admin
16-02-2006, 06:17 PM
Thứ Tư, 26/09/1979
4. Ranh giới giữa tình trạng trong trắng nguyên thuỷ và sự cứu chuộc
Khi trả lời cho những kẻ hỏi Người về tính đơn nhất và bất khả phân ly của hôn nhân, Đức Kitô đã trưng dẫn những gì Sách Sáng Thế đã viết về hôn nhân. Trong hai bài suy niệm trước đây, chúng ta đã phân tích cả hai đoạn Kinh Thánh được gọi là do truyền thống Êlôhim (St 1) và do truyền thống Giavê (St 2). Giờ đây, chúng ta muốn rút ra một vài kết luận từ những phân tách đó.
Khi Đức Kitô trưng dẫn «thuở ban đầu», Người đòi hỏi những kẻ đang chất vấn Ngài, về một phương diện nào đó, phải vượt quá lằn ranh phân cách giữa tình trạng trong trắng nguyên thuỷ và tình trạng nhiễm tội khi sa ngã lần đầu mà Sách Sáng Thế đã ghi lại.
Như là một biểu tượng, lằn ranh này có thể được liên hệ với với cây biết điều thiện và điều ác. Trong bản văn thuộc truyền thống Giavê, cây này phân cách hai tình trạng hoàn toàn đối nghịch nhau: tình trạng trong trắng nguyên thủy và tình trạng nguyên tội. Hai tình trạng này mang chiều kích đặc thù của con người, trong nơi sâu thẳm nhất của chính mình, trong tri thức, trong lương tâm, trong những lựa chọn và quyết định của mình. Tất cả những điều này đều có tương quan với Thiên Chúa Tạo Hoá, Đấng mà theo bản văn thuộc truyền thống Giavê (St 2 và 3) nói rằng, Người cũng là Thiên Chúa của giao ước, một giao ước xa xưa nhất giữa Đấng Tạo Hoá và loài thụ-tạo-con-người.
Vì là một biểu biểu đạt và biểu tượng của giao ước với Thiên Chúa đã bị phá vỡ trong trong tâm khảm con người, cây biết điều thiện và điều ác phân cách và nêu bật sự tương phản giữa hai trạng huống và tình thái đối ngược nhau: tình trạng trong trắng nguyên thủy đối với tình thái nguyên tội, và cùng lúc, tình trạng trong trắng nguyên thủy đối với tình thái truyền nhiễm tội của con người hệ luỵ từ nguyên tội. Tuy nhiên, những phát biểu của Đức Kitô, viện dẫn đến «thuở ban đầu», giúp chúng ta thấy nơi con người có một sự kế tục tất yếu và một mối liên hệ giữa hai tình trạng hoặc hai chiều kích khác nhau này của con người.
Tình thái nhiễm tội này gắn liền với “con người lịch sử”. Con người lịch sử này là con người được nhắc đến trong Mt 19, tức là kẻ đang chất vấn Đức Kitô vào thời điểm ấy, và cũng là bất kỳ ai có thể sẽ hoặc đang thực sự chất vấn Người vào bất cứ thời điểm nào của lịch sử. Và như vậy lẽ tất nhiên con người lịch sử đó cũng là con người đương đại. Tuy nhiên tình thái nhiễm tội này - tình thái “lịch sử” này -, nơi mỗi một người không trừ ai, đâm rễ sâu vào ‘thời tiền sử’ thần học của con người, tức là tình trạng trong trắng nguyên thủy.
Đây không phải là lối lập luận thuần biện chứng. Các quy luật tri thức đều tương ứng với các quy luật hiện sinh. Không thể hiểu được tình thái nhiễm tội “lịch sử” nếu không quy chiếu hoặc viện dẫn (mà Đức Kitô đã viện dẫn) đến tình trạng trong trắng nền tảng và nguyên thuỷ (về một mặt nào đó nguyên thuỷ cũng là “tiền sử”). Vì thế, ngay từ ban đầu, sự xuất hiện của sự nhiễm tội với tư cách là một tình thái, một chiều kích của nhân sinh, đã có mối tương quan với tình trạng trong trắng thực thụ của con người, là trạng thái nguyên thuỷ và nền tảng của con người, một chiều kích của việc con người được dựng nên theo hình ảnh Thiên Chúa.
