View Full Version : Phần I. Bài 8. Sự đơn nhất nguyên thuỷ của người nam và người nữ
admin
24-02-2006, 11:23 AM
Thứ Tư, ngày 7/11/1979
8. Sự đơn nhất nguyên thuỷ của người nam và người nữ
«Con người ở một mình thì không tốt» (St 2,18). Những lời này trong Sách Sáng Thế tạo thành khúc mở đầu cho câu chuyện kể về cuộc sáng tạo nên người nữ. Cùng với câu chuyện này, cảm giác đơn độc nguyên thuỷ đã biến thành một phần của ý nghĩa của sự đơn nhất nguyên thuỷ mà điểm chính có lẽ là những lời trong Sách Sáng Thế đoạn 2,24 (http://giaoly.org/tk/tk.php?q=Sang_the_ky+2:24). Đức Giêsu đã trưng dẫn đoạn này khi người nói chuyện với những người Pharisêu: «Người đàn ông sẽ lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai sẽ thành một xương một thịt (Mt 19,6 (http://giaoly.org/tk/tk.php?q=Matt+19:6)). Nếu Đức Kitô đã trưng dẫn những lời này để qui chiếu về «thuở ban đầu», thì cũng thật là chính đáng để chúng ta làm sáng tỏ ý nghĩa của sự đơn nhất nguyên thuỷ ấy, một sự đơn nhất đã có nguồn gốc từ việc con người được tạo dựng có nam có nữ.
Câu chuyện kể trong chương thứ nhất của Sách Sáng Thế không nhắc gì đến tình trạng đơn độc nguyên thuỷ của con người. Thực vậy, ngay từ lúc ban đầu, con người đã là «nam và nữ». Trái lại, chuyện kể thuộc truyền thống Giavê trong chương thứ hai, trên một phương diện nào đó, đã cho phép chúng ta trước tiên nghĩ tới duy chỉ con người mà thôi, bởi vì, nhờ thân xác, con người thuộc về thế giới hữu hình nhưng lại cũng vượt lên trên thế giới đó. Rồi tiếp đến, mới làm cho chúng ta liên tưởng đến cùng một con người đó, nhưng qua cái giới tính có hai phái.
“Thân thể tính” và giới tính không đồng nhất hoàn toàn với nhau. Theo lẽ thường, thân thể con người mang những dấu chỉ về giới tính của mình, và con người tự bản tính là nam hoặc là nữ. Tuy nhiên, khi nói con người là “thân xác” thì có ý muốn nói đến chủ thể có nhân vị trên bình diện sâu xa hơn chứ không giới hạn ở bình diện cấu tạo thể xác con người cũng là người nam hoặc người nữ. Do đó, ý nghĩa của sự “đơn độc nguyên thuỷ”, chỉ có thể dành cho «con người», tự bản chất [ý nghĩa ấy] lại có trước ý nghĩa về sự đơn nhất nguyên thuỷ. Thực vậy, sự đơn nhất nguyên thuỷ lại căn cứ trên người nam và người nữ như là hai cách «nhập thể» khác nhau, có nghĩa là hai cách «trở thành thân xác» của cùng một con người được tạo dựng «theo hình ảnh Thiên Chúa» (St 1,27 (http://giaoly.org/tk/tk.php?q=Sang_the_ky+1:27)).
Khi đọc lại câu chuyện thuộc truyền thống Giavê, ở đó cuộc sáng tạo nên người nữ đã được miêu tả riêng biệt (St 2,21-22 (http://giaoly.org/tk/tk.php?q=Sang_the_ky+2:21-22)), thì đồng thời chúng ta cũng phải giữ luôn trước mắt cái «hình ảnh của Thiên Chúa» mà câu chuyện thứ nhất về cuộc sáng tạo đã nói tới. Qua kiểu nói và thể loại, câu chuyện thứ hai có tất cả những đặc điểm của một bản văn thuộc truyền thống Giavê. Lối kể chuyện nhất quán với cách suy nghĩ và tự biểu đạt của thời đại đó.
Theo cách nhìn của triết học về tôn giáo và triết học về ngôn ngữ hiện đại, chúng ta có thể nói rằng loại ngôn ngữ được dùng là ngôn ngữ của huyền thoại. Thực ra, chữ “huyền thoại” ở đây không phải dùng để chỉ một nội dung thần thoại, nhưng đó chỉ là cách cổ xưa để diễn tả một nội dung sâu sắc hơn. Chúng ta thấy rất dễ dàng những gì ẩn chứa dưới lớp vỏ ngoài của đoạn văn rất xưa này. Thực là kỳ diệu xét về mặt phẩm chất và sự cô đọng dầy đặc của các chân lý ẩn tàng trong đoạn văn đó.
Ở một mức độ nào đó, chúng ta có thể nói thêm rằng câu chuyện thứ hai về cuộc sáng tạo con người đã có hình thức của một cuộc đối thoại giữa con người với Thiên Chúa Tạo Hoá. Điều này thể hiện rõ nét nhất trong giai đoạn mà con người (adam) đã dứt khoát được tạo thành là nam là nữ (ish-isha).[1] (http://www.gpnt.net/diendan/newthread.php?do=newthread&f=28#_ftn1) Cuộc sáng tạo này đã diễn ra gần như cùng một lúc dưới hai chiều kích: hành động sáng tạo của Chúa Giavê được diễn ra cách tương giao với tiến trình ý thức của con người.
Như thế, Chúa Giavê phán: «Con người ở một mình thì không tốt. Ta sẽ làm cho nó một trợ tá tương xứng với nó». (St 2,18 (http://giaoly.org/tk/tk.php?q=Sang_the_ky+2:18)). Cũng cùng lúc đó, con người xác nhận rằng mình đơn độc (x. St 2,20 (http://giaoly.org/tk/tk.php?q=Sang_the_ky+2:20)). Chúng ta đọc tiếp: «Đức Chúa là Thiên Chúa cho một giấc ngủ mê ập xuống trên con người, và con người thiếp đi. Rồi Chúa rút một cái xương sườn của con người ra, và lắp thịt thế vào. Đức Chúa là Thiên Chúa lấy cái xương sườn đã rút từ con người ra, làm thành một người đàn bà» (St 2,21-22 (http://giaoly.org/tk/tk.php?q=Sang_the_ky+2:21-22)). Vì ở đây có một lối dùng từ khác biệt, cho nên trước tiên ta phải công nhận rằng trong câu chuyện kể của Sách Sáng Thế, cái giấc ngủ mà con người đang chìm đắm -do tác động Chúa Giavê để chuẩn bị cho cuộc tạo dựng mới- đã cung cấp cho chúng ta nguồn lương thực để suy gẫm.
