PDA

View Full Version : Phần I. Bài 9. Qua sự hiệp thông nhân vị, con người trở thành hình ảnh của Thiên Chúa


admin
02-03-2006, 07:19 PM
Thứ Tư, ngày 14 tháng 11 năm 1979


9. Qua sự hiệp thông nhân vị, con người trở thành hình ảnh của Thiên Chúa

Qua câu chuyện kể của Sách Sáng Thế, chúng ta đã thấy con người được sáng tạo “dứt điểm” trong cuộc tạo dựng nên sự đơn nhất của hai hữu thể. Sự đơn nhất của hai hữu thể này biểu thị trước tiên sự duy nhất của bản tính nhân loại; trong khi, tính kép đôi của hai hữu thể biểu thị những gì làm nên nam và nữ của con người thụ tạo dựa trên căn bản của sự duy nhất ấy. Chiều kích hữu thể học này của tính đơn nhất và tính kép đôi đồng thời còn mang một ý nghĩa giá trị luận. Từ đoạn Sách Sáng Thế 2,23 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 2:23&FontSize=Txt10) và theo toàn ngữ cảnh, người ta thấy rõ ràng con người được tạo dựng như là một giá trị đặc biệt trước mặt Thiên Chúa. “Thiên Chúa thấy mọi sự Người đã làm ra quả là rất tốt đẹp!” (St 1,31 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 1:31&FontSize=Txt10)) Nhưng con người cũng được tạo dựng như một giá trị cho chính con người – trước tiên, vì con người là người; thứ đến người nữ là cho người nam, và ngược lại, người nam là cho người nữ.

Trong khi chương đầu của Sách Sáng Thế diễn tả giá trị này theo một thể thức thuần tuý thần học (và cách gián tiếp dưới một dạng hữu thể luận), thì mặt khác, chương hai có thể nói được là biểu lộ chu kỳ đầu tiên của kinh nghiệm được con người, xét như là giá trị, từng sống qua. Kinh nghiệm này đã được ghi khắc trong ý nghĩa của sự đơn độc nguyên thuỷ, và sau đó trong toàn câu chuyện sáng tạo con người có nam có nữ. Đoạn văn cô đọng ở Sách Sáng Thế 2,23 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 2:23&FontSize=Txt10) ghi lại lời người nam đầu tiên thốt lên khi thấy người nữ được tạo dựng, “được rút từ mình ra” có thể được coi như là nguyên mẫu kinh thánh của sách Diễm ca. Và một khi có thể đọc được những ấn tượng và xúc cảm qua những từ ngữ với thời gian quá cách xa nhau như thế, người ta có thể đánh bạo mà cho rằng nét sâu sắc và ấn tượng mạnh đầu tiên và “độc đáo” của con-người-nam trước sự hiện diện của con-người-nữ, và cùng lúc trước sự hiện diện của nữ tính nơi con người kia, là một điều gì độc nhất và bất khả tái diễn.

Như thế ý nghĩa của sự đơn nhất nguyên thuỷ của con người, qua giới tính nam và nữ, được biểu thị như là sự vượt quá lằn ranh của sự đơn độc. Đồng thời đó là sự khẳng định – đối với hai hữu thể nhân loại ấy - tất cả những gì cấu tạo nên con người trong sự đơn độc. Trong câu chuyện kể Kinh Thánh, sự đơn độc là lối dẫn tới sự đơn nhất mà, theo Công đồng Vaticanô II, chúng ta có thể định nghĩa như là sự hiệp thông các nhân vị.[1] (http://www.gpnt.net/diendan/newthread.php?do=newthread&f=28#_ftn1)