Điều này không chỉ xảy ra cho con người đầu tiên, nam và nữ, là những vai diễn của vở kịch và là những nhân vật chính của các sự kiện được bản văn thuộc truyền thống Giavê thuật lại trong chương 2 và 3 Sách Sáng Thế, mà còn xảy ra cho cả toàn bộ quá trình lịch sử của nhân sinh. Có thể nói, con người lịch sử bám rễ sâu vào cái tiền sử thần học đã được mạc khải của mình. Như vậy có thể quy chiếu về tình trạng trong trắng nguyên thuỷ để giải thích mọi góc độ của tình thái nhiễm tội lịch sử của con người (cả về phương diện linh hồn lẫn thân xác). Có thể nói rằng việc quy chiếu này là “đồng thừa kế” của tội (nói chung), và (đương nhiên) cả nguyên tội nữa. Nếu ở mỗi con người lịch sử, tội có nghĩa là tình trạng đánh mất ân sủng, thì đồng thời tội cũng quy chiếu về tình trạng ân sủng, tức là tình trạng ân sủng của trạng thái trong trắng nguyên thuỷ.
Trong chương 19 Tin Mừng theo thánh Mátthêu, khi Đức Kitô nhắc đến «thuở ban đầu», Người không đơn giản dùng cụm từ này để chỉ tình trạng trong trắng nguyên thuỷ như là một cõi nhân sinh đã biệt tăm trong lịch sử. Ta có quyền coi những lời đó từ chính miệng Người thốt ra như là thâu tóm mọi giải thích hùng hồn về mầu nhiệm Cứu Chuộc. Như chúng ta đã thấy trong các bản văn truyền thống Giavê nơi chương 2 và 3 Sách Sáng Thế, ngay sau khi phá vỡ giao ước ban đầu với Đấng Tạo Hoá, thì con người, nam và nữ đã nhận được lời hứa cứu chuộc đầu tiên. Lời hứa này được ghi trong sách Sáng Thế 3,15 [1] (http://www.gpnt.net/diendan/newthread.php?do=newthread&f=28#_ftn1) được gọi là Tiền-Tin-Mừng. Và từ đó, con người bắt đầu sống trong viễn cảnh thần học của sự cứu chuộc.
Do đó, cũng giống như thế, con người lịch sử – là kẻ đang tra vấn Đức Kitô lúc ấy, như được thuật lại trong Mt 19, cũng như con người thời nay – được tham gia vào viễn cảnh này. Không chỉ tham gia vào lịch sử của tình thái nhiễm tội với tư cách vừa là một chủ thể thừa kế vừa là một cá thể độc nhất của lịch sử này, con người lịch sử còn tham gia vào lịch sử cứu chuộc nữa, với tư cách vừa là đối tượng (được cứu chuộc) lại vừa góp phần cứu chuộc. Vì vậy, con người lịch sử không chỉ bị khép lại đối với tình trạng trong trắng nguyên thuỷ do tội lỗi của mình, nhưng đồng thời lại được khai mở lối vào mầu nhiệm cứu chuộc được hoàn thành trong Đức Kitô và nhờ Đức Kitô.
Trong thơ gởi tín hữu Rôma, thánh Phaolô diễn tả viễn cảnh cứu chuộc mà con người lịch sử đang sống bằng câu: «… Cả chúng ta cũng rên siết trong lòng: chúng ta đã lãnh nhận Thần Khí như ân huệ mở đầu, nhưng còn trông đợi Thiên Chúa … cứu chuộc thân xác chúng ta nữa» (Rm 8,23). Chúng ta đừng quên viễn cảnh đó khi chúng ta đang bám sát lời Đức Kitô trưng dẫn «thuở ban đầu» để nói về tính bất khả phân ly của hôn nhân.
