công chính, vì họ sẽ được Thiên Chúa cho thoả lòng» (Mt 5,6 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Mt%205:6&FontSize=Txt10))


Trong ngôn ngữ thường ngày, chúng ta thường thấy từ “công lý” được dùng để nói đến việc tôn trọng nhân quyền, đòi hỏi bình đẳng, phân phối đồng đều các nguồn tài nguyên thế giới, các định chế để duy trì pháp luật.
<?xml:namespace prefix = o ns = "urn:schemas-microsoft-com:office:office" /><o:p></o:p>
Đó có phải là cái công lý Chúa Giêsu nhắc đến trong Bài Giảng Trên Núi, khi giảng giải về các mối phúc thật không? Thưa phải, nhưng phải đạt đến hiệu quả của một nền công lý bao quát hơn được thực hiện với những quan hệ hài hoà, với sự tương hợp và hoà bình.
<o:p></o:p>
Đói khát nhắc chúng ta nhớ đến những nhu cầu cơ bản của mỗi một con người; đói khát biểu thị rằng lòng ham muốn sâu xa của con người không bao giờ được hoàn toàn thoả mãn. Theo tin Mừng thánh Luca thì Chúa Giêsu chỉ nói rằng: “Phúc cho anh em là những kẻ bây giờ đang phải đói” (Lc 6,21 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Lc%206:21&FontSize=Txt10)). Thánh Matthêu giải thích rằng cái đói của con người nhân vị là cái đói Thiên Chúa, là Đấng duy nhất có thể làm thoả mãn hoàn toàn cái đói ấy. Thánh Augustinô rất am hiểu về điều này; ở trang đầu tiên của cuốn sách Tự Thú, ngài đã viết câu thời danh này: “Ngài đã dựng nên chúng con cho riêng ngài, nên tâm hồn chúng con luôn thao thức cho đến khi được an nghỉ nơi Ngài”.
<o:p></o:p>
Chính Chúa Giêsu cũng đã nói: “Ai khát, hãy đến với Ta mà uống” (Ga 7,37 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Ga%207:37&FontSize=Txt10)). Về phần ngài, ngài cũng đã nuôi sống ngài bằng thánh ý của Thiên Chúa: “Lương thực của Thầy là thi hành ý muốn của Ðấng đã sai Thầy.” (Ga 4,34 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Ga%204:34&FontSize=Txt10)).
<o:p></o:p>
Công chính, theo nghĩa tự loại của Kinh thánh, do đó, có nghĩa là sống phù hợp với chương trình Thiên Chúa đã hoạch định cho nhân loại, mà ngài dự kiến và mong muốn cho được trở thành một gia đình liên kết trong tình yêu.<o:p></o:p>

«Phúc thay ai khát khao nên người công chính, vì họ sẽ được Thiên Chúa cho thoả lòng» (Mt 5,6 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Mt%205:6&FontSize=Txt10))

Lòng mong ước và tìm kiếm sự công chính luôn được ghi khắc trong lương tâm con người. Chính Thiên Chúa đã đặt chúng vào trong tâm hồn con người. Nhưng mặc dù đã thực hiện được những cuộc chinh phục và phát triển trong suốt dòng lịch sử, chúng ta vẫn còn rất xa vời với sự hoàn thành kế hoạch của Thiên Chúa. Cả những cuộc chiến tranh vẫn đang xảy ra trong thời đại chúng ta, cũng như nạn khủng bố và những xung đột chủng tộc, đều là những dấu chỉ của sự thiếu bình đẳng về xã hội và kinh tế, của sự bất công và của sự thù hận.

Những trở ngại cho sự hòa hợp trên thế giới không chỉ thuộc bình diện pháp lý, mà là ở chỗ thiếu những luật pháp để điều hành cuộc sống chung của chúng ta. Những trở ngại này xuất phát từ những hành vi đạo đức và luân lý sâu xa hơn, từ cách chúng ta đánh giá một con người, từ việc chúng ta đối xử với nhau như thế nào.

