View Full Version : Chương Bảy: "Tôi đồng ý", nhưng không theo như ý định của Thiên Chúa
Du Khach
08-02-2006, 08:11 AM
CHƯƠNG 7
“TÔI ĐỒNG Ý [ĐÓN NHẬN CON CÁI]”, NHƯNG KHÔNG THEO NHƯ Ý ĐỊNH CỦA THIÊN CHÚA
Những Kỹ Thuật Sinh Sản
Cuộc sống dạy chúng ta cách hữu hiệu rằng tình yêu – cách riêng tình yêu hôn nhân – là nền tảng của mọi sự sống.
Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II [1]
“Chúng ta có còn cần tính dục nữa hay không?” Đây là câu hỏi đầu tiên trong loạt bài mang tựa đề “Bước qua ngưỡng cửa năm 2000: 100 câu hỏi dành cho thế kỷ mới” của tạp chí Time. “Chim chóc cần tính dục. Loài ong cần tính dục. Nhưng chúng ta có thể chẳng bao giờ cần chuyện đó nữa – ngoại trừ chỉ là để mua vui mà thôi,” là lời tuyên bố cho đề tài đáng quan ngại này. Và chẳng cần phải suy nghĩ gì thêm, dưới một bức tiểu hoạ rùng rợn về sự ra đời của con người trong các ống nghiệm, có một lời chú thích như sau: “Mối dây ràng buộc giữa tính dục và sự truyền sinh sự sống đã mỏng manh, nay càng thêm mong manh hơn.” [2]
Chào Mừng Đến Với Một Kỷ Nguyên Mới Của Aldous Huxley.
Điều này thật sự gây sốc cho chúng ta. Mối dây ràng buộc giữa tính dục và sự truyền sinh sự sống là nền tảng tạo nên phẩm giá của con người. Cắt đứt mối dây này đi thì con người thốt nhiên trở nên rẻ mạt. Cắt đứt mối dây này đi thì con người chẳng còn được xem như là con người thực thụ để yêu thương nữa nhưng là những đồ vật để sử dụng.
Một đàng khi con người cho rằng việc sử dụng các kỹ thuật sinh sản là phương cách giúp họ đạt được hạnh phúc thì cái nhìn thực dụng này dẫn đến sự huỷ hoại loài người cả vào lúc bắt đầu cuộc sống (việc phá thai) và vào lúc kết thúc cuộc sống (việc sử dụng phương pháp cái chết êm dịu). Mặt khác cái nhìn thực dụng này dẫn đến việc sinh sản con người bằng phương pháp khoa học khi người ta cho rằng sự thực dụng này có thể mang lại hạnh phúc cho con người. Trong cả hai trường hợp, sự sống con người không còn được mảy may tôn trọng như bản chất của nó nhưng sự sống chỉ là một đồ vật được sở hữu hay vứt đi tuỳ theo ý thích cá nhân của mỗi người.
Sự hiếm muộn đang tăng vọt trong các nước phát triển [3] trong vòng 30 năm gần đây là một vấn đề thực tiễn. Đáp lại vấn nạn này, “ngành công nghiệp sinh sản bằng phương pháp khoa học” đã phát triển với sự cho phép một cách hợp pháp và lan rộng nhanh chóng. Trong khi con người mong muốn thắng vượt sự hiếm muộn trong sự hợp pháp nhất định, điều này vẫn còn phải được xem xét ở khía cạnh luân lý.
Tuy bản chất của sự mong muốn có con cái là tốt, nhưng nó không bào chữa được cho những phương thế để “có được” một đứa con bằng bất cứ giá nào. Ví dụ việc bắt cóc trẻ con của người khác là hoàn toàn sai trái cho dù đôi vợ chồng đó có muốn con cái cách mấy đi chăng nữa. Cũng vậy, Giáo hội dạy rằng việc có con bằng các phương pháp khoa học là sai trái. Trong cả hai trường hợp (bắt cóc con của người khác và có con nhờ vào phương pháp khoa học), chúng ta đối diện với một ý định tốt (lòng mong muốn có con cái) nhưng cũng đối diện với một phương cách xấu.
Nỗi đau khổ về tinh thần của những cặp vợ chồng hiếm muộn không thể bị bỏ qua mà không được cứu xét. Thế nhưng sự sinh sản con người trong phòng thí nghiệm thì còn nguy hiểm hơn như ban đầu được tỏ lộ. Giáo huấn của Giáo hội chống lại những kỹ thuật sinh sản nhất định mà đã làm nảy sinh nhiều vấn đề cấp bách cũng như nhiều sự phản đối. Trước khi tôi trình bày những vấn nạn đó, tôi muốn đưa ra một vài suy tư nghiêm túc cho cả 7 câu hỏi sau đây và cho những ẩn ý của những câu trả lời.
- Chúng ta có phải là chủ tể của sự sống con người không?
- Phải chăng con cái là quà tặng của Thiên Chúa?
- Có thể đòi hỏi quà tặng được không?
- Các cặp vợ chồng có quyền có con cái với bất cứ giá nào không?
- Các cặp vợ chồng hoàn toàn có “quyền” trên con cái không?
- Chúng ta có tự do định đoạt điều gì là tốt và điều gì là xấu không?
- Có phải những điều răn của Thiên Chúa là phương tiện mang lại hạnh phúc cho ta hay làm cho chúng ta xa rời hạnh phúc?
-----
[1] (http://www.gpnt.net/thuvien/thanhocthanxac/tinmungtinhduchn/goodnews_07.htm#_ftnref1) "Tình yêu trong Gia đình," 799.
[2] (http://www.gpnt.net/thuvien/thanhocthanxac/tinmungtinhduchn/goodnews_07.htm#_ftnref2) Tạp chí Time, November 8, 1999, 66-69.
[3] (http://www.gpnt.net/thuvien/thanhocthanxac/tinmungtinhduchn/goodnews_07.htm#_ftnref3) Nhiều bác sĩ đã cảm thấy thật châm biếm trong việc họ phải bỏ ra 15 năm đầu để giúp cho quý bà, đang trong thời kỳ sinh sản được, tránh khỏi phải có thai và bỏ thêm 15 năm sau đó để giúp quý bà mang thai. Có thật đáng ngạc nhiên không khi một nền văn hoá cho phép sống chung chạ và tìm mọi cách để giúp tránh thụ thai bằng những liều lượng cao các thuốc khống chế khả năng sinh sản và bằng những dụng cụ đặt vào trong cơ thể, để rồi phải gánh chịu một sự gia tăng khủng khiếp về tỷ lệ hiếm muộn, lúc ấy người ta lại khao khát được thụ thai?
http://gpnt.net/images/arrow_dyn.gif (http://www.gpnt.net/thuvien/thanhocthanminh/tinmungtinhduchn/goodnews_07.htm)
Du Khách
Du Khach
21-02-2006, 08:18 AM
1. Giáo hội rất quan tâm cổ võ cho gia đình và trẻ em. Điều này làm người ta có cảm giác rằng Giáo hội dường như phản đối các phương tiện kỹ thuật làm cản trở quá trình sinh sản. Nhưng có gì là sai trái một khi các phương tiện kỹ thuật giúp đem lại sự sống cho thế giới?
