PDA

View Full Version : Phần I. Bài 4. Ranh giới giữa tình trạng trong trắng nguyên thuỷ và sự cứu chuộc


admin
16-02-2006, 06:17 PM
Thứ Tư, 26/09/1979



4. Ranh giới giữa tình trạng trong trắng nguyên thuỷ và sự cứu chuộc


Khi trả lời cho những kẻ hỏi Người về tính đơn nhất và bất khả phân ly của hôn nhân, Đức Kitô đã trưng dẫn những gì Sách Sáng Thế đã viết về hôn nhân. Trong hai bài suy niệm trước đây, chúng ta đã phân tích cả hai đoạn Kinh Thánh được gọi là do truyền thống Êlôhim (St 1) và do truyền thống Giavê (St 2). Giờ đây, chúng ta muốn rút ra một vài kết luận từ những phân tách đó.
Khi Đức Kitô trưng dẫn «thuở ban đầu», Người đòi hỏi những kẻ đang chất vấn Ngài, về một phương diện nào đó, phải vượt quá lằn ranh phân cách giữa tình trạng trong trắng nguyên thuỷ và tình trạng nhiễm tội khi sa ngã lần đầu mà Sách Sáng Thế đã ghi lại.
Như là một biểu tượng, lằn ranh này có thể được liên hệ với với cây biết điều thiện và điều ác. Trong bản văn thuộc truyền thống Giavê, cây này phân cách hai tình trạng hoàn toàn đối nghịch nhau: tình trạng trong trắng nguyên thủy và tình trạng nguyên tội. Hai tình trạng này mang chiều kích đặc thù của con người, trong nơi sâu thẳm nhất của chính mình, trong tri thức, trong lương tâm, trong những lựa chọn và quyết định của mình. Tất cả những điều này đều có tương quan với Thiên Chúa Tạo Hoá, Đấng mà theo bản văn thuộc truyền thống Giavê (St 2 và 3) nói rằng, Người cũng là Thiên Chúa của giao ước, một giao ước xa xưa nhất giữa Đấng Tạo Hoá và loài thụ-tạo-con-người.

Vì là một biểu biểu đạt và biểu tượng của giao ước với Thiên Chúa đã bị phá vỡ trong trong tâm khảm con người, cây biết điều thiện và điều ác phân cách và nêu bật sự tương phản giữa hai trạng huống và tình thái đối ngược nhau: tình trạng trong trắng nguyên thủy đối với tình thái nguyên tội, và cùng lúc, tình trạng trong trắng nguyên thủy đối với tình thái truyền nhiễm tội của con người hệ luỵ từ nguyên tội. Tuy nhiên, những phát biểu của Đức Kitô, viện dẫn đến «thuở ban đầu», giúp chúng ta thấy nơi con người có một sự kế tục tất yếu và một mối liên hệ giữa hai tình trạng hoặc hai chiều kích khác nhau này của con người.

Tình thái nhiễm tội này gắn liền với “con người lịch sử”. Con người lịch sử này là con người được nhắc đến trong Mt 19, tức là kẻ đang chất vấn Đức Kitô vào thời điểm ấy, và cũng là bất kỳ ai có thể sẽ hoặc đang thực sự chất vấn Người vào bất cứ thời điểm nào của lịch sử. Và như vậy lẽ tất nhiên con người lịch sử đó cũng là con người đương đại. Tuy nhiên tình thái nhiễm tội này - tình thái “lịch sử” này -, nơi mỗi một người không trừ ai, đâm rễ sâu vào ‘thời tiền sử’ thần học của con người, tức là tình trạng trong trắng nguyên thủy.

Đây không phải là lối lập luận thuần biện chứng. Các quy luật tri thức đều tương ứng với các quy luật hiện sinh. Không thể hiểu được tình thái nhiễm tội “lịch sử” nếu không quy chiếu hoặc viện dẫn (mà Đức Kitô đã viện dẫn) đến tình trạng trong trắng nền tảng và nguyên thuỷ (về một mặt nào đó nguyên thuỷ cũng là “tiền sử”). Vì thế, ngay từ ban đầu, sự xuất hiện của sự nhiễm tội với tư cách là một tình thái, một chiều kích của nhân sinh, đã có mối tương quan với tình trạng trong trắng thực thụ của con người, là trạng thái nguyên thuỷ và nền tảng của con người, một chiều kích của việc con người được dựng nên theo hình ảnh Thiên Chúa.

Điều này không chỉ xảy ra cho con người đầu tiên, nam và nữ, là những vai diễn của vở kịch và là những nhân vật chính của các sự kiện được bản văn thuộc truyền thống Giavê thuật lại trong chương 2 và 3 Sách Sáng Thế, mà còn xảy ra cho cả toàn bộ quá trình lịch sử của nhân sinh. Có thể nói, con người lịch sử bám rễ sâu vào cái tiền sử thần học đã được mạc khải của mình. Như vậy có thể quy chiếu về tình trạng trong trắng nguyên thuỷ để giải thích mọi góc độ của tình thái nhiễm tội lịch sử của con người (cả về phương diện linh hồn lẫn thân xác). Có thể nói rằng việc quy chiếu này là “đồng thừa kế” của tội (nói chung), và (đương nhiên) cả nguyên tội nữa. Nếu ở mỗi con người lịch sử, tội có nghĩa là tình trạng đánh mất ân sủng, thì đồng thời tội cũng quy chiếu về tình trạng ân sủng, tức là tình trạng ân sủng của trạng thái trong trắng nguyên thuỷ.

