View Full Version : Suy Niệm Mầu Nhiệm Nhập Thể
Sandra
03-01-2007, 08:46 PM
SUY NIỆM MẦU NHIỆM NHẬP THỂ
THEO TƯ TƯỞNG CỦA ĐỨC THÁNH CHA BENEĐICTÔ XVI
Trong Mùa Giáng Sinh chúng ta thường đọc trong các bản văn phụng vụ lặp lại lời của Thánh Gioan: “Ngôi Lời đã hóa thành nhục thể, và chúng ta đã nhìn thấy vinh quang của Người” (Ga 1,14 và x. Ca Hiệp lễ, Lễ Giáng Sinh, Lễ Đêm, Lời nguyện đầu lễ, thứ hai trong Tuần thuộc Mùa Giáng Sinh, Điệp ca III, Kinh Chiều I, Lễ Giáng Sinh). Điều này cho chúng ta nhận ra nội dung của việc cử hành Mùa Giáng Sinh: cử hành mầu nhiệm nhập thể của Con Thiên Chúa, Đức Giêsu Kitô; cử hành mầu nhiệm làm người của Con Thiên Chúa; hay nói cách chính thực hơn: cử hành mầu nhiệm Con Thiên Chúa mặc lấy xác thể, nhận lấy nhục thể của con người. Tiếng Hy lạp và tiếng Latin của Phúc âm Thánh Gioan đã dùng từ ngữ “xác thịt”, “nhục thể” (Latin: caro; Hy lạp: sarx).
Vậy ý nghĩa và nội dung mầu nhiệm nhập thể, Con Một Thiên Chúa mặc lấy xác thể của con người là gì? Việc suy niệm này dựa vào suy tư của Đức Thánh Cha Beneđictô XVI trong các giáo huấn từ khi lên làm Giáo hoàng và trước đó khi còn là Hồng Y. Từ việc suy niệm này chúng ta sẽ sống và làm chứng trước mặt mọi người rằng Chúa Giêsu Kitô là Đấng Cứu chuộc chúng ta, như lời Đức Thánh Cha Benedico XVI đã nói trong Sứ điệp Giáng sinh, trưa ngày 25 tháng 12 2006 vừa qua: “Cộng đoàn được Chúa Kitô cứu rỗi. Đó là bản tính đích thực của Giáo Hội, một Giáo Hội được nuôi dưỡng bởi Lời của Người và bởi thân xác thánh thể của Người. Chỉ khi nào tái khám phá ra ơn huệ đã lãnh nhận được, Giáo Hội mới có thể làm chứng cho mọi người Chúa Kitô là Đấng Cứu Thế; làm chứng điều này với sự hứng khởi và đầy nhiệt huyết, trong sự kính trọng trọn vẹn mọi truyền thống văn hóa và tôn giáo; làm chứng điều này với niềm hân hoan khi biết rằng Đấng mà Giáo Hội loan báo, không cất đi mất những gì đích thực là con người, nhưng lại làm cho nó nên hoàn tất. Quả thật Chúa Kitô đến để phá hủy sự dữ mà thôi, phá hủy tội lỗi mà thôi; Còn lại những gì khác, tất cả những gì khác, Ngài nâng lên tới mức trọn hảo. Chúa Kitô không cứu thoát chúng ta khỏi bản tính nhân loại của chúng ta. Nhưng cứu chúng ta qua chính bản tính đó; Ngài không cứu thoát chúng ta khỏi thế giới này, nhưng Ngài đến trong thế giới này để nhờ Ngài mà thế gian được cứu thoát” (x. Ga 3, 17).
Với việc đào sâu ý nghĩa của “việc nhận lấy xác thể” của Con Thiên Chúa làm người và ở giữa nhân loại, chúng ta hiểu biết có thể đến với Chúa Giêsu Kitô, gặp gỡ Ngài cách thân mật và dễ dàng, cũng như chúng ta cũng thể hiện điều này trong những lối sống, những thái độ sống và những phán đoán trong đời sống thiêng liêng và mục vụ.
*** Xem tiếp phần dưới
Rôma, Mùa Giáng Sinh
Ngày 1-1-2007, Lễ Đức Maria Đức Mẹ Chúa Trời.
Lm. Phanxicô Borgia Trần Văn Khả
Sandra
03-01-2007, 08:52 PM
1. Các bản dịch Thánh Kinh và Phụng vụ Việt Nam lời của Phúc âm thánh Gioan
Về bản dịch phụng vụ về câu Kinh thánh Gioan 1, 14, chúng ta có bản văn như sau: “Và Ngôi Lời đã hóa thành nhục thể (caro), và Người đã cư ngụ giữa chúng tôi, và chúng tôi đã nhìn thấy vinh quang của Người, vinh quang như của Con Một nhận được từ nơi Chúa Cha, đầy ân sủng và chân lý” (Phúc âm Chúa Giêsu, Bản dịch của Ủy Ban Giám mục về Phụng vụ, Ủy Ban Truyền Bá Phúc âm Địa Phận Sàigòn, Nguyệt san Trái Tim Đức Mẹ tái bản 1988). Ca Tiền xướng III, Kinh chiều I, ngày 25 tháng 12, Chúa Giáng Sinh: “Từ trước muôn thuở Ngôi Lời sinh bởi Đức Chúa Cha hôm nay tự trời cao đã hạ thân làm người mặc lấy xác phàm” (caro). Xướng đáp: “X. Ngôi Lời đã làm người (caro). Alleluia. Đ. Và ở giữa chúng ta. Alleluia”. Trong Kinh tin kính, chúng ta đọc: “Người đã nhập thể (incarnatus est) trong lòng Trinh Nữ Maria. Và đã làm người”.
Về bản dịch Kinh Thánh, vì giới hạn của tư liệu sẵn có, chúng tôi chỉ xin ghi lại đây một số trích dẫn từ các bản dịch mà tôi có được trong tủ sách cá nhân.