Như chúng ta đã đề cập đến trước đây, trong sự đơn độc nguyên thuỷ của mình, con người thủ đắc được ý thức về nhân vị qua tiến trình phân biệt mình với mọi sinh vật (animalia) khác. Đồng thời trong sự đơn độc này, con người mở rộng mình đón nhận một hữu thể khác giống như mình, được Sách Sáng Thế (2,18.20 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 2:18,20&FontSize=Txt10)) định nghĩa như là: “một trợ tá tương xứng với nó”. Việc cởi mở ấy cũng không kém phần quyết định đối với nhân vị con người; thực ra, có lẽ việc cởi mở ấy còn quyết liệt hơn việc tự phân biệt mình. Câu chuyện kể thuộc truyền thống Giavê (Y), trình bày sự đơn độc của con người cho chúng ta không chỉ như là việc khám phá đầu tiên tính chất siêu việt độc đáo và cá biệt của nhân vị, mà còn trình bày sự đơn độc ấy như là việc khám phá ra cái tương quan xứng hợp “với” nhân vị, và vì thế, như là một sự mở ra và mong đợi một “hiệp thông các nhân vị”.

Từ “cộng đồng” đã có thể được dùng ở đây, nếu như nó không khái quát và nếu như nó không có quá nhiều nghĩa khác nữa. Từ “hiệp thông” (communio) diễn tả được nhiều hơn, chính xác hơn, vì nó nhắm thẳng vào sự “trợ giúp”, đã phát sinh, theo một nghĩa nào đó, từ chính sự kiện hiện hữu như một nhân vị “bên cạnh” một nhân vị. Trong câu chuyện kể Kinh Thánh, sự kiện này trở thành eo ipso - tự tại – nhân vị hiện hữu “cho” nhân vị, vì con người trong sự đơn độc nguyên thuỷ, một cách nào đó, đã ở trong mối tương giao này rồi. Điều này đã được chính sự đơn độc khẳng định, theo một nghĩa tiêu cực.

Hơn thế nữa, sự hiệp thông các nhân vị chỉ thành hình dựa trên “sự đơn độc kép đôi” của người nam và người nữ, nghĩa là, khi họ gặp nhau đang lúc thấy mình khác biệt với thế giới các sinh vật (animalia) khác, điều đó đã cho cả hai khả năng hiện hữu và tồn tại trong một mối hỗ tương đặc biệt. Khái niệm “trợ giúp” cũng nói lên tính hỗ tương trong hiện hữu, mà không sinh vật nào khác có thể chu tất được. Tất cả những gì tạo thành nền tảng cho sự đơn độc riêng của mỗi người, đều thật cần thiết cho tính hỗ tương ấy. Hiểu biết về mình và tự xác định, nghĩa là tư cách chủ thể và sự ý thức về ý nghĩa của chính thân xác mình, cũng thật tuyệt đối cần thiết vậy.

Trong chương đầu tiên, câu chuyện về cuộc tạo dựng con người khẳng định trực tiếp ngay từ đầu, rằng con người được tạo dựng có nam có nữ theo hình ảnh Thiên Chúa. Nhưng chuyện kể ở chương hai lại không nói đến “hình ảnh Thiên Chúa”, mà theo cách của riêng mình cho thấy rằng việc tạo dựng con người (trước tiên phải gánh chịu sự đơn độc nguyên thuỷ) cách trọn vẹn và “dứt khoát” được diễn tả qua việc ban sự sống cho sự hiệp thông các nhân vị, do người nam và người nữ tạo nên. Như thế, câu chuyện thuộc truyền thống Giavê thuận ý với nội dung của câu chuyện thứ nhất.

Ngược lại, nếu chúng ta cũng muốn rút từ câu chuyện thuộc truyền thống Giavê ý niệm “hình ảnh Thiên Chúa,” chúng ta có thể suy diễn rằng con người trở thành “hình ảnh và giống” Thiên Chúa không chỉ qua nhân tính của mình, mà còn qua sự hiệp thông các nhân vị mà người nam và người nữ hợp thành ngay từ lúc ban đầu. Chức năng của hình ảnh là phản ánh người mẫu, là tái tạo nguyên mẫu của mình. Con người trở nên hình ảnh của Thiên Chúa không phải vào lúc đơn độc cho bằng là vào lúc hiệp thông. Ngay “từ thuở ban đầu”, con người không chỉ là một hình ảnh phản ánh sự đơn độc của một nhân vị quản cai thế giới, mà còn, và tự bản chất là, hình ảnh của sự hiệp thông thần thiêng khôn tả của các nhân vị.

