PDA

View Full Version : Phần I. Bài 5. Ý nghĩa của sự đơn độc nguyên thuỷ của con người


admin
18-02-2006, 11:16 AM
Thứ Tư, ngày 10/10/1979


5. Ý nghĩa của sự đơn độc nguyên thuỷ của con người

Trong chuỗi suy niệm này, lần trước chúng ta đã đi đến một kết luận sơ khởi từ những lời trong Sách Sáng Thế kể về cuộc sáng tạo con người, nam và nữ. Chúng ta đã bàn đến những từ, đó là cụm từ “thuở ban đầu” mà Chúa Giêsu đã trưng dẫn để nói về tính bất khả phân ly của hôn nhân. (xem Mt 19,3-9; Mc 10,1-12). Nhưng chúng ta vẫn chưa ngừng phân tích dù đã đi tới kết luận đó. Chúng ta phải đọc lại câu chuyện kể trong hai chương đầu của Sách Sáng Thế trong một bối cảnh rộng hơn nữa để xác định được rõ nghĩa của các từ ngữ trong đoạn văn cổ mà Đức Kitô đã quy chiếu. Vì thế, hôm nay, chúng ta sẽ suy niệm về ý nghĩa sự đơn độc nguyên thuỷ của con người.

Điểm khởi đầu để suy niệm là những lời được trích thẳng từ Sách Sáng Thế: «Con người (nam) ở một mình thì không tốt. Ta sẽ làm cho nó một trợ tá tương xứng với nó» (St 2,18). Chính Chúa Giavê đã phán những lời đó. Đó là câu chuyện thứ hai kể về cuộc sáng tạo con người và câu chuyện này thuộc truyền thống Giavê. Như chúng ta đã nhắc lại, thật là ý nghĩa vì câu chuyện sáng tạo con người được viết thành một đoạn riêng biệt (St 2,7). Đoạn này được kể trước đoạn sáng tạo người nữ đầu tiên (St 2,21-22). Thật là ý nghĩa vì con người đầu tiên (adam) được sáng tạo từ «bụi đất» chỉ được định nghĩa như là nam (ish) sau việc sáng tạo người nữ. Khi Chúa Giavê nói đến sự đơn độc thì Người muốn nói về sự đơn độc của «con người», chứ không phải sự đơn độc của người nam.[1] (http://www.gpnt.net/diendan/newthread.php?do=newthread&f=28#_ftn1)

Tuy nhiên, chỉ dựa vào việc này không thôi thì khó mà rút ra những kết luận sâu xa hơn nữa. Dù thế, toàn bối cảnh của sự đơn độc kể trong Sách Sáng Thế cho phép chúng ta tin rằng đây là sự đơn độc của “con người” (có nam có nữ), chứ không phải chỉ là sự đơn độc của người nam vì thiếu vắng người nữ. Nếu chúng ta căn cứ trên toàn bối cảnh đó, thì sự đơn độc này có hai ý nghĩa: một là vì nó xuất phát từ chính bản tính của con người, tức là vì nhân tính (điều này đã được thấy rõ ràng trong chương thứ 2 Sách Sáng Thế), hai là xuất phát từ tương quan nam-nữ, trên phương diện nào đó, điều này cũng hiển nhiên vì căn cứ trên nghĩa thứ nhất. Một phân tích kỹ hơn về cách diễn tả sẽ giúp chúng ta xác định điều đó.

Vấn đề đơn độc chỉ được diễn tả trong bối cảnh của câu chuyện kể thứ hai về cuộc sáng tạo con người. Câu chuyện thứ nhất không hề nhắc đến vấn đề này. Trong câu chuyện thứ nhất con người được tạo dựng chỉ trong một động tác là tức khắc có nam có nữ. «Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh mình… Thiên Chúa sáng tạo con người có nam có nữ» (St 1,27). Như đã nói, câu chuyện thứ hai kể cuộc sáng tạo con người trước, và chỉ sau đó mới kể việc sáng tạo người nữ từ “xương sườn” của người nam. Điều này giúp ta tập trung sự chú ý vào việc «con người ở một mình». Trong một ý nghĩa nào đó, điều này cho thấy một vấn đề nhân loại học nguồn cội xuất hiện trước khi vấn đề giới tính nam hoặc nữ được đặt ra. Vấn đề được đặt ra trước không phải trên bình diện thời gian cho bằng trên bình diện hiện hữu. Nó được đặt ra trước “vì tự bản chất nó vốn là thế”. Và như thế chúng ta sẽ càng nhìn thấy rõ vấn đề đơn độc của con người từ góc độ thần học về thân xác nếu chúng ta phân tích cặn kẽ câu chuyện thứ hai về cuộc sáng tạo đã kể trong chương thứ hai của Sách Sáng Thế.

