PDA

View Full Version : "Văn Hóa Đức Tin Nguyễn Xuân Văn 2007''


Đamien
14-01-2007, 10:01 AM
BÀI DẪN NHẬP LỄ CÔNG BỐ KẾT QUẢ VÀ TRAO GIẢI BÁO TƯỜNG
“ VĂN HÓA-ĐỨC TIN NGUYỄN XUÂN VĂN 2007”

Kính thưa….
Nếu chọn thời điểm 1533 như cột mốc của khởi đầu, thì so với các tôn giáo bạn : Phật, Khổng, Lão…, con đường hội nhập của Đạo Công Giáo vào bối cảnh Việt nam, văn hóa Việt nam quả thật chưa xa và cũng không sâu. Tính đến hôm nay, mới “tròm trèm” hơn 4 thế kỷ, trong khi Kitô giáo đã xuất hiện tại Á Châu đã ngót nghét hơn 2000 năm ! Vì thế, có nhiều nhà nghiên cứu về văn hóa-văn học Việt nam đã cho rằng : Chưa có một nền văn học Công Giáo Việt nam đúng nghĩa, như nhận xét khá khách quan của GS Chương Thâu trong cuộc“Tọa Đàm về Văn Hóa Công Giáo từ khởi thủy đến đầu thế kỷ 20” được UBGM về giáo dân tổ chức tại tòa TGM Huế từ ngày 24 đến 27 tháng 10 năm 2000.

“Có ý kiến cho rằng, trong cả mấy thế kỷ, tư tưởng Thiên Chúa giáo đã không thấm được vào văn học, nghệ thuật, học thuật của nước ta, cũng không nổ ra cuộc tranh luận ồn ào, gay gắt về lý thuyết giữa các tôn giáo Nho, Phật, Lão với tôn giáo nầy. Nhưng gần đây, qua một số “phát hiện mới” (thực ra là một sự nhận thức lại) đối với một số tác phẩm văn thơ của các tác giả người Công Giáo dưới thời cận đại, nhất là từ cuối thế kỷ XIX đến những năm 40 của thế kỷ nầy…trong đó có đậm nét “tư duy đạo”([3])

Tuy nhiên, nếu bình thản và chuyên sâu một chút, điểm lại cuộc “hành trình sống và diễn tả niềm tin của Hội Thánh Việt nam hơn 4 thế kỷ trên quê hương nầy, đất nước nầy, thì chúng ta sẽ có một đánh giá tích cực hơn, chính xác hơn; nhất là trong lãnh vực hội nhập văn hóa-văn học, như linh mục Thiện Cẩm đã khiêm tốn xác nhận rằng :
“Người Việt nam Công giáo đã tạo ra cho mình những nét văn hóa đặc thù, ăn sâu vào mọi phạm vi của đời sống. Từ làng xã đến thơ văn, nghệ thuật và kiến trúc, âm nhạc v.v..So với các tôn giáo khác, khách quan mà nói, người Công Giáo đã cống hiến cho dân tộc một kho tàng âm nhạc độc đáo và phong phú, tới mức ở nhiều địa phương, nhất là các vùng quê, các ca đoàn nhà thờ nhiều khi đã trở thành “chủ lực” trong phong trào ca nhạc quần chúng…

Về những mặt khác, như hội họa, kiến trúc, tuy chưa có được nhiều những tác phẩm, như đáng lẽ phải có, nhưng một nhà thờ Phát Diệm, một bức tranh sơn mài Giáng Sinh của danh họa Nguyến Gia Trí, cũng đủ chứng minh cho khả năng của nghệ thuật Công Giáo, tuy ít, nhưng lại đạt tới những đỉnh cao không thể nào chối cãi”([4])

Trong khi đó, một nhà nghiên cứu ngoài Công giáo, PGS Nguyễn Văn Kiệm, trong tác phẩm “Sự du nhập của Đạo Thiên Chúa vào Việt nam” đã khẳng định:
“Tôn giáo nầy cũng tập hợp các giáo hữu của mình thành những cộng đồng có nếp sống văn hóa đặc trưng : văn hóa Kitô giáo.”([5])

Nếu cần những trưng dẫn cụ thể để minh chứng cho những nhận định trên, chúng ta có thể liệt kê cả một hàng dài những công trình và những nhân vật tiêu biểu góp phần tạo nên một “Nền Văn hóa-Văn Học Công giáo” tại Việt nam :
Trước hết, phải ghi nhận công đầu to lớn hình thành nên văn học Công giáo việt nam đó chính là tác phẩm Quốc Ngữ đầu tiên “PHÉP GIẢNG TÁM NGÀY” do Cha A. De Rhodes chủ biên và xuất bản năm 1651 cùng với cuốn tự điển Việt-Bồ-La.

