View Full Version : Bàn luận về từ vựng thần học
Trần Duy Thực
21-02-2006, 05:03 PM
Bàn luận về từ vựng thần học
Kính thưa tất cả,
Tôi xin mạn phép mở ra một topic mới để chúng ta cùng nhau bàn luận, tìm hiểu về một số từ vựng thần học
1) Cũng có thể là chỉ để giải thích một số từ vựng hơi khó hiểu
2) Cũng có thể là ước vọng cao hơn : đưa ra cách sử dụng từ vựng mà mình cho rằng chính xác hơn
3) Và cũng có thể là ước vọng cao hơn nữa : cách nhìn, cách dịch những từ vựng cho thích hợp với nền văn hóa Việt Nam
Rất mong tất cả quý cha, quý xơ, quý thầy và toàn thể quý bạn tham gia.
Kính ái
Trần Duy Thực
21-02-2006, 05:37 PM
Phải hiểu và dịch chữ “PATHOS” như thế nào cho đúng nhất ?
Tôi lật các tự điển thông thường của Việt Nam thì không có chữ “pathos” này. Lật các tự điển thông thường về công giáo cũng không có luôn. Vào trang web “từ vựng thần học” http://www.htth.org/page6.html thì thấy họ dịch thành “giọng/lời thống thiết giả tạo”.
Nhưng tôi vẫn chưa thỏa mãn lắm với cách dịch vừa nêu. Bởi vì ít ra là 2 lý do :
1) Dịch một chữ thành gần như một câu thi có lẽ hơi dài
2) Chữ «pathos » có gốc Hy Lạp, nếu dịch ra tiếng Pháp sẽ là « passion », không phải lúc nào nó cũng có ý nghĩa péjoratif (nghĩa xấu, nghĩa châm biếm)
Do đó, tôi rất mong ý kiến của tất cả quý bạn. Kính
Trần Duy Thực
22-02-2006, 12:24 AM
Và đây là định nghĩa của chữ « pathos » trong tự điển quốc tế : http://www.ditl.info/art/index.php
1580; du latin tardif patheticus, transcrit du grec παθητικός 1) «sensible»; 2) «pathétique»; adjectif dérivé de l'adjectif παθntos «sujet à la souffrance» et du verbe πάσχω, «souffrir». Sur la racine probable P e/o N- th, cf. PASSION.
Ce qui émeut vivement, excite une émotion intense, souvent pénible ; n’est pas en soi nécessairement tragique.
Thoáng dịch :
1580 : từ tiếng latin patheticus, phiên dịch từ tiếng Hy Lạp
Có nghĩa là những gì làm xao động, kích động những cảm xúc mãnh liệt, và thường gây nên khổ sở. Không có nghĩa là bi thảm.
Nếu mình tin theo tự điển vừa trích dẫn thì phải dịch và hiểu “pathos” sang tiếng Việt như thế nào ?
Trần Duy Thực
22-02-2006, 03:48 AM
Xin chép đoạn đầu của định nghĩa về « pathos » trong cuốn tự điển : « Vocabulaire européen des philosophies » của Le Robert.
____
La vie psychique est mouvement. L’âme bouge. La vie psychique est passion. L’âme est, en fait, mue, émue. Le vocabulaire du sentir dans les langues européennes s’organise entre ces deux pôles :
a) d’une part, l’idée d’une turbulence, d’un devenir, d’une instabilité –quelque chose s’active et se transforme ; il y a une activité psychique
b) d’autre part, une telle activité est l’effet d’une cause extérieure, à laquelle l’âme se trouve exposée, qu’elle subit, passivement. Quelque chose lui arrive et la transforme. L’agitation est la forme que prend la passivité
Ainsi, en grec, nous avons thumos, epithumia, orexis, mais aussi pathos, pathêma.
En latin, emotio, perturbatio, d’une part ; morbus, passio, affectus, d’autre part.
En italien, sentimento et passione, emozione.
En français, sentiment et passion ou émotion.
En anglais, feeling, passion, emotion
L’enjeu théorique, le choix entre une conception cinétique ou passionnelle du sentir, se laisse comprendre dans une histoire des décisions sur la manière de traduire les mots anciens dans les langues modernes. Les discussions sur les concepts sont souvent des commentaires linguistiques, par exemple chez Cicéron, lorsqu’il traduit le grec pathos par le latin perturbatio au lieu de morbus, ou chez Augustin, quand il critique une telle traduction. Cette tension détermine encore nos problématiques contemporaines, y compris celle de la psychanalyse.
_______
Xin tóm lược bằng tiếng Việt :
Đời sống tâm thần có 2 cực : động và thụ động. Nếu tôi hiểu không sai khi đọc đoạn trên thì pathos cũng có 2 cực như thế. Đã có bất đồng ý kiến thời Cicéron và thời Augustin và hiện nay vẫn còn có dằng co giữa động và thụ động khi bàn về chữ pathos.
Trần Duy Thực
24-02-2006, 02:40 AM
Xin được đi sâu bằng cách tóm lược ý nghĩa của chữ «pathos» theo tự điển «vocabulaire européen des philosophies» của Le Robert.
____
Platon : pathos được biểu tượng bằng con ngựa và có ý chỉ một tâm hồn luôn ao ước, tức là một cái «động» của tâm hồn luôn ước muốn cái Đẹp. Nhưng thường là Platon dùng chữ pathos hoặc pathêma để chỉ những tình cảm có vẻ bệnh hoạn.
Aristote : pathos của Aristote cũng là cái «động», nhưng không có nghĩa xấu như pathos của Platon. Đó là một tình cảm đam mê, mãnh liệt, quằn quại, ghen ghét, ham muốn, tức giận … «pathétique», đang thúc dục ta hành động.
Phái khắc kỷ : Trường phái triết học này đặt pathos trên 2 lãnh vực :
a) xem pathos như là một cảm tình, tức là một nhận thức của tâm hồn
b) đặt pathos trong lối sống minh triết để tìm thấy hạnh phúc
Và như thế, pathos lại càng là một cái «động» của chủ thể đối với thế giới. Con người phải biết làm chủ những cảm tình, tức là cái pathos của chính mình mới mong tìm được hạnh phúc.
(Còn tiếp …)
Trần Duy Thực
25-02-2006, 09:26 PM
Xin kính mời quý cựu đệ tử của cố Đức Cha Nho dịch câu này sang tiếng Việt:
Cicero : Quae Graeci pathê vocant, nobis pertubationes appellari magis placet quam morbos. Nos autem hos eosdem motus conciati animi recte, ut opinior, pertubationes dixerimus
______
Và như thế, đối với Cicéron, cái pathos bệnh hoạn của người Hy Lạp thì dân Latinh thời Cicéron gọi là xáo trộn (pertubationes) hơn là morbus (bệnh hoạn). Bởi vì đối với Cicéron, việc phân tích tâm thần đã có từ thời Pythagore và thời Platon, và đối với những nhà hiền triết Hy Lạp thời đó, tâm thần có hai phần:
1) Một phần thì bình lặng
2) Phần kia thì xáo trộn, đầy những motus turbidi, của cuồng si và ham muốn
Cho nên, đối với Cicéron, pathos là sự xáo trộn của tâm hồn cuồng si và đầy ham muốn, nhưng không có nghĩa bệnh hoạn.
