admin
15-02-2006, 04:49 PM
Thứ Tư, ngày 12/9/1979
2. Phân tích câu chuyện kể về cuộc Sáng tạo trong Kinh Thánh
Thứ tư vừa qua, chúng ta đã bắt đầu loạt bài suy niệm về câu trả lời của Ðức Kitô cho những người chất vấn Ngài về vấn đề tính đơn nhất và bất khả phân ly của hôn nhân. Chúng ta vẫn còn nhớ là những người Pharisêu khi chất vấn Người đã căn cứ trên luật của Môsê. Trong khi đó, Đức Kitô lại trở lui về tận «thuở ban đầu» bằng cách trích dẫn những lời của Sách Sáng Thế.
Ở đây, «thuở ban đầu» liên quan đến những gì đã nói trong những trang đầu của Sách Sáng Thế. Nếu chúng ta muốn phân tích thực tại đó thì chắc chắn trước tiên chúng ta phải tập trung chú ý vào bản văn này. Những lời Ðức Kitô nói với những người Pharisêu, được ghi trong Mátthêu 19 và Máccô 10 tạo thành một bản văn gắn liền với một bối cảnh cụ thể, nếu không xét đến bối cảnh này thì không thể hiểu hoặc diễn đạt chính xác những lời của Người được.
Ngữ cảnh đó là những câu hỏi: «Các ông không đọc thấy điều này sao: «Thuở ban đầu, Đấng Tạo Hoá đã làm ra con người có nam có nữ», những lời này được căn cứ trên cái mà người ta gọi là câu chuyện kể về cuộc sáng tạo nên con người. Một câu chuyện lồng trong chuỗi 7 ngày của cuộc sáng tạo vũ trụ (St 1,1-2,4). Trong khi đó, ngữ cảnh gần với những lời của Đấng Kitô mà Người đã rút từ Sách Sáng Thế đoạn 2,24 lại được gọi là chuyện kể thứ hai về cuộc tạo dựng con người (St 2,5-25). Nhưng, một cách gián tiếp, ngữ cảnh cũng được đặt trong toàn chương thứ 3 của Sách Sáng Thế.
Câu chuyện thứ hai về cuộc tạo dựng con người rất thống nhất cả về mặt tư tưởng lẫn về văn phong với phần miêu tả tình trạng trong trắng nguyên thuỷ, hạnh phúc của con người cũng như sự sa ngã lần đầu. Khi hiểu được là nội dung cụ thể của lời Ðức Kitô được lấy từ Sách Sáng Thế 2,24, chúng ta cũng có thể ít nhất thêm vào ngữ cảnh này câu đầu của chương thứ 4 trong Sách Sáng Thế nói về sự thụ thai và sinh ra con người từ những cha mẹ trần thế. Đó là điều mà chúng tôi muốn nhắm tới trong những phân tích này.
Từ góc độ phê bình Kinh Thánh, cần phải nói ngay rằng câu chuyện đầu tiên về cuộc sáng tạo nên con người lại có sau câu chuyện thứ hai. Nguồn gốc của câu chuyện thứ hai xa xưa hơn nhiều. Đoạn sách xa xưa hơn này gọi là «thuộc truyền thống Giavê», bởi vì khi nói về Thiên Chúa, con người đã dùng tiếng «Giavê». Thật không thể không ngạc nhiên khi mà hình ảnh Thiên Chúa được trình bày rất giống con người. Có câu như: «… Đức Chúa là Thiên Chúa lấy bụi từ đất nặn ra con người, thổi sinh khí vào lỗ mũi, và con người trở nên một sinh vật». (St 2,7).
So với phần miêu tả Thiên Chúa của câu chuyện kể thứ hai thì câu chuyện thứ nhất tức là bản văn được cho là có sau, chững chạc hơn trong cách miêu tả hình ảnh Thiên Chúa, cũng như trong cách trình bày các chân lý cơ bản về con người. Câu chuyện này được lấy từ truyền thống tư tế và đồng thời cũng là “truyền thống Êlôhim”, tên gọi do từ “Êlôhim” thường được dùng trong câu chuyện để chỉ Thiên Chúa.