Quả thật nói tới văn học-văn hóa Việt nam mà loại trừ yếu tố “Quốc Ngữ” thì không thể chấp nhận được.

Kế tiếp những công trình “văn học-văn hóa” mang tính đột phá và tiên phong đó, Hội Thánh non trẻ Việt Nam tiếp tục lên đường chuyển tải Tin Mừng và chân lý cứu độ qua những công trình “Hội Nhập Văn Hóa” mà cho đến mãi hôm nay chúng ta chỉ biết cúi đầu bái phục :
- Giáo sĩ Majorica (Dòng Tên) : với trên 50 tác phẩm vừa dịch, biên soạn, sáng tác bằng văn xuôi hay văn vần chữ Nôm chuyển tải giáo lý, hạnh các thánh…
- Thầy Phanxicô, cựu hòa thượng : Với tác phẩm Hán-Nôm là bản Kinh Nguyện Giỗ CẢM TẠ NIỆM TỪ, quen gọi là PHỤC DĨ CHÍ TÔN
- Thầy giảng Gioan Thanh Minh : Với 15 phẩm bằng chữ Nôm ca ngợi các danh nhân, các Thánh
- Linh mục Lữ –Y Đoan (1613-1678): Với tác phẩm SẤM TRUYỀN CA bằng thể thơ lục bát
- Ông Raphael Đắc Lộ (1611-1687) : Với các tác phẩm thi ca : VÃN THÁNH GIUSE và VÃN ÔNG TOBIA
- Tác phẩm lục bát trường thi INÊ TỬ ĐẠO VÃN với 563 câu thơ lục bát kể chuyện tử đạo của Bà Inê năm 1700
- Linh mục Philipphê Bỉnh viết nhiều tác phẩm với nhiều thể loại : trước tác, biên soạn, dịch thuật, hồi ký, thơ… đặc biệt với tác phẩm SÁCH SỔ SANG CHÉP CÁC VIỆC
- Linh mục Đặng Đức Tuấn (1806-1874) : Nhiều tác phẩm Hán-Nôm : VIỆT NAM GIÁO SỬ DIỄN CA, LÂM NẠN PHỤC QUỐC HÀNH, MINH DÂN VỆ ĐẠO KHÚC, VĂN TẾ GIÁO DÂN TỬ NẠN, VĂN TẾ CÁC ĐẲNG LINH HỒN, GIÁO NẠN TRONG QUỐC BIẾN…
- Thánh Phan văn Minh : Với thi phẩm “PHI NĂNG THI TẬP”
-Linh mục Trần Lục (1825-1899) : Với các tác phẩm thi ca lục bát : HIẾU TỰ CA (1088 câu), NỮ TẮC THƯỜNG LỄ (1016 câu), NỊCH ÁI VONG ÂN (440 câu).