Cố Chính Linh Albertus Schlicklin, đã dịch như sau: “Vậy Lời đã nên xác thịt (caro) loài người và ở cùng chúng ta: mà chúng ta đã được xem thấy sự cả sáng Người, thật là sự cả sáng Con Một Đức Chúa Cha, đầy dẫy mọi ơn cùng mọi sự chân thật” (Ga 1, 14: Evan ông Thánh Juong, Kinh Thánh cứ bản Vulgata, quyển IV, Hong Kong Typis Nazareth, Imprimerie de la Société des Missions Étrangères, 1916). Bản dịch của Linh mục Đaminh Trần Đức Huân: “Ngôi Lời xuống thế làm người, Đã thương ở với chúng tôi đêm ngày, Nghiệm xem vinh hiển Ngài đây, Chân phương rực rỡ, chứa đầy ơn thiêng. Chính là con Chúa hiển vinh” (Lm. Đaminh Trần Đức Huân, Kinh Thánh Cựu Tân Ước, Dịch theo Bản Phổ thông. Ra Khơi Thánh Kinh Thiện bản, Sàigòn 1970). Bản dịch của Linh mục Nguyễn Thế Thuấn, Dòng Chúa Cứu thế: “Và Lời đã thành xác phàm, và đã lưu trú nơi chúng tôi, và chúng tôi đã được ngắm vinh quang, vinh quang như Con một tự nơi Cha, tràn đầy ơn nghĩa và sự thật” (Lm. Nguyễn Thế Thuấn, Dòng Chúa Cứu Thế, Kinh Thánh, Dòng Chúa Cứu Thế Sàigòn, 1976). Bản dịch của Linh mục An Sơn Vị, Dòng Anh em Đức Mẹ Người Nghèo: 1, 14: “Đạo Ngôn đã hóa thành xác phàm (caro) và cắm lều ở giữa chúng ta. Chúng ta đã ngắm sự vinh hiển của Người, Vinh hiển bởi CHA ban cho CON MỘT” (Tin Mừng thứ IV, Đức Kitô ánh sáng tác sinh, TP. HCM, 1983). Bản dịch của Đức Hồng Y Giuse Maria Trịnh Văn Căn: “Ngôi Lời đã nhập thể (caro) và ở giữa chúng ta; chúng ta được xem thấy vinh quang của Người, vinh quang mà Chúa Cha ban cho Con Một, đầy ơn phúc và chân lý” (Kinh Thánh, Tòa Tổng Giám Mục Hà Nội, 1985). Bản dịch của Nhóm phiên dịch các giờ kinh phụng vụ: “Ngôi Lời đã trở thành người phàm (caro) và cư ngụ giữa chúng ta. Chúng tôi đã được nhìn thấy vinh quang của Người, vinh quang mà Chúa Cha ban cho Người, là Con Một đầy tràn ân sủng và sự thật” (Kinh Thánh Tân Ước, Nhà Xuất Bản Tp. Hồ Chí Minh, 1996). Phúc âm hợp tuyển dẫn giải (Senatus Sàigòn xuất bản, 1970. Tái bản lần I, 1970; lần II: 1983 tại Hoa Kỳ): “Ngôi Lời đã trở nên xác thịt (caro), ở giữa chúng ta; chúng ta đã được ngắm vinh hiển của Ngài, vinh hiển của Con một đến từ nơi Cha tràn đầy ân sủng và sự thực”. Bản dịch của Anh Em Tin Lành Việt Nam: “Ngôi Lời đã trở nên xác thịt (caro), ở giữa chúng ta, đầy ơn và lẽ thật; chúng ta đã ngắm xem sự vinh hiển của Ngài, thật như vinh hiển của Con một đến từ nơi Cha” (Kinh Thánh Cựu Ước và Tân Ước, in lần thứ chín, Sàigòn Thánh Kinh Hội, 1967).
Như vậy chúng ta thấy các bản dịch đã có những khác biệt về việc dịch từ “caro, sarx”, như sau:
Từ ngữ “Caro”:
- dịch là “xác thịt” (Cố Chính Linh, Phúc âm Hợp tuyển, Tin Lành)
- dịch là “nhục thể” : bản văn phụng vụ
- dịch là “xác phàm”. Bản văn phụng vụ, Cha Nguyễn Thế Thuấn, Cha An Sơn Vị
- dịch là “nhập thể” : ĐHY Căn
- dịch là “người phàm”: Nhóm phiên dịch các giờ kinh phụng vụ
- dịch là “làm người”: bản văn phụng vụ, Linh mục Đaminh Trần Đức Huân.
Bản dịch xa nguyên ngữ nhất là dịch qua thuật ngữ “làm người”, “người phàm”. Bản dịch sát chữ nhất là “xác thịt, nhục thể”.
Thuật ngữ latin “Incarnatus est . . . “: hầu hết dịch là “nhập thể”.
Theo các nhà chú giải, từ ngữ “xác thịt” (caro) dùng trong văn chương của Gioan nói tới toàn thể con người trong thân phận yếu hèn của mình kể cả sự chết. Nhưng từ ngữ này còn có một công dụng minh giáo đó là lời tuyên xưng xác thịt của Chúa Giêsu đích thực như xác thịt của mọi người khác, chứ không phải chỉ là hình ảnh hiện ra bên ngoài, mà thực sự không phải là như vậy, như bè rối docétisme xác quyết. Theo bè rối này, xác thịt là điều phàm tục, dơ bẩn, nên Con Thiên Chúa không thể tiếp nhận vào nơi mình. Trong thư 1 của Thánh Gioan, tác giả đã nói rõ hơn nữa: chúng tôi đã đụng chạm tới xác thịt này (1Ga 1, 1-5). Xác thịt đây nằm trong toàn thể các thực tại đã được Thiên Chúa dựng nên. Nó có ý nghĩa tự nó, và khi đã được thâu nhận vào trong hành động nhập thể, thì ý nghĩa đó lại càng cao đẹp hơn.
Tôi muốn đi từ ý nghĩa của từ ngừ “xác thịt” trong câu Kinh thánh của Thánh Gioan, để trình bày về vai trò của thụ tạo trong cái nhìn về toàn thể công việc sáng tạo của Thiên Chúa và từ đó đưa ra những áp dụng cho đời sống thiêng liêng của mỗi người chúng ta nhân dịp mừng lễ Giáng Sinh năm nay.
*** xem tiếp phần dưới
Rôma, Mùa Giáng Sinh
Ngày 1-1-2007, Lễ Đức Maria Đức Mẹ Chúa Trời.
Lm. Phanxicô Borgia Trần Văn Khả
Sandra
03-01-2007, 08:55 PM
2. Tiếp xúc với con người xác thịt của Đức Kitô
Trong đường lối sư phạm của Thiên Chúa, việc gặp gỡ giữa Thiên Chúa và con người được thực hiện qua các dấu hiệu hữu hình, qua tạo vật đã được chính Thiên Chúa dựng nên, và vì yêu thương Ngài đã dựng nên để qua đó mà Ngài hiện hữu giữa con người, tiếp xúc với con người. Thiên Chúa cũng hiện hữu giữa chúng ta nhờ chính Con Một của Ngài là Chúa Giêsu Kitô đã mặc lấy xác thịt loài người chúng ta. Đức Giáo Hoàng Bênêđictô XVI đã nói trong Thông Điệp “Thiên Chúa là Tình Yêu” (Deus Caritas Est) như sau: “Trong thực tế, chưa có ai thấy Thiên Chúa như chính Người thực sự. Nhưng dù vậy, Thiên Chúa không hoàn toàn vô hình đối với chúng ta, và cũng không để cho chúng ta không thể tiếp cận với Người... Thực vậy sự hữu hình của Thiên Chúa thật đa dạng” (s. 17).