Trong câu chuyện này, cuộc sáng tạo nên con người - nam và nữ - mà Đấng Giêsu đã căn cứ trên đó để trả lời trong Tin Mừng thánh Mátthêu chương 19, đã được lồng trong chu kỳ bảy ngày của công cuộc sáng tạo thế giới, cho nên chúng ta có thể gán cho đoạn ấy cái tính vũ trụ luận là hơn cả. Con người được tạo dựng trên trái đất đồng thời với thế giới hữu hình. Nhưng cùng lúc, Đấng Tạo Hoá đã ra lệnh cho con người phải thống trị và làm bá chủ mặt đất (x. St 1,28). Như thế, con người được đặt vào vị trí bá chủ thế giới. Tuy thế, mặc dù con người phải gắn chặt vào thế giới hữu hình, câu chuyện Kinh Thánh không nói tới việc con người giống với những loài thụ tạo khác mà chỉ nói rằng con người giống Thiên Chúa. «Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh mình, Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh Thiên Chúa…» (St, 1,27). Trong chu kỳ bảy ngày của cuộc sáng tạo, ta thấy rõ một tiến trình.[1] (http://www.gpnt.net/diendan/newthread.php?do=newthread&f=28#_ftn1) Tuy nhiên, con người lại không được tạo dựng theo một diễn tiến tự nhiên. Đấng Tạo Hoá như muốn ngưng nghỉ một lát trước khi gọi con nguời vào hiện hữu, như thể ngưòi trăn trở trước khi đưa ra một quyết định: «Chúng ta hãy làm ra con người theo hình ảnh chúng ta, giống như chúng ta…» (St 1,26).
Câu chuyện thứ nhất này về công cuộc tạo dựng con người, mặc dù xảy ra sau về mặt thời gian, nhưng lại đặc biệt có mang nhiều nét thần học. Chúng ta thấy điều đó rõ nhất trong cái định nghĩa về con người dựa trên căn bản của tương quan giữa con người với Thiên Chúa («Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh Thiên Chúa»). Đồng thời, câu chuyện đã khẳng định tuyệt đối rằng ta không thể hạ thấp con người ngang mức trần thế. Nội dung những câu đầu tiên của Thánh Kinh ta cho thấy không thể hiểu cũng như không thể giải thích được về con người cách trọn vẹn nếu chỉ dựa trên các phạm trù “trần thế”, tức là chỉ bằng vào tất cả những gì thấy được của thân xác. Tuy thế, con người cũng có thân xác. Sách Sáng Thế đoạn 1,27 cho thấy rằng chân lý tất yếu đó về con người đã được áp dụng cho cả người nam lẫn người nữ: «Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh mình… Thiên Chúa sáng tạo con người có nam có nữ».[2] (http://www.gpnt.net/diendan/newthread.php?do=newthread&f=28#_ftn2) Phải thấy rằng câu chuyện thứ nhất rất cô đọng, không hề có một chút chủ quan: chỉ hàm chứa sự kiện khách quan và định nghĩa thực tại khách quan, dù khi nói về sự tạo dựng con người –nam và nữ- giống hình ảnh Thiên Chúa hay khi sau đó, lúc thêm vào những lời chúc phúc đầu tiên: «Thiên Chúa ban phúc lành cho họ, và Thiên Chúa phán với họ: Hãy sinh sôi nảy nở thật nhiều, cho đầy mặt đất, và thống trị mặt đất» (St 1,28).
Chúng ta đã nhận thấy rằng câu chuyện thứ nhất về cuộc sáng tạo con người có mang ý nghĩa thần học và cũng chứa đầy những ý tưởng về siêu hình. Đừng quên rằng đoạn sách của Sách Sáng Thế này đã là nguồn cảm hứng sâu xa cho rất nhiều nhà tư tưởng. Họ đã muốn tìm hiểu thế nào là «bản thể» và «hiện hữu» (có lẽ chỉ chương thứ 3 của sách Xuất Hành mới có thể so sánh được với đoạn sách này).[3] (http://www.gpnt.net/diendan/newthread.php?do=newthread&f=28#_ftn3) Mặc dù có nhiều thành ngữ có tính hình thức và cần được hiểu theo hoàn cảnh, con người vẫn được định nghĩa trước hết bằng những chiều kích của bản thể và của hiện hữu («esse»). Con người được định nghĩa theo siêu hình hơn là theo vật lý.
