PDA

View Full Version : Tòa giải tội đầu tiên


KaTy
09-02-2006, 04:48 AM
Tòa giải tội đầu tiên

“Vài ngày sau, Đức Giê-su trở lại thành Ca-phác-na-um. Hay tin Người ở nhà,2 dân chúng tụ tập lại, đông đến nỗi trong nhà ngoài sân chứa không hết. Người giảng lời cho họ.3 Bấy giờ người ta đem đến cho Đức Giê-su một kẻ bại liệt, có bốn người khiêng.4 Nhưng vì dân chúng quá đông, nên họ không sao khiêng đến gần Người được. Họ mới dỡ mái nhà, ngay trên chỗ Người ngồi, làm thành một lỗ hổng, rồi thả người bại liệt nằm trên chõng xuống.5 Thấy họ có lòng tin như vậy, Đức Giê-su bảo người bại liệt: "Này con, con đã được tha tội rồi."6 Nhưng có mấy kinh sư đang ngồi đó, họ nghĩ thầm trong bụng rằng:7 "Sao ông này lại dám nói như vậy? Ông ta nói phạm thượng! Ai có quyền tha tội, ngoài một mình Thiên Chúa? "8 Tâm trí Đức Giê-su thấu biết ngay họ đang thầm nghĩ như thế, Người mới bảo họ: "Sao trong bụng các ông lại nghĩ những điều ấy?9 Trong hai điều: một là bảo người bại liệt: "Con đã được tha tội rồi", hai là bảo: "Đứng dậy, vác lấy chõng của con mà đi", điều nào dễ hơn?10 Vậy, để các ông biết: ở dưới đất này, Con Người có quyền tha tội, -Đức Giê-su bảo người bại liệt,-11 Ta truyền cho con: Hãy đứng dậy, vác lấy chõng của con mà đi về nhà! "12 Người bại liệt đứng dậy, và lập tức vác chõng đi ra trước mặt mọi người, khiến ai nấy đều sửng sốt và tôn vinh Thiên Chúa. Họ bảo nhau: "Chúng ta chưa thấy vậy bao giờ! "

(Mc 2,1-12)


1-

Đức Giê-su trở lại thành Ca-phác-na-um. Hay tin Người ở nhà”

Ra thế, Chúa Giêsu có nhà riêng ? Hay Ngài về lại nhà của bà mẹ vợ thánh Phêrô ? Chúng ta không biết chắc. Nhưng rõ ràng Ngài đã chọn Capernaum là nơi bắt đầu cuộc đời công khai.
http://tgmth.conggiao.net/giaoly/Capernaum.jpg
Tấm hình cho chúng ta cái nhìn toàn cảnh về vùng bờ bắc của hồ Giênêsareth. Phía đông của Capernaum là Bethsaida, “Nhà-đánh cá”, làng quê của hai anh em ông Anrê và Simon, và của Philip. Không xa Capernaum, về phía tây, có ngọn núi trên đó Ngài sẽ giảng về Tám mối Phúc Thật. Tabgha là nơi Chúa làm phép lạ bánh và cá hóa nhiều nuôi năm ngàn nguời ăn. Xa trên miền Bắc là Cao nguyên Golan.

“Vài ngày sau..”
Tính từ ngày thứ bẩy đầu tiên vào hội đường Capernaum chữa người bị thần ô uế ám, đến nay đã được chừng một tuần.

Dù Ngài có kín đáo trở về, dân chúng cũng “canh me” mà biết được. Danh tiếng Ngài đã đồn xa đồn gần . “Dân chúng tụ tập lại, đông đến nỗi trong nhà ngoài sân chứa không hết.”


Chi tiết thú vị đầu tiên là câu “Ngài giảng lời cho họ - enlalei ton logon- Loquebatur eis verbum- et il leur annonçait la Parole.”

“Lời - Logos – Word –Verbum” Bản BJ cố ý dùng chữ hoa “la Parole”

Chữ “lời” độc đáo này nhắc chúng ta nhớ lại bài Tin Mừng tuần trước, người bị hủi sau khi được chữa lành đã tung tăng đi, “và phổ biến lời khắp nơi”: “kai diaphemisein tòn logon” Bản văn Hylạp dùng rõ chữ “logos” (Mc 1,45) Nhưng bản Vulgata lại dùng “sermonem” Còn bản dịch CGKPV thì dùng “tung tin”. Như thế là không sát với bản Hylạp và làm mất đi liên quan thú vị này .

Sau này, mãi đến chương 4, Marcô mới dùng lại chữ “lời”, trong đoạn Chúa Giêsu cắt nghĩa dụ ngôn người gieo giống (Mc 4,14-20) “Người gieo giống đây là người gieo lời.” và câu 33 “Người dùng nhiều dụ ngôn tương tự mà rao giảng lời cho họ, tuỳ theo mức họ có thể nghe.”