Trong chương 19 Tin Mừng theo thánh Mátthêu, khi Đức Kitô nhắc đến «thuở ban đầu», Người không đơn giản dùng cụm từ này để chỉ tình trạng trong trắng nguyên thuỷ như là một cõi nhân sinh đã biệt tăm trong lịch sử. Ta có quyền coi những lời đó từ chính miệng Người thốt ra như là thâu tóm mọi giải thích hùng hồn về mầu nhiệm Cứu Chuộc. Như chúng ta đã thấy trong các bản văn truyền thống Giavê nơi chương 2 và 3 Sách Sáng Thế, ngay sau khi phá vỡ giao ước ban đầu với Đấng Tạo Hoá, thì con người, nam và nữ đã nhận được lời hứa cứu chuộc đầu tiên. Lời hứa này được ghi trong sách Sáng Thế 3,15 [1] (http://www.gpnt.net/diendan/newthread.php?do=newthread&f=28#_ftn1) được gọi là Tiền-Tin-Mừng. Và từ đó, con người bắt đầu sống trong viễn cảnh thần học của sự cứu chuộc.

Do đó, cũng giống như thế, con người lịch sử – là kẻ đang tra vấn Đức Kitô lúc ấy, như được thuật lại trong Mt 19, cũng như con người thời nay – được tham gia vào viễn cảnh này. Không chỉ tham gia vào lịch sử của tình thái nhiễm tội với tư cách vừa là một chủ thể thừa kế vừa là một cá thể độc nhất của lịch sử này, con người lịch sử còn tham gia vào lịch sử cứu chuộc nữa, với tư cách vừa là đối tượng (được cứu chuộc) lại vừa góp phần cứu chuộc. Vì vậy, con người lịch sử không chỉ bị khép lại đối với tình trạng trong trắng nguyên thuỷ do tội lỗi của mình, nhưng đồng thời lại được khai mở lối vào mầu nhiệm cứu chuộc được hoàn thành trong Đức Kitô và nhờ Đức Kitô.

Trong thơ gởi tín hữu Rôma, thánh Phaolô diễn tả viễn cảnh cứu chuộc mà con người lịch sử đang sống bằng câu: «… Cả chúng ta cũng rên siết trong lòng: chúng ta đã lãnh nhận Thần Khí như ân huệ mở đầu, nhưng còn trông đợi Thiên Chúa … cứu chuộc thân xác chúng ta nữa» (Rm 8,23). Chúng ta đừng quên viễn cảnh đó khi chúng ta đang bám sát lời Đức Kitô trưng dẫn «thuở ban đầu» để nói về tính bất khả phân ly của hôn nhân.

Nếu «thuở ban đầu» chỉ dùng để nói đến cuộc sáng tạo con người «có nam có nữ» và -như chúng ta đã nói- nếu cụm từ thuở ban đầu này chỉ dẫn đưa người đang chất vấn vượt qua lằn ranh của tình trạng tội lỗi để tới sự trong trắng nguyên thuỷ, nhưng không mở rộng viễn ảnh của cuộc «cứu chuộc thân xác», thì chúng ta đã hoàn toàn hiểu sai câu trả lời của Đức Kitô. Viễn ảnh cứu chuộc thân xác đó đã bảo chứng cho sự liên tục và sự nhất thống của tình trạng kế thừa tội lỗi và sự trong trắng nguyên thuỷ, mặc dù trên bình diện lịch sử, con người đã đánh mất sự trong trắng ấy mà không cách cứu gỡ. Mặt khác, thật là quá rõ ràng khi Đức Kitô hoàn toàn có quyền trả lời câu hỏi, mà các tiến sĩ về luật và về giao ước đã hỏi Người (x. Mt 19 và Mc 10), trong viễn ảnh cứu chuộc, một viễn ảnh nền tảng cho giao ước.

