Đamien
10-01-2007, 07:16 PM
TÍN NGƯỠNG CỔ TRUYỀN TRONG HỒN CỦA NGƯỜI THƯỢNG
Khi tìm hiểu tín ngưỡng cổ truyền của người Thượng thì luôn gặp phải những giới hạn khó vượt qua, đó là phải tiếp xúc với một thế giới mù mờ, huyền ảo. Hơn nữa vì không chữ viết nên cũng không tài liệu, rồi vấn đề cũng phức tạp do người Thượng tin đâu cũng có thần có ma.
Thần thì có thần núi, thần sông, thần suối nguồn, thần nhà cửa, thần mọi nơi mọi chốn…
Còn ma nói cho dễ hiểu thì nào là ma đồi ma núi mà họ gọi là chạ kơh (cà kơh), nào là ma người mà gọi là chạ chao (cà cau), nào là briăng tạm dịch ma trời, rồi lại có phut mu có thể tạm dịch cho dễ hiểu là ma xứ, ma thổ …
Khi nói về chuyện thần linh thì hầu hết chỉ dựa chuyện truyền khẩu dân gian, nên điều khó khăn là cái nguồn ấy cũng không thống nhất, dễ bị thêu dệt tùy tiện, và cũng đang dần dần bị chôn vùi cùng với thế hệ đi trước, vì họ mới là những người đã thật sự tin và thờ các vị thần qua bao nhiêu thế hệ bằng những hình thức phổ biến trong sinh hoạt gia đình cũng như cộng đồng của họ.
Cần thiết phải phân loại những chuyện kể rải rác nhiều khi khá lộn xộn, giới hạn chúng trong từng lãnh vực một, làm như vậy là để tránh đi vào con đường miên man bất tận, hầu có thể đưa ra được một nhận định về từng vấn đề một, nói chung là phải có sự tổng hợp rồi phân tích.
Cần phải lục lọi trong ký ức, ngôn ngữ, truyện cổ…, và trong một vài hình thức thực hành còn xót lại, nhiều cái đã bị biến đổi theo dòng thời gian, để từ đó cố gắng phân loại chúng, suy luận sao cho có lý, và cố gắng tìm ra mối liên hệ giữa những điều có vẻ rải rác và tản mác ấy.
Không có gì có thể khẳng định cả, mọi sự chỉ là những dữ kiện được tìm cách mô tả trong sự khách quan và trung thực với chừng mực nào đó, để có thể mở đường cho những nhận định từ nhiều phía.
Sau cùng một một câu hỏi được đặt ra là : - Người Thượng là dân tộc có tín ngưỡng theo hướng đa thần hay độc thần, hoặc có thể là phiếm thần theo kiểu phân loại thời nay ? Có lẽ không bao giờ trả lời nổi câu hỏi ấy một cách dứt khoát và rõ ràng, mà chỉ có thể suy đoán tín ngưỡng ấy mang màu sắc gì. Có thể là đa hay độc thần, hay có thể là phiếm thần, nhưng theo nghĩa đặc trưng nào ?
Tựu trung mọi sự chỉ có thể suy đoán, chứ khó có thể khẳng định hay phân loại rõ ràng như đã nói.
Tin về sự hiện hữu của thần linh
Thế giới quan và vũ trụ quan của người Thượng có lẽ dễ đưa họ đến chỗ tin rằng có những quyền lực vô hình đang hiện diện và cai quản vũ trụ, qua cách diễn tả niềm tin trong lời nói và việc làm, có thể tạm phân tích niềm tin ấy như sau :
Thần trên hết
Người Thượng tin có một Yàng măt-tơngai (thần mặt trời), là vị thần trên hết, cai quản tất cả từ thế giới thần linh đến thế giới con người và muôn vật muôn loài, nội dung của danh xưng này được coi ngang hàng với danh xưng Thượng đế hay Ông Trời trong Việt ngữ.