Nếu «thuở ban đầu» chỉ dùng để nói đến cuộc sáng tạo con người «có nam có nữ» và -như chúng ta đã nói- nếu cụm từ thuở ban đầu này chỉ dẫn đưa người đang chất vấn vượt qua lằn ranh của tình trạng tội lỗi để tới sự trong trắng nguyên thuỷ, nhưng không mở rộng viễn ảnh của cuộc «cứu chuộc thân xác», thì chúng ta đã hoàn toàn hiểu sai câu trả lời của Đức Kitô. Viễn ảnh cứu chuộc thân xác đó đã bảo chứng cho sự liên tục và sự nhất thống của tình trạng kế thừa tội lỗi và sự trong trắng nguyên thuỷ, mặc dù trên bình diện lịch sử, con người đã đánh mất sự trong trắng ấy mà không cách cứu gỡ. Mặt khác, thật là quá rõ ràng khi Đức Kitô hoàn toàn có quyền trả lời câu hỏi, mà các tiến sĩ về luật và về giao ước đã hỏi Người (x. Mt 19 và Mc 10), trong viễn ảnh cứu chuộc, một viễn ảnh nền tảng cho giao ước.
Trong bối cảnh thần học về con người mang thân xác đã được phác hoạ một cách cơ bản như trên, chúng ta có thể nghĩ đến phương pháp phân tích sâu xa hơn về mặc khải của «thuở ban đầu», trong phương pháp đó nhất thiết phải quy chiếu đến những chương đầu của Sách Sáng Thế. Chúng ta phải chú ý ngay tới một yếu tố rất quan trọng cho môn giải thích thần học, vì yếu tố quan trọng đó nằm ở mối tương quan giữa mặc khải và kinh nghiệm.[2] (http://www.gpnt.net/diendan/#_ftn1)
Khi giải thích mặc khải về con người, nhất là về thân xác, vì những lý do dễ hiểu, chúng ta phải căn cứ trên kinh nghiệm, bởi vì chủ yếu là nhờ kinh nghiệm mà chúng ta cảm nghiệm được con-người-có-thân-xác. Được soi sáng do những nhận định nền tảng đó, chúng ta có toàn quyền xác quyết rằng cái kinh nghiệm «lịch sử» này của chúng ta, một cách nào đó, có lẽ phải dừng lại trước ngưỡng cửa của sự trong trắng nguyên thuỷ của con người, bởi vì khi nói về sự trong trắng nguyên thuỷ thì kinh nghiệm con người không còn tương thích nữa. Tuy nhiên, nhờ ánh sáng của những nhận định trên, chúng ta phải đi đến xác quyết rằng kinh nghiệm của con người, trong trường hợp này, ở một mức độ nào đó là một phương tiện hợp lý để có được những giải thích thần học. Và có thể nói kinh nghiệm đó cũng là một điểm quy chiếu không thể thiếu được và cần phải khắc ghi trong tâm trí khi giải thích “thuở ban đầu”. Chúng ta sẽ phân tích chi tiết bản văn để có thể thấy rõ ràng hơn.
Dường như những lời trong thư gởi tín hữu Rôma 8,23 nói trên giúp cho hướng nghiên cứu của chúng ta được tập trung một cách tốt nhất vào mặc khải của «thuở ban đầu» mà Đức Kitô đã căn cứ để nói về sự bất khả phân ly của hôn nhân (Mt 19 và Mc 10). Tất cả những phân tích sau này về các chương đầu Sách Sáng Thế hầu như nhất thiết phải phản ánh được chân lý của lời Thánh Phaolô: «… Cả chúng ta cũng rên siết trong lòng: chúng ta đã lãnh nhận Thần Khí như ân huệ mở đầu, nhưng còn trông đợi Thiên Chúa … cứu chuộc thân xác chúng ta nữa». Nếu chúng ta tự đặt mình vào tình huống đó - hoàn toàn dìm mình sâu vào trong kinh nghiệm - thì «thuở ban đầu» chắc sẽ nói cho chúng ta với một luồng sáng ngập tràn đến từ mặc khải mà thần học muốn giải thích trước tiên. Nếu chúng ta tiếp tục phân tích, chúng ta sẽ hiểu tại sao và theo nghĩa nào việc này lại là thần học về thân xác.
http://gpnt.net/images/arrow_dyn.gif
-----
[1] (http://www.gpnt.net/diendan/newthread.php?do=newthread&f=28#_ftnref1) Bản dịch Cựu Ước bằng tiếng Hy Lạp, bản Bảy Mươi, đã có vào khoảng thế kỷ thứ 2 sau Chúa Giáng Sinh, đã giải thích Sách Sáng Thế 3,15 với ý nghĩa Cứu chuộc bằng cách dùng đại từ giống đực autos thay cho danh từ trung tính tiếng Hy Lạp sperma (semen trong bản Phổ Thông). Truyền thống Do Thái vẫn tiếp tục cách chú giải đó.
