PDA

View Full Version : Phần I. Bài 2: Phân tích câu chuyện kể về cuộc Sáng tạo trong Kinh Thánh


admin
15-02-2006, 04:49 PM
Thứ Tư, ngày 12/9/1979

2. Phân tích câu chuyện kể về cuộc Sáng tạo trong Kinh Thánh

Thứ tư vừa qua, chúng ta đã bắt đầu loạt bài suy niệm về câu trả lời của Ðức Kitô cho những người chất vấn Ngài về vấn đề tính đơn nhất và bất khả phân ly của hôn nhân. Chúng ta vẫn còn nhớ là những người Pharisêu khi chất vấn Người đã căn cứ trên luật của Môsê. Trong khi đó, Đức Kitô lại trở lui về tận «thuở ban đầu» bằng cách trích dẫn những lời của Sách Sáng Thế.

Ở đây, «thuở ban đầu» liên quan đến những gì đã nói trong những trang đầu của Sách Sáng Thế. Nếu chúng ta muốn phân tích thực tại đó thì chắc chắn trước tiên chúng ta phải tập trung chú ý vào bản văn này. Những lời Ðức Kitô nói với những người Pharisêu, được ghi trong Mátthêu 19 và Máccô 10 tạo thành một bản văn gắn liền với một bối cảnh cụ thể, nếu không xét đến bối cảnh này thì không thể hiểu hoặc diễn đạt chính xác những lời của Người được.

Ngữ cảnh đó là những câu hỏi: «Các ông không đọc thấy điều này sao: «Thuở ban đầu, Đấng Tạo Hoá đã làm ra con người có nam có nữ», những lời này được căn cứ trên cái mà người ta gọi là câu chuyện kể về cuộc sáng tạo nên con người. Một câu chuyện lồng trong chuỗi 7 ngày của cuộc sáng tạo vũ trụ (St 1,1-2,4). Trong khi đó, ngữ cảnh gần với những lời của Đấng Kitô mà Người đã rút từ Sách Sáng Thế đoạn 2,24 lại được gọi là chuyện kể thứ hai về cuộc tạo dựng con người (St 2,5-25). Nhưng, một cách gián tiếp, ngữ cảnh cũng được đặt trong toàn chương thứ 3 của Sách Sáng Thế.

Câu chuyện thứ hai về cuộc tạo dựng con người rất thống nhất cả về mặt tư tưởng lẫn về văn phong với phần miêu tả tình trạng trong trắng nguyên thuỷ, hạnh phúc của con người cũng như sự sa ngã lần đầu. Khi hiểu được là nội dung cụ thể của lời Ðức Kitô được lấy từ Sách Sáng Thế 2,24, chúng ta cũng có thể ít nhất thêm vào ngữ cảnh này câu đầu của chương thứ 4 trong Sách Sáng Thế nói về sự thụ thai và sinh ra con người từ những cha mẹ trần thế. Đó là điều mà chúng tôi muốn nhắm tới trong những phân tích này.

Từ góc độ phê bình Kinh Thánh, cần phải nói ngay rằng câu chuyện đầu tiên về cuộc sáng tạo nên con người lại có sau câu chuyện thứ hai. Nguồn gốc của câu chuyện thứ hai xa xưa hơn nhiều. Đoạn sách xa xưa hơn này gọi là «thuộc truyền thống Giavê», bởi vì khi nói về Thiên Chúa, con người đã dùng tiếng «Giavê». Thật không thể không ngạc nhiên khi mà hình ảnh Thiên Chúa được trình bày rất giống con người. Có câu như: «… Đức Chúa là Thiên Chúa lấy bụi từ đất nặn ra con người, thổi sinh khí vào lỗ mũi, và con người trở nên một sinh vật». (St 2,7).

So với phần miêu tả Thiên Chúa của câu chuyện kể thứ hai thì câu chuyện thứ nhất tức là bản văn được cho là có sau, chững chạc hơn trong cách miêu tả hình ảnh Thiên Chúa, cũng như trong cách trình bày các chân lý cơ bản về con người. Câu chuyện này được lấy từ truyền thống tư tế và đồng thời cũng là “truyền thống Êlôhim”, tên gọi do từ “Êlôhim” thường được dùng trong câu chuyện để chỉ Thiên Chúa.