Ban đầu điều này có vẻ mâu thuẫn. Tuy nhiên khi đi xa hơn để tìm tòi và nghiên cứu, chúng ta sẽ thấy rằng Giáo hội sẽ mâu thuẫn với chính mình nếu Giáo hội không vạch ra những sai trái về mặt luân lý của các kỹ thuật tạo sinh. Giáo huấn của Giáo hội về vấn đề các kỹ thuật trợ giúp sinh sản đơn thuần chỉ là mặt sau của giáo huấn về sự hạn chế sinh sản (kế hoạch hoá gia đình).[4] Đang khi những phương pháp tránh thai muốn tách tình dục ra khỏi con cái thì lại có nhiều phương pháp tạo sinh thực chất là muốn tách con cái ra khỏi tính dục. Ý nghĩa của việc được tạo dựng nên là người nam và người nữ theo hình ảnh của Thiên Chúa càng làm cho việc tôn vinh ý nghĩa của tình yêu, cuộc sống và hôn nhân càng thêm vững chắc. Ý nghĩa này đòi hỏi mối liên hệ giữa tính dục và con cái, con cái và tính dục không bao giờ bị tách lìa nhau, bất chấp mọi hoàn cảnh và mọi ước muốn.
Nguyên tắc luân lý căn bản của Giáo hội liên quan đến những kỹ thuật trợ giúp sinh sản là thế này: Nếu việc sử dụng y khoa mang tính chất trợ giúp cho tính dục của hôn nhân được có kết quả theo như tính chất tự nhiên, thì về mặt luân lý nó có thể được chấp nhận, thậm chí còn đáng được cổ võ. Nhưng nếu y khoa được sử dụng như là phương tiện để thay thế tính dục hôn nhân trong việc thụ thai, thì nó không đúng với ý định của Thiên Chúa đối với sự sống của con người.[5] Tách rời việc thụ thai ra khỏi tình yêu khắng khít vợ chồng không những gây nên những hậu quả nặng nề hơn, mà còn –cho dù những hậu quả này có được ngăn chặn– đi ngược lại phẩm giá của đứa trẻ, phẩm giá của đôi vợ chồng và mối quan hệ của họ, và điều này còn đi ngược lại thân phận của chúng ta là những tạo vật của Thiên Chúa. Bây giờ chúng ta đi vào từng vấn đề.
Gây nên những tai hại nặng nề hơn. Như Đức Kitô đã nói, hãy xem quả thì biết cây (xem Mt 7,17-20). Tách biệt việc thụ thai khỏi tính dục hôn nhân không nhất thiết dẫn đến những tội lỗi như sẽ được nêu lên sau đây, nhưng còn hơn thế nữa, việc làm này dẫn đưa đến những hành vi tội lỗi: thủ dâm để lấy tinh trùng; những con người bị xem là “sản phẩm thừa” của quá trình thụ tinh nhân tạo hoặc là bị giết bởi phá thai (mà cách nói tránh là “sự đào thải trong quá trình chọn lọc”), hoặc là cấp đông để sau này “sử dụng”, hay là được nuôi dưỡng vì mục đích thí nghiệm y học; “não trạng ưu sinh” dẫn đến việc phân biệt đối xử giữa người này với người khác; việc buôn bán bất hợp pháp các giao tử (cả tinh trùng và trứng) và các phôi thai đông lạnh cho mục đích sử dụng của người khác; việc thụ tinh nhân tạo cho những phụ nữ không lập gia đình và như thế dẫn đến những tác hại là những đứa trẻ được sinh ra không có cha như đã được trình bày ở chương trước.
Phẩm giá của đứa trẻ. Trong khi có nhiều cách để đứa trẻ có thể được thụ thai (tính dục hôn nhân, hiếp dâm, thông dâm, ngoại tình, loạn luân, những kỹ thuật trợ giúp sinh sản), thì chỉ có một cách để giữ gìn được phẩm giá của đứa trẻ. Như trong chương một đã phân tích, phẩm giá cao quý của con người được nhìn thấy trong việc con người là hình ảnh của Thiên Chúa. Tình yêu là nguồn cội, là ơn gọi và là cùng đích của con người. Như vậy phẩm giá của con người đòi hỏi rằng đứa trẻ phải được thụ thai bởi tình yêu để diễn tả hình ảnh sống động của Thiên Chúa. Tình yêu này được diễn tả bằng tính dục hôn nhân qua sự liên kết “nên một thân thể” của đôi vợ chồng.
Đứa trẻ xứng đáng được tôn trọng như là một con người có phẩm giá ngang bằng với cha mẹ mình ngay từ lúc được thụ thai. Trẻ thơ là quà tặng nhưng không từ Thiên Chúa, là sự sống mới của một con người mới được sáng tạo nên. Một đứa trẻ không sinh ra từ tính dục hôn nhân nhưng từ kỹ thuật sinh tạo, đứa trẻ ấy bị xem như là một sản phẩm đã kiếm được chứ không phải là một con người được sinh ra bằng tình yêu thương. Bởi phí tổn là điều làm người ta quan tâm nên đã hình thành một não trạng phi nhân cách hoá đứa trẻ một cách có ý thức hay vô thức, có tính chất tinh vi hay chỉ là mơ hồ.
Sản phẩm thì phải lệ thuộc vào quy luật kiểm duyệt chất lượng. Khi bạn mua một cái ti vi mới với giá đắt, bạn muốn nó là cái ti vi mới toanh. Bạn muốn nó hoạt động được chứ bạn đâu có nghĩ đến chuyện lôi nó ra khỏi thùng chỉ vì bản chất nó và như thế nếu nó không hoạt động được thì bạn lại bỏ nó vào thùng để đem đi đổi cái khác hay lấy lại tiền.
Cũng vậy, sự quyến rũ của quy luật này rất là thực tế đối với đôi vợ chồng phải bỏ ra hàng ngàn đô la (thậm chí là cả chục ngàn đô la) cho những quá trình cấy thai này là việc muốn đổi hay là làm lại nếu “sản phẩm” của họ không được hoàn mỹ. Lối suy nghĩ này dẫn đến việc người ta không phải chỉ là muốn mình có con cái nhưng là muốn có những đứa trẻ “hoàn hảo”. Có những đứa trẻ “được đặt hàng” theo đúng với giới tính, màu mắt, màu da, tầm vóc. Trong thực tế, có những đứa trẻ bị dị dạng hay không đạt được những đặc điểm mà đôi vợ chồng (hay bác sĩ) chỉ định, đứa trẻ ấy thường bị “sa thải” và quá trình cấy thai được tiến hành trở lại.
Tôi không có ý muốn nói rằng tất cả mọi cặp vợ chồng khi trả tiền cho những quy trình thụ thai này đều đứng trên quan điểm như vừa được trình bày. Sự quyến rũ của việc áp dụng “quy luật kiểm duyệt chất lượng” có thể bị bỏ qua nhưng bản chất của quá trình này tự bản thân nó đã mang não trạng của sự phi nhân cách.
Phẩm giá của mọi đứa trẻ chỉ bảo đảm được tôn trọng khi nào chắc chắn rằng hai vợ chồng hiểu và sống tròn đầy ý nghĩa của tính dục và không bao giờ tìm kiếm con cái ngoài sự kết hiệp của họ. Chẳng có đứa trẻ nào là không được mong muốn hay yêu thương nếu đó quả là kết quả của sự kết hiệp của người cha người mẹ, mà điều này là phản ảnh hình ảnh của Thiên Chúa, cho dù nó có bị khuyếm khuyết thế nào đi chăng nữa. Tình yêu nhưng không làm trổ sinh tình yêu nhưng không.
