admin
22-02-2006, 08:09 PM
Thứ Tư, ngày 31/10/1979
7. Đường đôi ngã giữa chết và sống bất tử đi vào định nghĩa về con người
Hôm nay chúng ta phải quay lại để bàn một lần nữa về ý nghĩa của sự đơn độc nguyên thuỷ của con người mà chúng ta đã thấy nổi bật hơn hết, khi phân tách bản văn thuộc «truyền thống Giavê» trong chương thứ hai Sách Sáng Thế. Như đã nói trong những lần suy niệm trước, bản văn Kinh Thánh này không những cho phép chúng ta nhấn mạnh tới cái ý thức về thân xác con người (con người được sáng tạo trong thế giới hữu hình như «một thân xác giữa bao thân xác», mà còn tới việc ý thức về ý nghĩa của thân xác đó nữa.
Vì bản văn Kinh Thánh này quá cô đọng, chúng ta phải chấp nhận là không thể khai triển hàm ý này quá mức được. Tuy nhiên, có một điều chắc chắn là chúng ta đã chạm tới vấn đề cốt lõi của nhân loại học. Trong trường hợp này, sự ý thức về thân xác được đồng hoá với việc con người khám phá ra tính phức tạp của cấu trúc riêng mình. Dựa trên căn bản của nhân loại học triết lý, và nói thật tóm lược, thì sự khám phá đó được bao hàm trong mối tương quan giữa linh hồn và thân xác. Câu chuyện thuộc truyền thống Giavê, bằng một thứ ngôn ngữ riêng (tức là bằng thuật ngữ riêng) đã diễn tả mối quan hệ đó như sau: «Đức Chúa là Thiên Chúa lấy bụi từ đất nặn ra con người, thổi sinh khí vào lỗ mũi, và con người trở nên một sinh vật». (St 2,7).[1] (http://www.gpnt.net/diendan/newthread.php?do=newthread&f=28#_ftn1) Thật đúng con người này, là “một sinh vật”, nhưng mãi luôn tự nhận ra mình khác biệt với tất cả các sinh vật khác trong thế giới hữu hình.
Việc con người tự phân biệt mình như thế đồng nghĩa với việc chỉ một mình con người ấy có thể «canh tác đất đai» (x. St 2,5) và «thống trị mặt đất» (x. St 1,28). Ta có thể nói rằng ý thức về sự trỗi vượt đó, được bao hàm trong định nghĩa về nhân tính, đã được phát sinh ngay từ thuở ban đầu dựa trên một hành động hay một hành xử đặc trưng của con người. Ý thức đó gắn liền với một nhận thức đặc biệt về ý nghĩa của thân xác và xuất phát từ việc con người có trách vụ phải «canh tác đất đai» và «thống trị mặt đất». Tất cả những điều đó hẳn không thể nào xảy ra được, nếu không có một trực giác tiêu biểu cho con người về ý nghĩa thân xác của chính mình.
Do đó, có lẽ nên bàn tới khía cạnh này trước tiên hơn là về vấn đề phức tạp của nhân loại học hiểu theo nghĩa siêu hình. Trong bản văn thuộc truyền thống Giavê, phần miêu tả tiên khởi về ý thức con người có bao gồm cả thân xác nếu chúng ta xem xét câu chuyện như một tổng thể. Câu chuyện đó đã là chứng cứ đầu tiên cho việc con người khám phá ra «thân xác tính» của mình và thậm chí, như đã nói trước, là chứng cứ của việc con người cảm nhận được ý nghĩa của thân xác của chính mình. Chúng ta hiểu được tất cả những điều này không nhờ dựa vào việc phân tích siêu hình tiên thiên mà căn cứ trên tư cách chủ thể cụ thể và rất rõ ràng của con người.
Con người là một chủ thể không phải chỉ vì con người tự ý thức và tự khẳng định được mình, nhưng còn vì dựa trên nền tảng là chính thân xác mình. Cơ cấu của thân xác đó đã giúp cho con người trở thành tác nhân của một hoạt động thật sự là của con người. Trong hoạt động này, thân xác thể hiện nhân vị. Vì vậy, mặc dù thân xác là vật chất («Thiên Chúa lấy bụi từ đất nặn ra con người»), nhưng nhờ vào cái cấu trúc tự ý thức và tự khẳng định của con người, mà thân xác trở nên trong suốt và có thể xuyên thấu được để có thể thấy được rõ ràng con người là ai (và phải là ai). Con người nhận thức căn bản về ý nghĩa của thân xác mình là dựa trên điều đó. Chúng ta có thể khám phá ra điều này khi phân tích sự đơn độc nguyên thuỷ của con người.
