admin
18-02-2006, 11:16 AM
Thứ Tư, ngày 10/10/1979
5. Ý nghĩa của sự đơn độc nguyên thuỷ của con người
Trong chuỗi suy niệm này, lần trước chúng ta đã đi đến một kết luận sơ khởi từ những lời trong Sách Sáng Thế kể về cuộc sáng tạo con người, nam và nữ. Chúng ta đã bàn đến những từ, đó là cụm từ “thuở ban đầu” mà Chúa Giêsu đã trưng dẫn để nói về tính bất khả phân ly của hôn nhân. (xem Mt 19,3-9; Mc 10,1-12). Nhưng chúng ta vẫn chưa ngừng phân tích dù đã đi tới kết luận đó. Chúng ta phải đọc lại câu chuyện kể trong hai chương đầu của Sách Sáng Thế trong một bối cảnh rộng hơn nữa để xác định được rõ nghĩa của các từ ngữ trong đoạn văn cổ mà Đức Kitô đã quy chiếu. Vì thế, hôm nay, chúng ta sẽ suy niệm về ý nghĩa sự đơn độc nguyên thuỷ của con người.
Điểm khởi đầu để suy niệm là những lời được trích thẳng từ Sách Sáng Thế: «Con người (nam) ở một mình thì không tốt. Ta sẽ làm cho nó một trợ tá tương xứng với nó» (St 2,18). Chính Chúa Giavê đã phán những lời đó. Đó là câu chuyện thứ hai kể về cuộc sáng tạo con người và câu chuyện này thuộc truyền thống Giavê. Như chúng ta đã nhắc lại, thật là ý nghĩa vì câu chuyện sáng tạo con người được viết thành một đoạn riêng biệt (St 2,7). Đoạn này được kể trước đoạn sáng tạo người nữ đầu tiên (St 2,21-22). Thật là ý nghĩa vì con người đầu tiên (adam) được sáng tạo từ «bụi đất» chỉ được định nghĩa như là nam (ish) sau việc sáng tạo người nữ. Khi Chúa Giavê nói đến sự đơn độc thì Người muốn nói về sự đơn độc của «con người», chứ không phải sự đơn độc của người nam.[1] (http://www.gpnt.net/diendan/newthread.php?do=newthread&f=28#_ftn1)
Tuy nhiên, chỉ dựa vào việc này không thôi thì khó mà rút ra những kết luận sâu xa hơn nữa. Dù thế, toàn bối cảnh của sự đơn độc kể trong Sách Sáng Thế cho phép chúng ta tin rằng đây là sự đơn độc của “con người” (có nam có nữ), chứ không phải chỉ là sự đơn độc của người nam vì thiếu vắng người nữ. Nếu chúng ta căn cứ trên toàn bối cảnh đó, thì sự đơn độc này có hai ý nghĩa: một là vì nó xuất phát từ chính bản tính của con người, tức là vì nhân tính (điều này đã được thấy rõ ràng trong chương thứ 2 Sách Sáng Thế), hai là xuất phát từ tương quan nam-nữ, trên phương diện nào đó, điều này cũng hiển nhiên vì căn cứ trên nghĩa thứ nhất. Một phân tích kỹ hơn về cách diễn tả sẽ giúp chúng ta xác định điều đó.
Vấn đề đơn độc chỉ được diễn tả trong bối cảnh của câu chuyện kể thứ hai về cuộc sáng tạo con người. Câu chuyện thứ nhất không hề nhắc đến vấn đề này. Trong câu chuyện thứ nhất con người được tạo dựng chỉ trong một động tác là tức khắc có nam có nữ. «Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh mình… Thiên Chúa sáng tạo con người có nam có nữ» (St 1,27). Như đã nói, câu chuyện thứ hai kể cuộc sáng tạo con người trước, và chỉ sau đó mới kể việc sáng tạo người nữ từ “xương sườn” của người nam. Điều này giúp ta tập trung sự chú ý vào việc «con người ở một mình». Trong một ý nghĩa nào đó, điều này cho thấy một vấn đề nhân loại học nguồn cội xuất hiện trước khi vấn đề giới tính nam hoặc nữ được đặt ra. Vấn đề được đặt ra trước không phải trên bình diện thời gian cho bằng trên bình diện hiện hữu. Nó được đặt ra trước “vì tự bản chất nó vốn là thế”. Và như thế chúng ta sẽ càng nhìn thấy rõ vấn đề đơn độc của con người từ góc độ thần học về thân xác nếu chúng ta phân tích cặn kẽ câu chuyện thứ hai về cuộc sáng tạo đã kể trong chương thứ hai của Sách Sáng Thế.