Nếu liên kết như thế chúng ta có thể kết luận Chúa Giêsu đã bắt đầu dùng dụ ngôn mà rao giảng tại Capernum rồi. Và kiểu rao giảng bằng dụ ngôn như thế đã thu hút đám đông rất nhiều, làm cho họ kinh ngạc, và cho thấy rằng Ngài dùng uy quyền tự Ngài mà giảng, và không dựa vào thẩm quyền của ai .


Chi tiết thú vị thứ hai là từ “airo- khiêng, vác”. Lúc đầu, bốn người phải “khiêng-airomenon” anh bại với cái chõng. Chúa Giêsu dùng từ này hai lần “vác chõng – aron ton krabatton” – Cuối thuật trình, anh chàng bại tự “vác lấy chõng – aras ton krabbaton”

http://gpnt.net/images/arrow_dyn.gif

KaTy

KaTy
09-02-2006, 05:00 AM
2-

“Thấy họ có lòng tin như vậy, Đức Giê-su bảo người bại liệt”

“Họ” đây là ai ? Chỉ bốn người khiêng chõng , hay tính thêm anh chàng bại nằm trên đó, là năm ?

Và “lòng tin - pistis” ở đây phải hiểu như thế nào ? Phải chăng là kiên quyết cố gắng tìm cách vượt qua khó khăn trở ngại để mang người bại tới gần Chúa Giêsu cho bằng được, ví dụ như len lỏi qua đám đông không được thì trổ mái nhà thòng giây xuống, bất chấp phải gián đoạn việc Chúa Giêsu đang “rao giảng lời cho họ” ?

Lần kế tiếp Marcô dùng chữ “pistis” là lúc Chúa Giêsu trách các Tông đồ không có “lòng tin” lúc thuyền gặp bão : “Rồi Người bảo các ông: "Sao nhát thế? Làm sao mà anh em vẫn chưa có lòng tin?” (Mc 4,40 ) Cứ như là cơn bão là chướng ngại ngăn cản các ông tin.

Khi người phụ nữ bị bệnh xuất huyết. Cơn bệnh và đám đông là chướng ngại khiến bà không thanh thản tiếp xúc được với Chúa Giêsu. Bà không quản ngại những khó khăn đó mà cố đụng vào vạt áo Chúa cho kỳ được. Chúa đã khen ngợi lòng tin của Bà : "Này con, lòng tin của con đã cứu chữa con. Con hãy về bình an và khỏi hẳn bệnh." (Mc 5,34)

Cuối cùng, người mù ăn xin bên vệ đường thành Giêricô, sự khiếm thị và đám đông là những cản ngăn ông tiếp xúc với Chúa. Ông phải gào to lên. Chúa cũng đã khen lòng tin của ông : “Người nói: "Anh hãy đi, lòng tin của anh đã cứu anh! " (Mc 10,52)

Như thế dường như Chúa Giêsu thấy được tính kiên trì của “bốn nhân công khuân vác,” bạn của người bại liệt. Ngài “thấy họ có lòng tin” .

Trong cả bốn trường hợp, đám đông dân chúng hâm mộ Chúa đều là những rào cản thật sự cho những kẻ khác muốn đến với người .



3-

“Này con...”


“Này con”. Một lời gọi rất đỗi âu yếm, ít là trước mặt công chúng. Hiếm khi ngòi viết Marcô ghi lại những chi tiết đầy tình cảm như thế.

“Này con” Có thể dịch thành “Con ơi, -teknon” Như bố gọi con thân thiết trong nhà. Marcô ghi lại cách gọi âu yếm như vậy chỉ có ba lần. Lần thứ hai Chúa gọi các tông đồ : “Nghe Người nói thế, các môn đệ sững sờ. Nhưng Người lại tiếp: "Các con ơi, vào được Nước Thiên Chúa thật khó biết bao!” (Mc 10,24).

Lần thứ ba, Chúa gọi người phụ nữ bị bệnh xuất huyết. Người nói với bà: "Này con, lòng tin của con đã cứu chữa con. Con hãy về bình an và khỏi hẳn bệnh." ( Mc 5,34).



4-
“...Con đã được tha tội rồi .”

Quả là hơi lạ. Khiêng người bị liệt nằm trên chõng, qua bao khó khăn mới tới được trước mặt Chúa Giêsu, hẳn không phải để anh ta “xưng tội”. Chúng ta không mong các bạn anh lại phải thòng dây xuống, kéo anh lên, khiêng anh về lại nhà, rồi sau đó anh ta cứ nằm liệt bên vệ đường mà xin ăn như trước!

