admin
02-03-2006, 07:19 PM
Thứ Tư, ngày 14 tháng 11 năm 1979
9. Qua sự hiệp thông nhân vị, con người trở thành hình ảnh của Thiên Chúa
Qua câu chuyện kể của Sách Sáng Thế, chúng ta đã thấy con người được sáng tạo “dứt điểm” trong cuộc tạo dựng nên sự đơn nhất của hai hữu thể. Sự đơn nhất của hai hữu thể này biểu thị trước tiên sự duy nhất của bản tính nhân loại; trong khi, tính kép đôi của hai hữu thể biểu thị những gì làm nên nam và nữ của con người thụ tạo dựa trên căn bản của sự duy nhất ấy. Chiều kích hữu thể học này của tính đơn nhất và tính kép đôi đồng thời còn mang một ý nghĩa giá trị luận. Từ đoạn Sách Sáng Thế 2,23 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 2:23&FontSize=Txt10) và theo toàn ngữ cảnh, người ta thấy rõ ràng con người được tạo dựng như là một giá trị đặc biệt trước mặt Thiên Chúa. “Thiên Chúa thấy mọi sự Người đã làm ra quả là rất tốt đẹp!” (St 1,31 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 1:31&FontSize=Txt10)) Nhưng con người cũng được tạo dựng như một giá trị cho chính con người – trước tiên, vì con người là người; thứ đến người nữ là cho người nam, và ngược lại, người nam là cho người nữ.
Trong khi chương đầu của Sách Sáng Thế diễn tả giá trị này theo một thể thức thuần tuý thần học (và cách gián tiếp dưới một dạng hữu thể luận), thì mặt khác, chương hai có thể nói được là biểu lộ chu kỳ đầu tiên của kinh nghiệm được con người, xét như là giá trị, từng sống qua. Kinh nghiệm này đã được ghi khắc trong ý nghĩa của sự đơn độc nguyên thuỷ, và sau đó trong toàn câu chuyện sáng tạo con người có nam có nữ. Đoạn văn cô đọng ở Sách Sáng Thế 2,23 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 2:23&FontSize=Txt10) ghi lại lời người nam đầu tiên thốt lên khi thấy người nữ được tạo dựng, “được rút từ mình ra” có thể được coi như là nguyên mẫu kinh thánh của sách Diễm ca. Và một khi có thể đọc được những ấn tượng và xúc cảm qua những từ ngữ với thời gian quá cách xa nhau như thế, người ta có thể đánh bạo mà cho rằng nét sâu sắc và ấn tượng mạnh đầu tiên và “độc đáo” của con-người-nam trước sự hiện diện của con-người-nữ, và cùng lúc trước sự hiện diện của nữ tính nơi con người kia, là một điều gì độc nhất và bất khả tái diễn.
Như thế ý nghĩa của sự đơn nhất nguyên thuỷ của con người, qua giới tính nam và nữ, được biểu thị như là sự vượt quá lằn ranh của sự đơn độc. Đồng thời đó là sự khẳng định – đối với hai hữu thể nhân loại ấy - tất cả những gì cấu tạo nên con người trong sự đơn độc. Trong câu chuyện kể Kinh Thánh, sự đơn độc là lối dẫn tới sự đơn nhất mà, theo Công đồng Vaticanô II, chúng ta có thể định nghĩa như là sự hiệp thông các nhân vị.[1] (http://www.gpnt.net/diendan/newthread.php?do=newthread&f=28#_ftn1)
Như chúng ta đã đề cập đến trước đây, trong sự đơn độc nguyên thuỷ của mình, con người thủ đắc được ý thức về nhân vị qua tiến trình phân biệt mình với mọi sinh vật (animalia) khác. Đồng thời trong sự đơn độc này, con người mở rộng mình đón nhận một hữu thể khác giống như mình, được Sách Sáng Thế (2,18.20 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 2:18,20&FontSize=Txt10)) định nghĩa như là: “một trợ tá tương xứng với nó”. Việc cởi mở ấy cũng không kém phần quyết định đối với nhân vị con người; thực ra, có lẽ việc cởi mở ấy còn quyết liệt hơn việc tự phân biệt mình. Câu chuyện kể thuộc truyền thống Giavê (Y), trình bày sự đơn độc của con người cho chúng ta không chỉ như là việc khám phá đầu tiên tính chất siêu việt độc đáo và cá biệt của nhân vị, mà còn trình bày sự đơn độc ấy như là việc khám phá ra cái tương quan xứng hợp “với” nhân vị, và vì thế, như là một sự mở ra và mong đợi một “hiệp thông các nhân vị”.