- Ngoài những tác giả với tác phẩm, tư liệu mang tính chuyên môn về thần học, giáo lý, tu đức…, còn có nhiều loại hình “hội nhập văn hóa khác” trong các lãnh vực khác như : chính trị (Các bản điều trần của LM. Đặng Đức Tuấn, Nguyễn Trường Tộ (1830-1871); kiến trúc : (các nhà thờ Hảo Nho, Bình Sa (Ninh Bình), An Vân, Đốc Sơ, An Truyền (Huế), Trung Lao, Thôn Đông (Nam Định), Ba Làng (Thanh Hóa), đặc biệt là quần thể kiến trúc Nhà Thờ Phát Diệm (Kim Sơn, Ninh Bình); sử học (Đại Nam quốc sử diễn ca của Trương vĩnh Ký (1837-1898), tiểu thuyêt (Truyện Thầy Lazarô Phiền của Nguyễn Trọng Quản (1887); kịch (Kịch thơ Mùa Xuân Thánh, Quần Tiên Hội của thi sĩ Đơn Phương 1991); múa (Các loại hình Dâng Hoa tháng Đức Mẹ); Biên khảo, nghiên cứu (Phạm Đình Khiêm, Võ Long Tê (Mai Hoa Công Chúa, Minh Đức Vương Thái Phi, Người chứng Thứ Nhất : biên khảo lịch sử của học giả Phạm Đình Khiêm; riêng Võ Long Tê có trên 50 công trình nghiên cứu và sáng tác. Trong số đó phải kể các công trình nghiên cứu thơ ca Hàn Mặc Tử…); báo chí (Thánh Thể báo, 1919 địa phận Phát Diệm, Thánh Giáo Tuần Báo Bắc Kỳ (1920-1923), Trung Hòa Nhật Báo (Hà Nội, 1924-1943), nhật báo Công Giáo Đồng Thinh, 1927-1937 và tờ tuần báo Công Giáo Tiến Hành, 1936-1938, tạp chí Sacerdos indosinensis (1927, tạp chí Dức Bà Hằng Cứu Giúp (1929 của ĐP Hà Nội, tuần báo Văn Côi (Nam Định), Vì Chúa (Huế), Lời Thăm (Qui Nhơn)…;

Trong lãnh vực thi ca, chúng ta làm sao không nhắc đến những tên tuổi lừng danh trên thi đàn Việt Nam như :
- Hàn Mặc Tử (1912-1940) với những bài thơ bất hủ như Thánh Nữ Đồng Trinh, Ra Đời,
- Bàng Bá Lân (1912-1988), một Kitô hữu tân tòng, với các bài thơ “Đêm Giáng Sinh”, “Cầu nguyện với Đức Mẹ”, “Cảm hóa.
- Hồ Dzếnh (1916-1991), một Kitô hữu tân tòng, với tuyển tập thơ “Tác Phẩm Đầu Xuân (1944) với nhiều bài thơ Công Giáo.
- Phạm Đình Tân (1913-1933) : với tập thơ “Lời Thiêng”

Và hôm nay, cho dù không nổi nang trong “trường văn trận bút” của xã hội đời thường, nhưng trong lãnh vực đức tin, trong Ngôi Nhà của Giáo hội Việt nam, mấy ai mà không biết đến những tên tuổi như :
- Linh mục thi sĩ Xuân Ly Băng (1936) : Với nhiều tập thơ đạo như Thơ Kinh, Hương Kinh, Hiến Chương Nước Trời, Bài Ca Thương Khó…
- Lê Đình Bảng (1942) : với các thi phẩm : Hành Hương, Lời tự tình của bến trần gian, Quỳ trước đến vàng…
- Linh mục Trăng Thập Tự : Trường ca Anrê Phú Yên, Tiên Tri, Quỳ Hoa và tuyển tập ‘có ai về Cát minh”.

- và nhất là hôm nay, chúng ta đang tưởng niệm, đang nhắc nhớ đến một con người, một linh mục và một thi sĩ đã góp phần to lớn trong tiến trình xây dựng nền văn học Công giáo Việt nam : đó là Cha F.X. Nguyễn Xuân Văn với đại thi phẩm “Sứ Điệp Tình Thương” bằng thể thơ lục bát với 9764 câu, một loại hình thi ca hoàn toàn mang “dáng đứng Việt Nam”, phong cách Việt nam.

Đamien
14-01-2007, 10:01 AM
Nhìn về đằng trước với một “tòa nhà văn học Công Giáo” nếu không đồ sộ, bề thế, thì chí ít cũng “có được một cái gì” để “ngẫng cao đầu” trong lãnh vực văn hóa-văn học. Nhưng nhìn vào hiện tại và, nhất là nhắm đến tương lai, chúng ta không khỏi ưu tư và trăn trở, day dứt và băn khoăn : làm sao cho nền văn học Công Giáo phát triển, làm sao cho giới cầm bút và văn nghệ sĩ Công giáo chiếm một vị trí xứng đáng trong làng văn học nước nhà như những trăn trở của linh mục Võ tá Khánh trong bài tham luận VĂN HỌC NGHỆ THUẬT CÔNG GIÁO:
“Chúng con mong tìm được nhiều khuôn mặt trẻ quan tâm tới văn học nghệ thuật Công Giáo, nhưng không biết hỏi ở đâu. Một phần là do những năm qua con không có dịp giao lưu… Tuy nhiên, không riêng con, con đã nhờ các vị khác và cũng thật hiếm hoi…. Chắc hẳn là vẫn có một số nào đó, nhưng dù sao ta vẫn không tránh được ấn tượng rằng có một sự cách quãng đáng ngại… Làm thế nào để trong tương lai không còn sự thiếu vắng quá đáng ?”([6])