Trong thực tế cuộc sống, ít khi người Thượng nhắc tới vị thần này, họ cho rằng đó là vị thần xa tít ở trên trời cao thẳm (hơđăng kơluàng trồ jơnhoa), ngài quyền năng và thông biết mọi sự. Chỉ khi nào hữu sự như trong những vụ án lớn, trong những lúc cuộc sống gặp sự hiểm nguy tính mạng thì người Thượng thường hay kêu lên : Ơ Yàng măt-tơngai ! ngụ ý rằng : Lạy thần tối cao, xin hãy phân xử cho tôi chuyện này, xin thương cứu tôi…, hay là Yàng măt-tơngai git gơ dê, nghĩa là thần tối cao thông biết mọi sự, hay ông trời có mắt….
Cũng cần phải hiểu rằng chữ Yàng măt-tơngai chỉ là một danh xưng, một biểu tượng được gắn cho vị thần tối cao thống trị thế giới muôn loài, chứ không hiểu theo chữ là thần của mặt trời. Nói chung người Thượng không biết tên vị thần ấy, nên chỉ dùng hiện tượng thiên nhiên lớn nhất làm biểu tượng và gọi tên vị thần ấy mà thôi.
Những thần địa phương
Dưới quyền của Yàng măt-tơngai có vô số những vị thần dưới quyền được phân bổ cai quản thế giới và vũ trụ, từ những vị thần cai quản biển khơi đến những vị thần nhỏ cai quản một ngọn núi, một dòng sông, một suối nguồn, thần cầm thú, thần gia súc, thần nhà, thần lúa má...
Ví dụ : Yàng núi Brah-yàng, Yàng núi Gùng-Reh, Yàng núi Klong Cing, Yàng núi Tao Dung Tào Dra, Yàng Kòn Đời, yàng Pồt-Lung, Yàng Tô Tơnung, Yàng núi Langbiang…, Yàng jùn (thần của nai rừng), Yàng ka ( thần của loài cá…).
Điều này giải thích rằng qua nhìn ngắm sự kỳ diệu của thiên nhiên người Thượng cho rằng tất cả đều có thần linh cai quản.
Những vị thần gần gũi trong cuộc sống
- Yàng hìu (thần nhà)
Người Thượng tin có yàng của từng mái nhà gia đình, vì thế mà họ hay nói tới thần nhà (yàng hìu), nơi ngự trị của vị thần nhà là một cái drăp me, tức là một cái choé lớn thường được để giữa nhà, đó chính là cái bàn thờ để dâng lễ tế mỗi khi có dịp. Người Thượng rất kính sợ các drăp me, nên không dám làm điều gì bậy khi đến gần, vì sợ xúc phạm tới yàng hìu.
Xúc phạm tới thần nhà có thể bị phạt và phải cúng chuộc (tơwài) mà lễ vật có thể là một con gà non hay phải đan những con dê bằng tre (Tằn be) tượng trưng cho lễ vật để tỏ lòng hối lỗi với thần.
Hay có khi phải nhờ các trung gian của ồng wăn dịch là ông than, đại khái như sau :
Khi biết ai trong gia đình gặp chứng bệnh lạ, thì người cha hay người mẹ gắp ba cục than đỏ trong bếp ra, dội nước cho nó kêu sè sè, vừa ném đi vừa lẩm bẩm đọc những lời khấn xin, người ta cho rằng ba cục than được ném đi là ba vị sứ giả được cậy nhờ đến xin thần tha cho những xúc phạm đã gây ra, nghi thức này họ gọi là crùh chah, nghĩa là dội nước vào than đỏ.
Ví dụ : khi bọn trẻ bị bệnh sưng bìu dái, thì cha mẹ chúng thường cho là do thần nhà (yàng hìu) hay thần chòi lúa (yàng đăm) phạt tội bất kính với yàng (bọn trẻ con thường đái bậy trong nhà hay dưới gầm cái chòi lúa nên bị thần phạt cho).
- Yàng đăm (thần chòi lúa)
Thần chòi lúa như vừa nói (Yàng đăm) là vị thần gần gũi nhất trong cuộc sống người Thượng, họ có bổn phận phải cúng tế cho những vị thần ấy trong những dịp định kỳ hay trong những trường hợp bất thường.
- Yàng kòi (Thần lúa)
Một vị thần khác có vẻ rất phổ biến trong việc cúng tế của người Thượng là yàng kòi, là thần lúa, vị thần cai quản lúa má cũng như việc canh tác đồng áng. Ở đây nên lưu ý rằng người Thượng không quan niệm như một hình thức phiếm thần, mà là vị thần cai quản việc ấy.
