PDA

View Full Version : Kính nhớ Cha Giám Đốc ĐCV Đức Ái


admin
20-01-2007, 08:36 PM
Kính nhớ Cha Giám Đốc ĐCV Đức Ái
- In onore del Rettore del Seminario Maggiore CARITAS

http://gpnt.net/images/tvhienminh.jpg
In honour of the Rector of the Charity Major Seminary CON NGƯỜI ĐỨC ÁI
Có những con người đã ghi dấu ấn đậm đà trên cuộc đời chúng ta, dù chỉ một lần gặp gỡ, bởi nơi họ không những thể hiện tri thức cao minh, tài năng trổi vượt, mà hơn nữa còn chiếu toả nhân cách rạng ngời, minh chứng nơi lòng nhân ái, khiêm nhu, phục vụ và những nhân đức hay đức tính cao đẹp, rất đáng cho chúng ta chiêm ngưỡng, học tập, noi theo.

Ai đã gặp Cha Cố Gioan (Ông Cố, danh xưng thân mật mà các học trò thường xưng hô khi nói về Đức Ông Gioan Maria Trần Văn Hiến Minh), đều có thể nhận thấy rằng, bên cạnh tri thức uyên thâm, ngài là một bậc mô phạm, một con người Đức Ái, một nhà đào tạo đích thực. Với cảm nghiệm bản thân của một người học trò trước tấm gương sáng của người Cha, người Thầy khả kính của mình, xin ghi lại nơi đây một vài kỷ niệm về Cha Cố, để cùng với những người đã từng được may mắn gặp gỡ, thụ huấn và yêu mến ngài, ôn lại và suy gẫm về gương sống mà ngài đã để lại cho hậu duệ.


Kỷ niệm đáng nhớ đến ngay từ ngày đầu tiên gặp gỡ. Với nụ cười đôn hậu, niềm nở ngài đón nhận các học trò mới: “Cha chào các con, Cha rất vui được đón nhận các con vào vườn ươm của Giáo Hội (…) Chủng là gieo cấy, ươm trồng… Chủng viện là nơi gieo cấy, vun trồng, nuôi dưỡng, đào tạo ơn gọi…”. Chỉ với mấy lời đơn sơ như thế, Cha Cố đã dắt tay chúng tôi vào mái trường Đức Ái. Ai trong chúng tôi cũng thấy Cha Cố thật gần gũi, thật dễ thương, thật cởi mở, trẻ trung, khác xa với sự hình dung trước đó về một đấng bậc giáo sư tiến sĩ triết học, tiến sĩ thần học Rôma, tốt nghiệp xã hội học bên Pháp, bậc tiền bối trong tiến trình Việt hoá Triết Thần, tác giả của nhiều tác phẩm triết học, thần học,… Ấn tượng đầu tiên rất thuyết phục đó càng ngày càng đậm nét khi chúng tôi được sống gần gũi và thụ huấn ngài. Quả thật, càng gặp gỡ và học hỏi nơi ngài, chúng tôi càng thấy ngài là một con người Đức Ái, sống hết mình vì Chúa, vì Giáo Hội, vì mọi người.

Con người Đức Ái của ngài trước hết thể hiện nơi đời sống nhân bản. Đức Ái vì thế rất tự nhiên, cụ thể, diễn tả qua sự khiêm nhu, lịch thiệp, quân bình, đức độ. Khiêm nhu trong cách nói nhẹ nhàng, tế nhị, đơn sơ. Ngôn ngữ của ngài là ngôn ngữ của đối thoại. Ngài cắt nghĩa hơn là áp đặt, mời gọi hơn là ra lệnh, gợi ý hơn là phán quyết. Nụ cười tươi tắn, ánh mắt quan tâm, tư thế tự nhiên, lời nói chân thành… tất cả đều cho thấy một thái độ tôn trọng và lắng nghe dành cho người đối diện. Khiêm nhu trong phương pháp ngài giảng dạy, rất từ tốn, nhìn nhận giới hạn của tri thức, của kiếp nhân sinh, … Khiêm nhu trong việc mời gọi và tôn trọng sự cộng tác của người khác và của chính các chủng sinh trong đào tạo. Không có lễ Khai Giảng, Bế Giảng nào mà ngài không cảm ơn sự cộng tác của các Cha, các Thầy trong ban đào tạo và ban giáo sư. Ngài cũng không quên “cảm ơn” ngay cả các chủng sinh, vì đã tích cực “thụ huấn và tự đào tạo” trong tiến trình huấn luyện linh dục, đức dục, trí dục và thể dục. Ngài còn gửi tới mỗi học trò bộ sách “Đào tạo toàn vẹn Linh Mục” và khuyến khích học hỏi, thảo luận, chia sẻ theo nhóm để “tự đào tạo” chính mình. Khiêm nhu thể hiện trong nếp sống đạm bạc, đơn sơ; trong thái độ thảo kính với Giáo Hội, với Bậc Tiền Bối; trân trọng tài đức, năng lực của đồng nghiệp; tôn trọng sự khác biệt của người khác; kiên nhẫn, từ tốn với học trò, con cái; khoan dung trước lỗi lầm…