Trong bối cảnh của lối tư duy hiện nay, một lối tư duy thường, thông qua phân tích tiềm thức, liên kết các nội dung dục tính với thế giới của giấc mơ, thì giấc ngủ kể trên có lẽ gợi ra một liên tưởng đặc biệt.[2] (http://www.gpnt.net/diendan/newthread.php?do=newthread&f=28#_ftn2) Tuy thế, câu chuyện trong Thánh Kinh hình như đã vượt quá chiều kích của tiềm thức con người. Và hơn nữa, nếu ta chấp nhận rằng ở đây (trong đoạn kinh thánh này) có một cách dùng từ ngữ rất khác biệt, thì có thể kết luận rằng con người (adam) chìm vào giấc ngủ mê để khi tỉnh giấc trở thành “người nam” và “người nữ”. Thực vậy, trong Sách Sáng Thế đoạn 2,23 (http://giaoly.org/tk/tk.php?q=Sang_the_ky+2:23), đây là lần đầu tiên, chúng ta thấy sự phân biệt ish và isha. Vì vậy, có lẽ ở đây phép loại suy áp dụng cho giấc ngủ không nhắm nói lên sự chuyển tiếp từ ý thức sang tiềm thức cho bằng nói lên một sự trở ngược lại cách đặc biệt trạng thái phi-hiện-hữu (giấc ngủ có chứa một yếu tố triệt tiêu sự hiện hữu có ý thức của con người). Điều này có nghĩa là phép loại suy (về giấc ngủ) đó chỉ cho thấy một sự quay ngược trở lại cái khoảnh khắc trước tạo dựng, và qua sáng kiến tạo dựng của duy một mình Thiên Chúa, con người có thể lại từ đó trở ra như là người nam và người nữ trong tình trạng đơn nhất, hai mà một. [3] (http://www.gpnt.net/diendan/newthread.php?do=newthread&f=28#_ftn3)
Dù gì đi nữa, nhờ ngữ cảnh của Sách Sáng Thế đoạn 2,18-20 soi sáng, chúng ta không còn ngờ vực gì nữa về việc con người rơi vào “giấc ngủ mê” với mong muốn tìm được một hữu thể giống như mình. Nếu nhờ loại suy về giấc ngủ mà ta cũng có thể nói đến giấc mơ ở đây, thì chúng ta phải nói rằng bản nguyên mẫu Kinh Thánh đã cho phép chúng ta chấp nhận rằng có một cái “bản thân thứ hai” được hàm chứa trong giấc mơ đó. Một cái bản thân có nhân vị và cũng có liên quan tới tình huống đơn độc nguyên thuỷ, nghĩa là có liên quan đến toàn bộ quá trình ổn định căn tính của con người so với toàn thể các động vật khác (animalia), vì đó chính là quá trình con người “tự phân biệt mình” ra khỏi môi trường xung quanh. Và như thế, cái “vòng đai” đơn độc của con-người-nhân-vị đã bị phá vỡ, bởi vì từ giấc ngủ mê, con người đầu tiên đã thức dậy biến thành «người nam và người nữ».
Người nữ đã được tạo dựng bằng «xương sườn» mà Chúa Giavê đã lấy từ con người. Vì biết được rằng ý tưởng này diễn đạt bằng phong cách cổ xưa, bằng ẩn dụ và tượng hình, nên chúng ta có thể xác quyết rằng trọng tâm của hình ảnh này là để nói lên tính đồng nhất của hai hữu thể. Tính đồng nhất đó trước hết liên quan tới toàn thân xác, cơ cấu của thân thể. Và nó còn được xác định bằng những lời đầu tiên của người nam với người nữ: «Đây là xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi!». (St 2,23 (http://giaoly.org/tk/tk.php?q=Sang_the_ky+2:23)).[4] (http://www.gpnt.net/diendan/newthread.php?do=newthread&f=28#_ftn4) Tuy nhiên, những lời đó cũng căn cứ trên nhân tính của người nam. Chúng ta cũng phải hiểu điều đó trong bối cảnh của những khẳng định trước khi sáng tạo người nữ mặc dù sự “nhập thể” của người nam chưa xảy ra, thì người nữ đã được định nghĩa như là «một trợ tá tương xứng của người nam» (x. St 2,18; 2,20 (http://giaoly.org/tk/tk.php?q=Sang_the_ky+2:18/2:20)).[5] (http://www.gpnt.net/diendan/newthread.php?do=newthread&f=28#_ftn5) Và như thế, người nữ, về một mặt nào đó, đã được sáng tạo trên cùng một nền tảng nhân tính ấy.
Tuy có khác biệt về cơ cấu vì khác phái, sự đồng nhất về thể xác là quá hiển nhiên bởi vì khi tỉnh dậy từ giấc ngủ tạo dựng, người nam đã nói liền rằng: “Phen này, đây là xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi! Nàng sẽ được gọi là đàn bà, vì đã được rút từ đàn ông ra”. (St 2,23 (http://giaoly.org/tk/tk.php?q=Sang_the_ky+2:23)). Như thế, đó là lần đầu tiên người nam tỏ lộ niềm vui sướng và cả sự phấn khởi chưa hề có trước đó bởi vì người nam đã thiếu một hữu thể giống hình ảnh mình. Niềm vui vì một con người khác, vì một “bản thân” thứ hai, đã tuôn tràn qua những lời người nam thốt lên khi nhìn thấy người nữ. Tất cả những điều đó giúp chúng ta hiểu ý nghĩa trọn vẹn của sự đơn nhất nguyên thuỷ. Không bao nhiêu lời, nhưng mỗi lời đều rất nặng cân. Như thế, chúng ta phải để ý tới -và chúng ta sẽ còn phải để ý tới- việc mà người nữ đầu tiên được “tạo bằng xương sườn người nam” đã được đón nhận tức khắc như là một trợ tá xứng hợp cho người nam.
Trong bài suy niệm lần tới, chúng ta sẽ trở lại cũng về chủ đề này, tức là sẽ suy niệm về ý nghĩa của sự đơn nhất nguyên thuỷ của người nam và người nữ trong nhân tính.
Nhóm Tâm Biển chuyển ngữ
Về Mục Lục (http://gpnt.net/diendan/showthread.php?t=217)
admin
24-02-2006, 11:30 AM
Ghi chú:
-----
[1] (http://www.gpnt.net/diendan/newthread.php?do=newthread&f=28#_ftnref1) Trong tiếng Do Thái, chữ adam biểu đạt khái niệm tập thể về loài người, và có nghĩa là con người đại diện cho cả nhân loại (Kinh Thánh định nghĩa cá nhân bằng cụm từ «con của loài người», ben-adam). Cặp đối ngẫu is-isha nhấn mạnh đến sự khác biệt giữa nam và nữ (cũng giống như aner-gyne trong tiếng Hy Lạp)
Sau khi đã tạo dựng nên người nữ, bản Kinh Thánh này vẫn tiếp tục gọi người nam đầu tiên là adam (dùng với loại từ xác định), để diễn tả «nhân vị mang thân xác» vì ông đã trở thành «cha của nhân loại», ông tổ đầu tiên và cũng là đại diện cho nhân loại, cũng như sau này Abraham đã được gọi là «cha của những kẻ tin» và cũng như Giacóp đã được đồng hoá với dân Do Thái, Dân tộc được Tuyển chọn.
[2] (http://www.gpnt.net/diendan/newthread.php?do=newthread&f=28#_ftnref2) Giấc ngủ mê của Adam (tiếng Do Thái gọi là tardemah) là một giấc ngủ sâu (tiếng Latinh là sopor), một giấc ngủ li bì và không mộng mị (Kinh Thánh dùng một từ ngữ khác để diễn tả mộng mị: halom; x. St 15,12 và 1 Sb 26,12 (http://giaoly.org/tk/tk.php?q=sang_the_ky+15:12/1Su_bien_nien+26:12)).
Ông Freud thì lại nghiên cứu về nội dung của giấc mơ (tiếng Latinh là somnium). Theo ông, giấc mơ được cấu tạo bằng những yếu tố thể lý «được dồn nén trong tiềm thức». Theo ông, nhờ giấc mơ mà nội dung của vô thức có thể trồi lên. Một vô thức -mà theo ông- phân tích cho cùng cũng chỉ qui về tình dục. Một ý tưởng như thế thì đương nhiên hoàn toàn xa lạ với tác giả của Kinh Thánh.
Trong thần học của những tác giả thuộc truyền thống Giavê, giấc ngủ mê mà Thiên Chúa giáng xuống cho con người nhấn mạnh sự độc quyền của hành động Thiên Chúa khi sáng tạo nên người nữ. Không hề có phần tham dự ý thức của con người vào cuộc sáng tạo nên người nữ. Thiên Chúa dùng «xương sườn» con người là để muốn chỉ bản tính chung của người nam và người nữ.
[3] (http://www.gpnt.net/diendan/newthread.php?do=newthread&f=28#_ftnref3) Chữ tardemah (ngủ mê, tiếng Ý: torpore, tiếng Anh: sleep) mà Kinh Thánh dùng khi, đang ngủ hay liền sau khi ngủ đã xảy ra những biến cố lạ kỳ (xem St 15,12 và 1 Sm 26,12 và Is 29,10 và G 4,13 và 33,15 (http://giaoly.org/tk/tk.php?q=sang_the_ky+15:12/1Sam+26:12/Is+29:10/Giop+4:13/33:15)). Bản Bảy Mươi dịch «tardemah» thành là «ektasis» có nghĩa là xuất thần.
