PDA

View Full Version : Phần I. Bài 7. Đường đôi ngã giữa chết và sống bất tử đi vào định nghĩa về con người


admin
22-02-2006, 08:09 PM
Thứ Tư, ngày 31/10/1979


7. Đường đôi ngã giữa chết và sống bất tử đi vào định nghĩa về con người


Hôm nay chúng ta phải quay lại để bàn một lần nữa về ý nghĩa của sự đơn độc nguyên thuỷ của con người mà chúng ta đã thấy nổi bật hơn hết, khi phân tách bản văn thuộc «truyền thống Giavê» trong chương thứ hai Sách Sáng Thế. Như đã nói trong những lần suy niệm trước, bản văn Kinh Thánh này không những cho phép chúng ta nhấn mạnh tới cái ý thức về thân xác con người (con người được sáng tạo trong thế giới hữu hình như «một thân xác giữa bao thân xác», mà còn tới việc ý thức về ý nghĩa của thân xác đó nữa.

Vì bản văn Kinh Thánh này quá cô đọng, chúng ta phải chấp nhận là không thể khai triển hàm ý này quá mức được. Tuy nhiên, có một điều chắc chắn là chúng ta đã chạm tới vấn đề cốt lõi của nhân loại học. Trong trường hợp này, sự ý thức về thân xác được đồng hoá với việc con người khám phá ra tính phức tạp của cấu trúc riêng mình. Dựa trên căn bản của nhân loại học triết lý, và nói thật tóm lược, thì sự khám phá đó được bao hàm trong mối tương quan giữa linh hồn và thân xác. Câu chuyện thuộc truyền thống Giavê, bằng một thứ ngôn ngữ riêng (tức là bằng thuật ngữ riêng) đã diễn tả mối quan hệ đó như sau: «Đức Chúa là Thiên Chúa lấy bụi từ đất nặn ra con người, thổi sinh khí vào lỗ mũi, và con người trở nên một sinh vật». (St 2,7).[1] (http://www.gpnt.net/diendan/newthread.php?do=newthread&f=28#_ftn1) Thật đúng con người này, là “một sinh vật”, nhưng mãi luôn tự nhận ra mình khác biệt với tất cả các sinh vật khác trong thế giới hữu hình.

Việc con người tự phân biệt mình như thế đồng nghĩa với việc chỉ một mình con người ấy có thể «canh tác đất đai» (x. St 2,5) và «thống trị mặt đất» (x. St 1,28). Ta có thể nói rằng ý thức về sự trỗi vượt đó, được bao hàm trong định nghĩa về nhân tính, đã được phát sinh ngay từ thuở ban đầu dựa trên một hành động hay một hành xử đặc trưng của con người. Ý thức đó gắn liền với một nhận thức đặc biệt về ý nghĩa của thân xác và xuất phát từ việc con người có trách vụ phải «canh tác đất đai» và «thống trị mặt đất». Tất cả những điều đó hẳn không thể nào xảy ra được, nếu không có một trực giác tiêu biểu cho con người về ý nghĩa thân xác của chính mình.

Do đó, có lẽ nên bàn tới khía cạnh này trước tiên hơn là về vấn đề phức tạp của nhân loại học hiểu theo nghĩa siêu hình. Trong bản văn thuộc truyền thống Giavê, phần miêu tả tiên khởi về ý thức con người có bao gồm cả thân xác nếu chúng ta xem xét câu chuyện như một tổng thể. Câu chuyện đó đã là chứng cứ đầu tiên cho việc con người khám phá ra «thân xác tính» của mình và thậm chí, như đã nói trước, là chứng cứ của việc con người cảm nhận được ý nghĩa của thân xác của chính mình. Chúng ta hiểu được tất cả những điều này không nhờ dựa vào việc phân tích siêu hình tiên thiên mà căn cứ trên tư cách chủ thể cụ thể và rất rõ ràng của con người.

Con người là một chủ thể không phải chỉ vì con người tự ý thức và tự khẳng định được mình, nhưng còn vì dựa trên nền tảng là chính thân xác mình. Cơ cấu của thân xác đó đã giúp cho con người trở thành tác nhân của một hoạt động thật sự là của con người. Trong hoạt động này, thân xác thể hiện nhân vị. Vì vậy, mặc dù thân xác là vật chất («Thiên Chúa lấy bụi từ đất nặn ra con người»), nhưng nhờ vào cái cấu trúc tự ý thức và tự khẳng định của con người, mà thân xác trở nên trong suốt và có thể xuyên thấu được để có thể thấy được rõ ràng con người là ai (và phải là ai). Con người nhận thức căn bản về ý nghĩa của thân xác mình là dựa trên điều đó. Chúng ta có thể khám phá ra điều này khi phân tích sự đơn độc nguyên thuỷ của con người.