Chúa Giavê xác quyết: «Con người ở một mình thì không tốt», lời này không những ở trong bối cảnh ngay trước khi quyết định sáng tạo nên người nữ «Ta sẽ làm cho nó một trợ tá…», nhưng còn ở trong bối cảnh rộng hơn, một bối cảnh của những nhân và duyên. Bối cảnh đó giải thích sâu xa hơn thế nào là sự đơn độc nguyên thuỷ của con người. Bản văn thuộc truyền thống Giavê gắn liền việc sáng tạo nên con người đầu tiên và trước nhất với nhu cầu «canh tác đất đai» (St 2,5). Điều này mới tương xứng với lời mời gọi chinh phục và cai quản toàn trái đất (x. St 1,28) trong câu chuyện thứ nhất. Sau đó, câu chuyện thứ hai của cuộc sáng tạo kể lại việc con người được đưa vào “vườn Êđen” và như vậy hé mở cho chúng ta thấy tình trạng hạnh phúc nguyên thuỷ. Cho tới lúc này, con người là đối tượng của hành động sáng tạo của Chúa Giavê. Và đồng thời, như là Đấng lập nên lề luật, Chúa Giavê cũng thiết đặt những điều kiện của giao ước đầu tiên với con người.

Không nghi ngờ gì nữa toàn phần văn bản này là để chuẩn bị cho câu chuyện kể về việc tạo dựng người nữ. Tuy thế, tự thân bản văn cũng có ý nghĩa rất sâu xa mà không cần phụ thuộc vào câu chuyện sáng tạo nên người nữ: từ giây phút hiện hữu đầu tiên, con người thụ tạo ở trước mặt Chúa như thể đang tìm hiểu về thực thể của chính mình. Có thể nói rằng con người tìm một định nghĩa cho chính bản thân mình. Và cũng có thể nói như người thời nay, con người đang đi tìm cái «căn tính» của mình. Việc con người thấy «đơn độc» giữa thế giới hữu hình, và đặc biệt là giữa các sinh vật, có nghĩa là con người đã không tìm thấy được câu trả lời cho cuộc tìm kiếm này, vì cuộc tìm kiếm đó chỉ phô diễn cho thấy những gì «không phải là con người».


Tuy nhiên, việc con người nhận thấy rằng không thể đồng hoá yếu tính của mình với thế giới hữu hình của những sinh vật khác (thú vật, animalia), cũng đồng thời mang một chiều kích tích cực cho việc tìm hiểu nguyên khởi này. Mặc dù việc nhận thức đó chưa phải là một định nghĩa đầy đủ, nhưng nó cũng là một trong những yếu tố của định nghĩa ấy. Nếu chúng ta chấp nhận truyền thống luận lý và nhân loại học thuộc trường phái Aristote thì chúng ta phải định nghĩa yếu tố đó như là một thứ “cận loại” (genus proximum).[2] (http://www.gpnt.net/diendan/newthread.php?do=newthread&f=28#_ftn2)