Du Khach
10-03-2006, 06:35 AM
Để cho đơn giản thì ta dịch như thế nào cho dễ hiểu vậy Cha?
Trần Duy Thực
10-03-2006, 02:32 PM
Cám ơn bạn Du Khách đã nhắc nhở,
Mấy bữa ni tui vừa bận việc, vừa làm biếng nên không vô diễn đàn này. Vả lại cứ tưởng là chẳng ai để ý nên mình cũng làm ngơ luôn. Bởi thế mới cám ơn bạn Du Khách đã nhắc khéo. Hy vọng là diễn đàn càng lúc càng sôi động hơn chăng ?
Tui nghĩ rằng bàn luận thẳng vào những đề tài thần học thì có thể là khó cho nhiều người. Lắm khi mình thường coi tiếng nói của quý cha là tiếng nói chính thức, giống như là một lời huấn dụ. Cũng có nghĩa, lời nói của quý ngài là lời nói của Giáo Hội, mà khi thảo luận mình lại thường đưa ra những giả định hoặc tiền giả định chưa có gì là chắc chắn cả. Mặt khác, người giáo dân như tui thì lại ngại là mình chẳng biết chi mà bàn.
Bởi thế cho nên, tui mới “phịa” ra cái mục từ vựng ni, để mình thảo luận đôi chút về thần học. Nhất là nó có vẻ như không “đụng chạm” tới một số tín lý, hoặc niềm tin này nọ. Chung chung là nó có vẻ như “trung lập” vậy mà ! Hơn nữa, Truyền Thống của đạo mình lại tới từ Tây Phương. Rồi dù muốn dù không thì mình cũng phải tôn trọng Truyền Thống. Nhưng văn hóa của mình lại là văn hóa Á Đông, lắm khi thấy những từ ngữ của phương Tây xa lạ làm sao ! Do đó, cái giải đáp cũng cần, nhưng cái bàn luận cũng cần luôn. Cũng giống như no bụng là cần, nhưng cái “khoái” khi ăn cơm cũng không phải là không cần !
Để trả lời cho ông bạn Du Khách thì tui xin nói như ri. Xin chờ một tý để tôi triển khai cho hết. Nhưng hiện tại thì tôi nghĩ nếu muốn ngắn gọn thì chỉ dịch chữ Pathos này thành một chữ duy nhất. Đó là chữ TÌNH. Rồi cũng tùy ngữ văn mà dịch. Ba hồi ta có thể dịch là “thương khó” hoặc “khổ tình”, bốn hồi ta lại dịch thành “đam mê” hoặc “mê tình”.
PS: Mà này ông bạn ơi, tui là Cha mấy xấp nhỏ. Vì lập gia đình trễ, nên con cái cũng còn nhỏ, nhưng bạn bè tui thì đã lên chức “ông” từ lâu rồi. Thân ái.
Trần Duy Thực
10-03-2006, 05:08 PM
Sẵn dịp, xin mời ông bạn Du Khách dịch giùm câu này của Cicero :
Quae Graeci pathê vocant, nobis pertubationes appellari magis placet quam morbos. Nos autem hos eosdem motus conciati animi recte, ut opinior, pertubationes dixerimus
Cám ơn
Sẵn dịp, xin mời ông bạn Du Khách dịch giùm câu này của Cicero :
Quae Graeci pathê vocant, nobis pertubationes appellari magis placet quam morbos. Nos autem hos eosdem motus conciati animi recte, ut opinior, pertubationes dixerimus
Những điều mà người Hylạp gọi là “pathès”, chúng ta nên gọi sát nghĩa là “những xáo trộn" hơn là "bệnh tật”. Chúng ta gọi những xúc cảm trong tâm hồn xáo động là những “dục vọng (dục tình)” , theo thiển ý tôi là đúng đắn .
Trần Duy Thực
11-03-2006, 04:55 AM
Cám ơn bác Katy đã phúc đáp nhanh lẹ, ngắn gọn. Nhờ thế mà tôi đã hiểu rõ hơn vấn đề. Đa tạ
____
Bây giờ thì xin nói gấp gấp cho hết cái chữ "pathos". Ciceron dịch thành pertubationes (xáo động tâm tư, động lòng, sôi động, sôi sục tâm can ...) nhưng Augustin lại không chịu. Trong cuốn "cité de Dieu" (nước Trời), Augustin nói rằng Cicero chỉ diễn đạt "pathos" theo ý của riêng mình, và ngài cho rằng thông thường ai cũng hiểu "pathos" có nghĩa là passio (thương khó) hay đúng hơn nữa là affectus (tình). Augustin thích dịch "pathos" thành affectus hơn, vì ngài cho rằng affectus ở thế "trung lập" cho nên affectus có thể có 2 nghĩa : nếu tâm hồn rung động trước những tình cảm tốt thì affectus có nghĩa tốt, nếu tâm hồn rung động vì những tình cảm xấu thì affectus có nghĩa xấu.
Cho nên, nói tóm lại, nếu tôi hiểu không sai thì "pathos" có một số nghĩa chính như sau :
1) Mê tình : khi dùng với nghĩa không được tốt lắm
2) Thương khó : khi dùng với nghĩa thật tốt, như cuộc thương khó của đức Giêsu (passion du Christ)
3) Tình : bởi vì tiếng Việt mình có tới 7 tình : hỷ nộ ái ố...
Rất mong ý kiến của tất cả. Đa tạ
Trần Duy Thực
11-03-2006, 05:01 AM
Kính thưa quý bạn,
Thế thì ta phải dịch affectus, affect thành là gì ?
Cám ơn
admin
11-03-2006, 09:10 AM
Bác Thực kính,
Trong bài trên đây Bác đề cập đến: cuốn "cité de Dieu" (nước Trời), Augustin.
Nhưng theo thường thì các bản dịch đã dịch là: Thành Đô Thiên Chúa", có lẽ nên dùng như thế tiện và đúng hơn.
Còn chữ Pathos, Bác phân tích khá rõ.
Nhưng khi tóm lại có lẽ còn chưa đủ:
Theo Bác, "pathos" có một số nghĩa chính như sau :
1) Mê tình : khi dùng với nghĩa không được tốt lắm
2) Thương khó : khi dùng với nghĩa thật tốt, như cuộc thương khó của đức Giêsu (passion du Christ)
3) Tình : bởi vì tiếng Việt mình có tới 7 tình : hỷ nộ ái ố...
Có lẽ nó còn có nghĩa là cái đam mê, cái thú, cái phải lòng, cái lậm tình, cái mê lú, cái cuồng si, si tình (chớ không phải mê tình), cái rung động tâm hồn, cái cảm mến, cảm tình, cái "cảm"... là cái tình trạng có trước cái tình... Và có lẽ nên dịch cái affectus là cái "cảm" chung chung này (linh cảm, cảm thấy, cảm nhận, cảm nghiệm, cảm tình, cảm mến, cảm thương cảm giác, cảm kích...)
Không biết có đúng không?
Gia Nhân
Trần Duy Thực
11-03-2006, 02:38 PM
Kính thưa quý ngài,
Bạn bè tôi đều biết rằng thường –thường thôi nhé- là tôi quá dễ tính khi dịch văn bản. Nhưng cũng xin trương gân trương cỗ cãi cho có bầu khí ...