Trong bối cảnh thần học về con người mang thân xác đã được phác hoạ một cách cơ bản như trên, chúng ta có thể nghĩ đến phương pháp phân tích sâu xa hơn về mặc khải của «thuở ban đầu», trong phương pháp đó nhất thiết phải quy chiếu đến những chương đầu của Sách Sáng Thế. Chúng ta phải chú ý ngay tới một yếu tố rất quan trọng cho môn giải thích thần học, vì yếu tố quan trọng đó nằm ở mối tương quan giữa mặc khải và kinh nghiệm.[2] (http://www.gpnt.net/diendan/#_ftn1)

Khi giải thích mặc khải về con người, nhất là về thân xác, vì những lý do dễ hiểu, chúng ta phải căn cứ trên kinh nghiệm, bởi vì chủ yếu là nhờ kinh nghiệm mà chúng ta cảm nghiệm được con-người-có-thân-xác. Được soi sáng do những nhận định nền tảng đó, chúng ta có toàn quyền xác quyết rằng cái kinh nghiệm «lịch sử» này của chúng ta, một cách nào đó, có lẽ phải dừng lại trước ngưỡng cửa của sự trong trắng nguyên thuỷ của con người, bởi vì khi nói về sự trong trắng nguyên thuỷ thì kinh nghiệm con người không còn tương thích nữa. Tuy nhiên, nhờ ánh sáng của những nhận định trên, chúng ta phải đi đến xác quyết rằng kinh nghiệm của con người, trong trường hợp này, ở một mức độ nào đó là một phương tiện hợp lý để có được những giải thích thần học. Và có thể nói kinh nghiệm đó cũng là một điểm quy chiếu không thể thiếu được và cần phải khắc ghi trong tâm trí khi giải thích “thuở ban đầu”. Chúng ta sẽ phân tích chi tiết bản văn để có thể thấy rõ ràng hơn.

Dường như những lời trong thư gởi tín hữu Rôma 8,23 nói trên giúp cho hướng nghiên cứu của chúng ta được tập trung một cách tốt nhất vào mặc khải của «thuở ban đầu» mà Đức Kitô đã căn cứ để nói về sự bất khả phân ly của hôn nhân (Mt 19 và Mc 10). Tất cả những phân tích sau này về các chương đầu Sách Sáng Thế hầu như nhất thiết phải phản ánh được chân lý của lời Thánh Phaolô: «… Cả chúng ta cũng rên siết trong lòng: chúng ta đã lãnh nhận Thần Khí như ân huệ mở đầu, nhưng còn trông đợi Thiên Chúa … cứu chuộc thân xác chúng ta nữa». Nếu chúng ta tự đặt mình vào tình huống đó - hoàn toàn dìm mình sâu vào trong kinh nghiệm - thì «thuở ban đầu» chắc sẽ nói cho chúng ta với một luồng sáng ngập tràn đến từ mặc khải mà thần học muốn giải thích trước tiên. Nếu chúng ta tiếp tục phân tích, chúng ta sẽ hiểu tại sao và theo nghĩa nào việc này lại là thần học về thân xác.


http://gpnt.net/images/arrow_dyn.gif
-----

[1] (http://www.gpnt.net/diendan/newthread.php?do=newthread&f=28#_ftnref1) Bản dịch Cựu Ước bằng tiếng Hy Lạp, bản Bảy Mươi, đã có vào khoảng thế kỷ thứ 2 sau Chúa Giáng Sinh, đã giải thích Sách Sáng Thế 3,15 với ý nghĩa Cứu chuộc bằng cách dùng đại từ giống đực autos thay cho danh từ trung tính tiếng Hy Lạp sperma (semen trong bản Phổ Thông). Truyền thống Do Thái vẫn tiếp tục cách chú giải đó.
Các nhà chú giải Kinh Thánh, từ Thánh Irênê trở đi (Adv. Haer. III. 23. 7) đã cho đoạn này như là một «tiền-Tin-Mừng», tức là một đoạn đã báo trước việc Chúa Giêsu Kitô đã thắng Satan. Mặc dù trong những thế kỷ gần đây, các nhà chú giải đã giải thích khác nhau về đoạn đó, và trong thời gian gần đây, có một số nhà chú giải đã đặt lại vấn đề việc chú giải theo ý nghĩa Cứu chuộc. Dù vậy, người ta đã trở lại cách chú giải Cứu chuộc như trước tuy có nhiều khía cạnh hơi khác trước. Thực vậy, các tác giả thuộc truyền thống Giavê đã thu gộp tiền sử và lịch sử của dân Israel lại với nhau và thấy rằng đỉnh cao của lịch sử Israel nằm ở trong thời đại Cứu Tinh của Vua Đavít, một thời đại đã thực hiện lời hứa của Sách Sáng Thế đoạn 3,15 (xem 2 Sm 7,12)
Tân Ước đã tỏ rõ sự hoàn thành lời hứa trong cùng viễn ảnh Cứu Chuộc đó: Đức Giêsu là Đấng Cứu Tinh, thuộc dòng Đavít (Rm 1,3 và 2 Tm 2,8), được sinh ra bởi một người nữ (Ga 4,4), Người là một Ađam-Đavít mới (1 Cr 15) sẽ nắm vương quyền «cho đến khi Thiên Chúa đặt mọi thù địch dưới chân Người» (1 Cr 15,25). Và sau cùng (Kh 12,1-10) đã cho thấy sự hoàn thành chung cuộc của lời tiên tri trong St 3,15. Dù không phải là một lời tiên tri rõ ràng và trực tiếp về Đức Giêsu, Đấng Cứu Tinh của Israel, đoạn đó cũng đưa dẫn tới Người qua truyền thống vương triều và Cứu Tinh nối liền Tân và Cựu Ước.