Chúa Giavê xác quyết: «Con người ở một mình thì không tốt», lời này không những ở trong bối cảnh ngay trước khi quyết định sáng tạo nên người nữ «Ta sẽ làm cho nó một trợ tá…», nhưng còn ở trong bối cảnh rộng hơn, một bối cảnh của những nhân và duyên. Bối cảnh đó giải thích sâu xa hơn thế nào là sự đơn độc nguyên thuỷ của con người. Bản văn thuộc truyền thống Giavê gắn liền việc sáng tạo nên con người đầu tiên và trước nhất với nhu cầu «canh tác đất đai» (St 2,5). Điều này mới tương xứng với lời mời gọi chinh phục và cai quản toàn trái đất (x. St 1,28) trong câu chuyện thứ nhất. Sau đó, câu chuyện thứ hai của cuộc sáng tạo kể lại việc con người được đưa vào “vườn Êđen” và như vậy hé mở cho chúng ta thấy tình trạng hạnh phúc nguyên thuỷ. Cho tới lúc này, con người là đối tượng của hành động sáng tạo của Chúa Giavê. Và đồng thời, như là Đấng lập nên lề luật, Chúa Giavê cũng thiết đặt những điều kiện của giao ước đầu tiên với con người.
Không nghi ngờ gì nữa toàn phần văn bản này là để chuẩn bị cho câu chuyện kể về việc tạo dựng người nữ. Tuy thế, tự thân bản văn cũng có ý nghĩa rất sâu xa mà không cần phụ thuộc vào câu chuyện sáng tạo nên người nữ: từ giây phút hiện hữu đầu tiên, con người thụ tạo ở trước mặt Chúa như thể đang tìm hiểu về thực thể của chính mình. Có thể nói rằng con người tìm một định nghĩa cho chính bản thân mình. Và cũng có thể nói như người thời nay, con người đang đi tìm cái «căn tính» của mình. Việc con người thấy «đơn độc» giữa thế giới hữu hình, và đặc biệt là giữa các sinh vật, có nghĩa là con người đã không tìm thấy được câu trả lời cho cuộc tìm kiếm này, vì cuộc tìm kiếm đó chỉ phô diễn cho thấy những gì «không phải là con người».
Tuy nhiên, việc con người nhận thấy rằng không thể đồng hoá yếu tính của mình với thế giới hữu hình của những sinh vật khác (thú vật, animalia), cũng đồng thời mang một chiều kích tích cực cho việc tìm hiểu nguyên khởi này. Mặc dù việc nhận thức đó chưa phải là một định nghĩa đầy đủ, nhưng nó cũng là một trong những yếu tố của định nghĩa ấy. Nếu chúng ta chấp nhận truyền thống luận lý và nhân loại học thuộc trường phái Aristote thì chúng ta phải định nghĩa yếu tố đó như là một thứ “cận loại” (genus proximum).[2] (http://www.gpnt.net/diendan/newthread.php?do=newthread&f=28#_ftn2)
Tuy nhiên bản văn thuộc truyền thống Giavê còn cho phép chúng ta khám phá ra những yếu tố khác trong đoạn sách tuyệt vời này. Con người cảm thấy mình đơn độc trước mặt Thiên Chúa chủ yếu là muốn diễn tả rằng, thông qua việc lần đầu tự định nghĩa về bản thân, việc con người đã nhận thức về chính mình như là một cách biểu tỏ nguyên thuỷ và nền tảng về nhân tính. Tri thức về chính mình đi song song với tri thức về thế giới, về tất cả các thụ tạo hữu hình, về tất cả sinh vật mà con người đã đặt tên để nhận thấy rằng trước mặt chúng, mình khác hẳn chúng. Và như thế, ý thức đã cho con người biết là mình có khả năng nhận biết thế giới hữu hình. Nhờ tri thức này, có thể nói một cách nào đó, cái tri thức đã giúp con người thoát ra khỏi hữu thể của chính mình, mà con người cũng cùng một lúc đã tự mở ra cho chính mình thấy được tất cả mọi đặc thù của hữu thể bản thân mình. Con người không chỉ đơn độc về mặt bản tính nhưng còn đơn độc với tư cách chủ thể. Sự đơn độc còn nói lên tư cách chủ thể của con người có được nhờ tự ý thức. Con