Trong Ngũ Thư, «tardemah» còn xuất hiện một lần nữa trong bối cảnh mầu nhiệm: vâng lệnh Chúa, Abraham đã chuẩn bị một số gia súc để hiến tế và xua đuổi chim ăn thịt không cho đến quấy phá: «Lúc mặt trời gần lặn, thì một giấc ngủ mê ập xuống trên ông Abraham. Một nỗi kinh hoàng, một bóng tối dày đặc bỗng ập xuống trên ông» (St 15,12 (http://giaoly.org/tk/tk.php?q=sang_the_ky+15:12)). Và chính lúc đó mà Thiên Chúa đã bắt đầu nói và ký kết với ông một giao ước được xem như là đỉnh cao của mặc khải cho Abraham.
Cảnh này, cách nào đó, cũng giống như cảnh xảy ra tại vườn Gethsemani: Đức Giêsu «cảm thấy hãi hùng xao xuyến…» (Mc 14,33 (http://giaoly.org/tk/tk.php?q=marco+14:33)) và Người thấy các tông đồ «đang ngủ và buồn phiền».
Tác giả Kinh Thánh thừa nhận rằng có một sự lẽ loi và đơn độc nơi con người đầu tiên («con người ở một mình thì không tốt»; «và con người không tìm được một trợ tá tương xứng»), và có thể là cả sự sợ hãi. Rất có thể là hoàn cảnh đó đã gây nên «giấc ngủ vì buồn phiền» hoặc có lẽ như Abraham «một nỗi kinh hoàng đen tối», tức là tình huống của phi-hiện-hữu. Cũng giống như ngay trước lúc sáng tạo «Đất còn trống rỗng, chưa có hình dạng, bóng tối bao trùm vực thẳm» (St 1,2 (http://giaoly.org/tk/tk.php?q=sang_the_ky+1:2)).
Dù gì đi nữa, trong cả hai đoạn văn, của Ngũ Thư hay đúng hơn của Sách Sáng Thế, khi nói về giấc ngủ mê (tardemah), thì đều đặc biệt xảy ra một hành động của Chúa, một «giao ước» cưu mang kết quả cho toàn cả lịch sử cứu chuộc: Adong đã sinh ra loài người, Abraham sinh ra Dân Tộc được chọn.
[4] (http://www.gpnt.net/diendan/newthread.php?do=newthread&f=28#_ftnref4) Có một điều rất đáng để ý là ký tự hình nêm mà những người Sumeriens dùng để diễn tả từ «xương sườn» thì giống như từ dùng để diễn tả «sự sống». Theo một số chú giải đoạn theo truyền thống Giavê (St 2,21 (http://giaoly.org/tk/tk.php?q=sang_the_ky+2:21)), Thiên Chúa đã đắp thịt vào cái xương sườn đã lấy ra (chứ không phải lấp thịt chỗ đó lại). Người đã cho người nữ một hình hài, và nguồn gốc của người nữ là «xương và thịt» của người nam đầu tiên.
Trong ngôn ngữ của Kinh Thánh, đó là một định nghĩa của đồng huyết tính hay cùng dòng họ (x. St 29,14 (http://giaoly.org/tk/tk.php?q=sang_the_ky+29:14)): người nữ và người nam đều là một loài, và người nữ khác biệt với tất cả các hữu thể có sự sống đã được sáng tạo trước mình.
Khi bàn về phương diện nhân loại học của Thánh Kinh thì “xương” biểu tượng cho một yếu tố rất quan trọng của thân xác. Đối với người Do Thái, “thân xác” và “tâm hồn” không được phân biệt rõ ràng (thân xác đuợc coi như là cá tánh được biểu lộ ra bên ngoài, trong khi đó “xương”, bằng phép hoán dụ, lại được hiểu như là «hữu thể» con người (x. Tv 139,15 (http://giaoly.org/tk/tk.php?q=thanh_vinh+139.15): «Xương cốt con, Người không lạ lẫm gì»)
Vì thế, “Xương bởi xương tôi” có thể được hiểu theo nghĩa tương thuộc, là “hữu thể bởi hữu thể tôi”. “Thịt bởi thịt tôi” có nghĩa là, tuy có đặc điểm thể lý khác nhau, nhưng người nữ có cùng một nhân cách như người nam.
Trong “bài ca hôn chúc” của người nam đầu tiên, câu “xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi” dùng ở thể so sánh cao nhất, và nhấn mạnh hơn nữa bằng chữ “đây là”, “nàng”.
[5] Rất khó dịch thật đúng cụm từ tiếng Do Thái «cezer kenegdo». Trong các thứ tiếng của châu Âu, người ta đã có nhiều cách dịch khác nhau. Tiếng Latinh là «adjutonium ei conveniens sicut oportebat juxta eum». Tiếng Đức là «eine Hilfe…, die ihm entspricht». Tiếng Pháp là «égal vis-à-vis de lui». Tiếng Ý là «un aiuto che gli sia simile ». Tiếng Tây Ban Nha là «como el que le ayude». Tiếng Anh là «a helper fit for him». Tiếng Ba Lan là «odopowicdnia alla niego pomoc».
Từ “trợ tá” muốn gợi cái ý “bổ túc” hay đúng hơn là “hoàn toàn tương xứng”, chữ “giống nhau” mang ý nghĩa “đồng dạng”, nhưng khác với ý nghĩa là con người giống hình ảnh Thiên Chúa.
Nhóm Tâm Biển chuyển ngữ
-----
OHR
Khi tìm từ nguyên của chữ “tohu-bohu”, nhà cháu đọc lại được những câu đầu tiên của Kinh Thánh, sách Sáng thế. Có vài ý mọn hầu các Bác…
In the beginning, when God began to create heaven and earth, the earth was unformed and void, with darkness over the surface of the deep and a wind from God sweeping over the water. God said, 'Let there be light,' and there was light. - Lúc khởi đầu, Thiên Chúa sáng tạo trời đất. Ðất còn trống rỗng, chưa có hình dạng, bóng tối bao trùm vực thẳm, và thần khí Thiên Chúa bay lượn trên mặt nước. Thiên Chúa phán: "Phải có ánh sáng." Liền có ánh sáng." (Stk 1:1-3)
Lúc đất còn tohu-bohu, thì Thiên Chúa phán: "Phải có ánh sáng.” Liền có ánh sáng.
Các Bác có thấy điều gì hơi... “kỳ kỳ” không?
Thoạt kỳ thuỷ, lúc trời đất còn hỗn mang, "tối như hũ nút”, Thiên Chúa đã sáng tạo ra ánh sáng. Nhưng phải chờ đến 13 câu sau đó, vào ngày thứ tư của thứ tự sáng tạo, trình thuật Sáng Thế mới nói đến việc Thiên Chúa dựng nên “mặt trời, mặt trăng, và các tinh tú trên trời” !
Thế thì thứ “ánh sáng” từ lúc đầu tiên ấy là do đâu, lúc mặt trời mặt trăng chưa... “có”?
Rõ ràng thứ ánh sáng ấy không phải là do tinh tú soi sáng phát ra.
Khi chúng ta đọc bản văn bằng nguyên ngữ Do thái, chúng ta sẽ thấy tác giả dùng chữ “Ohr” để biểu thị thứ “ánh sáng” ban sơ ấy.
Ở câu Sáng thế ký 1:3 này, bản văn Do thái dùng chữ "OHR" để chỉ "ánh sáng". Còn các chỗ khác, nhất là từ câu Stk 1:16, lại dùng chữ "ME-OROTH", cùng gốc " alef-waw-resh".
Bản Vulgata mới, chỉ thuần túy dùng chữ “lux” để chỉ “ánh sáng” lúc này: “In principio creavit Deus caelum et terram. Terra autem erat inanis et vacua, et tenebrae super faciem abyssi, et spiritus Dei ferebatur super aquas. Dixitque Deus: “Fiat lux”. Et facta est lux.”