1) Thứ nhất, dịch “cité” là “thành đô” thì không ổn rồi. Tui đồng ý là tui dịch “cité” là “nước” thì có lẽ là quá rút gọn. Nhưng dịch “cité” là “thành đô” lại càng rút gọn hơn nữa. Tại sao ? Dạ xin thưa rằng ai cũng biết Augustin chịu ảnh hưởng của triết học Platon. Mà Platon là gốc Hy Lạp thời cổ đại. Thời đó đân Hy Lạp gọi tiểu quốc của họ là “cité”, mà mình có thể tạm dịch là “nước” hay dịch đúng hơn là “thành quốc” chứ không thể nào là “thành đô”, nếu mình hiểu nghĩa thành là thành thị, đô như thủ đô. Xin nhắc lại là từ chữ “cité” này mà có chữ “citoyen”, mà ta có thể dịch là quốc dân.
2) Thứ hai, bây giờ xin quay lại chữ “pathos” để “gây chuyện” tiếp. Nếu ta chấp nhận cách giải thích đã đưa ra, thì tui chịu lối dịch chữ “passion” thành là “thương khó” quá chừng! Nhìn thấy có vẻ xưa xưa vậy đó, nhưng mà đúng chóc. “Passion du Christ” là vì tình thương vô bờ của Chúa nên Người mới khổ đau, khó nhọc nơi trần thế. Mặt khác, ta cũng biết rằng cuộc thương khó của đức Giêsu nằm trong chương trình cứu chuộc của Thiên Chúa đã có từ muôn đời và sau khi Adong phạm tội. Tất cả là vì Giao Ước giữa Chúa và con người từ thuở ban đầu muôn thuở ấy.
Bởi thế, cho nên khi dịch “passion du Christ” là “khổ nạn” thì tôi thấy sao sao ấy ! Tui không chịu chữ khổ nạn vì ít ra là hai lý do:
Một là, khổ là khó, nạn cũng là khó hoặc là nan giải. Nhưng trong tiếng Việt của mình, nạn có chút âm hưởng của tai nạn, tức là cái gì đó xảy ra mà mình không ngờ trước được. Mà cuộc thương khó của đức Giêsu lại nằm trong mầu nhiệm cứu chuộc từ muôn thuở.
Lý do thứ hai là trong chữ khổ nạn không lộ rõ chữ tình, chữ thương mà mình đã phân tích trong chữ “pathos”.
3) Nhưng để mở rộng cuộc bàn cãi, thì tôi xin hỏi tiếp : đâu là cái khác biệt giữa chữ “cảm” và chữ “tình” ?
Xin cám ơn và xin mời tất cả quý bạn góp ý kiến. Dù gì đi nữa thì "hát hay không bằng hay hát". Đạ tạ, gracias, thanks, merci beaucoup ...
Trần Duy Thực
12-03-2006, 03:52 PM
Quý ngài,
Xin tìm hiểu chữ Affect. Lật tự điển "dictionnaire de la langue philosophique" của Paul Fouquié thì thấy Fouquié cho rằng affect là một từ tuy có gốc đã xưa, nhưng lại mới được tạo ra theo mẫu của chữ concept.
Concept (khái niệm) là một chữ căn bản của triết học, tức là khi dùng lý trí suy luận thì ta cần dùng tới khái niệm. Nhưng trong lãnh vực tình cảm, từ căn bản tương đương với khái niệm là affect.
Jung, nhà tâm lý học chiều sâu (phân tâm học) cho rằng affect có nghĩa tương đương với émotion (xúc động). Đó là một trạng thái của tình cảm khi thân xác hoặc những biểu tượng trong tâm trí bị xáo trộn
"Par affect, il faut entendre un état de sentiment caractérisé et par une innervation perceptible du corps et par un trouble spécifique du cours des représentations. Le terme d'affect est pour moi synonyme de celui d'émotion" (C-G Jung, Types psychologiques, 423-424)
Và Ricoeur (http://www.dongcong.net/TinHangNgay/TinGiaoHoi/2005/June05/19f.htm), nhà triết học Tin Lành cho rằng khi ta đói bụng thì ta tâm thần sẽ cảm thấy những thiếu thốn và xung động. Đó là những affect "động". Trong khi đó khoái cảm và đau khổ lại là những affect có tính thụ động.
"Dans l'appétit, manque et impulsion sont vécus dans l'unité d'un affect actif, par opposé au plaisir et à la douleur qui sont au contraire des affects sensibles" (P. Ricoeur, Psychologie de la volonté, I, 86)
Tôi lật thêm một vài tự điển khác, nhưng cũng không thấy rõ hơn định nghĩa của Foulquié. Như thế, theo định nghĩa trên, tôi tạm -tạm thôi- hiểu affect như là một cái gì đó căn bản của đời sống tâm lý. Rất có thể đó là chữ "cảm" mà ngài Gia Nhân đã nói...
Trong khi đó, phạm vi của chữ Tình lại rộng lớn nhiều : tâm lý, triết học, thần học ... Nhưng lại có một vấn đề căn bản khác khi chuyển ngữ :
1) Cần hiểu rõ thật đúng từ ngữ gốc tây phương
2) Cần hiểu rõ thật đúng từ ngữ gốc Việt
3) Bắt cầu nối giữa tây phương và Việt Nam. (tôi xin nhấn mạnh tới chữ Việt Nam, nếu chỉ dùng tự điển triết học Đài Loan thì chưa chắc đã là đúng với tiếng Việt mình, mặc dù mình vẫn thường dùng hán việt)
Cám ơn
Trần Duy Thực
12-03-2006, 04:12 PM
Hồi xửa hồi xưa, mấy ông thần học cho rằng triết học là đầy tớ (ancilla) của thần học. Nói cách khác, triết học chỉ là phương tiện giúp thần học triển khai tư tưởng của mình... Nhưng bây giờ ? Xin nghe lời của ĐGH GPII trong lá thơ (bác Katy và ngài Gia Nhân ơi, lettre của ĐGH phải dịch làm sao cho thật đúng ?) mà Người đã gởi cho một số nhà triết học công giáo tạp Pháp nhân dịp kỷ niệm 100 năm triết gia Blondel :
" L'Eglise, aujourd'hui comme toujours, a besoin des philosophes qui ne craignent pas d'aborder les questions décisives de la vie humaine, de la vie morale et de la vie spirituelle, pour préparer l'adhésion et le témoignage de la foi (...). Et l'Eglise a besoin de théologiens qui, s'appuyant sur une solide démarche pholosophique, soient capables d'exprimer le donné révélé, pour éclairer les fidèles comme les non-croyants" (Vatican, 19/2/1993)
Giáo hội cần triết gia để bàn luận về những vấn đề thuộc về con người. Giáo Hội cũng cần những nhà thần học, giỏi về triết, để có thể tìm hiểu những gì mặc khải đã trao, để có thể giải thích cho tín hữu và cho những ai không có niềm tin
Trần Duy Thực
12-03-2006, 04:20 PM
Thế thì xin hỏi tiếp : Chữ CẢM của tiếng Việt mình nghĩa là gì ? Nếu được thì xin nêu thêm bằng chứng, trích dẫn. Đa tạ
Hiện tại thì tôi chỉ nhớ một câu có chữ cảm :
Trước bến Vân Lâu
Ai ngồi, ai câu
Ai sầu, ai thảm
Ai thương, ai cảm
Ai nhớ, ai mong ...