[2] (http://www.gpnt.net/diendan/newreply.php?do=newreply&noquote=1&p=408#_ftnref1) Ở đây, khi nói về sự tương quan giữa «kinh nghiệm» và “mặc khải”, thực ra là nói về sự hội tụ đầy ngạc nhiên của hai điều này, chúng tôi chỉ muốn nói rằng con người trong tình trạng hiện hữu trong một thân xác, trải nghiệm rất nhiều giới hạn, đau khổ, đam mê, yếu đuối và cuối cùng là chính sự chết. Nhưng đồng thời, những trải nghiệm này đã qui chiếu sự hiện hữu của con người trong thân xác về một tình trạng hoặc một chiều kích khác và dị biệt. Khi thánh Phaolô nói về «sự cứu chuộc thân xác», Người đã dùng ngôn ngữ của mặc khải. Nội dung đó, hoặc nói đúng hơn là thực tại đó, đã vuột khỏi kinh nghiệm. Đồng thời, thêm vào nội dung này như là một toàn thể, tác giả của thư Rm 8,23 đã đề cập tới tất cả những gì đã được trao tặng cho mình, và cách nào đó, cũng cho tất cả mọi người (không liên hệ tới sự tương quan với mặc khải), qua kinh nghiệm của cuộc sống nhân sinh tức là sự hiện hữu trong một thân xác.
Như thế, chúng ta có quyền nói về mối tương quan giữa kinh nghiệm và mặc khải. Quả vậy, chúng ta có quyền nêu lên vấn đề về tương quan giữa chúng, mặc dù đối với nhiều người thì có một lắn ranh phân cách giữa hai điều đó. Lằn ranh đó là một đường phản đề và tương phản triệt để. Đối với họ, lằn ranh này phải được vạch ra rõ ràng giữa đức tin và khoa học, giữa thần học và triết học. Khi đặt vấn đề như thế, họ đã chú ý nhiều tới những khái niệm trừu tượng hơn là con người, một con người như là chủ thể đang sống.

Nhóm Tâm Biển

Về Mục lục (http://gpnt.net/diendan/showthread.php?t=217)

Trần Duy Thực
17-02-2006, 05:58 AM
Xin được phép nêu ra một vài nét chính của bài này và mấy bài trước :

1) Chương thứ nhất của Sách Sáng Thế thì khách quan, chương thứ hai thì chủ quan. Nhận định như thế cũng có nghĩa là ÐGH dựa hẳn trên chương thứ hai (chủ quan, kinh nghiệm > hiện tượng luận) để triển khai thần học thân xác, tuy rằng ngài không bỏ rơi chương thứ nhất của Sách Sáng Thế.

2) Nhân vị chủ thể (personne-sujet) có ý thức về kinh nghiệm của mình. Từ đó mới hiểu dễ dàng cụm từ “đơn độc nguyên thuỷ” khi thấy mình không có “trợ tá”, khi thấy mình khác loài vật. Rồi cũng nhờ đó mà ta hiểu hơn về cụm từ “ý thức về thân xác”... (xin xem phần trả lời của bài thứ 3).

3) Vì có ý thức về kinh nghiệm nên ý nghĩa mới nảy sinh. Một định nghĩa rất quan trọng cho toàn cuốn sách “thần học về thân xác” của ĐGH: “ý nghĩa của một kinh nghiệm là tri thức chắt lọc từ một khảo sát các kinh nghiệm chất chứa trong ý thức”. Thế là ta có: ý nghĩa của sự đơn độc, ý nghĩa của nguyên tội, ý nghĩa của thân xác, ý nghĩa của tự hiến (don) trong hôn nhân, ý nghĩa của xấu hổ và tội lỗi.

TÓM LẠI:

ÐGH giải thích Mặc Khải qua kinh nghiệm chủ quan mà ta đọc trong chương thứ hai Sách Sáng Thế. Rồi từ đó mà ngài giải thích về kinh nghiệm của nhân vị chủ thể, ý thức của chủ thể. Nhờ ý thức, kinh nghiệm mà ta có thể hiểu ý nghĩa về sự đơn độc, nguyên tội, thân xác, xấu hổ, tự hiến...

Kính

Trần Duy Thực
18-02-2006, 07:09 PM
Kính thưa tất cả,
Xin được phép ghi lại đây vài ghi chú mà tôi nghĩ rằng có thể giúp hiểu rõ hơn bài viết của Đức Giáo Hoàng. Và như thế, rất mong ý kiến của quý bạn để bổ túc hoặc sửa sai giùm. Đa tạ
____