Giờ đây, sau khi đạt được hiểu biết nền tảng này về ý nghĩa của chính thân xác mình, thì con người, chủ thể trong giao ước xưa với Đấng Tạo hoá, bắt đầu đối diện với mầu nhiệm của cây biết lành biết dữ: «Hết mọi trái cây trong vườn, ngươi cứ ăn; nhưng trái của cây cho biết điều thiện điều ác, thì ngươi không được ăn, vì ngày nào ngươi ăn, chắc chắn ngươi sẽ phải chết». (St 2, 16-17). Ý nghĩa nguyên thuỷ về sự đơn độc của con người đặt nền tảng trên kinh nghiệm về hiện hữu, một kinh nghiệm nhận được từ Đấng Tạo Hoá. Đặc biệt là nhờ tư cách chủ thể, mà sự hiện hữu của con người được mang tính cách đặc trưng, điều này cũng bao gồm cả ý nghĩa của thân xác.

Nhưng, dù với ý thức nguyên thuỷ của mình, là loài duy nhất trải nghiệm sự hiện hữu rồi từ đó cảm nghiệm được sự sống, con người phải chăng đã có thể hiểu được ý nghĩa của những từ: «ngươi phải chết»? Phải chăng con người đã có thể hiểu được những lời ấy, thông qua cơ cấu phức tạp của sự sống mà Thiên Chúa đã ban cho khi được “Đức Chúa là Thiên Chúa … thổi sinh khí vào lỗ mũi”? Ắt hẳn là phải chấp nhận từ “chết”, hoàn toàn là một từ mới, đã bắt đầu thấp thoáng trong ý thức của con người, cho dù con người chưa hề cảm nghiệm được nó. Đồng thời, những lời đó đã tỏ bày ra trước mắt con người như một tương phản tận gốc đối với những gì mà con người đã nhận lãnh trước đó.

Lần đầu tiên khi nghe những lời «ngươi phải chết», con người mãi cho đến lúc ấy vẫn chưa hề có chút mảy may gần gũi kinh nghiệm gì về chuyện này. Đàng khác, con người không thể làm gì hơn là liên kết ý nghĩa của sự chết với chiều kích sự sống mà con người đã được thụ hưởng tới lúc đó. Những lời Chúa Giavê nói với con người đã xác nhận sự lệ thuộc của con người về mặt hiện hữu, lệ thuộc đến mức đã biến con người thành một hữu thể hữu hạn, và chính vì bản tính của mình mà con người có thể trở thành phi-hiện-hữu.

Những lời đó đưa ra vấn đề sự chết theo thể điều kiện: «nếu ngày nào ngươi ăn trái cây ấy, ngươi phải chết». Khi nghe những lời này, con người đã phải tìm cho bằng được chân lý của chúng trong cơ cấu nội tại của sự đơn độc của chính mình. Nói cho cùng, thì cũng tuỳ vào bản thân, tuỳ vào quyết định, tự do chọn lựa của mình mà con người, trong sự đơn độc, có đi vào hay không đi vào cái vòng tương phản được Thiên Chúa mặc khải cho con người cùng với cây biết điều thiện và điều ác, để rồi do đó, mà làm cho con người đã phải chết và trải nghiệm về sự chết. Khi nghe những lời của Chúa Giavê, con người lẽ ra đã phải hiểu rằng cây hiểu biết đã đâm rễ sâu không phải chỉ trong «vườn Êđen» mà còn đâm rễ sâu vào nhân tính. Đàng khác, con người lẽ ra cũng đã phải hiểu rằng cây huyền bí này đã ẩn chứa một chiều kích đơn độc, cho tới lúc đó chưa hề được biết, mà Tạo Hoá đã ban cho trong thế giới những sinh vật. Con người đã «đặt tên» cho chúng trước sự hiện diện của Đấng Tạo Hoá, để rồi biết rằng không một sinh vật nào giống như mình.