http://gpnt.net/images/arrow_dyn.gif

Nhóm Tâm Biển

admin
02-03-2006, 07:20 PM
Như thế, câu chuyện kể thứ hai có thể chuẩn bị giúp hiểu ý niệm Tam vị của “hình ảnh Thiên Chúa”, tuy khái niệm hình ảnh này chỉ xuất hiện trong câu chuyện thứ nhất. Rõ ràng điều này không phải là không có ý nghĩa đối với nền thần học về thân xác. Có lẽ nó tạo thành khía cạnh thần học sâu xa nhất của những gì có thể nói về con người. Trong mầu nhiệm sáng tạo – trên nền tảng của sự đơn độc nguyên thuỷ cấu thành hữu thể mình, con người được phú cho một sự đơn nhất sâu xa giữa cái làm nên nam tính nơi chính bản thân mình, rất là người và qua thân xác, và cái làm nên nữ tính nơi chính mình, cũng rất là người ngang bằng nhau và qua thân xác. Tuôn xuống trên mọi điều ấy, ngay từ thuở ban đầu, đã có lời chúc phong nhiêu có gốc gác, kết nối với sự sinh sản của con người (x. St 1,28 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 1:28&FontSize=Txt10))

Như thế, chúng ta hầu như đang ở ngay chính trọng tâm của thực tại nhân loại học có tên là “thân xác”. Câu St 2,23 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 2:23&FontSize=Txt10) lần đầu tiên đề cập trực tiếp đến nó qua những lời: “xương bởi xương tôi và thịt bởi thịt tôi”. Người nam thốt lên những lời này, như thể là chỉ khi nhìn thấy người nữ, thì người nam mới có thể nhận diện và gọi đích danh cái mà làm cho họ nên giống nhau, và đồng thời cũng biểu thị nhân tính.

Dưới ánh sáng của đoạn phân tích trên về mọi “thân xác” con người đã tiếp xúc và định nghĩa, bằng cách đặt cho chúng tên để gọi (animalia), thì cách nói “thịt bởi thịt tôi” mang đích xác ý nghĩa này: thân xác biểu lộ con người. Công thức cô đọng này đã chứa đựng tất cả những gì mà khoa học con người có thể nói về cấu trúc thân xác xét như là cơ thể, về sự linh hoạt, và về sinh lý học tính dục đặc biệt của nó... Công thức đầu tiên của con người, “thịt bởi thịt tôi,” cũng hàm chứa một quy chiếu về điều khiến cho thân xác ấy thực sự là người. Vì thế nó nói lên điều xác định con người là một nhân vị, nghĩa là, như một hữu thể, trong trọn vẹn xác thân mình, giống như Thiên Chúa.[2] (http://www.gpnt.net/diendan/newthread.php?do=newthread&f=28#_ftn2)

Chúng ta gần như đang ở ngay cốt lõi của thực tại nhân loại học mang tên “thân xác”, thân xác con người, Tuy nhiên, như chúng ta thấy được, cốt lõi này không chỉ thuộc nhân loại học, nhưng tự bản chất cũng là thần học. Ngay từ ban đầu, thần học về thân xác gắn bó với công cuộc sáng tạo con người theo hình ảnh Thiên Chúa. Một cách khác nó cũng là nền thần học về phái tính, hay đúng hơn là nền thần học về nam tính và nữ tính, vốn đã có khởi điểm ngay từ trong Sách Sáng Thế đây.