Trần Duy Thực
12-03-2006, 06:44 PM
Và đây là định nghĩa của chữ « cảm » theo tự điển Thiều Chửu on line : http://perso.wanadoo.fr/dang.tk/langues/hanviet.htm
感 cảm
1 : Cảm hóa, lấy lời nói sự làm của mình làm cảm động được người gọi là cảm hóa 感化 hay cảm cách 感格.
2 : Cảm kích, cảm động đến tính tình ở trong gọi là cảm. Như cảm khái 感慨, cảm kích 感激, v.v.
3 : Cảm xúc, xông pha nắng gió mà ốm gọi là cảm mạo 感冒.
____
Lò mò lật Khang Hy tự điển thì thấy ghi như vầy :
天地感, 而萬物化生 : thiên địa cảm, nhi vạn vật hóa sanh (nhờ trời đất cảm, mà vạn vật có sanh có hóa)
聖人感, 人心而天下和平 : thánh nhân cảm, nhân tâm nhi thiên hạ hòa bình (nhờ thánh nhân cảm, mà tâm hồn con người được hòa bình với thiên hạ)
Như thế,
Nếu tôi dịch và hiểu không sai thì « cảm » là cái gì đó giao nhau. Trời đất giao nhau mà sinh ra vạn vật. Lòng của thánh nhân giao với lòng của con người mà thiên hạ được hòa bình. Tức là có hai chiều : trên dưới khi bàn về trời đất, trong ngoài khi nói về con người.
Thì đó cũng là định nghĩa thứ nhất và thứ hai của Thiều Chửu. Nhưng Thiều Chửu không ghi rõ hướng đi lên xuống và trong ngoài của chữ « cảm ». Tiếng Việt mình có chữ ghi rõ hướng đi này, đó là chữ « cảm thông ».
PS : computer của quý ngài có hiện rõ chữ Hán không ?
Trần Duy Thực
12-03-2006, 06:57 PM
Ta cũng có thể ngắt câu khác đi : 聖人感人心, 而天下和平 : thánh nhân cảm nhân tâm, nhi thiên hạ hòa bình (nhờ thánh nhân cảm hóa tấm lòng của con người, mà thiên hạ được hòa bình). Tuy ý hơi khác một tý, nhưng cái "giao nhau" đó vẫn không thay đổi.
Kính
Trần Duy Thực
13-03-2006, 02:48 PM
Lật Từ Nguyên thì thấy chú như ri :
Thư Đại Vũ Mô : 至誠感神, 矧茲有苗 : chí thành cảm thần, thẩn từ hữu miêu (câu này trích từ chương đại Vũ Mô trong Thượng Thư, hơi khó dịch, để tui coi lại cái đã)
Lễ Nhạc Ký : 樂也者, 聖人之所樂也, 而可以善人心, 其 感 人 深 : nhạc dã giả, thánh nhân chi sở nhạc dã, nhi khả dĩ thiện nhân tâm, kỳ cảm nhân thâm (Nói về nhạc, thánh nhân khi đã thông suốt được nhạc thì có thể làm cho tâm hồn con người đạt tới điều thiện, và cũng có thể cảm được chiều sâu của con người)
Chút nữa có giờ rảnh tui sẽ bàn rộng ra...
admin
13-03-2006, 03:08 PM
Như Bác Thực đã cho biết, thì Pathos là cái gì đã bắt đầu động đậy, cục cựa, nó không còn là tĩnh.
Nhà cháu xin thêm mắm muối một chút:
Pathos đã bị hấp dẫn/lôi cuốn bởi một cái gì đó (đối tượng) rồi. Nó đã có phương có hướng, có di chuyển, có movement rồi, còn tình là cái pathos đã di chuyển chạm tới đối tượng. Và yêu là pathos đã chạm đến đối tượng và dội ngược lại chính chủ thể. Nó mang theo cái gì đó của đối tượng dán chặt vào trong chủ thể để rồi làm chủ thể tổn thương tìm cách bù lấp...
hà hà, không biết nói vậy có vớ vẫn không đây Bác Thực ơi?
Gia Nhân
Trần Duy Thực
13-03-2006, 06:56 PM
Thưa ngài Gia Nhân,
Tại vì ông Du Khách hối, nên tui đã quá ngắn gọn ! hè ! hè ! Nhưng như đã nói pathos vừa động vừa tĩnh. Cicero gọi đó là xáo trộn tâm thần (pertubationes) tức là động. Còn Augustin lại cho rằng pathos là affect, cảm thụ, tức là tĩnh.
____
Và có lẽ rồi tui sẽ đồng ý với ngài. Nên dịch chữ pathos theo nghĩa affect của Augustin là cảm thì đúng hơn. Nhưng chữ cảm của mình hiền hòa quá ! Pathos phải là cái gì cuồng nhiệt cơ !
____
Nhưng thôi để đó, thời gian là vị thầy rất tốt. Bây giờ hỏi tiếp, phải dịch chữ théologal sang tiếng Việt mần răng ? Từ vựng triết thần "on line" dịch thành đối thần, hướng thần, thần tính.
Dịch như thế cũng được, nhưng lại chưa dịch chữ logos. Trong chữ théologal có 3 chữ :
1) Theos : thần, chúa
2) Logos : lời lẽ
3) vĩ ngữ AL : thuộc về siêu việt tính
Rất mong ý kiến tất cả.
Trần Duy Thực
14-03-2006, 05:26 PM
Chỗ tôi đang làm việc không có tự điển thần học, nên tra đỡ cuốn Larousse 2005 vậy. Théologal : qui a dieu pour objet. Ex : vertus théologales : la foi, l'espérance et la charité (théologal : có Thiên Chúa là đối tượng. Thí dụ : nhân đức théologal : đức tin, đức cậy, đức mến)
Nhưng tôi thiển nghĩ rằng Larousse, dù là 2005, đã căn cứ trên những quan niệm cũ về chữ "théologal". Có lẽ rằng gần đây, và nhất là qua ngòi bút của những nhà thần học chịu ảnh hưởng triết học Kant và Heidegger, thì nghĩa của théologal có âm hưởng của siêu việt tính vì vĩ ngữ AL (như transcendantal). Tôi sẽ kiểm chứng lại cho rõ ràng, minh bạch.
Nhưng tạm thời thì tôi dịch théologal là THẦN LÝ TÍNH. Bởi vì :
Theos : thần
Logos : Lý, ít ra là phải hiểu theo nghĩa của Trung Dung : "vạn vật chi định lý", chứ không phải chỉ là lý lẽ.
AL : dịch là tính hay là tánh. Bởi vì tánh ở đây không phải là tánh tình mà là Thiên Tánh, Phật tánh. Theo thiển ý của tôi, nếu dịch tánh ngược lại sang tiếng Pháp thì có lẽ phải dùng chữ être (hữu thể) hoặc là bản thể (essence).
Xin cám ơn
Trần Duy Thực
14-03-2006, 06:08 PM
理 : Lý
Tôi thắc mắc về chữ Logos (lời lẽ) đã lâu. Sẵn dịp xin lật chữ Lý trong Từ Nguyên :
1)治玉對玉進行加工 : 韓非子和氏 : 楚人和氏得玉璞楚山中 (...) 王乃使玉人理其璞而得寶焉 :
Trị ngọc, đối ngọc tiến hành gia công : Hàn Phi Tử, Hòa Thị : Sở nhân Hòa Thị đắc ngọc phác Sở sơn trung (...) Vương nãi sử ngọc nhân kỳ phác nhi đắc bảo yên.