người đơn độc bởi vì con người «khác biệt» với thế giới hữu hình, với thế giới của những hữu thể có sự sống. Khi phân tích đoạn Sách Sáng Thế này, chúng ta thấy rằng, nhờ vào hành vi đầu tiên tự ý thức và cách thế tự mở mình ra cho chính mình mà con người, trước mặt Chúa Giavê, đã “tự thấy mình khác biệt” với tất cả thế giới của những hữu thể có sự sống (animalia). Đồng thời con người đã tự khẳng định mình như là một «nhân vị» trong thế giới hữu hình. Tiến trình tìm hiểu định nghĩa của chính mình đã được Sách Sáng Thế đoạn 2,19-20 vạch rõ. Với truyền thống Aristote, tiến trình đó đưa chúng ta tới khái niệm «cận loại» (genus proximum) được kể ra trong chương thứ 2 của Sách Sáng Thế bằng những lời «con người đặt tên cho chúng». Và cận loại (genus proximum) lại liên hệ tới biệt loại (differencia specifica) mà Aristote đã định nghĩa như «nôus, zoón noetikón». Tiến trình này dẫn tới bức phác hoạ đầu tiên của con người như là một nhân vị với một tư cách chủ thể riêng biệt, tiêu biểu cho chính mình.
-----
[1] (http://www.gpnt.net/diendan/newthread.php?do=newthread&f=28#_ftnref1) Văn bản Do Thái vẫn luôn gọi con người đầu tiên là ha’adam, trong khi đó chữ «ish» (người nam) chỉ dùng khi có sự đối chiếu với chữ «isha» (người nữ). Như thế, «con người» đã đơn độc mà không dính dáng gì tới phái tính.
Dù vậy, khi chuyển ngữ, rất khó diễn đạt được khái niệm này trong Sách Sáng Thế bằng những ngôn ngữ châu Âu. Thường thì trong những ngôn ngữ châu Âu, «con người» và «người nam» chỉ có một từ chung để gọi: homo, uomo, homme, man.
[2] (http://www.gpnt.net/diendan/newthread.php?do=newthread&f=28#_ftnref2) “Yếu tính của một vật (quidditive) là định nghĩa về bản chất hoặc bản tính của sự vật. Để xác định yếu tính này chúng ta có thể định nghĩa một vật bằng cận loại (genus proximum) và biệt loại (differencia specifica).
"Cận loại (proximate genus) được hiểu là tất cả các yếu tố căn bản của các loại thấp hơn nó. Vì vậy, cận loại (proximate genus) bao gồm mọi hữu thể về bản chất là cùng gốc hay tương tự với vật đang được định nghĩa. Còn biệt loại (specific differentia) lại gồm cái yếu tố khác biệt giúp phân biệt một vật với các vật khác có bản chất tương tự, bằng cách cho thấy vật đó khác như thế nào so với tất cả những vật bị ngộ nhận là vật đó.
"Con người được định nghĩa như là một «con vật có lý trí». «Con vật» là cận loại (genus proximum) của «con người». «Có lý trí» là biệt loại (differencia specifica) của con người. Cận loại (genus proximum của «con vật» gồm tất cả những yếu tố chủ yếu của loài ở địa vị thấp hơn nó, bởi vì con vật là «một thực chất có sự sống và cảm giác» (…). Biệt loại (differencia specifica) "có lý trí" là yếu tố chủ yếu để phân biệt «con người» với tất cả các «con vật» khác. Như thế, con người tạo thành một loài riêng và tách rời với tất cả các con vật khác và cũng tách rời với tất cả những loài ở địa vị thấp hơn con vật gồm cỏ cây, vật thể và vật chất vô tri vô giác.
"Và hơn nữa, bởi vì biệt loại (differencia specifica) là yếu tố riêng biệt của con người, do đó biệt loại (differencia specifica) gồm tất cả các đặc tính của bản tính con người: chẳng hạn khả năng phát biểu, luân lý,… tức là tất cả những thực tại không có nơi những loài khác trong thế giới vật lý này." (C.N. BITTLE, The Science of Correct Thinking, Logic, Milwaukee 1947, tr. 73-74).