Những lời trong Sách Sáng Thế đoạn 2,24 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 2:24&FontSize=Txt10) minh chứng cho ý nghĩa nguyên thuỷ của sự đơn nhất. Trong mạc khải của Thiên Chúa, sự đơn nhất này có một viễn cảnh bao la. Sự đơn nhất qua thân xác –“và cả hai trở nên một xương thịt” – có một chiều kích đa dạng. Nó có chiều kích luân lý, như câu trả lời của Chúa Giêsu dành cho nhóm Pharisêu trong Matthêu 19 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Mt 19&FontSize=Txt10) (x. Mc 10 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Mc 10&FontSize=Txt10)) đã khẳng định. Nó cũng có chiều kích bí tích, thuần tuý thần học, như được minh chứng qua lời lẽ trong thư Thánh Phaolô gởi dân Êphêsô.[3] (http://www.gpnt.net/diendan/newthread.php?do=newthread&f=28#_ftn3) Những lời này nhắc lại truyền thống của các Ngôn sứ (Hôsê, Isaia, Êdêkien). Sở dĩ thế là vì, sự đơn nhất thể hiện qua thân xác cho thấy rằng, ngay từ thuở ban đầu, không những biểu thị cho “thân xác” mà còn thể hiện cả sự hiệp thông “trong thân xác” của các nhân vị - “communio personarum” – và dẫn đến sự hiệp thông này ngay từ lúc ban đầu.

Nam và nữ biểu thị khía cạnh kép đôi của cơ cấu thân xác con người. “Đây mới thật là xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi.” Mặt khác, qua chính những lời lẽ này của Sách Sáng Thế 2,23 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 2:23&FontSize=Txt10), hai phái tính ấy nói lên sự ý thức mới mẻ về ý nghĩa của thân xác mỗi người. Người ta có thể nói được rằng ý nghĩa này là một sự phong phú hoá hỗ tương. Sự ý thức này, qua đó nhân tính được cấu tạo lần nữa như là hiệp thông các nhân vị, dường như tạo ra trong câu chuyện sáng tạo con người (và trong mạc khải về thân xác chứa đựng ở đó) một tầm mức mới sâu xa hơn về cơ cấu thân xác có nam có nữ. Dầu sao, cơ cấu này được trình bày ngay từ ban đầu với một ý thức sâu xa về tính “mang thân xác” và về phái tính con người. Điều đó lập thành một quy luật bất khả chuyển nhượng giúp hiểu biết con người trên bình diện thần học.

Đây sẽ là đề tài cho chúng ta suy gẫm trong phần nói về: “Bí tích”



-----
[1] (http://www.gpnt.net/diendan/newthread.php?do=newthread&f=28#_ftnref1) “Nhưng Thiên Chúa không tạo nên con người như một hữu thể đơn độc, vì ngay từ đầu, Ngài dựng nên họ: “có nam có nữ” (St 1,27 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St 1:27&FontSize=Txt10)) Tương quan đồng hành ấy làm thành dạng đầu tiên của sự hiệp thông nhân vị.” (MV 12)

[2] (http://www.gpnt.net/diendan/newthread.php?do=newthread&f=28#_ftnref2) Cặp đối ngẫu “hồn- xác” không thấy có trong quan niệm của các các sách Kinh Thánh. Như chúng tôi đã từng nhấn mạnh (x. L’Observatore Romano, ấn bản Anh ngữ, số ra ngày 5 tháng 11 năm 1979, trang 15, ghi chú 1) có chăng là chúng ta có thể nói đến một tập hợp bổ túc “thân xác- sự sống”. Thân xác là biểu hiện cho nhân vị con người. Và nếu thành ngữ này không lột tả được hết ý nghĩa quan niệm này, chúng ta phải hiểu nó, trong ngôn ngữ Kinh Thánh, là “pars pro toto – thành phần phục vụ toàn thể”; Xem ví dụ: “Không phải xác thịt hay máu huyết mạc khải điều ấy cho các ngươi, mà Cha Ta...” (Mt 16,17 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Mt 16:17&FontSize=Txt10)) nghĩa là không phải một con người nào đó đã mạc khải cho anh em.