Trong câu chuyện này, cuộc sáng tạo nên con người - nam và nữ - mà Đấng Giêsu đã căn cứ trên đó để trả lời trong Tin Mừng thánh Mátthêu chương 19, đã được lồng trong chu kỳ bảy ngày của công cuộc sáng tạo thế giới, cho nên chúng ta có thể gán cho đoạn ấy cái tính vũ trụ luận là hơn cả. Con người được tạo dựng trên trái đất đồng thời với thế giới hữu hình. Nhưng cùng lúc, Đấng Tạo Hoá đã ra lệnh cho con người phải thống trị và làm bá chủ mặt đất (x. St 1,28). Như thế, con người được đặt vào vị trí bá chủ thế giới. Tuy thế, mặc dù con người phải gắn chặt vào thế giới hữu hình, câu chuyện Kinh Thánh không nói tới việc con người giống với những loài thụ tạo khác mà chỉ nói rằng con người giống Thiên Chúa. «Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh mình, Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh Thiên Chúa…» (St, 1,27). Trong chu kỳ bảy ngày của cuộc sáng tạo, ta thấy rõ một tiến trình.[1] (http://www.gpnt.net/diendan/newthread.php?do=newthread&f=28#_ftn1) Tuy nhiên, con người lại không được tạo dựng theo một diễn tiến tự nhiên. Đấng Tạo Hoá như muốn ngưng nghỉ một lát trước khi gọi con nguời vào hiện hữu, như thể ngưòi trăn trở trước khi đưa ra một quyết định: «Chúng ta hãy làm ra con người theo hình ảnh chúng ta, giống như chúng ta…» (St 1,26).

Câu chuyện thứ nhất này về công cuộc tạo dựng con người, mặc dù xảy ra sau về mặt thời gian, nhưng lại đặc biệt có mang nhiều nét thần học. Chúng ta thấy điều đó rõ nhất trong cái định nghĩa về con người dựa trên căn bản của tương quan giữa con người với Thiên Chúa («Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh Thiên Chúa»). Đồng thời, câu chuyện đã khẳng định tuyệt đối rằng ta không thể hạ thấp con người ngang mức trần thế. Nội dung những câu đầu tiên của Thánh Kinh ta cho thấy không thể hiểu cũng như không thể giải thích được về con người cách trọn vẹn nếu chỉ dựa trên các phạm trù “trần thế”, tức là chỉ bằng vào tất cả những gì thấy được của thân xác. Tuy thế, con người cũng có thân xác. Sách Sáng Thế đoạn 1,27 cho thấy rằng chân lý tất yếu đó về con người đã được áp dụng cho cả người nam lẫn người nữ: «Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh mình… Thiên Chúa sáng tạo con người có nam có nữ».[2] (http://www.gpnt.net/diendan/newthread.php?do=newthread&f=28#_ftn2) Phải thấy rằng câu chuyện thứ nhất rất cô đọng, không hề có một chút chủ quan: chỉ hàm chứa sự kiện khách quan và định nghĩa thực tại khách quan, dù khi nói về sự tạo dựng con người –nam và nữ- giống hình ảnh Thiên Chúa hay khi sau đó, lúc thêm vào những lời chúc phúc đầu tiên: «Thiên Chúa ban phúc lành cho họ, và Thiên Chúa phán với họ: Hãy sinh sôi nảy nở thật nhiều, cho đầy mặt đất, và thống trị mặt đất» (St 1,28).

Chúng ta đã nhận thấy rằng câu chuyện thứ nhất về cuộc sáng tạo con người có mang ý nghĩa thần học và cũng chứa đầy những ý tưởng về siêu hình. Đừng quên rằng đoạn sách của Sách Sáng Thế này đã là nguồn cảm hứng sâu xa cho rất nhiều nhà tư tưởng. Họ đã muốn tìm hiểu thế nào là «bản thể» và «hiện hữu» (có lẽ chỉ chương thứ 3 của sách Xuất Hành mới có thể so sánh được với đoạn sách này).[3] (http://www.gpnt.net/diendan/newthread.php?do=newthread&f=28#_ftn3) Mặc dù có nhiều thành ngữ có tính hình thức và cần được hiểu theo hoàn cảnh, con người vẫn được định nghĩa trước hết bằng những chiều kích của bản thể và của hiện hữu («esse»). Con người được định nghĩa theo siêu hình hơn là theo vật lý.