Và linh mục thi sĩ Trăng Thập tự, trong đêm tọa đàm “Phát huy văn học nghệ thuật Anrê-Phú Yên ngày 15.5.2006” tại Trung Tâm mục vụ nầy đã có một gợi ý giản đơn nhưng đầy thuyết phục như một điểm khởi động cho công cuộc tiếp tục phát huy và xây dựng nền văn học Công Giáo Việt nam, đó là chương trình thực hiện BÁO TƯỜNG : Chúng ta nghe lại ý kiến nầy :
“Người Công Giáo Việt Nam đã sáng tạo ra chữ quốc ngữ và đã dùng nó để ghi chép và phổ biến kinh sách từ buổi đầu. Thế nhưng khi quốc ngữ trở thành phương tiện chuyển tải văn học, người Công Giáo đã tụt lại phía sau. Kể từ Đông Dương Tạp Chí và Nam Phong Tạp Chí tới nay, khoảng 90 năm, về thơ, ta chỉ có một tác giả chen vai được với đời là Hàn Mạc Tử, còn về tiểu thuyết, ta không thấy một tác giả Công Giáo nào.

Công cuộc truyền giáo đòi phải có nhiều nhà văn nhà báo Công Giáo, những người viết kịch bản cho truyền thanh, truyền hình và phim ảnh, thế nhưng lại thiếu vắng trầm trọng. Nguyên do sự thiếu vắng này là vì ta chưa ý thức vai trò quan trọng của những người sáng tác và, do đó, chưa đầu tư chuẩn bị.

Việc chuẩn bị này không khó. Ta có thể thực hiện ngay từ hôm nay tại địa bàn các giáo xứ. Giáo xứ nào cũng có nhiều đơn vị và đoàn thể. Nếu ta biết động viên, sinh hoạt các đơn vị và đoàn thể ấy sẽ là cơ hội cho mọi người tập cầm bút, để rồi từ đó sẽ phát xuất những cây bút có chất lượng cao. Những tờ báo thủ công niêm yết lên tường vách các phòng hội chính là một phương tiện rất giản dị và hữu hiệu cho sinh hoạt sáng tạo ấy.”([7])

Và hôm nay, trước mắt chúng ta, với 7 tờ báo tường của các hội đoàn, đơn vị mục vụ trong giáo xứ đã được thực hiện, như một nỗ lực khiêm tốn nhưng đầy ước vọng, Trên con đường góp phần tạo những tiền đề cho thế hệ trẻ hôm nay nối gót cha ông, tiếp tục tài bồi, trang hoàng cho ngôi nhà văn học Công Giáo Việt nam thêm huy hoàng tráng lệ. Chính trong ý nghĩa nầy, tôi tuyên bố khai mạc đêm “Công bố kết quả và trao giải thưởng Báo Tường 2007”, tức giải “Văn Hóa-Đức Tin Nguyễn Xuân văn lần thứ II”

Tuy Hòa, 9 tháng 01 năm 2007
Linh mục Giuse Trương Đình Hiền

Đamien
14-01-2007, 08:43 PM
Diễn văn khai mạc buổi tọa đàm mang chủ đề ''LM thi sĩ Nguyễn Xuân Văn, nhà thơ lục bát chuẩn mực''