Đối với họ các thần tuy vô hình, nhưng cũng có hình hài nào đó được hình dung giống như con người, cũng suy nghĩ, ăn uống, nói năng, đi lại, giận hờn…, nhưng quyền năng nên có phép biến hóa vạn vật, làm từ không ra có, từ ít ra nhiều….
Khi khác thì người Thượng gọi yàng kòi là ndu yàng kòi, họ thờ vị ndu này trong các chòi lúa của gia đình, nơi ngự trị của vị thần ấy là một cái cher kòi, dịch là cái chén thần lúa, đó là một cái chén bằng đồng, có hình dáng tròn tròn như cái chén nhưng không có đế, được đựng trong cái tráp, là một loại giỏ được đan bằng tre, nhỏ và vuông vức, có nắp đậy và trong đó chứa tất cả những đồ thờ của họ, được dặt trên một cái giá cao nhất trong chòi lúa, nơi đây diễn ra các cuộc cúng tế, ăn uống nhiều lần trong năm.
Người Thượng sống bằng nghề nương rẫy từ bao nhiêu thế hệ, đối với họ hột lúa là sự sống nên họ quí hóa từng hột một, các ông các bà ngày trước không bao giờ để vung vãi dù chỉ một hột lúa mà thôi, họ cho rằng làm như vậy là abă-abăn, nghĩa là xúc phạm, bất kính với yàng kòi.
Một câu nói cửa miệng rất dễ gợi ý là lơh kòi hòi yàng, có thể dịch là trồng lúa và cầu thần, bởi vì họ quan niệm hột lúa là linh thiêng, con người có thể làm được mọi sự, nhưng không thể chế tạo ra hột lúa, ngay cả trong thế giới thời nay người ta lai tạo nhiều giống lúa mới thì đó chỉ là ứng dụng quyền năng sẵn có của tạo hóa mà thôi, do vậy người trồng lúa cần phải ý thức lúa là ân lộc được thần ban cho, chứ không chỉ là công trạng và mồ hôi nước mắt của con người làm nên.
Khi tìm hiểu tín ngưỡng cổ truyền của người Thượng thì luôn gặp phải những giới hạn khó vượt qua, đó là phải tiếp xúc với một thế giới mù mờ, huyền ảo. Hơn nữa vì không chữ viết nên cũng không tài liệu, rồi vấn đề cũng phức tạp do người Thượng tin đâu cũng có thần có ma.
Thần thì có thần núi, thần sông, thần suối nguồn, thần nhà cửa, thần mọi nơi mọi chốn…
Còn ma nói cho dễ hiểu thì nào là ma đồi ma núi mà họ gọi là chạ kơh (cà kơh), nào là ma người mà gọi là chạ chao (cà cau), nào là briăng tạm dịch ma trời, rồi lại có phut mu có thể tạm dịch cho dễ hiểu là ma xứ, ma thổ …
Khi nói về chuyện thần linh thì hầu hết chỉ dựa chuyện truyền khẩu dân gian, nên điều khó khăn là cái nguồn ấy cũng không thống nhất, dễ bị thêu dệt tùy tiện, và cũng đang dần dần bị chôn vùi cùng với thế hệ đi trước, vì họ mới là những người đã thật sự tin và thờ các vị thần qua bao nhiêu thế hệ bằng những hình thức phổ biến trong sinh hoạt gia đình cũng như cộng đồng của họ.
Cần thiết phải phân loại những chuyện kể rải rác nhiều khi khá lộn xộn, giới hạn chúng trong từng lãnh vực một, làm như vậy là để tránh đi vào con đường miên man bất tận, hầu có thể đưa ra được một nhận định về từng vấn đề một, nói chung là phải có sự tổng hợp rồi phân tích.
Cần phải lục lọi trong ký ức, ngôn ngữ, truyện cổ…, và trong một vài hình thức thực hành còn xót lại, nhiều cái đã bị biến đổi theo dòng thời gian, để từ đó cố gắng phân loại chúng, suy luận sao cho có lý, và cố gắng tìm ra mối liên hệ giữa những điều có vẻ rải rác và tản mác ấy.