Tuy nhiên bản văn thuộc truyền thống Giavê còn cho phép chúng ta khám phá ra những yếu tố khác trong đoạn sách tuyệt vời này. Con người cảm thấy mình đơn độc trước mặt Thiên Chúa chủ yếu là muốn diễn tả rằng, thông qua việc lần đầu tự định nghĩa về bản thân, việc con người đã nhận thức về chính mình như là một cách biểu tỏ nguyên thuỷ và nền tảng về nhân tính. Tri thức về chính mình đi song song với tri thức về thế giới, về tất cả các thụ tạo hữu hình, về tất cả sinh vật mà con người đã đặt tên để nhận thấy rằng trước mặt chúng, mình khác hẳn chúng. Và như thế, ý thức đã cho con người biết là mình có khả năng nhận biết thế giới hữu hình. Nhờ tri thức này, có thể nói một cách nào đó, cái tri thức đã giúp con người thoát ra khỏi hữu thể của chính mình, mà con người cũng cùng một lúc đã tự mở ra cho chính mình thấy được tất cả mọi đặc thù của hữu thể bản thân mình. Con người không chỉ đơn độc về mặt bản tính nhưng còn đơn độc với tư cách chủ thể. Sự đơn độc còn nói lên tư cách chủ thể của con người có được nhờ tự ý thức. Con người đơn độc bởi vì con người «khác biệt» với thế giới hữu hình, với thế giới của những hữu thể có sự sống. Khi phân tích đoạn Sách Sáng Thế này, chúng ta thấy rằng, nhờ vào hành vi đầu tiên tự ý thức và cách thế tự mở mình ra cho chính mình mà con người, trước mặt Chúa Giavê, đã “tự thấy mình khác biệt” với tất cả thế giới của những hữu thể có sự sống (animalia). Đồng thời con người đã tự khẳng định mình như là một «nhân vị» trong thế giới hữu hình. Tiến trình tìm hiểu định nghĩa của chính mình đã được Sách Sáng Thế đoạn 2,19-20 vạch rõ. Với truyền thống Aristote, tiến trình đó đưa chúng ta tới khái niệm «cận loại» (genus proximum) được kể ra trong chương thứ 2 của Sách Sáng Thế bằng những lời «con người đặt tên cho chúng». Và cận loại (genus proximum) lại liên hệ tới biệt loại (differencia specifica) mà Aristote đã định nghĩa như «nôus, zoón noetikón». Tiến trình này dẫn tới bức phác hoạ đầu tiên của con người như là một nhân vị với một tư cách chủ thể riêng biệt, tiêu biểu cho chính mình.

-----
[1] (http://www.gpnt.net/diendan/newthread.php?do=newthread&f=28#_ftnref1) Văn bản Do Thái vẫn luôn gọi con người đầu tiên là ha’adam, trong khi đó chữ «ish» (người nam) chỉ dùng khi có sự đối chiếu với chữ «isha» (người nữ). Như thế, «con người» đã đơn độc mà không dính dáng gì tới phái tính.
Dù vậy, khi chuyển ngữ, rất khó diễn đạt được khái niệm này trong Sách Sáng Thế bằng những ngôn ngữ châu Âu. Thường thì trong những ngôn ngữ châu Âu, «con người» và «người nam» chỉ có một từ chung để gọi: homo, uomo, homme, man.

[2] (http://www.gpnt.net/diendan/newthread.php?do=newthread&f=28#_ftnref2) “Yếu tính của một vật (quidditive) là định nghĩa về bản chất hoặc bản tính của sự vật. Để xác định yếu tính này chúng ta có thể định nghĩa một vật bằng cận loại (genus proximum) và biệt loại (differencia specifica).
"Cận loại (proximate genus) được hiểu là tất cả các yếu tố căn bản của các loại thấp hơn nó. Vì vậy, cận loại (proximate genus) bao gồm mọi hữu thể về bản chất là cùng gốc hay tương tự với vật đang được định nghĩa. Còn biệt loại (specific differentia) lại gồm cái yếu tố khác biệt giúp phân biệt một vật với các vật khác có bản chất tương tự, bằng cách cho thấy vật đó khác như thế nào so với tất cả những vật bị ngộ nhận là vật đó.
"Con người được định nghĩa như là một «con vật có lý trí». «Con vật» là cận loại (genus proximum) của «con người». «Có lý trí» là biệt loại (differencia specifica) của con người. Cận loại (genus proximum của «con vật» gồm tất cả những yếu tố chủ yếu của loài ở địa vị thấp hơn nó, bởi vì con vật là «một thực chất có sự sống và cảm giác» (…). Biệt loại (differencia specifica) "có lý trí" là yếu tố chủ yếu để phân biệt «con người» với tất cả các «con vật» khác. Như thế, con người tạo thành một loài riêng và tách rời với tất cả các con vật khác và cũng tách rời với tất cả những loài ở địa vị thấp hơn con vật gồm cỏ cây, vật thể và vật chất vô tri vô giác.
"Và hơn nữa, bởi vì biệt loại (differencia specifica) là yếu tố riêng biệt của con người, do đó biệt loại (differencia specifica) gồm tất cả các đặc tính của bản tính con người: chẳng hạn khả năng phát biểu, luân lý,… tức là tất cả những thực tại không có nơi những loài khác trong thế giới vật lý này." (C.N. BITTLE, The Science of Correct Thinking, Logic, Milwaukee 1947, tr. 73-74).