Cũng đúng như thế trên bình diện kinh tế. Việc lan tràn sự kém phát triển và sự ngày càng gia tăng khoảng cách giữa người giàu và người nghèo, với sự phân phối không đồng đều về các sản phẩm, không chỉ là kết quả của những hệ thống sản xuất sai lầm; mà trước tiên và trên hết chúng xuất phát từ những chọn lựa chính trị và văn hóa. Đây là những sự kiện căn bản.

Khi Chúa Giêsu mời gọi chúng ta hãy trao áo ngoài cho người đòi lấy chiếc áo trong của chúng ta, hoặc đi thêm một dặm nữa nếu có ai đòi chúng ta đi một dặm (xem Mt 5,40-41 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Mt%205:40-41&FontSize=Txt10)), Ngài dạy cho biết “một điều gì hơn nữa” thậm chí một “sự công bằng cao hơn” vượt quá điều mà luật pháp thi hành, một sự công bằng được biểu tỏ bằng tình yêu.

Nếu không có tình yêu, không có sự tôn trọng nhân vị con người và lưu tâm đến những nhu cầu của họ, thì những mối quan hệ giữa những con người của chúng ta có thể xem ra hoàn toàn xứng hợp, nhưng chúng cũng có thể trở thành chiếu lệ đến nổi chúng không thể đem lại những giải đáp thỏa mãn cho nhu cầu thật sự của con người. Không có tình yêu, chúng ta sẽ không bao giờ có được sự công bằng thật sự, sự san sẻ của cải giữa người giàu và người nghèo, sự lưu tâm đến tính độc đáo của mỗi người nam và người nữ và đến những hoàn cảnh cụ thể mà ở đó họ gặp thấy chính mình. Vật phẩm thì tự chúng không thể di chuyển từ chỗ này đến chỗ nọ được: cho nên tâm hồn của con người phải được biến chuyển để làm cho những vật phẩm này di chuyển.

admin
01-11-2006, 09:24 PM
«Phúc thay ai khát khao nên người công chính, vì họ sẽ được Thiên Chúa cho thoả lòng» (Mt 5,6 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Mt%205:6&FontSize=Txt10))

Chúng ta nên sống Lời Sống này như thế nào?


Bằng cách nhận ra giá trị của từng tha nhân của chúng ta qua điều mà họ thật sự là: không phải chỉ như một con người có quyền lợi và bình đẳng cơ bản với những người khác, nhưng như là một nhân vị mang hình ảnh sống động của Chúa Giêsu.

Chúng ta phải yêu thương tha nhân ngay cả khi họ là kẻ thù của chúng ta, bằng chính tình yêu mà Chúa Cha đã yêu thương họ, sẵn sàng hy sinh cho họ, dù là hy sinh to lớn nhất: “hiến mạng sống mình vì bạn hữu” (John Paul II, Sollecitudo rei socialis, 40).

Điều này có nghĩa là phải sống với họ bằng cách trao ban cho nhau, chia sẻ tinh thần cũng như vật chất, sao cho tất cả mọi người trở nên một gia đình.

Như thế niềm mong mỏi của chúng ta cho một thế giới công bằng và hợp nhất, như Thiên Chúa đã dự liệu, mới trở thành hiện thực. Chính Người sẽ đến ở giữa chúng ta và Người sẽ làm cho chúng ta được viên mãn bằng sự hiện diện của Người.