Đức ái của ngài cũng thể hiện qua sự lịch thiệp. Lịch thiệp trong cách chào hỏi, cám ơn, xin lỗi và cư xử với mọi người: “Cha chào con”, “Cha cám ơn con”, “Cha xin lỗi chúng con đã đến trễ vì bị kẹt xe”… Không thấy ngài la rầy, trách móc, chỉ trích, phê phán nặng lời. Cách nhận định và phê bình của ngài rất rõ ràng, thẳng thắn mà nhẹ nhàng, nho nhã, tích cực, hướng tới xây dựng và vun trồng, vươn tới chân, thiện, mỹ. Lịch thiệp trong nếp sống điều độ, trật tự, quân bình. Quân bình giữa những thế giằng co rất dễ kéo con người ngả về một phía. Quân bình giữa tự nhiên và siêu nhiên. Quân bình giữa linh dục, đức dục, trí dục và thể dục. Quân bình của hài hoà, an bình, thư thái, ung dung, như bài dưỡng sinh buổi sáng tại công viên Tao Đàn: Quân (đều đặn), Trường (dài hơi), Thâm (hít sâu), Nhu (mềm mại). Quân bình của “chân tâm thiền định”, của “trung dung”, của “vi vô vi”, “an nhiên tự tại”, của “nhân đức ở bậc trung”, khác xa sự ba phải, an phận thủ thường. Nơi ngài toát ra sự kết hợp hài hoà giữa thanh tao điềm đạm của vị tiên sinh, can đảm cương nghị của trang hiệp sĩ và uyên bác cao minh của bậc hiền triết… Đó là sự quân bình đưa đến sự toàn vẹn, sự trưởng thành đầy đủ các chiều kích nhân bản.

Sự khiêm nhu, lịch thiệp và quân bình đó làm nên đức độ: đức độ của nhân lễ nghĩa trí tín; đức độ của bao dung từ ái; đức độ của từ bi hỷ xả; đức độ của siêu thoát, đơn thành; đức độ của khôn ngoan, công bình, dũng cảm, tiết độ. Đức độ của “nhân”, nhân ái, độ lượng. Lòng nhân ái như là nền tảng và đỉnh cao của các đức tính nhân bản, biểu lộ cách đặc biệt nơi chủ trương “đức hoá”, “nhân trị”. Ngài điều hành chủng viện trong tâm tình của một người Cha, người Anh: thương các học trò như con cái, xây dựng Chủng Viện như một gia đình, Gia Đình Đức Ái, một gia đình lấy yêu thương làm đầu, một gia đình xây trên Đức Ái, chiếu toả Đức Ái, để ước mong họ sống với nhau như anh em một nhà, như những người con của Đức Ái. Khi buộc phải kỷ luật, ngài thi hành trong ân cần yêu mến, hướng tới “sửa” chứ không “trị”. Khi nghe tin một học trò gặp khó khăn, khủng hoảng, ngài nỗ lực hết mình để nâng đỡ, gìn giữ ơn gọi cho họ, và nếu phải chia tay, ngài đau xót như thể mất một phần thân thể quý giá. Ngài lấy yêu thương giáo dục, lấy gương sáng thuyết phục, lấy đạo đức cảm hoá lòng người. Vì thế, bầu khí Chủng Viện là bầu khí gia đình, yêu thương, tin tưởng, cởi mở. Ngay cả những anh em đã “chuyển hướng”, cũng vẫn rất cảm phục trước tình thương mến, sự ân cần và quý trọng mà ngài dành cho họ.