Nhóm Tâm Biển

Về Mục lục (http://gpnt.net/diendan/showthread.php?t=217)

Trần Duy Thực
18-02-2006, 07:37 PM
Kính thưa tất cả,
Trong bài này, Đức Giáo Hoàng có đề cập tới triết học Aristote, vậy xin được phép ghi lại đây khái niệm về «phổ biến niệm», tức là một khái niệm triết học rất quan trọng, bởi vì đó là nét khác biệt căn bản giữa Platon và Aristote.
_____

Universaux : phổ biến niệm. Ðây là khác biệt căn bản giữa Platon và Aristote. Platon cho rằng có một thế giới của ý tưởng (hay lý tưởng). Nói cách khác, những ý tưởng như ý tưởng về con người, quyển sách, cây cỏ... đều là những sự vật có thực (res). Aristote lại không cho rằng ý tưởng là những thực thể, mà cho rằng những vật trong thiên nhiên mới thực thụ có những danh từ (nomina). Và từ đó, trong suốt thời Trung Cổ, đã có một chiến tranh lạnh giữa nhóm duy thực (res) và nhóm duy danh (nomina).

Nhưng cũng xin nói liền kẻo khỏi hiểu lầm đáng tiếc. Duy Thực theo nghĩa của Platon có khuynh hướng duy niệm (thế giới ý tưởng là một thế giới có thực). Trong khi đó, chữ Duy Thực mà người sau gán cho Aristote hàm ý nói rằng Aristote có khuynh hướng duy nhiên (theo khoa học thực nghiệm). Nếu nói tóm lược hơn thế nữa, một bên là chiêm niệm, một bên là khoa học hoặc nói cách khác : Platon dùng ngón tay chỉ lên trời, Aristote dùng ngón tay chỉ xuống đất.

admin
05-08-2009, 07:33 AM
V


Ý NGHĨA CỦA SỰ ĐƠN ĐỘC NGUYÊN THỦY CỦA CON NGƯỜI

1. Trong những suy tư trước chúng ta đã đi đến một kết luận sơ khởi được rút ra từ những lời trong sách Sáng thế thuật lại cuộc tạo dựng con người, nam và nữ. Những lời ấy hay chính xác hơn, thành ngữ «thuở ban đầu» đã được Chúa Giêsu viện dẫn trong cuộc đối thoại về tính bất khả phân li của hôn nhân (Mt 19,3-9; Mc 10,1-12). Nhưng kết luận đó chưa kết thúc những phân tích của chúng ta. Thật vậy chúng ta phải đọc lại những chuyện kể trong chương một và chương hai của sách Sáng thế trong một bối cảnh rộng lớn hơn để có thể xác định được những ý nghĩa của bản văn cổ, bản văn mà Đức Kitô đã trưng dẫn. Vì thế, hôm nay chúng ta sẽ suy tư về ý nghĩa của sự đơn độc nguyên thủy của con người.

2. Điểm khởi đầu cho suy tư này xuất phát trực tiếp từ những lời sau đây của sách Sáng thế: «Con người ở một mình thì không tốt. Ta sẽ làm cho nó một trợ tá tương xứng với nó» (St 2,18). Chính Giavê Thiên Chúa đã phán những lời đó. Những lời đó thuộc về trình thuật thứ hai về tạo dựng con người và do đó chúng phát xuất từ truyền thống yahvit. Như chúng tôi đã nhắc đến trước đây về bản văn truyền thống yahvit, thật là ý nghĩa vì trình thuật tạo con người được viết thành một đoạn riêng biệt (St 2,7) được kể trước đoạn tạo dựng người nữ đầu tiên (St 2,21-22). Và cũng thật ý nghĩa vì con người đầu tiên (’adam), vốn được tạo dựng từ «bụi đất», chỉ sau khi tạo dựng người đàn bà đầu tiên mới được xác định là «đàn ông» (’ish). Bởi thế, khi Thiên Chúa Giavê nói đến sự cô đơn, Ngài muốn nói về sự cô đơn của «con người», chứ không phải chỉ sự cô đơn của người đàn ông [1].