Tương ứng với mầu nhiệm sáng tạo («Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh mình») là viễn cảnh về sinh sản («Hãy sinh sôi nảy nở thật nhiều, cho đầy mặt đất»), là sự tiến thành trong thế giới và trong thời gian, là sự «trở thành (fieri)» gắn liền một cách tất yếu với tình huống siêu hình của cuộc sáng tạo, và đã tương quan với hữu thể bất tất (contingens).Và cũng chính trong bối cảnh siêu hình của chuyện kể thứ nhất trong Sách Sáng Thế Ký mà chúng ta phải hiểu quan niệm về cái thiện, tức là phương diện giá trị. Thực vậy, phương diện này xuất hiện trong hầu hết các ngày trong chu kỳ sáng tạo, và nó đã đạt tới đỉnh điểm sau khi đã sáng tạo nên con người: «Thiên Chúa thấy mọi sự Người đã làm ra quả là rất tốt đẹp!» (St 1,31). Chính vì thế mà chúng ta có thể nói được một cách chắc chắn rằng chương đầu của Sách Sáng Thế đã cho chúng ta một điểm quy chiếu không thể bác bỏ được. Chương đó cũng cho chúng ta một căn bản vững chắc cho một siêu hình học và một nhân loại học và một luân lý học mà trong đó ens et bonum convertuntur(hữu thể và sự thiện đã gặp nhau). Quả thực như thế, tất cả những điều đó có một ý nghĩa cho nền thần học và nhất là cho nền thần học về thân xác.
Chúng ta tạm ngưng bài học hỏi nơi đây. Tuần tới chúng ta sẽ đề cập tới câu chuyện thứ hai về cuộc sáng tạo. Một câu chuyện mà theo những nhà chú giải, còn xa xưa hơn nữa.Cụm từ «thần học về thân xác» mà chúng ta vừa dùng cần phải được giải thích kỹ càng hơn nữa. Chúng ta sẽ bàn về nền thần học đó trong một buổi khác. Nhưng trước hết, chúng ta phải xem xét thật kỹ lưỡng đoạn Sách Sáng Thế mà Đấng Kitô đã đề cập tới.
----
[1] (http://www.gpnt.net/diendan/newthread.php?do=newthread&f=28#_ftnref1) Khi tác giả Kinh Thánh nói về vật thể không có sự sống thì họ dùng các cụm từ như «Người đã tách», «Người đã gọi», «Người đã làm», «Người đã đặt». Nhưng khi nói về những hữu thể có sự sống thì họ lại nói: «Người đã sáng tạo» và «Ngài ban phúc». Thiên Chúa phán với họ: "Hãy sinh sôi nảy nở thật nhiều». Lệnh này hướng đến cả thú vật lẫn con người, đồng thời chỉ cho biết rằng tính có thân xác là dành cho cả hai loài (xem St 1,22.28).
Tuy nhiên, trong câu chuyện Kinh Thánh, cuộc sáng tạo con người được mô tả một cách khác hẳn so với các tác tạo trước đó của Thiên Chúa. Phần mở đầu của câu chuyện rất trang trọng, như thể Thiên Chúa cần phải đắn đo trước hành động quan trọng này, mà nhất là phẩm giá đặc thù của con người đã được nêu rõ là «giống» hình ảnh Thiên Chúa.
Khi tạo nên vật chất không có sự sống, Thiên Chúa «tách rời». Người lại phán bảo cho muôn thú phải sinh sôi nảy nở. Nhưng chỉ khi nào nói về con người, Chúa mới phân biệt nam và nữ («Thiên Chúa sáng tạo con người có nam có nữ») và ban phúc lành cho việc sinh sôi nảy nở, tức là chúc lành cho sự kết hợp của họ (x. St 1,27.28).