«Phúc thay ai khát khao nên người công chính, vì họ sẽ được Thiên Chúa cho thoả lòng» (Mt 5,6 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Mt%205:6&FontSize=Txt10))

Một người làm văn phòng đã kể với chúng tôi nghe chuyện anh ta suýt mất việc như thế nào. “Xí nghiệp tôi làm việc mới sát nhập với một xí nghiệp tương tự. Sau khi sát nhập, các quản đốc đòi tôi xem xét lại danh sách nhân viên bởi vì theo việc cơ cấu lại công ty mới thì ba trong số các nhân viên phải bị sa thải.
<?xml:namespace prefix = o ns = "urn:schemas-microsoft-com:office:office" /><o:p></o:p>
Toàn bộ quá trình này đối với tôi dường như không được suy nghĩ chín chắn cho lắm. Có vẻ như là một quyết định vội vã mà không lường được hậu quả có thể xảy ra cho ba con người này và cho gia đình họ. Tôi phải làm gì đây? Lúc đó tôi chợt nhớ lại Lời Sống. Việc duy nhất phải làm là việc mà Chúa Giêsu đã làm: phải khởi đầu công việc trong tình yêu thương. Tôi đã đệ đơn xin thôi việc và giải thích cho các vị quản đốc rằng tôi không thể đặt bút ký các giấy tờ sa thải ba người nhân viên này.
<o:p></o:p>
Đơn xin thôi việc của tôi, tuy nhiên, đã không được chấp thuận. Mà thực tế, các quản đốc cuối cùng đã hỏi tôi làm thế nào xoay xở để tìm ra chỗ làm cho những nhân viên này trong tổ chức mới. Tôi đã đệ trình một kế hoạch nhân sự mới, một kế hoạch tạo điều kiện dễ dàng và hữu dụng để đưa cả ba nhân viên này vào trong một phân xưởng khác. Các quản đốc đã chấp thuận bản kế hoạch của tôi và tất cả chúng tôi vẫn được tiếp tục làm việc.”

Chiara Lubich


Nguồn: November 2006 (http://www.focolare.org/articolopdv.php)

admin
29-11-2006, 10:45 PM
Lời Sống tháng Mười Hai 2006



«Phúc thay kẻ lấy Ngài làm sức mạnh,
ấp ủ trong lòng giấc mộng hành hương.»
(Tv 84,6 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Tv%2084:6&FontSize=Txt10))

http://www.focolare.org/img/hr.gif

Lời Sống này lấy từ Thánh vịnh được người thi sĩ sáng tác trên đường hành hương về Đền Thờ Giêrusalem. Tác giả muốn lưu lại đó, cũng giống như chim sẻ đã đến xây tổ nơi đó, ông phải trở về nhà của ông (hoặc: đất của ông). Ông nhớ da diết "nơi trú ngụ ...khả ái" của Thiên Chúa, nơi ông cảm nghiệm đuợc sự hiện diện của Thiên Chúa. Do đó ông quyết định quay trở về lại, thế rồi ông khởi hành lên đường đi Giêrusalem. Đây có lẽ là một cuộc "hành trình linh thánh" một lần nữa đặt ông "trước mặt Thiên Chúa". Cũng giống như trong tất cả các nền văn hoá và tín ngưỡng khác, cuộc hành trình này mang ý nghĩa ẩn dụ cho cuộc sống.


Cuộc "hành trình linh thánh" là biểu tượng cho những lộ trình mà chúng ta cần có để đến với Chúa. Thật vậy, chúng ta đang đối diện với một đích điểm cuối cùng mà chúng ta không nên gọi là "cái chết" nhưng tốt hơn nên gọi là một "cuộc gặp gỡ", bởi vì đó không phải là một sự kết thúc mà là một sự khởi đầu của một Cuộc Sống mới với Thiên Chúa. Tất cả mọi người chúng ta đều được Người mời gọi đến đó.


Thế thì tại sao không lập kế hoạch cho toàn bộ cuộc sống của chúng ta theo mục đích này trong tâm trí? Tại sao không biến cuộc sống duy nhất của chúng ta thành một cuộc hành trình, một cuộc hành trình linh thánh, bởi vì Đấng đang đợi chúng ta là Đấng thánh?