Khi tìm hiểu thêm những chỗ khác trong Kinh Thánh có chữ “Ohr” này, chúng ta thấy rằng đấy không phải là ánh sáng thường, do một nguồn sáng vật lý chiếu ra, mà đó là thứ có thể gọi là “ánh sáng siêu nhiên”, là lực sống thần linh, hay ít ra là một thứ ánh sáng của trí huệ, rọi vào cái “mông lung hỗn mang tăm tối, cái “tohu-bohu” ban đầu ấy, để khai sinh thế giới.
Đó có thể là cái “biết” nguyên thuỷ, cái trí năng uyên nguyên Thiên Chúa tạo ra để chuẩn bị ban cho con người.
Cái lực sống ấy, cái ánh sáng đó được tạo dựng đầu tiên.
Âu đó cũng hé mở cho chúng ta một đề tài suy nghĩ.
Thế gian, như được minh họa ngay trong câu Kinh Thánh đầu tiên này, lúc nào cũng chỉ là một cõi mông lung hỗn mang, tăm tối, một cõi “tohu-bohu”. Để nguyên tự nó, nó sẽ theo quy luật entropy (quy luật thứ hai của Nhiệt động học) mà trở về thời hỗn mang nguyên thuỷ.
Cứ để mảnh vườn sau nhà không chăm sóc trong môt hai tháng thì sẽ biết. Cứ để trong nhà không dọn dẹp quét lau trong vòng hai ba ngày thì sẽ biết. Lớp học nào không có Thầy đến dạy hay thầy Giám thị ghé mắt vào trong vòng một hai tiếng thì có là “tohu-bohu” không thì biết ! Mà cả đến Giáo xứ, hay một quốc gia cũng thế. Những ngày “quân hồ vô lệnh” cuối tháng Tư 75 cho chúng ta môt minh họa của cái “tohu-bohu’ thời ban sơ.
Mà thủ phạm gây ra cái tohu-bohu, cái rã nát, cái tan rữa nơi mọi sự chính là cái Chết.
Sự Chết là cái làm cho “thân mình” trở thành “xác”, làm cho “corp” trở thành “cadavre”.
Nói chi cho xa, chính bản thân hay linh hồn chúng ta cũng vậy. Nếu không tỉnh táo chăm sóc hay cải sửa từng giây từng phút, lập tức tính xấu sẽ phi nước đại trở về, lập tức cái Chết sẽ hoành hành.
Đó là lý do mà Thiên Chúa sáng tạo ra cái “ohr- ánh sáng” trước hết mọi sự. Cần có nó để các vật thụ tạo sau này cùng nhau đẩy lùi cái tohu-bohu nguyên thuỷ, cùng cộng tác trong cộng việc sáng tạo, cùng chiến thắng cái Chết và những tác hại của nó.
Bao lâu mà chính bản thân chúng ta còn chưa “đâu ra đấy”, bao lâu mà xã hội và lòng người còn hỗn, độn, hoang, mang; bao lâu mà giáo xứ ta còn tohu-bohu, thì công việc sáng tạo của Thiên Chúa vẫn còn tiếp diễn, và chúng ta vẫn còn phải mang sáng nến Phục Sinh rọi soi vào mà đẩy lùi sức tàn phá của cái Chết.
KaTy
admin
05-03-2006, 11:00 AM
Chữ 'thân' và chữ 'mình'
(...)
Người Việt chúng ta có chữ “thân” rất hay. Mình gọi cái “thân xác” của chính mình là “thân,” đồng thời mình cũng gọi người bạn chí thiết của mình là “bạn thân.” Hỏi còn có gì... thân hơn nữa. Mặt khác, mình cũng gọi hai đấng sinh thành của mình là “song thân,” tức là hai đấng vừa “thân thiết,” vừa cho mình cái “thân xác” của chính mình; thân xác của mình xuất phát từ thân xác “hai thân.” Cái thân của mình là cái thân xác kế tục của thân xác “song thân.” Tình cảm cha mẹ/con cái của người Việt Nam, như thế, thân thiết nhất thế giới!
Đến vợ chồng thì cái tình thân thiết còn gắn bó, keo sơn hơn nữa: mình gọi chính mình là “mình.” “Mình” đây không những chỉ là cái “thân mình” của mình, mà còn là tất cả những gì thuộc về con người mình: thân xác, tâm tư, tình cảm, suy tưởng, nội tâm, linh hồn... Và rồi, mình gọi người bạn đời của mình cũng là mình: “Mình ơi!” Đúng là “cả hai đã trở nên một.” Đó là cách thể hiện tình thương, tình yêu tuyệt vời của vợ chồng Việt Nam.
Quyên Di
http://gpnt.net/images/arrow_dyn.gif (http://www.dunglac.net/quyendi/bieulo.htm)
admin
05-03-2006, 11:29 AM
Than thân trách phận - Dân ca Nam Trung Bộ
Thân (nè) trách thân (nè),
Thân sao (chớ) lận đận (nè)
Mình (nè) trách mình (nè),
Số phận (chớ) sao hẫm hiu,
(Chớ) Bởi thân tui, tui cực khổ, tui eo nghèo,
Nên dợ tui nó không ở nữa,
(mà) Nó theo (chớ) nẩu rầu...
Em ơi, (chớ) bây giờ (mà) em ở (kìa) nơi đâu
Đở cho anh, anh trông đứng (nửa) trông ngầu (rầu) canh phia
(chớ) Hầu nào qua Phú Lở ăn ẩu chua,
Xuống Đại Lãnh uống nước ngọt
(chớ) qua Hòn Chùa ăn mực nang.
(chớ) Bây giờ, em không ngó nữa,
em không màng đến chồng nghèo (nó) cực khổ
(mà) gian gian (nó) cơ hàn.
Hầu nào em thất nghiệp, em đi lang thang,
(chớ) anh thấy em (nửa) tậu nghiệp, anh mang anh nuôi rày.
Hầu nào, em bán nước đá, (rầu) anh đi may
Hai đứa mình (này) chung sống không biết ngày (rầu) mai sau.
(chớ) Hầu nào, em bắt ốc (mà) anh hái rau (ơy)
Bây giờ, em đở lại mấu sầu này cho qua.
Hầu nào trái chuối chín cũng cắn làm ba,
(chớ) trái cam tưy cũng cắn làm bốn,
(nửa) trái cà cũng cắn làm năm,
(chớ) bây giờ em lấy nẫu, (chớ) em ăn nằm.
Em bỏ qua, (chớ) qua hiu quạnh, năm canh qua một mình.
Anh bây giờ, phé mắt sầu cứ rùng rinh
(chớ) giọt lợ sầu, giọt lợ thảm như nước trong bình (nó) tuôn ra.
Anh bây giờ, như con cuốc nó kiu tù qua.
Nó lẻ đâu, nó lẻ bạn.
Ơy chu cha (ơy) là buồn.
* Để ý cách xưng hô của anh chồng này: Thân, mình, anh, em, tui, qua, hai đứa mình, qua một mình, nó, nẫu. Tiếng Việt thật là phong phú!..
Gia Nhân
Sưu tầm
admin
05-03-2006, 12:23 PM
Tiếng Việt Hay Quá
Nguyễn Hữu Nhật
Nhân nói về sự phong phú của tiếng Việt, xin mời các bạn đọc bài Tiếng Việt Hay Quá (http://www.cadaotucngu.com/forum/topic.asp?TOPIC_ID=64) của Nguyễn Hữu Nhật
(...)
Cũng như hai người, trai với gái, có thể vừa nằm vừa ăn, nằm ăn; nhưng nếu ăn-nằm thì họ chẳng ăn chi hết. Ăn nằm lúc này đã sớm trở thành “ngủ”; nhưng trai gái “ngủ với nhau” lại là đang “thức”, vì khi ấy họ đã “ăn ý” với nên coi mọi thứ chẳng “ăn thua” gì, điều đáng kể là cả hai có “ăn nên, làm ra” hay không, họ có “ăn đời ở kiếp”, nghĩa là có sống chung, “ăn ở” với nhau được lâu dài không, chỉ sợ lại “ăn sổi ở thì”; ví như bọn quan lại quen thói “ăn trên, ngồi trốc”, bóc lột người dân tới độ biết bao nhà tan, cửa nát; đã thế, chúng lại còn “ăn như tầm ăn rỗi” và cũng vì không “ăn ngay, ở thật” cho nên chúng thích “ăn ốc nói mò”; ưa “ngồi mát ăn bát vàng” nên chúng thường “ăn hối lộ, ăn của đút”?