[3] (http://www.gpnt.net/diendan/newthread.php?do=newthread&f=28#_ftnref3) “Quả vậy, có ai ghét thân xác mình bao giờ; trái lại, người ta nuôi nấng và chăm sóc thân xác mình, cũng như Ðức Kitô nuôi nấng và chăm sóc Hội Thánh, vì chúng ta là bộ phận trong thân thể của Người Chính vì thế, người đàn ông sẽ lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai sẽ thành một xương một thịt. Mầu nhiệm này thật là cao cả. Tôi muốn nói về Ðức Ki-tô và Hội Thánh” (Ep 5,29-32 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Ep 5:29-32&FontSize=Txt10)).


http://gpnt.net/images/arrow_dyn.gif

Nhóm Tâm Biển chuyển ngữ

admin
12-08-2009, 06:07 PM
IX


CON NGƯỜI TRỞ THÀNH HÌNH ẢNH CỦA THIÊN CHÚA QUA SỰ HIỆP THÔNG NGÃ VỊ

1. Qua chuyện kể của sách Sáng Thế, chúng ta đã nhận thấy rằng con người được tạo dựng cách “dứt khoát” trong cuộc tạo dựng nên sự hợp nhất của hai hữu thể. Sự hợp nhất (unity) hay duy nhất tính của họ biểu thị trước hết ở sự đồng nhất của nhân tính; ngược lại, lưỡng thể tính (duality) thì lại biểu thị qua cái làm nên nam tính và nữ tính của con người được tạo dựng trên cơ sở sự đồng nhất nhân tính đó. Chiều kích hữu thể học của duy nhất tính và lưỡng thể tính này cũng đồng thời có một ý nghĩa về giá trị học. Từ đoạn St 2,23 và toàn thể ngữ cảnh, người ta thấy rõ ràng con người đã được tạo dựng như một giá trị đặc biệt trước mặt Chúa («Thiên Chúa thấy mọi sự Người đã làm ra quả là rất tốt đẹp»: St 1,31). Nhưng con người cũng là một giá trị đặc biệt cho chính con người: trước hết bởi vì con người là «người»; thứ đến bởi vì “người nữ” là cho người nam, và ngược lại, “người nam” là để cho người nữ. Trong khi chương đầu của sách Sáng thế diễn tả giá trị này theo hình thức thuần túy thần học (và một cách gián tiếp theo bình diện siêu hình), thì ngược lại, chương hai, có thể nói được là, biểu lộ kinh nghiệm sống của con người xét như là một giá trị. Kinh nghiệm này đã được ghi khắc trong ý nghĩa của sự đơn độc nguyên thủy, và kế đến trong toàn bộ trình thuật sáng tạo con người, nam cũng như nữ. Đoạn văn St 2,23, tuy ngắn ngủi nhưng súc tích và chứa đựng những lời thốt lên từ miệng người đàn ông thứ nhất khi người ấy nhìn thấy người phụ nữ vốn được tạo dựng bằng cách «được rút từ mình ra». Đoạn văn ấy có thể được coi như là nguyên mẫu thánh kinh của (sách) Diễm tình ca, bản tình ca của mọi bản tình ca. Và nếu ta có thể đọc thấy những ấn tượng và cảm xúc qua những lời lẽ ấy, những lời vốn cách xa chúng ta là thế, thì ta cũng có thể dám nói rằng cái cảm xúc đầu tiên và «nguyên thủy» ấy, khi người đàn ông đứng trước mặt người phụ nữ xét như một con người khác (nhân tính) và như một người khác giới (nữ tính), thật mạnh mẽ và sâu sắc, và như là một điều gì duy nhất và độc đáo.

2. Như thế, sự hợp nhất nguyên thủy bộc lộ ý nghĩa như là một sự vượt qua biên giới của nỗi cô đơn nhờ có giới tính khác biệt (nam tính và nữ tính), và đồng thời, đó như là một lời khẳng định đối với cả hai người nam-nữ về tất cả những gì là cốt yếu làm nên «con người» trong đơn độc. Trong trình thuật kinh thánh, sự đơn độc là lối dẫn đến sự hợp nhất, mà theo Vatican II chúng ta có thể định nghĩa như là sự hiệp thông các ngôi vị[1]. Như chúng ta đã nhận xét trước đây, trong sự đơn độc nguyên thủy của mình con người nhận thức được mình là một ngôi vị trong tiến trình «phân biệt» mình với tất cả các sinh vật (animalia) và đồng thời, trong nỗi cô đơn này, con người mở ra đón nhận một hữu thể khác giống như mình, được sách Sáng thế (2,18.20) xác định như là «trợ tá tương xứng với nó». Để con người thành như là nhân vị, việc mở ra ấy có tính quyết định không kém, thậm chí còn hơn sự «phân biệt». Trình thuật yahvit cho chúng ta thấy sự đơn độc của con người không chỉ như là một sự khám phá đầu tiên về tính chất siêu việt đặc biệt độc đáo của một ngôi vị, mà còn như là sự khám phá về một tương quan đầy đủ “với” ngôi vị. Và bởi thế, sự đơn độc biểu lộ một nỗi khao khát và mở ngỏ hướng đến sự «hiệp thông các ngôi vị».