Vâng, tất cả chúng ta đều được mời gọi nên thánh: “ý muốn của Thiên Chúa là anh em nên thánh” (1 Tx 4,3 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=1 Tx 4:3&FontSize=Txt10)). Thiên Chúa yêu thương mỗi người chúng ta, cách riêng, với một tình yêu vô biên. Ngài đã nghĩ ra và đã hoạch định một hành trình đặc biệt cho mỗi một người chúng ta đi theo với một vạch đích chính xác để chúng ta đạt đến.





«Phúc thay kẻ lấy Ngài làm sức mạnh,
ấp ủ trong lòng giấc mộng hành hương.»

Chắc chắn rằng, chúng ta lệ thuộc vào thời gian, thời gian với sự ưa thích những hoạt động – cả những lúc không được kiềm chế - và với sự ưa chuộng kết quả, có người xem trọng những công việc này còn người khác thì xem thường, hoàn toàn loại bỏ sự sợ hãi trước những thử thách của cuộc đời và hoang tưởng cho rằng họ chỉ cần ra đi.



Có lẽ chúng ta cũng vậy, bị ảnh hưởng và bị mù lòa bởi những xu hướng tương tự, có thể lãng phí vô ích những năng lực của chúng ta. Có lẽ, chúng ta cũng cho rằng việc dành một số ngày để nghỉ ngơi là chuyện không cần thiết, dành những khoảnh khắc riêng tư để cầu nguyện là chuyện dư thừa, và xem những bệnh tật và những khó khăn đủ loại của chúng ta – mà Thiên Chúa đã cho phép trong chương trình tình yêu của Ngài cho chúng ta – như là những chướng ngại trong suốt cuộc hành trình của chúng ta.

admin
02-12-2006, 12:14 AM
Làm thế nào chúng ta có thể bắt đầu hay từng bước quay trở lại cách nghiêm túc với cuộc hành trình thánh của chính mình? Khám phá ra như thế nào thật không dễ: bằng cách không làm theo ý riêng của chúng ta, nhưng làm theo thánh ý của Thiên Chúa. Chúng ta có thể làm điều này bằng việc bước theo Ngài trong mỗi phút giây hiện tại trong cuộc sống chúng ta, bằng cách nhận biết rằng – và đây là một ân huệ trọng đại – là chúng ta được hỗ trợ bằng một hồng ân đặc biệt trong mọi việc chúng ta làm theo cách thức này, “ơn hiện sủng” này làm sáng tỏ tâm trí chúng ta và giúp chúng ta hướng trực tiếp đến những ý muốn và những nhạy cảm của chúng ta tới nhưng gì là tốt đẹp.



Thậm chí nhưng ai không theo bất kỳ tín ngưỡng tôn giáo nào đều có thể làm nên một kiệt tác cho cuộc sống của họ bằng việc thiện chí bắt đầu cuộc hành trình của sự cam kết luân lý chân thành.

«Phúc thay kẻ lấy Ngài làm sức mạnh,
ấp ủ trong lòng giấc mộng hành hương.»



Nếu cuộc sống là một “hành trình linh thánh” lâu dài được vạch ra bởi ý muốn của Thiên Chúa, thì cuộc hành trình của chúng ta đòi hỏi chúng ta phải tiến tới mỗi ngày. Tình yêu thúc đẩy chúng ta tiếp tục lớn lên, để tiến bộ luôn luôn. Chúng ta không thể đương đầu với chúng ta đã sống ngày hôm qua thế nào, vì vậy chúng ta cần phải tự mình khẳng định: “hôm nay, tốt hơn hôm qua”.



Và chúng ta phải làm những gì khi chúng ta dừng lại, hay khi chúng ta quay lại với những sai lầm trong những bước đường cũ của chúng ta hay chỉ bởi sự lười biếng? chúng ta có nên nhụt chí bởi những lầm lỗi của chúng ta và từ bỏ mục đích của chúng ta không? Không, trong nhưng lúc đó, chúng ta hãy nói: “hãy bắt đầu trở lại”, trước hết bằng sự phó thác quá khứ của chúng ta, với tất cả tội lỗi và thiếu sót, cho lòng thương xót của Thiên Chúa.