Cũng trong Thông điệp này, Đức Giáo Hoàng Beneđictô XVI nói cho chúng ta điểm thứ hai này một cách khá rõ rêt. Ngài nói như sau: “Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta trước, Thư Thứ nhất của Thánh Gioan nói với chúng ta như thế (x. 1 Ga 4, 10) và tình yêu của Thiên Chúa xuất hiện giữa chúng ta, trở nên hữu hình qua việc “đã sai Con Một đến thế gian, để nhờ Con Một của Người mà chúng ta được sống” (1Ga 4,9). Thiên Chúa tự làm cho mình thành hữu hình: trong Đức Giêsu chúng ta có thể chiêm ngắm được Chúa Cha” (x. 4, 9). Chính nhờ việc Con Thiên Chúa mặc lấy xác thịt con người, nên các người đồng thời với Chúa Giêsu đã có thể tiếp xúc, đụng chạm tới Chúa, đón nhận phép lạ. Cũng qua xác thịt này, Chúa Kitô đã có thể đi đây đó rao giảng, làm phép lạ, chịu đau khổ, chịu chết và sống lại, cũng như lập phép Thánh Thể để ở lại thực sự với loài người. Ở đây tôi không muốn trình bày thêm ở đây về điểm này.
Điều chúng ta muốn nói tới là sự hiện diện của Thiên Chúa qua những con đường khác, nhất là qua việc sáng tạo. Điều này chỉ được nói qua trong Thông điệp trên khi Đức Giáo Hoàng trình bày cách gián tiếp về giá trị của thân xác trong ý nghĩa nguyên thủy mà việc tạo dựng gán cho nó. Trong trình thuật sáng tạo, tác giả sách thánh cho thấy hành động của Thiên Chúa làm cho con người đi từ cõi không tới cõi có; đi từ cái vô thức của mọi tạo vật khác để tiến tới sự nhận biết của con người về sự hiện diện của Thiên Chúa là nguồn gốc mọi sáng tạo (x. Thông điệp Thiên Chúa là Tình Yêu, s. 10 và 11); rồi Thông điệp nói về việc nhận thức sự toàn vẹn của tinh thần và thể xác trong một sự duy nhất không thể loài trừ một phía nào (x. nt. s. 5). Như vậy công việc sáng tạo có một ý nghĩa và một vai trò quan trọng trong cuộc sống nhân bản và siêu nhiên của con người. Nhờ đó Thiên Chúa được trình bày như Thiên Chúa duy nhất, chân thật đã sáng tạo mọi vật và là nguyên ủy của mọi tạo vật. Điều này cho thấy hình ảnh đích thực của Thiên Chúa sáng tạo và hiện hữu trong vũ trụ và trong con người, khác hoàn toàn với quan niệm của triết gia Hy lạp ông Aristote về Thiên Chúa mà ông coi là quyền lực tuyệt đối nắm mọi chuyển động của vũ trụ, không cần gì nhưng lại không yêu thương (x. nt. s. 9).
Tuy nhiên việc khai triển một nền thần học về sáng tạo đã không được phát triển nhiều trong những thế kỷ trước đây. Đức Thánh Cha Beneđictô XVI nói về điểm này trong cuốn sách Ngài viết khi còn là Hồng Y mang tựa đề: “In principio Dio creò il cielo e la terra. Riflessioni sulla creazione e il peccato” (= Khởi đầu Thiên Chúa đã tạo nên trời và đất. Những suy tư về việc tạo dựng và về tội lỗi) (nguyên tác bằng tiếng Đức viết năm 1985, bản tiếng Ý do nhà xuất bản Lindau in năm 2006). Ngài viết trong lời tựa như sau: “Sự đe dọa sự sống do hành động của con người, mà ngày nay người ta nói tới khá nhiều, đã cho thấy sự khẩn thiết phải nói tới chủ đề tạo dựng. Tuy nhiên, trong cùng lúc, chúng ta phải chứng kiến một cách trớ trêu việc rao giảng hành động tạo dựng lại biến mất hầu như hoàn toàn khỏi việc dạy giáo lý, giảng thuyết và ngay cả trong thần học nữa” (sách trích dẫn, tr. 9). Đức Hồng y Ratzinger đã đồng ý với tác giả Chesterton khi ông này đề cao Thánh Tôma như là vị thánh của Đấng tạo hóa (Tommaso a Creatore), (giống như khi ta gọi Chị Elisabeth Chúa Ba Ngôi: Elisabeth a Ss. ma Trinitate), vì thánh Tôma đã khai triển tư tưởng thần học của Ngài chung quanh vấn đề “Đấng tạo hóa” và “loài thụ tạo” (x. nt, tr. 110). Nhưng chiều hướng khai triển thần học về tạo dựng đã mất dần đi: “Quả thế, trong cuộc bàn cãi thần học, những năm gần đây, hay đúng hơn, những thập niên gần đây, chủ đề về tạo dựng đã có một vai trò khá khiêm tốn” (x. nt. tr. 110). Chỉ mới đây, chủ đề về tạo dựng mới được nhắc tới nhiều hơn (x. nt. tr. 110.111).
*** Xem tiếp phần dưới
Rôma, Mùa Giáng Sinh
Ngày 1-1-2007, Lễ Đức Maria Đức Mẹ Chúa Trời.
Lm. Phanxicô Borgia Trần Văn Khả
Sandra
03-01-2007, 08:57 PM
3. Cái nhìn của Đức Thánh Cha Benêdictô XVI về việc tạo dựng
Ngày 22 tháng 12 năm 2006 vừa qua, trong bài diễn văn đọc trước Hồng Y đoàn đến chúc mừng Ngài dịp lễ Giáng Sinh và Năm mới 2007, Đức Thánh Cha đã nói tới chủ đề của 4 cuộc viếng thăm mục vụ chính của Ngài trong hơn một năm vừa qua: là “Thiên Chúa” và “hòa bình”. Hai chủ đề này liên hệ với nhau. Trong cuộc thăm viếng Ba lan, khía cạnh “hân hoan của Thiên Chúa” được nhấn mạnh như là sức mạnh cho một Giáo Hội đang khởi đầu lại sau những năm dài sống lầm than khổ sở. Trong cuộc viếng thăm mục vụ bên Tây Ban Nha, dịp cử hành ngày Gia đình thế giới, chủ đề được nêu ra là “hôn nhân” và “gia đình”. Ở đây người ta thấy bao nhiêu cặp vợ chồng hân hoan sống trung thành trong đời hôn nhân. Điều này chỉ có thể được trong tình yêu Thiên Chúa chan hòa trong tình yêu vợ chồng. Như vậy chủ đề về Thiên Chúa cũng được nêu cao trong chuyến công du tại Tây Ban Nha. Trong cuộc viếng thăm vùng quê hương Baviera của Ngài, chủ đề về “Thiên Chúa” đã đậm nét trong các bài diễn văn, bài giảng và trong các cuộc gặp gỡ. Bên Thổ Nhĩ Kỳ, cảm nghiệm về sự hiện diện của Thiên Chúa thật sâu đậm khi tiếp xúc với các anh em của Giáo hội chính thống và các Giáo hội không công giáo khác; cũng như trong cuộc đối thoại với anh em Hồi giáo.