Người ta cũng có thể dùng từ “cộng đồng” ở đây, nếu như nó không khái quát và không mang quá nhiều nghĩa. Từ «hiệp thông» diễn tả được nhiều hơn và chính xác hơn, vì nó chỉ đúng «sự trợ giúp», theo một nghĩa nào đó từ này xuất phát từ chính sự kiện hiện hữu như một người «bên cạnh» một người. Trong trình thuật kinh thánh tự thân sự kiện này trở thành hiện hữu của một người «cho» một người, bởi lẽ trong sự đơn độc nguyên thủy, con người, cách nào đó, đã ở trong tương quan này rồi. Điều này đã được chính sự đơn độc xác nhận theo một nghĩa tiêu cực. Hơn nữa, sự hiệp thông ngã vị ấy chỉ có thể hình thành dựa trên cơ sở hai kẻ đơn độc, một nam và một nữ, nghĩa là như một cuộc gặp gỡ nhau giữa hai người trong khi họ nhận ra mình «khác biệt» với thế giới muôn loài (animalia), đó là điều đã cho cả hai người cái khả năng hiện hữu đặc biệt cho nhau. Ý niệm «trợ tá» cũng diễn tả tính tương trợ này trong cuộc sống con người, điều mà không có loài sinh vật nào khác có thể bảo đảm có được. Tất cả những gì làm nền tảng cấu thành nên sự đơn độc của mỗi người đều cần thiết cho sự tương trợ này, bởi thế khả năng tự nhận thức chính mình và tự xác định bản thân mình, tức là chủ thể tính và khả năng nhận thức ý nghĩa của thân xác mình, cũng hết sức quan trọng.

3. Trình thuật tạo dựng con người trong chương thứ nhất ngay từ đầu khẳng định trực tiếp rằng con người được tạo dựng có nam có nữ theo hình ảnh của Thiên Chúa. Ngược lại, trình thuật của chương thứ hai không nói đến «hình ảnh của Thiên Chúa», mà theo cách riêng của mình cho thấy rằng việc tạo dựng con người (trước hết phải qua kinh nghiệm cô đơn nguyên thủy) cách trọn vẹn và dứt khoát được biểu lộ qua việc sinh ra sự «hiệp thông các ngôi vị» do người nam và người nữ tạo nên. Như thế, trình thuật yahvit ăn khớp với nội dung của chương thứ nhất. Ngược lại, nếu ta cũng muốn rút ra từ trình thuật yahvit ý niệm «hình ảnh Thiên Chúa», thì ta có thể suy diễn rằng con người trở nên «hình ảnh và họa ảnh» của Thiên Chúa không chỉ qua nhân tính của mình, mà còn qua sự hiệp thông các ngôi vị, mà người nam và người nữ đã hợp thành ngay từ ban đầu. Hình ảnh có chức năng phản chiếu người mẫu, tái tạo lại nguyên mẫu của mình. Con người trở nên hình ảnh của Thiên Chúa không chủ yếu do yếu tố đơn độc cho bằng do nơi sự hiệp thông. Thật vậy, ngay «từ thuở ban đầu» con người không chỉ là hình ảnh phản chiếu một Ngôi vị đơn độc thống trị thế giới, nhưng còn là, và chủ yếu là hình ảnh của một sự hiệp thông các Ngôi vị thần linh khôn dò.