Các nhà chú giải Kinh Thánh, từ Thánh Irênê trở đi (Adv. Haer. III. 23. 7) đã cho đoạn này như là một «tiền-Tin-Mừng», tức là một đoạn đã báo trước việc Chúa Giêsu Kitô đã thắng Satan. Mặc dù trong những thế kỷ gần đây, các nhà chú giải đã giải thích khác nhau về đoạn đó, và trong thời gian gần đây, có một số nhà chú giải đã đặt lại vấn đề việc chú giải theo ý nghĩa Cứu chuộc. Dù vậy, người ta đã trở lại cách chú giải Cứu chuộc như trước tuy có nhiều khía cạnh hơi khác trước. Thực vậy, các tác giả thuộc truyền thống Giavê đã thu gộp tiền sử và lịch sử của dân Israel lại với nhau và thấy rằng đỉnh cao của lịch sử Israel nằm ở trong thời đại Cứu Tinh của Vua Đavít, một thời đại đã thực hiện lời hứa của Sách Sáng Thế đoạn 3,15 (xem 2 Sm 7,12)
Tân Ước đã tỏ rõ sự hoàn thành lời hứa trong cùng viễn ảnh Cứu Chuộc đó: Đức Giêsu là Đấng Cứu Tinh, thuộc dòng Đavít (Rm 1,3 và 2 Tm 2,8), được sinh ra bởi một người nữ (Ga 4,4), Người là một Ađam-Đavít mới (1 Cr 15) sẽ nắm vương quyền «cho đến khi Thiên Chúa đặt mọi thù địch dưới chân Người» (1 Cr 15,25). Và sau cùng (Kh 12,1-10) đã cho thấy sự hoàn thành chung cuộc của lời tiên tri trong St 3,15. Dù không phải là một lời tiên tri rõ ràng và trực tiếp về Đức Giêsu, Đấng Cứu Tinh của Israel, đoạn đó cũng đưa dẫn tới Người qua truyền thống vương triều và Cứu Tinh nối liền Tân và Cựu Ước.
[2] (http://www.gpnt.net/diendan/newreply.php?do=newreply&noquote=1&p=408#_ftnref1) Ở đây, khi nói về sự tương quan giữa «kinh nghiệm» và “mặc khải”, thực ra là nói về sự hội tụ đầy ngạc nhiên của hai điều này, chúng tôi chỉ muốn nói rằng con người trong tình trạng hiện hữu trong một thân xác, trải nghiệm rất nhiều giới hạn, đau khổ, đam mê, yếu đuối và cuối cùng là chính sự chết. Nhưng đồng thời, những trải nghiệm này đã qui chiếu sự hiện hữu của con người trong thân xác về một tình trạng hoặc một chiều kích khác và dị biệt. Khi thánh Phaolô nói về «sự cứu chuộc thân xác», Người đã dùng ngôn ngữ của mặc khải. Nội dung đó, hoặc nói đúng hơn là thực tại đó, đã vuột khỏi kinh nghiệm. Đồng thời, thêm vào nội dung này như là một toàn thể, tác giả của thư Rm 8,23 đã đề cập tới tất cả những gì đã được trao tặng cho mình, và cách nào đó, cũng cho tất cả mọi người (không liên hệ tới sự tương quan với mặc khải), qua kinh nghiệm của cuộc sống nhân sinh tức là sự hiện hữu trong một thân xác.
Như thế, chúng ta có quyền nói về mối tương quan giữa kinh nghiệm và mặc khải. Quả vậy, chúng ta có quyền nêu lên vấn đề về tương quan giữa chúng, mặc dù đối với nhiều người thì có một lắn ranh phân cách giữa hai điều đó. Lằn ranh đó là một đường phản đề và tương phản triệt để. Đối với họ, lằn ranh này phải được vạch ra rõ ràng giữa đức tin và khoa học, giữa thần học và triết học. Khi đặt vấn đề như thế, họ đã chú ý nhiều tới những khái niệm trừu tượng hơn là con người, một con người như là chủ thể đang sống.