Ý nghĩa nền tảng về thân xác đã được xác lập nhờ phân biệt con người ra khỏi tất cả những loài thụ tạo. Và vì vậy cũng đã rõ ràng rằng cái «vô hình» xác định con người nhiều hơn là cái «hữu hình». Thế rồi con người được đặt đứng trước hai con đường mà Thiên Chúa đã nối kết cách chặt chẽ và trực tiếp với cây biết lành biết dữ. Con đường đôi ngã giữa cái chết và sự bất tử bắt đầu xuất hiện trong Sách Sáng Thế 2,17 không chỉ giới hạn vào ý nghĩa về bản tính của thân xác. Con đường đôi ngã này thể hiện được ý nghĩa cánh chung không chỉ của thân xác mà còn của cả nhân tính, khác biệt với tất cả những sinh vật khác, những “thân xác” khác. Nhưng đôi ngã đường đó còn liên hệ rất đặc biệt tới thân xác được tạo dựng từ «bụi đất».

Để khỏi phân tích dài dòng về vấn đề này, chúng ta chỉ cần lưu ý rằng ngay từ đầu con đường đôi ngã giữa chết và sống bất tử đã xuất hiện trong định nghĩa về con người. Và từ thuở ban đầu, con đường đôi ngã đó đã là một phần ý nghĩa của sự đơn độc trước chính Thiên Chúa. Ý nghĩa nguyên thuỷ của sự đơn độc, mang đậm dấu ấn của con đường đôi ngã giữa chết và sống bất tử, đồng thời cũng mang một ý nghĩa nền tảng cho cả nền thần học về thân xác.

Và với nhận định này, chúng ta kết thúc những suy niệm về ý nghĩa của sự đơn độc nguyên thuỷ của con người. Nhận định này, được đánh nổi một cách rõ ràng và nhất quán từ những bản văn trong Sách Sáng Thế, đúc kết suy niệm cả về những bản văn lẫn về con người. Có lẽ con người ấy nhận thức quá ít về chân lý liên quan tới mình, chân lý đã hàm chứa trong những chương đầu của Kinh Thánh.



Nhóm Tâm Biển

[1] (http://www.gpnt.net/diendan/newthread.php?do=newthread&f=28#_ftnref1) Điều mà nhân loại học trong Kinh Thánh phân biệt nơi con người không hẳn là xác với hồn nhưng đúng hơn là thân xác và sự sống.
Tác giả Kinh Thánh chỉ cho thấy rằng việc ban sự sống đã thực hiện được là nhờ «hơi thở», một hơi thở vẫn luôn thuộc về Thiên Chúa: nếu Thiên Chúa lấy nó đi thì con người sẽ trở về bụi đất, bởi vì con người là tro bụi (xem G 34,14-15 và Tv 104,29t).


Về Mục lục (http://gpnt.net/diendan/showthread.php?t=217)

Trần Duy Thực
23-02-2006, 11:39 PM
Kính thưa tất cả,
Xin được phép ghi lại đây vài ghi chú mà tôi nghĩ rằng có thể giúp hiểu rõ hơn bài viết của Đức Giáo Hoàng. Và như thế, rất mong ý kiến của quý bạn để bổ túc hoặc sửa sai giùm. Đa tạ
____

Phi hiện hữu : “Thiên Chúa lấy bụi từ đất nặn ra con người, thổi sinh khi vào lỗ mũi, và con người trở nên sinh vật” (St 2,7). “Sinh khí (nishmat hayyim) chỉ nguyên lý của mọi sự sống sinh vật, tức là cái làm thành một “hữu thể sống động” (nephesh hayyah). Nephesh trong tiếng Do Thái được dịch thành psyche trong tiếng Hy Lạp, thành anima trong tiếng Latinh và bằng âme trong tiếng Pháp. Nhưng nephesh có nghĩa vật lý hơn là tâm linh: cuống họng, hơi thở, khí, và do đó lại có nghĩa là sự sống, sống, hiện hữu, cá nhân, bản thân (…). Như thế, con người là một chút đất được Thiên Chúa thổi hơi sự sống vào. Và do đó, đối với nền nhân loại học trong Cựu Ước, chết là khi sinh khí đã trở về lại với Thiên Chúa và như thế, khi chết, con người trở về với phi-hiện-hữu: sheol (trong tiếng Do Thái). Chứ không phải như trong triết học Hy Lạp, chết là linh hồn rời khỏi xác, bởi vì con người trong Cựu Ước cho rằng con người là một tổng thể duy nhất bất khả phân ly. (…) Phải đợi nhiều thế kỷ sau, dân Do Thái mới ra khỏi ngõ cụt nhân loại học này để thoáng thấy một niềm hy vọng sau khi chết”. (Alain Marchadour, Genèse, Centurion, Bayard, Paris 1999, tr 65-66)

Ý nghĩa cánh chung (eschatologique): Eschatos: cuối cùng, logos: lời lẽ. Ý nghĩa chung cuộc khi bàn về lúc cuối cùng của một đời người, hoặc khi bàn về ngày trở lại của Chúa Kitô.