Như vậy “Vấn đề Thiên Chúa”, chủ đề về Thiên Chúa là then chốt và định đoạt mọi biến cố, mọi quyết định của con người cũng như của lịch sử. “Vấn đề Thiên Chúa” lại chính là vấn đề Chúa Kitô, và đó là vấn đề then chốt. Vì, như lời Đức Thánh Cha nói: “Chúa Giêsu là Nước Thiên Chúa trong bản thân con người: đó là con người trong Ngài Thiên Chúa ở giữa chúng ta và qua Ngài chúng ta có thể đụng chạm tới Thiên Chúa, đến gần Thiên Chúa. Nơi đâu có sự việc này, thì nơi đó sẽ được cứu rỗi” (Bài diễn văn cho Hồng Y đoàn, ngày 22-12-2006: l’Osservatore Romano, 23-12-2006. tr. 6).
Khi bàn về vấn đề tạo dựng, Đức Hồng Y Joseph Ratzinger đã cho chúng ta thấy rằng từ biến cố khởi nguyên này, con người nhận ra vai trò của Thiên Chúa trong cuộc sống của họ. Trước tiên Ngài đưa ra những suy luận triết học xưa và nay làm lu mờ niềm tin vào việc tạo dựng. Đây là tâm thức suy tư của con người thời cận đại. Họ cho việc suy tư này như là nền tảng cho việc tiến triển của khoa học và lịch sử, dựa trên sự tiến triển, kỹ thuật, sự chính xác của khoa học và tính cách khách quan của phương pháp khoa học. Nhưng đây lại là căn nguyên của thảm kịch mà chúng ta đang sống, với những khủng hoảng, mà lại là khủng hoảng ngay trong lương tâm con người (x. Joseph Ratzinger – Benedetto XVI, In principio Dio creò il cielo e la terra. Riflessioni sulla creazione e il peccato, Lindau, Torino 2006, tr. 113). Người thời nay có thể làm lu mờ niềm tin vào việc tạo dựng bằng ba cách thế khác nhau: như (1) chỉ coi thiên nhiên (nature) này như là “đối tượng” của khoa học tự nhiên không hơn không kém, vì thế mọi suy tư khác về thiên nhiên đều không có ý nghĩa gì, ngay cả vấn đề nguồn gốc của thiên nhiên. Hoặc (2) nhìn con người từ đầu đã bị hư hoại, bị tổn thương về tinh thần và về tự do. Từ cái nhìn này việc tạo dựng bị coi như là một hành động tiêu cực và không nên bàn tới. Một cách thế khác (3) làm lu mờ việc tạo dựng, đó là quan niệm thần học quá đề cao ơn thánh mà hạ giá thực tại tự nhiên.
Vì thế cần tìm hiểu đúng về công việc tạo dựng. Đức Hồng Y Ratzinger đã đưa ra quan niệm đúng đắn về việc tạo dựng, đó là một tương quan tùy thuộc hoàn toàn của con người và các thực tại khác vào Thiên Chúa Đâáng tạo thành nên chúng. Việc tùy thuộc này không làm giảm giá trị và bản tính con người. Vì con người và mọi vật được tạo dựng nên là do tình yêu của Thiên Chúa. Thiên Chúa nói khi tạo dựng: “Vì yêu thương Ta muốn con người phải hiện hữu”. Chính Ngài yêu thương, muốân có con người, nên đã tạo dựng nên con người. Ngài quyền năng vô cùng để tạo dựng, và Ngài cũng yêu thương vô cùng để tạo dựng. Ngay trong sự hiện hữu nơi con người và tạo vật, đã nằm sẵn sự tùy thuộc hữu thể này. Từ đây chúng ta nhận thấy công việc tạo dựng có một ý nghĩa thật cao đẹp và các vật được tạo thành có một giá trị nội tại của nó. Chính việc tạo dựng này làm cho chúng ta nhận ra Thiên Chúa hiện hữu và yêu thương. Mối tương quan giữa con người và Thiên Chúa phát sinh từ chính quyền năng bản tính của Thiên Chúa và trong cái hiện hữu của con người và của tạo vật. Tạo vật được coi như dấu chỉ của Thiên Chúa. Kinh thánh không thiếu những đoạn văn cho thấy chân lý này (x. Tv 8; Rm 5, 1,19-20). Đức Hồng Y Joseph Ratzinger còn giải thích thêm về việc tạo dựng trong mối tương quan với Chúa Kitô. Chúng ta đọc trong Sách Sáng thế: “Từ khởi nguyên Thiên Chúa tạo dựng nên trời và đất” (St. 1,1). Còn Thánh Gioan bắt đầu Phúc âm của ngài như sau: “Từ khởi nguyên đã có Ngôi Lời” (Ga 1, 1). Các nhà chú giải đã dựa vào truyền thống cổ của Do Thái để cho thấy mối tương quan giữa hai câu này. Theo truyền thống Do thái cổ thời Chúa Giêsu, thì trước khi có việc tạo dựng đã có Luật (Thora). Thiên Chúa như nhìn vào Luật (Thora) này để tạo dựng con người và vũ trụ. Từ đây chúng ta hiểu việc tạo dựng như sau: việc tạo dựng trời đất là thể hiện qua vật chất ý tưởng (Thora, logos) mà Thiên Chúa có nơi mình. Chính Thora-Logos đã là căn gốc của việc tạo dựng và cho các vật có một ý nghĩa. Nhưng vào thời sau cùng, thì Thora này lại là Logos của Thiên Chúa. Ý tưởng nguyên thủy (Thora) này lại là Ngôi Lời đời đời của Thiên Chúa (Logos). Như vây việc tạo dựng đã hướng về Chúa Kitô, và nhờ Chúa Kitô mà muôn loài được tạo thành (Ga 1,3; Cl 1, 15-17) (x. Joseph Ratzinger, Dio e il Mondo, Essere cristiani nel nuovo millennio, In colloquio con Peter Seewald, San Paolo 2001, tr. 100-101). Việc tạo dựng được thể hiện như là một nối kết giữa Thiên Chúa và con người, đem con người vào giao ước với Thiên Chúa, qua trung gian của Chúa Kitô.
Từ những suy tư này, Đức Thánh Cha Beneđictô XVI đã tóm kết việc tạo dựng như sau: các tạo vật là dấu chỉ của Chúa Kitô và Chúa Kitô là dấu chỉ của Thiên Chúa. Ngài nói như sau: “Dấu chỉ của Thiên Chúa là con trẻ trong tư thế cần được giúp đỡ và trong cảnh nghèo hèn của con trẻ này” (Bài giảng của Đức Thánh Cha Beneđictô XVI, trong Thánh lễ đêm Giáng Sinh, 25-12-2006: L’Osservatore Romano, thứ tư-thứ năm, 27-28 tháng 12 năm 2006, tr. 7). Như vậy tạo dựng có một giá trị trong chương trình của Thiên Chúa. Các tạo vật có ý nghĩa và tác dụng để giúp con người nhận ra Chúa Kitô và từ Chúa Kitô nhận ra Thiên Chúa.