Tương ứng với mầu nhiệm sáng tạo («Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh mình») là viễn cảnh về sinh sản («Hãy sinh sôi nảy nở thật nhiều, cho đầy mặt đất»), là sự tiến thành trong thế giới và trong thời gian, là sự «trở thành (fieri)» gắn liền một cách tất yếu với tình huống siêu hình của cuộc sáng tạo, và đã tương quan với hữu thể bất tất (contingens).Và cũng chính trong bối cảnh siêu hình của chuyện kể thứ nhất trong Sách Sáng Thế Ký mà chúng ta phải hiểu quan niệm về cái thiện, tức là phương diện giá trị. Thực vậy, phương diện này xuất hiện trong hầu hết các ngày trong chu kỳ sáng tạo, và nó đã đạt tới đỉnh điểm sau khi đã sáng tạo nên con người: «Thiên Chúa thấy mọi sự Người đã làm ra quả là rất tốt đẹp!» (St 1,31). Chính vì thế mà chúng ta có thể nói được một cách chắc chắn rằng chương đầu của Sách Sáng Thế đã cho chúng ta một điểm quy chiếu không thể bác bỏ được. Chương đó cũng cho chúng ta một căn bản vững chắc cho một siêu hình học và một nhân loại học và một luân lý học mà trong đó ens et bonum convertuntur(hữu thể và sự thiện đã gặp nhau). Quả thực như thế, tất cả những điều đó có một ý nghĩa cho nền thần học và nhất là cho nền thần học về thân xác.
Chúng ta tạm ngưng bài học hỏi nơi đây. Tuần tới chúng ta sẽ đề cập tới câu chuyện thứ hai về cuộc sáng tạo. Một câu chuyện mà theo những nhà chú giải, còn xa xưa hơn nữa.Cụm từ «thần học về thân xác» mà chúng ta vừa dùng cần phải được giải thích kỹ càng hơn nữa. Chúng ta sẽ bàn về nền thần học đó trong một buổi khác. Nhưng trước hết, chúng ta phải xem xét thật kỹ lưỡng đoạn Sách Sáng Thế mà Đấng Kitô đã đề cập tới.

----
[1] (http://www.gpnt.net/diendan/newthread.php?do=newthread&f=28#_ftnref1) Khi tác giả Kinh Thánh nói về vật thể không có sự sống thì họ dùng các cụm từ như «Người đã tách», «Người đã gọi», «Người đã làm», «Người đã đặt». Nhưng khi nói về những hữu thể có sự sống thì họ lại nói: «Người đã sáng tạo» và «Ngài ban phúc». Thiên Chúa phán với họ: "Hãy sinh sôi nảy nở thật nhiều». Lệnh này hướng đến cả thú vật lẫn con người, đồng thời chỉ cho biết rằng tính có thân xác là dành cho cả hai loài (xem St 1,22.28).
Tuy nhiên, trong câu chuyện Kinh Thánh, cuộc sáng tạo con người được mô tả một cách khác hẳn so với các tác tạo trước đó của Thiên Chúa. Phần mở đầu của câu chuyện rất trang trọng, như thể Thiên Chúa cần phải đắn đo trước hành động quan trọng này, mà nhất là phẩm giá đặc thù của con người đã được nêu rõ là «giống» hình ảnh Thiên Chúa.
Khi tạo nên vật chất không có sự sống, Thiên Chúa «tách rời». Người lại phán bảo cho muôn thú phải sinh sôi nảy nở. Nhưng chỉ khi nào nói về con người, Chúa mới phân biệt nam và nữ («Thiên Chúa sáng tạo con người có nam có nữ») và ban phúc lành cho việc sinh sôi nảy nở, tức là chúc lành cho sự kết hợp của họ (x. St 1,27.28).