Phẩm giá của đôi vợ chồng và mối quan hệ của họ. Thánh Bộ Giáo Lý Đức Tin nhìn nhận rằng sự truyền sinh sự sống con người chỉ thực sự được tôn trọng một khi sự tôn trọng không chỉ hướng đến phẩm giá của đứa trẻ mà còn đến phẩm giá của cha mẹ và mối quan hệ của họ. Sự truyền sinh sự sống “phải là hoa quả và là dấu chỉ của sự không ngừng dâng hiến của đôi vợ chồng, của tình yêu và lòng chung thuỷ.”[6] Nói cách khác, như chúng ta bàn luận trong suốt quyển sách, sự truyền sinh sự sống con người phải là hoa trái của việc “tôi đồng ý” những lời thề hứa trong bí tích hôn nhân được diễn tả qua sự giao hợp.
Đơn giản mà nói thì sự sinh sản con người bằng phương pháp kỹ thuật không phải là hành vi hôn nhân.
http://gpnt.net/images/arrow_dyn.gif
Du Khach
21-02-2006, 08:19 AM
Con người được sinh ra bằng kỹ thuật tạo sinh đương nhiên không phải là do hành vi vợ chồng. Đứa trẻ không phải là hoa trái của những lời thề hứa hôn nhân “đã hoá thành nhục thể” của cha mẹ nhưng là sản phẩm của một quy trình kỹ thuật được thực hiện bởi một thành viên thứ ba ngoài sự kết hiệp mật thiết của đôi vợ chồng. Nhà thần học luân lý William E. May đã lưu ý như sau: “ Đôi vợ chồng không thể uỷ thác cho người khác cái đặc ân của việc sinh con cái cũng như quyền mà họ phải thực hiện trong hành vi vợ chồng.”[7] Trên thực tế việc các nhà chuyên môn dùng giao tử để cho thụ thai là đã dành cho mình chức năng tạo sinh và làm mất đi quyền bất khả nhượng của cha mẹ trong việc thụ thai đứa trẻ.
Như vậy một lần nữa, đôi vợ chồng sử dụng những quy trình này vi phạm, một cách có ý thức hay vô ý, việc “tôi đồng ý” trong lời hôn ước của họ. Khi đôi vợ chồng mong muốn diễn tả “sự sẵn sàng đón nhận con cái” dựa vào những quy trình y học này, thì cũng ví bằng như họ đã nói “Tôi đồng ý [đón nhận con cái], nhưng không theo như ý định của Thiên Chúa.” Hành động nghịch lại với kế hoạch của Thiên Chúa trong hôn nhân và sinh sản là hoàn toàn không tương thích với sự cam kết hôn nhân, ngay cả điều này được thực hiện với “những ý hướng tốt đẹp nhất”.
Hơn nữa, rất nhiều cặp vợ chồng có thể làm chứng cho những hành vi phi nhân cách để mình bị lệ thuộc vào nhiều cuộc thử nghiệm và những quá trình lặp đi lặp lại, mà trong đó những tế bào sinh dục được coi như “vật liệu thô” để sử dụng vào mục đích tạo sinh trẻ em. Việc thụ thai nhân tạo bởi một cái ống tiêm dài do bác sĩ thực hiện cũng không phải nằm trong số những điều gì đó thật sự đáng giá đối với người phụ nữ. Nhiều người cho rằng điều này thật sự là đáng giá vì “đứa con mầu nhiệm” được sinh ra. Nhưng điều này ẩn chứa một sự thật là đứa trẻ đó chính là một “phép mầu khoa học” chứ không còn là mầu nhiệm của sự kết hợp vợ chồng. Chính điều đó không thể giúp hay phục vụ cho việc tháo gỡ những mối tương quan về mặt tâm lý gia đình trong đó đôi vợ chồng cũng như con cái đều thông dự vào một cách đồng đều.
Ăn ở vợ chồng không đơn thuần là việc sinh lý thông truyền các giao tử. Nếu điều đó là đúng thì việc đôi vợ chồng muốn dùng kỹ thuật tạo sinh bằng phương pháp thụ thai trong ống nghiệm còn có vẻ hợp lý hơn là cứ để mặc nó cho vận may của sinh lý. Ăn ở vợ chồng là một thực tại mang tính nhân vị, bí tích, thể lý và tinh thần. Tách rời việc thụ tinh ra khỏi sự liên kết cao cả này cho thấy sự thiếu hiểu biết và thiếu tôn trọng “ngôn ngữ của thân xác” và bản chất thâm thuý của tình yêu vợ chồng. Điều này phủ quyết giá trị nhân bản của con người trong tất cả những gì liên quan.
Thân phận thụ tạo của chúng ta. Chỉ một mình Thiên Chúa là “Chúa và là Đấng ban sự sống” như ta tuyên xưng trong Kinh Tin Kính của Công Đồng Nixê. Đặc quyền của đôi vợ chồng là sự cộng tác với Thiên Chúa trong việc truyền sinh sự sống, theo như thân phận của một thụ tạo, chứ không phải là chủ tể của sự sống. Họ chỉ là kẻ tôi tớ trong chương trình của Thiên Chúa mà thôi.
Kỹ thuật thụ tinh, trái lại, như Thánh Bộ Giáo lý và Đức tin lưu ý, “là sự giao phó sự sống và thân phận của phôi thai vào trong tay của các bác sĩ và các nhà sinh vật học và thiết lập quyền thống trị của kỹ thuật trên nguồn cội cũng như số mệnh của con người.”[9] Đôi vợ chồng và các nhà chuyên môn theo như cách ấy rõ ràng là đã tự đặt mình như là người tác tạo chứ không phải là người cộng tác, xem mình như là người tạo sinh thay vì chỉ là người truyền sinh. Họ phủ nhận thân phận của mình là loài thọ tạo và tôn mình lên “bằng Thiên Chúa” (x. St 3,5).
Thiên Chúa đã tạo nên sự kết hợp tính dục, như chúng ta đã bàn xuyên suốt trong bài, là dấu chỉ huyền nhiệm của chính sự sống và tình yêu của Người và là dấu chỉ bí nhiệm của sự kết hợp của chúng ta với Thiên Chúa. Tìm kiếm sự sống con người ngoài tính dục hôn nhân cũng là một dấu chỉ. Nó tượng trưng cho việc chối từ sự hiệp nhất của chúng ta với Thiên Chúa: mong muốn có được sự sống mà bất cần Thiên Chúa, hay ít nữa, là xa rời ý định của Ngài dành cho chúng ta. Giáo lý Hội thánh Công giáo dạy rằng khi chúng ta nâng những ý muốn của mình lên trên ý định Thiên Chúa, có nghĩa là chúng ta đã khinh mạn Người rồi. Khi chúng ta chọn bản thân mình bất chấp những đòi hỏi của tình trạng thụ tạo, thì chúng ta đã hành động nghịch lại điều tốt lành cho bản thân.[10]
-----
[4] (http://www.gpnt.net/thuvien/thanhocthanxac/tinmungtinhduchn/goodnews_07.htm#_ftnref4) Oái ăm thay, đứa trẻ từ ống nghiệm đầu tiên trong lịch sử, Louise Brown, được sinh ra vào ngày 25/07/1978. Điều này đã xảy ra đúng vào dịp kỷ niệm năm thứ 10 ban hành Thông điệp Humanae Vitae của Đức Phaolô VI, quả quyết về mối liên kết nội tại giữa tính dục và truyền sinh. Có ngẫu nhiên chăng? Hay là Thiên Chúa đang thực hiện điều vi diệu? (Từ đó đến nay suýt soát khoảng một trăm ngàn trẻ em được ra đời cách đơn độc theo kỹ thuật sinh sản này trên cả nước Hoa Kỳ.)