(...)
thời thơ ấu học tiếng Việt, làm sao tôi hiểu được “ông ăn chả, bà ăn nem” là “ăn vụng”, ngoại tình, tôi cứ ngỡ thật tình “nem với chả” chỉ là hai món ăn của những ai “ăn đời, ở kiếp” với nhau? Rõ là chữ nghĩa chẳng “ăn khớp”!
xem tiếp nhấn vào đây http://gpnt.net/images/arrow_dyn.gif (http://www.cadaotucngu.com/forum/topic.asp?TOPIC_ID=64)
Cùng một tác giả:
Đạo Làm Người (http://www.viet.no/modules.php?name=News&file=article&sid=953)
Tiếng Việt Hay Quá: Ăn (http://www.viet.no/modules.php?name=News&file=article&sid=1099)
admin
05-03-2006, 12:40 PM
Xưng Hô Với Vợ Chồng (http://www.vietvoice.net/forums/index.php?showtopic=19333):
Tiếng xưng hô với vợ gồm có: em, cưng, mình, bu nó, má, má mày, má nó, má thằng cu, mẹ, mẹ nó, mẹ đĩ, nhà, bà, bà xã, bà nó, ấy, mợ, mợ nó, đằng ấy, v.v.
Tiếng gọi vợ trong khi nói chuyện với người khác gồm có: nhà tôi, bà nhà tôi, má tụi nhỏ, má sắp nhỏ, má bày trẻ, tiện nội, nội tướng tôi, bà xã, bà xã tôi, và vợ tôi, v.v.
Tiếng xưng hô với chồng gồm có: anh, cưng, anh nó, ba, ba nó, bố, bố nó, bố mày, bố thằng cu, đằng ấy, ông xã, cậu, cậu nó, ông, ông nó, cụ, ấy, mình, v.v.
Tiếng gọi chồng trong khi nói chuyện với người khác gồm: nhà tôi, ông nhà tôi, ba tụi nhỏ, ba sắp nhỏ, ba bày nhỏ, phu quân tôi, ông xã, ông xã tôi, chồng tôi, trượng phu tôi, anh ấy, v.v.
Tình vợ chồng người Việt rất đằm thắm, họ yêu nhau với tất cả chân tình, đối đãi với nhau rất lịch sự và tương kính.
Những cặp vợ chồng có giáo dục không bao giờ gọi nhau bằng mày và xưong tao. Họ tìm những lời lẽ dịu dàng đầy tình tứ yêu thương để gọi nhau.
Trích từ: Cách Xưng Hô Bằng Tiếng Việt Áp Dụng Trong Gia Đình (http://www.vietvoice.net/forums/index.php?showtopic=19333)
hoặc có thể xem ở đây (http://www.vuontre.com/forum/forum_posts.asp?TID=1177&PN=1)
admin
05-03-2006, 12:55 PM
Xưng hô vợ chồng
(...) Bạn bè thân mật thì "đằng ấy", "mình", "cậu", "mày", "tớ"," tao" (miền Bắc) hoặc "mi", "bồ", "tui" (Trung, Nam). Vợ chồng gọi nhau là "cậu, mợ", xưng "em" hay "tôi" hoặc "anh, em".
Gia đình cổ kính thì "thầy nó", "bu nó", "ông nó", "bà nó", "mẹ mày", "bố mày", "mình", "nhà" (miền Bắc) hay "đẻ nó", "ba nó", "má nó", "ông nó", "bà nó", "bậu", "qua", "mình"... Chữ "mình" vừa chỉ ngôi thứ nhất, vừa chỉ cả ngôi thứ hai, là tiếng xưng hô âu yếm giữa đôi tình nhân vợ chồng hay thân mật trang nhã giữa đôi bạn thân.
Minh Anh ( Sưu tầm) (http://www.irccsj.com/articles/article.aspx?PageID=4&dirID=86&catID=122&artID=5147)
Xưng hô trong tiếng Việt
(http://www.nhanvan.com/magazines/vanhoc/193/honghuy_xunghotrongtiengviet.htm)
(...) Cuối cùng, xin nhắc tới một phạm vi xưng hô đã có rất nhiều "cách tân". Đó là vợ chồng.
Trước hết, tôi có một thắc mắc, cho đến bây giờ vẫn chưa được giải đáp: Trong tiếng Việt, với tương quan nào, thì tiếng chỉ "người" cũng đồng thời là tiếng để gọi (hô). Chẳng hạn, đối với người cha, thì các con gọi là "cha"; đối với bà mẹ, thì các con gọi là "mẹ"; đối với ông bác, thì các cháu gọi là "bác"; đối với bà mợ, thì các cháu gọi là "mợ". Thế tại sao, trong tương quan "chồng vợ", xưa nay, người vợ không thể gọi chồng mình là "chồng", và người chồng cũng không bao giờ gọi vợ mình là "vợ"? Mà phải thay vào đó không biết bao nhiêu là chữ, có khi rất lạ, không biết do đâu mà có.
Xin nêu một thí dụ cụ thể để nhận ra sự tiện lợi của hai tiếng gọi nhau là "vợ" và "chồng" trong tương quan "chồng vợ": Một đôi vợ chồng trẻ đang đãi tiệc. Trong lúc người chồng đang trò chuyện cùng các bạn ngoài phòng khách, người vợ chạy vào phòng ngủ thay áo, muốn gọi chồng vào giúp. Phải chi, đã quen với chữ "chồng", thì người vợ gọi: Chồng ơi, vào đây giúp em một chút. Tiếng gọi nghe cũng êm, mà lại tránh được lầm lẫn!
Vì từ xưa đã cố tình tránh hai chữ "chồng" và "vợ" trong lúc xưng hô, nên người ta đã nghĩ ra nhiều tiếng "thế vì". Nào là "lão gia", "tướng công", "phu quân"; nào là "ông", "mình", "anh", "cưng"... Nào là "nương tử", "phu nhân"; nào là "bà", "mình", "em", "bậu" ... Đó là những tiếng gọi nhau xưa và nay, giữa vợ chồng.
Nhưng không phải chỉ bao nhiêu đó. Ngày trước, ở những vùng thôn quê, và trong giới bình dân, chồng thường gọi vợ là "mày", và xưng là "tao". Vợ gọi chồng là "ông", và xưng là "tôi". Về già, chữ "mày" được đổi thành "mẹ mày", hoặc "bà". Họ gọi và xưng như vậy rất tự nhiên, và người ngoài nghe cũng không thấy chướng tai.
Còn nói với người khác về vợ mình, chồng mình, thì tiếng xưng cũng rất đa dạng. Xưa nay thông dụng hơn hết, vẫn là chữ "nhà tôi". Ngày xưa, khiêm tốn thì gọi vợ mình là "tiện nội" (người vợ hèn của tôi), là "chuyết kinh" (người vợ vụng về của tôi), là "ngu phụ" (người vợ ngu muội của tôi). Nhưng đối lại, người vợ ngày xưa không vì tự khiêm mà hạ thấp chồng mình theo kiểu như vậy. Tôi đọc sách xưa, chỉ đôi lần gặp chữ "chuyết phu" (người chồng vụng về của tôi).
Mới hơn cả, là chữ "ông xã", "bà xã". Giới trẻ ngày nay dùng hai chữ này để nói với người khác, mà cũng để gọi nhau. Thí dụ:
-Ông xã của tôi đang thất nghiệp;
-Bà xã ơi, bữa nay có muốn đi coi phim không?
Trên kia, tôi nói "không biết do đâu mà có", là có ý đề cập đến chữ "ông xã", "bà xã" này. Thời Pháp thuộc, ở Bắc-kỳ, "xã" là một chức vị thấp hơn các hương chức, nhưng cao hơn bạch đinh, có thể bỏ tiền ra mua, để được miễn một phần sưu dịch. ở Trung-kỳ, "xã" là lý trưởng, hương chức đứng đầu một làng (village). "Ông Xã Năm" là ông lý trưởng thứ năm (thứ trong gia đình). Vậy, chữ "ông xã", "bà xã" trong tương quan chồng vợ ngày nay có liên hệ gì với chữ "xã" ngày trước không?
