View Full Version : Chương Bốn: Nên làm gì đây trước khi "Xin hứa"? - Khiết tịnh ngoài hôn nhân.
admin
19-02-2006, 04:06 PM
Chương Bốn:
Nên làm gì đây trước khi "Xin hứa"? - Khiết tịnh ngoài hôn nhân.
Ai không dám quyết định yêu thương ngàn đời sẽ nhận ra rằng khó lòng thương yêu thực sự dù chỉ một ngày.
ĐGH Gioan Phaolô II [1] (http://www.gpnt.net/diendan/newthread.php?do=newthread&f=26#_ftn1)
Bây giờ đến lúc bàn luận một vài vấn đề "khúc mắc" về luân lý tính dục. Khi chúng ta đặt trọng tâm vào các vấn nạn và những chống đối của những cặp chưa cưới hỏi (mà chung sống với nhau như vợ chồng), thì chúng ta cũng sẽ đề cập tới những đề tài trao đổi thích hợp với những cặp đã là vợ chồng. Cho nên nếu bạn cảm thấy khó chịu, xin đừng nhảy qua chương tiếp vì chương nầy cũng sẽ có vài điều (ích lợi) cho bạn.
Nói đến “những việc nên làm” và “những điều tránh làm” thì không thể nào tránh khỏi bàn luận về luân lý. Nhưng điều quan trọng là đừng hiểu lệch lạc việc luận bàn nầy như là sự gần gũi với việc theo Chúa Kitô của phái chủ nghĩa tối thiểu. Chúng ta không nên dò tìm xem chúng ta có thể “thoát khỏi sự trừng phạt” được bao nhiêu trước khi phạm tội làm điều sai quấy.
Nếu đây là viễn tượng của chúng ta, chúng ta sẽ không thể nhìn thấy giáo huấn của Giáo Hội là tin mừng như vẫn là. Ngược lại, chúng ta sẽ dòm ngó giáo huấn với lòng ngờ vực. Chúng ta sẽ xem đó như điều luật luân lý tùy tiện cấm đoán những điều chúng ta thật sự muốn làm. Chúng ta sẽ coi giáo huấn của Giáo Hội như là gánh nặng áp đặt từ bên ngoài và thật khó lòng, nếu không muốn nói là không thể, sống cho trọn vẹn. Đây là cảm nghĩ hầu như không thể tránh được bao lâu chúng ta chưa gặp gỡ được ngôi vị của Chúa Kitô để biến đổi đời sống.
Người có trái tim được Chúa Kitô biến đổi không tìm cách tránh né vần đề. Trái lại, người ấy sẽ tìm hiểu xem đi theo Chúa Kitô như gương mẫu của tình yêu và tự hiến có ý nghĩa như thế nào. Người ấy không cho giáo huấn Giáo hội là điều áp đặt, nhưng nhận ra được giáo huấn ấy chính là chân lý về tình yêu Thiên Chúa đã ghi khắc nơi chính hữu thể của chúng ta.
Khi muốn biết Chúa Kitô là ai, thì người ta không nên nhìn các giáo huấn Giáo Hội của Người với cặp mắt hoài nghi hoặc xem như những điều để bắt chước, mà tốt hơn là họ phải tin vào các giáo huấn ấy như là chuẩn mực chưa bao giờ bị phá đổ nếu họ đang đi tìm kiếm tình yêu chân chính, niềm vui thật sự, viên mãn đích thực. Trong ánh sáng đó, chúng ta nên tiến lại gần những vấn đề nầy với một lời cầu nguyện:
Lạy Chúa Giê-su, xin giúp con nhìn thấy những giáo huấn về luân lý của Giáo Hội của Chúa không phải là những chuẩn mực luật lệ luân lý tùy tiện sáo rỗng và áp đặt, nhưng đích thật là chính kế hoạch của Chúa ghi khắc nơi tâm lòng con là người nam (nữ) để qua đó con khám phá ra được ý nghĩa của cuộc sống và tình yêu. Xin làm cho trái tim con trở nên mềm mại để đón nhận và sống chân lý giải thoát con. Amen.
http://gpnt.net/images/arrow_dyn.gif
Nhóm Tâm Biển
-----
[1] Gioan Phaolô II, “Tình Yêu Thương trong Gia Đình”, tr. 799.
admin
17-07-2006, 07:27 PM
1. Khiết tịnh nghĩa là gì ?
Phải thừa nhận rằng chữ “khiết tịnh” tự nó thường hàm chứa ý nghĩa tiêu cực và cần được chỉnh đốn. Đối với nhiều người, nó đồng nghĩa với sự ức chế “đừng đụng đến” tính dục. Nhưng khiết tịnh thật sự là một nhân đức tích cực vì nó điều khiển những ham muốn tính dục, ý nghĩ, cách cư xử hướng về chân lý của tình yêu đích thực.
Khiết tịnh không chủ yếu có nghĩa là khước từ thực hiện tính dục bất hợp pháp. Khiết tịnh trước tiên và trên hết là chấp nhận trọn vẹn ý nghĩa đích thực của tính dục, sự tốt lành của loài thụ tạo cả nam lẫn nữ theo hình ảnh của Thiên Chúa. Khiết tịnh không phải là ức chế. Nó hoàn toàn tự do. Nó giải thoát chúng ta ra khỏi khuynh hướng dùng người khác để thoả mãn ích kỷ và giúp chúng ta yêu thương tha nhân như Chúa Kitô yêu mến chúng ta. Nhân đức khiết tịnh do đó thật thiết yếu nếu chúng ta biết khám phá và chu toàn chính ý nghĩa của sự sống và sự hiện hữu của chúng ta.
admin
17-07-2006, 07:45 PM
2. Tại sao hai người trưởng thành ưng thuận yêu thương nhau mà vẫn không được giao hợp với nhau? Dầu sao đi nữa, tờ giấy chứng nhận hôn thú thật ra có nhằm nhò gì đâu?
Hai người trưởng thành ưng thuận nhưng chưa cưới nhau có thể giao hợp. Nhưng vấn đề là: làm như vậy có tốt đẹp gì cho họ hay không? Người chưa cưới hỏi nói được với nhau những gì khi họ giao hợp? Hành động nầy có phù hợp với ý nghĩa đích thực của tính dục hay không? Có phải là yêu thương thật sự không?
Tình yêu không phải tùy tiện. Tình yêu không phải là bất cứ điều gì theo ý riêng mình nghĩ. Tình yêu không phải chỉ là thứ cảm giác nồng nàn ướt át dành cho người khác. Tình yêu không thể chỉ đơn thuần ngang hàng với lôi cuốn sắc dục, cũng không phải là ham muốn nhục dục đối với người khác phái. Tình yêu không phải là điều “tình cờ xảy ra” với con người. Tình yêu là sự quyết chọn.
Tôi không nói như vậy để hạ thấp vai trò của cảm xúc và quyến rũ. Như Đức Gioan Phaolô đệ nhị nói: đó là “nguyên liệu” của tình yêu. Nhưng điều sai lầm khi đánh giá nguyên liệu nầy như là “sản phẩm hoàn thành” [2] Mỗi người phải để cho ân sủng uốn nắn và rèn luyện nguyên liệu trở nên sự lựa chọn tự do, làm điều tốt lành cho người mình thương mến. Dĩ nhiên, ý niệm nầy xa lạ đối với văn hóa thông thường của chúng ta. Bối cảnh trong phim Người Thì Thầm Bên Tai Ngựa (The Horse Whisperer) với đạo diễn Robert Redford minh họa điều tôi muốn nói.
Khi người đàn bà thành thị mệt mõi chán chường có chồng nhưng không có hạnh phúc gia đình nhận ra bà ta đã “lỡ yêu” anh chàng cao bồi ly dị phóng túng, bà ta tuyên bố: “Tôi không ngờ sự việc đã xảy ra”. Chứng cớ rõ ràng là cảm giác nàng ta dành cho chàng trai đó không phải là cảm xúc yêu thương.
Qua định nghĩa, tình yêu luôn là lựa chọn tự do hy sinh bản thân làm điều tốt lành cho người mình thương mến. Yêu thương vợ chồng là tự do lựa chọn biến chính bản thân mình thành quà tặng phong nhiêu, tín thành trọn vẹn cho người mình thương yêu. Việc giao hợp nói lên ngôn ngữ nầy: ngôn ngữ của tình yêu Thiên Chúa. Đây là ngôn ngữ của mối liên kết hôn nhân, ngôn ngữ của lời thề hứa hôn phối. Những gì kém hơn đều là thứ giả mạo rẽ tiền không xứng với những gì tâm hồn mình thật sự mong muốn.
Ngôn ngữ nhằm chuyển đạt chân lý. Truyền đạt điều dối trá là lạm dụng ngôn ngữ, yêu thương không bao giờ lường gạt như thế. “Ngôn ngữ” của thân xác cũng nhằm chuyển đạt sự thật. Đức Gioan Phaolô đệ nhị thực tế đề cập đến “vai trò tiên tri của thân xác”. Thân xác là “ngôn sứ” vì nó nói ngôn ngữ của Thiên Chúa, tức là tình yêu.
Nhưng chúng ta cần phải phân biệt giữa tiên tri thật và tiên tri giả [3] Hai người “trưởng thành thuận tình” giao hợp với nhau nhưng chưa cam kết hôn nhân là “tiên tri giả”. Họ nói bằng thân xác của họ rằng: “Em thuộc về anh một cách tự do, trọn vẹn, thủy chung, phong nhiêu, mãi mãi”. Nhưng thật ra, điều họ nói không thành thực. Họ chỉ lừa dối nhau thôi.
Hai người trưởng thành thuận tình yêu nhau thật sự và muốn tỏ bày tình yêu đó qua chuyện chăn gối là hai người trưởng thành thuận ý cưới nhau. Qua tình yêu dành cho nhau và ước muốn không bao giờ lường gạt nhau, họ sẽ không nói thứ “ngôn ngữ” của thân xác qua hành động giao hợp cho đến lúc ngôn ngữ đó là biểu hiện của sự cam kết mà họ đã thề hứa qua lời khấn nguyền hôn phối.
Vậy thì giấy chứng nhận hôn phối mang lại sự khác biệt nào? Tự nó, không là bao. Nó chỉ là tờ giấy. Nhưng là tờ giấy biểu lộ rằng Thiên Chúa đã thiết lập mối dây liên kết hôn nhân nên duyên vợ chồng. Và mối tình liên đới đó tạo nên sự khác biệt lớn lao.
Khi cô dâu và chú rể đứng cạnh bàn thờ và tuyên bố sự ưng thuận trước mặt Giáo Hội, đó không chỉ là sự nhìn nhận chính thức của sự việc đã xảy ra nơi họ. Ngay lúc họ tỏ bày ưng thuận, cô dâu và chú rể được thay đổi tự căn bản. Họ trở thành ngay lập tức và ngay tại chỗ, chỉ ngay lúc ấy và tại đó, hôn phu và hôn thê. Điều không hiện hữu năm phút trước đó, giờ đây đã hình thành mối dây tình nghĩa vợ chồng được Chúa Thánh Thần đóng ấn, một khi đã động phòng, không bao giờ có thể bị hủy bỏ chỉ trừ khi chết đi. Việc giao hợp là hình thức diễn tả mối tình liên kết nầy. Đây là dấu chỉ hữu hình của thực trạng vô hình. Nếu sợi dây ràng buộc nầy không hiện diện giữa người nam và ngườị nữ, việc giao hợp của họ hoàn toàn mất đi lý do hiện hữu của nó.
Cho dù đam mê, cảm xúc và tình cảm có dạt dào đến đâu chăng nữa, hành động giao hợp như vậy không bao giờ là cử chỉ yêu thương chân thành. Nếu cặp tình nhân hiểu được ý nghĩa của tính dục và hôn nhân, và biết tôn trọng giá trị đó, thì ý tưởng giao hợp trước khi Thiên Chúa thiết lập mối dây liên kết hôn nhân giữa họ với sự ưng thuận của họ là điều không thể tưởng tượng được.[4]
Cặp nhân tình nào thường xuyên giao hợp trước khi họ cưới nhau và cho rằng không có gì sai trái cả, chứng tỏ rằng họ không hiểu biết ý nghĩa của tính dục và hôn nhân.
-----
[1] Gioan Phaolô II, “Tình Yêu Thương Giữa Các Gia Đình,” trang 799
[2] Tình Yêu và Trách Nhiệm, 139.
[3] Xem THTX, ngày 26/01/1983.