[2] Bản gốc nói rằng : «Thiên Chúa sáng tạo con người (haadam, danh từ chỉ tập thể: «nhân loại»?) theo hình ảnh mình; theo hình ảnh Thiên Chúa, Thiên Chúa sáng tạo con người; Thiên Chúa sáng tạo nên chúng có nam (zakar, giống đực) và có nữ (uneqebah, giống cái) (St 1, 27).


[3] (http://www.gpnt.net/diendan/newthread.php?do=newthread&f=28#_ftnref3) Haec sublimis veritas, Chân lý tuyệt vời: «Ta là Đấng Hiện Hữu» (Xh 3,14) là một đề tài suy tư cho nhiều triết gia, từ thánh Augustinô trở đi. Thánh Augustinô đã nghĩ rằng chắc hẳn Platon có thể đã biết đoạn Kinh Thánh này vì Thánh Augustinô thấy nó rất gần với quan niệm của Platon. Triết thuyết «essentialitas» của Thánh Augustinô về thần thánh, qua trung gian Thánh Anselmô đã ảnh hưởng sâu rộng tới nền thần học của Richard de Saint-Victor, của Alexandre de Hales và của thánh Bônaventura
«Để đi từ chú giải triết học về đoạn sách Xuất Hành này tới cái mà Thánh Tôma đã đưa ra, chúng ta tất yếu phải nối liền khoảng cách phân chia giữa «hữu thể của bản thể» với «hữu thể của hiện thể». Những chứng minh của Thánh Tôma về sự hiện hữu của Thiên Chúa đã thực hiện được điều đó”.
Nhưng lập trường của Thầy Eckhart lại khác đi. Khi dựa trên đoạn sách này, Thầy Eckhart gán cho Thiên Chúa puritas essendi: “est aliquid altius ente…” (“tinh thuần hiện hữu; Thiên Chúa là một cái gì còn cao hơn cả hữu thể …”); x. E. GILSON, Le Thomisme, Paris 1944, (Vrin) tr. 122-127; E.GILSON, History of Christian Philosophy in the Middle Ages, London 1955, (Sheed and Ward) tr. 810.

Nhóm Tâm biển
Về Mục lục (http://gpnt.net/diendan/showthread.php?t=217)

Trần Duy Thực
18-02-2006, 07:21 PM
Kính thưa tất cả,
Xin được phép ghi lại đây vài ghi chú mà tôi nghĩ rằng có thể giúp hiểu rõ hơn bài viết của Đức Giáo Hoàng. Và như thế, rất mong ý kiến của quý bạn để bổ túc hoặc sửa sai giùm. Đa tạ
____

1) Chuyện kể: “Kể chuyện huyền thoại là kể một câu chuyện linh thiêng. Kể chuyện huyền thoại là kể cho nghe một biến cố đã xảy ra từ thời nguyên thuỷ, thời thuở ban đầu huyền bí…” (M. Eliade, Aspect du mythe, Gallimard, Paris 1963, tr.15). Khi kể chuyện tạo thiên lập địa, các cụ muốn khẳng định cá tính của dân tộc mình và thường tự đặt mình trong khung cảnh của thời nguyên thuỷ đó… Và cũng xin đọc liền câu sau đây của P. Ricoeur: “ Xin đừng nói rằng câu chuyện về sự sa ngã nguyên thuỷ chỉ là một huyền thoại, tức là không được như lịch sử. Nhưng xin nói rằng chuyện kể về sa ngã nguyên thuỷ có tầm vóc của một huyền thoại, tức là còn nhiều ý nghĩa hơn một câu chuyện có thực” (P. Ricoeur, Finitude et culpabilité II, Aubier-Montaigne, Paris 1960 tr. 222).

2) Thuộc truyền thống Giavê: Nhiều học giả tinh ý (Witter, Graf…) đã nhận thấy có nhiều khác biệt giữa các chương của Sáng Thế Ký. Nói một cách khác, họ nghĩ rằng các chương sách không xuất hiện cùng một lượt... Chương đầu còn được gọi là Elohiste, bởi vì ở trong chương này Thiên Chúa được gọi là Elohim, tức là Đấng Tạo Hoá. Chương thứ hai còn được gọi là Yahviste bởi vì trong chương này Thiên Chúa được gọi là Giavê, tức là Chúa cứu chuộc. Tuy được xếp trong Sáng Thế Ký vào chương thứ hai, nhưng nhiều học giả nghĩ rằng chương thứ hai đã xuất hiện trước tiên, vào khoảng thế kỷ thứ 10 trước Công Nguyên, sau đó ta mới có chương thứ nhất.