Nhóm Tâm Biển
Về Mục lục (http://gpnt.net/diendan/showthread.php?t=217)
4. Ranh giới giữa tình trạng trong trắng nguyên thuỷ và sự cứu chuộc
Khi trả lời cho những kẻ hỏi Người về tính đơn nhất và bất khả phân ly của hôn nhân, Đức Kitô đã trưng dẫn những gì Sách Sáng Thế đã viết về hôn nhân. Trong hai bài suy niệm trước đây, chúng ta đã phân tích cả hai đoạn Kinh Thánh được gọi là do truyền thống Êlôhim (St 1) và do truyền thống Giavê (St 2). Giờ đây, chúng ta muốn rút ra một vài kết luận từ những phân tách đó.
Khi Đức Kitô trưng dẫn «thuở ban đầu», Người đòi hỏi những kẻ đang chất vấn Ngài, về một phương diện nào đó, phải vượt quá lằn ranh phân cách giữa tình trạng trong trắng nguyên thuỷ và tình trạng nhiễm tội khi sa ngã lần đầu mà Sách Sáng Thế đã ghi lại.
Như là một biểu tượng, lằn ranh này có thể được liên hệ với với cây biết điều thiện và điều ác. Trong bản văn thuộc truyền thống Giavê, cây này phân cách hai tình trạng hoàn toàn đối nghịch nhau: tình trạng trong trắng nguyên thủy và tình trạng nguyên tội. Hai tình trạng này mang chiều kích đặc thù của con người, trong nơi sâu thẳm nhất của chính mình, trong tri thức, trong lương tâm, trong những lựa chọn và quyết định của mình. Tất cả những điều này đều có tương quan với Thiên Chúa Tạo Hoá, Đấng mà theo bản văn thuộc truyền thống Giavê (St 2 và 3) nói rằng, Người cũng là Thiên Chúa của giao ước, một giao ước xa xưa nhất giữa Đấng Tạo Hoá và loài thụ-tạo-con-người.
Vì là một biểu biểu đạt và biểu tượng của giao ước với Thiên Chúa đã bị phá vỡ trong trong tâm khảm con người, cây biết điều thiện và điều ác phân cách và nêu bật sự tương phản giữa hai trạng huống và tình thái đối ngược nhau: tình trạng trong trắng nguyên thủy đối với tình thái nguyên tội, và cùng lúc, tình trạng trong trắng nguyên thủy đối với tình thái truyền nhiễm tội của con người hệ luỵ từ nguyên tội. Tuy nhiên, những phát biểu của Đức Kitô, viện dẫn đến «thuở ban đầu», giúp chúng ta thấy nơi con người có một sự kế tục tất yếu và một mối liên hệ giữa hai tình trạng hoặc hai chiều kích khác nhau này của con người.
Tình thái nhiễm tội này gắn liền với “con người lịch sử”. Con người lịch sử này là con người được nhắc đến trong Mt 19, tức là kẻ đang chất vấn Đức Kitô vào thời điểm ấy, và cũng là bất kỳ ai có thể sẽ hoặc đang thực sự chất vấn Người vào bất cứ thời điểm nào của lịch sử. Và như vậy lẽ tất nhiên con người lịch sử đó cũng là con người đương đại. Tuy nhiên tình thái nhiễm tội này - tình thái “lịch sử” này -, nơi mỗi một người không trừ ai, đâm rễ sâu vào ‘thời tiền sử’ thần học của con người, tức là tình trạng trong trắng nguyên thủy.
Đây không phải là lối lập luận thuần biện chứng. Các quy luật tri thức đều tương ứng với các quy luật hiện sinh. Không thể hiểu được tình thái nhiễm tội “lịch sử” nếu không quy chiếu hoặc viện dẫn (mà Đức Kitô đã viện dẫn) đến tình trạng trong trắng nền tảng và nguyên thuỷ (về một mặt nào đó nguyên thuỷ cũng là “tiền sử”). Vì thế, ngay từ ban đầu, sự xuất hiện của sự nhiễm tội với tư cách là một tình thái, một chiều kích của nhân sinh, đã có mối tương quan với tình trạng trong trắng thực thụ của con người, là trạng thái nguyên thuỷ và nền tảng của con người, một chiều kích của việc con người được dựng nên theo hình ảnh Thiên Chúa.