Người bại liệt không xin điều chi, hay đúng ra chưa kịp nói điều gì, và các bạn anh cũng thế. Nhưng ai cũng chờ đợi anh ta được chữa lành. Vậy mà Chúa lại nói: “Này con, con đã được tha tội rồi! - afientai sou hai hamartiai”.


Đây là câu nói thể thụ động, nguyên thuỷ như sau: “Tội con đã được tha rồi – dimittuntur paccata tua – your sins are forgiven – tes péchés sont remis.” Một công thức kinh thánh có nghĩa chính Thiên Chúa là chủ hành động, có nghĩa: “Thiên Chúa đã tha tội cho con rồi .”

Câu tương tự chúng ta gặp được trong Kinh thánh là câu của tiên tri Nathan nói với Vua David trong 2 Sam 13,13 : “ ריבכה הוהי םג ךתאטח “Indeed the LORD has caused your sin to pass away. Về phía ĐỨC CHÚA, Người đã bỏ qua tội của ngài;”


Bằng vào phản ứng của các kinh sư, chúng ta thấy họ không phản ứng như thể Ngài nói: “Thiên Chúa đã tha tội cho con”, cũng không thắc mắc làm sao Đức Giêsu biết Thiên Chúa đã tha tội cho anh ta. Nhưng họ phản ứng như là chính Chúa Giêsu đã nói: “Ta đã tha tội cho con!” Vì thế họ mới lẩm bẩm với nhau: “Ai có quyền tha tội, ngoài một mình Thiên Chúa?”

Câu nói “tha tội” của Chúa Giêsu cho chúng ta thấy Ngài tỏ ra quyền tha tội của chính Ngài. Ngài không nói để cho người bại biết Thiên Chúa đã tha tội cho anh ta, mà trong khung cảnh đó, ai nấy đều hiểu Ngài vừa mới tha tội cho anh ta và nói điều đó ra.

Câu thắc mắc của các ký lục khiến cho chúng ta thấy họ đã hiểu được điều đó. Ở chương 11, người ta thắc mắc về “uy quyền nào” mà Chúa Giêsu “dựa vào” để tha tội. Ở đây, người ta chất vấn chính bản thân Chúa Giêsu có quyền ấy hay là không? Ở chương 11, Ngài từ chối cho biết Ngài dựa vào uy quyền nào để tha tội, còn ở đây, Ngài bày tỏ rằng Ngài có quyền đó và còn chứng minh điều đó nữa bằng cách chữa người bại được khỏi bệnh.

Ngài tuyên bố tha thứ tội, cả khi chưa thấy có dấu hiệu ăn năn sám hối !

http://gpnt.net/images/arrow_dyn.gif

Katy

KaTy
09-02-2006, 05:02 AM
Có chi tiết thú vị :

Ngoài đoạn này ra, không còn chỗ nào khác trong Tin mừng theo thánh Marcô ghi lại việc Chúa Giêsu tha tội.

Sau này, ở chương 11,25, Ngài dạy các tông đồ phải tha thứ -tha lỗi cho anh em - trước khi dâng lễ: “Khi anh em đứng cầu nguyện, nếu anh em có chuyện bất bình với ai, thì hãy tha thứ cho họ, để Cha của anh em là Đấng ngự trên trời, cũng tha lỗi cho anh em.” Ở Mc 3,29 Ngài đề cập đến tội vĩnh viễn: “Nhưng ai nói phạm đến Thánh Thần, thì chẳng đời nào được tha, mà còn mắc tội muôn đời" Nhưng ở hai nơi này, không có câu chuyện kể Ngài tha tội cho ai.

Thậm chí Marcô không ghi lại sự kiện Chúa Giêsu tha thứ từ trên thập giá như Lc 23,34 đã có ghi: “Bấy giờ Đức Giê-su cầu nguyện rằng: "Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm".”

Cả đến câu 4,12, khi Marcô ghi lại chữ “tha thứ”, nhưng trong một trích dẫn câu Is 6,10 mang giọng trách cứ mạnh mẽ: “để họ có trố mắt nhìn cũng chẳng thấy, có lắng tai nghe cũng không hiểu, kẻo họ trở lại và được ơn tha thứ.”

Trong một bối cảnh như thế, nếu không có thuật trình tha thứ tội lỗi không kể đến lòng thống hối này, thì chúng ta sẽ có cảm tưởng Tin mừng Marcô “quá ngặt nghèo”.


Mà vì đây là đoạn duy nhất ghi lại việc Chúa Giêsu tha tội, chúng ta thử dài dòng xét thêm cách thức Ngài tha tội.