[5] (http://www.gpnt.net/thuvien/thanhocthanxac/tinmungtinhduchn/goodnews_07.htm#_ftnref5) Xem Thánh Bộ Giáo lý và Đức tin, Tài liệu hướng dẫn về việc tôn trọng sự sống con người ngay từ lúc khởi đầu và về phẩm giá của việc truyền sinh (Donum Vitae), số 7.
[6] (http://www.gpnt.net/thuvien/thanhocthanxac/tinmungtinhduchn/goodnews_07.htm#_ftnref6) Donum Vitae, số A1.
[7] (http://www.gpnt.net/thuvien/thanhocthanxac/tinmungtinhduchn/goodnews_07.htm#_ftnref7) William E. May, Marriage: The Rock on Which the Family is Built (San Francisco: Ignatius, 1995), 98.
[8] (http://www.gpnt.net/thuvien/thanhocthanxac/tinmungtinhduchn/goodnews_07.htm#_ftnref8) Đôi vợ chồng càng vi phạm lời thề hứa của họ hơn khi họ cậy nhờ đến giao tử của một người thứ ba (từ chuyên môn gọi là heterologous fertilization) hoặc "sử dụng" một người phụ nữ khác để mang thai và sinh đẻ giùm, bởi vì họ đã thề hứa thuỷ chung với nhau "đòi hỏi phải tôn trọng nhau, chỉ được quyền trở thành cha và mẹ trong tương quan giữa hai người với nhau mà thôi" (Donum Vitae, n. A1).
[9] (http://www.gpnt.net/thuvien/thanhocthanxac/tinmungtinhduchn/goodnews_07.htm#_ftnref9) Donum Vitae, số B5.
[10] (http://www.gpnt.net/thuvien/thanhocthanxac/tinmungtinhduchn/goodnews_07.htm#_ftnref10) X. GLHTCG, số 398.
Du Khach
21-02-2006, 08:21 AM
2. Có phải ông cho rằng những đứa trẻ được thụ thai bằng những kỹ thuật này không được sáng tạo bởi Thiên Chúa, hoặc không được tạo nên theo hình ảnh của Ngài?
Sẽ chẳng có ai hiện hữu trên hành tinh này nếu Thiên Chúa đã không muốn. Một khi tinh trùng và trứng gặp nhau, ngay cả nếu đó là trong ống nghiệm, Thiên Chúa sáng tạo ngay một linh hồn bất tử cho nó. Nhưng dù Thiên Chúa để cho ý định và việc thụ thai trẻ em bằng phương pháp khoa học xảy ra, điều này không có nghĩa là Thiên Chúa muốn chúng ta sử dụng những phương pháp này.
Cũng vậy, mặc dù trẻ em được thụ thai và hiện hữu qua những hành động như cưỡng dâm và loạn luân không nằm ngoài ý định Thiên Chúa (vì nếu Ngài không muốn, chúng chẳng thể nào hiện hữu được), điều này không có nghĩa là Ngài mong muốn chúng ta thực hiện việc cưỡng dâm và loạn luân. Cho dù những đứa trẻ đó tự thân chúng được mang lấy hình ảnh của Thiên Chúa và được đối xử một cách yêu thương như mọi con người khác, chúng đã không được tạo dựng bởi một hành động phản ảnh hình ảnh của Ngài. Điều đó sẽ luôn tồn tại một sự bất công đối với chúng.
Ở đây chúng ta nhận ra rằng mình đang đối diện với một sự giao thoa thánh thiêng giữa Thiên Chúa và sự tự do của con người. Thiên Chúa không can thiệp vào những quyết định dại dột của chúng ta. Nếu Ngài làm như vậy là Ngài đã chối bỏ quyền tự do của chúng ta. (Món quà này sao mà cao quý và cũng là một trách nhiệm nặng nề quá.)
Tuy nhiên, Thiên Chúa theo bản tính của Ngài là đem lại những điều tốt lành trên những lựa chọn sai lầm của con người, ngay cả những điều tốt hết sức có thể – là tạo nên một con người mới. Phải chăng điều này bao hàm việc chúng ta cứ làm điều dữ để nhờ đó mà được điều lành? Nếu chúng ta cứ làm như thế thì, như Thánh Phaolô nói, sự kết án của chúng ta đã là thích đáng (x. Rm 3,8).
3. Chúng ta xúc phạm Thiên Chúa mỗi khi đi phẩu thuật [triệt sản] hay dùng thuốc [tránh thai]. Vậy thì đâu là sự khác nhau giữa những chuyện đó với những việc hỗ trợ sinh sản?
Cường tráng, sức khoẻ và sự sống là những gì được ban tặng cho con người như là một phần trong kế hoạch nguyên thuỷ của Thiên Chúa. Đau yếu, bệnh tật và sự chết là hậu quả của sự suy đồi gây ra bởi tội nguyên tổ. Thiên Chúa để cho những điều đó xảy ra nhưng chính Ngài không muốn nó xảy ra. Cứ cho là tất cả những phương thế được sử dụng tự chúng là hợp pháp, thì chúng ta chỉ có thể hành động hoàn toàn phù hợp với chương trình của Thiên Chúa khi chúng ta sử dụng thuốc men và kỹ thuật để cứu mạng sống hay phục hồi sức khoẻ cho con người.
Trong những trường hợp này, chúng ta không hành động như là người chủ của sự sống con người nhưng chỉ như là những người quản lý trung tín mà Thiên Chúa đã cắt đặt. Cũng vậy, khi chúng ta trợ giúp cho việc ăn ở vợ chồng đạt được hiệu quả cách tự nhiên, chúng ta hành động như là người quản lý biết sắp xếp công việc theo đúng dự kiến của Thiên Chúa. Nhưng lúc nào chúng ta thay thế dự kiến của Thiên Chúa và kiếm cách để “áp đặt” sự thụ thai, thì lúc ấy chúng ta đã vượt ra khỏi giới hạn của người quản lý để trở thành người chủ, từ loài được tạo dựng trở thành kẻ báng bổ Thiên Chúa.
Du Khach
03-03-2006, 06:28 AM
4. Có phải ông cho rằng sự hiếm muộn là một căn bệnh (xem chương sáu, câu hỏi 9 (http://gpnt.net/diendan/showthread.php?p=20827#post20827))? Vậy theo ông điều này có hàm ý việc sử dụng thuốc hay kỹ thuật để chữa trị hay không?
Đúng, sự hiếm muộn là một căn bệnh hay đúng hơn là một khuyết tật. Việc tìm kiếm những phương cách để chữa trị sự khiếm khuyết này là một công việc đáng khen ngợi đối với những cặp vợ chồng phải đau khổ vì nó. Tuy nhiên có làm gì đi chăng nữa thì cũng phải tuân theo những giới hạn nào đó nhất định.
Lời tuyên bố trong thông điệp Humanae Vitae trong chương sáu cũng có thể được áp dụng ở đây: “Giáo hội là người đầu tiên ca ngợi và đề nghị sự can thiệp một cách có hiệu quả trên tinh thần là hữu thể có lý trí trong việc cộng tác với Đấng Tạo hoá; nhưng Giáo hội xác định rằng điều này phải được thực hiện với tinh thần tôn trọng sự xếp đặt đã được thiết lập bởi Thiên Chúa.” [11] Nếu chúng ta sử dụng lý trí để trợ giúp chuyện vợ chồng nhằm đạt được kết quả một cách tự nhiên, là chúng ta đang hành động như là những người quản lý trung tín những ân huệ của Thiên Chúa, trong chương trình của Người là tôn trọng sự sắp đặt của Người. Còn nếu chúng ta thay thế chuyện vợ chồng bằng các phương tiện khác để đạt được sự thụ thai, chúng ta đã hành động vượt ra khỏi sự sắp đặt của Thiên Chúa.