Điều này không chỉ xảy ra cho con người đầu tiên, nam và nữ, là những vai diễn của vở kịch và là những nhân vật chính của các sự kiện được bản văn thuộc truyền thống Giavê thuật lại trong chương 2 và 3 Sách Sáng Thế, mà còn xảy ra cho cả toàn bộ quá trình lịch sử của nhân sinh. Có thể nói, con người lịch sử bám rễ sâu vào cái tiền sử thần học đã được mạc khải của mình. Như vậy có thể quy chiếu về tình trạng trong trắng nguyên thuỷ để giải thích mọi góc độ của tình thái nhiễm tội lịch sử của con người (cả về phương diện linh hồn lẫn thân xác). Có thể nói rằng việc quy chiếu này là “đồng thừa kế” của tội (nói chung), và (đương nhiên) cả nguyên tội nữa. Nếu ở mỗi con người lịch sử, tội có nghĩa là tình trạng đánh mất ân sủng, thì đồng thời tội cũng quy chiếu về tình trạng ân sủng, tức là tình trạng ân sủng của trạng thái trong trắng nguyên thuỷ.
Trong chương 19 Tin Mừng theo thánh Mátthêu, khi Đức Kitô nhắc đến «thuở ban đầu», Người không đơn giản dùng cụm từ này để chỉ tình trạng trong trắng nguyên thuỷ như là một cõi nhân sinh đã biệt tăm trong lịch sử. Ta có quyền coi những lời đó từ chính miệng Người thốt ra như là thâu tóm mọi giải thích hùng hồn về mầu nhiệm Cứu Chuộc. Như chúng ta đã thấy trong các bản văn truyền thống Giavê nơi chương 2 và 3 Sách Sáng Thế, ngay sau khi phá vỡ giao ước ban đầu với Đấng Tạo Hoá, thì con người, nam và nữ đã nhận được lời hứa cứu chuộc đầu tiên. Lời hứa này được ghi trong sách Sáng Thế 3,15 [1] (http://www.gpnt.net/diendan/newthread.php?do=newthread&f=28#_ftn1) được gọi là Tiền-Tin-Mừng. Và từ đó, con người bắt đầu sống trong viễn cảnh thần học của sự cứu chuộc.
Do đó, cũng giống như thế, con người lịch sử – là kẻ đang tra vấn Đức Kitô lúc ấy, như được thuật lại trong Mt 19, cũng như con người thời nay – được tham gia vào viễn cảnh này. Không chỉ tham gia vào lịch sử của tình thái nhiễm tội với tư cách vừa là một chủ thể thừa kế vừa là một cá thể độc nhất của lịch sử này, con người lịch sử còn tham gia vào lịch sử cứu chuộc nữa, với tư cách vừa là đối tượng (được cứu chuộc) lại vừa góp phần cứu chuộc. Vì vậy, con người lịch sử không chỉ bị khép lại đối với tình trạng trong trắng nguyên thuỷ do tội lỗi của mình, nhưng đồng thời lại được khai mở lối vào mầu nhiệm cứu chuộc được hoàn thành trong Đức Kitô và nhờ Đức Kitô.
Trong thơ gởi tín hữu Rôma, thánh Phaolô diễn tả viễn cảnh cứu chuộc mà con người lịch sử đang sống bằng câu: «… Cả chúng ta cũng rên siết trong lòng: chúng ta đã lãnh nhận Thần Khí như ân huệ mở đầu, nhưng còn trông đợi Thiên Chúa … cứu chuộc thân xác chúng ta nữa» (Rm 8,23). Chúng ta đừng quên viễn cảnh đó khi chúng ta đang bám sát lời Đức Kitô trưng dẫn «thuở ban đầu» để nói về tính bất khả phân ly của hôn nhân.