[4] Nghe có vẻ nghiêm trọng. Dường như rất ít người hiểu được điều nầy. Bạn đoán đúng đó. Nền văn hoá không ngừng nhồi sọ chúng ta với sứ điệp rất trái ngược về tính dục. Người Công giáo cũng như các tín hữu Kitô giáo khác cũng bị tiêm nhiễm thông điệp đó.
Tôi có mở cuộc thăm dò dư luận ở tổng địa phận Denver<?XML:NAMESPACE PREFIX = ST1 /><ST1:CITY w:st="[/IMG]Denver</st1:City"> với kết quả 91 phần trăm những cặp tham dự lớp chuẩn bị hôn nhân Công giáo đã giao hợp trước khi cưới nhau. Nhưng cùng bản thăm dò dư luận đó cho biết rằng tình trạng nầy là do không am hiểu cái nhìn của Giáo hội về tính dục hơn là cứng đầu chống đối. Khi lập trường của Giáo hội được trình bày và giải thích, phần đ̀ông tích cực tán đồng. Đây không phải sứ điệp lên án. Nhưng là lời mời gọi sống đời sống mới trong Chúa Kitô. Đời sống nầy lôi cuốn và hấp dẫn. Đó là điều mọi con tim loài người khao khát, vì đó là chân lý mà mỗi tâm hồn nhân loại trông mong.
</ST1:CITY>
admin
17-07-2006, 07:50 PM
3. Tôi đã theo học trường Công Giáo mười hai năm mà chưa hề nghe đề cập đến điều nầy bao giờ. Tại sao?
Đây là phản ứng tiêu biểu sau các bài thuyết trình của tôi rải rác khắp nước (Mỹ). Câu trả lời phức tạp nhưng cách giải thích đơn giản là nhiều nhà giáo dục Công Giáo đã bị não trạng lan tràn nầy mê hoặc ở mức độ nào đó. Cho nên tương đối thông thường các thầy cô công khai bất đồng với giáo huấn của Giáo Hội lại nắm giữ những chức vụ trọng yếu ở chủng viện, các trường chuyên môn và đại học Công Giáo. Nhiều trường trung học, tiểu học Công Giáo và các chương trình giáo lý ở các giáo xứ cũng lâm vào tình trạng nầy.
Cho rằng giáo dục Công Giáo đang bị khủng hoảng nội bộ không phải là điều quá đáng. Để đối phó với cuộc khủng hoảng nầy, Thiên Chúa chúc lành ban cho Giáo Hội vị Giáo Hoàng đã xác quyết và giảng giải giáo huấn của Giáo Hội về tính dục nhiều hơn bất cứ đức giáo hoàng nào khác trong lịch sử. ĐGH Gioan Phaolô đệ nhị đã mang lại cho Giáo Hội quan điểm trước đây chưa hề được giải thích minh bạch về phẩm giá và ý nghĩa của thân xác con người và việc kết hợp giao phối. Mặc dầu dường như chỉ ít người đang lắng nghe, nhưng tôi tin rằng chúng ta sắp bước vào cuộc cách mạng tính dục mới, và chỉ còn vấn đề thời gian trước khi những hiểu biết thâm sâu của Ngài trở thành cơ cấu của cộng đồng Công Giáo, và hơn nữa cả toàn thể xã hội.
Ông George Weigel xác định nhận xét nầy trong cuốn sách ông ta viết về tiểu về tiểu sử của ĐGH Phaolô đệ nhị. Ông ta diễn tả cuốn sách Thần Học về Thân Xác của cố Giáo Hoàng như là quả bom thần học định giờ (nổ chậm) được cài đặt để nổ tung gây ảnh hưởng chấn động sâu xa, khoảng vào thiên niên Giáo kỷ thứ ba. Khi điều nầy xảy ra, ông ta viết tiếp, “có lẽ trong thế kỷ hai mươi mốt, thần học về thân xác rất có thể sẽ được xem như thời điểm trọng đại không chỉ đối với thần học Công Giáo mà còn cả lịch sử tư tưởng hiện đại nữa”.[5]
Bản thân tôi cảm thấy thất vọng vì thực ra tôi đã không được học hỏi điều quí báu và điều hay lẽ phải nơi giáo huấn của Giáo Hội thời thơ ấu, mặc dầu học trường Công Giáo mười hai năm. Hầu hết, sứ điệp chỉ đơn giản thôi: “Đừng làm (tình)”. Thế thì tôi xử sự ra sao? Đương nhiên là ngược lại.
Nếu tôi được dạy dỗ biết được quan điểm Công Giáo về giới tính và hôn nhân kỳ diệu và hay đẹp như thế nào, có lẽ tôi đã nghĩ ra khiết tịnh là điều đáng được gìn giữ. Có lẽ tôi đã tránh được cơn đau đớn dày vò bản thân tôi và cả bạn bè của tôi nữa. Nhưng khi tôi nói về Thiên Chúa nhân hậu Người tha thứ, chữa lành và hồi phục chúng ta, đây không phải là lý thuyết. Tôi đã trải qua và nhờ hồng ân Thiên Chúa, mỗi ngày tôi tiếp tục vươn lên gần với ánh sáng.
-----
[5] (http://gpnt.net/thuvien/thanhocthanxac/tinmungtinhduchn/goodnews_04.htm#_ftnref5) George Weigel, Witness to Hope (Chứng nhân Hy Vọng) (New York: Harper Collins, 1999), 343.
Về Mục Lục (http://www.gpnt.net/diendan/showthread.php?t=166)
admin
19-02-2009, 02:27 PM
4. Làm sao tôi có thể phục hồi lại sự hiểu biết về tính dục này nếu tôi đã sai lạc?
Trong ánh sáng cứu chuộc mà Đức Kitô đã chiến thắng cho chúng ta, không gì là hoàn toàn "sai lạc". Không có việc gì chúng ta đã từng làm có thể có quyền phép hơn thập giá của Đức Kitô. Khi Đức Kitô chết, Ngài đem theo hết tất cả bản chất con người sa ngã của chúng ta, và Ngài đã sống dậy từ cõi chết để chúng ta có thể sống cuộc sống mới (Rôma 6:4).
Chúa Giêsu trở thành tội lỗi để chúng ta có thể trở nên công chính trong Thiên Chúa (2 Corinto 5:21). Có nghĩa là luôn có khả năng "việc đổi mới tâm thần" (x. Rôma 12:2). Luôn có khả năng biến đổi. Luôn có khả năng quay trở lại, bước tới ánh sáng, và cảm nghiệm cuộc sống mới, cho dù chúng ta đang chìm sâu trong hố thẳm,
Nếu có thể tôi xin mượn lời của Thánh Phaolô gởi cho dân thành Rôma: Tôi kêu gọi anh chị em, vì lòng thương xót của Thiên Chúa, hãy dâng chuyện tính dục của anh chị em như là một hy tế sống động, trọn vẹn và hoàn toàn cho Thiên Chúa. Anh chị em không còn cần phải tuân theo kiểu cách của thế gian này, nhưng anh chị em cần phải biến đổi bằng cách đổi mới tâm trí. Rồi anh chị em sẽ hiểu và ước ao ý định của Thiên Chúa về chuyện tính dục của anh chị em. (x. Rôma 12:1-2). Và sống theo kế hoạch của Thiên Chúa sẽ đem lại cho anh chị em niềm vui và hạnh phúc mà anh chị em đã đang đem cả đời đi tìm kiếm.
Mọi sự khác đều là sáo rỗng. Thật vậy, những giáo huấn của Đức Kitô thật là khó khăn. Chúng ta đừng bao giờ coi thường cái khó khăn đó. Bao nhiêu người trong chúng ta, bằng vào sức mạnh của chính mình, có thể yêu thương kẻ thù của mình? Yêu bạn bè mà tôi còn thấy khó nữa là. Bao nhiêu người trong chúng ta, bằng vào sức mạnh của riêng mình, có thể không bao giờ ham muốn (sắc dục) trong lòng mình?
Như vậy là có một điều nan giải cơ bản đây. Đức Kitô đưa ý định của Ngài ra chỉ để cho chúng ta nhận thấy rằng chúng ta không thể nào tuân theo được. Và Đức Kitô trả lời làm sao? "Đối với loài người thì điều đó không thể được, nhưng đối với Thiên Chúa, thì mọi sự đều có thể được." (Mt 19:26). Chúng ta hãy cầu nguyện:
Lạy Chúa, xin giúp con. Xin cho con ơn biết trông cậy vào Ngài với cả người con - tất cả mọi sự của con, thể xác và linh hồn. Con dâng Ngài những hy vọng và sợ hãi của con, những thành công và thất bại, những tội lỗi, những ước muốn, những khát vọng của con - nhất là giờ đây, những tội lỗi, những ước muốn, và những thèm khát về tính dục. Con đặt tất cả chúng bên chân Ngài. Xin giúp con trở nên người nam (người nữ) như Chúa đã tạo dựng. Xin đổi mới tâm trí con để con có thể thấy món quà tính dục và hôn nhân quí giá như Ngài đã tạo ra. Con biết một mình con không thể sống theo ý Ngài được, nhưng con tin Ngài sẽ bù lấp vào chỗ con còn thiếu. Amen.
Về Mục Lục (http://www.gpnt.net/diendan/showthread.php?t=166)
admin
21-02-2009, 04:23 PM
5. Chúng tôi đã đính hôn. Trong thâm tâm chúng tôi biết là chúng tôi đã thề hứa gắn bó với nhau suốt đời. Tại sao chúng tôi lại không được phép diễn tả lời thề hứa đó qua việc giao hợp tính dục?
Chúng ta hãy suy xét lại coi việc giao hợp tính dục diễn đạt cái gì. Đó là một sự diễn đạt hữu hình (thể lý) của một dây ràng buộc hôn nhân vô hình (thần linh). Đó là nơi những lời thề ước kết hôn trở thành máu thịt. Đó là dấu chỉ của bí tích hôn nhân mà, đối với người Công giáo, chỉ có thể xảy ra sau khi cô dâu và chú rể đã nói lên lời ưng thuận hợp lệ trước sự hiện diện của một linh mục hay thầy phó tế và hai nhân chứng. Đó không phải đơn thuần là một diễn đạt của một cảm xúc trong lòng là bạn “đã thề hứa gắn bó.”
Cái cảm xúc đó rất dễ hiểu. Tôi nhớ là tôi cảm thấy rất gắn bó với Wendy khi chúng tôi đã đính hôn. Thật mà nói ở một cấp bậc nào đó, những đôi bạn đã đính hôn thì “đã cam kết gắn bó” rồi. Nhưng cam kết gắn bó vào cái gì? Vào việc kết hôn. Nếu không, họ không nên tiến hành kế hoạch tổ chức đám cưới. Hơn nữa, những đôi bạn đã đính hôn cũng phải nhận biết rằng họ chưa kết hôn. Nếu không, họ không nên tiến hành kế hoạch tổ chức đám cưới.
Mặc dù tôi tôi cảm thấy rất gắn bó với Wendy khi chúng tôi đã đính hôn, nhưng cô ấy vẫn chưa phải là vợ tôi cho tới lúc Chúa Thánh Thần thiết lập giao ước hôn nhân giữa chúng tôi. Điều đó đã không xảy ra khi tôi ngỏ lời và cô trả lời bằng lòng. Điều đó đã không xảy ra khi chúng tôi gặp linh mục để bàn chuyện lễ cưới và học giáo lý dự bị hôn nhân. Điều đó đã không xảy ra khi chúng tôi đặt tiệc cưới ở nhà hàng và gởi thiệp cưới. Điều đó đã không xảy ra trong lúc tập dợt lễ cưới trong nhà thờ đêm trước ngày làm lễ cưới.
Tất cả những điều trên là những dấu chỉ rõ ràng là chúng tôi cam kết tiến đến việc kết hôn. Nhưng đó không phải là một cam kết tuyệt đối hay không thể thu hồi được. Cả hai chúng tôi được tự do rút lui bất cứ lúc nào cho đến lúc chúng tôi trao đổi sự ưng thuận trước bàn thờ. Lúc đó, Chúa Thánh Thần thiết lập giao ước hôn nhân giữa chúng tôi. Lúc chúng tôi hoàn hợp hôn nhân (động phòng), chúng tôi biết là chúng tôi đang đóng dấu ấn và hoàn thành sợi giây liên kết thần linh đã được ràng buộc giữa chúng tôi (trong ngày) trước đó.