Trong thực tế chỉ khi nào chúng ta thật sự chữa trị chứng hiếm muộn thì mới đúng là chúng ta trợ giúp cho chuyện vợ chồng. Nếu chúng ta thay thế việc giao hợp vợ chồng thì trên thực tế không phải là chúng ta chữa trị bệnh tật của đôi vợ chồng nhưng chỉ là lẫn tránh nó mà thôi.
Mệnh lệnh của Thiên Chúa không mang tính độc đoán nhưng là vì phần rỗi và vì ơn ích cho chúng ta. Có những điều bí ẩn mà ta không hiểu được như việc Thiên Chúa để cho những kẻ gian dâm, những kẻ ngoại tình là những người không hề có ý định có con cái lại có thai, trong khi đó Ngài lại để cho những người chồng, người vợ phải buồn phiền vì hiếm muộn. Ai có thể hiểu được điều Ngài làm cơ chứ? Nhưng cả hai trường hợp đó là cơ hội để cho những ai có liên quan chấp nhận những giới hạn của mình và nhìn nhận Thiên Chúa.
Đường lối của Thiên Chúa không phải là đường lối của chúng ta. Trời cao hơn đất bao nhiêu thì tư tưởng của Thiên Chúa cao hơn tư tưởng của chúng ta bấy nhiêu (x. Is 55,9). Hãy trông cậy vào Thiên Chúa. Đây là những gì Đức Kitô đã dạy chúng ta. Chính Người đã cảm nhận sự ruồng bỏ của Thiên Chúa Cha trong giờ khắc trên cây Thập Giá (xem Mc 15,34). Nhưng ngay cả trong giờ phút đen tối nhất của cuộc đời, Người vẫn phó thác vào Thiên Chúa Cha. Và sự Phục Sinh của Người đã minh chứng cho sự phó thác của Người không phải là vô cớ.
Lạy Chúa, xin giúp con biết đặt niềm tin tưởng vào Ngài trong mọi hoàn cảnh sống của con và đặc biệt là những lúc con không thể thấu hiểu được. Xin ban cho con được ơn biết tin tưởng vào những điều tốt lành mà Ngài sẽ ban cho con qua những đau khổ và những chán nản ê chề trong cuộc sống. Amen.
----
[11] (http://www.gpnt.net/thuvien/thanhocthanxac/tinmungtinhduchn/goodnews_07.htm#_ftnref11) Humanae Vitae, 16.
Du Khach
03-03-2006, 06:29 AM
5. Tôi hiểu rằng con cái được coi như là hoa trái của tình yêu của cha mẹ. Nhưng những đứa con được thụ thai bằng những phương pháp kỹ thuật này có còn là hoa trái tình yêu của cha mẹ trên bình diện thiêng liêng nữa chăng?
Quả đúng thật tình yêu là thiêng liêng bởi vì Thiên Chúa, Đấng Thánh Thiêng tinh tuyền, là tình yêu (x. 1 Ga 4,8). Nhưng con người hoàn toàn không phải là những thiên thần. Chúng ta là những con người có thân xác (xem chương 3, câu hỏi 9; chương 5, câu hỏi 6 để biết thêm về những luận bàn đầy đủ trong lĩnh vực này). Chỉ trong và qua thân thể của mình mà con người phản ảnh hình ảnh của Thiên Chúa và chia sẻ tình yêu của Ngài cho người khác. Không có điều gì có thể diễn tả tốt hơn sự biểu lộ đơn nhất của tình yêu hôn nhân, đó là sự kết hiệp nên một máu thịt của đôi vợ chồng.
Đôi vợ chồng có thể nhờ cậy vào các tiến trình kỹ thuật bởi vì họ muốn có con cái để mà yêu thương. Và dĩ nhiên là họ có thể yêu thương đứa trẻ một khi nó được sinh ra. Tuy nhiên, dù cho chúng ta có muốn nghĩ điều đó là có thể được đến cách mấy đi chăng nữa thì chẳng có phép tính toán nào hay mong ước nào có thể lưu chuyển được “tình yêu thiêng liêng” bên ngoài thân xác của họ đi vào và bao trùm được cái tiến trình mà bác sĩ hay nhà khoa học làm cả. Thực tế cho thấy vẫn tồn tại điều này là nguồn gốc của đứa trẻ không còn phải là của tình yêu hoá thành nhục thể của cha mẹ nhưng nguồn gốc của nó là kết quả của những tiến trình kỹ thuật làm mất đi phẩm giá cao quý của con người.
Du Khach
03-03-2006, 06:30 AM
6. Tại sao việc nhận con nuôi có thể chấp nhận được? Những đứa trẻ con nuôi đâu phải là hoa trái của sự kết hợp thân xác của đôi vợ chồng?
Nhận con nuôi không chỉ là việc có thể chấp nhận được mà còn là một việc làm đáng khen ngợi. Dù rằng một đứa con nuôi rõ ràng không phải là hoa trái sự kết hợp của vợ chồng đó, thì việc lo liệu cho một đứa trẻ đã hiện hữu có một mái ấm thì hoàn toàn khác xa đối với việc làm cho một đứa trẻ hiện hữu. Một bên là một hành động của tình yêu còn một bên không phải như thế. Những đôi vợ chồng không thể sinh con nên xem xét một cách thành khẩn xem ý định của Thiên Chúa có phải là đang kêu gọi họ mở rộng vòng tay ra đối với những trẻ em đang cần được yêu thương hay không.
7. Vợ của anh tôi không có khả năng sinh con. Họ hỏi tôi có muốn trở thành người mang thai hộ không. Tôi thương anh tôi và muốn giúp đỡ anh ấy. Chuyện này có gì là sai trái?
Tình thương luôn làm cho người ta muốn điều tốt cho người khác và giúp người khác làm như vậy. Tình thương chân thành mà bạn dành cho anh mình đâu có thể đem so với thiện ý của bạn là mang thai giúp được. Mang thai giúp không chỉ là một sự sai lạc trầm trọng so với quy luật tự nhiên của mối quan hệ gia đình mà điều này còn đòi hỏi quá trình thụ thai ống nghiệm. Điều này là hoàn toàn sai trái như những gì đã bàn luận.
Cách tốt nhất mà bạn có thể giúp cho anh ấy được là khuyến khích anh ta chấp nhận sự thật trong chương trình của Thiên Chúa đối với vấn đề tính dục và sự truyền sinh trong đời sống hôn nhân của anh ấy. Nếu điều đó có nghĩa là anh ấy sẽ chẳng bao giờ có thể có một đứa con trên bình diện sinh lý, Thiên Chúa sẽ ban ơn giúp cho anh ấy chấp nhận được điều đó.
8. Chẳng phải Thiên Chúa kêu gọi chúng ta làm chủ thiên nhiên sao?
Thiên Chúa đã kêu gọi chúng ta làm chủ trái đất và thống trị muôn loài trên mặt đất (x. St 1,28). Một khi chúng ta còn là những người quản lý trung tín, chúng ta có tự do để điều khiển vũ trụ để đem lại ích lợi cho mình. Chẳng hạn như việc thụ tinh nhân tạo súc vật thì không có gì là sai trái cả vì chúng chẳng phải được tạo dựng bằng tình yêu để phản ảnh hình ảnh của Thiên Chúa. Nhưng quyền thống trị này không được phép lấn sang trên con người.