Không có gì có thể khẳng định cả, mọi sự chỉ là những dữ kiện được tìm cách mô tả trong sự khách quan và trung thực với chừng mực nào đó, để có thể mở đường cho những nhận định từ nhiều phía.
Sau cùng một một câu hỏi được đặt ra là : - Người Thượng là dân tộc có tín ngưỡng theo hướng đa thần hay độc thần, hoặc có thể là phiếm thần theo kiểu phân loại thời nay ? Có lẽ không bao giờ trả lời nổi câu hỏi ấy một cách dứt khoát và rõ ràng, mà chỉ có thể suy đoán tín ngưỡng ấy mang màu sắc gì. Có thể là đa hay độc thần, hay có thể là phiếm thần, nhưng theo nghĩa đặc trưng nào ?
Tựu trung mọi sự chỉ có thể suy đoán, chứ khó có thể khẳng định hay phân loại rõ ràng như đã nói.
Tin về sự hiện hữu của thần linh
Thế giới quan và vũ trụ quan của người Thượng có lẽ dễ đưa họ đến chỗ tin rằng có những quyền lực vô hình đang hiện diện và cai quản vũ trụ, qua cách diễn tả niềm tin trong lời nói và việc làm, có thể tạm phân tích niềm tin ấy như sau :
Thần trên hết
Người Thượng tin có một Yàng măt-tơngai (thần mặt trời), là vị thần trên hết, cai quản tất cả từ thế giới thần linh đến thế giới con người và muôn vật muôn loài, nội dung của danh xưng này được coi ngang hàng với danh xưng Thượng đế hay Ông Trời trong Việt ngữ.
Trong thực tế cuộc sống, ít khi người Thượng nhắc tới vị thần này, họ cho rằng đó là vị thần xa tít ở trên trời cao thẳm (hơđăng kơluàng trồ jơnhoa), ngài quyền năng và thông biết mọi sự. Chỉ khi nào hữu sự như trong những vụ án lớn, trong những lúc cuộc sống gặp sự hiểm nguy tính mạng thì người Thượng thường hay kêu lên : Ơ Yàng măt-tơngai ! ngụ ý rằng : Lạy thần tối cao, xin hãy phân xử cho tôi chuyện này, xin thương cứu tôi…, hay là Yàng măt-tơngai git gơ dê, nghĩa là thần tối cao thông biết mọi sự, hay ông trời có mắt….
Cũng cần phải hiểu rằng chữ Yàng măt-tơngai chỉ là một danh xưng, một biểu tượng được gắn cho vị thần tối cao thống trị thế giới muôn loài, chứ không hiểu theo chữ là thần của mặt trời. Nói chung người Thượng không biết tên vị thần ấy, nên chỉ dùng hiện tượng thiên nhiên lớn nhất làm biểu tượng và gọi tên vị thần ấy mà thôi.
Những thần địa phương
Dưới quyền của Yàng măt-tơngai có vô số những vị thần dưới quyền được phân bổ cai quản thế giới và vũ trụ, từ những vị thần cai quản biển khơi đến những vị thần nhỏ cai quản một ngọn núi, một dòng sông, một suối nguồn, thần cầm thú, thần gia súc, thần nhà, thần lúa má...
Ví dụ : Yàng núi Brah-yàng, Yàng núi Gùng-Reh, Yàng núi Klong Cing, Yàng núi Tao Dung Tào Dra, Yàng Kòn Đời, yàng Pồt-Lung, Yàng Tô Tơnung, Yàng núi Langbiang…, Yàng jùn (thần của nai rừng), Yàng ka ( thần của loài cá…).
Điều này giải thích rằng qua nhìn ngắm sự kỳ diệu của thiên nhiên người Thượng cho rằng tất cả đều có thần linh cai quản.
Những vị thần gần gũi trong cuộc sống
- Yàng hìu (thần nhà)
Người Thượng tin có yàng của từng mái nhà gia đình, vì thế mà họ hay nói tới thần nhà (yàng hìu), nơi ngự trị của vị thần nhà là một cái drăp me, tức là một cái choé lớn thường được để giữa nhà, đó chính là cái bàn thờ để dâng lễ tế mỗi khi có dịp. Người Thượng rất kính sợ các drăp me, nên không dám làm điều gì bậy khi đến gần, vì sợ xúc phạm tới yàng hìu.