Tuy nhiên, nếu chỉ dựa vào sự kiện này thôi thì cũng khó mà rút ra những kết luận nào xa hơn nữa. Nhưng dẫu sao, toàn bối cảnh về sự cô đơn mà St 2,18 nói tới cho phép chúng ta tin rằng đó là sự cô đơn của «con người» nói chung (cả nam và nữ) chứ không phải chỉ là sự cô đơn của người đàn ông vì thiếu vắng người phụ nữ. Căn cứ trên toàn bối cảnh đó, xem ra sự cô đơn ấy mang hai ý nghĩa: một là vì nó xuất phát từ chính bản tính con người, tức là bởi nhân tính của mình (điều này được thấy rõ trong trinh thuật St 2), hai là xuất phát từ tương quan nam-nữ, điều này cũng hiển nhiên về một mặt nào đó vì căn cứ trên nghĩa thứ nhất. Phân tích chi tiết hơn sự mô tả có lẽ sẽ giúp ta khẳng định điều đó.

3. Vấn đề cô đơn chỉ được diễn tả trong trình thuật thứ hai về tạo dựng con người. Trình thuật thứ nhất không biết đến vấn đề này. Ở đó con người được tạo dựng, «có nam có nữ», chỉ trong một động tác («Thiên Chúa đã tạo dựng con người theo hình ảnh của Ngài… Ngài đã tạo dựng họ có nam có nữ»: St 1,27). Trình thuật thứ hai, như đã nói, kể cuộc tạo dựng con người trước, và chỉ sau đó mới kể việc tạo dựng người đàn bà từ chiếc «xương sườn» của người đàn ông. Trình thuật này hướng sự chú ý của chúng ta vào sự kiện “con người cô đơn”, và điều này xem ra như là vấn đề nhân học nền tảng, được đặt ra trước cả vấn đề giới tính nam nữ của con người ấy. Vấn đề được đặt ra trước không phải theo nghĩa thời gian cho bằng theo nghĩa hiện sinh: nó được đặt ra trước “bởi bản chất của nó” vốn như thế. Vấn đề cô đơn của con người cũng sẽ được hiển lộ ra như thế từ quan điểm thần học thân xác, nếu chúng ta phân tích thật sâu xa trình thuật tạo dựng thứ hai ở St 2.

4. Giavê Thiên Chúa xác định «con người ở một mình thì không tốt». Lời này không chỉ ở trong ngữ cảnh trực tiếp tạo dựng người đàn bà («Ta sẽ làm cho nó một trợ tá tương xứng với nó»), mà còn trong một ngữ cảnh rộng hơn với những lí do và hoàn cảnh, bối cảnh ấy giải thích sâu hơn ý nghĩa của sự cô đơn nguyên thủy của con người. Bản văn yahvit nối kết trước hết việc tạo dựng con người với nhu cầu «canh tác đất đai» (St 2,5), và điều đó tương ứng với ơn gọi chinh phục và cai quản trái đất trong trình thuật thứ nhất (x. St 1,28). Kế đến, bản văn thứ hai về tạo dựng nói đến việc đặt con người vào trong «vườn Êđen», và như thế hé mở cho chúng ta thấy tình trạng hạnh phúc nguyên thủy của con người. Cho tới lúc ấy, con người là đối tượng của hành động tạo dựng của Giavê Thiên Chúa, Đấng, đồng thời cũng là Nhà Làm Luật, đã thiết lập những điều kiện của Giao ước đầu tiên với con người. Cũng nhờ đó người ta thấy rõ con người còn là một chủ thể. Tính chủ thể ấy còn được biểu lộ xa hơn nữa khi Đức Chúa là Thiên Chúa «đã lấy đất nặn ra mọi thứ dã thú, mọi chim trời, và dẫn đến với con người, để xem con người gọi chúng là gì» (St 2,19). Như vậy, ý nghĩa đầu tiên của sự cô đơn nguyên thủy được xác định trên cơ sở một “trắc nghiệm” («test») hay khảo hạch con người trước mặt Thiên Chúa (và một cách nào đó cũng đồng thời là trước mặt chính mình). Nhờ “trắc nghiệm” đó, con người mới ý thức sự ưu việt của mình, nghĩa là con người không thể để mình ngang bằng với bất kì một loài sinh vật nào khác trên trái đất.