Hồng Huy
admin
05-03-2006, 01:08 PM
(...) Dĩ nhiên, cái gì cũng có mặt trái và mặt phải của nó. Tôi có người bạn lấy vợ Úc. Một lần, trong câu chuyện, anh buột miệng, nói: “Nghe vợ chồng người Việt Nam gọi nhau bằng anh em, nghe ‘đã’ dễ sợ!” Hồi nhỏ, nghe ba mẹ tôi gọi nhau bằng “mình”, tôi cũng có cảm giác “đã” tương tự. Vợ chồng tôi chưa bao giờ xưng “mình” với nhau, nhưng không hiểu tại sao, tôi cứ bị chữ “mình” ấy ám ảnh mãi. Một lúc nào đó, tôi chợt khám phá ra chữ “mình” ấy chứa đựng trong nó cả một triết lý về tình yêu của người Việt. Chứ còn gì nữa? Chúng ta đều hiểu ý nghĩa đầu tiên của chữ “mình” là bộ phận chính của thân thể. Trong những giờ vạn vật đầu tiên thời tiểu học, chúng ta đã học là thân thể người ta gồm ba phần: đầu, mình và chân tay. “Mình”, chiếm từ cổ xuống mông, là bộ phận lớn nhất của cơ thể, do đó, được đồng nhất với cơ thể: Nói “mình đầy mồ hôi” cũng là nói “cơ thể đầy mồ hôi”. Là toàn bộ cơ thể, “mình” biến thành “tôi”, ngôi thứ nhất số ít. Yêu nhau, khi hai biến thành một, người ta cho cái “mình” ấy cho người mình yêu: “mình” biến thành “em” hay “anh”, ngôi thứ hai số ít. Nhưng khi sự phân biệt giữa ngôi thứ nhất và ngôi thứ hai biến mất, khi “mình với ta tuy hai mà một”, “mình” tự động biến thành “chúng ta”, ngôi thứ nhất số nhiều. Như vậy, nếu dịch sang tiếng Anh, chỉ giới hạn trong phạm vi đại từ nhân xưng, chữ “mình”, tuỳ từng trường hợp, có thể là “I”, có thể là “you” và cũng có thể là “we”. Một chữ: ba ngôi.
Từ những sự biến nghĩa của chữ “mình”, chúng ta có thể loé thấy quan niệm của người Việt Nam về tình yêu và hôn nhân. Theo quan niệm đó, tình yêu không phải chỉ là một sự hoà nhập làm một; hai người yêu nhau không những chỉ thuộc về nhau. Đó là những quan niệm bình thường và quen thuộc ở khắp nơi. Với người Việt Nam, yêu nhau là đem cái chữ “mình” vốn chỉ cơ thể của mình tặng cho người mình yêu, là tự nguyện chuyển nhượng chủ quyền trên thân thể của mình cho người mình yêu, là dâng hiến cái mình của mình cho nhau. Hơn nữa, là biến người mình yêu thành cái “nhà”, thành không gian cư ngụ của mình: chỉ ở đó, người ta tồn tại.
Nguyễn Hưng Quốc, Tiếng Việt Mày, tao, mi, tớ (http://www.tienve.org/home/literature/viewLiterature.do?action=viewArtwork&artworkId=2087)
admin
23-03-2006, 07:24 AM
Xưng hô trong gia đình Việt Nam (http://ttntt.free.fr/daihocheTB/daihocheTB/006dhh2001gtq19.htm)
Nguyễn Đăng Trúc
Reichstett, Pháp
...
Chồng gọi vợ là em, mình; vợ gọi chồng bằng anh, mình. Khi mới quen còn ngượng ngùng thì gọi nhau là đằng ấy. Nhưng khi đã có con cái thì có lúc gọi nhau là ba hay mẹ. Tại một vài nơi ở miền Trung người ta gọi cha hoặc mạ và thêm tên đứa con đầu : chẳng hạn đứa con đầu tên Long thì vợ gọi chồng là cha thằng Long, chồng gọi vợ là mạ thằng Long, và người ngoài xung hô là ôông Long, mụ Long chứ không gọi tên thật ( còn gọi là tên tục ). Người vợ hoặc người chồng nói về người phối ngẫu của mình với người thứ ba bằng nhà tôi.
...
Nguồng: http://ttntt.free.fr
admin
04-05-2006, 12:59 PM
(...)
Ông cha ta rất thâm thuý khi đặt trên môi miệng người chồng gọi vợ là “mình ơi” , và vợ cũng gọi lại chồng là “mình ơi”. Bởi vì chử “mình” vừa thân xác vừa là anh, vừa là em, vừa là chúng ta. Hai tiếng “mình ơi” sao nó “Ngọt như đường cát, mát như đường phèn” , thấm tới lục phủ ngũ tạng, làm chết lịm con tim, đến nỗi vợ chồng không thể nào xa nhau.
(...)
Thiên Phúc, MỘT VỢ MỘT CHỒNG (http://www.tinvui.org/www/modules.php?name=News&file=article&sid=79)
admin
12-08-2009, 06:05 PM
VIII
SỰ HỢP NHẤT NGUYÊN THỦY CỦA NGƯỜI NAM VÀ NGƯỜI NỮ TRONG NHÂN TÍNH
http://www.ubmvgiadinh.org/uploads/pictures/News/thanhocthanxac8.jpg1. «Con người ở một mình thì không tốt» (St 2,18). Những lời này trong sách Sáng thế tạo nên như là khúc nhạc dạo đầu cho câu chuyện kể về sự tạo dựng người đàn bà. Cùng với trình thuật này, ý nghĩa của sự đơn độc nguyên thủy đã biến thành một phần của ý nghĩa của sự hợp nhất nguyên thủy mà điểm chính có lẽ là những lời của Sáng thế 2,24. Đức Kitô đã trưng dẫn đoạn này khi Người nói chuyện với những người Pharisêu: «Người đàn ông sẽ lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai sẽ thành một xương một thịt» (Mt 19,5). Nếu Đức Kitô đã trưng dẫn những lời này khi quy chiếu về «thuở ban đầu», thì cũng hợp lẽ nếu chúng ta làm sáng tỏ ý nghĩa của sự hợp nhất nguyên thủy ấy, một sự hợp nhất có nguồn gốc từ sự kiện con người được tạo dựng có nam có nữ.
Trình thuật của chương thứ nhất sách Sáng thế không biết đến vấn đề đơn độc nguyên thủy của con người. Thật vậy, con người ngay từ ban đầu đã là «nam và nữ». Ngược lại, bản văn yahvit chương hai, cách nào đó, đã cho phép chúng ta trước hết nghĩ tới duy chỉ con người mà thôi; con người , nhờ thân xác, được xét như là thuộc về thế giới hữu hình nhưng lại trổi vượt trên thế giới đó. Rồi kế đến, mới cho ta nghĩ tới cũng chính con người đó với hai giới tính khác biệt. Thân xác và giới tính con người là không hoàn toàn đồng nhất với nhau. Dẫu rằng thân xác con người, theo lẽ thường, mang nơi mình những dấu chỉ của giới tính và tự bản tính của mình là nam hay là nữ, thế nhưng việc con người (là “thân xác”) thuộc về cấu trúc của chủ thể ngã vị sâu xa hơn sự việc con người cũng là nam hay là nữ. Do đó, ý nghĩa của sự đơn độc nguyên thủy, vốn chỉ có thể dành cho «con người», về cơ bản có trước ý nghĩa về sự hợp nhất nguyên thủy. Thật vậy, sự hợp nhất nguyên thủy căn cứ trên sự khác biệt giới tính nam và nữ, như thể đó là hai lối “nhập thể” khác nhau, nghĩa là hai cách “trở thành thân xác” của cùng hữu thể nhân linh được tạo dựng «theo hình ảnh Thiên Chúa» (St 1,27).