[2] Bản gốc nói rằng : «Thiên Chúa sáng tạo con người (haadam, danh từ chỉ tập thể: «nhân loại»?) theo hình ảnh mình; theo hình ảnh Thiên Chúa, Thiên Chúa sáng tạo con người; Thiên Chúa sáng tạo nên chúng có nam (zakar, giống đực) và có nữ (uneqebah, giống cái) (St 1, 27).
[3] (http://www.gpnt.net/diendan/newthread.php?do=newthread&f=28#_ftnref3) Haec sublimis veritas, Chân lý tuyệt vời: «Ta là Đấng Hiện Hữu» (Xh 3,14) là một đề tài suy tư cho nhiều triết gia, từ thánh Augustinô trở đi. Thánh Augustinô đã nghĩ rằng chắc hẳn Platon có thể đã biết đoạn Kinh Thánh này vì Thánh Augustinô thấy nó rất gần với quan niệm của Platon. Triết thuyết «essentialitas» của Thánh Augustinô về thần thánh, qua trung gian Thánh Anselmô đã ảnh hưởng sâu rộng tới nền thần học của Richard de Saint-Victor, của Alexandre de Hales và của thánh Bônaventura
«Để đi từ chú giải triết học về đoạn sách Xuất Hành này tới cái mà Thánh Tôma đã đưa ra, chúng ta tất yếu phải nối liền khoảng cách phân chia giữa «hữu thể của bản thể» với «hữu thể của hiện thể». Những chứng minh của Thánh Tôma về sự hiện hữu của Thiên Chúa đã thực hiện được điều đó”.
Nhưng lập trường của Thầy Eckhart lại khác đi. Khi dựa trên đoạn sách này, Thầy Eckhart gán cho Thiên Chúa puritas essendi: “est aliquid altius ente…” (“tinh thuần hiện hữu; Thiên Chúa là một cái gì còn cao hơn cả hữu thể …”); x. E. GILSON, Le Thomisme, Paris 1944, (Vrin) tr. 122-127; E.GILSON, History of Christian Philosophy in the Middle Ages, London 1955, (Sheed and Ward) tr. 810.
Nhóm Tâm biển
Về Mục lục (http://gpnt.net/diendan/showthread.php?t=217)
2. Phân tích câu chuyện kể về cuộc Sáng tạo trong Kinh Thánh
Thứ tư vừa qua, chúng ta đã bắt đầu loạt bài suy niệm về câu trả lời của Ðức Kitô cho những người chất vấn Ngài về vấn đề tính đơn nhất và bất khả phân ly của hôn nhân. Chúng ta vẫn còn nhớ là những người Pharisêu khi chất vấn Người đã căn cứ trên luật của Môsê. Trong khi đó, Đức Kitô lại trở lui về tận «thuở ban đầu» bằng cách trích dẫn những lời của Sách Sáng Thế.
Ở đây, «thuở ban đầu» liên quan đến những gì đã nói trong những trang đầu của Sách Sáng Thế. Nếu chúng ta muốn phân tích thực tại đó thì chắc chắn trước tiên chúng ta phải tập trung chú ý vào bản văn này. Những lời Ðức Kitô nói với những người Pharisêu, được ghi trong Mátthêu 19 và Máccô 10 tạo thành một bản văn gắn liền với một bối cảnh cụ thể, nếu không xét đến bối cảnh này thì không thể hiểu hoặc diễn đạt chính xác những lời của Người được.
Ngữ cảnh đó là những câu hỏi: «Các ông không đọc thấy điều này sao: «Thuở ban đầu, Đấng Tạo Hoá đã làm ra con người có nam có nữ», những lời này được căn cứ trên cái mà người ta gọi là câu chuyện kể về cuộc sáng tạo nên con người. Một câu chuyện lồng trong chuỗi 7 ngày của cuộc sáng tạo vũ trụ (St 1,1-2,4). Trong khi đó, ngữ cảnh gần với những lời của Đấng Kitô mà Người đã rút từ Sách Sáng Thế đoạn 2,24 lại được gọi là chuyện kể thứ hai về cuộc tạo dựng con người (St 2,5-25). Nhưng, một cách gián tiếp, ngữ cảnh cũng được đặt trong toàn chương thứ 3 của Sách Sáng Thế.