Đó là niềm vui của tính dục bí tích. Hãy chờ đợi món đồ thật. Nếu bạn đã từng giao hợp tính dục, thì không có lý do nào cấm bạn không dừng lại được bây giờ: hãy đến với bí tích Hoà giải (nếu bạn là Công giáo), và đợi cho tới khi việc kết hợp thể lý là một diễn tả chân thật của giao ước hôn nhân thần linh. Đây là một trong những việc tốt nhất mà bạn có thể làm để sửa soạn cho bí tích tuyệt vời này.
Về Mục Lục (http://www.gpnt.net/diendan/showthread.php?t=166)
admin
26-03-2009, 09:35 PM
6. Người bạn sắp đính hôn của tôi và tôi đều có cha mẹ đã ly dị, nên chúng tôi quyết định sống chung với nhau để thử xem chúng tôi có hợp nhau không trước khi thề hứa cách trang trọng. Trong trường hợp chúng tôi, đó là điều khôn ngoan nên làm. Tại sao Giáo Hội lại dạy bảo là chúng tôi đang “sống trong tội lỗi”?
Thoáng nhìn qua thì dường như cũng có lý cái ý tưởng “sống thử” trước khi thực hiện lời hôn ước nghiêm chỉnh và suốt đời. Tuy nhiên, như tài liệu ngày càng tăng về nghiên cứu xã hội đã khẳng định cách chắc chắn là việc “sống chung” (trước hôn nhân), thường là việc dọn đường cho ly hôn hơn là cho hôn nhân. Các nghiên cứu chỉ rõ là các cặp sống chung với nhau trước hôn nhân có nguy cơ li dị 50% cao hơn những cặp không sống chung trước. [6]
Cái hiện tượng này chỉ có thể hiểu được trong bối cảnh rộng hơn của sự ruồng bỏ tràn lan giáo huấn Kitô về ý nghĩa của tính dục. Một cặp ăn ở chung chạ là đang “sống trong tội lỗi” không phải vì họ sống chung dưới cùng một mái nhà, nhưng vì thường đó có nghĩa là họ đã công khai đồng ý dấn thân vào chuyện tính dục ngoài hôn nhân. Tuy việc chia sẻ cuộc sống chung trong cùng một mái nhà trước hôn nhân làm tăng thêm nhiều vấn đề, nhưng cái vấn đề cơ bản là việc hiểu sai và thực hành sai tính dục. Do đó những nguời đang thực hành tính dục trước hôn nhân dù không sống chung cũng có nhiều nguy cơ ly dị hơn. Chẳng hạn như một nghiên cứu kết luận rằng những hôn nhân bắt đầu với tính dục trước hôn nhân có nguy cơ kết thúc trong ly dị nhiều hơn ba lần những hôn nhân mà hành vi tính dục được dành cho tới sau ngày cưới.[7]
Đối với đa số chúng ta, xã hội đã cướp đi những trang bị để hiểu và đón nhận cái ý nghĩa thật sự của tính dục. Chúng ta lớn lên trong một thế giới đã cắt đứt gần như hoàn toàn cái nối kết cố hữu và thiên phú giữa giao hợp tính dục với hôn nhân. Đối với nhiều người, cái ý tưởng một đôi bạn nên cưới nhau khi còn trinh khiết dường như đã quá cổ xưa. Trên thực tế, không phải là không có nhiều trường hợp cả người chồng lẫn người vợ trước khi lấy nhau đã quan hệ tính dục với nhiều người tình rồi.
Chẳng có thứ gì là ngoài tầm tay của tình yêu chữa lành và cứu chuộc của Đức Kitô. Tuy nhiên, nếu vấn đề này mà bị bỏ qua không giải quyết, thì đôi bạn đang tiến vào hôn nhân mà đã giao hợp tính dục với nhau hay với người khác sẽ không tránh khỏi đương đầu với những khó khăn, có lẽ hoàn toàn không biết được cái đau khổ họ đang trải nghiệm nẩy mầm từ những vết thương của việc giao hợp tính dục trái phép. Không phải là điều ngẫu nhiên trùng hợp giữa sự gia tăng bi thảm của mức độ ly dị với mức gia tăng đáng ngại trong sinh hoạt tính dục ngoài hôn nhân. Tôi xin đưa ra những điều sau đây như là những lý do đáng tin cho mối liên kết này:
• Đam mê trong một mối quan hệ tính dục dễ tan rã, không cam kết chung thủy suốt đời, và đóng kín đối với sự sống[8], không thể dọn đường cho đôi bạn đón nhận mối quan hệ tính dục (hôn nhân) đòi hỏi sự bất khả phân ly, sự chung thủy suốt đời và mở ngỏ cho sự sống con người. Với việc ngoan cố chọn lối sống như thế, đôi nam nữ đang bày tỏ rằng, thực tế, họ thiếu sửa soạn cho sự thề hứa hôn nhân bởi vì họ đã được "huấn luyện" cách trái ngược về mặt tâm lý.
• Tình yêu xác thực có nghĩa là sẵn sàng hy sinh tất cả cho lợi ích của người yêu. Trên hết, nó không bao giờ dụ dỗ người khác làm việc tội lỗi, dây mình vào những loại hành vi bừa bãi cách nghiêm trọng và động viên người yêu của mình làm theo như thế cũng như biểu lộ một thái độ hoàn toàn phản ngược với tình yêu đích thực. Tối thiểu nhất, nó biểu lộ cái dốt nát rành rành về ý nghĩa và những đòi hỏi của tình yêu đó. Tình yêu phải là nền tảng của bí tích hôn nhân.
• Sự sẵn sàng dấn mình vào tính dục trước hôn nhân biểu lộ sự chấp nhận ngấm ngầm tính dục ngoài phạm vi hôn nhân. Do vậy những nghiên cứu báo cáo mức độ ngoại tình cao hơn trong số những đôi có hành vi tính dục trước hôn nhân so với những đôi không làm, không phải là điều đáng ngạc nhiên .[9] Sự ngoại tình, tất nhiên, là một trong những nguyên nhân chính của ly dị.
• Hoạt động tính dục trước hôn nhân hình thành thói bê tha tạo ra chính những tật xấu (tính dâm ô, lòng kiêu căng, tính ích kỷ, sự không thành thật, mối nghi ngờ, lười biếng, sự tự quyền, và còn nhiều nữa) làm hao mòn – và nếu không giải quyết, phá hủy - mối quan hệ lành mạnh giữa người chồng và người vợ.
• Tình yêu cần thiết cho bí tích hôn nhân đòi hỏi một độ thuần khiết sâu sắc, sự khiêm tốn, tính không ích kỷ, tính trung thực, sự tin tưởng, sự vui lòng để hy sinh, và sự lệ thuộc lẫn nhau mà chỉ có thể được thiết lập bằng việc yêu chuộng đức tính khiết tịnh- đó là, sống trong sự kính trọng sự thật và ý nghĩa của tính dục ngoài và trong hôn nhân.
• Sự mật thiết tính dục che mờ khả năng phán đoán của một đôi nam nữ về mối tương quan của họ, cản trở họ đạt đến sự lượng định khách quan cần thiết để nhận ra ơn gọi xác thực tới hôn nhân.
• Bởi sự lựa chọn của họ, những cặp sống chung chạ và những đôi bạn, mà cách này hay cách khác đang thực hành tính dục, tự tước đoạt đi cái sung mãn của hồng ân Thiên Chúa trong đời sống của họ. Không có hồng ân này thì người nam và người nữ không thể yêu nhau như họ được kêu gọi – theo gương Đức Kitô.
Những yếu tố này góp phần vào việc làm mất tính toàn vẹn của người nam và người nữ xét như là những cá vị và của bất kỳ mối tương quan nào họ chia sẻ. Nếu để nguyên không giải quyết, cái nỗ lực để thiết lập một hôn nhân trên những kiểu mẫu quan hệ như vậy cũng tương tự như việc xây nhà trên cát (Mt 7,26). Nhưng điều này không nên là nguyên nhân để tuyệt vọng.
Cho dù chúng ta có môt danh sách tội lỗi dài trong cuộc sống cũng không thành vấn đề. Đức Kitô đến không phải để kết án nhưng để cứu rỗi chúng ta. Đức Kitô có thể tha thứ chúng ta. Đức Kitô có thể khôi phục chúng ta. Đức Kitô có thể chữa lành những vết thương của chúng ta. Đức Kitô có thể dạy chúng ta cách yêu. Nhưng chỉ khi chúng ta để cho Người thực hiện.
Vì thế nếu các bạn đang thật sự nghiêm túc đứng ngoài những tòa án xét xử ly hôn, hãy quay về Đức Kitô và tìm kiếm ơn lành mà Người sẽ ban cách nhưng không cho các bạn để sống theo sự thật của tính dục và hôn nhân ngay bây giờ. Không có bảo đảm nào tốt hơn cho một hôn nhân hạnh phúc là tự tập trước những nhân đức cần thiết cho một hôn nhân hạnh phúc. Không bao giờ quá muộn để bắt đầu. Làm đi!
-----
[6] (http://gpnt.net/thuvien/thanhocthanxac/tinmungtinhduchn/goodnews_04.htm#_ftnref6) Larry Bumpass and James Sweet, Cohabitation, Marriage, and Union Stability: Preliminary Findings (Madison: Center for Demography and Ecology, University of Wisconsin, 1995), Working Paper #65; Alfred DeMaris and Vaninadha Rao, "Premarital Cohabitation and Subsequent Marital Stability in the United States: A Reassessment," Journal of Marriage & the Family 54 (1992): 179-90.
[7] (http://gpnt.net/thuvien/thanhocthanxac/tinmungtinhduchn/goodnews_04.htm#_ftnref7) J.D. Teachman; J. Thomas and K. Paasch, "Legal Status and the Stability of Coresidential Unions," Demography (November 1991): 571-83.
[8] (http://gpnt.net/thuvien/thanhocthanxac/tinmungtinhduchn/goodnews_04.htm#_ftnref8) Premarital sex almost always involves the consistent use of contraception. Yet even if a couple engaging in premarital sex were desirous of conceiving a child, they could not be considered "open to life" in the full sense of that expression. A proper openness to life is inherently marital - that is, it recognizes the right of the child to be conceived by parents who are already committed by marriage to the child's upbringing in a stable, loving environment.
[9] (http://gpnt.net/thuvien/thanhocthanxac/tinmungtinhduchn/goodnews_04.htm#_ftnref9) See "Sexual Exclusivity Among Dating, Cohabiting, and Married Women," Journal of Marriage and the Family 58 (1996): 33-47.
admin
02-07-2009, 10:54 PM
7. Tôi và bạn trai rất yêu nhau. Chúng tôi vẫn chưa "làm chuyện đó", nhưng cảm thấy thật khó để biết đâu là ranh giới. Có ranh giới nào chăng?
Có lẽ bạn nhớ đến việc cha xứ, giảng viên giáo lý, hay mẹ bạn vẽ một “ranh giới” cho những hành vi bên ngoài và nói “Nếu con bước qua là con đã phạm tội.” Tôi không định coi thường những “ranh giới” kiểu như thế, nhưng chúng thường không thể đánh giá đúng tính phức tạp của tâm lòng con người.
Đó chính là nơi chúng ta trải qua trận chiến giữa tình yêu và ham muốn nhục dục. Đó là nơi chúng ta quyết định động lực nào từ bên trong sẽ điều khiển hành động của chúng ta. Do đó, trước khi vạch ranh giới cho những hành vi bên ngoài, chúng ta cần vẽ ngay một ranh giới trong chính tâm lòng con người. Ranh giới này áp dụng cho tất cả mọi người trong mọi hoàn cảnh và trong mọi mối quan hệ yêu đương – kết hôn, đính hôn hay đang tìm hiểu.
Trong cuốn Love and Responsibility (Tình yêu và Trách nhiệm), Đức Gioan Phaolô II nói về những nguyên tắc đạo đức nhằm hướng dẫn mọi hành vi của con người. Ngài gọi đó là quy tắc nhân vị. Nói một cách tiêu cực, theo đó thì con người có phẩm giá cao trọng đến nỗi không bao giờ, dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào, có thể được phép sử dụng người khác như công cụ để đạt được mục đích. Nói một cách tích cực, theo quy tắc nhân vị chỉ có một thái độ phù hợp với người khác là yêu thương họ.