Mài ngọc, đem ngọc mà tiến hành ra công : Hàn Phi Tử, chương Hòa Thị : Hòa Thị người nước Sở tìm thấy được ngọc nằm trong núi nước Sở (...) Vua bèn sai thợ chuyên mài ngọc đẽo tạc nó thành món trân bảo vậy.
2) 治理, 申辯, 詩大雅江漢 : 于理于理, 至于南海
Trị lý, thân biện, Thi Đại Nhã Giang Hán : Vu lý, vu lý, chí ư Nam Hải
(dịch không nổi ) Trong kinh Thi, chương Đại Nhã, bài Giang Hán có ghi : Lý hả, Lý hả, đến tận biển nam.
(tới lúc phải đi ... không hiểu có thời giờ viết tiếp hay không, biết rằng Từ Nguyên có nêu ra 12 định nghĩa của chữ Lý nhưng tôi mới nêu chỉ có 2)
Trần Duy Thực
15-03-2006, 12:09 AM
3) Trị liệu
4) Ôn tập
5) 文理, 倏理. 荀子, 正名 : « 形體色理以目異. 禮, 肉則 : 清取牛肉 必新殺者. 薄切之必絕其理 ».絕 其理謂橫斷其文理筋絡
Văn lý, điều lý. Tuân Tử, chính danh : « Hình thể sắc lý dĩ mục dị. Lễ, nhục tắc : Thanh thủ ngưu nhục tất tân sát giả. Bạc thiết chi, tất tuyệt kỳ lý ». Tuyệt kỳ lý vị hoành đoạn kỳ văn lý cân lạc
Văn lý, điều lý. Sách Tuân Tử, chương chính danh : « Lý của hình, của thể và của sắc có thể bị nhìn sai đi. Sách Lễ ký, chương nhục tắc : ông ta nắm gọn miếng thịt bò tươi mới mổ, dùng dao thái mỏng tức là tuyệt kỳ lý ». Tuyệt kỳ lý là cắt xẻ chỗ giao tiếp của từng thớ thịt, cân mạch.
Trần Duy Thực
15-03-2006, 12:21 AM
Như thế, định nghĩa thứ 5 của chữ Lý có nghĩa là cái gì nằm ở giữa làm tiếp nối cho sự vật. Nói cách khác, nếu không có lý thì sự vật sẽ không được như là nó có, bởi vì lý là cái móc nối, then chốt.
Thí dụ : đường gân giữa 2 thớ thịt. Cái đốt của một cây tre, như ở thí dụ dưới đây. Tôi trích thí dụ này từ « Đại chân viên giác thanh », một tác phẩm rất có giá trị của Ngô Thì Nhậm, một trí giả của dân Việt.
徒弟白師言 :儒家說理何謂理 ?師登言 :理如木節理之理.又白 :說欲何謂欲 ?師答言 :欲如水走下,火炎上之欲.曰 :然循理時如何 ?曰 :理不可盡循.
Đồ đệ bạch sư ngôn : Nho gia thuyết Lý hà vị Lý ? Sư đăng ngôn : Lý như mộc tiết chi lý . Hựu bạch : Thuyết dục hà vị dục ? Sư đáp ngôn : Dục như thủy tẩu hạ, hỏa viêm thượng chi dục. Viết : Nhiên tuần Lý thời như hà ? Viết : Lý bất khả tận tuần.
Đồ đệ bạch Thầy rằng : Nho gia nói Lý, vậy Lý là gì ? Thầy đáp : Lý là như cái lý (chỗ tiếp nhau) của đốt cây. Đồ đệ lại bạch : Nói dục, vậy dục là gì ? Thầy đáp : Dục là như nước muốn chảy xuống, lửa muốn bốc lên. Đệ tử nói : Nhưng muốn noi theo Lý thì phải như thế nào ? Thầy đáp : Cái Lý thì ta không thể noi theo tới tận cùng được.
Trần Duy Thực
15-03-2006, 12:44 AM
6) 道理,法則. 易, 繫辭上 : 易簡而天下之理得矣. 禮 : 禮也者, 理者. 疏 : 理謂道理, 言禮者, 使萬物合於道理者.
Đạo lý, pháp tắc. Dịch, hệ từ thượng : Dịch giản nhi thiên hạ chi lý đắc hĩ. Lễ : Lễ dã giả, lý giả. Sớ : Lý vị đạo lý, ngôn lễ giả, sử vạn vật hợp ư đạo lý giả.
Đạo lý, phép tắc. Kinh Dịch, Hệ từ thượng : Dịch đơn thuần mà cái lý của thiên hạ có thể đặng vậy. Sách Lễ Ký : Lễ chính là Lý vậy. Sớ : Lý là đạo lý, lời nói hợp lễ sẽ làm cho vạn vật hợp với đạo lý vậy.
____
Như thế, định nghĩa thứ 6 của chữ Lý có ý nghĩa luân lý, phép tắc phải noi theo : trước tiên là phải noi theo cái Lý của trời đất, đó là cái lẽ của Dịch. Sau đó là phải giữ lễ. Một khi lễ đã giữ thì vạn vật sẽ đâu vào đấy, tức là đi trên con đường chính đạo, hợp với cái lý của đạo.
Trần Duy Thực
15-03-2006, 12:48 AM
Những định nghĩa sau của chữ Lý rất xa với chữ Lý ta đang bàn : 7) danh phận 8) thuận 9) Pháp quan 10) Sứ giả 11) Tên một vì sao.
PS: chỉ có 11 định nghĩa của chữ Lý trong Từ Nguyên mà thôi, chứ không phải 12 như đã nói ở trên.
Trần Duy Thực
15-03-2006, 12:54 AM
Và xin ghi lại đây phần chú thích về chữ LOGOS, như đã ghi trong topic "thần học thân xác". Kính
_____
Có hai bối cảnh về logos. Bối cảnh Kitô giáo với Tin Mừng theo Thánh Gioan “Au commencement, était le Logos...” và bối cảnh minh triết Hy Lạp. “Kể từ Héraclite, ý niệm Logos là một khái niệm nằm ở trung tâm của nền minh triết Hy Lạp, bởi vì Logos vừa có nghĩa là Lời, ngôn từ và Lý Lẽ (...) Khi gọi Ðức Kitô là Ngôi Lời và Ngôi Con, Tin Mừng theo thánh Gioan đã cho phép nhìn Kitô giáo như là một nền minh triết. Lời của Chúa đã được xem như là Lý Lẽ sáng tạo nên vũ trụ và hướng dẫn trí khôn con người” (Pierre Hadot, Qu’est-ce que la philosophie antique?, Folio Essais, Gallimard 1995, tr. 356). Ít ra là trong những thế kỷ đầu của công nguyên, hai bối cảnh Kitô giáo và minh triết Hy Lạp đã đan xen với nhau. Cho nên, trong bối cảnh bài này, có lẽ nên hiểu théologie (thần học) như là tìm về Thiên Chúa qua trung gian của Lời và Lý Lẽ.