Câu chuyện thứ hai về cuộc tạo dựng con người rất thống nhất cả về mặt tư tưởng lẫn về văn phong với phần miêu tả tình trạng trong trắng nguyên thuỷ, hạnh phúc của con người cũng như sự sa ngã lần đầu. Khi hiểu được là nội dung cụ thể của lời Ðức Kitô được lấy từ Sách Sáng Thế 2,24, chúng ta cũng có thể ít nhất thêm vào ngữ cảnh này câu đầu của chương thứ 4 trong Sách Sáng Thế nói về sự thụ thai và sinh ra con người từ những cha mẹ trần thế. Đó là điều mà chúng tôi muốn nhắm tới trong những phân tích này.
Từ góc độ phê bình Kinh Thánh, cần phải nói ngay rằng câu chuyện đầu tiên về cuộc sáng tạo nên con người lại có sau câu chuyện thứ hai. Nguồn gốc của câu chuyện thứ hai xa xưa hơn nhiều. Đoạn sách xa xưa hơn này gọi là «thuộc truyền thống Giavê», bởi vì khi nói về Thiên Chúa, con người đã dùng tiếng «Giavê». Thật không thể không ngạc nhiên khi mà hình ảnh Thiên Chúa được trình bày rất giống con người. Có câu như: «… Đức Chúa là Thiên Chúa lấy bụi từ đất nặn ra con người, thổi sinh khí vào lỗ mũi, và con người trở nên một sinh vật». (St 2,7).
So với phần miêu tả Thiên Chúa của câu chuyện kể thứ hai thì câu chuyện thứ nhất tức là bản văn được cho là có sau, chững chạc hơn trong cách miêu tả hình ảnh Thiên Chúa, cũng như trong cách trình bày các chân lý cơ bản về con người. Câu chuyện này được lấy từ truyền thống tư tế và đồng thời cũng là “truyền thống Êlôhim”, tên gọi do từ “Êlôhim” thường được dùng trong câu chuyện để chỉ Thiên Chúa.
Trong câu chuyện này, cuộc sáng tạo nên con người - nam và nữ - mà Đấng Giêsu đã căn cứ trên đó để trả lời trong Tin Mừng thánh Mátthêu chương 19, đã được lồng trong chu kỳ bảy ngày của công cuộc sáng tạo thế giới, cho nên chúng ta có thể gán cho đoạn ấy cái tính vũ trụ luận là hơn cả. Con người được tạo dựng trên trái đất đồng thời với thế giới hữu hình. Nhưng cùng lúc, Đấng Tạo Hoá đã ra lệnh cho con người phải thống trị và làm bá chủ mặt đất (x. St 1,28). Như thế, con người được đặt vào vị trí bá chủ thế giới. Tuy thế, mặc dù con người phải gắn chặt vào thế giới hữu hình, câu chuyện Kinh Thánh không nói tới việc con người giống với những loài thụ tạo khác mà chỉ nói rằng con người giống Thiên Chúa. «Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh mình, Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh Thiên Chúa…» (St, 1,27). Trong chu kỳ bảy ngày của cuộc sáng tạo, ta thấy rõ một tiến trình.[1] (http://www.gpnt.net/diendan/newthread.php?do=newthread&f=28#_ftn1) Tuy nhiên, con người lại không được tạo dựng theo một diễn tiến tự nhiên. Đấng Tạo Hoá như muốn ngưng nghỉ một lát trước khi gọi con nguời vào hiện hữu, như thể ngưòi trăn trở trước khi đưa ra một quyết định: «Chúng ta hãy làm ra con người theo hình ảnh chúng ta, giống như chúng ta…» (St 1,26).