Do đó, theo ĐCT Gioan Phaolô II, điều trái ngược với tình yêu không phải là hận thù. Mà là sử dụng [như đồ vật]. Đó chính là nơi diễn ra trận chiến vì tính thuần khiết trong các biểu hiện bên ngoài của tình yêu. Chúng ta phải chống lại mọi cám dỗ làm cho chúng ta đối xử với người khác như là công cụ để đạt được sự thỏa mãn ích kỷ của bản thân, từ đó chúng ta có thể học cách yêu thương người khác vì lợi ích của chính họ.[10]
Một lần nữa, điều này cho thấy sự cần thiết phải có một sự chuyển biến sâu sắc của tâm hồn. Nếu không có viễn tượng về kế hoạch của Thiên Chúa ngay từ ban đầu và ơn cứu chuộc của chúng ta trong Đức Kitô, thì hầu hết những gì chúng ta biết được chỉ là những biến dạng mà tội lỗi gây ra trong chúng ta. Chúng ta xem là chuyện hoàn toàn “bình thường” việc sử dụng người khác để thỏa mãn cảm xúc hay thân xác, thường đến nỗi chúng ta gọi đó là “tình yêu”. Xã hội của chúng ta ủng hộ cho thái độ đó, không ngần ngại cổ vũ nó mọi lúc mọi nơi.<SCRIPT><!--D(["mb","\u003cbr\u003e\u003cbr\u003eĐó chính là bản chất của những biến dạng xuất hiện trong mối quan hệ giữa người nam và người nữ.[11] Nếu chúng ta phát hiện ra và trải nghiệm tình yêu thực sự, chúng ta phải chiến thắng ham muốn nhục dục trong trận chiến trong trái tim, chiến thắng mọi ý muốn sử dụng người khác để thỏa mãn bản thân. Và chiến thắng này, đương nhiên, chỉ có thể đạt được nhờ Thiên Chúa trợ lực. \u003cbr\u003e\u003cbr\u003eNhững biểu hiện bên ngoài của tình yêu, dù là ở mức độ nào – từ nắm tay và hôn cho đến quan hệ tính dục – đều là những dấu chỉ bên ngoài để diễn đạt thực\n tế thực sự bên trong. Khi những dấu chỉ bên ngoài diễn đạt những thực tế thực sự bên trong, sẽ có một sự thỏa mãn về thể xác và cảm xúc tương ứng, từ cảm giác êm dịu của cái nắm tay cho đến cảm xúc mãnh liệt trong giao hợp tính dục.\u003cbr\u003e\u003cbr\u003eNhững niềm vui đó là do Thiên Chúa ban tặng. Đó là một số trong những niềm vui mà Đức Kitô hứa ban khi Ngài kêu gọi chúng ta yêu như Ngài đã yêu, để niềm vui của Ngài ở trong chúng ta và niềm vui của chúng ta được trọn vẹn (xem Ga 15:11). Do đó, những người yêu như Đức Kitô đã yêu, và diễn tả tình yêu bằng biểu hiện bên ngoài phù hợp với mức độ của mối quan hệ, sẽ nhận được niềm vui từ việc biểu lộ ấy như là một món quà của Thiên Chúa.\u003cbr\u003e\u003cbr\u003eTuy nhiên, chúng ta xóa bỏ ranh giới trong tim khi\n chúng ta tìm kiếm sự thỏa mãn thể xác và cảm xúc đó như là mục đích cuối cùng – khi chúng ta đối xử với người khác, không phải như là một nhân vị được tạo nên vì lợi ích của chính họ, nhưng như là một công cụ để đạt được mục đích ích kỷ của ta. Điều này có thể xảy ra hết sức dễ dàng, ngay cả nếu chúng ta không vạch ra một ranh giới cho những hành vi bên ngoài.\u003cbr\u003e\u003cbr\u003eTỉ dụ như, một đôi vợ chồng không “vẽ ranh giới” khi họ quan hệ tính dục. Điều đó là phù hợp với mối quan hệ của họ. Nhưng nếu một đôi vợ chồng quan hệ tính dục chỉ đơn giản vì “cảm giác thật tuyệt” và không phải vì mỗi người muốn nói lên ý nghĩa của quan hệ tính dục (“Tôi là của anh/em một cách tự do, trọn vẹn, chân thành, và, vâng, tôi sẵn\n sàng đón nhận con cái”), họ đã xóa bỏ ranh giới trong tim. Tương tự, một đôi yêu nhau không xóa bỏ ranh giới của các hành vi bên ngoài bằng việc nắm tay hay thậm chí là hôn nhau. Nhưng nếu một đôi yêu nhau nắm tay hay hôn nhau chỉ đơn giản vì “cảm giác thật tuyệt” và không phải vì họ muốn nói lên ý nghĩa của những biểu hiện đó, họ đã xóa bỏ ranh giới trong tim.",1]);//--></SCRIPT>
Đó chính là bản chất của những biến dạng xuất hiện trong mối quan hệ giữa người nam và người nữ.[11] Nếu chúng ta phát hiện ra và trải nghiệm tình yêu thực sự, chúng ta phải chiến thắng ham muốn nhục dục trong trận chiến trong tâm hồn, chiến thắng mọi ý muốn sử dụng người khác để thỏa mãn bản thân. Và chiến thắng này, đương nhiên, chỉ có thể đạt được nhờ Thiên Chúa trợ lực.
Những biểu hiện bên ngoài của tình yêu, dù là ở mức độ nào – từ nắm tay và hôn cho đến quan hệ tính dục – đều là những dấu chỉ bên ngoài để diễn đạt thực tế thực sự bên trong. Khi những dấu chỉ bên ngoài diễn đạt những thực tế thực sự bên trong, sẽ có một sự thỏa mãn về thể xác và cảm xúc tương ứng, từ cảm giác êm dịu của cái nắm tay cho đến cảm xúc mãnh liệt trong giao hợp tính dục.
Những niềm vui đó là do Thiên Chúa ban tặng. Đó là một số trong những niềm vui mà Đức Kitô hứa ban khi Ngài kêu gọi chúng ta yêu như Ngài đã yêu, để niềm vui của Ngài ở trong chúng ta và niềm vui của chúng ta được trọn vẹn (xem Ga 15,11). Do đó, những người yêu như Đức Kitô đã yêu, và diễn tả tình yêu bằng biểu hiện bên ngoài phù hợp với mức độ của mối quan hệ, sẽ nhận được niềm vui từ việc biểu lộ ấy như là một món quà của Thiên Chúa.
Tuy nhiên, chúng ta sẽ xóa bỏ mất ranh giới trong tâm hồn khi chúng ta tìm kiếm sự thỏa mãn thể xác và cảm xúc như là mục đích cuối cùng – khi chúng ta đối xử với người khác, không phải như là một nhân vị được tạo nên vì lợi ích của chính họ, nhưng như là một công cụ để đạt được mục đích ích kỷ của ta. Điều này có thể xảy ra hết sức dễ dàng, ngay cả nếu chúng ta không vạch ra một ranh giới cho những hành vi bên ngoài.
Tỉ dụ như, một đôi vợ chồng không “vạch ranh giới” khi họ quan hệ tính dục. Điều đó là phù hợp với mối quan hệ của họ. Nhưng nếu một đôi vợ chồng quan hệ tính dục chỉ đơn giản vì “thấy sướng” chứ không phải vì mỗi người muốn nói lên ý nghĩa của quan hệ tính dục (“Tôi là của anh/em một cách tự do, trọn vẹn, chân thành, và, vâng, tôi sẵn sàng đón nhận con cái”), họ đã xóa bỏ ranh giới trong tâm hồn. Tương tự, một đôi bạn quen nhau không xóa mất ranh giới của các hành vi bên ngoài bằng việc nắm tay hay thậm chí là hôn nhau. Nhưng nếu một đôi quen nhau nắm tay hay hôn nhau chỉ đơn giản vì “thấy sướng” chứ không phải vì họ muốn nói lên ý nghĩa của những biểu hiện đó, họ đã xóa mất ranh giới trong tâm hồn.<SCRIPT><!--D(["mb","\u003cbr\u003e\u003cbr\u003ePhải thừa nhận rằng ý nghĩa của việc nắm tay hay hôn nhau không phổ quát hay đến từ Thiên Chúa như quan hệ tính dục. Tuy nhiên, ở mức độ tối thiểu thì những hành vi đó có nghĩa (hoặc nên có nghĩa) là “Tôi hết sức tôn trọng anh/em như là một nhân vị, tôi yêu anh/em tha thiết và muốn nói với anh/em về những điều tốt đẹp nơi anh/em.” Những hành vi đó không bao giờ được là\n sự biểu lộ của một ý muốn “chiếm lấy điều gì đó” từ người khác vì mục đích của bản thân. Thay vào đó những hành vi ấy phải là sự biểu lộ của một ước muốn vô vị lợi được khẳng định người khác vì lợi ích của chính họ.\u003cbr\u003e\u003cbr\u003eNhận thức được những chuyển biến bên trong trái tim của chúng ta không phải lúc nào cũng dễ dàng. Vì chính sự sa ngã của chúng ta, chúng ta chắc hẳn sẽ nhận ra những thành phần của sự ích kỷ lẫn trong những khao khát yêu thương thực sự. Việc thấy được điều đó không làm biến mất những biểu hiện yêu thương. Thay vào đó, nó dẫn đến sự nhận thức các biểu hiện thậm chí còn thuần khiết hơn.\u003cbr\u003e\u003cbr\u003eTính chân thực này trong các biểu hiện yêu thương – dù là nắm tay khi còn yêu nhau hay quan hệ tính\n dục trong hôn nhân – chỉ có thể có khi chúng ta dâng cả bản thể chúng ta như những thụ tạo có giới tính, là người nam và người nữ, cho tình chắc hẳn sẽ yêu biến đổi của Đức Kitô. Nếu không có sự dâng hiến đó, chúng ta sẽ ít nhiều mắc phải thói quen sử dụng người khác, và vì thiếu kiến thức về bất kì điều gì khác nữa, chúng ta sẽ phạm sai lầm đáng tiếc khi gọi đó là “tình yêu”.\u003cbr\u003e\u003cbr\u003e\u003cbr\u003e\u003c/td\u003e\u003c/tr\u003e\u003c/table\u003e\u003cbr\u003e\n \u003chr size\u003d\"1\"\u003e \u003ca href\u003d\"http://sg.rd.yahoo.com/aa/mail/domainchoice/mail/signature/*http://mail.promotions.yahoo.com/newdomains/aa/\" target\u003d\"_blank\" onclick\u003d\"return top.js.OpenExtLink(window,event,this)\"\u003e New Email names for you! \u003c/a\u003e \u003cbr\u003e\nGet the Email name you\u0026#39;ve always wanted on the new @ymail and @rocketmail.\u003cbr\u003e\nHurry before someone else does!",0]);//--></SCRIPT>
Phải thừa nhận rằng ý nghĩa của việc nắm tay hay hôn nhau không phổ quát hay đến từ Thiên Chúa như quan hệ tính dục. Tuy nhiên, ở mức độ tối thiểu thì những hành vi đó có nghĩa (hoặc nên có nghĩa) là “Tôi hết sức tôn trọng anh/em như là một nhân vị, tôi yêu anh/em tha thiết và muốn nói với anh/em về những điều tốt đẹp nơi anh/em.” Những hành vi đó không bao giờ được là sự biểu lộ của một ý muốn “chiếm lấy điều gì đó” từ người khác vì mục đích của bản thân. Thay vào đó những hành vi ấy phải là sự biểu lộ của một ước muốn vô vị lợi được khẳng định người khác vì lợi ích của chính họ.
Nhận thức được những chuyển biến bên trong tâm hồn của chúng ta không phải lúc nào cũng dễ dàng. Vì chính sự sa ngã của chúng ta, chúng ta chắc hẳn sẽ nhận ra những thành phần của sự ích kỷ lẫn trong những khao khát yêu thương thực sự. Việc thấy được điều đó không làm biến mất những biểu hiện yêu thương. Thay vào đó, nó dẫn đến sự nhận thức các biểu hiện thậm chí còn thuần khiết hơn.
Tính chân chính này trong các biểu hiện yêu thương – dù là nắm tay khi còn quen nhau hay quan hệ tính dục trong hôn nhân – chỉ có thể có khi chúng ta dâng hiến cả bản thân chúng ta như những thụ tạo có giới tính, là người nam và người nữ, cho tình yêu biến đổi của Đức Kitô. Nếu không có sự dâng hiến đó, chúng ta sẽ ít nhiều mắc phải thói tật sử dụng người khác, và vì thiếu kiến thức về nhiều điều khác nữa, chúng ta sẽ phạm sai lầm đáng tiếc khi gọi đó là “tình yêu”.