Giờ đây, sau khi đạt được hiểu biết nền tảng này về ý nghĩa của chính thân xác mình, thì con người, chủ thể trong giao ước xưa với Đấng Tạo hoá, bắt đầu đối diện với mầu nhiệm của cây biết lành biết dữ: «Hết mọi trái cây trong vườn, ngươi cứ ăn; nhưng trái của cây cho biết điều thiện điều ác, thì ngươi không được ăn, vì ngày nào ngươi ăn, chắc chắn ngươi sẽ phải chết». (St 2, 16-17). Ý nghĩa nguyên thuỷ về sự đơn độc của con người đặt nền tảng trên kinh nghiệm về hiện hữu, một kinh nghiệm nhận được từ Đấng Tạo Hoá. Đặc biệt là nhờ tư cách chủ thể, mà sự hiện hữu của con người được mang tính cách đặc trưng, điều này cũng bao gồm cả ý nghĩa của thân xác.
Nhưng, dù với ý thức nguyên thuỷ của mình, là loài duy nhất trải nghiệm sự hiện hữu rồi từ đó cảm nghiệm được sự sống, con người phải chăng đã có thể hiểu được ý nghĩa của những từ: «ngươi phải chết»? Phải chăng con người đã có thể hiểu được những lời ấy, thông qua cơ cấu phức tạp của sự sống mà Thiên Chúa đã ban cho khi được “Đức Chúa là Thiên Chúa … thổi sinh khí vào lỗ mũi”? Ắt hẳn là phải chấp nhận từ “chết”, hoàn toàn là một từ mới, đã bắt đầu thấp thoáng trong ý thức của con người, cho dù con người chưa hề cảm nghiệm được nó. Đồng thời, những lời đó đã tỏ bày ra trước mắt con người như một tương phản tận gốc đối với những gì mà con người đã nhận lãnh trước đó.
Lần đầu tiên khi nghe những lời «ngươi phải chết», con người mãi cho đến lúc ấy vẫn chưa hề có chút mảy may gần gũi kinh nghiệm gì về chuyện này. Đàng khác, con người không thể làm gì hơn là liên kết ý nghĩa của sự chết với chiều kích sự sống mà con người đã được thụ hưởng tới lúc đó. Những lời Chúa Giavê nói với con người đã xác nhận sự lệ thuộc của con người về mặt hiện hữu, lệ thuộc đến mức đã biến con người thành một hữu thể hữu hạn, và chính vì bản tính của mình mà con người có thể trở thành phi-hiện-hữu.
Những lời đó đưa ra vấn đề sự chết theo thể điều kiện: «nếu ngày nào ngươi ăn trái cây ấy, ngươi phải chết». Khi nghe những lời này, con người đã phải tìm cho bằng được chân lý của chúng trong cơ cấu nội tại của sự đơn độc của chính mình. Nói cho cùng, thì cũng tuỳ vào bản thân, tuỳ vào quyết định, tự do chọn lựa của mình mà con người, trong sự đơn độc, có đi vào hay không đi vào cái vòng tương phản được Thiên Chúa mặc khải cho con người cùng với cây biết điều thiện và điều ác, để rồi do đó, mà làm cho con người đã phải chết và trải nghiệm về sự chết. Khi nghe những lời của Chúa Giavê, con người lẽ ra đã phải hiểu rằng cây hiểu biết đã đâm rễ sâu không phải chỉ trong «vườn Êđen» mà còn đâm rễ sâu vào nhân tính. Đàng khác, con người lẽ ra cũng đã phải hiểu rằng cây huyền bí này đã ẩn chứa một chiều kích đơn độc, cho tới lúc đó chưa hề được biết, mà Tạo Hoá đã ban cho trong thế giới những sinh vật. Con người đã «đặt tên» cho chúng trước sự hiện diện của Đấng Tạo Hoá, để rồi biết rằng không một sinh vật nào giống như mình.
Ý nghĩa nền tảng về thân xác đã được xác lập nhờ phân biệt con người ra khỏi tất cả những loài thụ tạo. Và vì vậy cũng đã rõ ràng rằng cái «vô hình» xác định con người nhiều hơn là cái «hữu hình». Thế rồi con người được đặt đứng trước hai con đường mà Thiên Chúa đã nối kết cách chặt chẽ và trực tiếp với cây biết lành biết dữ. Con đường đôi ngã giữa cái chết và sự bất tử bắt đầu xuất hiện trong Sách Sáng Thế 2,17 không chỉ giới hạn vào ý nghĩa về bản tính của thân xác. Con đường đôi ngã này thể hiện được ý nghĩa cánh chung không chỉ của thân xác mà còn của cả nhân tính, khác biệt với tất cả những sinh vật khác, những “thân xác” khác. Nhưng đôi ngã đường đó còn liên hệ rất đặc biệt tới thân xác được tạo dựng từ «bụi đất».