*** Xem tiếp phần dưới
Rôma, Mùa Giáng Sinh
Ngày 1-1-2007, Lễ Đức Maria Đức Mẹ Chúa Trời.
Lm. Phanxicô Borgia Trần Văn Khả
Sandra
03-01-2007, 09:16 PM
4. Cái nhìn của Công đồng chung Vaticanô II về công việc tạo dựng và các thực tại trần gian
Chúng ta tiếp tục tìm hiểu ý nghĩa của việc tạo dựng dựa theo giáo huấn của Công đồng chung Vaticanô II (1963-1965).
Công đồng chung Vaticanô II đã cho chúng ta một cái nhìn mới về công việc tạo dựng và các thực tại trần gian mà chúng ta có được trong vũ trụ này. Giáo huấn này được nhận ra trong Hiến chế về Hội thánh trong thế giới ngày hôm nay “Vui mừng và hy vọng” (Gaudium et Spes, ban hành ngày 7 tháng 12 năm 1965). Hiến chế đã nhận định về các thực tại trần thế như sau: “Thực vậy, chính vì được tạo dựng mà mọi vật đều có sự vững chãi, chân thực và tốt lành cùng những định luật và trật tự riêng. Con người phải tôn trọng tất cả những điều ấy, phải nhìn nhận các phương pháp cá biệt của mỗi khoa học và kỹ thuật... Vì các thực tại trần thế và các thực tại đức tin đều bởi một Thiên Chúa mà ra” (s. 36). Số này đã đưa ra các nhận định quan trọng sau đây: (1) các thực tại trần thế đều do Thiên Chúa tạo thành nên; (2) tự chúng có giá trị nội tại và phải được tôn trọng và cả các phương pháp tìm hiểu phát minh ra chúng cũng cần được tôn trọng; (3) các phương pháp khoa học tự nhiên và phương pháp đào sâu đức tin không chống lại nhau.
Xác quyết này rất quan trọng và có những áp dụng cụ thể trong nhiều khía cạnh của đời sống Giáo hội. Tôi không muốn giải thích thêm, mà chỉ đưa ra một trường hợp trong Phụng vụ canh tân sau Công đồng chung Vaticanô II. Lời kinh dâng bánh và rượu đọc lên như sau: “Lạy Chúa là Chúa Cả trời đất, chúc tụng Chúa đã rộng ban cho chúng con bánh này là hoa mầu ruộng đất và công lao của con người, chúng con dâng lên Chúa để trở nên bánh trường sinh cho chúng con”. Khi dâng chén rượu: “Lạy Chúa là Chúa Cả trời đất, chúc tụng Chúa đã rộmg ban cho chúng con rượu này là sản phẩm từ cây nho và công lao của con người, chúng con dâng lên Chúa để trở nên của uống thiêng liêng cho chúng con” (Sách Lễ Rôma, Nghi thức Thánh Lễ, Ủy ban phụng tự trực thuộc Hội Đồng Giám mục Việt Nam, Hà Nội 2006). Lời kinh này nói tới việc Thiên Chúa tạo dựng, các vật trên vũ trụ, sức làm việc cộng tác của con người, và sức biến đổi siêu nhiên huyền nhiệm làm cho hai vật: bánh và rượu, nên những thực tại cao cả đem phúc lợi cho con người.
Trường hợp phụng vụ thứ hai, đó là sự thay đổi một kiểu nói trong một lời kinh trong Mùa Vọng trước Công Đồng và sau Công Đồng Vaticano II.
Sách lễ Rôma, trước Công đồng Vaticanô II, Lời nguyện hiệp lễ Chúa nhật II Mùa Vọng đọc lên như sau:
Repleti cibo spiritualis alimoniae,
supplices te, Domine, deprecamur:
ut, huius participatione mysterii,
doceas nos terrena despicere
et amare caelestia.
Per Dominum.
(bản dịch tiếng Việt đề nghị):
Lạy Chúa, chúng con được no đầy của ăn thiêng liêng,
và thành khẩn nài xin Chúa:
để nhờ việc tham dự mầu nhiệm thánh,
xin Chúa thương dạy dỗ
để chúng con biết khinh chê những thực tại trần gian
và yêu mến những của trên trời.
Trong Sách lễ Rôma sau Vatcianô II, Lời nguyện hiệp lễ này dùng trong ngày thứ ba, thứ sáu, sau Chúa nhật thứ I Mùa Vọng, nhưng được sửa như sau:
Repleti cibo spiritualis alimoniae,
supplices te, Domine, deprecamur:
ut, huius participatione mysterii,
doceas nos terrena sapienter perpendere,
et caelestibus inhaerere.
Per Dominum.
(Bản dịch tiếng Việt, Sách lễ Rôma, năm 1992):
Lạy Chúa, Chúa đã cho chúng con
được tham dự mầu nhiệm thánh,
và Chúa đã lấy bánh bởi trời mà nuôi dưỡng chúng con.
Giờ đây, xin Chúa thương dạy dỗ
để chúng con hằng khôn ngoan sáng suốt
cân nhắc những thực tại trần gian
và luôn thiết tha với những thực tại bền vững trên trời.
Chúng con cầu xin.
Qua bản dịch này, chúng ta nhận thấy bản văn đã thay đổi từ thuật ngữ “khinh chê những thực tại trần gian và yêu mến những của trên trời”, thành thuật ngữ: “khôn ngoan sáng suốt cân nhắc những thực tại trần gian và luôn thiết tha với những thực tại bền vững trên trời”. Sự thay đổi này được thực hiện do cái nhìn mới về tạo dụng và những sự vật trần gian như chúng ta vừa nói trên.
Về cơ cấu tổ chức trong Hội Thánh, chúng ta nhận thấy tại trung ương Tòa thánh, từ năm 1967, đã thấy thiết lập những Hội Đồng Tòa thánh về văn hóa, về công lý và hòa bình, về gia đình, về sức khỏe, về truyền thông xã hội. Tòa Thánh cũng cử các đại diện tham dự các hội nghị liên hệ tới các vấn đề này.