-----
[10] (http://gpnt.net/thuvien/thanhocthanxac/tinmungtinhduchn/goodnews_04.htm#_ftnref10) Ngay cả khi một người ước ao hoặc muốn bị sử dụng, chúng ta cũng không được phép sử dụng họ. Phẩm giá của chúng ta không tùy thuộc vào nhận thức của chúng ta. Thật vậy, nếu một người không nhận thức được phẩm giá của mình, tất cả chúng ta càng bị đòi buộc phải tỏ cho người đó thấy phẩm giá của họ qua tình yêu thương của chúng ta.
[11] (http://gpnt.net/thuvien/thanhocthanxac/tinmungtinhduchn/goodnews_04.htm#_ftnref11) Xem Love and Responsibility (Tình yêu và Trách nhiệm), 43.
Về Mục Lục (http://www.gpnt.net/diendan/showthread.php?t=166)
Du Khach
06-07-2009, 03:42 PM
8. Tôi nghĩ tôi hiểu, nhưng liệu có còn những mức giới hạn về thể lý nào mà tôi không nên vượt quá?
Có chứ. Nhưng mọi nỗ lực nhằm vạch ra chúng không nên là cái cớ để ta tránh phải chiến đấu với chính bản thân mình. Sự lãng tránh như vậy thật ra là một việc quá sức dễ dàng nếu chúng ta chỉ cậy dựa vào những giới hạn bên ngoài. Nếu chúng ta chiến đấu với cuộc chiến nội tại một cách trung thực và can đảm, lòng của chúng ta sẽ biết cái mức giới hạn mà chúng ta không nên vượt qua và sẽ không muốn vượt qua nó chỉ vì đó là điều tốt cho mình và cho người mình yêu. Và vì vậy mà những “mức giới hạn” mà tôi đưa ra đây trên bình diện thân xác chỉ cốt giúp các bạn như là một cách để lượng định một cách trung thực tâm hồn của mình.
Một ví dụ cụ thể về một giới hạn không nên vượt quá đối với đôi bạn chưa kết hôn đó là việc giao hợp. Nếu một đôi bạn tuyên bố rằng họ đã thành thực và can đảm lượng giá con tim của mình và rồi đi đến kết luận rằng họ đã có thể tiến tới việc giao hợp với nhau như là một sự diễn tả chính đáng cho mối quan hệ của mình, thì thật ra họ đang lừa dối chính mình. Thật sự là họ đã có thể cảm nghiệm một vài tố chất tình yêu một cách lờ mờ trong việc giao hợp. Bởi vì luôn luôn vẫn có đó một chút âm vang của sự thật ngay cả khi tình yêu được diễn tả theo những cách lệch lạc. Nhưng bản thân hành động đó không đúng là một hành vi diễn tả tình yêu. Thực ra mà nói thì hành động đó không thể tránh khỏi bị đánh giá là một sự lợi dụng.
Tương tự như vậy, những hành vi mơn trớn thân xác nhằm chuẩn bị cho việc giao hợp (vuốt ve bộ phận sinh dục hay vú ngực của người khác, và cả một vài hành động hôn hít hay ôm ấp quá mức) là những hành vi tương tác không phù hợp đối với những người chưa kết hôn. Trong khi, đối với tình yêu đã hoàn hợp (nd., sau khi kết hôn) thì chuyện đó không đặt thành vấn đề luân lý, nhưng nó thực sự là vấn đề luân lý khi không phải vì yêu thương mà sờ mó vuốt ve người khác đến độ thèm muốn giao hợp. Nếu phải nhắc đến những giới hạn thể lý nhằm giúp ta giữ lòng mình được trung thực, thì chúng ta có thể nói như thế này: nếu người nam hoặc người nữ đã đạt đến gần đến cực điểm khoái cảm tình dục, hay là đã đạt đến cực điểm, hay là bị kích thích đến độ cám dỗ thủ dâm, thì đôi bạn đó “đã vượt quá giới hạn” trước đó lâu rồi và như vậy họ cần phải xét lại mình và xem xét lại những động cơ của mình thật kỹ càng.
Theo như đã trình bày, thì thật là dại dột (phải nói là: sai lầm, không yêu thương, hoàn toàn không phù hợp) một khi khởi động xe mà không biết lái. Một người nào đó gần đạt đến cực điểm khoái cảm hay bị kích dục đến nỗi muốn thủ dâm thì không những như đã khởi động xe mà thật ra đã và đang rú ga thật lâu rồi.
Điều mà chúng ta đang nói đến không chỉ là một yêu cầu cần phải có để sửa đổi thái độ của mình cho phù hợp với những đòi hỏi của luân lý. Nhưng chúng ta đang nói đến một đòi hỏi về một sự thay đổi sâu sắc từ trong tâm hồn từ việc “yêu thương” như thế gian “yêu” đến việc yêu thương như Đức Kitô yêu thương. Tự đáy lòng mình, người nam và người nữ đang tìm kiếm một điều gì đó chân chính hơn là chỉ những thể hiện xác thịt lệch lạc. Họ đang tìm kiếm tình yêu, sự gần gũi thân xác, sự gắn bó, vui sướng, và khoái lạc – nói tóm lại, sự hạnh phúc.
Nhưng có bao nhiêu người (trong đó có tôi) có thể làm chứng cho sự trống vắng, cảm giác tội lỗi, sự cô độc, và sự thất vọng sau những lần chung đụng thể xác một cách bất chính? Có bao nhiêu người thất bại trong việc tìm kiếm những gì họ thật sự kiếm tìm? Chúng ta đang tìm kiếm trong vô vọng niềm hạnh phúc cho đến khi chúng ta nhận ra rằng những gì mà ta đang tìm kiếm chỉ có thể tìm thấy trong Đấng đã tạo thành chúng ta.
Thiên Chúa ban cho chúng ta tình yêu đôi lứa và ước muốn nồng nàn – dù tin hay không tin – là để dẫn chúng ta về với Ngài. Nhục dục và sự thoả mãn nhục dục là một kẻ lừa dối làm lu mờ sự thật về tình yêu và sự bình an và do đó làm cho tâm hồn mê đắm đến nỗi không thể khám phá ra được chính mình. Nếu như, nhờ vào sự cải hóa tâm hồn liên lỉ, mà chúng ta có thể dâng hiến những dục tình của mình cho Chúa Kitô và để cho Ngài biến đổi chúng, thì chúng ta sẽ nghiệm ra được khát vọng tính dục như là khát vọng yêu thương như tình yêu của Ngài. Một khi mà tất cả những diễn đạt cảm xúc của ta trở nên mối tương quan như mối tương quan của Chúa Kitô, chúng ta thực sự khám phá được điều mà chúng ta đã thất bại trong việc tìm kiếm trước đây.
Và rồi, sự biểu lộ tương quan đơn sơ nhất – chẳng hạn như qua ánh mắt nhìn, một cái chạm tay, hay là một cái hôn lịch thiệp – thật sự đem lại sự hân hoan và sự dư đầy hơn cả “sự chung đụng” thân xác nồng nàn nhất nhưng bất chính. Tại sao? Bởi vì nó chân chính. Nó chân thật. Nó lương thiện. Nó đúng với điều mà nó đáng phải là trong chừng mực của mối dây liên hệ.
Nó không tìm kiếm điều gì cho riêng nó. Nó tìm kiếm sự cho đi và sự ưng thuận. Nó không tìm kiếm sự thỏa mãn cho chính nó. Nó vui thú trong sự yêu thương người khác chỉ vì bản thân người đó.
Sự tự do và sự thành thực đó có cái giá rất cao – cái giá của tình yêu thập giá của Chúa Kitô. Nhục dục, kiêu căng, tư lợi, tất cả phải thối đi trong ta khi ta trỗi dậy trong tình yêu: một tình yêu chân thật, một tình yêu thuần túy, tình yêu mà vì đó mà tất cả chúng ta liên lỉ kiếm tìm. Không chọn việc vác thập giá và đi theo Chúa Kitô (xem Mt 10,38) mà chọn việc khác chính là liều mình che đậy sự trống vắng và sự thất vọng trong tâm hồn một cách vô vọng bằng cách tìm kiếm những vui thú chóng qua trong việc kích thích nhau để đạt điểm cực khoái. Chỉ có tâm hồn nào chai đá nhất mới có thể tiếp tục giả vờ an ủi mình sau những trải nghiệm như thế.
Về Mục Lục (http://www.gpnt.net/diendan/showthread.php?t=166)
Du Khach
10-07-2009, 08:03 AM
9. Về vấn đề khiết tịnh, liệu có khác biệt nào giữa những đôi bạn đang trong thời kỳ quen biết nhau và những đôi đã đính hôn?
Sách Giáo lý dạy rằng: “Những người đã đính hôn được mời gọi sống tiết dục để giữ khiết tịnh... Họ nên dành những hành động biểu lộ tình yêu vợ chồng cho đến ngày thành hôn.[12] Tuy nhiên, phải nhận rằng mức độ thân mật của những đôi bạn đã đính hôn là không phù hợp với những đôi bạn chỉ mới “quen biết nhau”.
Nên nhớ rằng những cử chỉ thân xác biểu lộ tình yêu được hiểu là những dấu chỉ bên ngoài diễn tả những thực tại bên trong. Có một thực tế nội tại hiện hữu trong tâm hồn của những đôi bạn đã đính hôn mà không hiện hữu trong tâm hồn của những đôi bạn chỉ mới quen nhau. Linh mục Paul Quay đề nghị trong cuốn sách rất hay của ngài về tính dục con người, Ý Nghĩa Kitô Học của Tính Dục Con Người: “Những người đã đính hôn, bởi vì họ đã thề hứa với nhau, mặc dầu chưa trọn vẹn, đã có đủ lý do để thể hiện tình yêu của mình, ngay cả bằng việc hôn hít và ôm ấp … dĩ nhiên, với điều kiện là điều đó không làm cho một người nào trong họ phạm tội [ví vụ như dùng người khác như là phương tiện để tìm khoái lạc cách ích kỷ], với điều kiện là họ không quấn quýt nhau quá mức [chẳng hạn đến độ đạt điểm cực khoái hay cám dỗ thủ dâm], và với điều kiện là việc đính hôn không được kéo dài mãi mãi.”[13]
Dự tính của chàng rõ ràng không phải là một giấy phép để “bóc tem” cô nàng. Nó gánh vác một lời thề hứa của người Kitô hữu trưởng thành và sự tự do mà họ được kêu mời trải nghiệm trong Đức Giêsu Kitô (xem Gl 5,1). Đó là sự tự do để yêu thương, để thấy đâu là chân, thiện, mỹ và để hết lòng khao khát điều đó.
Sự tự do như thế luôn luôn chọn điều thiện hảo cho người khác, loại bỏ hoàn toàn những mưu chước làm thiệt hại điều thiện hảo đó. Một khi đã đính hôn thì họ có đủ chín chắn và tự do để biểu lộ tình yêu đối với nhau mà không sợ rằng người này dùng người khác để thỏa mãn nhục dục, cũng như lợi dụng nhau.
Với người nào còn ngờ vực, hãy cho phép tôi nói rằng sự tự do đó hoàn toàn là có thể thực hiện được. Tôi nói bằng chính kinh nghiệm của tôi. Dĩ nhiên, sự tự do ấy đòi hỏi việc đối thoại chân thành và cởi mở. Sự tự do ấy đòi hỏi sự quan tâm chăm sóc, như Thánh Phaolô đã cảnh báo, chớ dùng sự tự do để nuông chiều những ước muốn theo bản tính hay hư nát của chúng ta (xem Gl 5,13). Và trong khi thật chắc chắn là chúng ta không bao giờ coi thường sự yếu đuối của mình (sự hoán cải vẫn tiếp diễn), chúng ta cũng đừng bao giờ hạ thấp quyền năng của thập giá, quyền năng có thể giải thoát chúng ta.
Thật không may, nếu chúng ta đã được huấn luyện để nghĩ rằng mình chỉ là những con vật không thể làm chủ được bản thân. Vì vậy, để có thể sống khiết tịnh, nhiều đôi bạn nghĩ rằng trước khi cưới nhau, điều cần thiết là đừng bao giờ gặp nhau nơi vắng vẻ dù trong bất cứ khoảng thời gian nào. Bởi e rằng nếu họ ở nơi vắng vẻ, họ sẽ không thể nói không với chuyện tính dục. Đó không phải là tự do. Chúng ta đừng mang lại cái ách của kiếp nô lệ (xem Gl 5,1).