Để khỏi phân tích dài dòng về vấn đề này, chúng ta chỉ cần lưu ý rằng ngay từ đầu con đường đôi ngã giữa chết và sống bất tử đã xuất hiện trong định nghĩa về con người. Và từ thuở ban đầu, con đường đôi ngã đó đã là một phần ý nghĩa của sự đơn độc trước chính Thiên Chúa. Ý nghĩa nguyên thuỷ của sự đơn độc, mang đậm dấu ấn của con đường đôi ngã giữa chết và sống bất tử, đồng thời cũng mang một ý nghĩa nền tảng cho cả nền thần học về thân xác.
Và với nhận định này, chúng ta kết thúc những suy niệm về ý nghĩa của sự đơn độc nguyên thuỷ của con người. Nhận định này, được đánh nổi một cách rõ ràng và nhất quán từ những bản văn trong Sách Sáng Thế, đúc kết suy niệm cả về những bản văn lẫn về con người. Có lẽ con người ấy nhận thức quá ít về chân lý liên quan tới mình, chân lý đã hàm chứa trong những chương đầu của Kinh Thánh.
Nhóm Tâm Biển
[1] (http://www.gpnt.net/diendan/newthread.php?do=newthread&f=28#_ftnref1) Điều mà nhân loại học trong Kinh Thánh phân biệt nơi con người không hẳn là xác với hồn nhưng đúng hơn là thân xác và sự sống.
Tác giả Kinh Thánh chỉ cho thấy rằng việc ban sự sống đã thực hiện được là nhờ «hơi thở», một hơi thở vẫn luôn thuộc về Thiên Chúa: nếu Thiên Chúa lấy nó đi thì con người sẽ trở về bụi đất, bởi vì con người là tro bụi (xem G 34,14-15 và Tv 104,29t).
Về Mục lục (http://gpnt.net/diendan/showthread.php?t=217)
7. Đường đôi ngã giữa chết và sống bất tử đi vào định nghĩa về con người
Hôm nay chúng ta phải quay lại để bàn một lần nữa về ý nghĩa của sự đơn độc nguyên thuỷ của con người mà chúng ta đã thấy nổi bật hơn hết, khi phân tách bản văn thuộc «truyền thống Giavê» trong chương thứ hai Sách Sáng Thế. Như đã nói trong những lần suy niệm trước, bản văn Kinh Thánh này không những cho phép chúng ta nhấn mạnh tới cái ý thức về thân xác con người (con người được sáng tạo trong thế giới hữu hình như «một thân xác giữa bao thân xác», mà còn tới việc ý thức về ý nghĩa của thân xác đó nữa.
Vì bản văn Kinh Thánh này quá cô đọng, chúng ta phải chấp nhận là không thể khai triển hàm ý này quá mức được. Tuy nhiên, có một điều chắc chắn là chúng ta đã chạm tới vấn đề cốt lõi của nhân loại học. Trong trường hợp này, sự ý thức về thân xác được đồng hoá với việc con người khám phá ra tính phức tạp của cấu trúc riêng mình. Dựa trên căn bản của nhân loại học triết lý, và nói thật tóm lược, thì sự khám phá đó được bao hàm trong mối tương quan giữa linh hồn và thân xác. Câu chuyện thuộc truyền thống Giavê, bằng một thứ ngôn ngữ riêng (tức là bằng thuật ngữ riêng) đã diễn tả mối quan hệ đó như sau: «Đức Chúa là Thiên Chúa lấy bụi từ đất nặn ra con người, thổi sinh khí vào lỗ mũi, và con người trở nên một sinh vật». (St 2,7).[1] (http://www.gpnt.net/diendan/newthread.php?do=newthread&f=28#_ftn1) Thật đúng con người này, là “một sinh vật”, nhưng mãi luôn tự nhận ra mình khác biệt với tất cả các sinh vật khác trong thế giới hữu hình.