1) Chuyện kể: “Kể chuyện huyền thoại là kể một câu chuyện linh thiêng. Kể chuyện huyền thoại là kể cho nghe một biến cố đã xảy ra từ thời nguyên thuỷ, thời thuở ban đầu huyền bí…” (M. Eliade, Aspect du mythe, Gallimard, Paris 1963, tr.15). Khi kể chuyện tạo thiên lập địa, các cụ muốn khẳng định cá tính của dân tộc mình và thường tự đặt mình trong khung cảnh của thời nguyên thuỷ đó… Và cũng xin đọc liền câu sau đây của P. Ricoeur: “ Xin đừng nói rằng câu chuyện về sự sa ngã nguyên thuỷ chỉ là một huyền thoại, tức là không được như lịch sử. Nhưng xin nói rằng chuyện kể về sa ngã nguyên thuỷ có tầm vóc của một huyền thoại, tức là còn nhiều ý nghĩa hơn một câu chuyện có thực” (P. Ricoeur, Finitude et culpabilité II, Aubier-Montaigne, Paris 1960 tr. 222)

2) Thuộc truyền thống Giavít: Nhiều học giả tinh ý (Witter, Graf…) đã nhận thấy có nhiều khác biệt giữa các chương của Sáng Thế Ký. Nói một cách khác, họ nghĩ rằng các chương sách không xuất hiện cùng một lượt.. Chương đầu còn được gọi là Elohiste, bởi vì ở trong chương này Thiên Chúa được gọi là Elohim, tức là Đấng Tạo Hoá. Chương thứ hai còn được gọi là Yahviste bởi vì trong chương này Thiên Chúa được gọi là Giavê, tức là Chúa cứu chuộc. Tuy được xếp trong Sáng Thế Ký vào chương thứ hai, nhưng nhiều học giả nghĩ rằng chương thứ hai đã xuất hiện trước tiên, vào khoảng thế kỷ thứ 10 trước Công Nguyên, sau đó ta mới có chương thứ nhất.


3) Nguồn tư tế: Nhiều học giả cũng nghĩ rằng có hai nguồn tư tưởng chính trong Ngũ Thư. Một nguồn gọi là nguồn tư tế có từ thời dân Do Thái phải lưu đày ở Babylone vào thế kỷ thứ 6 trước Công Nguyên. Trước các tín ngưỡng của dân bản địa, các thầy tư tế đã cố gắng củng cố niềm tin của dân Do Thái. Nguồn thứ hai còn gọi là nguồn deuteronomiste, tức là truyền thống tác giả đệ nhị luật.


4) Thần học: tạm dịch từ chữ théologie (Théos : Thiên Chuá, Logos : lời lẽ). Có hai bối cảnh về logos. Bối cảnh Kitô giáo với Tin Mừng theo Thánh Gioan “Au commencement, était le Logos...” và bối cảnh minh triết Hy Lạp. “Kể từ Héraclite, ý niệm Logos là một khái niệm nằm ở trung tâm của nền minh triết Hy Lạp, bởi vì Logos vừa có nghĩa là Lời, ngôn từ và Lý Lẽ (...) Khi gọi Ðức Kitô là Ngôi Lời và Ngôi Con, Tin Mừng theo thánh Gioan đã cho phép nhìn Kitô giáo như là một nền minh triết. Lời của Chúa đã được xem như là Lý Lẽ sáng tạo nên vũ trụ và hướng dẫn trí khôn con người” (Pierre Hadot, Qu’est-ce que la philosophie antique?, Folio Essais, Gallimard 1995, tr. 356). Ít ra là trong những thế kỷ đầu của công nguyên, hai bối cảnh Kitô giáo và minh triết Hy Lạp đã đan xen với nhau. Cho nên, trong bối cảnh bài này, có lẽ nên hiểu théologie như là tìm về Thiên Chúa qua trung gian của Lời và Lý Lẽ.


5) Siêu hình học: dịch từ chữ métaphysique. Thực ra méta không có nghiã là “siêu” mà là “sau”, bởi vì cuốn métaphysique của Aristote được xuất bản sau cuốn Physique. Tuy thường được xem như là môn học về ý nghĩa tối hậu của con người, và do đó có nhiều đan xen giữa siêu hình học và thần học, nhưng đối tượng của siêu hình học không hoàn toàn giống như thần học.


6) Nhân loại học: dịch từ chữ anthropologie (anthros: người, logos : lời lẽ). Có lẽ nên hiểu chữ anthropologie trong bối cảnh này như là lời và lý lẽ giải thích về con người. Xin xem chữ thần học ở trên.

admin
05-08-2009, 07:29 AM
IV


SỰ LIÊN HỆ GIỮA TÌNH TRẠNG VÔ TỘI NGUYÊN THỦY VÀ TÌNH TRẠNG ĐƯỢC CỨU CHUỘC NHỜ ĐỨC KITÔ

1. Khi trả lời cho những kẻ hỏi Người về sự đơn nhất và bất khả phân ly của hôn nhân, Đức Kitô đã trưng dẫn những gì sách Sáng thế đã viết về hôn nhân. Trong hai bài suy tư trước chúng tôi đã phân tích cả hai bản văn kinh thánh được gọi là theo truyền thống ‘êlôhist’ (St 1) và theo truyền thống ‘yahvit’ (St 2). Giờ đây, chúng tôi muốn rút ra một vài kết luận từ những phân tích đó.