Từ “cộng đồng” đã có thể được dùng ở đây, nếu như nó không khái quát và nếu như nó không có quá nhiều nghĩa khác nữa. Từ “hiệp thông” (communio) diễn tả được nhiều hơn, chính xác hơn, vì nó nhắm thẳng vào sự “trợ giúp”, đã phát sinh, theo một nghĩa nào đó, từ chính sự kiện hiện hữu như một nhân vị “bên cạnh” một nhân vị. Trong câu chuyện kể Kinh Thánh, sự kiện này trở thành eo ipso - tự tại – nhân vị hiện hữu “cho” nhân vị, vì con người trong sự đơn độc nguyên thuỷ, một cách nào đó, đã ở trong mối tương giao này rồi. Điều này đã được chính sự đơn độc khẳng định, theo một nghĩa tiêu cực.
Hơn thế nữa, sự hiệp thông các nhân vị chỉ thành hình dựa trên “sự đơn độc kép đôi” của người nam và người nữ, nghĩa là, khi họ gặp nhau đang lúc thấy mình khác biệt với thế giới các sinh vật (animalia) khác, điều đó đã cho cả hai khả năng hiện hữu và tồn tại trong một mối hỗ tương đặc biệt. Khái niệm “trợ giúp” cũng nói lên tính hỗ tương trong hiện hữu, mà không sinh vật nào khác có thể chu tất được. Tất cả những gì tạo thành nền tảng cho sự đơn độc riêng của mỗi người, đều thật cần thiết cho tính hỗ tương ấy. Hiểu biết về mình và tự xác định, nghĩa là tư cách chủ thể và sự ý thức về ý nghĩa của chính thân xác mình, cũng thật tuyệt đối cần thiết vậy.
Trong chương đầu tiên, câu chuyện về cuộc tạo dựng con người khẳng định trực tiếp ngay từ đầu, rằng con người được tạo dựng có nam có nữ theo hình ảnh Thiên Chúa. Nhưng chuyện kể ở chương hai lại không nói đến “hình ảnh Thiên Chúa”, mà theo cách của riêng mình cho thấy rằng việc tạo dựng con người (trước tiên phải gánh chịu sự đơn độc nguyên thuỷ) cách trọn vẹn và “dứt khoát” được diễn tả qua việc ban sự sống cho sự hiệp thông các nhân vị, do người nam và người nữ tạo nên. Như thế, câu chuyện thuộc truyền thống Giavê thuận ý với nội dung của câu chuyện thứ nhất.
Ngược lại, nếu chúng ta cũng muốn rút từ câu chuyện thuộc truyền thống Giavê ý niệm “hình ảnh Thiên Chúa,” chúng ta có thể suy diễn rằng con người trở thành “hình ảnh và giống” Thiên Chúa không chỉ qua nhân tính của mình, mà còn qua sự hiệp thông các nhân vị mà người nam và người nữ hợp thành ngay từ lúc ban đầu. Chức năng của hình ảnh là phản ánh người mẫu, là tái tạo nguyên mẫu của mình. Con người trở nên hình ảnh của Thiên Chúa không phải vào lúc đơn độc cho bằng là vào lúc hiệp thông. Ngay “từ thuở ban đầu”, con người không chỉ là một hình ảnh phản ánh sự đơn độc của một nhân vị quản cai thế giới, mà còn, và tự bản chất là, hình ảnh của sự hiệp thông thần thiêng khôn tả của các nhân vị.