3) Nguồn tư tế: Nhiều học giả cũng nghĩ rằng có hai nguồn tư tưởng chính trong Ngũ Thư. Một nguồn gọi là nguồn tư tế có từ thời dân Do Thái phải lưu đày ở Babylone vào thế kỷ thứ 6 trước Công Nguyên. Trước các tín ngưỡng của dân bản địa, các thầy tư tế đã cố gắng củng cố niềm tin của dân Do Thái. Nguồn thứ hai còn gọi là nguồn deuteronomiste, tức là truyền thống tác giả đệ nhị luật.


4) Thần học: tạm dịch từ chữ théologie (Théos : Thiên Chúa, Logos : lời lẽ). Có hai bối cảnh về logos. Bối cảnh Kitô giáo với Tin Mừng theo Thánh Gioan “Au commencement, était le Logos...” và bối cảnh minh triết Hy Lạp. “Kể từ Héraclite, ý niệm Logos là một khái niệm nằm ở trung tâm của nền minh triết Hy Lạp, bởi vì Logos vừa có nghĩa là Lời, ngôn từ và Lý Lẽ (...) Khi gọi Ðức Kitô là Ngôi Lời và Ngôi Con, Tin Mừng theo thánh Gioan đã cho phép nhìn Kitô giáo như là một nền minh triết. Lời của Chúa đã được xem như là Lý Lẽ sáng tạo nên vũ trụ và hướng dẫn trí khôn con người” (Pierre Hadot, Qu’est-ce que la philosophie antique?, Folio Essais, Gallimard 1995, tr. 356). Ít ra là trong những thế kỷ đầu của công nguyên, hai bối cảnh Kitô giáo và minh triết Hy Lạp đã đan xen với nhau. Cho nên, trong bối cảnh bài này, có lẽ nên hiểu théologie như là tìm về Thiên Chúa qua trung gian của Lời và Lý Lẽ.


5) Siêu hình học: dịch từ chữ métaphysique. Thực ra méta không có nghiã là “siêu” mà là “sau”, bởi vì cuốn Métaphysique của Aristote được xuất bản sau cuốn Physique. Tuy thường được xem như là môn học về ý nghĩa tối hậu của con người, và do đó có nhiều đan xen giữa siêu hình học và thần học, nhưng đối tượng của siêu hình học không hoàn toàn giống như thần học.


6) Nhân loại học: dịch từ chữ anthropologie (anthros: người, logos : lời lẽ). Có lẽ nên hiểu chữ anthropologie trong bối cảnh này như là lời và lý lẽ giải thích về con người. Xin xem chữ thần học ở trên.

admin
23-07-2009, 04:24 PM
II
TRONG TRÌNH THUẬT TẠO DỰNG THỨ NHẤT
ĐỊNH NGHĨA KHÁCH QUAN VỀ CON NGƯỜI

1. Thứ tư tuần trước chúng ta đã bắt đầu một chuỗi những suy tư về câu trả lời của Đức Kitô cho những kẻ chất vấn Người về vấn đề tính đơn nhất và bất khả phân ly của hôn nhân. Như chúng ta nhớ, những người Pharisêu chất vấn Người viện tới Lề Luật Môsê; còn Đức Kitô quay về với “thuở ban đầu”, Người trích dẫn những lời của sách Sáng thế.