Khi Đức Kitô nói đến «thuở ban đầu», Người đòi những kẻ đang nói với Người phải vượt qua, theo nghĩa nào đó, ranh giới giữa tình trạng vô tội nguyên thủy và tình trạng phạm tội, khởi đi từ sự sa ngã đầu tiên mà sách Sáng thế đã ghi lại.

http://www.ubmvgiadinh.org/uploads/pictures/News/thanhocthanxac4.jpgNgười ta có thể nối kết ranh giới này với cây biết thiện biết ác như một biểu tượng. Trong bản văn truyền thống yahvit, cây này phân cách hai hoàn cảnh hoàn toàn đối nghịch nhau: hoàn cảnh vô tội nguyên thủy và hoàn cảnh tội nguyên tổ. Những hoàn cảnh này mang một chiều kích riêng nơi con người, nơi chiều sâu thẳm nhất của con người, trong nhận thức, trong lương tâm, trong lựa chọn và quyết định của con người. Tất cả những điều này đều có tương quan với Thiên Chúa Tạo Hóa, và cũng là (theo bản văn yahvit St 2 và 3) Thiên Chúa của Giao ước, một Giao ước cổ xưa nhất của Đấng Tạo Hóa với thọ tạo của Ngài, là con người. Cây biết thiện biết ác vừa diễn tả vừa là biểu tượng của Giao ước đã bị đổ vỡ trong tâm hồn con người, cây ấy phân cách và đặt đối mặt hai hoàn cảnh và hai tình trạng hoàn toàn đối nghịch nhau, đó là tình trạng trong trắng nguyên thủy và tình trạng tội nguyên tổ và đồng thời là tội riêng truyền lại từ nguyên tổ. Tuy nhiên, những lời của Đức Kitô nói viện tới «thuở ban đầu» ấy giúp chúng ta thấy nơi con người có một sự liên tục cốt yếu và một mối liên kết giữa hai tình trạng hay chiều kích khác nhau này của con người. Tình trạng tội lỗi là thành phần của «con người lịch sử», là kẻ mà chúng ta đọc thấy trong Matthêu 19 đã chất vấn Đức Kitô lúc bấy giờ, nhưng cũng là bất cứ người nào có thể sẽ hoặc đang đối thoại với Người trong mọi thời lịch sử, và do đó dĩ nhiên cũng là con người hiện nay. Nhưng tình trạng này – tình trạng “lịch sử” đúng nghĩa – nơi mỗi người không trừ ai, bén rễ sâu vào trong “thời tiền sử” thần học, tức là tình trạng vô tội nguyên thủy.

Vấn đề ở đây không chỉ là lối biện chứng. Qui luật của nhận thức tương ứng với qui luật của hữu thể. Không hiểu được tinh trạng tội lỗi “lịch sử” nếu không qui chiếu hay viện đến (và quả thật Đức Kitô đã viện dẫn điều ấy) tình trạng nguyên thủy (theo một nghĩa nào đó, là “tiền lịch sử”) và nguyên tuyền cơ bản. Bởi thế, ngay từ ban đầu, sự kiện tội lỗi xuất hiện như một tình trạng, một chiều kích của cuộc nhân sinh có liên hệ tới tình trạng nguyên tuyền thực sự của con người xét như là tình trạng nguyên thủy và nền tảng, như là một chiều kích của việc (con người) được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa. Điều này không chỉ ứng nghiệm cho con người đầu tiên, là người nam và người nữ, những vai diễn của vở kịch và là những nhân vật chính của các sự kiện được mô tả trong bản văn thuộc truyền thống yahvit của chương 2 và 3 sách Sáng thế, mà còn cho cả toàn bộ tiến trình lịch sử của cuộc nhân sinh. Bởi thế, có thể nói, con người lịch sử bám rễ sâu vào trong cái tiền sử thần học đã được mạc khải của mình[1] (http://www.ubmvgiadinh.org/?open=contents&display=2&id=386#_ftn1), và do đó, mỗi một điểm của tình trạng tội lỗi lịch sử của mình được giải thích (cho linh hồn cũng như cho thể xác) với sự qui chiếu đến tình trạng vô tội nguyên thủy. Người ta có thể nói rằng việc qui chiếu này là sự “đồng thừa kế” về tội và về cả nguyên tội nữa. Nếu tội này có nghĩa, nơi mỗi con người lịch sử, là một tình trạng đánh mất ân sủng, thì đồng thời nó cũng bao hàm một sự qui chiếu đến ân sủng ấy, là chính ân sủng của tình trạng vô tội nguyên thủy.