Như thế, trình thuật thứ hai có lẽ cũng chuẩn bị giúp cho ta hiểu khái niệm tam vị «hình ảnh của Thiên Chúa», mặc dù khái niệm hình ảnh này chỉ xuất hiện trong trình thuật thứ nhất. Hiển nhiên điều này không phải là không có ý nghĩa đối với thần học về thân xác, nói cho đúng, nó tạo nên khía cạnh thần học sâu xa nhất hơn tất cả những gì người ta có thể nói về con người. Trong mầu nhiệm tạo dựng – trên cơ sở sự đơn độc nguyên thủy và căn bản của mình – con người đã được phú ban cho một sự hợp nhất sâu xa qua thân xác giữa những gì nơi mình là nam tính và những gì nơi mình là nữ tính. Ngay từ thuở ban đầu Thiên Chúa đã tuôn đổ phúc lành của sự phong nhiêu liên hệ đến sinh sản trên tất cả những điều đó (x. St 1,28).

4. Như thế, chúng ta gần như đang ở ngay trung tâm của thực tại nhân học có tên gọi là “thân xác”. Câu St 2,23 lần đầu tiên nói trực tiếp về điều ấy với những lời sau đây: «xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi». Người đàn ông thốt lên những lời đó, như thể chỉ khi nhìn thấy người phụ nữ thì anh mới có thể xác định và gọi đích danh cái điểm chung rõ rệt làm họ tương xứng với nhau, và đồng thời nó cũng biểu thị nhân tính. Nhờ sự soi sáng của phân tích trước đây về mọi «thân xác» mà con người đã tiếp xúc và xác định bằng cách gọi tên chúng («animalia» - các sinh vật), diễn ngữ «thịt bởi thịt tôi» có nghĩa chính xác là: thân xác biểu lộ con người. Công thức cô đọng ấy đã hàm chứa tất cả những gì mà các khoa học nhân văn có thể nói đến, như về cấu trúc của thân xác xét như cơ thể, về sức sống của thân xác ấy, về sinh lí học đặc thù của nó ... Trong lời diễn tả đầu tiên «thịt bởi thịt tôi» ấy của người đàn ông, còn hàm chứa sự tham chiếu đến một yếu tố nhờ đó thân xác ấy đích thực là người, và bởi đó nó quyết định con người là một ngã vị, nghĩa là một hữu thể với thân xác toàn vẹn của mình «giống» Thiên Chúa [2].

5. Chúng ta gần như ở ngay trung tâm điểm của thực tại nhân học mang tên là «thân xác», thân xác con người. Tuy nhiên, như chúng ta cũng dễ thấy, điểm trọng tâm ấy không chỉ có tính nhân học, nhưng về bản chất còn có tính thần học. Thần học thân xác, vốn ngay từ ban đầu liên kết với sự sáng tạo con người theo hình ảnh Thiên Chúa, cách nào đó cũng trở thành thần học về giới tính, hay đúng hơn là thần học về nam tính và nữ tính, mà khởi điểm của nó ở đây là sách Sáng thế. Những lời St 2,24 cho thấy ý nghĩa nguyên thủy của sự hợp nhất sẽ có một viễn tượng rất xa rộng trong mạc khải của Thiên Chúa. Sự kết hợp nhờ thân xác («và cả hai sẽ nên một xác thịt») có một chiều kích đa dạng. Nó có chiều kích đạo đức học (như được xác nhận bởi câu trả lời của Đức Kitô với những người Pharisêu trong đoạn Mt 19 (hoặc Mc 10)), mà cũng có chiều kích bí tích, rất thần học (như những lời của thánh Phaolô trong thư gởi các tín hữu Êphêsô [3] xác nhận, những lời ấy cũng tham khảo đến truyền thống các tiên tri (như Hôsê, Isaia, Êzêkiel)). Sở dĩ thế là vì sự kết hợp đó, vốn được thực hiện qua thân xác, tự ban đầu không chỉ hướng đến thân xác, nhưng còn biểu lộ sự hiệp thông các ngôi vị (communio personarum), một sự hiệp thông “được nhập thể”, và việc kết hợp đó ngay từ đầu đòi phải có sự hiệp thông đó. Nam tính và nữ tính diễn tả hai mặt cấu thành của thân xác con người («Này đây, đây là xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi»), và hơn nữa, cũng qua những lời St 2,23, chúng cho thấy con người cảm nhận thêm được ý nghĩa của thân xác mình, có thể nói, ý nghĩa đó là: đôi bạn làm phong phú thêm cho nhau. Chính ý thức đó, ý thức mà nhờ đó nhân tính lại được hình thành như là sự hiệp thông các ngôi vị, xem ra nằm ở một tầng trong trình thuật tạo dựng con người (và trong mạc khải về thân xác bao hàm trong đó) sâu hơn cả cấu trúc thân xác có giới tính. Dẫu sao, cấu trúc này được giới thiệu ngay từ đầu với một ý thức sâu xa về thân xác và về tính dục con người, và điều đó thiết lập một quy chuẩn không thể thay thế để hiểu con người trên bình diện thần học.