Nhóm Tâm Biển
Về Mục lục (http://gpnt.net/diendan/showthread.php?t=217)
5. Ý nghĩa của sự đơn độc nguyên thuỷ của con người
Trong chuỗi suy niệm này, lần trước chúng ta đã đi đến một kết luận sơ khởi từ những lời trong Sách Sáng Thế kể về cuộc sáng tạo con người, nam và nữ. Chúng ta đã bàn đến những từ, đó là cụm từ “thuở ban đầu” mà Chúa Giêsu đã trưng dẫn để nói về tính bất khả phân ly của hôn nhân. (xem Mt 19,3-9; Mc 10,1-12). Nhưng chúng ta vẫn chưa ngừng phân tích dù đã đi tới kết luận đó. Chúng ta phải đọc lại câu chuyện kể trong hai chương đầu của Sách Sáng Thế trong một bối cảnh rộng hơn nữa để xác định được rõ nghĩa của các từ ngữ trong đoạn văn cổ mà Đức Kitô đã quy chiếu. Vì thế, hôm nay, chúng ta sẽ suy niệm về ý nghĩa sự đơn độc nguyên thuỷ của con người.
Điểm khởi đầu để suy niệm là những lời được trích thẳng từ Sách Sáng Thế: «Con người (nam) ở một mình thì không tốt. Ta sẽ làm cho nó một trợ tá tương xứng với nó» (St 2,18). Chính Chúa Giavê đã phán những lời đó. Đó là câu chuyện thứ hai kể về cuộc sáng tạo con người và câu chuyện này thuộc truyền thống Giavê. Như chúng ta đã nhắc lại, thật là ý nghĩa vì câu chuyện sáng tạo con người được viết thành một đoạn riêng biệt (St 2,7). Đoạn này được kể trước đoạn sáng tạo người nữ đầu tiên (St 2,21-22). Thật là ý nghĩa vì con người đầu tiên (adam) được sáng tạo từ «bụi đất» chỉ được định nghĩa như là nam (ish) sau việc sáng tạo người nữ. Khi Chúa Giavê nói đến sự đơn độc thì Người muốn nói về sự đơn độc của «con người», chứ không phải sự đơn độc của người nam.[1] (http://www.gpnt.net/diendan/newthread.php?do=newthread&f=28#_ftn1)
Tuy nhiên, chỉ dựa vào việc này không thôi thì khó mà rút ra những kết luận sâu xa hơn nữa. Dù thế, toàn bối cảnh của sự đơn độc kể trong Sách Sáng Thế cho phép chúng ta tin rằng đây là sự đơn độc của “con người” (có nam có nữ), chứ không phải chỉ là sự đơn độc của người nam vì thiếu vắng người nữ. Nếu chúng ta căn cứ trên toàn bối cảnh đó, thì sự đơn độc này có hai ý nghĩa: một là vì nó xuất phát từ chính bản tính của con người, tức là vì nhân tính (điều này đã được thấy rõ ràng trong chương thứ 2 Sách Sáng Thế), hai là xuất phát từ tương quan nam-nữ, trên phương diện nào đó, điều này cũng hiển nhiên vì căn cứ trên nghĩa thứ nhất. Một phân tích kỹ hơn về cách diễn tả sẽ giúp chúng ta xác định điều đó.
Vấn đề đơn độc chỉ được diễn tả trong bối cảnh của câu chuyện kể thứ hai về cuộc sáng tạo con người. Câu chuyện thứ nhất không hề nhắc đến vấn đề này. Trong câu chuyện thứ nhất con người được tạo dựng chỉ trong một động tác là tức khắc có nam có nữ. «Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh mình… Thiên Chúa sáng tạo con người có nam có nữ» (St 1,27). Như đã nói, câu chuyện thứ hai kể cuộc sáng tạo con người trước, và chỉ sau đó mới kể việc sáng tạo người nữ từ “xương sườn” của người nam. Điều này giúp ta tập trung sự chú ý vào việc «con người ở một mình». Trong một ý nghĩa nào đó, điều này cho thấy một vấn đề nhân loại học nguồn cội xuất hiện trước khi vấn đề giới tính nam hoặc nữ được đặt ra. Vấn đề được đặt ra trước không phải trên bình diện thời gian cho bằng trên bình diện hiện hữu. Nó được đặt ra trước “vì tự bản chất nó vốn là thế”. Và như thế chúng ta sẽ càng nhìn thấy rõ vấn đề đơn độc của con người từ góc độ thần học về thân xác nếu chúng ta phân tích cặn kẽ câu chuyện thứ hai về cuộc sáng tạo đã kể trong chương thứ hai của Sách Sáng Thế.