Chắc chắn là nếu một đôi bạn biết họ sẽ làm những điều sai trái nếu họ gặp nhau nơi vắng người thì họ đừng gặp nhau ở những nơi như vậy. (Trong ngôn ngữ Công giáo, cái đó ta gọi là “tránh dịp tội.”) Những ai hãm mình hy sinh xa lánh dịp tội là những người đáng được tán dương. Nhưng nếu chỉ vì việc họ không có dịp [gặp nhau chỗ vắng người] mà họ đã giữ được không quan hệ tính dục với nhau trước khi cưới, thì điều đó nói lên được những gì thật sự xảy ra trong lòng họ? Liệu họ có thật sự tìm kiếm điều thiện hảo? Liệu họ có thật sự tự do?
Tự do là cốt lõi của tình yêu đôi lứa đích thực. Nếu một đôi bạn đã đính hôn không có khả năng biểu lộ tình yêu một cách chân thành, thật sự, và hoàn toàn tự do (đơn giản mà nói là thanh sạch), mọi sự sẽ không tự nhiên thay đổi khi họ cưới nhau. Không có sự tự do này – sự tự do mà chỉ có thể có thực hiện được bằng việc cảm nhận sự cứu thoát toàn vẹn nhân tính của mình trong Đức Kitô – thì quan hệ tính dục, trong một vài mức độ nào đó, là một sự lợi dụng, ngay cả khi họ đã cưới nhau. Vì vậy chúng ta hãy cầu nguyện:
Lạy Chúa Giêsu, xin ngự vào nơi sâu thẳm của lòng con. Xin biến đổi những đam mê dục vọng của con thành những say mê tình yêu. Xin cho con được sống khiết tịnh. Xin cho con cảm nghiệm được sự tự do mà nhờ đó Chúa đã chết để giải thoát con. Amen.
-----
[12] (http://gpnt.net/thuvien/thanhocthanxac/tinmungtinhduchn/goodnews_04.htm#_ftnref12) GLHTCG, số 2350.
[13] (http://gpnt.net/thuvien/thanhocthanxac/tinmungtinhduchn/goodnews_04.htm#_ftnref13) Paul Quay, The Christian Meaning of Human Sexuality (Ý nghĩa kitô giáo về Tính dục con người) (San Francisco: Ignatius, 1985), 74-75.
Về Mục Lục (http://www.gpnt.net/diendan/showthread.php?t=166)
Du Khach
10-07-2009, 03:48 PM
10. Phải chăng Giáo Hội dạy rằng thủ dâm là có tội? Trường hợp của những người mới lớn đang muốn khám phá chính bản thân thì sao?
Đúng vậy. Thủ dâm luôn là một sự phá rối khách quan (xem câu hỏi tiếp theo để thấy tại sao lại sai). Tuy nhiên, trách nhiệm luân lý chủ quan về việc thủ dâm có thể được giảm nhẹ trong trường hợp việc đó xảy ra là do áp lực của những thói quen khi chưa trưởng thành, do tâm trạng lo âu, cũng như do những yếu tố khác về tâm lý xã hội.[14]
Những bạn trẻ mới lớn hiếu kỳ về thân thể đang trưởng thành của mình là một điều hết sức tự nhiên. Và sự kích động của loại hoocmon mới mới được tạo ra có thể là một sự thúc đẩy mạnh mẽ làm cho các bạn trẻ muốn khám phá mình qua việc thủ dâm. Điều này thì dễ hiểu thôi. Nhưng điều đó không thể thay đổi được sự thật khách quan của việc thủ dâm là một sự phá rối. Nó làm cho ta không còn xứng đáng với phẩm giá cao quý của mình như là những người nam và người nữ được kêu mời để yêu như Thiên Chúa yêu.
Tuy rằng những người bị sa lầy trong thói thủ dâm phải được đối xử với sự cảm thông, nhưng việc đối xử đó không được phép làm giảm khinh vấn đề. Bởi vì nếu làm như vậy thì chúng ta vẫn cứ để cho họ sống trong xiềng xích. Đức Kitô đã giải thoát chúng ta. Điều này có nghĩa là chúng ta có thể sống trong sự thật toàn vẹn theo như giới tính của mình.
-----
[14] (http://gpnt.net/thuvien/thanhocthanxac/tinmungtinhduchn/goodnews_04.htm#_ftnref14)Xem GLHTCG, số 2352.
Về Mục Lục (http://www.gpnt.net/diendan/showthread.php?t=166)
Du Khach
17-07-2009, 08:43 AM
11. Hầu hết các nhà tâm lý học đều nói rằng thủ dâm là một việc bình thường, có lợi cho sức khỏe. Họ còn cho rằng không thủ dâm thì không tốt cho sức khỏe. Tại sao Giáo Hội lại không chịu chấp nhận như thế?
Chúng ta phải nhìn nhận rằng nếu không kết hợp chương trình tự ban đầu của Thiên Chúa vào trong cái nhìn của ta, và nếu không hiểu rằng Đức Kitô đã đến trong thế gian này để phục hồi lại chương trình đó, thì chắc chắn chúng ta không thể tránh khỏi việc nhìn thấy những khoái cảm tính dục qua lăng kính của bản chất hay hư nát của mình. Từ cái nhìn này, thủ dâm dường như được xem như là một điều “bình thường” và ngay cả “có lợi” cho sức khỏe.
Bị gợi dục là một chuyện “bình thường”, có đúng vậy không? Mong muốn “giải tỏa” áp lực tình dục là một chuyện “bình thường”, có phải vậy không? Nếu bạn bị ngứa, bạn không để nó làm cho bạn phải điên tiết lên – bạn gãi chỗ ngứa đó, phải vậy không? Trong thực tế, chỉ có người kỳ dị mới chọn cách chịu đựng sự ngứa ngáy chứ không thèm gãi, có phải vậy không? Vì vậy, thực tế mà nói thì việc để cho áp lực tình dục dâng trào mà không chịu “giải tỏa” thì “không tốt cho sức khỏe”, có phải vậy không?
Có một lý luận chắc chắn nơi đây. Trong thực tế, quả thật là không thể hiểu được việc thủ dâm là một việc làm sai trái nếu nó được đặt trong ý thức hệ này. Điều cần thiết là – không chỉ để hiểu rõ vấn nạn của việc thủ dâm nhưng để hiểu rõ đâu là sự thật về giới tính và, tiếp đến là hiểu được sự thật về ý nghĩa của tình yêu và cuộc sống – là một nhận thức hoàn chỉnh.
Chúng ta đã thừa hưởng cách nhận thức vấn đề theo kiểu mà nó chỉ chú trọng đến chính bản thân nó mà thôi (chủ nghĩa duy lý hiện đại). Tất cả chúng ta đều chỉ là một hạng người omphaloskeptics - xem mình là cái rốn của vũ trụ (một kiểu nói bóng bẩy của “những người chỉ biết nhìn vào bản thân mình”). Chúng ta không thể nhìn vượt qua khỏi ranh giới của những gì là vật chất và hữu hình để có thể thấy được những gì là tâm linh và vô hình. Chúng ta không thể nhìn vượt qua những gì là hữu hạn và nội tại để có thể thấy được những gì là bất diệt và siêu việt.
Chúng ta nhìn thấy những ngôi sao, và thay vì cảm nghiệm sự rạng ngời của Tạo Hóa, thì ta lại bó buộc vũ trụ này trong hạn định của những phương trình toán học. Chúng ta gặp gỡ một thân thể khác, và thay vì nhìn vào sự mạc khải của một con người được sáng tạo theo như hình ảnh của Thiên Chúa thì ta lại nhìn nó như là một vật thể để sử dụng và hưởng thụ nó vào mục đích của sự thỏa mãn của ta. Chúng ta ngụp lặn trong vũng nước sâu của nhục dục thay vì nhìn lên để thấy được lời mời gọi để chia sẻ mầu nhiệm của Thiên Chúa mỗi khi ta bơi lội trong làn nước tinh tuyền của tình yêu trao ban sự sống với một “nửa kia của ta,” chúng ta chúi vùi đầu vào trong chính cái bóng của mình, sa lầy trong ao tù và lún sâu vào bùn nhơ của sự cô lập tự đam mê chính mình.
Như chúng ta đã từng đề cập, tính dục là một biểu trưng. Nó mang ý nghĩa của một dấu chỉ tiên nghiệm của tình yêu tự do, trọn vẹn, trung tín và phong nhiêu của Thiên Chúa. Nó mang ý nghĩa của một sự tham dự đầy đủ của con người trong sự hiệp thông của Ba Ngôi Thiên Chúa. Vâng, tính dục hướng chúng ta vượt qua những vì sao để gặp được Thực Tại Tối Cao – Thiên Chúa.
Ngược lại, thủ dâm là một thói xấu mà chúng ta dễ dàng lún sâu vào, và chỉ làm cho chúng ta nhìn thấy chính bản thân mình mà thôi. Nó tiêu biểu cho một thế giới quan không biết gì về tính tha vị (otherness) siêu việt của Thiên Chúa. Nó biểu trưng cho sự tự thương hại, sự sợ phải tự hiến mình cho người khác, và sự cằn cỗi xấu xa của lối sống cô lập.
Nó là một sự phản ảnh trái ngược của lời mời gọi được trở nên hình ảnh của Thiên Chúa trong sự hiệp thông các ngôi vị. Thủ dâm là hình ảnh thu nhỏ của sự lệch lạc về tính dục gây ra bởi tội nguyên tổ. Đó là gì nếu không phải là vị kỷ, là tự thỏa mãn trong đam mê dục tình?
Thái độ đó nói lên tiếng nói rất rõ ràng về quan niệm của một người về căn tính của mình và rồi về chính con người của họ. Nó phản ánh một sự băn khoăn về bản thân cũng như về người khác, một sự thất vọng nội tại về sự thật về con người của họ, và sự thiếu thiện ý cũng như bất lực để trở nên một quà tặng cho người khác. Lối sống ảo tưởng thường đi kèm với việc thủ dâm nói lên sự bất mãn và sự xa rời thực tế.
Nếu một người đang đấu tranh với tật thủ dâm để bước vào đời sống hôn nhân và sống đời sống đó một cách tốt đẹp, phải nói rằng điều đó chỉ có thể xảy ra hoàn toàn nhờ vào việc chiến thắng thói xấu này bằng sự kiên nhẫn, bằng lời cầu nguyện, bằng sự trợ giúp của các bí tích, nhờ vào ơn Chúa, và có lẽ là nhờ vào sự hướng dẫn khôn ngoan của vị linh hướng. Tại sao? Bởi vì nếu sự thôi thúc đến quan hệ tính dục bị điều khiển bởi sự đam mê lạc thú chứ không phải bởi sự tự hiến, và trong thâm tâm của mình muốn có niềm hoan lạc cực khoái mà không nghĩ tới việc yêu thương “một nửa còn lại” và trách nhiệm của việc truyền sinh, thì việc đứng trước bàn thờ để thề hứa sẽ chẳng được gì nhiều nếu không chịu làm gì để thay đổi tình trạng đó.
Chẳng hạn một người đàn ông đã nhiễm thói quen thủ dâm sẽ dễ dàng chuyển thói tự đam mê lạc thú của mình vào nơi người vợ của mình. Anh ta sẽ giao hợp tính dục với ảo tưởng hơn là với người phụ nữ bằng xương bằng thịt mà anh ta đã kết hôn. Đó có phải là tình yêu không? Liệu đó có thể là một biểu lộ của mối liên kết hôn nhân và là sự làm mới lại lời thề hứa không?
Những nhà tâm lý khuyến khích thủ dâm, và những ai chấp nhận lời khuyên bảo của họ đều bị lừa bịp. Chúng ta hãy khấn nguyện lên Thiên Chúa để có thể xoá tan màn đêm sợ hãi, lo âu, và sự thất vọng ứ đọng trong tâm hồn ta. Hãy chấp nhận nỗi khó nhọc để cho Thiên Chúa dẫn đưa ta về lại sự thật từ sự phản nghịch của ta.
Và chỉ đến lúc đó chúng ta mới gặp được niềm vui và sự thoả mãn đích thực mà chúng ta đang tìm kiếm. Đó không phải là sự tự mãn. Đó là sự mãn nguyện trong hy sinh vì tình yêu. Đó là sự thoả mãn của việc nắm bắt được những gì đích thực – là sự gặp gỡ “nhân vị khác” và đó có nghĩa là chuẩn bị cho ta có được một cuộc gặp gỡ mật thiết với Đấng Tha Vị Tối Cao: Thiên Chúa.