Câu chuyện thứ nhất này về công cuộc tạo dựng con người, mặc dù xảy ra sau về mặt thời gian, nhưng lại đặc biệt có mang nhiều nét thần học. Chúng ta thấy điều đó rõ nhất trong cái định nghĩa về con người dựa trên căn bản của tương quan giữa con người với Thiên Chúa («Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh Thiên Chúa»). Đồng thời, câu chuyện đã khẳng định tuyệt đối rằng ta không thể hạ thấp con người ngang mức trần thế. Nội dung những câu đầu tiên của Thánh Kinh ta cho thấy không thể hiểu cũng như không thể giải thích được về con người cách trọn vẹn nếu chỉ dựa trên các phạm trù “trần thế”, tức là chỉ bằng vào tất cả những gì thấy được của thân xác. Tuy thế, con người cũng có thân xác. Sách Sáng Thế đoạn 1,27 cho thấy rằng chân lý tất yếu đó về con người đã được áp dụng cho cả người nam lẫn người nữ: «Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh mình… Thiên Chúa sáng tạo con người có nam có nữ».[2] (http://www.gpnt.net/diendan/newthread.php?do=newthread&f=28#_ftn2) Phải thấy rằng câu chuyện thứ nhất rất cô đọng, không hề có một chút chủ quan: chỉ hàm chứa sự kiện khách quan và định nghĩa thực tại khách quan, dù khi nói về sự tạo dựng con người –nam và nữ- giống hình ảnh Thiên Chúa hay khi sau đó, lúc thêm vào những lời chúc phúc đầu tiên: «Thiên Chúa ban phúc lành cho họ, và Thiên Chúa phán với họ: Hãy sinh sôi nảy nở thật nhiều, cho đầy mặt đất, và thống trị mặt đất» (St 1,28).
Chúng ta đã nhận thấy rằng câu chuyện thứ nhất về cuộc sáng tạo con người có mang ý nghĩa thần học và cũng chứa đầy những ý tưởng về siêu hình. Đừng quên rằng đoạn sách của Sách Sáng Thế này đã là nguồn cảm hứng sâu xa cho rất nhiều nhà tư tưởng. Họ đã muốn tìm hiểu thế nào là «bản thể» và «hiện hữu» (có lẽ chỉ chương thứ 3 của sách Xuất Hành mới có thể so sánh được với đoạn sách này).[3] (http://www.gpnt.net/diendan/newthread.php?do=newthread&f=28#_ftn3) Mặc dù có nhiều thành ngữ có tính hình thức và cần được hiểu theo hoàn cảnh, con người vẫn được định nghĩa trước hết bằng những chiều kích của bản thể và của hiện hữu («esse»). Con người được định nghĩa theo siêu hình hơn là theo vật lý.
Tương ứng với mầu nhiệm sáng tạo («Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh mình») là viễn cảnh về sinh sản («Hãy sinh sôi nảy nở thật nhiều, cho đầy mặt đất»), là sự tiến thành trong thế giới và trong thời gian, là sự «trở thành (fieri)» gắn liền một cách tất yếu với tình huống siêu hình của cuộc sáng tạo, và đã tương quan với hữu thể bất tất (contingens).Và cũng chính trong bối cảnh siêu hình của chuyện kể thứ nhất trong Sách Sáng Thế Ký mà chúng ta phải hiểu quan niệm về cái thiện, tức là phương diện giá trị. Thực vậy, phương diện này xuất hiện trong hầu hết các ngày trong chu kỳ sáng tạo, và nó đã đạt tới đỉnh điểm sau khi đã sáng tạo nên con người: «Thiên Chúa thấy mọi sự Người đã làm ra quả là rất tốt đẹp!» (St 1,31). Chính vì thế mà chúng ta có thể nói được một cách chắc chắn rằng chương đầu của Sách Sáng Thế đã cho chúng ta một điểm quy chiếu không thể bác bỏ được. Chương đó cũng cho chúng ta một căn bản vững chắc cho một siêu hình học và một nhân loại học và một luân lý học mà trong đó ens et bonum convertuntur(hữu thể và sự thiện đã gặp nhau). Quả thực như thế, tất cả những điều đó có một ý nghĩa cho nền thần học và nhất là cho nền thần học về thân xác.
Chúng ta tạm ngưng bài học hỏi nơi đây. Tuần tới chúng ta sẽ đề cập tới câu chuyện thứ hai về cuộc sáng tạo. Một câu chuyện mà theo những nhà chú giải, còn xa xưa hơn nữa.Cụm từ «thần học về thân xác» mà chúng ta vừa dùng cần phải được giải thích kỹ càng hơn nữa. Chúng ta sẽ bàn về nền thần học đó trong một buổi khác. Nhưng trước hết, chúng ta phải xem xét thật kỹ lưỡng đoạn Sách Sáng Thế mà Đấng Kitô đã đề cập tới.