2. Trong chương 19 Tin mừng theo thánh Matthêu, khi Đức Kitô nhắc đến «thuở ban đầu», Người không chỉ dùng thành ngữ ấy để chỉ tình trạng vô tội nguyên thủy như một chân trời mà cuộc nhân sinh trong lịch sử đã đánh mất. Đồng thời, chúng ta có quyền coi những lời từ chính miệng Người thốt ra đó thâu tóm toàn thể lí lẽ của mầu nhiệm cứu chuộc. Thật vậy, như chúng ta đã thấy cũng trong các bản văn yahvit St 2 và 3, sau khi con người, nam cũng như nữ, phá vỡ Giao ước nguyên thủy với Đấng Tạo Hóa của mình, đã nhận được lời hứa cứu chuộc đầu tiên. Lời hứa này được ghi trong St 3,15 [1] và được gọi là Tiền Tin mừng. Từ đó, con người bắt đầu sống trong viễn tượng cứu chuộc. Như thế, con người “lịch sử” – kẻ mà Mt 19 nói tới đang tra vấn Đức Giêsu thời ấy, cũng như con người thời nay – được tham gia vào viễn tượng này. Không chỉ tham gia vào lịch sử tội lỗi nhân thế, trong tư cách như là chủ thể thừa kế đồng thời là chủ thể cá vị độc nhất của lịch sử này, con người lịch sử còn tham gia vào lịch sử cứu độ nữa, với tư cách là chủ thể và là người đồng sáng tạo nên lịch sử ấy. Vì vậy, con người không chỉ bị khép lại trước tình trạng vô tội nguyên thủy do tội lỗi mình, nhưng đồng thời lại được khai mở lối vào mầu nhiệm cứu chuộc được hoàn thành trong Đức Kitô và nhờ Đức Kitô. Thánh Phaolô, tác giả của thư gửi tín hữu Rôma, đã diễn tả viễn ảnh cứu chuộc ấy trong đó con người “lịch sử” đang sống, ngài viết: «…cả chúng ta cũng rên xiết trong lòng: chúng ta đã lãnh nhận Thần Khí như ân huệ mở đầu, nhưng còn trông đợi Thiên Chúa … cứu chuộc thân xác chúng ta nữa» (Rm 8,23). Chúng ta đừng quên viễn ảnh đó khi chúng ta đang theo sát lời Đức Kitô viện tới «thuở ban đầu» khi Người nói về sự bất khả phân li của hôn nhân. Nếu «thuở ban đầu» ấy chỉ dùng để nói về cuộc sáng tạo con người «là người nam và người nữ», nếu – như chúng ta đã nói – thành ngữ ấy chỉ đưa những người đối thoại vượt biên giới giữa tình trạng tội lỗi của con người và tình trạng vô tội nguyên thủy, mà không đồng thời mở rộng đến viễn tượng «cứu chuộc thân xác», thì người ta sẽ không hiểu đúng câu trả lời của Đức Kitô. Chính viễn ảnh cứu chuộc thân xác này bảo đảm sự liên tục và thống nhất giữa tình trạng kế thừa tội lỗi và tình trạng vô tội nguyên thủy của con người, mặc dù về mặt lịch sử tình trạng vô tội này đã bị đánh mất không thể cứu vãn được. Và cũng hiển nhiên Đức Kitô có toàn quyền trả lời câu hỏi của các tiến sĩ Luật-Giao ước (x. Mt 19 và Mc 10) trong viễn tượng cứu chuộc, nền tảng của Giao ước.

3. Nếu như trong bối cảnh thần học về con người-thân xác đã được phác họa cơ bản như trên chúng ta nghĩ đến phương pháp phân tích xa hơn nữa về mạc khải của cái «thuở ban đầu», trong đó một cách thiết yếu các chương đầu của sách Sáng thế phải được tham chiếu đến, ngay lập tức chúng ta phải lưu ý đến một nhân tố đặc biệt quan trọng đối với giải thích thần học: nó quan trọng vì liên hệ đến mối tương quan giữa mạc khải và kinh nghiệm. Khi giải thích mạc khải về con người, nhất là về thân xác, vì những lí do dễ hiểu, chúng ta phải căn cứ trên kinh nghiệm, bởi vì chủ yếu nhờ kinh nghiệm mà chúng ta nhận biết con người-thân xác. Được soi sáng bởi những nhận định nền tảng đó chúng ta hoàn toàn có quyền xác quyết rằng cái kinh nghiệm “lịch sử” này của chúng ta, một cách nào đó, phải dừng lại trước ngưỡng cửa của sự vô tội nguyên thủy của con người, bởi vì về sự ngây thơ nguyên thủy thì kinh nghiệm con người không còn tương thích nữa. Tuy nhiên, nhờ ánh sáng của những nhận định sơ khởi trên, chúng ta phải đi đến xác quyết rằng kinh nghiệm của con người, trong trường hợp này, là một phương tiện hợp pháp tới mức nào đó để giải thích thần học, và là một điểm tham chiếu không thể thiếu được cần phải nhớ đến khi giải thích «thuở ban đầu». Phân tích bản văn chi tiết chúng ta sẽ thấy rõ ràng hơn.