Cũng vậy thân thể con người cũng không được phép xem như là “phần thứ yếu” mà qua đó chúng ta có quyền quyết định trên nó. Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã cảnh báo trong Thư gởi các Gia Đình, “Một khi thân xác con người, bị xem xét tách biệt với tinh thần và tư tưởng, sẽ đi đến chỗ bị sử dụng làm chất liệu tươi sống giống như các thân xác động vật... chúng ta đi tới sự sa đoạ luân lý thật tồi tệ, không thể tránh được.”[12]
----
[12] (http://www.gpnt.net/thuvien/thanhocthanxac/tinmungtinhduchn/goodnews_07.htm#_ftnref12) Thư gởi các Gia đình, 19
Du Khach
03-03-2006, 06:31 AM
9. Rất nhiều người phụ nữ không lập gia đình vô cùng mong ước có con cái. Những kỹ thuật này có thể giúp họ hoàn thành được ước nguyện. Chuyện này có gì là sai trái?
Những kỹ thuật này tự bản thân chúng là sai trái như những gì đã bàn luận. Nhưng việc sử dụng chúng để giúp những phụ nữ không lập gia đình thụ thai lại là một chuyện khác đáng phải lưu ý.
Nhiều người phụ nữ có những nỗ lực phi thường trong việc nuôi dưỡng con cái trong lúc người cha vắng mặt mà điều này không phải là do lỗi của họ. Họ đáng được tán dương bởi sự cống hiến và những hy sinh của mình.
Nhưng có một sự khác biệt rất lớn giữa việc một người mẹ goá bụa nuôi con trong sự thương nhớ người cha khuất bóng của đứa trẻ và người kia là người mẹ không chồng quyết chọn việc chối bỏ người cha trong mối tương quan không thể thay thế được của người con. Việc mong ước để có một đứa con theo cách này chỉ có thể được xem là sự tự phục vụ.
Có thể người ta dễ dàng nghĩ rằng, “Việc cho ra đời những đứa trẻ không cha nào đó cũng tốt thôi mà. Điều này có gì là tồi tệ đâu.” Nhưng chẳng có đứa trẻ nào không có cha lớn lên mà không bị tổn thương. Chỉ qua sự bảo bọc và mối quan hệ được chính thức nhìn nhận của con cái đối với người cha và người mẹ mà chúng mới có thể khám phá ra được căn tính của mình và như vậy chúng mới có thể hoàn thành được sự phát triển con người của chính mình.[13] Cảm giác của đứa trẻ về bản thân sẽ thế nào khi nó biết được rằng nó được sinh ra nhờ vào tinh trùng mà cha nó đã thủ dâm để bán ở ngân hàng tinh trùng?
10. Tôi có thể biết được là tại sao một người độc thân có thể không có quyền để có con cái. Nhưng thật là tàn nhẫn nếu Giáo Hội khước từ quyền có được một đứa con đối với một đôi vợ chồng đầm ấm trong khi họ vô cùng mong muốn có được.
Mong muốn có con cái của một đôi vợ chồng không phải là điều gì quá đáng so với tính chất tự nhiên của nó. Giáo Hội là người đầu tiên nhìn nhận và chia sẻ nỗi niềm của các đôi vợ chồng không có khả năng sinh con. Mong muốn làm giảm bớt những nỗi đau của đôi vợ chồng hiếm muộn bằng cách thừa nhận những nỗi khát khao hợp lý của họ bất cứ lúc nào có thể là một điều hết sức tự nhiên. Thế nhưng như trước đây chúng ta đã lưu ý, chúng ta phải đối diện với một thực tại hết sức nguy hiểm khi chúng ta để cho tình cảm chi phối những quyết định luân lý của mình, đặc biệt khi những quyết định đó liên quan đến sự sống và định mệnh của người khác.
Giáo hội là người bảo vệ cho những quyền hợp pháp của con người. Giáo hội không bao giờ chối từ chúng. Tuy nhiên đôi vợ chồng không thể đòi cho mình có được quyền hợp pháp trên con cái.[14]
Con cái là quà tặng của Thiên Chúa. Chẳng có cặp vợ chồng nào tự gán cho mình quyền trên con cái hay có thể đòi hỏi có được chúng. Lời thề hứa của đôi vợ chồng trên bàn thờ là “yêu thương đón nhận con cái mà Thiên Chúa ban cho” phản ảnh thực tại này.
Đôi vợ chồng chỉ có quyền thực thi chuyện ăn nằm vợ chồng và cầu nguyện để ý định của Thiên Chúa được thực hiện mà thôi.[15] Họ hoàn toàn được tự do để tạo nên những môi trường tốt nhất có thể để cho việc thụ thai được thực hiện nhưng việc đứa trẻ có được thụ thai từ sự tự trao hiến hay không thì phải để cho Thiên Chúa quyết định. Giáo huấn của Giáo hội liên quan đến lĩnh vực luân lý đối với việc thụ tinh nhân tạo cơ bản chỉ nằm ở chỗ duy trì quyền hợp pháp của con người đối với vấn đề: quyền của đứa trẻ “là hoa trái của việc kết hiệp đặc biệt trong tình yêu hôn nhân của cha mẹ nó.”[16]
----
[13] (http://www.gpnt.net/thuvien/thanhocthanxac/tinmungtinhduchn/goodnews_07.htm#_ftnref13) x. Donum vitae, A1.
[14] (http://www.gpnt.net/thuvien/thanhocthanxac/tinmungtinhduchn/goodnews_07.htm#_ftnref14) x. Donum vitae, B8.
[15] (http://www.gpnt.net/thuvien/thanhocthanxac/tinmungtinhduchn/goodnews_07.htm#_ftnref15) Ở đây chúng ta thấy lần nữa giữa luận lý nội tại của việc tránh thai và kỹ thuật sinh sản có mối quan hệ như thế nào. Đôi vợ chồng can dự vào việc tránh thai không muốn ý Chúa được thực hiện, mà là ý riêng của họ, trong quan hệ tính dục của họ. Cũng thế, những người cầu viện kỹ thuật thụ tinh nhân tạo không nhằm làm đẹp ý Thiên Chúa cho bằng tìm thoả mãn ý riêng mình. Chắc các bạn bảo chúng tôi đang đề cập đến ở đây "cái ống" giúp thụ tinh. Thay vì tin tưởng và tôn trọng chương trình của Thiên Chúa, người ta lại đi đòi hỏi cái năng quyền có thể tắt cái chức năng sinh sản khi họ muốn ngưng và bật mở chức năng ấy khi họ muốn cho nó hoạt động.
[16] (http://www.gpnt.net/thuvien/thanhocthanxac/tinmungtinhduchn/goodnews_07.htm#_ftnref16) Donum vitae, B8.
Du Khach
03-03-2006, 06:32 AM
11. Như vậy một cặp vợ chồng hiếm muộn mà thật sự muốn có con cái thì phải làm gì cho đúng – không lẽ chỉ chịu đựng vậy sao?
Họ có thể làm rất nhiều việc. Trước tiên họ nên tham gia một chương trình huấn luyện sinh con theo kế hoạch tự nhiên. Sinh con theo kế hoạch tự nhiên là một chương trình thực thụ của gia đình. Việc xác định vòng kinh nguyệt để biết thời điểm có thể thụ thai rõ ràng có thể giúp cho đôi vợ chồng đạt được ước muốn thụ thai cũng như giúp họ tránh được việc thụ thai.