2. Khi theo dõi bản văn yahvit, trong đó cuộc tạo dựng người nữ đã được mô tả riêng biệt (St 2,21-22), chúng ta cũng cần phải luôn nhớ đến cái «hình ảnh của Thiên Chúa» của trình thuật tạo dựng thứ nhất. Với ngôn ngữ và văn phong của mình, trình thuật thứ hai có tất cả những đặc tính của một bản văn yahvit. Lối kể chuyện phù hợp với cách suy nghĩ và diễn tả của thời đại đó. Theo triết học tôn giáo và ngôn ngữ hiện nay, người ta có thể nói rằng ngôn ngữ được dùng là một ngôn ngữ huyền thoại. Thực ra, chữ «huyền thoại» ở đây không dùng để chỉ một nội dung thần thoại, nhưng chỉ đơn giản muốn nói đó là một cách cổ xưa để diễn tả một nội dung sâu xa hơn. Bên dưới lớp vỏ câu chuyện cổ xưa ấy, chúng ta không khó khám phá ra một nội dung thật kỳ diệu, về chất lượng cũng như sự súc tích của những chân lí chứa đựng trong đó. Chúng ta nói thêm rằng trình thuật tạo dựng thứ hai về con người có hình thức của một đối thoại giữa con người và Thiên Chúa Tạo Hóa, và điều đó được thể hiện rõ nhất trong giai đoạn mà con người (’ađam) đã dứt khoát được tạo thành là nam là nữ (’ish-’ishsha) [1]. Cuộc tạo dựng được thực hiện gần như đồng thời trong hai chiều kích: hành động Giavê Thiên Chúa sáng tạo diễn ra tương ứng với tiến trình hình thành tâm thức con người.
3. Như thế, Giavê Thiên Chúa phán: «Con người ở một mình thì không tốt. Ta sẽ làm cho nó một trợ tá tương xứng với nó» (St 2,18). Cùng lúc ấy, con người xác nhận mình đơn độc (St 2,20). Kế đó chúng ta đọc thấy: «Đức Chúa là Thiên Chúa cho một giấc ngủ mê ập xuống trên con người, và con người thiếp đi. Rồi Chúa rút một cái xương sườn của con người ra, và lắp thịt thế vào. Đức Chúa là Thiên Chúa lấy cái xương sườn đã rút từ con người ra, làm thành một người đàn bà» (St 2,21-22). Do tính đặc thù của ngôn ngữ, trước hết chúng ta phải công nhận rằng giấc ngủ mê mà sách Sáng thế nói đến khiến ta suy nghĩ rất nhiều; ở đó, bởi tác động của Thiên Chúa Giavê, con người dìm mình vào để chuẩn bị cho một hành động tạo dựng mới. Đối với lối suy nghĩ hiện nay, vốn quen nối kết - qua sự phân tích tiềm thức - nội dung về tính dục với thế giới các giấc mơ, giấc ngủ mê đó có thể khơi lên một liên tưởng đặc biệt [2]. Thế nhưng, trình thuật kinh thánh xem ra vượt trên chiều kích vô thức đó của con người. Nếu chấp nhận có một cách dùng từ vị khác rất ý nghĩa, người ta có thể đi đến kết luận rằng con người (’ađam) chìm sâu vào «giấc ngủ mê» ấy để rồi thức dậy thấy mình là «đàn ông» và là «đàn bà». Thực vậy, đây là lần đầu tiên ở St 2,23 ta gặp phải sự phân biệt ’ish-’ishsha. Bởi thế, ở đây (do loại suy ta có thể nói) giấc ngủ không nhằm chỉ sự chuyển tiếp từ trạng thái tỉnh thức sang vô ý thức cho bằng là sự quay lại tình trạng đặc biệt phi-hiện-hữu (non-essere, non-being) (giấc ngủ tự nó nói lên sự xóa hủy hiện hữu ý thức của con người). Nói cho đúng hơn, nó muốn nói đến tình trạng trước tạo dựng, có nghĩa là, nhờ sáng kiến tạo dựng của Thiên Chúa «con người» đơn độc từ giấc ngủ mê đó có thể xuất hiện trở lại trong tư thế hợp nhất hai người nam và nữ («hai trong một», duplice unità/double unity) [3].
Dù sao đi nữa, nhờ bối cảnh của đoạn St 2,18-20 soi sáng, ta tin chắc rằng con người rơi vào «giấc ngủ mê» trong nỗi khát khao tìm được một hữu thể giống như mình. Nếu ở đây ta cũng có thể nói đến giấc mơ (vì tương tự giấc ngủ), thì phải nói rằng cái nguyên mẫu kinh thánh ấy cho phép ta chấp nhận có một «tự ngã thứ hai» trong giấc mơ đó. Tự ngã ấy cũng là một ngã vị và cũng liên quan tới hoàn cảnh đơn độc nguyên thủy, tức là liên quan tới toàn thể tiến trình ổn định căn tính con người so với toàn thể các sinh vật khác (animalia), xét như là tiến trình «biệt hóa» con người khỏi môi trường xung quanh. Như thế, cái vòng lẩn quẩn đơn độc của con người-nhân vị đã bị phá vỡ, bởi vì từ giấc ngủ mê «con người» đầu tiên thức dậy trở thành «người nam và người nữ».
4. Người đàn bà được tạo dựng «bằng chiếc xương sườn» mà Đức Chúa là Thiên Chúa đã rút ra từ con người. Xét thấy đây là cách thức diễn tả tư tưởng theo lối cổ xưa, bằng cách dùng ẩn dụ và tượng hình, nên chúng ta có thể xác quyết rằng hình ảnh này cốt yếu để nói lên tính đồng nhất toàn thể hữu thể của hai con người, nam và nữ. Tính đồng nhất đó trước hết liên quan tới thân xác, tới cấu trúc xác thể; và còn được xác nhận bởi những lời đầu tiên người đàn ông nói với người đàn bà mới được tạo thành: «Đây là xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi» (St 2,23) [4]. Tuy nhiên, những lời đó cũng nói đến nhân tính của người đàn ông. Cần đọc những lời đó trong bối cảnh những khẳng định trước khi sáng tạo người phụ nữ, ở đó người nữ được xác định như «trợ tá tương xứng của người nam» cho dẫu chưa có «sự nhập thể»[1] (http://www.ubmvgiadinh.org/?open=contents&display=2&id=425#_ftn1) của người nam (x. St 2,18 và 2,20) [5]. Và như thế, người phụ nữ theo một nghĩa nào đó được tạo dựng trên cùng nền tảng nhân tính đó. Dù có khác biệt về giới tính, nhưng sự đồng nhất về xác thể là quá hiển nhiên vì khi tỉnh dậy từ giấc ngủ tạo dựng con người nói lên điều đó ngay lập tức: «Này đây, đây là xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi! Nàng sẽ được gọi là đàn bà, vì đã được rút từ đàn ông ra» (St 2,23). Như thế, đó là lần đầu tiên con người (đàn ông) tỏ lộ niềm vui sướng và cả sự phấn khởi mà trước đó con người không hề có bởi thiếu một con người (khác) giống như mình. Niềm hoan lạc vì một con người khác, vì một «tự ngã» thứ hai, thống lĩnh mọi lời con người (đàn ông) ấy thốt ra khi nhìn thấy người đàn bà. Tất cả những điều ấy giúp chúng ta hiểu ý nghĩa trọn vẹn của sự hợp nhất nguyên thủy. Ít lời, nhưng lời nào lời nấy đều có sức nặng của nó. Thế nên, chúng ta còn phải xét đến sự kiện người đàn bà đầu tiên đó, kẻ «được tạo dựng từ chiếc xương sườn được rút ra từ người đàn ông», được đón nhận ngay lập tức như người trợ tá xứng hợp cho người đàn ông.
Chúng ta sẽ còn quay lại chủ đề này, nghĩa là về ý nghĩa của sự hợp nhất nguyên thủy của người nam và người nữ trong nhân tính, trong lần tới.
