admin
20-02-2006, 06:17 PM
Thứ Tư, ngày 24/10/1979
6. Con người nhận thức ra mình là một nhân vị
Trong lần nói chuyện trước, chúng ta đã bắt đầu phân tích sự đơn độc nguyên thuỷ của con người. Đoạn văn thuộc truyền thống Giavê, đặc biệt là câu này: «Con người ở một mình thì không tốt. Ta sẽ làm cho nó một trợ tá tương xứng với nó» (St 2,18) đã cho chúng ta điểm xuất phát. Khi phân tích những đoạn tương ứng trong chương thứ hai của Sách Sáng Thế, chúng ta đã rút ra được những kết luận đáng ngạc nhiên liên quan đến nhân loại học, tức là môn khoa học căn bản về con người, tiềm tàng trong quyển sách này. Thực vậy, với một ít câu tương đối ngắn gọn, bản văn cổ xưa đó đã lột tả được con người như một nhân vị có tư cách chủ thể đặc trưng riêng biệt.
Chúa Giavê đã truyền cho con người đầu tiên, được tạo dựng như thế đó, một mệnh lệnh có liên quan đến tất cả cây cối ở trong «vườn Eđen» và đặc biệt là cây biết lành biết dữ. Như vậy, ngoài những nét đặc thù đã miêu tả ở trên, con người còn có thêm được cái khoảnh khắc lựa chọn và tự khẳng định, tức là ý muốn tự do. Thế là chúng ta có được hình ảnh con người hoàn chỉnh trong nét phác hoạ đầu tiên, con người như là một nhân vị với một chủ thể tính riêng biệt.
Khái niệm đơn độc nguyên thuỷ vừa bao gồm sự tự nhận thức về chính mình lẫn sự tự khẳng định. Con người “đơn độc” một đàng bao hàm cấu trúc bản thể này đàng khác lại chỉ cho thấy sự nhận thức đích thực. Nếu không, chúng ta không thể nào hiểu nổi khúc dạo đầu cho việc sáng tạo người nữ ngay sau đó: «Ta sẽ làm cho nó một trợ tá». Và nhất là, nếu không ‘ngộ’ được ý nghĩa sâu xa đó về sự đơn độc nguyên thuỷ, chúng ta không thể nào hiểu và giải thích đúng được tình trạng con người được tạo dựng «theo hình ảnh Thiên Chúa», là tình trạng của giao ước đầu tiên, một giao ước nguyên thuỷ với Thiên Chúa.
Chuyện kể trong chương thứ nhất đã nói rằng con người đó đã được tạo dựng «theo hình ảnh Thiên Chúa». Nhưng trong câu chuyện thứ hai, con người ấy đã xuất hiện như một chủ thể của giao ước, nghĩa là một chủ thể được thiết lập như một nhân vị, theo chiều kích “song phương (partner) với Đấng Tuyệt đối”. Con người đó phải biết phân biệt và chọn lựa một cách có ý thức giữa điều thiện và điều ác, giữa sống và chết. Lệnh truyền đầu tiên của Chúa Giavê (Gn 2,16-17) đã trực tiếp nói lên việc con người thụ tạo phải tùng phục và phụ thuộc vào Đấng Tạo hoá của mình. Những lời ấy cũng gián tiếp hé mở cho thấy cái thứ bậc của nhân loại vừa là chủ thể của giao ước vừa là “song phương với Đấng Tuyệt đối”. Con người thật “đơn độc”. Điều này có nghĩa là, qua nhân tính của mình, qua cái làm cho con người là người, con người cũng đồng thời được thiết lập thành một tương quan duy nhất, độc đáo và độc nhất vô nhị với chính Thiên Chúa. Định nghĩa nhân loại học về con người trong bản văn thuộc truyền thống Giavê này rất gần với những gì mà định nghĩa thần học về con người trong câu chuyện thứ nhất của cuộc sáng tạo «Chúng Ta hãy làm ra con người theo hình ảnh Chúng Ta, giống như Chúng Ta» (St 1, 26).