Xem ra những lời trong thư gởi tín hữu Rôma nói trên giúp cho hướng nghiên cứu của chúng ta được tập trung tốt hơn vào mạc khải của «thuở ban đầu» là điều mà Đức Kitô đã căn cứ khi nói về sự bất khả phân li của hôn nhân (Mt 19 và Mc 10). Tất cả những phân tích tiếp theo trên cơ sở các chương đầu của sách Sáng thế gần như tất yếu sẽ phản ánh sự thật lời của thánh Phaolô: «Cả chúng ta cũng rên siết trong lòng: chúng ta đã lãnh nhận Thần Khí như ân huệ mở đầu, nhưng còn trông đợi Thiên Chúa … cứu chuộc thân xác chúng ta nữa». Nếu chúng ta tự đặt mình vào vị thế đó – phù hợp rất sâu xa với kinh nghiệm [2] – «thuở ban đầu» hẳn sẽ nói cho chúng ta bao nhiêu điều ngập tràn trong ánh sáng mạc khải, điều mà thần học trước hết muốn trả lời cho chúng ta. Những phân tích sau đây sẽ giải thích cho chúng ta hiểu tại sao thần học này phải là thần học về thân xác và nó được hiểu theo nghĩa nào.

[1] Bản dịch Cựu ước bằng tiếng Hy lạp, tức là bản Bảy Mươi, khoảng thế kỉ thứ II trước Công nguyên, đã giải thích đoạn St 3,15 theo nghĩa hướng đến Đấng Cứu Thế (Messiah) bằng cách dùng đại từ giống đực autòs thay cho danh từ sperma giống trung tiếng Hy lạp (tương đương với từ semen trong bản La tinh Vulgatha). Truyền thống Do thái vẫn tiếp tục cách giải thích đó.
Khoa chú giải kitô giáo, bắt đầu từ thánh Irênê (Adv. Haer. III, 23, 7) trở về sau xem đoạn văn này như «tiền-Tin-mừng » (Protoevangelo) loan báo trước Chúa Giêsu Kitô sẽ thắng Satan. Vài thế kỉ gần đây các học giả kinh thánh đã giải thích đoạn này cách khác nhau, và một số đã đặt vấn đề hoài nghi lối chú giải theo nghĩa hướng đến Đấng Cứu Thế. Nhưng thời gian gần đây, người ta trở lại đoạn văn đó dưới một khía cạnh hơi khác. Tác giả thuộc truyền thống Yahvit nối kết tiền lịch sử với lịch sử của Israel, một lịch sử với đỉnh cao là triều đại vua messiah Đavit, là triều đại sẽ thực hiện lời hứa của St 3,15 (x. 2Sm 7,12).
Tân ước đã minh họa sự thực hiện lời hứa đó cũng trong một viễn tượng messiah: Đức Giêsu là Đấng Messiah, dòng dõi vua Đavit (Rm 1,3; 2Tm 2,8), sinh ra làm con một người phụ nữ (Gl 4,4), là Ađam-Đavit mới (1Cr 15), đấng phải trị vì «cho đến khi Thiên Chúa đặt mọi thù địch dưới chân Người» (1Cr 15,25). Và sau cùng, Kh 12,1-10 đã cho thấy sự hoàn tất chung cuộc của lời tiên tri trong St 3,15. Dù không phải là một lời loan báo rõ ràng và trực tiếp về Đức Giêsu, như là Đấng Messiah của Israel, nhưng đoạn đó cũng dẫn tới Người qua truyền thống hoàng vương và messiah nối liền Cựu và Tân ước.

[2] Ở đây, khi nói về sự tương quan giữa “kinh nghiệm” và “mạc khải”, đúng hơn nói về sự đồng qui kì lạ của hai điều này, chúng tôi chỉ muốn nói lên rằng con người trong tình trạng hiện hữu trong thân xác như hiện tại trải nghiệm rất nhiều giới hạn, đau khổ, đam mê, yếu đuối và cuối cùng là chính cái chết, nhưng đồng thời những trải nghiệm này cũng hướng hiện hữu nơi thân xác ấy của con người đến một tình trạng hay một chiều kích khác biệt. Khi thánh Phaolô viết về «sự cứu chuộc thân xác», ngài đã dùng ngôn ngữ mạc khải; quả thực kinh nghiệm không thể nắm bắt được nội dung hay, đúng hơn, thực tại ấy. Đồng thời, trong toàn thể nội dung này, tác giả của Rm 8,23 đã đề cập tới tất cả những gì đã được ban tặng cho mình cũng như, theo một cách nào đó, cho mọi người (không liên hệ tới mạc khải) qua kinh nghiệm cuộc sống con người, vốn là một đời sống nơi thân xác.

Bởi thế, chúng ta có quyền nói về tương quan giữa kinh nghiệm và mạc khải, đúng hơn, chúng ta có quyền đặt vấn đề về tương quan giữa chúng, cho dẫu đối với nhiều người, giữa hai điều đó có đường ranh giới phân cách hai bên hoàn toàn tương phản, hoàn toàn trái ngược nhau. Đối với họ, lằn ranh này hẳn phải được vạch ra giữa đức tin và khoa học, giữa thần học và triết học. Khi tạo cho mình một quan điểm như thế, họ chú ý nhiều tới những ý niệm trừu tượng hơn là con người xét như là một chủ thể đang sống.

Louis Nguyễn Anh Tuấn
http://www.ubmvgiadinh.org/?open=contents&display=2&id=386 (http://www.ubmvgiadinh.org/?open=contents&display=2&id=386)