http://www.ubmvgiadinh.org/uploads/pictures/News/thanhocthanxac2.jpgỞ đây “thuở ban đầu”liên hệ tới những gì mà một trong những trang đầu tiên của sách Sáng thế đề cập tới. Nếu chúng ta muốn phân tích thực tại này, chắc hẳn trước tiên chúng ta phải quay về với bản văn. Thật vậy, những lời mà Đức Kitô đã nói trong cuộc đối thoại với những người Pharisêu, do Matthêu 19 và Marcô 10 thuật lại, là một đoạn văn được đặt trong một bối cảnh xác định rõ ràng, mà nếu người ta không liên hệ đến thì sẽ không thể hiểu được cũng như không thể giải thích được một cách đúng đắn những lời của Người. Bối cảnh ấy được xác định bởi những lời sau đây: «Các ông không đọc thấy điều này sao: ‘Thuở ban đầu, Đấng Tạo Hóa đã làm ra con người có nam có nữ’…» (Mt 19, 4), và tham chiếu tới cái gọi là trình thuật thứ nhất về tạo dựng con người, được đặt trong chu kỳ bảy ngày tạo dựng thế giới (St 1, 1 – 2, 4). Ngược lại, bối cảnh gần gũi hơn với những lời khác của Đức Kitô, được rút ra từ St 2, 24, là cái gọi là trình thuật thứ hai về tạo dựng con người (St 2, 5-25), nhưng một cách gián tiếp đó là toàn bộ chương ba của sách Sáng thế. Trình thuật thứ hai về tạo dựng con người tạo nên một thể thống nhất về mặt ý tưởng và văn phong, mô tả tình trạng vô tội nguyên thủy, hạnh phúc của con người và cả sự sa ngã lần thứ nhất của họ. Vì nội dung đặc biệt của lời Đức Kitô được lấy từ Sáng thế 2, 24, người ta cũng có thể bao gồm vào bối cảnh ấy ít nhất câu đầu của chương bốn sách Sáng thế, đoạn nói về sự cưu mang sinh hạ con người từ người cha người mẹ trần gian. Đó là điều chúng tôi có ý thực hiện trong bài phân tích này.

2. Từ quan điểm phê bình thánh kinh, ta cần phải nói ngay rằng trình thuật thứ nhất về tạo dựng con người có sau trình thuật thứ hai về mặt thời gian. Nguồn gốc của trình thuật thứ hai xa xưa hơn nhiều. Bản văn cổ xưa hơn đó được xác định thuộc dòng văn “yahvit”, vì dùng chữ “Yahvê” để gọi tên Thiên Chúa. Người đọc dễ có ấn tượng bởi sự kiện hình ảnh của Thiên Chúa được trình bày ở đó có những nét nhân hình khá nổi bật (thật vậy, người ta đọc thấy chẳng hạn như «…Đức Chúa là Thiên Chúa lấy bụi từ đất nặn ra con người, thổi sinh khí vào lỗ mũi»: St 2, 7). So với sự mô tả này, trình thuật thứ nhất, tức là trình thuật được cho là trễ hơn về thời gian, chín muồi hơn nhiều, cả về mặt hình ảnh của Thiên Chúa, lẫn về cách diễn đạt những chân lý cốt yếu về con người. Trình thuật này xuất phát từ truyền thống tư tế và truyền thống “êlôhist”, vì bản văn dùng chữ “Êlôhim” để gọi Thiên Chúa.

3. Trong trình thuật này việc tạo dựng con người, có nam có nữ, điều mà Đức Giêsu nói đến trong câu trả lời của Người theo Mt 19, được để xen vào trong nhịp bảy ngày tạo dựng thế giới. Do đó, cách đặc biệt, nó có thể được gán cho một đặc tính hoàn vũ. Con người được tạo dựng trên trái đất cùng với thế giới hữu hình. Nhưng đồng thời Tạo Hóa cũng ra lệnh cho con người chinh phục và thống trị trái đất (x. St 1, 28): do đó con người được đặt trên thế giới. Cho dẫu con người được nối kết chặt chẽ với thế giới hữu hình như thế, nhưng trình thuật kinh thánh không nói con người giống phần còn lại của thọ tạo, mà chỉ nói con người giống Thiên Chúa («Thiên Chúa tạo dựng con người theo hình ảnh mình, Thiên Chúa tạo dựng con người theo hình ảnh Thiên Chúa…»: St 1, 27). Trong chu kỳ bảy ngày tạo dựng người ta thấy rõ ràng có một sự tiến cấp [1]. Tuy nhiên, con người không được tạo dựng theo một chuỗi nối tiếp bình thường, nhưng Đấng Tạo Hóa dường như khựng lại trước khi kêu gọi con người đi vào hiện hữu, như thể Ngài bận suy nghĩ để lấy một quyết định: «Chúng ta hãy làm ra con người theo hình ảnh chúng ta, giống như chúng ta» (St 1, 26).