Được hình thành như thế nên con người thuộc về thế giới hữu hình. Con người là một thân xác giữa bao thân xác. Khi nêu lên lại và, bằng cách nào đó, tái dựng lại ý nghĩa của sự đơn độc nguyên thuỷ, chúng ta áp dụng ý nghĩa đó cho con người trong chiều kích tổng thể của nó. Cái thân xác mà thông qua đó con người tham dự vào thế giới thụ tạo hữu hình cũng đồng thời làm cho con người ý thức về tình trạng “đơn độc” của mình. Con người sẽ không thể có được nhận thức như đã đạt tới (xem St 2,20), nếu thân xác không giúp con người hiểu điều đó bằng cách làm cho sự việc thành hiển nhiên. Do bởi chính thân xác mình mà con người đúng ra đã không cảm thấy đơn độc. Con người, “adam”, dựa trên kinh nghiệm của chính thân xác mình, lẽ ra đã đi đến kết luận là mình cùng giống bản thể với các động vật khác (animalia). Nhưng như chúng ta đọc thấy, con người đã không đi tới kết luận như vậy; ngược lại con người đã đạt được nhận thức là mình “đơn độc”. Bản văn thuộc truyền thống Giavê không hề nói trực tiếp tới thân xác. Ngay cả khi nói rằng «Đức Chúa là Thiên Chúa lấy bụi từ đất nặn ra con người» thì bản văn ấy đã nói đến con người chứ không phải về thân xác. Tuy nhiên, khi nhìn tổng thể câu chuyện, chúng ta có đủ cơ sở để nhận biết về con người này, con người được tạo dựng trong thế giới hữu hình, như là một thân xác giữa bao thân xác.
Việc phân tích bản văn thuộc truyền thống Giavê đã cho phép chúng ta gắn liền sự đơn độc nguyên thuỷ của con người với ý thức về thân xác của mình. Thân xác mà nhờ đó, con người được phân biệt và tách biệt ra khỏi giới động vật (animalia), và cũng nhờ (thân xác) đó mà con người là một nhân vị. Chúng ta có thể khẳng định một cách chắc chắn rằng con người, một khi được hình thành như thế đó, đã vừa ý thức vừa cảm nghiệm được ý nghĩa của thân xác mình, dựa trên sự trải nghiệm về sự đơn độc nguyên thuỷ. Có thể coi tất cả những điều này là một hàm diễn từ câu chuyện thứ hai và nhờ phân tích bản văn đó chúng có thể khai triển vấn đề cách sâu rộng hơn.
Ở phần đầu bản văn thuộc truyền thống Giavê, ngay cả trước khi nói tới cuộc sáng tạo con người từ «bụi đất» chúng ta đọc thấy: «không có người để canh tác đất đai và để mang nước từ những dòng nước dưới đất lên mà tưới khắp mặt đất» (St 2,5-6). Chúng ta có lý để kết nối đoạn này với đoạn thứ nhất khi kể về lệnh truyền của Thiên Chúa: «Hãy sinh sôi nảy nở thật nhiều cho đầy mặt đất, và hãy thống trị mặt đất» (St 1,28). Câu chuyện thứ hai đặc biệt ám chỉ đến công việc canh tác đất đai của con người. Phương thế cơ bản đầu tiên để thống trị trái đất nằm nơi chính bản thân con người. Con người có thể thống trị trái đất bởi vì chỉ một mình con người -chứ không phải một sinh vật nào khác- có thể «canh tác» và biến đổi mặt đất theo nhu cầu của riêng mình. (Con người «mang nước từ những dòng nước dưới đất lên mà tưới khắp mặt đất»). Phác hoạ đầu tiên về một hoạt động đặc thù của con người này là một phần của cái định nghĩa có được sau khi phân tích. Do đó, chúng ta có thể xác định rằng nét phác họa đó thuộc ý nghĩa nội tại của sự đơn độc nguyên thuỷ và thuộc về chiều kích của sự đơn độc, và cũng chính thông qua chiều kích đó mà từ thuở ban đầu con người hiện diện trong thế giới hữu hình như là một thân xác giữa bao thân xác để rồi khám phá ra ý nghĩa của «thân xác tính» của chính mình.