Nhập thể (incarnation): in: trong, mang lấy, caro: xác thịt. Ở đây có ý muốn nói rằng Lời của Thiên Chúa đã mang lấy xác phàm (le Verbe fait chair)

admin
06-08-2009, 03:57 PM
VII


SỰ CHỌN LỰA GIỮA CÁI CHẾT VÀ BẤT TỬ ĐỊNH NGHĨA CON NGƯỜI


1. Chúng ta cần phải trở lại một lần nữa với ý nghĩa của sự đơn độc nguyên thủy của con người, là điều nổi rõ nhất khi phân tích bản văn yahvit Sáng thế 2. Như đã nhận xét trước đây, bản văn thánh kinh này không chỉ làm nổi bật ý thức về thân xác con người (con người được tạo thành trong thế giới hữu hình như «một thân xác giữa bao nhiêu thân xác») mà còn làm nổi bật ý thức về ý nghĩa của thân xác đó nữa.

Vì bản văn thánh kinh này quá súc tích, chắc chắn chúng ta không thể khai triển hàm ý quá rộng. Nhưng có điều chắc chắn là ở đây chúng ta đã chạm tới vấn đề tâm điểm của nhân học. Ý thức về thân xác xem ra đồng nhất với khám phá sự phức tạp của cấu trúc của bản thân mình. Trên cơ sở của nhân học triết học, nói cho gọn và xét cho cùng, khám phá này nằm ở mối quan hệ giữa linh hồn và thân xác. Trình thuật yahvit bằng một ngôn ngữ riêng (nghĩa là dùng những thuật ngữ riêng) đã diễn tả điều ấy như sau: «Đức Chúa là Thiên Chúa lấy bụi từ đất nặn ra con người, thổi sinh khí vào lỗ mũi, và con người trở nên một sinh vật» (St 2,7) [1]. Và chính con người này, «sinh vật» này, luôn thấy mình khác biệt với mọi sinh vật khác trong thế giới hữu hình này. Tiền đề của sự khác biệt này là chính sự kiện chỉ có con người có khả năng «canh tác đất đai» (x. St 2,5) và «thống trị mặt đất» (x. St 1,28). Người ta có thể nói rằng ý thức về sự «trổi vượt» đó, vốn được ghi trong định nghĩa về nhân tính, đã phát sinh ngay từ thuở ban đầu dựa trên cơ sở của một lối thực hành hay xử thế tiêu biểu của con người. Ý thức đó gắn liền với một nhận thức đặc biệt về ý nghĩa của thân xác của mình, và xuất phát từ chính sự việc con người có trách vụ «canh tác đất đai» và «thống trị mặt đất». Tất cả những điều đó không thể có được nếu không có trực giác về ý nghĩa của thân xác mình, một trực giác vốn là đặc trưng của con người.

2. Bởi thế, có lẽ trước hết ta nên bàn về khía cạnh này hơn là nói về vấn đề nhân học phức tạp theo hướng siêu hình học. Nếu mô tả ban đầu về ý thức con người như bản văn yahvit trình bày cũng bao hàm thân xác xét trong toàn thể trình thuật; nếu mô tả đó gần như là chứng cứ đầu tiên của việc con người khám phá thân xác của mình (và ngay cả khám phá ra ý nghĩa của thân xác của mình như đã nói); thì tất cả những điều ấy được sáng tỏ không tiên thiên dựa trên một phân tích siêu hình, nhưng dựa trên sự kiện cụ thể con người là một chủ thể khá rõ ràng. Con người là một chủ thể không chỉ vì con người tự ý thức về bản thân và tự khẳng định chính mình, mà còn vì dựa trên nền tảng là chính thân xác mình. Cấu trúc của thân xác đó đã giúp con người trở thành tác nhân của một hoạt động thuần túy nhân bản. Trong hoạt động đó, thân xác diễn tả ngã vị. Do đó, dẫu là vật chất («Thiên Chúa lấy bụi từ đất nặn ra con người»), nhưng nhờ cấu trúc tự ý thức và tự khẳng định, thân xác gần như có thể được hiểu thấu và thành trong suốt ở mức độ ta có thể biết rõ con người là ai (và cần phải trở nên như thế nào). Dựa trên điều đó mà con người cơ bản biết ý nghĩa của thân xác mình, đó là điều mà người ta không thể không khám phá ra khi phân tích sự đơn độc nguyên thủy của con người.