4. Cấp độ của trình thuật thứ nhất về tạo dựng con người, dù có sau về mặt thời gian nhưng lại đặc biệt có tính thần học. Điều đó được biểu lộ rõ nơi việc định nghĩa con người trên cơ sở tương quan của con người với Thiên Chúa («Ngài tạo dựng con người theo hình ảnh Thiên Chúa»). Đồng thời trình thuật cũng hàm ẩn khẳng định tuyệt đối không thể giản lược con người vào trong “trần thế”. Ngay từ những đoạn kinh thánh đầu tiên, con người không thể được hiểu và giải thích cách thấu đáo bằng những phạm trù “trần thế”, nghĩa là từ tất cả những gì thấy được của thân xác. Dẫu thế, con người cũng là thân xác. St 1, 27 nhận thấy rằng chân lý cốt yếu đó về con người nói đến cả người nam và cả người nữ: «Thiên Chúa tạo dựng con người theo hình ảnh mình… Thiên Chúa tạo dựng con người có nam có nữ» [2]. Cần phải nhìn nhận rằng trình thuật thứ nhất cô đọng, không có một chút dấu vết của xu hướng duy chủ thể nào. Nó chỉ bao gồm những sự kiện khách quan và định nghĩa thực tại khách quan, cả khi nói đến việc tạo dựng con người, nam cũng như nữ, theo hình ảnh Thiên Chúa, lẫn khi thêm vào sau đó lời chúc phúc đầu tiên: «Thiên Chúa ban phúc lành cho họ và Thiên Chúa phán với họ: “Hãy sinh sôi nảy nở thật nhiều, cho đầy mặt đất, và thống trị mặt đất”» (St 1, 28).

5. Trình thuật thứ nhất về tạo dựng con người, như chúng ta đã nhận xét, có bản chất thần học, ẩn chứa trong đó một nội dung đậm chất siêu hình. Chớ quên rằng chính bản văn sách Sáng thế này đã trở thành nguồn hứng khởi rất sâu cho các nhà tư tưởng, họ đã ra sức tìm hiểu về “hữu thể” (essere) và “hiện hữu” (esistere). (Có lẽ chỉ chương ba của sách Xuất hành mới có thể sánh được với bản văn này) [3]. Mặc dù ở đó có những diễn tả chi tiết và mềm dẻo, con người được định nghĩa trước hết trong các chiều kích hữu thể và hiện sinh (“esse”). Con người được định nghĩa theo kiểu siêu hình hơn là vật lý. Tương ứng với mầu nhiệm tạo dựng con người («Ngài tạo dựng con người theo hình ảnh Thiên Chúa») là viễn tượng sinh sản («hãy sinh sôi nảy nở cho đầy mặt đất»), là sự đang thành trong thế giới và trong thời gian, là cái fieri (trở thành) tất yếu liên kết với hoàn cảnh siêu hình của tạo thành: của hữu thể bất tất (contingens). Chính trong bối cảnh siêu hình ấy của mô tả của St 1 mà ta cần phải hiểu quan niệm về cái thiện hảo, tức là khía cạnh giá trị. Thật vậy, khía cạnh này xuất hiện trong nhịp độ gần như mọi ngày của tạo thành và đạt tới đỉnh điểm sau khi tạo dựng con người: «Thiên Chúa thấy mọi sự Ngài đã làm ra quả là rất tốt đẹp» (St 1, 31). Bởi thế, người ta có thể nói cách chắc chắn rằng chương thứ nhất của sách Sáng thế là một điểm quy chiếu không thể chối bỏ và là cơ cở vững chắc cho một siêu hình học và cho cả một nhân học và đạo đức học, theo đó hữu thể và sự thiện hảo là có thể hoán đổi cho nhau («ens et bonum convertuntur»). Quả thế, tất cả những điều đó đều có ý nghĩa cho thần học và, đặc biệt là cho thần học về thân xác.