5. Các thực tại trần gian trong đời sống linh mục và tu sĩ
Từ suy tư trên đây về giá trị của tạo dựng và các thực tại trần gian, chúng ta áp dụng thế nào vào đời sống thiêng liêng của các linh mục và tu sĩ, những con người thánh hiến. Ở đây chúng ta nói tới các linh mục đã hứa sống đời độc thân và thanh bần thực sự như là chứng tá cho thế gian mà họ được sai đi để rao giảng Tin mừng của Chúa Kitô. Ở đây chúng ta nói tới các tu sĩ đã chấp nhận và tuyên khấn ba lời khấn khó nghèo, vâng lời và trong sạch. Các điều này xem ra trái ngược với điều nói về giá trị của tạo dựng và của các thực tại trần gian. Như vậy người tu sĩ phải đánh giá trị thế nào về các thực tai trần gian, họ phải xử dụng thế nào trong đời sống tu trì của mình, mà không mất ý nghĩa của việc từ bỏ các thực tại này, nhưng lại không được khinh thường các thực tại này. Đây phải được coi là một suy tư và một đường lối huấn luyện trưởng thành mà người tu sĩ phải có để đạt tới một thái độ và một phán đoán đúng đắn. Các nhà huấn luyện nhân bản và tu đức đã lo lắng tìm ra những cách thế để truyền đạt cho các người thụ huấn cái nhìn chân chính về các tạo vật trong thế giới này. Ở đây tôi chỉ xin giới thiệu một vài điểm như là gợi ý cho một công cuộc huấn luyện chiều sâu và chiều dài.
*** Xem tiếp phần dưới.
Rôma, Mùa Giáng Sinh
Ngày 1-1-2007, Lễ Đức Maria Đức Mẹ Chúa Trời.
Lm. Phanxicô Borgia Trần Văn Khả
Sandra
03-01-2007, 09:18 PM
1) Cái nhìn đúng đắn về tạo dựng và các thực tại trần gian.
Về các thực tại trần gian và giá trị của chúng, Công đồng chung Vatican II đã đưa ra các khẳng định thật rõ ràng. Trong Sắc lệnh về chức vụ và đời sống linh mục Presbyterorum ordinis, (ban hành ngày 7 tháng 12 năm 1965), khi bàn về đời sống khó nghèo của linh mục, Công đồng nói: “Nhờ đời sống thân hữu và huynh đệ giữa các linh mục với nhau và với những người khác, các ngài có thể biết cách thẩm định và vun trồng những giá trị nhân bản và quý mến các tạo vật tốt lành như những ơn phúc của Thiên Chúa. Tuy sống giữa thế gian nhưng các ngài phải luôn biết rằng mình không thuộc về thế gian, như lời Chúa là Thày chúng ta đã phán dạy. Vậy xử dụng trần gian như không xử dụng, các ngài được tự do, sự tự do giải thoát các ngài khỏi mọi lo lắng hỗn loạn và làm cho các ngài ngoan ngoãn nghe theo tiếng Chúa trong đời sống hằng ngày. Từ sự tự do và ngoan ngoãn đó sẽ nảy sinh khả năng biện biệt thiêng liêng để nhờ đó tìm ra thái độ đứng đắn đối với thế gian và của cải trần thế. Thực vậy, thái độ đó rất quan trọng đối với các linh mục vì sứ mệnh Giáo hội được hoàn tất giữa trần gian và vì những của cải được tạo dựng lại rất cần thiết cho sự tiến bộ bản thân của con người. Vậy các Ngài phải cảm tạ Chúa Cha trên trời vì tất cả những gì Ngài rộng ban cho để được sống xứng đáng. Tuy vậy, các ngài phải phân biệt dưới ánh sáng đức tin tất cả những gì các ngài gặp thấy để một đàng biết xử dụng một cách thích đáng những của cải theo ý muốn của Thiên Chúa, đàng khác biết gạt bỏ những gi phương hại đến sứ mệnh của mình” (Presbyterorum ordinis, s. 17).
Ngoài xác quyết chung về các thực tại trần gian. Công đồng cũng nói về một số vấn đề cách đặc biệt trong bối cảnh riêng rẽ. Trong Sắc lệnh về việc đào tạo linh mục Optatam totius (ban hành ngày 28 tháng 10 năm 1965), khi bàn về việc sống độc thân, Công đồng đã nói về đời sống hôn nhân, một thực tại đã được nhắc tới và được Thiên Chúa chúc phúc ngay từ đầu công cuộc tạo dựng: “Các chủng sinh phải hiểu biết đúng mức về những bổn phận và phẩm giá của hôn nhân công giáo, biểu tượng tình yêu giữa Chúa Kitô và Giáo Hội (x. Eph 5, 22-33)... nhưng hơn thế nữa, họ làm chủ được hồn xác, phát triển được sự trưởng thành trọn vẹn hơn, và đạt được hạnh phúc Phúc âm cách toàn hảo hơn” (s. 10). Sắc lệnh nói thêm : “Vì thế, một nền giáo dục khéo tổ chức cũng phải nhắm huấn luyện cho các chủng sinh đạt được mức trưởng thành nhân bản cần thiết, nhất là mức trưởng thành đã được kiểm nghiệm trong một đức tính cương nghị, trong khả năng quyết định chín chắn, và một óc phê phán xác đáng về con người và về các biến cố” (s. 11). Còn về việc sống đức khó nghèo, Công đồng nhắn nhủ các chủng sinh như sau: “Phải đặc biệt lo lắng tập sống đức vâng lời linh mục, đời sống khó nghèo, và tinh thần xả kỷ sao cho họ quen mau mắn từ bỏ ngay cả những gì được phép nhưng không thích đáng và trở nên giống Chúa Kitô chịu đóng đinh” (s. 9).
Sắc lệnh về đời sống Dòng tu Perfectae caritatis (ban hành ngày 28 tháng 10 năm 1965), không nói rõ và trực tiếp về tạo vật, về các thực tại trần gian và việc xử dụng các thực tại trần gian. Nhưng chúng ta có thể suy đoán từ Hiến chế về Giáo hội trong thế giới ngày nay, cũng như các lời nhắn nhủ các chủng sinh, linh mục, cũng áp dụng cho các tu sĩ.
Các phương tiên truyền thông xã hội, một phát minh mới của loài người, cũng được Công đồng đề cao và trân trọng: “Những phương tiện truyền thông xã hội mới mẻ và mỗi ngày mỗi thuận tiện giúp con người theo dõi được các biến cố cũng như phổ biến hết sức mau lẹ và rộng rãi những lối cảm nghĩ và suy tư, do đó chúng gây nên nhiều âm hưởng liên hợp nhau” (Hiến chế Vui mừng và hy vọng, s. 6).
*** Xem tiếp phần dưới.
Rôma, Mùa Giáng Sinh
Ngày 1-1-2007, Lễ Đức Maria Đức Mẹ Chúa Trời.