Cho dù có tin hay không thì hầu hết các bác sĩ ngay cả chẳng được đào tạo để nhận biết những dấu chỉ của việc thụ thai và những dấu chỉ đó có nghĩa là gì. Nhiều cặp vợ chồng gặp khó khăn trong vấn đề thụ thai đã nhận ra rằng sau khi họ tham gia chương trình huấn luyện sinh con theo kế hoạch tự nhiên vấn đề chỉ đơn giản là nằm ở chỗ thời điểm mà thôi.[17]
Nói một cách khái quát là ngay cả nếu các đôi vợ chồng có giao hợp vào đúng thời kỳ rụng trứng đi chăng nữa thì chỉ có một cơ hội một trong ba để có thể thụ thai mà thôi. Các đôi vợ chồng được xem là không cần sự giúp đỡ của y tế cho việc thụ thai trừ khi họ chắc chắn là có giao hợp trong thời kỳ rụng trứng trong khoảng thời gian sáu tháng mà vẫn không thụ thai. Còn đối với những ai sinh hoạt tình dục bừa bãi vì không có khái niệm về thời kỳ rụng trứng, thời gian để khẳng định là mười hai tháng.
Đối với những ai muốn thụ thai thì phải nhờ sự hướng dẫn của y tế nếu họ rơi vào hoàn cảnh này. Đối với những ai ở vào hoàn cảnh này, tôi hết sức đề nghị quý vị hãy gọi điện thoại về Học Viện Giáo Hoàng Phaolô Đệ Lục Nghiên Cứu về việc Sinh Sản Con Người.[18] Đội ngũ nhân viên làm việc trên nguyên lý giúp đỡ con người và đặc biệt là giúp đỡ cho các đôi vợ chồng theo phương pháp chữa bệnh thật sự – đó là, theo những cách thức kiếm tìm những phương pháp chữa trị bệnh tật chứ không phải là tránh đối diện với nó và như vậy giúp cho các đôi vợ chồng đạt được sự thụ thai một cách tự nhiên thông qua hoạt động tính dục hôn nhân. Lối làm việc của họ đạt được hiệu quả hơn (và thường thì rẻ hơn) so với những kỹ thuật hỗ trợ sinh sản.
Tuy nhiên vẫn còn có những cặp vợ chồng sau khi đã tìm mọi phương cách hợp lệ mà vẫn không thể thụ thai được. Thánh Bộ Giáo Lý Đức Tin đã nói với những người trong hoàn cảnh này như sau: “Các đôi vợ chồng ở vào hoàn cảnh đáng buồn này được kêu gọi trong chính hoàn cảnh của mình, một cơ hội để thông phần sự đau khổ Thập Giá của Đức Kitô, như là nguồn sinh lực cho sự trổ sinh hoa trái đời sống thiêng liêng trong một cách thức đặc biệt. Những đôi vợ chồng hiếm muộn đừng quên rằng [như Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã khám phá ra] ‘ngay cả khi không có sự tạo sinh, đời sống vợ chồng không vì thế mà mất đi giá trị của nó. Sự son sẻ về phần thể xác thực ra lại có thể là dịp để đôi bạn dấn thân vào những công việc phục vụ quan trọng cho đời sống con người như: nhận con nuôi, tham gia các công việc giáo dục dưới nhiều hình thức, giúp đỡ và hỗ trợ cho các gia đình khác, giúp đỡ các trẻ nghèo hay khuyết tật’.”[19]
Những đau khổ của các đôi vợ chồng hiếm muộn nhất thiết không nên để nó trở thành vô ích. Trích lời Đức Tổng Giám Mục của tôi, Đức Tổng Charles Chaput: “Đau khổ có thể làm cho ta bị gục ngã và suy sụp. Nhưng nó cũng có thể đánh tan con người cố hữu của ta và làm cho ta trở nên những con người mới trong ý định của Thiên Chúa. Điều này hoàn toàn phụ thuộc vào thái độ của chúng ta khi đối diện với sự đau khổ. Nếu chúng ta dâng hiến những đau khổ của ta lên Thiên Chúa, Ngài sẽ sử dụng những đau khổ này để làm những điều kỳ diệu nơi chúng ta và qua chúng ta, vì sự đau khổ sẽ trổ sinh hoa trái.”[20]
Đau khổ quả đúng là kho tàng của đời sống thiêng liêng. Đây quả thật không phải là những lời an ủi rỗng không. Qua con người của Đức Kitô, chúng ta biết rằng đây quả là những lời của “thần khí và sự sống” (x. Ga 6,63).
12. Bác sĩ của tôi muốn kiểm tra số lượng tinh trùng của tôi xem thử tôi có phải là nguyên nhân gây ra sự hiếm muộn của chúng tôi hay không. Tôi có được phép thủ dâm để lấy tinh dịch để kiểm tra hay không?
Không, không được. Nên nhớ rằng ý định không thể biện hộ cho hành động được. Ý định thủ dâm là điều sai trái bất chấp ý định sau đó là để làm gì đi chăng nữa. Tuy nhiên tinh trùng có thể thu được một cách phù hợp với nền luân lý thông qua việc dùng “bao cao su soi lỗ kim” trong lúc giao hợp. Một số tinh trùng đi vào âm đạo của người vợ (như vậy là không phải là hành động ngừa thai), và số còn lại thì được giữ lại để phân tích.[21]
----
[17] Một cô bạn giảng dạy về ĐHSSTN đã kể cho tôi nghe câu chuyện đáng buồn sau đây, để nói rằng một số các chuyên viên y tế trình độ hiểu biết quá kém. Sau khi cho trình chiếu dẫn giải về các dấu hiệu của việc thụ thai, cô ta chợt thấy một phụ nữ trong những người đang nghe phát toáng lên vì buồn bực. Hỏi ra mới biết bà đã không thể thụ thai được và đã nhiều năm bà nghe lời khuyên của bác sĩ riêng của bà, bảo bà có thể tiếp tục cầu may nếu bà chờ sau khi nhiệt độ cơ thể hạ xuống trong chu kỳ kinh nguyệt của bà rồi mới giao hợp. Nhưng thực tế, nhiệt độ hạ xuống lại báo hiệu thời kỳ không thể thụ thai. Đúng ra phải trước khi nhiệt độ hạ xuống mới là thời kỳ đễ thụ thai nhất.
[18] Xem thông tin liên hệ trong phần Tham khảo.
[19] Donum, B8; trích từ Familiaris, 14.
[20] Denver Catholic Register, 21/07/1999, 2
[21] Nếu bác sĩ riêng của bạn không thể cung cấp cho bạn bao cao su loại này, xin liên hệ với Học Viện Phaolô VI (xem thông tin ở phần Tham khảo)
Du Khach
06-03-2006, 11:27 AM
13. Đôi khi có thể có một sự ngăn cách quá nhỏ giữa việc trợ giúp và sự thay thế tính dục hôn nhân. Làm cách nào để phân biệt được sự khác nhau?
Thông thường thì điều này được thấy rất rõ ràng trong hầu hết các trường hợp dầu cho đứa trẻ có được thụ thai qua hành động giao hợp hay là không. Nhưng bạn nói đúng: Có thể có một vài tiến trình trong đó có sự hiện diện của việc giao hợp vợ chồng nhưng khó mà biết được rằng đứa trẻ đó có phải là kết quả của hành động giao hợp hay không hay nó là kết quả của tiến trình kỹ thuật.
Một tiến trình như thế được biết với tên gọi là GIFT (Gamete Intra-Fallopian Transfer – chuyển các giao tử vào trong ống dẫn trứng hay vòi Fallope). Vợ chồng trong lúc giao hợp sử dụng bao cao su có soi lỗ kim (như đã được trình bày ở trên). Sau đó các nhà chuyên môn để tinh trùng thu được trong bao cao su vào trong một cái vòi nhỏ và được ngăn cách với trứng của người vợ đã thu được qua việc phẫu thuật bằng một bọt bong bóng hơi. Cả hai giao tử trong vòi này sau đó được bơm vào cơ thể của người vợ với hy vọng rằng quá trình thụ thai sẽ xảy ra.