Trần Duy Thực
15-03-2006, 02:48 AM
Kính thưa quý ngài,
Khi dịch chữ Logos thành là Lý, tôi hy vọng là kiếm ra được một chỗ tương đồng giữa đông và tây để "bắc cầu" cho dễ. Cái mà tôi nghĩ là "lẽ" như lý lẽ. Trong nghĩa gốc Hy Lạp, Logos có hàm chứa ý nghĩa "lý lẽ" đó (Logos raison).
Nhưng cái mà tôi không ngờ tới chính là cái "đốt cây", tức là cái trung gian, vừa là khúc cây trên, vừa là khúc cây dưới. Kitô học ngày nay vẫn nói rằng "Đức Giêsu là đấng trung gian duy nhất", vừa là Chúa, vừa là Người.
Lẽ dĩ nhiên, ta không thể nào quên Lời, ngôi hai nhập thể. Nhưng có lẽ ta cũng có thể triển khai thêm khía cạnh Lý của Lời, cũng như Logos vừa là Lời vừa là Lý ?
Thật không ngờ. Tình cờ thấy được một điều lạ kỳ ! Hay là tôi đã đi quá mau ? Đồng ý rằng khó mà cho rằng tây và đông y hệt như nhau. Nhưng mà, cái lý-đốt-cây này thực là lạ kỳ ! Mà lạ kỳ hơn nữa, là cái lý-đốt-cây đó đã được ghi rõ ràng bằng giấy trắng mực đen, dưới ngòi bút của Ngô Thì Nhậm, một người Việt Nam chính hiệu con nai vàng.
Rất mong ý kiến của quý ngài. Kính
Trần Duy Thực
15-03-2006, 02:59 AM
Thử kiểm lại bằng tự điển Thiều Chửu thì thấy giống như thế. Nghĩa lý-đốt-cây là nghĩa thứ 5 của Thiều Chửu : Thớ. Như thấu lý, mang thớ da dẻ.
_______
理 lý
1 : Sửa ngọc, làm ngọc.
2 : Sửa sang, trị. Như lý sự 理事 làm việc, chỉnh lý 整理 sắp đặt, tu lý 修理 sửa sang, v.v.
3 : Ðiều lý 條理, phàm cái gì có trước có sau có gốc có ngọn không loạn thứ tự đều gọi là điều lý. Ðiều 條 là nói cái lớn, lý 理 là nói cái nhỏ. Như sự lý 事理, văn lý 文理 đều một nghĩa ấy cả.
4 : Ðạo lý 道理, nói về sự nên làm gọi là đạo 道, nói về cái lẽ sao mà phải làm gọi là lý 理. Lý tức là cái đạo tự nhiên vậy.
5 : Thớ. Như thấu lý 腠理 mang thớ da dẻ. Xem chữ thấu 腠.
6 : Ðời xưa gọi quan án là lý, cho nên tòa án thượng thẩm bây giờ gọi là đại lý viện 大理院.
7 : Ôn tập, đem cái nghe biết trước mà dung nạp với cái mới hiểu cho chỉnh tề gọi là lý.
8 : Cùng ứng đáp không trả lời lại, tục gọi là bất lý 不理, nghe tiếng lọt vào lòng thông hiểu được gọi là lý hội 理會.
9 : Lý học, nghiên cứu về môn học thân tâm tinh mệnh gọi là lý học 理學 hay đạo học 道學. Môn triết học 哲學 bây giờ cũng gọi là lý học 理學.
10 : Lý khoa 理科 một khoa học nghiên cứu về tính vật như vật lý học 物理學, hóa học 化學, v.v.
11 : Lý chướng 理障 chữ nhà Phật, không rõ lẽ đúng thực, bị ý thức nó chướng ngại.
Trần Duy Thực
15-03-2006, 04:02 AM
Xin kiểm lại một lần nữa về chữ lý-đốt-cây với chữ Thấu trong Thiều Chửu :
腠 thấu : Thớ da, chỗ da ngoài da trong giáp nhau gọi là thấu lý 腠理.
Như thế là đúng rồi, Lý là chỗ giao tiếp nhau, chỗ trung gian.
___
PS: Lẽ dĩ nhiên, đây chỉ là tìm một chữ tương đương để chuyển nghĩa vậy thôi. Vai trò của Đức Giêsu trong cuộc cứu thế là mầu nhiệm tâm điểm của niềm tin Kitô giáo. Đâu thể nào chỉ vì một chữ Lý nhỏ nhoi mà quên tất cả những điều kỳ diệu khác.
Lương Sơn
15-03-2006, 05:51 AM
Ò LOGOS
Kính Ông Thực
Nếu chỉ nêu vấn đề “dịch chữ Logos thế nào cho đúng” thì tôi e rằng vấn đề quá rộng, sợ chẳng thể nào bàn cho thấu đáo.
Ông lại đi từ một vài định nghĩa trong các từ điển triết bên Tây , rồi sử dụng những phạm trù bên Đông , như từ “lý” trong các từ điển Trung hoa, để mong diễn dịch LOGOS một từ mà thánh Gioan, người gốc xứ Canaan, Do thái, đã suy tư và mượn danh từ logos của ngôn ngữ Hy Lạp thông dụng Koinè, hầu diễn tả một thực thể rất đặc thù là “Đức Kytô, Ngôi Hai Thiên Chúa Nhập thể” , thì quả là một công việc khó , nếu không muốn nói rất không tương xứng.
Bởi lẽ trong phạm trù logos mà thánh Gioan dùng trong phần Mở đầu của Tin Mừng thứ Tư, hẳn Ngài đã hàm ngụ phạm trù “DABAR - YHWH = Lời YahWeh Thiên Chúa Phán” trong Kinh Thánh Cựu Ước.
“Đức Kytô là điều mà Thiên Chúa muốn nói”, muốn bày tỏ cho nhân loại, thì làm sao có thể dùng một từ Việt Nam nào cho ổn, cho gọn cho tương xứng ?
Không chỉ ngôn ngữ Việt Nam gặp khó khăn khi dịch từ Logos. Tiếng Anh, tiếng Pháp cũng đã gặp những khó khăn tương tự.
Độc giả Kinh thánh tiếng Anh hay tiếng Pháp vẫn cần phải được cắt nghĩa khi họ đọc thấy cách dịch “In the beginning was the Word, and the Word was with God, and the Word was God.” hay “Au commencement était le Verbe et le Verbe était avec Dieu et le Verbe était Dieu” ?
Trần Duy Thực
15-03-2006, 02:42 PM
Kính thưa ngài Lương Sơn,
Cám ơn ngài. Cám ơn ngài đã góp ý và cùng nhau thảo luận. Chẳng có gì vui hơn là được bàn luận những vấn đề mà mình ưa thích. Vâng, những điều ngài vừa nêu, tôi hoàn toàn đồng ý. Logos là một khái niệm căn bản của triết lý Hy Lạp, và cũng là Ngôi Lời của Kitô giáo thì ta không thể nào dịch cho đúng sang tiếng Việt được.
Ý chung chung của tôi là như vầy : dịch là diễn đạt, là herméneutique. Tôi có viết một vài hàng gởi bạn bè về đề tài này đã lâu. Nay xin gởi lại đây, ý chỉ muốn nói rằng tôi hoàn toàn đồng ý với ngài Lương Sơn về cái khó khăn khi phải dịch, nhất là một khái niệm căn bản như Logos.