Việc con người tự phân biệt mình như thế đồng nghĩa với việc chỉ một mình con người ấy có thể «canh tác đất đai» (x. St 2,5) và «thống trị mặt đất» (x. St 1,28). Ta có thể nói rằng ý thức về sự trỗi vượt đó, được bao hàm trong định nghĩa về nhân tính, đã được phát sinh ngay từ thuở ban đầu dựa trên một hành động hay một hành xử đặc trưng của con người. Ý thức đó gắn liền với một nhận thức đặc biệt về ý nghĩa của thân xác và xuất phát từ việc con người có trách vụ phải «canh tác đất đai» và «thống trị mặt đất». Tất cả những điều đó hẳn không thể nào xảy ra được, nếu không có một trực giác tiêu biểu cho con người về ý nghĩa thân xác của chính mình.
Do đó, có lẽ nên bàn tới khía cạnh này trước tiên hơn là về vấn đề phức tạp của nhân loại học hiểu theo nghĩa siêu hình. Trong bản văn thuộc truyền thống Giavê, phần miêu tả tiên khởi về ý thức con người có bao gồm cả thân xác nếu chúng ta xem xét câu chuyện như một tổng thể. Câu chuyện đó đã là chứng cứ đầu tiên cho việc con người khám phá ra «thân xác tính» của mình và thậm chí, như đã nói trước, là chứng cứ của việc con người cảm nhận được ý nghĩa của thân xác của chính mình. Chúng ta hiểu được tất cả những điều này không nhờ dựa vào việc phân tích siêu hình tiên thiên mà căn cứ trên tư cách chủ thể cụ thể và rất rõ ràng của con người.
Con người là một chủ thể không phải chỉ vì con người tự ý thức và tự khẳng định được mình, nhưng còn vì dựa trên nền tảng là chính thân xác mình. Cơ cấu của thân xác đó đã giúp cho con người trở thành tác nhân của một hoạt động thật sự là của con người. Trong hoạt động này, thân xác thể hiện nhân vị. Vì vậy, mặc dù thân xác là vật chất («Thiên Chúa lấy bụi từ đất nặn ra con người»), nhưng nhờ vào cái cấu trúc tự ý thức và tự khẳng định của con người, mà thân xác trở nên trong suốt và có thể xuyên thấu được để có thể thấy được rõ ràng con người là ai (và phải là ai). Con người nhận thức căn bản về ý nghĩa của thân xác mình là dựa trên điều đó. Chúng ta có thể khám phá ra điều này khi phân tích sự đơn độc nguyên thuỷ của con người.
Giờ đây, sau khi đạt được hiểu biết nền tảng này về ý nghĩa của chính thân xác mình, thì con người, chủ thể trong giao ước xưa với Đấng Tạo hoá, bắt đầu đối diện với mầu nhiệm của cây biết lành biết dữ: «Hết mọi trái cây trong vườn, ngươi cứ ăn; nhưng trái của cây cho biết điều thiện điều ác, thì ngươi không được ăn, vì ngày nào ngươi ăn, chắc chắn ngươi sẽ phải chết». (St 2, 16-17). Ý nghĩa nguyên thuỷ về sự đơn độc của con người đặt nền tảng trên kinh nghiệm về hiện hữu, một kinh nghiệm nhận được từ Đấng Tạo Hoá. Đặc biệt là nhờ tư cách chủ thể, mà sự hiện hữu của con người được mang tính cách đặc trưng, điều này cũng bao gồm cả ý nghĩa của thân xác.
Nhưng, dù với ý thức nguyên thuỷ của mình, là loài duy nhất trải nghiệm sự hiện hữu rồi từ đó cảm nghiệm được sự sống, con người phải chăng đã có thể hiểu được ý nghĩa của những từ: «ngươi phải chết»? Phải chăng con người đã có thể hiểu được những lời ấy, thông qua cơ cấu phức tạp của sự sống mà Thiên Chúa đã ban cho khi được “Đức Chúa là Thiên Chúa … thổi sinh khí vào lỗ mũi”? Ắt hẳn là phải chấp nhận từ “chết”, hoàn toàn là một từ mới, đã bắt đầu thấp thoáng trong ý thức của con người, cho dù con người chưa hề cảm nghiệm được nó. Đồng thời, những lời đó đã tỏ bày ra trước mắt con người như một tương phản tận gốc đối với những gì mà con người đã nhận lãnh trước đó.
Lần đầu tiên khi nghe những lời «ngươi phải chết», con người mãi cho đến lúc ấy vẫn chưa hề có chút mảy may gần gũi kinh nghiệm gì về chuyện này. Đàng khác, con người không thể làm gì hơn là liên kết ý nghĩa của sự chết với chiều kích sự sống mà con người đã được thụ hưởng tới lúc đó. Những lời Chúa Giavê nói với con người đã xác nhận sự lệ thuộc của con người về mặt hiện hữu, lệ thuộc đến mức đã biến con người thành một hữu thể hữu hạn, và chính vì bản tính của mình mà con người có thể trở thành phi-hiện-hữu.