Chúa Giavê xác quyết: «Con người ở một mình thì không tốt», lời này không những ở trong bối cảnh ngay trước khi quyết định sáng tạo nên người nữ «Ta sẽ làm cho nó một trợ tá…», nhưng còn ở trong bối cảnh rộng hơn, một bối cảnh của những nhân và duyên. Bối cảnh đó giải thích sâu xa hơn thế nào là sự đơn độc nguyên thuỷ của con người. Bản văn thuộc truyền thống Giavê gắn liền việc sáng tạo nên con người đầu tiên và trước nhất với nhu cầu «canh tác đất đai» (St 2,5). Điều này mới tương xứng với lời mời gọi chinh phục và cai quản toàn trái đất (x. St 1,28) trong câu chuyện thứ nhất. Sau đó, câu chuyện thứ hai của cuộc sáng tạo kể lại việc con người được đưa vào “vườn Êđen” và như vậy hé mở cho chúng ta thấy tình trạng hạnh phúc nguyên thuỷ. Cho tới lúc này, con người là đối tượng của hành động sáng tạo của Chúa Giavê. Và đồng thời, như là Đấng lập nên lề luật, Chúa Giavê cũng thiết đặt những điều kiện của giao ước đầu tiên với con người.
Không nghi ngờ gì nữa toàn phần văn bản này là để chuẩn bị cho câu chuyện kể về việc tạo dựng người nữ. Tuy thế, tự thân bản văn cũng có ý nghĩa rất sâu xa mà không cần phụ thuộc vào câu chuyện sáng tạo nên người nữ: từ giây phút hiện hữu đầu tiên, con người thụ tạo ở trước mặt Chúa như thể đang tìm hiểu về thực thể của chính mình. Có thể nói rằng con người tìm một định nghĩa cho chính bản thân mình. Và cũng có thể nói như người thời nay, con người đang đi tìm cái «căn tính» của mình. Việc con người thấy «đơn độc» giữa thế giới hữu hình, và đặc biệt là giữa các sinh vật, có nghĩa là con người đã không tìm thấy được câu trả lời cho cuộc tìm kiếm này, vì cuộc tìm kiếm đó chỉ phô diễn cho thấy những gì «không phải là con người».
Tuy nhiên, việc con người nhận thấy rằng không thể đồng hoá yếu tính của mình với thế giới hữu hình của những sinh vật khác (thú vật, animalia), cũng đồng thời mang một chiều kích tích cực cho việc tìm hiểu nguyên khởi này. Mặc dù việc nhận thức đó chưa phải là một định nghĩa đầy đủ, nhưng nó cũng là một trong những yếu tố của định nghĩa ấy. Nếu chúng ta chấp nhận truyền thống luận lý và nhân loại học thuộc trường phái Aristote thì chúng ta phải định nghĩa yếu tố đó như là một thứ “cận loại” (genus proximum).[2] (http://www.gpnt.net/diendan/newthread.php?do=newthread&f=28#_ftn2)
Tuy nhiên bản văn thuộc truyền thống Giavê còn cho phép chúng ta khám phá ra những yếu tố khác trong đoạn sách tuyệt vời này. Con người cảm thấy mình đơn độc trước mặt Thiên Chúa chủ yếu là muốn diễn tả rằng, thông qua việc lần đầu tự định nghĩa về bản thân, việc con người đã nhận thức về chính mình như là một cách biểu tỏ nguyên thuỷ và nền tảng về nhân tính. Tri thức về chính mình đi song song với tri thức về thế giới, về tất cả các thụ tạo hữu hình, về tất cả sinh vật mà con người đã đặt tên để nhận thấy rằng trước mặt chúng, mình khác hẳn chúng. Và như thế, ý thức đã cho con người biết là mình có khả năng nhận biết thế giới hữu hình. Nhờ tri thức này, có thể nói một cách nào đó, cái tri thức đã giúp con người thoát ra khỏi hữu thể của chính mình, mà con người cũng cùng một lúc đã tự mở ra cho chính mình thấy được tất cả mọi đặc thù của hữu thể bản thân mình. Con người không chỉ đơn độc về mặt bản tính nhưng còn đơn độc với tư cách chủ thể. Sự đơn độc còn nói lên tư cách chủ thể của con người có được nhờ tự ý thức. Con người đơn độc bởi vì con người «khác