Trước hết nên ôn lại một chút về quan niệm tội của người Do thái thời bấy giờ. Thánh vịnh 50 câu 6 cho chúng ta một điều thú vị:

“Con đắc tội với Chúa, với một mình Chúa,
dám làm điều dữ trái mắt Ngài.
Như vậy, Ngài thật công bình khi tuyên án,
liêm chính khi xét xử.”

Tội nhân muốn nói rõ ràng, tội là tội phạm đến chính Thiên Chúa và xin Ngài tha thứ cho cái tội đó.

Nhưng không phải vì thế mà chúng ta kết luận rằng không hề có lỗi phạm đến người khác. Khi chiếm bà Bethsabê, vua David còn có lỗi với ông Uriah, chồng bà Bethsabê nữa chứ. Vì vua đã dàn xếp để ông này chết trận. Vua David còn có lỗi với các chiến sĩ đóng quân ở tiền đồn Rahbah nữa. (2 Sam 11,1-25)

Tội phạm đến Chúa, Chúa có thể tha, “bỏ qua”. Nhưng tội phạm đến người khác, thì phải đền trả cho công bằng.

Để xin Thiên Chúa tha tội, luật Do thái dạy chúng ta phải “hối lỗi – repentance – teshuvah” Từ do thái הבושת còn có nghĩa “trả lời”, thuộc gốc ש . ו . ב . , “đổi hướng”.

Thống hối là phải đổi hướng lối sống.

Cách thế thông thường để xin tha thứ tội là lên Đền thờ và dâng của lễ. Và còn có thêm Ngày Đền tội-Yom Kippur.

Phải chăng ở “nhà Ngài”, tại Capernaum này, Chúa Giêsu tha tội mà không cần những điều kiện ấy, nghĩa là không cần phải tại Đền thờ mà cũng chẳng nhằm ngày Xá tội ?

Câ trả lời có thể tìm thấy ở vài chữ: “Vậy để các ông biết, ở dưới đất này -epi tès gès, Con Người có quyền tha tội”.

Nơi mà Thiên Chúa tha tội “ở dưới đất này- epi tès gès” chính là tại Đền thờ Giêrusalem. Ở đó con người và Thiên Chúa gặp nhau, ở đó con người mang lễ vật tới cầu xin ơn tha thứ mọi tội lỗi phạm đến Thiên Chúa.

Câu 10 này mang trọn vẹn ý nghĩa khi chính bản thân Chúa Giêsu là Đền thờ nơi loài người gặp gỡ Thiên Chúa và là nơi Thiên Chúa tha tội.

Ý nghĩa được củng cố thêm, khi màn che gian Cực Thánh trong Đền thờ xé ra làm đôi lúc Chúa Giêsu chết: “Đức Giê-su lại kêu lên một tiếng lớn, rồi tắt thở. Bức màn trướng trong Đền Thờ bỗng xé ra làm hai từ trên xuống dưới.” (Mc 15,38 ) Chấm dứt vai trò đền thờ của Giêrusalem.

Nếu Chúa Giêsu có thẩm quyền tha tội phản nghịch đến Thiên Chúa thì đền thờ Giêsusalem không còn cần thiết nữa.




Kết

Trong thuật trình này có một hành vi được nhắc đến ba lần. Đó là việc “vác chõng”. Hai lần đầu nằm trong hai câu Chúa nói.

Đầu tiên Ngài nói : “Đứng dậy, vác lấy chõng của con mà đi.” (câu 9).

Chúa trả anh ta về cho chính anh ta.

Anh ta từ nay có thể tự lực đi đứng, không cần nhờ vả đến kẻ khác.


Người ta ngỡ Chúa sẽ lập lại y hệt. Nhưng không, lần thứ hai Ngài thêm: “Đứng dậy vác lấy chõng của con mà đi về nhà.” (câu 11). Nghĩa là tương quan với gia đình được thiết lập. Trước giờ anh ta nằm ăn xin ngoài lề đường.

Chúa trả anh ta về lại cho gia đình.


Cuối cùng, sau khi được chữa lành: “Người bại liệt đứng dậy, lập tức vác chõng đi ra trước mặt mọi người .”

Chúa trả anh ta về lại với cộng đoàn.

Anh ta bây giờ trờ thành nhân chứng cho uy quyền giảng dạy, uy quyền chữa bệnh và thẩm quyền tha tội của Chúa Giêsu “trước mắt mọi người - coram omnibus – in the sight of everyone.”

Anh ta được chữa lành cả thể xác lẫn tinh thần và linh hồn. Mọi tương quan trước đây bị đổ vỡ do bệnh tật và tội lỗi, nay được phục hồi trọn vẹn.


Vậy ra Capernaum còn là tòa giải tội đầu tiên.


KaTy