Lòng yêu thương bác ái đó mang chiều kích siêu nhiên. Đó không chỉ là tình cảm tự nhiên hay lòng trắc ẩn nhân loại. Đó là Đức Ái, Đức Mến, hoa trái của sự kết hợp nhuần nhuyễn với tình yêu Chúa Kitô. Tình yêu Chúa Kitô thúc đẩy ngài làm mọi sự vì Đức Ái (1 Cr 16,14). Thấm nhuần tinh thần Gioan, ngài như muốn ngả vào lòng Chúa Kitô và kín múc từ đó nguồn mạch cho cuộc sống và sứ vụ của mình. Ngài yêu quý mọi người, nhất là các ơn gọi, cách riêng những ơn gọi “bơ vơ”… vì xác tín Chúa yêu họ, chọn gọi họ sống đời hoàn hảo và trở nên chứng nhân trong chính hoàn cảnh của họ. Ước mơ của ngài là thông truyền Đức Ái của Chúa Kitô cho mọi người. Châm ngôn của Ngài là: “Chúa Kitô đã thí mạng vì chúng ta. Như vậy, cả chúng ta nữa, chúng ta cũng phải thí mạng vì anh em mình” (1 Ga 3,16). Chính vì thế, ngài đã can đảm dang tay đón nhận những ơn gọi “thầm lặng” trong hoàn cảnh hết sức gian nguy và trọn đời tận tuỵ với trường lớp, chủng viện, đèn sách,… để mong đào tạo những con người Đức Ái, những con người truyền thông Đức Ái, dám làm mọi sự vì Đức Ái, dám thí mạng vì anh em mình như Đức Kitô. Cũng chính vì thế, những gia đình ngài tạo lập đều mang nội dung Đức Ái: Gia Đình Gioan, Gia Đình Thăm Viếng, Gia Đình Đức Ái,… Ước mong cuối đời của ngài thật thanh cao: một trăm linh mục Đức Ái và hoàn thành cuốn từ điển thần học mà ngài đang soạn dở dang. Hình ảnh người Cha già trong cơn đau bệnh luôn hỏi thăm tin tức con cái đang phục vụ khắp nơi, hình ảnh đôi mắt rạng ngời và nụ cười tươi nở khi nghe tin một học trò chịu chức với lời “Tạ ơn Chúa”, hình ảnh người Thầy đáng kính giơ tay lần dở từng cuốn sách dù biết rằng lực đã bất tòng tâm,… như diễn tả ước mơ, nguyện vọng hiến mình trọn vẹn cho anh em vì Đức Ái, trong Đức Ái, nhờ Đức Ái. Những hình ảnh đó không bao giờ phai mờ trong tâm trí của những người kính phục, yêu mến ngài.

Khi ghi lại những dòng trên đây, người viết không có ý làm một “hoạ sĩ”, tô điểm hình ảnh người Cha, người Thầy của mình. Đó là điều mà lòng khiêm nhu của Cha Cố không bao giờ vui thích và cho phép làm. Chỉ xin chia sẻ một vài cảm nhận riêng tư và đơn thành về người Cha, người Thầy mà lòng hằng cảm phục, kính yêu. Là cảm nhận riêng tư nên chắc không tránh khỏi chủ quan và thiếu sót, dầu có thể có những điểm tương đồng nào đó. Rất mong được gặp gỡ những cảm nhận khác, để cùng nhau tưởng niệm và học hỏi…

Hơn bao giờ hết, Giáo Hội ngày nay cần nhũng nhà đào tạo đích thực hơn là những chuyên viên giảng dạy. Cuộc đời và mẫu sống của Cha Cố Gioan đã cho thấy thế nào là “đào tạo” và chiếu toả gương sáng Đức Ái trong đào tạo. Đào tạo đích thực là đào tạo vì Đức Ái, bằng Đức Ái, do Đức Ái, hướng tới Đức Ái, để làm nên những con người Đức Ái, những con người có khả năng yêu mến phục vụ trong Đức Ái. Ước mong Bài Ca Đức Ái mà Cha Cố đã cất lên, bằng yêu thương cầu nguyện, bằng phục vụ hy sinh, bằng tin yêu hy vọng, bằng tất cả cuộc đời, sẽ được tiếp tục ngân vang, ngày càng sâu lắng và sống động hơn, nơi những người con của ngài: “Đức Ái thì nhẫn nhục, hiền hậu, không ghen tương, không vênh vang, không tự đắc, không làm điều bất chính, không tìm tư lợi, không nóng giận, không nuôi hận thù, không mừng khi thấy sự gian ác, nhưng vui khi thấy điều chân thật. Đức Ái tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả, hy vọng tất cả, chịu đựng tất cả. Đức ái không bao giờ mất được…” (1 Cr 13, 4-8).

Viết tại Rôma, nơi đã in dấu chân người cựu sinh viên ưu tú của Trường Tuyền Giáo: Joannes Maria Trần Văn Hiến Minh, dịp Lễ Thánh Gioan Tông Đồ, 27-12-2005.

Lm. Dominicus Tran