Nếu «thuở ban đầu» chỉ dùng để nói đến cuộc sáng tạo con người «có nam có nữ» và -như chúng ta đã nói- nếu cụm từ thuở ban đầu này chỉ dẫn đưa người đang chất vấn vượt qua lằn ranh của tình trạng tội lỗi để tới sự trong trắng nguyên thuỷ, nhưng không mở rộng viễn ảnh của cuộc «cứu chuộc thân xác», thì chúng ta đã hoàn toàn hiểu sai câu trả lời của Đức Kitô. Viễn ảnh cứu chuộc thân xác đó đã bảo chứng cho sự liên tục và sự nhất thống của tình trạng kế thừa tội lỗi và sự trong trắng nguyên thuỷ, mặc dù trên bình diện lịch sử, con người đã đánh mất sự trong trắng ấy mà không cách cứu gỡ. Mặt khác, thật là quá rõ ràng khi Đức Kitô hoàn toàn có quyền trả lời câu hỏi, mà các tiến sĩ về luật và về giao ước đã hỏi Người (x. Mt 19 và Mc 10), trong viễn ảnh cứu chuộc, một viễn ảnh nền tảng cho giao ước.
Trong bối cảnh thần học về con người mang thân xác đã được phác hoạ một cách cơ bản như trên, chúng ta có thể nghĩ đến phương pháp phân tích sâu xa hơn về mặc khải của «thuở ban đầu», trong phương pháp đó nhất thiết phải quy chiếu đến những chương đầu của Sách Sáng Thế. Chúng ta phải chú ý ngay tới một yếu tố rất quan trọng cho môn giải thích thần học, vì yếu tố quan trọng đó nằm ở mối tương quan giữa mặc khải và kinh nghiệm.[2] (http://www.gpnt.net/diendan/#_ftn1)
Khi giải thích mặc khải về con người, nhất là về thân xác, vì những lý do dễ hiểu, chúng ta phải căn cứ trên kinh nghiệm, bởi vì chủ yếu là nhờ kinh nghiệm mà chúng ta cảm nghiệm được con-người-có-thân-xác. Được soi sáng do những nhận định nền tảng đó, chúng ta có toàn quyền xác quyết rằng cái kinh nghiệm «lịch sử» này của chúng ta, một cách nào đó, có lẽ phải dừng lại trước ngưỡng cửa của sự trong trắng nguyên thuỷ của con người, bởi vì khi nói về sự trong trắng nguyên thuỷ thì kinh nghiệm con người không còn tương thích nữa. Tuy nhiên, nhờ ánh sáng của những nhận định trên, chúng ta phải đi đến xác quyết rằng kinh nghiệm của con người, trong trường hợp này, ở một mức độ nào đó là một phương tiện hợp lý để có được những giải thích thần học. Và có thể nói kinh nghiệm đó cũng là một điểm quy chiếu không thể thiếu được và cần phải khắc ghi trong tâm trí khi giải thích “thuở ban đầu”. Chúng ta sẽ phân tích chi tiết bản văn để có thể thấy rõ ràng hơn.
Dường như những lời trong thư gởi tín hữu Rôma 8,23 nói trên giúp cho hướng nghiên cứu của chúng ta được tập trung một cách tốt nhất vào mặc khải của «thuở ban đầu» mà Đức Kitô đã căn cứ để nói về sự bất khả phân ly của hôn nhân (Mt 19 và Mc 10). Tất cả những phân tích sau này về các chương đầu Sách Sáng Thế hầu như nhất thiết phải phản ánh được chân lý của lời Thánh Phaolô: «… Cả chúng ta cũng rên siết trong lòng: chúng ta đã lãnh nhận Thần Khí như ân huệ mở đầu, nhưng còn trông đợi Thiên Chúa … cứu chuộc thân xác chúng ta nữa». Nếu chúng ta tự đặt mình vào tình huống đó - hoàn toàn dìm mình sâu vào trong kinh nghiệm - thì «thuở ban đầu» chắc sẽ nói cho chúng ta với một luồng sáng ngập tràn đến từ mặc khải mà thần học muốn giải thích trước tiên. Nếu chúng ta tiếp tục phân tích, chúng ta sẽ hiểu tại sao và theo nghĩa nào việc này lại là thần học về thân xác.
http://gpnt.net/images/arrow_dyn.gif
-----
[1] (http://www.gpnt.net/diendan/newthread.php?do=newthread&f=28#_ftnref1) Bản dịch Cựu Ước bằng tiếng Hy Lạp, bản Bảy Mươi, đã có vào khoảng thế kỷ thứ 2 sau Chúa Giáng Sinh, đã giải thích Sách Sáng Thế 3,15 với ý nghĩa Cứu chuộc bằng cách dùng đại từ giống đực autos thay cho danh từ trung tính tiếng Hy Lạp sperma (semen trong bản Phổ Thông). Truyền thống Do Thái vẫn tiếp tục cách chú giải đó.