Những lời đó đưa ra vấn đề sự chết theo thể điều kiện: «nếu ngày nào ngươi ăn trái cây ấy, ngươi phải chết». Khi nghe những lời này, con người đã phải tìm cho bằng được chân lý của chúng trong cơ cấu nội tại của sự đơn độc của chính mình. Nói cho cùng, thì cũng tuỳ vào bản thân, tuỳ vào quyết định, tự do chọn lựa của mình mà con người, trong sự đơn độc, có đi vào hay không đi vào cái vòng tương phản được Thiên Chúa mặc khải cho con người cùng với cây biết điều thiện và điều ác, để rồi do đó, mà làm cho con người đã phải chết và trải nghiệm về sự chết. Khi nghe những lời của Chúa Giavê, con người lẽ ra đã phải hiểu rằng cây hiểu biết đã đâm rễ sâu không phải chỉ trong «vườn Êđen» mà còn đâm rễ sâu vào nhân tính. Đàng khác, con người lẽ ra cũng đã phải hiểu rằng cây huyền bí này đã ẩn chứa một chiều kích đơn độc, cho tới lúc đó chưa hề được biết, mà Tạo Hoá đã ban cho trong thế giới những sinh vật. Con người đã «đặt tên» cho chúng trước sự hiện diện của Đấng Tạo Hoá, để rồi biết rằng không một sinh vật nào giống như mình.
Ý nghĩa nền tảng về thân xác đã được xác lập nhờ phân biệt con người ra khỏi tất cả những loài thụ tạo. Và vì vậy cũng đã rõ ràng rằng cái «vô hình» xác định con người nhiều hơn là cái «hữu hình». Thế rồi con người được đặt đứng trước hai con đường mà Thiên Chúa đã nối kết cách chặt chẽ và trực tiếp với cây biết lành biết dữ. Con đường đôi ngã giữa cái chết và sự bất tử bắt đầu xuất hiện trong Sách Sáng Thế 2,17 không chỉ giới hạn vào ý nghĩa về bản tính của thân xác. Con đường đôi ngã này thể hiện được ý nghĩa cánh chung không chỉ của thân xác mà còn của cả nhân tính, khác biệt với tất cả những sinh vật khác, những “thân xác” khác. Nhưng đôi ngã đường đó còn liên hệ rất đặc biệt tới thân xác được tạo dựng từ «bụi đất».
Để khỏi phân tích dài dòng về vấn đề này, chúng ta chỉ cần lưu ý rằng ngay từ đầu con đường đôi ngã giữa chết và sống bất tử đã xuất hiện trong định nghĩa về con người. Và từ thuở ban đầu, con đường đôi ngã đó đã là một phần ý nghĩa của sự đơn độc trước chính Thiên Chúa. Ý nghĩa nguyên thuỷ của sự đơn độc, mang đậm dấu ấn của con đường đôi ngã giữa chết và sống bất tử, đồng thời cũng mang một ý nghĩa nền tảng cho cả nền thần học về thân xác.
Và với nhận định này, chúng ta kết thúc những suy niệm về ý nghĩa của sự đơn độc nguyên thuỷ của con người. Nhận định này, được đánh nổi một cách rõ ràng và nhất quán từ những bản văn trong Sách Sáng Thế, đúc kết suy niệm cả về những bản văn lẫn về con người. Có lẽ con người ấy nhận thức quá ít về chân lý liên quan tới mình, chân lý đã hàm chứa trong những chương đầu của Kinh Thánh.
Nhóm Tâm Biển
[1] (http://www.gpnt.net/diendan/newthread.php?do=newthread&f=28#_ftnref1) Điều mà nhân loại học trong Kinh Thánh phân biệt nơi con người không hẳn là xác với hồn nhưng đúng hơn là thân xác và sự sống.
Tác giả Kinh Thánh chỉ cho thấy rằng việc ban sự sống đã thực hiện được là nhờ «hơi thở», một hơi thở vẫn luôn thuộc về Thiên Chúa: nếu Thiên Chúa lấy nó đi thì con người sẽ trở về bụi đất, bởi vì con người là tro bụi (xem G 34,14-15 và Tv 104,29t).
Về Mục lục (http://gpnt.net/diendan/showthread.php?t=217)