Nhóm Tâm Biển
Về Mục lục (http://gpnt.net/diendan/showthread.php?t=217)
6. Con người nhận thức ra mình là một nhân vị
Trong lần nói chuyện trước, chúng ta đã bắt đầu phân tích sự đơn độc nguyên thuỷ của con người. Đoạn văn thuộc truyền thống Giavê, đặc biệt là câu này: «Con người ở một mình thì không tốt. Ta sẽ làm cho nó một trợ tá tương xứng với nó» (St 2,18) đã cho chúng ta điểm xuất phát. Khi phân tích những đoạn tương ứng trong chương thứ hai của Sách Sáng Thế, chúng ta đã rút ra được những kết luận đáng ngạc nhiên liên quan đến nhân loại học, tức là môn khoa học căn bản về con người, tiềm tàng trong quyển sách này. Thực vậy, với một ít câu tương đối ngắn gọn, bản văn cổ xưa đó đã lột tả được con người như một nhân vị có tư cách chủ thể đặc trưng riêng biệt.
Chúa Giavê đã truyền cho con người đầu tiên, được tạo dựng như thế đó, một mệnh lệnh có liên quan đến tất cả cây cối ở trong «vườn Eđen» và đặc biệt là cây biết lành biết dữ. Như vậy, ngoài những nét đặc thù đã miêu tả ở trên, con người còn có thêm được cái khoảnh khắc lựa chọn và tự khẳng định, tức là ý muốn tự do. Thế là chúng ta có được hình ảnh con người hoàn chỉnh trong nét phác hoạ đầu tiên, con người như là một nhân vị với một chủ thể tính riêng biệt.
Khái niệm đơn độc nguyên thuỷ vừa bao gồm sự tự nhận thức về chính mình lẫn sự tự khẳng định. Con người “đơn độc” một đàng bao hàm cấu trúc bản thể này đàng khác lại chỉ cho thấy sự nhận thức đích thực. Nếu không, chúng ta không thể nào hiểu nổi khúc dạo đầu cho việc sáng tạo người nữ ngay sau đó: «Ta sẽ làm cho nó một trợ tá». Và nhất là, nếu không ‘ngộ’ được ý nghĩa sâu xa đó về sự đơn độc nguyên thuỷ, chúng ta không thể nào hiểu và giải thích đúng được tình trạng con người được tạo dựng «theo hình ảnh Thiên Chúa», là tình trạng của giao ước đầu tiên, một giao ước nguyên thuỷ với Thiên Chúa.
Chuyện kể trong chương thứ nhất đã nói rằng con người đó đã được tạo dựng «theo hình ảnh Thiên Chúa». Nhưng trong câu chuyện thứ hai, con người ấy đã xuất hiện như một chủ thể của giao ước, nghĩa là một chủ thể được thiết lập như một nhân vị, theo chiều kích “song phương (partner) với Đấng Tuyệt đối”. Con người đó phải biết phân biệt và chọn lựa một cách có ý thức giữa điều thiện và điều ác, giữa sống và chết. Lệnh truyền đầu tiên của Chúa Giavê (Gn 2,16-17) đã trực tiếp nói lên việc con người thụ tạo phải tùng phục và phụ thuộc vào Đấng Tạo hoá của mình. Những lời ấy cũng gián tiếp hé mở cho thấy cái thứ bậc của nhân loại vừa là chủ thể của giao ước vừa là “song phương với Đấng Tuyệt đối”. Con người thật “đơn độc”. Điều này có nghĩa là, qua nhân tính của mình, qua cái làm cho con người là người, con người cũng đồng thời được thiết lập thành một tương quan duy nhất, độc đáo và độc nhất vô nhị với chính Thiên Chúa. Định nghĩa nhân loại học về con người trong bản văn thuộc truyền thống Giavê này rất gần với những gì mà định nghĩa thần học về con người trong câu chuyện thứ nhất của cuộc sáng tạo «Chúng Ta hãy làm ra con người theo hình ảnh Chúng Ta, giống như Chúng Ta» (St 1, 26).