------------
[1] Chữ ’ađam trong tiếng Do thái cổ diễn tả ý niệm tập thể là loài người, có nghĩa là chỉ con người đại diện cho nhân loại (Kinh Thánh xác định một cá nhân khi dùng thành ngữ ben-’ađam (con của con người). Còn cặp từ đối nghĩa ’ish-’ishsha nhấn mạnh sự khác biệt giới tính (như tiếng hy lạp aner-gyne).
Sau khi tạo dựng người đàn bà, bản văn kinh thánh tiếp tục gọi người đàn ông đầu tiên là ’ađam (với trợ từ xác định), như thế là muốn diễn tả “ngã vị tính với thân xác” của ông, vì ông trở thành «cha của nhân loại», là tổ tiên và là đại biểu của loài người, cũng như về sau Abraham được nhìn nhận như là «cha của kẻ tin» và Giacóp được đồng nhất với Israel-Dân được tuyển chọn.
[2] Giấc ngủ mê của Ađam (tiếng Do thái cổ là tardemah) là một giấc ngủ sâu (latinh: sopor; tiếng Anh: sleep), một giâc ngủ li bì và không mộng mị (Kinh thánh dùng một từ ngữ khác để diễn tả mộng mị: halom; St 15,12 và 1Sm 26,12).
Về phần Freud, ngược lại, ông đã nghiên cứu nội dung các giấc mơ (latinh: somnium; tiếng Anh: dream), mà theo ông, được cấu thành bởi những yếu tố tâm lí «bị dồn nén vào tiềm thức», chúng giúp ta thấy được nội dung của vùng vô thức trỗi hiện, nội dung ấy xét cho cùng đều luôn liên hệ đến tính dục.
Ý tưởng đó về tự nhiên là hoàn toàn xa lạ với với tác giả kinh thánh.
Trong thần học của tác giả yahvit, giấc ngủ mê Thiên Chúa gây ra cho người đàn ông đầu tiên muốn nhấn mạnh ý tưởng này, đó là: chỉ một mình Thiên Chúa hành động trong cuộc sáng tạo người đàn bà; người đàn ông không hề tham gia chút nào vào công trình ấy cách ý thức. Thiên Chúa dùng «chiếc xương sườn» của ông chỉ để lưu ý người nam và người nữ có cùng một bản tính.
[3] Tardemah (tiếng Ý: “torpore”, tiếng Anh: “sleep”) là từ ngữ trong Kinh thánh xuất hiện khi phải xảy ra những biến cố ngoại thường trong lúc người ta đang ngủ hay ngay sau khi thức dậy (x. St 15,12; 1Sm 26,12; Is 29,10; G 4,13; 33,15).
Trong sách Ngũ Thư chữ tardemah còn xuất hiện một lần nữa trong một hoàn cảnh kỳ bí: Abram, theo mệnh lệnh của Chúa, chuẩn bị một lễ hy tế gồm các con vật và đuổi các mãnh cầm đi: «Lúc mặt trời gần lặn, thì một giấc ngủ mê ập xuống trên ông Abram; một nỗi kinh hoàng, một bóng tối dày đặc bỗng ập xuống trên ông…» (St 15,12). Chính lúc ấy Thiên Chúa bắt đầu phán và ký kết với ông một giao ước, đó là cao điểm của mạc khải cho Abraham.
Cảnh tượng ấy về mặt nào đó hao hao với cảnh trong vườn Giêtsêmani: Đức Giêsu «bắt đầu cảm thấy hãi hùng và xao xuyến…» (Mc 14,33) và Người thấy các Tông đồ «đang ngủ vì buồn phiền» (Lc 22,45).
Tác giả Kinh thánh thừa nhận ở trong con người đầu tiên có một cảm giác như thiếu vắng và cô độc («con người ở một mình thì không tốt»; «con người không tìm được cho mình một trợ tá tương xứng»), và có lẽ cả sự sợ hãi. Phải chăng tình trạng này là nguyên nhân gây ra «giấc ngủ vì buồn chán», hoặc có lẽ, như nơi Abraham, bởi«một nỗi kinh hoàng, bóng tối dầy đặc» của phi-hiện-hữu ập xuống; như ở thềm của công trình sáng tạo: «Đất còn trống rỗng, chưa có hình dạng, bóng tối bao trùm vực thẳm» (St 1,2).
Dù sao đi nữa, theo cả hai bản văn, ở đó sách Ngũ Thư hay đúng hơn sách Sáng Thế nói về giấc ngủ sâu (tardemah), đều có xảy ra một hành động đặc biệt của Thiên Chúa, tức là «giao ước» mang theo hệ lụy cho toàn thể lịch sử cứu độ, đó là: Ađam khởi đầu nhân loại, Abraham khởi đầu Dân Tuyển Chọn.
[4] Có điều thú vị đáng lưu ý là đối với những người Sumer cổ ký tự hình nêm (cuneiforme) để diễn tả «xương sườn» thì giống như ký tự diễn tả «sự sống». Kế đến, về trình thuật yavit, theo một số chú giải đoạn St 2,21, Thiên Chúa đã đắp thịt vào cái xương sườn đã lấy ra (chứ không phải lấp thịt chỗ đó lại), và như thế đó Ngài «tạo thành» người đàn bà, bởi thế, nguồn gốc của người đàn bà là từ «xương và thịt» con người đầu tiên (người đàn ông).
Trong ngôn ngữ Kinh Thánh, đó là một định nghĩa của đồng huyết tộc (cùng dòng máu) hay đồng cốt nhục (cùng dòng họ, từ cùng một xương một thịt) (ví dụ xem St 29,14). Điều đó có nghĩa là người đàn bà là đồng loại với người đàn ông, đồng thời cũng khác biệt các sinh vật khác đã được tạo dựng trước đó.
Trong nhân học Thánh Kinh “xương” biểu thị một yếu tố rất quan trọng của thân xác. Nhưng bởi vì, đối với người Do thái “xác” và “hồn” vốn không được phân biệt rõ ràng (xác được coi như sự biểu lộ ra bên ngoài của một nhân cách), “xương” chỉ đơn giản có nghĩa, bởi hoán dụ (synecdoche), là con người (ví dụ xem Tv 139,15: «Xương cốt con, Người không lạ lẫm gì».
Bởi thế, «xương bởi xương tôi» có thể được hiểu, theo nghĩa tương quan, như là «con người bởi con người tôi». «Thịt bởi thịt tôi» có nghĩa là người phụ nữ cũng có một nhân cách, dẫu khác về đặc điểm thể lí, như người đàn ông.
Trong “bài ca hôn lễ” của người đàn ông đầu tiên, câu «xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi» ở thể so sánh tuyệt đối, và lại còn được nhấn mạnh bởi ba chữ «này» (phen «này», cô «này», thịt «này»; trong tiếng Ý bởi ba từ «questa», «essa», «la»).
[5] Thật khó dịch cho chính xác thành ngữ tiếng do thái ’ezer kenegdô. Người ta dịch khác nhau trong các thứ tiếng châu âu. Ví dụ như: trong tiếng Latinh được dịch là «adiutorium ei conveniens sicut oportebat iuxta eum»; tiếng Đức «eine Hilfe…die ihm entspricht»; tiếng Pháp «égal vis-à-vis de lui»; tiếng Ý «un aiuto che gli sia simile»; tiếng Tây Ban Nha «como él que le avude»; tiếng Anh «a helper fit for him»; tiếng BaLan «odopowicdnia all niego pomoc».
Bởi vì, chữ «trợ tá» (adiutorium) có vẻ như gợi lên ý niệm «bổ túc» hoặc đúng hơn, «rất phù hợp», còn chữ «tương xứng» nối kết nhiều hơn với khái niệm «tương tự», nhưng có nghĩa khác với việc con người giống (họa ảnh) Thiên Chúa.
Louis Nguyễn Anh Tuấn chuyển dịch
http://www.ubmvgiadinh.org/?open=contents&display=2&id=425 (http://www.ubmvgiadinh.org/?open=contents&display=2&id=425)
vBulletin v3.5.2, Copyright ©2000-2012, Jelsoft Enterprises Ltd.