Nếu một đứa trẻ được thụ thai thì vẫn còn đây một câu hỏi: Liệu nó có phải là hoa trái của tính dục hôn nhân hay là kết quả của một tiến trình kỹ thuật? Giáo hội chưa công bố bất cứ bản thông cáo nào [của mình về vấn đề này] cũng như chưa công bố sự bất đồng nào về quan điểm của các thần học gia.
Tuy nhiên theo tôi thì việc trợ giúp hay thay thế tính dục hôn nhân có thể quyết định bằng cách đặt câu hỏi sau đây: Phải chăng tính dục hôn nhân là nhân tố chính yếu của việc gặp gỡ giữa tinh trùng và trứng, hay sự thụ thai có thể diễn ra một cách tốt đẹp mà không cần thiết đến việc giao hợp? Có vẻ như việc thụ thai nhờ phương pháp GIFT thì tính dục hôn nhân không phải là yếu tố cần thiết bởi vì tinh trùng có thể dễ dàng thu được qua việc thủ dâm. Hơn thế nữa, tinh trùng giúp cho trứng được thụ tinh cuối cùng thì không phải là tinh trùng có được từ việc xuất tinh rồi đi trực tiếp vào cơ thể của người vợ nhưng nó đã bị cố tình ngăn chặn lại để trải qua các bước trong tiến trình kỹ thuật.
Như đã được bàn luận, tôi nghĩ rằng tốt nhất là nên tránh dùng đến phương pháp GIFT và những kỹ thuật tạo sinh con người khác và như vậy, giao hợp chỉ là “chuẩn mức đạo đức” duy nhất để có được tinh trùng cho việc truyền sinh.
14. Chúng tôi có một đứa con gái xinh đẹp được thụ thai nhờ phương pháp thụ tinh nhân tạo. Chúng tôi đã liên lỉ cầu nguyện để xin Thiên Chúa ban cho chúng tôi một đứa con, và chúng tôi tin rằng Ngài đã thương ban. Chúng tôi không thể tưởng tượng được cuộc sống sẽ ra sao nếu chúng tôi không có đứa con gái này. Tôi không tin rằng những gì mà chúng tôi đã làm là sai trái.
Phải thừa nhận rằng cho dù những gì bạn làm là sai trái thì cũng không thể dẫn đến kết luận là sự hiện hữu của đứa con gái của bạn là một “sự sai trái”. Điều này cũng không có nghĩa là sự hiện hữu của đứa con gái của bạn không phải là một món quà tặng từ Thiên Chúa. Như chúng ta đã nói trước đây, đứa con gái của bạn sẽ không và không thể hiện hữu nếu Thiên Chúa đã không muốn như vậy. Nó là một hồng ân từ Thiên Chúa.
Thiên Chúa luôn luôn đoái nhìn đến sự “hối cải” để ban ơn tha thứ và chứng tỏ tình yêu của Ngài đối với chúng ta, ngay cả (dù tin hay không tin) khi chúng ta hành động ngoài ý định của Ngài. Tuy vậy, cách thức mà đứa con được thụ thai vẫn còn mang dấu ấn của một sự bất công đối với bản thân nó cho dù nó chính là một hồng ân lớn lao của Thiên Chúa. Sự chân thành, và những gì là tốt đẹp mà chúng ta đã quan tâm, làm cho ta phải thừa nhận điều này.
Tôi có thể so sánh trường hợp của bạn với trường hợp của một vài người bạn mà tôi quen biết. Họ có một đứa con trai 10 tuổi. Họ yêu cậu con trai hết sức và cũng giống như bạn, họ cũng không thể tưởng tượng được rằng cuộc đời của họ sẽ ra sao nếu họ không có cậu con trai ấy. Họ biết rằng nó là một hồng ân của Thiên Chúa đối với cuộc sống của họ. Nhưng họ cưới nhau chưa đầy 10 năm. Nó là đứa con ngoài hôn nhân.
Điều họ đã làm – quan hệ tình dục ngoài hôn nhân – là sai trái, hết sức sai trái. Mặt khác việc có ý dám làm điều đó lại thêm một sự bất công nữa trong số những sự sai phạm mà họ đã làm, đặc biệt là sự bất công đối với chính đứa con trai của họ. Họ biết rằng một ngày nào đó nó sẽ làm phép tính và tất cả mọi người đều phải nói về điều ấy. Có thể nó sẽ phải đối diện với một vài khó khăn, nhưng thật ra hoàn cảnh của nó chẳng phải là cái gì vượt ra khỏi tình yêu cứu chuộc của Thiên Chúa. Không có điều gì vượt ra khỏi nhiệm cuộc cứu chuộc của Thiên Chúa, ngoại trừ sự kiêu căng của con người không chịu thừa nhận những lỗi phạm mình đã gây ra.
15. Chúng tôi biết là Giáo hội dạy rằng điều đó là sai nhưng đến giờ này chúng tôi vẫn chưa hiểu được lý do. Chúng tôi vô cùng mong ước có một đứa con, và qua kỹ thuật thụ tinh ống nghiệm chúng tôi giờ đây đã có một cặp song sinh. Liệu Chúa có nổi giận với chúng tôi không? Chúng tôi phải làm gì đây?
Trước hết, các bạn hãy tiếp tục yêu thương những đứa con của mình và cảm tạ Chúa vì các bạn đã có được chúng. Chúng là dấu chỉ của tình yêu Thiên Chúa dành cho các bạn và Ngài đã tin tưởng giao phó vào tay các bạn những sự sống quý giá này, ngay cả lúc các bạn đã ngoãnh mặt với ý định của Ngài mà theo đuổi ý định riêng của các bạn. Chúng ta có một Đấng Thiên Chúa mới yêu thương và đầy lòng thương xót làm sao! Chúng ta đừng lạm dụng lòng thương xót của Thiên Chúa, nhưng khi chúng ta bày tỏ sự hối cải chân thành vì những lỗi phạm của ta, chúng ta hãy tin tưởng vào lòng thương xót của Ngài.
Hãy tìm đến một linh mục mà vị này hiểu được những vấn nạn như thế này để xưng tội. Khi linh mục tha thứ tội lỗi cho bạn, hãy biết rằng chính Đức Kitô sẽ tha thứ cho bạn.
Phải chăng Thiên Chúa nổi giận với bạn? Không như cách mà chúng ta hiểu về cơn giận. Ngài “giận” phải được hiểu như cách người cha đau lòng khi thấy con cái có những quyết định sai lầm. Nhưng Ngài không báo oán. Cơn giận của Thiên Chúa và tình yêu của Thiên Chúa, đức công bình và lòng thương xót của Ngài, là một và là một thực tại.
Như người cha trong câu chuyện đứa con hoang đàng, Ngài chạy đến ôm chầm lấy chúng ta và ân cần đón tiếp chúng ta về nhà ngay cả khi chúng ta còn đang trên đoạn đường xa của cuộc hành trình trở về với Ngài (x. Lc 15,11-32 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Lc%2015:11-32&FontSize=Txt10)). Vâng, Thiên Chúa đang chạy đến với bạn. Hãy chạy đến với Người.
Về Mục Lục (http://www.gpnt.net/diendan/showthread.php?t=166)
Xem tiếp Chương Tám (http://www.gpnt.net/diendan/showthread.php?t=8888)
vBulletin v3.5.2, Copyright ©2000-2012, Jelsoft Enterprises Ltd.