Kính thưa quý vị,
Chúng ta đang hiện diện nơi đây, phải chăng là để hướng về, để tưởng niệm, để qui tụ chung quanh một người thân đã khuất, Cha F.X. Nguyễn Xuân Văn, một thi hào và một mục tử. Vì thuộc thế hệ, học trò, và rất giới hạn trong lãnh vực văn học chuyên môn, nhất là lãnh vực thi ca, nên tôi chỉ có thể nhìn về Cha Văn với lăng kính của một học trò ngưỡng mộ thầy, của một giáo dân kính phục Cha sở, sự ngưỡng mộ mà có lần, chúng ta đã mượn một thành ngữ cổ để diễn tả cuộc đời và sự nghiệp của Cha Văn, qua hai từ Hán ngữ “XUÂN – VĂN” :
XUÂN ĐÀI THỌ VỰC
VĂN THÁI PHONG LƯU
“Xuân đài thọ vực” : có nghĩa một cuộc đời an nhàn thư thái, sống lâu mà vẫn an nhàn đẹp tươi (Thành ngữ điển tích của Diên Hương trang 69)
“Văn thái phong lưu” : Có nghĩa cái màu vẽ của văn chương, truyền bá đến đời sau như gió bay xa, như nước chảy tràn (Hán-Việt tự điển của Đào Duy Anh, trang 538).

Tuy nhiên, do cái “hữu duyên thiên lý ngộ” mà Thiên Chúa đã quan phòng không biết tự lúc nào, tôi và Nhà Thơ linh mục Nguyễn Xuân Văn lại được sống gần nhau trong một bối cảnh xã hội đặc biệt (Xã hội Việt nam những năm sau biến cố 1975), tại một môi trường mục vụ đặc biệt (giáo xứ Mằng Lăng, quê hương của Á Thánh Anrê Phú Yên); và nhất là, ở vào một thời điểm, vị linh mục thi sĩ tài hoa nầy đã thai nghén, rồi chắp bút thực hiện đại thi phẩm “SỨ ĐIỆP TÌNH THƯƠNG”, một kiệt tác thi ca lục bát có một không hai trên thi đàn Việt nam, xét về lượng (với 9764 câu thơ) cũng như về phẩm.

Để đánh giá tổng quát về con người tác giả, và đặc biệt, về tác phẩm “SỨ ĐIỆP TÌNH THƯƠNG” sau khi Ngài ra đi về cõi vĩnh hằng, quả thật, thời gian 5 năm chưa phải là đủ chín mùi để thấy hết mọi góc cạnh và những giá trị tế vi, mà tự bản chất, tác phẩm thi ca nào cũng đòi phải có thời gian nhất định để cảm nghiệm và thẩm thấu.

Dĩ nhiên, để hiểu, để cảm được những vần thơ lục bát mượt mà của “Sứ Điệp Tình Thương”, không nhất thiết chúng ta phải trãi rộng tâm hồn trong cái lãng mạn, mông lung của thế giới lung linh mộng ảo của thi sĩ Hàn Mặc Tử :
“Hiểu gì không ý nghĩa của trời thơ
Của hương hoa trong trăng lờn lợt bẩy,
Của lời câm muôn vì sao áy náy,
Hiểu gì không em hỡi, hiểu gì không ?
Anh ngâm nga để mở rộng cửa lòng
Cho trăng xuân tràn trề say chới với
Cho nắng hường vấn vương muôn ngàn sợi,
Cho em buồn, trời đất ứa sương khuya”[1]
(Trường tương tư)

Bởi vị mục đích của thi sĩ Nguyễn Xuân văn khi chắp bút diễn đạt Tin Mừng qua dáng đứng Việt nam với thể thơ lục bát, cốt yếu là :
“Tôi muốn đem Lời Chúa
Lời thơ tình thương
Ghép thành vần
Đặt lên miệng các bà mẹ
Để từ đó,
Chảy vào tai các em bé…
Và cũng để :
“… Lời Chúa,
đến với các bạn
với những kẻ khó nhọc và gánh nặng
Những người mất niềm tin
Mất hy vọng trên cõi đời nầy.[2]