Về Mục Lục (http://www.gpnt.net/diendan/showthread.php?t=166)
Du Khach
07-08-2009, 01:40 PM
12. Vậy thì tôi phải làm gì với tất cả những cảm xúc và dục vọng của mình trong khi tôi không thể sinh hoạt tình dục mà lại không được thủ dâm? Thỉnh thoảng tôi có cảm giác như là mình đang bốc hỏa vậy.
Đây quả là một cơ hội tốt để giải đáp sự khác biệt giữa việc kiềm chế và sự giải thoát tính dục. Hầu hết những ai đang cố gắng sống đời sống khiết tịnh đều mắc phải sai lầm là “ngăn chặn” những xúc cảm nhục dục hay cố lãng quên chúng bằng việc che dấu chúng đi không để cho ai biết. Vấn đề ở đây là những cảm xúc ấy cứ quay trở lại, và thông thường thì chúng trở nên mạnh mẽ hơn so với lúc ban đầu.
Xúc cảm và dục tình là những đòi hỏi rất mạnh mẽ. Kìm nén không phải là cách để giải quyết vấn đề. Để có thể nhận ra được sự tự do đích thực và để tính dục phục vụ cho tình yêu tinh tuyền, chúng ta cần phải nếm trải sự giải thoát tính dục của thân phận con người. Những dục tình của chúng ta cần phải được biến đổi trong Đức Kitô để từ đó chúng ta có thể cảm nghiệm chúng như chúng phải là như đã được ấn định ngay từ khởi đầu bởi Thiên Chúa. (xem Chương Một)
Bởi vì sự rạn vỡ giữa thân xác và linh hồn gây ra bởi tội nguyên tổ mà chúng ta đã mang lấy những dục tình bấn loạn.[15] Phải công nhận rằng thật khó để mà chế ngự nó, nếu không muốn nói là nhiều lúc không thể làm được. Vì vậy mà chúng ta cần tự hỏi mình: Phải chăng tôi đang chế ngự dục tình hay dục tình đang chế ngự tôi? Nếu chúng đang chế ngự tôi, có nghĩa là tôi đang mất tự do.
Chúng ta cũng cần phải hỏi chính mình: Xúc cảm và đặc tính của những nhục vọng này là gì? Phải chăng chúng nhằm phục vụ cho tình yêu tinh tuyền hay chúng đơn giản chỉ phục vụ cho sự thoả mãn ích kỷ mà thôi?
Khi dục cảm, nhục dục và những cám dỗ xuất hiện, như là điều không thể tránh khỏi được, thay vì cố gắng lãng quên hay “ngăn chặn” chúng lại bằng cách vùi dập và chôn lấp nó, chúng ta cần phải hướng chúng lên và làm cho chúng nổi bật. Hướng lên và làm nổi bật ở đây không có nghĩa là nuông chiều, nhưng là quy hướng chúng về với Đức Kitô, Đấng Cứu Độ chúng ta. Bạn có thể cầu nguyện một lời nguyện đơn giản như thế này:
Lạy Chúa Giêsu, con dâng lên cho Ngài những dục vọng của con. Xin xóa bỏ trong con những gì tội lỗi đã gây ra để con có thể lãnh hội được sự tự do trong vấn đề này và thấu hiểu được nhục dục như Ngài đã định. Amen.
Càng mời gọi Đức Kitô đến trong tình dục và dục vọng của ta và để cho Ngài thanh luyện chúng nhiều bao nhiêu, chúng ta nhận ra mình có thể thực hiện việc chế ngự chúng một cách thích hợp. Và chúng ta bắt đầu cảm nghiệm nhiều hơn về tính dục của mình, không là ước vọng để được thỏa mãn trong sự ích kỷ, nhưng là ước vọng để hiến mình để được đồng hình đồng dạng với Đức Kitô. Và đó chính là sự giải thoát tính dục.
Nhưng điều này chẳng dễ dàng chút nào. Hay nói một cách chính xác hơn thì đó là một cuộc chiến tâm linh mãnh liệt (xem Ep 6,12). Để cho Đức Kitô thanh luyện đòi hỏi một sự chết đi thực thụ đối với những thú vui trần thế của mình. Nó đòi hỏi chúng ta phải cùng chịu đóng đinh với Ngài để rồi mới được sống lại với Ngài trong đời sống mới (xem Rm 6) – một đời sống mới mà trong đó chúng ta tìm thấy được mình có thể yêu nhiều như Ngài yêu, đời sống mà nó biểu lộ được ý nghĩa của tính dục của ta.
Trong thực tế, cũng như tính dục do bản tính tội lỗi lôi kéo ta vào sự thỏa mãn ích kỷ của mình mặc cho người khác phải trả giá có mạnh mẽ đến cỡ nào thì Thiên Chúa càng mong muốn cho tính dục đã được cứu độ của chúng ta hướng chúng ta đến việc tự do yêu thương người khác như Ngài đã yêu thương chúng ta hơn. Dục tình là phương tiện để dẫn đưa chúng ta đến sự hoàn hảo của Tin Mừng. Đó là lý do tại sao Đức Cố Giáo Hoàng Gioan Phalô II cho rằng sự thôi thúc dục tình như là “kim chỉ nam cho khát vọng phát triển và hoàn thiện từ bên trong.”[16]
Tình yêu đích thực và tự do đích thực là điều có thể xảy ra. Nhưng chúng ta không thể làm được một sớm một chiều. Nó có thể là một chặng đường dài và đầy khó khăn. Tuy nhiên, theo như chú giải của Đức Cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II thì, Đức Kitô kêu gọi chúng ta hãy học hỏi một cách kiên trì và kiên định để biết được ý nghĩa đích thực của tính dục. Ngài kêu gọi chúng ta am tường những biến động nội tại trong con tim của chúng ta để từ đó chúng ta có thể phân biệt được giữa một mặt điều gì tạo nên những hấp dẫn tính dục theo như Thiên Chúa muốn và mặt khác thì điều gì cho thấy chỉ là dấu chỉ của nhục dục.
Và mặc dù những biến động khác biệt trong con tim này có thể, trong chừng mực nào đó, có những lúc mơ hồ, nhưng Đức Kitô kêu gọi chúng ta nhận thức được sự khác biệt. Một lần nữa, phải nói rằng nó thật sự là một điều khó khăn, nhưng Đức Cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II nói thêm rằng, “Nhiệm vụ này có thể thực hiện được và nó hoàn toàn xứng đáng để con người làm điều đó.”[17]
Vậy thì bạn làm gì với tất cả những xúc cảm và dục tình của mình? Hãy dâng lên cho Đức Kitô và để cho Ngài thực hiện việc cứu độ nó. Chỉ có một điều sẽ bị tan biến đi chính là quan niệm về tính dục của bạn. Nó thật sự huyền nhiệm trong chương trình của Thiên Chúa hơn là những gì mà con người hư nát của chúng ta có thể tưởng tượng ra được.
Còn một điều khác cần nhớ đó là: Sự giải thoát này không chỉ dành cho những ai không có “lối thoát hợp pháp” cho những ước muốn nhục dục. Nó dành cho tất cả mọi người, cả những người sống đời sống vợ chồng. Hôn nhân không phải là việc hợp pháp hoá những bạn tình sử dụng bạn mình như là phương thế để “giải toả” những lệch lạc của ước muốn nhục dục. Họ cũng cần phải lãnh hội được sự giải thoát tính dục của chính mình một khi việc giao hợp mang đúng tính chất của nó – tính dục chứ không phải là dâm dục.
Đây là một vài lời nguyện mà bạn có thể cầu nguyện thêm hòng giúp bạn tìm được sự thăng tiến mỗi ngày trong tự do để giải thoát tính dục của mình.
Lời nguyện cho quả tim trong sạch
Lạy Chúa, Chúa đã tạo dựng nên con như là một người nam [người nữ] giống hình ảnh của Chúa. Xin giúp con chấp nhận và đón nhận tính dục như là một quà tặng đến từ Chúa. Chúa đã khắc ghi trong con, trong tính dục của con lời mời gọi yêu thương như Chúa yêu thương, lời mời gọi cho đi chính mình cách chân thành, và Chúa đã làm nên “một thân thể” là sự kết hợp giữa người nam và người nữ trong hôn nhân như là một dấu chỉ của chính sự sống và tình yêu của Chúa trong lòng thế giới. Xin luôn ban cho con được ơn có thể chống trả lại những lời dụ dỗ hằng chống lại sự thật và ơn để nhận ra ý nghĩa của món quà tính dục này. Xin ban cho con quả tim trong sạch để con có thể thấy được hình ảnh của vinh quang của Chúa trong vẻ đẹp của mọi người, và một ngày nào đó con đáng được hưởng Nhan Thánh Chúa. Amen.
Lời nguyện trong cơn cám dỗ nhục dục
Đây là người phụ nữ [người đàn ông] mà Chúa đã dựng nên theo như hình ảnh của Chúa, chẳng bao giờ con có thể nhìn như là một đối tượng để thoả mãn trong sự ích kỷ của con. Lạy Chúa Giêsu, xin ban cho con ơn được xem thấy hình ảnh của vinh quang của Chúa trong vẻ đẹp của người phụ nữ [đàn ông] này, để những ham muốn nhục dục của con quy hướng về sự thật của tình yêu. Con từ bỏ mọi khuynh hướng muốn sử dụng người khác trong con chỉ vì khoái lạc của con, và con xin được kết hợp sự đau khổ của con với đau khổ của Chúa trên thập giá. Amen.
-----
[15] Rối loạn các đam mê gây ra bởi tội nguyên tổ được gọi là “dục vọng” (concupiscence). Dục vọng, theo nghĩa rộng, bao gồm nhiều hơn rối loạn ham thích tính dục. Dục vọng làm chúng ta nghiêng chiều về phía tội lỗi, nhưng tự nó không phải là tội, bởi vì ta không có tự do để chọn nó. Nó là cái “được cho vào” trong bản tính của con người sa ngã.
[16] Tình yêu và trách nhiệm, 46.
[17] x. THTX, 12/11/1980.
Về Mục Lục (http://www.gpnt.net/diendan/showthread.php?t=166)
Du Khach
13-08-2009, 02:45 PM
13. Mộng tinh có tội không?
Thưa không, bởi vì không có gì dính dáng đến yếu tố luân lý trong việc này. Sự xuất tinh không chủ ý trong khi ngủ là một trạng thái hoàn toàn khác với việc chủ tâm kích thích cho bản thân đạt được tình trạng cực khoái.
14. Tranh ảnh khiêu dâm có gì mà ghê quá vậy?
Tranh ảnh khiêu dâm rất hấp dẫn. Sự thật đó không nên phủ nhận hay không bàn đến. Thay vào đó, chúng ta nên hỏi tại sao. Tại sao nó lại cực kỳ cám dỗ như vậy? Làm thế nào mà nó có thể len lỏi vào và in dấu trong tâm hồn chúng ta khiến chúng ta dường như bị cuốn hút vào với một mãnh lực dường như không thể chống lại nổi?
Dĩ nhiên, tôi đang nói dựa trên quan điểm của một người đàn ông. Xem tranh ảnh khiêu dâm thường là chuyện của nam giới. Nó đánh trúng yếu điểm của nam giới hơn là nữ giới trong việc bị kích thích. Đó là lý do tại sao tạp chí Playgirl được nhiều nam giới có khuynh hướng đồng tính mua hơn là nữ giới. Đơn giản là hầu hết phụ nữ không tìm hứng thú trong việc nhìn tranh ảnh khoả thân của đàn ông. [18]
Tranh ảnh khiêu dâm có gì mà ghê quá vậy? Một lần nữa, nếu đứng trên quan điểm và dục vọng theo như bản tính hư nát của chúng ta, thì tranh ảnh khiêu dâm chẳng có gì là ghê gớm cả. Nó hoàn toàn là “bình thường.” Nó là điều “tự nhiên.” Nhưng nếu chúng ta nhận ra dù chỉ là tiếng vọng yếu ớt nhất trong tâm hồn mình về kế hoạch ban đầu của Thiên Chúa dành cho tính dục con người, thì chúng ta sẽ thấy rằng tranh ảnh khiêu dâm chính là hình ảnh thu nhỏ của viễn cảnh việc chúng ta đã sa lầy như thế nào trong vũng lầy đó.