6. Đến đây chúng ta tạm dừng việc xem xét. Trong chương kế tiếp chúng ta sẽ bàn đến trình thuật tạo dựng thứ hai, nghĩa là trình thuật cổ xưa hơn, theo các nhà thánh kinh. Thành ngữ “thần học về thân xác” được sử dụng ở đây cần được giải thích cách chính xác hơn, thế nhưng chúng ta sẽ để lại vào dịp khác. Trước hết chúng ta phải tìm cách khảo sát kỹ lưỡng hơn đoạn sách Sáng thế mà Đức Kitô đã liên hệ đến.

Ngày 12-09-1979
-----------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
[1] Khi nói về vật chất không có sự sống, tác giả kinh thánh dùng những vị ngữ khác nhau, như là “phân rẽ”, “gọi”, “làm ra”, “đặt”. Nhưng khi nói về những sinh vật tác giả dùng những thuật ngữ như là “tạo dựng” và “chúc phúc”. Thiên Chúa ra lệnh cho chúng: “hãy sinh sôi nảy nở cho thật nhiều”. Mệnh lệnh này được truyền đạt đến cho cả thú vật lẫn con người muốn ám chỉ rằng cả hai đều có chung một tính chất là có thân xác (x. St 1, 22-28).

Tuy nhiên, thánh kinh mô tả việc tạo dựng con người cách khác hẳn với những công trình tạo dựng trước đó của Thiên Chúa. Việc tạo dựng con người không chỉ được dẫn nhập một cách trang trọng, như thể Thiên Chúa có suy nghĩ cân nhắc trước một hành động quan trọng như thế, nhưng nhất là phẩm giá đặc biệt của con người được đề cao qua mô tả con người “giống” Thiên Chúa, là hình ảnh của Ngài.

Khi tạo dựng vật chất không có sự sống Thiên Chúa làm bằng cách “phân rẽ”, đối với loài thú vật Ngài ra lệnh cho chúng hãy sinh sôi nảy nở, nhưng sự khác biệt giới tính được nhấn mạnh chỉ đối với con người (“Thiên Chúa tạo dựng con người có nam có nữ”) và đồng thời Ngài chúc phúc cho họ đầy phong nhiêu, nghĩa là sự kết hợp giữa con người với nhau ( St 1, 27-28).

[2] Bản văn nguyên thủy nói rằng: «Thiên Chúa tạo dựng con người (ha-’adam, danh từ tập thể chỉ “nhân loại”?) theo hình ảnh mình, Thiên Chúa tạo dựng con người theo hình ảnh Thiên Chúa, Thiên Chúa tạo dựng con người có nam (zakar, giống đực) có nữ (uneqehah, giống cái)» (St 1, 27).

[3] «Haec sublimis veritas»: «Ta là Đấng Ta Là» (Xh 3, 14) là đối tượng suy tư của rất nhiều triết gia, bắt đầu từ thánh Augustinô. Ngài cho rằng Platon hẳn đã phải biết đến bản văn này vì xem ra nó rất gần với các ý tưởng của ông. Học thuyết Augustinô về “essentialitas” của Thiên Chúa, qua thánh Anselmô, đã có tác động sâu xa đến thần học của Richard of St. Victor, Alexander of Hales và St. Bonaventure.

«Để chuyển từ cách giải thích triết học bản văn Xuất hành này sang cách giải thích do thánh Thomas gợi lên, tất yếu phải vượt qua khoảng ngăn cách giữa “hữu thể của yếu tính” (“l’être de l’essence”) và “hữu thể của hiện hữu” (“l’être de l’existence”). Những chứng minh của thánh Thomas về Thiên Chúa hiện hữu đã làm bước nhảy vượt đó».

Quan điểm của Meister Eckhart thì khác. Dựa trên cơ sở bản văn này Meister Eckhart đã gán cho Thiên Chúa puritas essendi: «est aliquid altius ente…» (“sự tinh tuyền của hữu thể; ngài là một cái chi đó cao hơn cả hữu thể (ens)); (x. E. Gilson,Le Thomisme, Vrin, Paris 1944, ttr. 122-127; E. Gilson, History of Christian Philosophy in the Middle Ages, Sheed and Ward, London 1955, tr. 810).

Louis Nguyễn Anh Tuấn
http://www.ubmvgiadinh.org/?open=contents&display=2&id=358