3. Giờ đây, sau khi hiểu cơ bản ý nghĩa của thân xác mình, con người là chủ thể của Giao ước xưa với Đấng Tạo Hóa bị đặt đối diện với mầu nhiệm cây biết thiện biết ác. «Hết mọi trái cây trong vườn, ngươi cứ ăn; nhưng trái của cây cho biết điều thiện điều ác, thì ngươi không được ăn, vì ngày nào ngươi ăn, chắc chắn ngươi sẽ phải chết» (St 2,16-17). Ý nghĩa nguyên thủy của sự đơn độc của con người dựa trên kinh nghiệm của cuộc sống mà Tạo Hóa ban cho. Đặc trưng của cuộc sống con người chính là chủ thể tính, vốn cũng bao gồm cả ý nghĩa của thân xác. Thế nhưng, con người trong tâm thức ban sơ, là kẻ chỉ biết có kinh nghiệm hiện hữu tức là kinh nghiệm về sự sống thôi, làm sao có thể hiểu được ý nghĩa lời Thiên Chúa nói «ngươi phải chết» ? Phải chăng con người có khả năng hiểu được ý nghĩa của lời ấy nhờ cấu trúc phức tạp của sự sống vốn được trao ban cho con người khi «Đức Chúa là Thiên Chúa … thổi sinh khí vào lỗ mũi»? Cần phải chấp nhận từ “chết” hoàn toàn mới mẻ này bắt đầu có mặt thấp thoáng xa xa trong tâm thức con người, dẫu con người chưa hề bao giờ kinh nghiệm thực tại này. Đồng thời lời ấy hiện ra trước mắt con người như một phản đề đối nghịch hoàn toàn với tất cả những gì đã được phú ban cho con người trước đó.

Con người lần đầu tiên khi nghe lời «ngươi phải chết» vẫn chưa có chút kinh nghiệm gần gũi nào về chuyện ấy. Đàng khác, con người không thể không nối kết ý nghĩa của sự chết với chiều kích sự sống mà con người đã được thụ hưởng tới lúc đó. Những lời của Thiên Chúa nói với con người đã xác nhận sự lệ thuộc của con người về mặt hiện hữu, đến mức biến con người thành một hữu thể hữu hạn, và bản tính của con người thì bất tất, nghĩa là có thể không hiện hữu. Những lời ấy đã đặt vấn đề sự chết theo thể điều kiện: «nếu ngày nào ngươi ăn trái cây ấy, ngươi phải chết». Khi nghe những lời đó, con người đã phải tìm lại sự thật của chúng trong chính cấu trúc nội tại của sự đơn độc bản thân. Và sau cùng, việc con người cô độc có đi vào vòng oan nghiệt, tức cái phản đề của tự do, mà Đấng Tạo Hóa đã tiết lộ cùng với cây biết thiện biết ác (và như thế có kinh nghiệm về sự chết) hay không, là phụ thuộc vào con người, phụ thuộc vào quyết định và chọn lựa tự do của con người. Nghe lời Đức Chúa là Thiên Chúa nói, con người đáng lẽ phải hiểu rằng cây biết thiện biết ác không chỉ bén rễ sâu trong vườn «Êđen» mà còn đâm rễ sâu vào trong nhân tính[2] (http://www.ubmvgiadinh.org/?open=contents&display=2&id=394#_ftn2). Hơn nữa, con người lẽ ra đã phải hiểu rằng cái cây huyền nhiệm ấy ẩn chứa trong nó một chiều kích của sự đơn độc, cho tới lúc ấy chưa hề được biết đến, sự đơn độc mà Tạo Hóa đã ban cho con người khi ở giữa các sinh vật - các sinh vật này vốn đã được con người «đặt tên» trước mặt Đấng Tạo Hóa - và từ đó hiểu rằng không ai trong số chúng tương xứng với con người.