Louis Nguyễn Anh Tuấn chuyển dịch
--------------
[1] «Nhưng Thiên Chúa đã không dựng nên con người đơn độc: bởi vì từ thuở ban đầu “Ngài đã tạo dựng họ có nam có nữ” (St 1,27) và mối liên kết giữa họ tạo nên một hình thức đầu tiên của sự hiệp thông các ngôi vị» (Gaudium et Spes 12) (đôi khi còn được gọi vắn tắt hơn: hiệp thông ngã vị).

[2]Trong những sách kinh thánh cổ xưa nhất không có quan niệm đối lập nhị nguyên giữa “hồn” và “xác”. Như đã được lưu ý (x. ghi chú 1, bài VII), tốt hơn người ta nên nói đến tổ hợp từ ngữ «thân xác-sự sống» có tính bổ sung cho nhau. Thân xác diễn tả ngã vị tính của con người, và nếu như nó không diễn tả được hết khái niệm này, người ta cần phải đặt nó vào trong bối cảnh của ngôn ngữ kinh thánh và hiểu như «một phần thay mặt cho toàn thể» («pars pro toto»). Chẳng hạn như: «không phải xác thịt hay máu huyết mạc khải cho anh, nhưng là Cha Ta ...» (Mt 16,17). Ở đây, chữ «xác thịt» (hay «máu huyết») ám chỉ con người (ý muốn nói không phải phàm nhân đã mạc khải nhưng là Thiên Chúa).

[3] «Quả vậy, có ai ghét thân xác mình bao giờ; trái lại, người ta nuôi nấng và chăm sóc thân xác mình, cũng như Đức Kitô nuôi nấng và chăm sóc Hội Thánh, vì chúng ta là bộ phận trong thân thể của Người. Bởi thế, người đàn ông sẽ lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai sẽ thành một xương một thịt. Mầu nhiệm này thật là cao cả. Tôi muốn nói về Đức Kitô và Hội Thánh !» (Ep 5,29-32).

<HR align=left width="33%" SIZE=1>
[1] (http://www.ubmvgiadinh.org/?open=contents&display=2&id=425#_ftnref1) Bản văn này, giống như bao đoạn tương tự đi trước, không nên được hiểu theo hướng có hai giai đoạn thời gian khác nhau trong tiến trình tạo dựng con người. Đúng hơn nó xác định có hai cấp độ ý nghĩa của hữu thể thân xác con người. Người ta muốn nhấn mạnh rằng thân xác và tính dục không hoàn toàn đồng nhất với nhau, nhưng có một ý nghĩa của thân xác xét về bản thể «có trước» hữu thể được phân giới tính của con người, dẫu yếu tố phân giới tính này cũng rất tất yếu. Ý nghĩa đó chính là sự đơn độc nguyên thủy chỉ đơn giản nói đến con người «trước khi» lưu ý đến giới tính nam hay nữ của con người.
http://www.ubmvgiadinh.org/?open=contents&display=2&id=425 (http://www.ubmvgiadinh.org/?open=contents&display=2&id=425)