Thật vậy, như bản văn ấy nói, «hễ con người gọi mỗi sinh vật là gì, thì tên nó sẽ là thế» (St 2,19). «Con người đặt tên cho mọi súc vật, mọi chim trời và mọi dã thú», và tác giả kết: «nhưng con người không tìm được cho mình một trợ tá tương xứng» (St 2,19-20).

5. Toàn phần văn bản này chắc chắn là để chuẩn bị cho trình thuật tạo dựng người đàn bà. Tuy nhiên, tự thân bản văn cũng có ý nghĩa rất sâu xa mà không phụ thuộc vào chuyện tạo dựng người đàn bà. Thế đó, từ giây phút đầu tiên, con người thọ tạo đứng trước mặt Thiên Chúa như thể đang đi tìm chính mình; người ta có thể nói rằng con người đi tìm một định nghĩa cho chính bản thân mình. Và cũng có thể nói như con người thời nay: con người đi tìm «căn tính» của mình. Nhận xét con người «cô đơn» giữa thế giới hữu hình và nhất là, giữa các sinh vật, có một ý nghĩa tiêu cực trong cuộc tìm kiếm ấy, bởi lẽ nhận xét ấy diễn tả cái con người còn thiếu («không là»). Thế nhưng, sự kiện con người tự thấy mình không thể đồng nhất về yếu tính với thế giới hữu hình của những sinh vật khác (animalia) lại có mặt tích cực cho cuộc tìm kiếm nguyên sơ này. Dẫu cho sự kiện đó vẫn chưa là một định nghĩa đầy đủ, nhưng nó là một trong những yếu tố của định nghĩa ấy. Nếu chấp nhận truyền thống luận lí và nhân học của Arixtốt thì chúng ta phải định nghĩa yếu tố này như một thứ “cận loại” (genus proximum) [2].

6. Tuy nhiên bản văn yahvit còn cho phép chúng ta khám phá ra những yếu tố khác nữa trong đoạn sách tuyệt vời này. Ở đó con người thấy mình cô đơn trước mặt Thiên Chúa chủ yếu là để diễn tả, qua một sự tự định nghĩa đầu tiên về bản thân, việc con người tự nhận biết mình, đó là sự biểu lộ sơ thủy và nền tảng về nhân tính. Nhận biết mình xảy ra cùng một lúc với nhận biết thế giới, nhận biết mọi thụ tạo hữu hình, mọi sinh vật mà con người đã đặt tên để khẳng định mình khác biệt chúng. Và như thế, con người ý thức mình là kẻ có khả năng nhận thức thế giới hữu hình. Với tri thức đó, trí thức đã giúp con người thoát ra khỏi chính bản thân mình một cách nào đó, con người đồng thời cũng vén tỏ bản thân với mọi đặc thù của con người cho chính mình. Con người không chỉ đơn độc tại yếu tính mà còn tại chủ thể. Thật vậy, sự cô độc còn nói lên chủ thể tính của con người vốn được cấu thành nhờ con người tự nhận thức về bản thân. Con người đơn độc bởi vì mình «khác biệt» thế giới hữu hình, khác biệt thế giới các sinh vật. Khi phân tích đoạn sách Sáng thế này, một cách nào đó, chúng ta thấy con người trước mặt Thiên Chúa Giavê «khác biệt» toàn thể thế giới các sinh vật (animalia) bởi hành động tự nhận thức đầu tiên như thế nào, và do đó cũng thấy mình tự tỏ cho mình biết về mình và tự khẳng định mình trong thế giới hữu hình như là một «ngã vị» như thế nào. Tiến trình mà đoạn St 2,19-20 mô tả sâu sắc như thế đó, cũng là tiến trình con người đi tìm định nghĩa về chính mình, chỉ cho ta thấy – qua việc nối kết lại với truyền thống triết học Arixtốt – cái cận loại (genus proximum) được diễn tả trong chương 2 sách Sáng thế bằng những lời: «con người đã đặt tên». Cận loại ấy lại liên hệ tới biệt loại (differentia specifica) mà Arixtốt đã định nghĩa như noûs, zoon noetikón (trí khôn, sinh vật có trí khôn). Nhưng không chỉ như thế, tiến trình ấy còn dẫn tới phác họa đầu tiên về con người như là một nhân vị có chủ thể tính riêng, là đặc trưng cho mình.