Tuy nhiên, cho dù với mục tiêu mang chiều kích đạo đức truyền thống của nhà đạo, thì Sứ điệp Tình Thương vẫn là một kiệt tác về thơ lục bát với một vị trí đặc biệt như lời nhận xét của nhà thơ Đình Bảng :
“Nhưng để gọi là diễn ca Phúc Âm bằng thơ lục bát Việt Nam ở mức độ nghệ thuật, có lẽ duy chỉ một mình Nguyễn Xuân Văn xứng đáng chiếm giải khôi nguyên. Ông ngồi riêng một chiếu, chiếc chiếu cạp điều, được dệt bằng cây cói thơm mùi hương dầu của biển, của đất, của người Phú Yên nầy.”[3]

Nhà thơ Đình bảng còn nhận xét tiếp :
“Tôi nói đến 9764 câu thơ lục bát của SĐTT vì chúng đã ở trên đỉnh cao có thể ngang tầm với ca dao, đồng dao và những nhà thơ phù thuỷ về lục bát như Nguyễn Du, Tản Đà, Huy Cận, Nguyễn Bính. Đây là một trường hợp đặc biệt nhất trong cõi thi ca nhà đạo mình…
“Hơn nữa, cái hay, cái đẹp, cái giá trị của SĐTT không chỉ ở câu chữ, ở độ dày, ở chiều dài gần gấp ba lần Truyện Kiều, mà còn ở cái thần, cái hứng, cái ý, cái tứ làm nên hồn vía phảng phất, bàng bạc hoặc sâu lắng ở đằng sau, ẩn sâu bên trong những con chữ, những vần điệu kia. Đúng như nỗi khát khao cháy bỏng của tác giả Nguyễn Xuân Văn gửi gắm rất nhiều trong SĐTT là dùng thi ca, thơ lục bát để trao gởi lời Chúa đến mỗi người. Chẳng phải chuyện tầm phào, trà dư tửu hậu của thế nhân thường tình, mà là chở đạo đến chổ nước sâu, xa bờ, xa khơi, mong cho thuyền đầy cá”[4]

Và như thế, cuộc gặp gỡ hôm nay, chẳng ngoài mục đích, để chúng ta có cơ hội một lần nữa đọc lại Sứ Điệp Tình Thương trong sự đồng cảm cùng cố thi hào Nguyễn Xuân Văn; đồng thời, như một biểu lộ của niềm tri ân hiếu thảo của thế hệ học trò, cháu con, trước “cây đại thụ” của nền văn học Công Giáo, chúng ta sẽ cùng với nhà nghiên cứu Đoàn Xuân Dũng mạo muội tìm kiếm những “hạt ngọc văn chương” tiềm tàng trong thi phẩm lục bát chuẩn mực nầy. Chắc chắn, với không khí thân mật của tình hiệp thông trong gia đình con cái Chúa, chúng ta lại được linh mục Nguyễn Văn Bản, người học trò đã từng kề cận bên cố linh mục Nguyễn Xuân Văn suốt mười mấy năm trời, chia sẻ với chúng ta những cảm nghiệm riêng của Cha đối với Cha Văn và Sứ Điệp Tình Thương. Rồi chúng ta lại được, một lần nữa, nghe lại giọng nói cách đây 4 năm của thi sĩ Đình Bảng, nhà thơ có duyên nợ đặc biệt với Cha Văn, với mảnh đất Tuy Hòa-Phú Yên, nhất là, có một thao thức khôn nguôi trong nỗ lực hội nhập văn hóa của Hội Thánh Việt Nam hôm nay và tương lai. Sau hết, chúng ta sẽ dành những tâm tình thân thương hiếu thảo của con chiên đối với vị Cha già đã khuất qua những tâm sự của nhà văn Nguyên Đạt, như những nén hương lòng trong ngày chạp giỗ năm năm cố linh mục thi sĩ Nguyễn Xuân Văn.

Trong tất cả những ý nghĩa đó, tôi tuyên bố khai mạc buổi tọa đàm mang chủ đề :
LINH MỤC THI SĨ NGUYỄN XUÂN VĂN,
NHÀ THƠ LỤC BÁT CHUẨN MỰC
Và để mở đầu cho buổi tọa đàm nầy, xin mời tất cả cùng với ca đoàn giáo xứ Tuy Hòa hát lên bài ca “Đây phút sống”, bài ca do chính cố linh mục F.X. Nguyễn Xuân Văn chắp bút viết lời cách đây trên nửa thế kỷ với bút hiệu Văn Thao.

LM. Giuse Trương Đình Hiền