----
[1] (http://www.gpnt.net/diendan/newthread.php?do=newthread&f=28#_ftnref1) Khi tác giả Kinh Thánh nói về vật thể không có sự sống thì họ dùng các cụm từ như «Người đã tách», «Người đã gọi», «Người đã làm», «Người đã đặt». Nhưng khi nói về những hữu thể có sự sống thì họ lại nói: «Người đã sáng tạo» và «Ngài ban phúc». Thiên Chúa phán với họ: "Hãy sinh sôi nảy nở thật nhiều». Lệnh này hướng đến cả thú vật lẫn con người, đồng thời chỉ cho biết rằng tính có thân xác là dành cho cả hai loài (xem St 1,22.28).
Tuy nhiên, trong câu chuyện Kinh Thánh, cuộc sáng tạo con người được mô tả một cách khác hẳn so với các tác tạo trước đó của Thiên Chúa. Phần mở đầu của câu chuyện rất trang trọng, như thể Thiên Chúa cần phải đắn đo trước hành động quan trọng này, mà nhất là phẩm giá đặc thù của con người đã được nêu rõ là «giống» hình ảnh Thiên Chúa.
Khi tạo nên vật chất không có sự sống, Thiên Chúa «tách rời». Người lại phán bảo cho muôn thú phải sinh sôi nảy nở. Nhưng chỉ khi nào nói về con người, Chúa mới phân biệt nam và nữ («Thiên Chúa sáng tạo con người có nam có nữ») và ban phúc lành cho việc sinh sôi nảy nở, tức là chúc lành cho sự kết hợp của họ (x. St 1,27.28).
[2] Bản gốc nói rằng : «Thiên Chúa sáng tạo con người (haadam, danh từ chỉ tập thể: «nhân loại»?) theo hình ảnh mình; theo hình ảnh Thiên Chúa, Thiên Chúa sáng tạo con người; Thiên Chúa sáng tạo nên chúng có nam (zakar, giống đực) và có nữ (uneqebah, giống cái) (St 1, 27).
[3] (http://www.gpnt.net/diendan/newthread.php?do=newthread&f=28#_ftnref3) Haec sublimis veritas, Chân lý tuyệt vời: «Ta là Đấng Hiện Hữu» (Xh 3,14) là một đề tài suy tư cho nhiều triết gia, từ thánh Augustinô trở đi. Thánh Augustinô đã nghĩ rằng chắc hẳn Platon có thể đã biết đoạn Kinh Thánh này vì Thánh Augustinô thấy nó rất gần với quan niệm của Platon. Triết thuyết «essentialitas» của Thánh Augustinô về thần thánh, qua trung gian Thánh Anselmô đã ảnh hưởng sâu rộng tới nền thần học của Richard de Saint-Victor, của Alexandre de Hales và của thánh Bônaventura
«Để đi từ chú giải triết học về đoạn sách Xuất Hành này tới cái mà Thánh Tôma đã đưa ra, chúng ta tất yếu phải nối liền khoảng cách phân chia giữa «hữu thể của bản thể» với «hữu thể của hiện thể». Những chứng minh của Thánh Tôma về sự hiện hữu của Thiên Chúa đã thực hiện được điều đó”.
Nhưng lập trường của Thầy Eckhart lại khác đi. Khi dựa trên đoạn sách này, Thầy Eckhart gán cho Thiên Chúa puritas essendi: “est aliquid altius ente…” (“tinh thuần hiện hữu; Thiên Chúa là một cái gì còn cao hơn cả hữu thể …”); x. E. GILSON, Le Thomisme, Paris 1944, (Vrin) tr. 122-127; E.GILSON, History of Christian Philosophy in the Middle Ages, London 1955, (Sheed and Ward) tr. 810.
Nhóm Tâm biển
Về Mục lục (http://gpnt.net/diendan/showthread.php?t=217)