Chúng tôi tạm dừng phân tích ý nghĩa của sự cô đơn nguyên thủy của con người ở đây. Chúng ta sẽ tiếp tục trong các chương tiếp theo.

[1] Bản văn Do thái vẫn thường gọi con người đầu tiên là ha’adam, trong khi đó chữ «’ish» (đàn ông) chỉ được dùng khi có sự đối chiếu với «’ishshah» (đàn bà). Như thế, «con người» vốn cô đơn và điều ấy không liên hệ gì đến phái tính.

Trong một số ngôn ngữ châu âu, ý niệm của sách Sáng thế này rất khó diễn tả, bởi vì «con người» và «đàn ông» thường chỉ có một từ chung để gọi: homo, uomo, homme, hombre, man.

[2] «Một định nghĩa về yếu tính (quidditive) là một lời phát biểu giải thích yếu tính hay bản tính của sự vật.

Để xác định yếu tính một sự vật chúng ta có thể định nghĩa nó bằng cận loại (proximate genus) cùng với biệt loại (specific differentia) của nó.

Cận loại bao gồm trong nội hàm của nó mọi yếu tố cốt yếu của loài trên nó và như thế bao gồm mọi hữu thể về bản tính là cùng một gốc hay tương tự với vật đang được định nghĩa. Còn biệt loại bao gồm yếu tố khác biệt giúp phân biệt vật này với tất cả các vật khác cùng bản tính, bằng cách cho thấy nó khác với các vật khác như thế nào, những vật mà người ta có thể ngộ nhận là nó.

“Con người” được định nghĩa là một “con vật có lí trí”. “Con vật” là cận loại của “con người”, “có lí trí” là biệt loại của “con người”. Cận loại “con vật” bao gồm trong nội hàm của nó tất cả những yếu tố cốt yếu của loài trên nó, bởi vì con vật là một “thực thể vật chất, có sự sống, có cảm giác” (…). Biệt loại “có lí trí” là một yếu tố cốt yếu đặc biệt phân biệt “con người” với mọi “con vật” khác. Như thế, con người tạo thành một loài riêng và tách biệt tất cả các con vật khác và cũng tách biệt khỏi tất cả những loài trên con vật, gồm cỏ cây, những cơ thể và vật thể vô tri vô giác.

Hơn nữa, bởi vì biệt loại là yếu tố đặc biệt trong yếu tính của con người, do đó biệt loại gồm tất cả các “thuộc tính” đặc trưng nằm trong bản tính con người xét như là người, chẳng hạn như: khả năng nói, luân lí tính, biết cai quản, tôn giáo tính, sự bất tử v.v… là những thực tại không có mặt trong các hữu thể khác trong thế giới vật chất này» (C. N. Bittle, The Science of Correct Thinking, Logic, Milwaukee 1974<SUP>12</SUP>, t. 73-74).

Louis Nguyễn Anh Tuấn

<HR align=left width="33%" SIZE=1>
[1] (http://www.ubmvgiadinh.org/?open=contents&display=2&id=386#_ftnref1) Tiền sử thần học (preistoria teologica) biết được là do mạc khải, nghĩa là nó tuyệt đối không thể được suy diễn nhờ sự phân tích kinh nghiệm lịch sử của con người. Tuy nhiên, có một sự tương ứng kì lạ và nhưng không giữa mạc khải và kinh nghiệm trên bình diện nền tảng nhất của cuộc sống con người. Điều đó dựa trên cơ sở con người được tạo dựng theo hình ảnh của Thiên Chúa. Hình ảnh ấy tạo ra sự liên tục giữa tình trạng bản tính nguyên tuyền (tình trạng nguyên thủy) và tình trạng lịch sử của mỗi con người (tình trạng bản tính sa ngã và được cứu chuộc).

http://www.ubmvgiadinh.org/?open=contents&display=2&id=386 (http://www.ubmvgiadinh.org/?open=contents&display=2&id=386)