Để bắt đầu trở lại, chỉ có cách là tin tưởng hoàn toàn vào ân sủng của Thiên Chúa, hơn là cậy dựa vào sức mạnh riêng tư của chúng ta. Há chẳng phải Lời Sống nói với chúng ta rằng chúng ta có thể tìm thấy chỗ dung thân chúng ta nơi Ngài sao? Chúng ta có thể bắt đầu trở lại mỗi ngày như thể nó là ngày đầu tiên của cuộc hành trình linh thánh của chúng ta.
Trên hết, chúng ta hãy đồng hành với nhau, nên một trong tình yêu, bằng sự giúp đỡ người khác. Khi Vị Thánh sẽ ở giữa chúng ta và Ngài sẽ trở nên “cong đường” cho chúng ta. Ngài sẽ giúp chúng ta hiều thánh ý của Thiên Chúa hơn, và Ngài sẽ cho chúng ta lòng mong ước và khả năng để thực hiện nó. Nếu chúng ta được nên một mọi sự sẽ trở nên dể dàng và chúng ta sẽ cảm nghiệm được mối phúc đã hứa cho những ai bước đi trên cuộc hành trình linh thánh.

«Phúc thay kẻ lấy Ngài làm sức mạnh,
ấp ủ trong lòng giấc mộng hành hương.»




Những câu thơ này từ Thánh Vịnh đã gợi nhớ lại cho tôi về cách một người bạn tôi đã sống như thế nào. Tên anh ta là Enzo Fondi.


Năm 1951, khi anh ta 22 tuổi và đang sống ở Rôma, Enzo quyết định theo Chúa cách trọn vẹn trong Phong trào Focalare lúc đó mới được thành hình. Sau khi anh tốt nghiệp bác sĩ phẩu thuật, Enzo bắt đầu việc thực tập của anh phía sau “rèm sắc” trong bệnh viện ở Leipzig, rồi Đông Đức. Ở đó anh ta muốn làm chứng tá cho tình yêu bắt nguồn từ Tin Mừng. Sau đó, anh ta chịu chức Linh Mục. Sau một năm anh ta lên đường đến Hoa Kỳ để tiếp tục mở rộng sứ điệp tình yêu này. Trong suốt phần thời gian cuối đời của anh, những cuộc hành trình của anh vẫn không giảm bớt. Công việc của anh về đối thoại liên tôn được Phong Trào cổ võ đã đưa anh đến những nơi khác nhau với những dấn thân đa dạng, nhưng dự án vẫn luôn như nhau: đó là vâng theo ý Chúa. Anh đã kết thúc “cuộc hành trình linh thánh” lâu dài của mình vào đêm giao thừa năm 2001. Tối đó, anh đã ngồi trước máy vi tính của anh cứ như thể đang còn làm việc, đầu anh gục trên bàn, khuôn mặt bình thản không dấu vết của sự đau khổ. Không phải anh đã qua đời cho bằng dường như anh đã chỉ từ “căn phòng” này đi qua phòng bên cạnh.

Mười lăm ngày trước khi chết, anh đã viết, “Nguyện ước và lời di chúc sau hết của tôi đó là: theo tôi, ý muốn sau hết của Thiên Chúa là điều Ngài muốn tôi lúc này. Không có gì khác. Dù có thế nào đi nữa, ước nguyện sau cùng của tôi là hoàn tất ý muốn cuối cùng của Thiên Chúa cách hoàn hảo. Tôi không biết những gì là ý muốn sau hết của Thiên Chúa thật sự muốn nơi tôi, nhưng có một điều tôi biết chắc chắn là điều này: Tôi sẽ có được ơn hiện sủng để làm theo thánh ý của Thiên Chúa ngay lúc cuối đời tôi, cho nên tôi cố tận dụng ân sủng này bằng việc sống tốt mỗi một giây phút hiện tại”.



Chiara Lubich