Rất mong ý kiến của ngài và được dịp đọc thường xuyên nhưng bàn luận rất thú vị và sâu sắc của ngài. Kính
_____
Cầu cao ván yếu gió rung
Em qua không đặng cậy cùng có anh
Traduire est un art herméneutique. Dịch là diễn đạt. Diễn là từ bờ suối bên ni, đạt là tới bến bên nớ. Dịch là cầu Ô Thước của chàng Ngưu Chức Nữ, chứ không phải cầu treo lắc lẻo gập ghềnh khó đi.
Trong herméneutique có thần Hermès, vị thần sứ giả làm cầu bắt nhịp giữa cõi thần linh và hạ giới phàm trần. Nếu chỉ là diễn thôi, tức là chỉ trung thành với bản gốc thì sẽ không đạt, không tới được bến bên kia cạnh nhà ai. Ngược lại nếu chỉ đạt mà không diễn thì đó chẳng còn là tiếng nói của thần Hermès mà chỉ là tiếng kêu van từ « hac lacrimarum vallae »
Trước bến Văn Lâu
Ai ngồi ai câu, ai sầu ai thảm
Ai thương ai cảm, ai nhớ ai mong...
Ai chẳng phải chỉ là tiếng bi thương của ý thức bi tráng. Cũng chẳng phải anh chàng thất tình nát rượu ngồi bên bờ sông ôm cột. Cũng chẳng phải anh, chẳng phải tôi. Ai bàng bạc như mây trời vô định. Thì thử hỏi tại mần răng ta cứ muốn trói mây ngàn ? Này nhé :
« Tội con đã được tha ». Ai tha tội cho con ? Con mắt phàm của người phương Ðông chẳng thấy rõ ràng là ai cả.. Thiên Chúa ư ? Có thể lắm, nhưng Thiên Chúa là ai ? Ai biết ? Hay chỉ là con đã « đáo bỉ ngạn » ? Ai hay ? Nhưng chỉ riêng con, con đã thức tỉnh và biết rằng tội không còn ở trong cái tâm vô cùng nhỏ bé này nữa.
Tiếng nói của đông phương là tiếng của lòng. Mà lòng này nếu nhìn gần thì đúng là lòng của tôi. Nếu nhìn xa hơn tí nữa thì đó cũng là lòng của anh và của tôi, tức là của ta. Và nếu còn mở tâm mà nhìn xa hơn nữa thì đó chính là lòng của Chúa. Thì tại sao ta lại muốn cột mây lại trên đỉnh núi ?
Le langage symbolique semble inadéquat pour s’engager dans la voie du concept pour un motif qui est particulier à la culture occidentale. Dans cette culture, le langage religieux a toujours été conditionné par un autre langage : le langage philosophique qui est le langage conceptuel par excellence. (Paul RICOEUR, Ermeneutica biblica, Brescia 1978, Morcelliana pp. 140-141 ; titre original : Biblical Hermeneutics, Montana 1975).
Ngôn ngữ của đạo công giáo tự nguồn gốc là ngôn ngữ biểu tượng. Ðỉnh cao của Mặc Khải, Ngôi Lời làm người, đã dùng ngôn ngữ biểu tượng. Hy Lạp rồi La Mã, rồi Tây, rồi Mỹ đã ghép vào đấy ngôn ngữ của khái niệm thì đó là vấn đề của họ. Thì tại sao ta lại ghép mình trên cái đã ghép, mà không trở về chính ta ? Ðó là một câu hỏi khó trả lời. Vì nếu phải trả lời cho rốt ráo thì phải đánh đổ biết bao nhiêu thành kiến và thói quen. Nhưng, nhưng chẳng lẽ ta cứ hài lòng với cái cầu tre lắc lẻo...
_____
PS: tôi xin phép nói thêm. Đồng ý là phải hội nhập văn hóa, nhưng cũng phải tôn trọng Tradition, truyền thống Giáo Hội. Cái khó là đây !
Trần Duy Thực
15-03-2006, 05:44 PM
Kính thưa quý ngài,
Bây giờ thì xin tìm hiểu chữ Ipséité mà “từ vựng thần học” dịch thành sở ngã tính. Tôi thường trích “từ vựng thần học” http://www.htth.org/tuvung/phapviet/I.html, vì vẫn lấy trang web này làm chuẩn, mặc dù đôi khi cũng không hoàn toàn đồng ý với họ.
Rất mong ý kiến của tất cả. Đa tạ
Trần Duy Thực
16-03-2006, 12:35 AM
Kính thưa tất cả,
Tôi sẽ suy nghĩ thêm. Nhưng hiện tại thì tôi chưa hiểu rõ tại sao lại dùng chữ "sở ngã" để dịch chữ "Ipse" ?
Nếu tôi hiểu không sai thì đây là một từ ngữ để chỉ về tuyệt đối, về Thiên Chúa, tức là đấng tự mình mà có, không phải được tạo thành. Tiếng Pháp dịch chữ "ipse" thành là "soi-même", tức là chính mình, tự mình. Tôi có thể hiểu rằng "sở ngã" là có chính mình, nhưng nếu mình chỉ chuyển "tự mình" thành "tự hữu" thì có được hơn không ?
Tối nay khi về nhà, không hiểu tôi có thời giờ để tìm hiểu sâu hơn để xem thử sách vở nói những gì về chữ ipséité này. Nhưng theo hiểu biết thô lậu của tôi thì "ipséité" là một đặc tính của dasein. Dasein là một khái niệm căn bản của triết học existentialiste của Heidegger mà tôi tạm dịch thành "hiện tánh".
Cho nên, nếu không phải là dịch thì ít ra tôi xin tạm hiểu ipséité là TỰ HỮU TÁNH.
Rất mong ý kiến của quý ngài. Kính
Trần Duy Thực
16-03-2006, 02:17 AM
Lại thử xem biết triết học nói gì về ipséité. Trích JP Sartre "L'être et le néant" :
"...loin de l'Ego soit le pôle personnalisant d'une conscience qui, sans lui, demeurerait au stade impersonnel, c'est au contraire la conscience dans son ipséité fondamentale qui permet l'apparition de l'Ego, dans certaines conditions, comme le phénomène transcendant de cette ipséité".
1) Cái Ngã làm cho ý thức có nhân vị. Nếu không có cái Ngã, ý thức sẽ trở thành phi nhân vị.
2) Nhưng chính ý thức ở trong ipséité của mình đã cho phép cái Ngã xuất hiện như một hiện tượng siêu việt của ipséité đó.
Câu 1) tương đối dễ hiểu. Câu 2) thì chịu thua. Mong quý ngài giải thích giùm cho. Cám ơn
Trần Duy Thực
26-03-2006, 05:14 AM
Thử tìm hiểu về 2 chữ lịch đại (diachronie) và đồng đại (synchronie)
Tôi sẽ "ngâm cứu" thêm. Hiện tại thì tui hiểu như ri :
1) Lịch đại là theo thứ tự niên đại trước sau. Lấy thí dụ như khi tìm hiểu một đoạn về Cựu Ước, ta sẽ tìm hiểu bối cảnh lịch sử của đoạn đó, thời buổi mà nó phát xuất... Rồi khi so sánh đoạn đang tìm hiểu với những đoạn khác, ta phân biệt rõ ràng câu nào được nói trước, câu nào được nói sau, theo một thứ tự thời gian rõ rệt.