Lm. Phanxicô Borgia Trần Văn Khả
Sandra
03-01-2007, 09:19 PM
2) Cần có một sự biên biệt đúng đắn, với sự trưởng thành và biết xử dụng tự do
Khả năng biện biệt đúng đắn (un juste discernement) mà Công đồng muốn các linh mục phải có, là một trong những mục tiêu quan trọng các nhà giáo dục huấn luyện phải giúp cho các chủng sinh cũng như các ứng sinh tu trì đạt tới trong cuộc sống của mỗi người. Đây là dấu chỉ của một con người trưởng thành và có một cuộc sống vững chãi. Khả năng biện biệt này cần được tăng trưởng thêm mỗi ngày, đi theo với kinh nghiệm sống và những kiến thức thu lượm được qua học hỏi, làm việc, tiếp xúc với người khác, nhất là với những người khôn ngoan, những người sống theo tinh thần phúc âm cách đích thực. Khoa sư phạm và giáo dục tôn giáo và huấn luyện tu trì đưa ra những yếu tố liên hệ tới khả năng biện biệt đúng đắn. Ở đây tôi chỉ xin đưa ra một vài gợi ý mà thôi. Khả năng biện biệt nhận biết các tài năng, các vốn liếng tự nhiên cũng như luân lý và thiêng liêng của mình. Như vậy mỗi người đi vào trong cái nhìn của Thiên Chúa với từng người khi họ sinh ra trong trần gian. Mỗi người có một kho tàng ơn thánh được trao ban cho. Điều này làm cho cá nhân không tự ti mặc cảm, không thoái thác trách nhiệm, và biện minh là mình thiếu khả năng và tài đức. Chắc chắn không phải ai cũng có những khả năng như nhau, kẻ thì 10 nén, kẻ 5 nén, kẻ một nén. Chắc chắn không phải ai cũng lãnh nhận một trách nhiệm như nhau. Đầu không phải là chân tay, và trái lại chân tay không phải là đầu.
Mỗi người cần đào sâu, phát triển các tài năng này trong những hoàn cảnh cho phép và với những phương tiện có được. Không thể có con người trưởng thành nếu không có học tập, huấn luyện. Huấn luyện, học hỏi sẽ phát triển các tài năng, các tư cách của mỗi cá nhân. Huấn luyện và học hỏi cho chúng ta hiểu biết về con người, về người khác, về các thực tại bên ngoài chung quanh ta, trong môi trường ta đang sống. Cái nhìn này vừa lý thuyết những lại rất thực tiễn.
Để có được khả năng biện biệt đúng đắn, mỗi người phải có những nguyên tắc, những tiêu chuẩn để phán đoán và để hành động; cũng cần đặt một bậc thang các giá trị: cần thiết, ích lợi, có thể chấp nhận, và hoàn toàn trái ngược với mục đích. Trong cụ thể phải chọn điều cần thiết trước các điều chỉ có tính cách ích lợi, hay có thể chấp nhận được; và phải loại bỏ những điều trái ngược với Tin mừng. Các nguyên tắc và tiêu chuẩn này có được là do cảm nghiệm sâu xa từ việc sống Tin Mừng của Chúa Kitô; do học hỏi và do bàn hỏi với các người khôn ngoan. Tiếng lương tâm là một tiêu chuẩn quan trọng bậc nhất cho mọi biện biệt. Vì thế cần lo cho có một lương tâm nhạy cảm với ơn thánh, với nhu cầu thiêng liêng, với lời mời gọi bác ái. Việc xét mình hằng ngày và việc lãnh nhận bí tích giải tội là phương thế rất hữu hiệu để thanh luyện lương tâm.
Trong thực hành, khả năng biện biệt cũng được nhận ra cách khác nhau nơi mỗi người: có người nhận ra cách dễ dàng, có người phải vất vả nhiều. Nhưng tất cả chúng ta cần thể hiện khả năng biện biệt này. Ban đầu có thể nhờ người khác giúp cho có được biện biệt về các sự vật, các sự việc, về con người. Nhưng không nên ỷ nại vào người khác luôn mãi. Làm như vậy sẽ không thể trưởng thành trong cuộc sống. Các vị linh hướng, các người đảm nhiệm việc hướng dẫn (counselling) cần giúp cho giới trẻ dần dần tự quyết định trong cuộc đời của họ.
Khả năng biện biệt này là một điều kiện quan trọng nơi các người lãnh đạo các nhóm, các cộng đoàn. Sự tăng trưởng của cộng đoàn, của nhóm tùy thuộc rất nhiều vào khả năng biện biệt của người lãnh đạo, của bề trên.
Áp dụng vào việc xử dụng các thực tại trần gian, khả năng biện biệt sẽ giúp người linh mục, tu sĩ nhận ra giá trị đích thực của chúng, lúc nào cần thiết, cho mục đích gì, lúc nào chúng chỉ có ích lợi thôi, lúc nào chúng không cần thiết gì cả, lúc nào chúng hoàn toàn làm cản trở cho đời sống tu trì, cho con đường kết hiệp với Chúa. Điều này áp dụng cho việc sống đức vâng lời, khiết tịnh và khó nghèo của người tu sĩ và linh mục. Nếu không có khả năng biện biệt này, họ sẽ rơi vào tình trạng ảo tưởng, hoặc bị mê hoặc cách vô lối, hoặc xử dụng các thực tại trần gian một cách không chính đáng, cách vụng trộm không thành thật ngay cả với chính mình, chứ chưa nói gì với bề trên và cộng đoàn; họ sẽ lơ là trong việc tránh những điều làm tổn thương đến đức khiết tịnh, khi tiếp xúc với người khác, khi xử dụng tranh ảnh, báo chí, sách vở ... Khi hành động với sự biện biệt chính đáng, người tu sĩ sẽ cảm thấy tự do thanh thản và trở nên trưởng thành hơn. Như một thí dụ về khả năng biện biệt trong đời sống khó nghèo của linh mục, Công đồng khuyên nhủ các linh mục như sau: “Vì thế, các linh mục cũng như giám mục, được Chúa Thánh Thần hướng dẫn, Ngài là Đấng đã xức dầu cho Chúa Cứu Thế và sai đi rao giảng Phúc âm cho người nghèo khó, phải tránh tất cả những gì bằng cách này hay cách khác có thể làm cho mình xa cách người nghèo khó, và hơn các môn đệ khác của Chúa Kitô, các ngài phải loại bỏ mọi thứ khoe khoang trong các đồ dùng của mình. Các ngài phải xếp đặt chỗ ở thế nào để không ai coi đó là nơi bất khả xâm phạm, và để không ai dù nghèo hèn đến đâu phải sợ hãi không bao giờ dám lui tới” (Sắc lệnh về chức vụ và đời sống linh mục, Presbyterorum ordinis, s. 17).
*** Xem tiếp phần dưới.
Rôma, Mùa Giáng Sinh
Ngày 1-1-2007, Lễ Đức Maria Đức Mẹ Chúa Trời.