4. Thế nên, một khi ý nghĩa nền tảng của thân xác con người đã được thiết lập nhờ phân biệt con người với các loài thọ tạo khác, và bởi đó người ta nhận thấy rõ ràng phần “vô hình” xác định con người nhiều hơn phần “hữu hình”, thì con người bị đặt trước một tình cảnh phải lựa chọn giữa hai ngả đường, mà điều đó được Đức Chúa là Thiên Chúa liên kết chặt chẽ và trực tiếp với cây biết thiện biết ác. Đường đôi ngả phải chọn lựa giữa cái chết và sự bất tử, bắt đầu xuất hiện từ St 2,17, đi xa hơn, nó thể hiện ý nghĩa cánh chung không những của thân xác, mà còn của chính nhân tính, là yếu tố làm con người trổi vượt muôn loài sinh vật, giữa muôn loài có “thân xác”. Nhưng cái khả năng chọn lựa giữa đôi ngả đó lại liên hệ một cách rất đặc biệt đến thân xác được tạo dựng từ «bụi đất».

Để không phân tích dài dòng thêm nữa, chúng ta chỉ cần lưu ý rằng ngay từ đầu khả năng chọn lựa giữa đôi ngả hoặc chết hoặc được sống muôn đời đã đi vào trong định nghĩa về con người, và «thuở ban đầu» nó vốn là một phần của ý nghĩa của sự đơn độc của con người trước mặt chính Thiên Chúa. Ý nghĩa nguyên thủy của sự đơn độc, mà nơi thâm sâu hàm chứa khả năng chọn lựa giữa đôi ngả hoặc chết hoặc sống muôn đời, cũng có một ý nghĩa nền tảng cho toàn thể thần học thân xác.

Với nhận định này giờ đây chúng ta kết thúc những suy tư về ý nghĩa về sự đơn độc nguyên thủy của con người. Nhận định ấy xuất hiện cách rõ ràng và sâu sắc từ các bản văn của sách Sáng thế và khiến ta suy nghĩ nhiều về các bản văn cũng như về con người. Có lẽ con người còn biết quá ít sự thật về chính mình, một sự thật đã hàm chứa sẵn trong các chương đầu của quyển Kinh Thánh.

Louis Nguyễn Anh Tuấn chuyển dịch
------------------
[1] Khoa nhân học thánh kinh không phân biệt giữa “thân xác” và “linh hồn” nơi con người, cho bằng giữa «thân xác» và «sự sống».
Tác giả thánh kinh trình bày ở đây sự sống được ban qua việc trao «hơi thở», là cái vốn luôn thuộc về Thiên Chúa. Khi Thiên Chúa lấy đi hơi thở ấy, con người sẽ trở về với đất bụi, vì từ bụi đất con người được nặn ra (x. G 34,14-15; Tv 104,29t).


<HR align=left width="33%" SIZE=1>

[1] (http://www.ubmvgiadinh.org/?open=contents&display=2&id=394#_ftnref1) Thân xác không hiển nhiên là một ngã vị, nhưng nhờ thân xác mà con người ý thức về tình trạng cô đơn nguyên thủy của mình. Thật nghịch lí, chính nhờ thân xác mà con người nối kết mình với các sinh vật (animalia) khác cách hữu hình và bên ngoài, cũng chính thân xác ấy, ẩn chứa ý nghĩa sự cô đơn nguyên thủy của nó, là nhân tố chuyển thông cách rõ ràng cho con người chủ thể tính siêu việt và ngã vị. Chúng ta chứng kiến thần học về thân xác ra đời như một lời khẳng định.

[2] (http://www.ubmvgiadinh.org/?open=contents&display=2&id=394#_ftnref2) Mệnh lệnh của Đức Chúa xem ra, một cách nào đó, đã được ghi vào trong bản tính cấu thành con người nguyên thủy. Từ đoạn văn này người ta thấy rằng cách thức Ađam thoát ra khỏi sự đơn độc nguyên thủy cũng phụ thuộc vào một chọn lựa tự do của ông. Ađam lẽ ra đã có thể vẫn ở tình trạng «trinh nguyên» khi ông phó mình, trong ý thức, lệ thuộc Thiên Chúa cách cơ bản, thế nhưng sau cùng ông đã phạm tội, nghĩa là chọn cái phản đề là cái chết. Cội rễ của cây biết thiện biết ác cũng có trong bản tính con người (nhân tính), là một hình ảnh rất đẹp để chỉ sự tự do của con người đã có mặt ngay từ tình trạng nguyên thủy, một cách huyền nhiệm sự tự do ấy cũng có khả năng đi ngược lại luật Thiên Chúa.

http://www.ubmvgiadinh.org/?open=contents&display=2&id=394 (http://www.ubmvgiadinh.org/?open=contents&display=2&id=394)