http://gpnt.net/images/arrow_dyn.gif
Nhóm Tâm Biển
9. Qua sự hiệp thông nhân vị, con người trở thành hình ảnh của Thiên Chúa
Qua câu chuyện kể của Sách Sáng Thế, chúng ta đã thấy con người được sáng tạo “dứt điểm” trong cuộc tạo dựng nên sự đơn nhất của hai hữu thể. Sự đơn nhất của hai hữu thể này biểu thị trước tiên sự duy nhất của bản tính nhân loại; trong khi, tính kép đôi của hai hữu thể biểu thị những gì làm nên nam và nữ của con người thụ tạo dựa trên căn bản của sự duy nhất ấy. Chiều kích hữu thể học này của tính đơn nhất và tính kép đôi đồng thời còn mang một ý nghĩa giá trị luận. Từ đoạn Sách Sáng Thế 2,23 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 2:23&FontSize=Txt10) và theo toàn ngữ cảnh, người ta thấy rõ ràng con người được tạo dựng như là một giá trị đặc biệt trước mặt Thiên Chúa. “Thiên Chúa thấy mọi sự Người đã làm ra quả là rất tốt đẹp!” (St 1,31 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 1:31&FontSize=Txt10)) Nhưng con người cũng được tạo dựng như một giá trị cho chính con người – trước tiên, vì con người là người; thứ đến người nữ là cho người nam, và ngược lại, người nam là cho người nữ.
Trong khi chương đầu của Sách Sáng Thế diễn tả giá trị này theo một thể thức thuần tuý thần học (và cách gián tiếp dưới một dạng hữu thể luận), thì mặt khác, chương hai có thể nói được là biểu lộ chu kỳ đầu tiên của kinh nghiệm được con người, xét như là giá trị, từng sống qua. Kinh nghiệm này đã được ghi khắc trong ý nghĩa của sự đơn độc nguyên thuỷ, và sau đó trong toàn câu chuyện sáng tạo con người có nam có nữ. Đoạn văn cô đọng ở Sách Sáng Thế 2,23 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 2:23&FontSize=Txt10) ghi lại lời người nam đầu tiên thốt lên khi thấy người nữ được tạo dựng, “được rút từ mình ra” có thể được coi như là nguyên mẫu kinh thánh của sách Diễm ca. Và một khi có thể đọc được những ấn tượng và xúc cảm qua những từ ngữ với thời gian quá cách xa nhau như thế, người ta có thể đánh bạo mà cho rằng nét sâu sắc và ấn tượng mạnh đầu tiên và “độc đáo” của con-người-nam trước sự hiện diện của con-người-nữ, và cùng lúc trước sự hiện diện của nữ tính nơi con người kia, là một điều gì độc nhất và bất khả tái diễn.
Như thế ý nghĩa của sự đơn nhất nguyên thuỷ của con người, qua giới tính nam và nữ, được biểu thị như là sự vượt quá lằn ranh của sự đơn độc. Đồng thời đó là sự khẳng định – đối với hai hữu thể nhân loại ấy - tất cả những gì cấu tạo nên con người trong sự đơn độc. Trong câu chuyện kể Kinh Thánh, sự đơn độc là lối dẫn tới sự đơn nhất mà, theo Công đồng Vaticanô II, chúng ta có thể định nghĩa như là sự hiệp thông các nhân vị.[1] (http://www.gpnt.net/diendan/newthread.php?do=newthread&f=28#_ftn1)
Như chúng ta đã đề cập đến trước đây, trong sự đơn độc nguyên thuỷ của mình, con người thủ đắc được ý thức về nhân vị qua tiến trình phân biệt mình với mọi sinh vật (animalia) khác. Đồng thời trong sự đơn độc này, con người mở rộng mình đón nhận một hữu thể khác giống như mình, được Sách Sáng Thế (2,18.20 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 2:18,20&FontSize=Txt10)) định nghĩa như là: “một trợ tá tương xứng với nó”. Việc cởi mở ấy cũng không kém phần quyết định đối với nhân vị con người; thực ra, có lẽ việc cởi mở ấy còn quyết liệt hơn việc tự phân biệt mình. Câu chuyện kể thuộc truyền thống Giavê (Y), trình bày sự đơn độc của con người cho chúng ta không chỉ như là việc khám phá đầu tiên tính chất siêu việt độc đáo và cá biệt của nhân vị, mà còn trình bày sự đơn độc ấy như là việc khám phá ra cái tương quan xứng hợp “với” nhân vị, và vì thế, như là một sự mở ra và mong đợi một “hiệp thông các nhân vị”.