Lm. Phanxicô Borgia Trần Văn Khả
Sandra
03-01-2007, 09:21 PM
3) Hoàn cảnh đời sống tu trì tại Việt Nam
Khi nói về các thực tại trần thế, các của cải vật chất, tinh thần và việc xử dụng chúng trong đời sống tu trì và linh mục, có lẽ chúng ta cũng cần nhìn vào và phân tích thực trạng đời sống tu trì ở Việt Nam và đời sống các linh mục Việt Nam để giúp tìm ra một hướng đi thích hợp cho giáo sĩ và tu sĩ của thời đại chúng ta. Chúng ta không thể làm công việc này mà không cảm thấy thực sự khó khăn và tế nhị. Tuy nhiên điều này được gợi ra để mỗi cá nhân hay mỗi cộng đoàn tự làm việc nhìn lại và phân tích này trong chính bản thân của mình, trong cái nhìn thật thanh thản và trong sáng, với sự trợ giúp của Chúa Thánh Thần. Một lần tôi hỏi một linh mục Việt Nam (vị linh mục này đã qua dời): các cha bên nhà có một nếp sống nên gương về sự khó nghèo và thanh bần. Vị linh mục này trả lời một cách rất thành thực: đó chỉ là do hoàn cảnh bắt buộc. Chắc chắn đây không phản ảnh tất cả tâm thức của tu sĩ linh mục tại Việt Nam chúng ta. Nhưng câu truyện này giúp chúng ta suy tư thực sự về những lối sống, những biến cố liên hệ tới đời sống tu đức trong những năm vừa qua tại Việt Nam.
Thời gian 30 năm (trong Miền Nam Việt Nam) hay 50 năm qua (tại Miền Bắc Việt Nam), đời sống tu trì và linh mục đã gặp nhiều khó khăn trong nếp sống, trong sinh hoạt mục vụ, trong khi sống ơn gọi, trong sinh hoạt cộng đoàn. Kẻ chịu đựng những khó khăn, thử thách này, cũng như người nghe, đều nhận thấy nhiều điểm tích cực và tiêu cực. Lúc này hình như các khó khăn đã giảm đi phần nào. Và chính là lúc chúng ta cần phân định các giá trị cao đẹp để giữ lại và các khía cạnh không hay cần loại bỏ.
Đàng khác, ở bất cứ nơi nào chúng ta cũng đang bước vào giai đoạn các nhu cầu kinh tế toàn cầu trở nên dễ dãi hơn và đời sống đầy đủ tiện nghi lôi kéo con người hơn. Cuộc sống này làm cho các giá trị luân lý, đạo đức, tôn giáo, giá trị của Tin mừng cũng bị lãng quên hay bị loại bỏ. Vì thế đời tu đang bước vào một giai đoạn đòi hỏi một sự chọn lựa khá gay go và quyết định. Nếu theo cách sống cũ, thì sẽ bị thải hồi khỏi xã hội; nếu chạy theo cái mới và các mời mọc của thế giới vật chất, thì đời tu chẳng còn chất lượng siêu nhiên; nếu sống cho qua ngày, thì đời tu chẳng lôi cuốn hấp dẫn gì giới trẻ ngày nay, đồng thời cũng không đem lại hạnh phúc cho chính người tu sĩ, linh mục. Tình trạng này đang xẩy ra tại thế giới bên Âu Mỹ.
Nhìn vào thực trạng đời tu ngày nay tại Việt Nam để qua khả năng biện biệt thiêng liêng đứng đắn, chúng ta bước đi trong niềm hy vọng và lạc quan của Tin Mừng, trong sự sống phong phú của đức tin, đồng thời cũng làm cho đời tu có chất lượng sâu xa và vững vàng hơn.
*** Xem tiếp phần dưới.
Rôma, Mùa Giáng Sinh
Ngày 1-1-2007, Lễ Đức Maria Đức Mẹ Chúa Trời.
Lm. Phanxicô Borgia Trần Văn Khả
Sandra
03-01-2007, 09:23 PM
4) Chúa là gia nghiệp đời con
Tất cả những điều chúng ta vừa nói trên đây đưa chúng ta tới một hệ luận cụ thể: đó là chúng ta, những linh mục và tu sĩ phải sống trọn vẹn ơn gọi của mình giữa những thực tại trần thế này. Chúng rất tốt đẹp vì là tạo vật của Thiên Chúa, nhưng lại có thể trở nên những cản trở chúng ta trong con đường kết hợp với Chúa, để sống ơn gọi và để thi hành công việc mục vụ một cách chân chính. Ở đây chúng ta trở lại mối bận tâm lớn lao của Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI trong thế giới hôm nay: đó là “Vấn đề Thiên Chúa” (Le problème de Dieu), như đã nói trên đây. Đức Thánh Cha nói: “Giáo hội phải nói về nhiều vấn đề: về tất cả những gì liên quan đến con người, đến cơ cấu của Giáo hội và sự sắp xếp của chính mình và các vấn đề khác. Nhưng chủ đề của Giáo hội và là chủ đề đích thực – dưới nhiều khía cạnh – lại là vần đề duy nhất đó là THIÊN CHÚA... Khi nói về Thiên Chúa, chúng ta lại đề đạt tới chính vấn đề nồng cốt trong việc rao giảng của Chúa Giêsu. Chủ đề nền tảng của việc rao giảng này là vương quyền của Thiên Chúa, “Nước Thiên Chúa”... Nước Thiên Chúa, có nghĩa là Thiên Chúa cai trị tất cả. Ngài hiện diện và quyết định cho tất cả mọi người trên thế gian này” (Bài diễn văn đọc trước Hồng Y đoàn và Giáo triều Rôma đến chúc mừng Giáng sinh và Năm mới Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI, ngày 22-12-2006, L’Osservatore Romano, 23-12-2006, tr. 6).
Vậy cuộc sống của người tu sĩ cũng như linh mục phải đặt Thiên Chúa và Chúa Kitô vào trọng tâm đời sống của mình. Ngài là nguồn gốc mọi tạo vật. Ngài mới làm cho cuộc sống của họ có ý nghĩa. Vì Ngài, cũng như trong Ngài họ mới có khả năng chọn lựa, sống trọn vẹn và vượt qua mọi khó khăn giữa cuộc sống trần thế này. Đây là một chọn lựa quyết liệt và dứt khoát: Chỉ chọn Thiên Chúa mà thôi, chỉ tùy thuộc Thiên Chúa mà thôi. Các thực tại trần gian khác phải được thẩm định và chọn lựa trong cái nhìn quy hướng nồng cốt về Thiên Chúa. Chúng ta vẫn thường nói và hát bài thánh vịnh 15 và xác nhận: Chúa là Gia nghiệp đời con. Chỉ khi nào chúng ta thực sự chọn Chúa là gia nghiệp và sống hoàn toàn cho Ngài, thì đời tu của chúng ta mới hạnh phúc vì có Chúa là gia nghiệp, là tất cả, lúc đó đời tu mới trở nên một chứng tá thực sự trước thế giới: Thiên Chúa thống trị và làm chủ tất cả.
Rôma, Mùa Giáng Sinh
Ngày 1-1-2007, Lễ Đức Maria Đức Mẹ Chúa Trời.
Lm. Phanxicô Borgia Trần Văn Khả
vBulletin v3.5.2, Copyright ©2000-2012, Jelsoft Enterprises Ltd.