biệt» với thế giới hữu hình, với thế giới của những hữu thể có sự sống. Khi phân tích đoạn Sách Sáng Thế này, chúng ta thấy rằng, nhờ vào hành vi đầu tiên tự ý thức và cách thế tự mở mình ra cho chính mình mà con người, trước mặt Chúa Giavê, đã “tự thấy mình khác biệt” với tất cả thế giới của những hữu thể có sự sống (animalia). Đồng thời con người đã tự khẳng định mình như là một «nhân vị» trong thế giới hữu hình. Tiến trình tìm hiểu định nghĩa của chính mình đã được Sách Sáng Thế đoạn 2,19-20 vạch rõ. Với truyền thống Aristote, tiến trình đó đưa chúng ta tới khái niệm «cận loại» (genus proximum) được kể ra trong chương thứ 2 của Sách Sáng Thế bằng những lời «con người đặt tên cho chúng». Và cận loại (genus proximum) lại liên hệ tới biệt loại (differencia specifica) mà Aristote đã định nghĩa như «nôus, zoón noetikón». Tiến trình này dẫn tới bức phác hoạ đầu tiên của con người như là một nhân vị với một tư cách chủ thể riêng biệt, tiêu biểu cho chính mình.
-----
[1] (http://www.gpnt.net/diendan/newthread.php?do=newthread&f=28#_ftnref1) Văn bản Do Thái vẫn luôn gọi con người đầu tiên là ha’adam, trong khi đó chữ «ish» (người nam) chỉ dùng khi có sự đối chiếu với chữ «isha» (người nữ). Như thế, «con người» đã đơn độc mà không dính dáng gì tới phái tính.
Dù vậy, khi chuyển ngữ, rất khó diễn đạt được khái niệm này trong Sách Sáng Thế bằng những ngôn ngữ châu Âu. Thường thì trong những ngôn ngữ châu Âu, «con người» và «người nam» chỉ có một từ chung để gọi: homo, uomo, homme, man.
[2] (http://www.gpnt.net/diendan/newthread.php?do=newthread&f=28#_ftnref2) “Yếu tính của một vật (quidditive) là định nghĩa về bản chất hoặc bản tính của sự vật. Để xác định yếu tính này chúng ta có thể định nghĩa một vật bằng cận loại (genus proximum) và biệt loại (differencia specifica).
"Cận loại (proximate genus) được hiểu là tất cả các yếu tố căn bản của các loại thấp hơn nó. Vì vậy, cận loại (proximate genus) bao gồm mọi hữu thể về bản chất là cùng gốc hay tương tự với vật đang được định nghĩa. Còn biệt loại (specific differentia) lại gồm cái yếu tố khác biệt giúp phân biệt một vật với các vật khác có bản chất tương tự, bằng cách cho thấy vật đó khác như thế nào so với tất cả những vật bị ngộ nhận là vật đó.
"Con người được định nghĩa như là một «con vật có lý trí». «Con vật» là cận loại (genus proximum) của «con người». «Có lý trí» là biệt loại (differencia specifica) của con người. Cận loại (genus proximum của «con vật» gồm tất cả những yếu tố chủ yếu của loài ở địa vị thấp hơn nó, bởi vì con vật là «một thực chất có sự sống và cảm giác» (…). Biệt loại (differencia specifica) "có lý trí" là yếu tố chủ yếu để phân biệt «con người» với tất cả các «con vật» khác. Như thế, con người tạo thành một loài riêng và tách rời với tất cả các con vật khác và cũng tách rời với tất cả những loài ở địa vị thấp hơn con vật gồm cỏ cây, vật thể và vật chất vô tri vô giác.
"Và hơn nữa, bởi vì biệt loại (differencia specifica) là yếu tố riêng biệt của con người, do đó biệt loại (differencia specifica) gồm tất cả các đặc tính của bản tính con người: chẳng hạn khả năng phát biểu, luân lý,… tức là tất cả những thực tại không có nơi những loài khác trong thế giới vật lý này." (C.N. BITTLE, The Science of Correct Thinking, Logic, Milwaukee 1947, tr. 73-74).
Nhóm Tâm Biển
Về Mục lục (http://gpnt.net/diendan/showthread.php?t=217)