Từ “cộng đồng” đã có thể được dùng ở đây, nếu như nó không khái quát và nếu như nó không có quá nhiều nghĩa khác nữa. Từ “hiệp thông” (communio) diễn tả được nhiều hơn, chính xác hơn, vì nó nhắm thẳng vào sự “trợ giúp”, đã phát sinh, theo một nghĩa nào đó, từ chính sự kiện hiện hữu như một nhân vị “bên cạnh” một nhân vị. Trong câu chuyện kể Kinh Thánh, sự kiện này trở thành eo ipso - tự tại – nhân vị hiện hữu “cho” nhân vị, vì con người trong sự đơn độc nguyên thuỷ, một cách nào đó, đã ở trong mối tương giao này rồi. Điều này đã được chính sự đơn độc khẳng định, theo một nghĩa tiêu cực.
Hơn thế nữa, sự hiệp thông các nhân vị chỉ thành hình dựa trên “sự đơn độc kép đôi” của người nam và người nữ, nghĩa là, khi họ gặp nhau đang lúc thấy mình khác biệt với thế giới các sinh vật (animalia) khác, điều đó đã cho cả hai khả năng hiện hữu và tồn tại trong một mối hỗ tương đặc biệt. Khái niệm “trợ giúp” cũng nói lên tính hỗ tương trong hiện hữu, mà không sinh vật nào khác có thể chu tất được. Tất cả những gì tạo thành nền tảng cho sự đơn độc riêng của mỗi người, đều thật cần thiết cho tính hỗ tương ấy. Hiểu biết về mình và tự xác định, nghĩa là tư cách chủ thể và sự ý thức về ý nghĩa của chính thân xác mình, cũng thật tuyệt đối cần thiết vậy.
Trong chương đầu tiên, câu chuyện về cuộc tạo dựng con người khẳng định trực tiếp ngay từ đầu, rằng con người được tạo dựng có nam có nữ theo hình ảnh Thiên Chúa. Nhưng chuyện kể ở chương hai lại không nói đến “hình ảnh Thiên Chúa”, mà theo cách của riêng mình cho thấy rằng việc tạo dựng con người (trước tiên phải gánh chịu sự đơn độc nguyên thuỷ) cách trọn vẹn và “dứt khoát” được diễn tả qua việc ban sự sống cho sự hiệp thông các nhân vị, do người nam và người nữ tạo nên. Như thế, câu chuyện thuộc truyền thống Giavê thuận ý với nội dung của câu chuyện thứ nhất.
Ngược lại, nếu chúng ta cũng muốn rút từ câu chuyện thuộc truyền thống Giavê ý niệm “hình ảnh Thiên Chúa,” chúng ta có thể suy diễn rằng con người trở thành “hình ảnh và giống” Thiên Chúa không chỉ qua nhân tính của mình, mà còn qua sự hiệp thông các nhân vị mà người nam và người nữ hợp thành ngay từ lúc ban đầu. Chức năng của hình ảnh là phản ánh người mẫu, là tái tạo nguyên mẫu của mình. Con người trở nên hình ảnh của Thiên Chúa không phải vào lúc đơn độc cho bằng là vào lúc hiệp thông. Ngay “từ thuở ban đầu”, con người không chỉ là một hình ảnh phản ánh sự đơn độc của một nhân vị quản cai thế giới, mà còn, và tự bản chất là, hình ảnh của sự hiệp thông thần thiêng khôn tả của các nhân vị.
http://gpnt.net/images/arrow_dyn.gif
Nhóm Tâm Biển