Xúc phạm tới thần nhà có thể bị phạt và phải cúng chuộc (tơwài) mà lễ vật có thể là một con gà non hay phải đan những con dê bằng tre (Tằn be) tượng trưng cho lễ vật để tỏ lòng hối lỗi với thần.
Hay có khi phải nhờ các trung gian của ồng wăn dịch là ông than, đại khái như sau :
Khi biết ai trong gia đình gặp chứng bệnh lạ, thì người cha hay người mẹ gắp ba cục than đỏ trong bếp ra, dội nước cho nó kêu sè sè, vừa ném đi vừa lẩm bẩm đọc những lời khấn xin, người ta cho rằng ba cục than được ném đi là ba vị sứ giả được cậy nhờ đến xin thần tha cho những xúc phạm đã gây ra, nghi thức này họ gọi là crùh chah, nghĩa là dội nước vào than đỏ.
Ví dụ : khi bọn trẻ bị bệnh sưng bìu dái, thì cha mẹ chúng thường cho là do thần nhà (yàng hìu) hay thần chòi lúa (yàng đăm) phạt tội bất kính với yàng (bọn trẻ con thường đái bậy trong nhà hay dưới gầm cái chòi lúa nên bị thần phạt cho).
- Yàng đăm (thần chòi lúa)
Thần chòi lúa như vừa nói (Yàng đăm) là vị thần gần gũi nhất trong cuộc sống người Thượng, họ có bổn phận phải cúng tế cho những vị thần ấy trong những dịp định kỳ hay trong những trường hợp bất thường.
- Yàng kòi (Thần lúa)
Một vị thần khác có vẻ rất phổ biến trong việc cúng tế của người Thượng là yàng kòi, là thần lúa, vị thần cai quản lúa má cũng như việc canh tác đồng áng. Ở đây nên lưu ý rằng người Thượng không quan niệm như một hình thức phiếm thần, mà là vị thần cai quản việc ấy.
Đối với họ các thần tuy vô hình, nhưng cũng có hình hài nào đó được hình dung giống như con người, cũng suy nghĩ, ăn uống, nói năng, đi lại, giận hờn…, nhưng quyền năng nên có phép biến hóa vạn vật, làm từ không ra có, từ ít ra nhiều….
Khi khác thì người Thượng gọi yàng kòi là ndu yàng kòi, họ thờ vị ndu này trong các chòi lúa của gia đình, nơi ngự trị của vị thần ấy là một cái cher kòi, dịch là cái chén thần lúa, đó là một cái chén bằng đồng, có hình dáng tròn tròn như cái chén nhưng không có đế, được đựng trong cái tráp, là một loại giỏ được đan bằng tre, nhỏ và vuông vức, có nắp đậy và trong đó chứa tất cả những đồ thờ của họ, được dặt trên một cái giá cao nhất trong chòi lúa, nơi đây diễn ra các cuộc cúng tế, ăn uống nhiều lần trong năm.
Người Thượng sống bằng nghề nương rẫy từ bao nhiêu thế hệ, đối với họ hột lúa là sự sống nên họ quí hóa từng hột một, các ông các bà ngày trước không bao giờ để vung vãi dù chỉ một hột lúa mà thôi, họ cho rằng làm như vậy là abă-abăn, nghĩa là xúc phạm, bất kính với yàng kòi.
Một câu nói cửa miệng rất dễ gợi ý là lơh kòi hòi yàng, có thể dịch là trồng lúa và cầu thần, bởi vì họ quan niệm hột lúa là linh thiêng, con người có thể làm được mọi sự, nhưng không thể chế tạo ra hột lúa, ngay cả trong thế giới thời nay người ta lai tạo nhiều giống lúa mới thì đó chỉ là ứng dụng quyền năng sẵn có của tạo hóa mà thôi, do vậy người trồng lúa cần phải ý thức lúa là ân lộc được thần ban cho, chứ không chỉ là công trạng và mồ hôi nước mắt của con người làm nên.