Nếu chúng ta đã từng khám phá ra tình yêu đích thực, niềm vui đích thực, hạnh phúc đích thực, thì chúng ta phải khám phá lại “ý nghĩa hôn nhân của thân xác” và sống ý nghĩa đó (xem chương một). Chúng ta phải chết đi trong dục tình của mình và cảm nghiệm được sự cứu độ của thân xác, cũng như sự cứu độ của tính dục của mình trong Đức Kitô. Đó là con đường duy nhất để dẫn chúng ta đến sự hoàn thiện nhân vị đích thực.
Cảm nghiệm sự cứu độ này không phải chỉ là một điểm thứ yếu trong thông điệp của Tin Mừng, nó không phải chỉ là một phần phụ lục của thông điệp Tin Mừng, mà nó chính là thông điệp của Tin Mừng. Đức Cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II nói rằng, việc khám phá lại ý nghĩa hôn nhân của thân xác luôn luôn đồng nghĩa với việc khám phá lại ý nghĩa của sự hiện hữu một cách tổng thể, ý nghĩa của cuộc sống. [19] “Thật vậy, đây chính là cái nhìn của toàn bộ Tin Mừng, của toàn bộ giáo huấn, và thật ra là toàn bộ sứ mệnh của Đức Kitô.”[20]
Tranh ảnh khiêu dâm có gì mà ghê gớm quá vậy? Nó tước đoạt từ nơi chúng ta ý nghĩa của cuộc sống. nó là một thông điệp phản-Tin-Mừng, bởi vì nó nhằm vào việc nuôi dưỡng những lệch lạc tính dục mà chúng ta phải chiến đấu chống lại để khám phá ra tình yêu đích thực.
Tranh ảnh khiêu dâm có gì mà ghê gớm quá vậy? Nếu nhục dục là ngọn lửa mà chúng ta cần phải để cho Đức Kitô dập tắt, thì tranh ảnh khiêu dâm chính là việc quạt lửa cho ngọn lửa đó. Chẳng có lời giải thích duy lý nào, chẳng có sự bào chữa nào cho rằng “đó là điều bình thường” hay điều đó cho thấy rằng “đàn ông như thế mới thật là đàn ông,” có thể thay đổi được sự thật của tranh ảnh khiêu dâm và việc nó tác động đàn ông nghĩ về phụ nữ (và phụ nữ nghĩ về chính bản thân họ [21]). Nếu đã là đàn ông cho ra đàn ông, thì họ phải học cách để yêu đàn bà. Họ phải học cách để nhìn nhận rằng họ chẳng phải là những công cụ phục vụ cho nhu cầu thoả mãn nhục dục của mình nhưng chính là những con người được tạo dựng nên theo như hình ảnh của Thiên Chúa.
Tranh ảnh khiêu dâm có gì mà ghê gớm quá vậy? Nó chẳng làm gì ngoài việc nuôi dưỡng cái khuynh hướng của sự hư nát trong người đàn ông trong việc đối xử với người đàn bà như là những công cụ để phục vụ cho sự thoả mãn nhục dục của mình mà thôi. Người đàn ông nào mà say mê với tranh ảnh khiêu dâm, đến độ đam mê nó, thì không còn khả năng để yêu phụ nữ một cách nghiêm túc.
Bao lâu người đàn ông vẫn còn yêu thích niềm đam mê đó, anh ta không thể hy vọng có được một mối quan hệ lành mạnh và trong sáng nào với bất cứ một người phụ nữ. Anh ta không thể hy vọng có thể bước vào đời sống hôn nhân một cách thành thực, mở ngỏ cho sự sinh sản, và chung thuỷ được. Đàn ông mà đam mê tranh ảnh khiêu dâm thì là người nhu nhược.
Điều này xấu không phải bởi vì khỏa thân là xấu. Cũng chẳng phải niềm đam mê tranh khoả thân là xấu. Cái xấu ở đây chính là nhục dục tiềm ẩn trong con tim và ước muốn ôm ấp nó. Cái xấu ở đây là chuyện vẽ tranh khoả thân với ý đồ kích dục và làm mất phẩm giá con người qua việc đưa con người trở thành chỉ là đối tượng để làm thỏa mãn niềm đam mê đó.
Như là một biện pháp để hoá giải niềm đam mê sắc dục này, chúng ta có thể chiêm ngưỡng những bức hình khoả thân sơn dầu của Michelangelo trong ngôi nhà nguyện Sistine. Trong thực tế, như là một phần của công trình phục chế cho nhà nguyện Sistine, Đức Cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã ra lệnh phải loại bỏ nhiều mảnh vải che bộ phận sinh dục mà những Giáo Hoàng trước đây đã cho vẽ chồng lên những bộ phận này. Tại sao? Bởi vì Đức Cố Giáo Hoàng tin rằng một nghệ sĩ hiểu thấu đáo ý nghĩa hôn nhân của thân xác có thể miêu tả hình ảnh khoả thân trong cách thức mà qua đó chúng ta có thể nhìn thấy được ngọn nguồn nét đẹp của chúng ta là tạo vật được tạo thành như là người nam và người nữ theo như hình ảnh của Thiên Chúa.
Sự ngưỡng mộ nhân phẩm đó, rõ rằng theo như ý định của Michelangelo, rõ ràng lại không tìm thấy nơi Hugh Hefner và Larry Flint. Vì vậy theo như cách nhìn của Đức Cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, vấn đề thật sự của tranh ảnh khiêu dâm không phải nằm ở chỗ nó biểu lộ quá nhiều về con người nhưng lại là việc nó biểu lộ quá ít về con người.
Có một ước vọng sâu thẳm và không thể thỏa mãn được trong tâm hồn con người là việc khám phá ra ý nghĩa của nam tính và nữ tính. Bi kịch thay, có quá ít người trưởng thành trong việc diễn tả và bắt gặp được nhu cầu Chúa ban này một cách thích hợp và tao nhã. Lẫn tránh sự thật, con người ta sẽ dễ dàng không thể chống lại sự giả dối, khi kiếm tìm sự hiểu biết những nhu cầu hợp pháp và sự tò mò bằng những cách thế hết sức lệch lạc. Đó là lý do tại sao tranh ảnh khiêu dâm lại cực kỳ hấp dẫn như vậy. Đó là lý do tai sao có nhiều tranh ảnh khiêu dâm diễn tả những hoạt động tình dục rõ ràng đến từng chi tiết hơn là những nhà hàng thức ăn nhanh McDonald. Đó là lý do tại sao phần lớn sự truyền tải trên internet là văn hóa phẩm khiêu dâm. Đó là lý do tại sao tranh ảnh khiêu dâm là công nghệ bạc tỉ chỉ tính riêng ở nước Mỹ.
Hoá giải niềm đam mê tranh ảnh khiêu dâm là làm thoả mãn nhu cầu sâu thẳm từ nội tại của con người trong việc khám phá ra ý nghĩa của tính dục con người cùng với sự thật. Khi chúng ta tìm thấy được sự thật về tính dục, mầu nhiệm sâu thẳm về kế hoạch của Thiên Chúa qua thân xác của chúng ta, thì chúng ta sẽ tìm được điều mà ta cần tìm kiếm trong toàn bộ đời sống của mình. Khi chúng ta tìm thấy sự thật, sự giả dối không còn là sự hấp dẫn nữa bởi vì chúng ta sẽ nhìn thấy chúng như những thực tại trống rỗng và giả dối.
Chúc tụng Thiên Chúa! Nét đẹp thực thụ của người nam và người nữ có thể làm cho con người ta ngây ngất và tràn đầy vinh dự hơn là những gì loã lồ được vi tính chỉnh sửa và in ấn. Chúng ta cần phải cầu xin Thiên Chúa ban cho mắt ta được nhìn thấy điều đó. Chúng ta cần phải cầu xin cho được trong sạch để như Đức Cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã nói là sự vinh quang của Thiên Chúa được biểu lộ qua thân xác của ta.[22] “Phúc cho ai có lòng trong sạch, vì họ sẽ được nhìn xem Thiên Chúa” trong thân xác của họ (xem Mt 5,8)
Nếu bạn sa lầy trong thói xấu đam mê tranh ảnh khoả thân, nếu bạn cứ dán mắt vào tranh ảnh khoả thân bất cứ lúc nào trong cuộc đời và cứ tìm cách kích thích như tác động của nó, nếu bạn là người vợ, là bạn gái, hay người vợ chưa cưới của một người đàn ông đam mê tranh ảnh khoả thân, đừng tuyệt vọng. Hãy tìm đến những sự giúp đỡ.[23] Bạn sẽ tìm được hy vọng, và bạn sẽ được chữa lành.
-----
[18] Tuy nhiên, có một thứ khác khiêu dâm cho giới nữ - tiểu thuyết tình cảm “ướt át”. Nữ giới bị lôi cuốn vào những tiểu thuyết này hơn là hình ảnh khiêu dâm, điều này nói lên rất chính xác tâm lý của giới nữ. Đối với hầu hết người nữ, chỉ hình ảnh thôi không có tác dụng gì. Họ cần câu chuyện, tiểu thuyết đắm đuối, tình cảm sướt mướt và lâm ly bi đát.
Dù rằng xã hội dễ chấp nhận những tiểu thuyết kiểu ấy hơn là tranh ảnh khiêu dâm, nhưng chúng không gì khác hơn là sự lệch lạc trong quan hệ giữa người nam và người nữ. Cả hai đều khêu gợi lên xung lực sa ngã trong con người chúng ta đối với sự thoả mãn nhục dục, chỉ theo cách khác nhau mà thôi. Tranh ảnh khiêu dâm dung túng sự ham muốn của người nam sa ngã cho việc kích thích thị giác và thể xác, trong khi tiểu thuyết lãng mạn ướt át lại dung túng sự ham muốn của người nữ sa ngã cho việc kích thích lãng mạn và xúc cảm. Không có cái nào là lành mạnh. Không có cái nào tạo nên chúng ta trong sự thật. Thật vậy, cả hai thứ đều tạo nên chúng ta trong sự dối trá.
[19] x. THTX, 29/10/1980.
[20] x. THTX, 3/12/1980.
[21] Bởi vì hầu hết nam giới trong nền văn hoá chúng ta đã quá bị khuynh đảo bởi hình ảnh khiêu dâm, và bởi hình ảnh truyền thông của nữ giới cách chung, giới nữ bị đặt những gánh nặng khổng lồ nhằm cân đo để được hấp dẫn hơn. Hầu hết những bức ảnh về nữ giới đều không thực. Các bức ảnh đó được xử lý nhờ máy vi tính để loại bỏ mọi dấu vết “nhược điểm” (thực chất, mọi dấu vết bình thường của con người).
Vì vậy, người nữ cứ tha hồ ráng sức đạt cho được tiêu chuẩn của “cái đẹp” mà theo sát nghĩa thì hoàn toàn không thể đạt tới được. Sự gia tăng sự rối loạn trong việc ăn uống nhiều thứ khác nhau trong giới phụ nữ và cả các cô gái trẻ là một ví dụ sắc bén về những hậu quả của nền văn hoá truyền thông hình ảnh khiêu dâm tạo ra dựa trên tâm lý của nữ giới. Rõ ràng và đơn giản, hình ảnh khiêu dâm làm mất giá nữ giới một cách khủng khiếp.
Ban nhạc Tears for Fears (Nước mắt vì sợ hãi) có lần đã viết ca khúc mang tên "Woman in Chains" (Người phụ nữ mang xiềng xích) nắm bắt được thật tài tình đáng nể cách thế người phụ nữ bị ảnh hưởng do sự dâm đãng của nam giới. Nếu bạn có thể tìm được một phiên bản, thật đáng nghiền ngẫm lời ca: “Sâu trong trái tim em có những vết thương thời gian không thể nào chữa lành, …đó là một thế giới điên loạn, cầm giữ phụ nữ trong xích xiềng.”
[22] x. THTX, 18/3/1981.
[23] Một chỗ bạn có thể khởi sự tìm kiếm sự trợ giúp đó là The Christian Alliance for Sexual Recovery. Xem Phần Tham khảo để có thông tin liên hệ.
Về Mục Lục (http://www.gpnt.net/diendan/showthread.php?t=166)
Xem tiếp Chương Năm (http://www.gpnt.net/diendan/showthread.php?t=834)
vBulletin v3.5.2, Copyright ©2000-2012, Jelsoft Enterprises Ltd.