Các nhà chú giải Kinh Thánh, từ Thánh Irênê trở đi (Adv. Haer. III. 23. 7) đã cho đoạn này như là một «tiền-Tin-Mừng», tức là một đoạn đã báo trước việc Chúa Giêsu Kitô đã thắng Satan. Mặc dù trong những thế kỷ gần đây, các nhà chú giải đã giải thích khác nhau về đoạn đó, và trong thời gian gần đây, có một số nhà chú giải đã đặt lại vấn đề việc chú giải theo ý nghĩa Cứu chuộc. Dù vậy, người ta đã trở lại cách chú giải Cứu chuộc như trước tuy có nhiều khía cạnh hơi khác trước. Thực vậy, các tác giả thuộc truyền thống Giavê đã thu gộp tiền sử và lịch sử của dân Israel lại với nhau và thấy rằng đỉnh cao của lịch sử Israel nằm ở trong thời đại Cứu Tinh của Vua Đavít, một thời đại đã thực hiện lời hứa của Sách Sáng Thế đoạn 3,15 (xem 2 Sm 7,12)
Tân Ước đã tỏ rõ sự hoàn thành lời hứa trong cùng viễn ảnh Cứu Chuộc đó: Đức Giêsu là Đấng Cứu Tinh, thuộc dòng Đavít (Rm 1,3 và 2 Tm 2,8), được sinh ra bởi một người nữ (Ga 4,4), Người là một Ađam-Đavít mới (1 Cr 15) sẽ nắm vương quyền «cho đến khi Thiên Chúa đặt mọi thù địch dưới chân Người» (1 Cr 15,25). Và sau cùng (Kh 12,1-10) đã cho thấy sự hoàn thành chung cuộc của lời tiên tri trong St 3,15. Dù không phải là một lời tiên tri rõ ràng và trực tiếp về Đức Giêsu, Đấng Cứu Tinh của Israel, đoạn đó cũng đưa dẫn tới Người qua truyền thống vương triều và Cứu Tinh nối liền Tân và Cựu Ước.
[2] (http://www.gpnt.net/diendan/newreply.php?do=newreply&noquote=1&p=408#_ftnref1) Ở đây, khi nói về sự tương quan giữa «kinh nghiệm» và “mặc khải”, thực ra là nói về sự hội tụ đầy ngạc nhiên của hai điều này, chúng tôi chỉ muốn nói rằng con người trong tình trạng hiện hữu trong một thân xác, trải nghiệm rất nhiều giới hạn, đau khổ, đam mê, yếu đuối và cuối cùng là chính sự chết. Nhưng đồng thời, những trải nghiệm này đã qui chiếu sự hiện hữu của con người trong thân xác về một tình trạng hoặc một chiều kích khác và dị biệt. Khi thánh Phaolô nói về «sự cứu chuộc thân xác», Người đã dùng ngôn ngữ của mặc khải. Nội dung đó, hoặc nói đúng hơn là thực tại đó, đã vuột khỏi kinh nghiệm. Đồng thời, thêm vào nội dung này như là một toàn thể, tác giả của thư Rm 8,23 đã đề cập tới tất cả những gì đã được trao tặng cho mình, và cách nào đó, cũng cho tất cả mọi người (không liên hệ tới sự tương quan với mặc khải), qua kinh nghiệm của cuộc sống nhân sinh tức là sự hiện hữu trong một thân xác.
Như thế, chúng ta có quyền nói về mối tương quan giữa kinh nghiệm và mặc khải. Quả vậy, chúng ta có quyền nêu lên vấn đề về tương quan giữa chúng, mặc dù đối với nhiều người thì có một lắn ranh phân cách giữa hai điều đó. Lằn ranh đó là một đường phản đề và tương phản triệt để. Đối với họ, lằn ranh này phải được vạch ra rõ ràng giữa đức tin và khoa học, giữa thần học và triết học. Khi đặt vấn đề như thế, họ đã chú ý nhiều tới những khái niệm trừu tượng hơn là con người, một con người như là chủ thể đang sống.
Nhóm Tâm Biển
Về Mục lục (http://gpnt.net/diendan/showthread.php?t=217)