Phái phê bình lịch sử (historico-critique) thường dùng phương pháp lịch đại này.
2) Đồng đại là đồng thời, không theo thứ tự trước sau. Ta có thể lấy ý của một đoạn trong Cựu Ước để so sánh với một đoạn trong Tân Ước mà không quá chú tâm về niên đại của những đoạn đó.
Phái thông diễn (herméneutique) thường dùng phương pháp đồng đại này.
_____
Hiểu sao viết ra như vậy. Rất có thể là trật lất ! Mong quý ngài bổ túc và sửa sai giùm. Đa tạ .
Trần Duy Thực
11-05-2006, 02:47 PM
Kính thưa quý bạn
Cho tôi xin hỏi một câu. Phải dịch chữ nature thế nào sang tiếng Việt cho đầy đủ ý nghĩa thần học ? Nếu ta hiểu nature trong bối cảnh nền thần học ân sủng, tức là những gì Thiên Chúa đã tạo dựng nhưng không/chưa được nhận ân sủng ?
Nature = tự nhiên thì không đúng rồi. Bởi vì đã có bàn tay Thiên Chúa ?
Nature = thiên nhiên thì có lẽ gần hơn, nhưng chưa phân biệt được naturam và supra naturam ?
Xin cám ơn tất cả.
admin
05-10-2006, 12:04 PM
Bác Thực kính,
Tình cờ đọc thấy câu này nên ghi lại đây, chữ Pathos ở đây được dịch là cảm kích:
Trào phúng đôi khi phải xây dựng lại những gì mà
phép cảm kích* đã hủy hoại.
------------------
(* le pathos).
Trích từ : tienve.org (http://www.tienve.org/home/literature/viewLiterature.do;jsessionid=D023FCF6C81601979DC7226F26D78C29?action=viewArtwork&artworkId=3326)
và: ở đây (http://www.ctu.edu.vn/coursewares/supham/llanhoc2/ch2.htm)dịch pathos là cảm hứng:
<TABLE width="100%" border=0><TBODY><TR><TD width="50%">3. Cảm hứng tư tưởng của tác phẩm.<?XML:NAMESPACE PREFIX = O /><O:P> </O:P></TD><TD width="50%">
</TD></TR></TBODY></TABLE>
3.3.1.Khái niệm. Ngay từ thời cổ Hy Lạp và sau này Hégel và Biêlinxki đều đã dùng từ cảm hứng (tiếng Hy Lạp cổ: Pathos) để chỉ trạng thái xuất thần, hưng phấn, một tình cảm nồng nàn, sâu sắc khi nhà văn sáng tạo tác phẩm. Phùng Quí Nhâm gọi là thái độ tư tưởng-tình cảm đối với những điều được miêu tả.<O:P> </O:P>
<O:P></O:P>
Cảm hứng của nhà văn và cảm hứng tư tưởng của tác phẩm quan hệ mật thiết với nhau nhưng không phải là một. Cảm hứng tư tưởng là tình cảm mãnh liệt, một ham muốn tích cực, là tư tưởng của nhà văn được thể hiện cụ thể, sinh động trong hình tượng nghệ thuật của tác phẩm. Bến không chồng của Dương Hướng thể hiện tâm trạng khắc khoải, một ước mơ về hạnh phúc đích thực của cuộc đời thường, là sự cảm thông sâu sắc với những con người đã chịu nhiều mất mát. Tràng giang của Huy Cận là một nỗi buồn mênh mông, vô tận trước cảnh trời rộng, sông dài, là sự nhỏ bé, cô đơn của con người trước cái vô cùng của thiên nhiên, vũ trụ...<O:P>
</O:P>
admin
05-10-2006, 12:24 PM
Bác Thực kính,
Lại thêm một ý nghĩa nữa của pathos, trích từ Học làm người (http://hanoicorner.com/phpBB2/viewtopic.php?t=2182&highlight=&sid=88eda3d0b8ee097ff037a6468076c59d):
"Covey đưa ra trình tự theo 3 từ tiếng Hy lạp là ethos => pathos => logos
Ethos là lòng tin của người khác vào bạn, vào đạo đức và năng lực của bạn. Pathos là cảm giác của người khác rằng họ có được sự đồng cảm với bạn, rằng kênh giao tiếp thông tin và cảm xúc giữa bạn và họ đã thông luồng. Logos là logic của bạn, là ý tưởng, ý đồ sáng tạo của bạn.
Ba bước này phải đi theo đúng trật tự như trên. Khi bạn làm thuyết trình, cần phải làm theo đúng trình tự này. Có người đi thẳng vào logos, vì họ nghĩ ý tưởng của họ cực thông minh, ai cũng phải nghe theo mà quên mất rằng nếu không tạo được ethos và pathos thì logos có trình bày ra cũng vô dụng.
Bạn có thể là một tài năng với những sáng tạo siêu phàm. Bạn có thể là một người cực tốt bụng, tốt đến mức những ông thánh có sống lại cũng phải khen bạn. Nhưng điều đó không có nghĩa là mọi người sẽ tự nhiên phải khâm phục và nghe theo bạn. Phẩm chất bạn có là của riêng bạn mà thôi. Để gây ảnh hưởng được đến người khác, để có thể hợp tác với nhiều người khác trong một tập thể vì mục đích chung, có thể chỉ là xây dựng một gia đình nhỏ thật hạnh phúc, bạn phải học cách giao tiếp với người khác. “Seek first to understand, then to be understood” chính là quy tắc để bắt đầu việc đó. Khi con người cởi mở với nhau và hiểu nhau sâu sắc, họ sẽ tìm thấy cái mà Covey gọi là “third alternative”, phương án thông minh và theo thuật toán của Covey thì 1+1 = 3 hoặc nhiều hơn nữa. Bởi vì khi hai cá nhân thực sự hợp tác với nhau thì những gì họ tạo ra sẽ nhiều hơn tổng cộng của những gì mỗi người có thể một mình sáng tạo ra được... "
admin
05-10-2006, 12:29 PM
Còn đây là một nghĩa khác của Pathos, trích từ Chứng Nhân (http://www.suyniem.com/board/viewtopic.php?p=823&sid=66ed9bc0199df8b4b52e40fe2cfaa35e):
"Lời các ngôn sứ là lời mang quyền năng của Thiên Chúa vì các ngài cảm nghiệm được tấm lòng (pathos) của Thiên Chúa. Đối với các ngài, Thiên Chúa không phải là Hữu Thể trừu tượng nhưng là Thiên Chúa của giao ước, một Thiên Chúa dấn thân vào lịch sử nhân loại, một Thiên Chúa chọn lập trường rõ ràng trước mọi biến cố chứ không trung lập. Các ngôn sứ không chỉ nghe được tiếng Chúa mà còn cảm được nỗi lòng của Chúa. Và như thế, làm sao các ngài có thể công bố Lời Chúa cách vô cảm? Ngược lại, lời các ngài nóng như lửa và tràn đầy sức sống! "
anthony24nov
19-10-2006, 02:46 PM
Hỏng biết thế náo
Pathos (n)(Greek): human's experiences: emotion. suffering, sadness..... Sự thấu cảm hoăc. sự đồng cảm sâu sắc.
vBulletin v3.5.2, Copyright ©2000-2012, Jelsoft Enterprises Ltd.