Được hình thành như thế nên con người thuộc về thế giới hữu hình. Con người là một thân xác giữa bao thân xác. Khi nêu lên lại và, bằng cách nào đó, tái dựng lại ý nghĩa của sự đơn độc nguyên thuỷ, chúng ta áp dụng ý nghĩa đó cho con người trong chiều kích tổng thể của nó. Cái thân xác mà thông qua đó con người tham dự vào thế giới thụ tạo hữu hình cũng đồng thời làm cho con người ý thức về tình trạng “đơn độc” của mình. Con người sẽ không thể có được nhận thức như đã đạt tới (xem St 2,20), nếu thân xác không giúp con người hiểu điều đó bằng cách làm cho sự việc thành hiển nhiên. Do bởi chính thân xác mình mà con người đúng ra đã không cảm thấy đơn độc. Con người, “adam”, dựa trên kinh nghiệm của chính thân xác mình, lẽ ra đã đi đến kết luận là mình cùng giống bản thể với các động vật khác (animalia). Nhưng như chúng ta đọc thấy, con người đã không đi tới kết luận như vậy; ngược lại con người đã đạt được nhận thức là mình “đơn độc”. Bản văn thuộc truyền thống Giavê không hề nói trực tiếp tới thân xác. Ngay cả khi nói rằng «Đức Chúa là Thiên Chúa lấy bụi từ đất nặn ra con người» thì bản văn ấy đã nói đến con người chứ không phải về thân xác. Tuy nhiên, khi nhìn tổng thể câu chuyện, chúng ta có đủ cơ sở để nhận biết về con người này, con người được tạo dựng trong thế giới hữu hình, như là một thân xác giữa bao thân xác.
Việc phân tích bản văn thuộc truyền thống Giavê đã cho phép chúng ta gắn liền sự đơn độc nguyên thuỷ của con người với ý thức về thân xác của mình. Thân xác mà nhờ đó, con người được phân biệt và tách biệt ra khỏi giới động vật (animalia), và cũng nhờ (thân xác) đó mà con người là một nhân vị. Chúng ta có thể khẳng định một cách chắc chắn rằng con người, một khi được hình thành như thế đó, đã vừa ý thức vừa cảm nghiệm được ý nghĩa của thân xác mình, dựa trên sự trải nghiệm về sự đơn độc nguyên thuỷ. Có thể coi tất cả những điều này là một hàm diễn từ câu chuyện thứ hai và nhờ phân tích bản văn đó chúng có thể khai triển vấn đề cách sâu rộng hơn.
Ở phần đầu bản văn thuộc truyền thống Giavê, ngay cả trước khi nói tới cuộc sáng tạo con người từ «bụi đất» chúng ta đọc thấy: «không có người để canh tác đất đai và để mang nước từ những dòng nước dưới đất lên mà tưới khắp mặt đất» (St 2,5-6). Chúng ta có lý để kết nối đoạn này với đoạn thứ nhất khi kể về lệnh truyền của Thiên Chúa: «Hãy sinh sôi nảy nở thật nhiều cho đầy mặt đất, và hãy thống trị mặt đất» (St 1,28). Câu chuyện thứ hai đặc biệt ám chỉ đến công việc canh tác đất đai của con người. Phương thế cơ bản đầu tiên để thống trị trái đất nằm nơi chính bản thân con người. Con người có thể thống trị trái đất bởi vì chỉ một mình con người -chứ không phải một sinh vật nào khác- có thể «canh tác» và biến đổi mặt đất theo nhu cầu của riêng mình. (Con người «mang nước từ những dòng nước dưới đất lên mà tưới khắp mặt đất»). Phác hoạ đầu tiên về một hoạt động đặc thù của con người này là một phần của cái định nghĩa có được sau khi phân tích. Do đó, chúng ta có thể xác định rằng nét phác họa đó thuộc ý nghĩa nội tại của sự đơn độc nguyên thuỷ và thuộc về chiều kích của sự đơn độc, và cũng chính thông qua chiều kích đó mà từ thuở ban đầu con người hiện diện trong thế giới hữu hình như là một thân xác giữa bao thân xác để rồi khám phá ra ý nghĩa của «thân xác tính» của chính mình.
Nhóm Tâm Biển
Về Mục lục (http://gpnt.net/diendan/showthread.php?t=217)